Posts Tagged ‘Y học’


Tránh Rủi Ro Tự Dùng Thuốc – Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Monday, March 9th, 2015

Một bản tin trên báo Tuổi Trẻ vào tháng 9, 2010 cho hay “Cách đây chục hôm, Na bị sốt, viêm họng, em được người nhà cho dùng 3 loại thuốc, trong đó có kháng sinh Ampicillin. Sau đó vài giờ, mắt em sưng húp, miệng cũng phồng rộp, rồi cả người bị sẩn mề đay. Vài hôm sau, thấy tình trạng của con không đỡ, người nhà đưa em đến Bệnh Viện Nhi trung ương để điều trị. Bác sĩ cho biết, cháu Na bị hội chứng dị ứng Lyell do phản ứng với thuốc kháng sinh…”

Trong khi đó thì tại Hoa Kỳ, Cơ Quan Kiểm Soát Bệnh CDC luôn luôn nhắc nhở dân chúng rằng hàng năm có cả ngàn em bé dưới 12 tuổi phải vào phòng cấp cứu sau khi được cha mẹ cho dùng các thuốc trị ho, cảm lạnh bán không cần toa bác sĩ.

Đó là hậu quả của việc tự chữa bệnh với các loại thuốc mua tự do không cần toa bác sĩ tại tiệm tạp hóa, siêu thị, nhà thuốc tây.

Tự chữa bệnh không phải là sự việc mới xảy ra mà đã có từ ngàn xưa, khi mà nền y khoa học chưa được phát triển và tiến bộ như hiện nay. Chẳng may mà bị bệnh tật thương tích, con người đã tìm cách tự chữa với các loại cây con. Đó là bản năng tự sinh tự tồn, bảo vệ sức khỏe. Ngày nay, tự mua thuốc chữa bệnh cũng là chuyện thường thấy vì nhiều lý do:

– Số bệnh nhân ngày càng tăng mà chuyên viên y tế nhiều nơi lại thiếu.

– Chi phí khám chữa bệnh quá cao, thời giờ chờ đợi khám chữa bệnh khá lâu, thuốc men quá đắt.

– Kinh tế khủng hoảng khiến cho người dân ít đi bác sĩ khi mắc những bệnh thông thường.

– Kiến thức về sức khỏe, tự chăm sóc của người dân cũng nhiều hơn qua sách báo, truyền thông.

Cho nên, thấy đau bụng, nhức đầu cảm lạnh là ra tiệm mua mấy viên thuốc, vài chai si rô về uống, coi xem ra sao đã. Vì nhiều người tin tưởng rằng thuốc đã được chính quyền cho phép bày bán thì chắc là phải công hiệu, an toàn như quảng cáo.

Nhưng hầu hết dược phẩm dù là cần toa hay không đều là những hóa chất được chế biến, tổng hợp trong phòng thí nghiệm mà mục đích là để thay đổi chức năng cơ thể theo chiều hướng tốt, nhưng cũng vẫn có thể có những tác dụng có khả năng gây hại. Các tác dụng này có thể là biết trước hoặc bất chợt xảy ra. Chẳng hạn thuốc đa dụng corticosteroid được cho phép dùng từ thập niên 70 mà tác hại lên nhồi máu cơ tim chỉ mới được biết vào thời điểm 2000. Đặc biệt là các thuốc chứa 2, 3 hoạt chất khác nhau có thể gây ra tác dụng ngoài ý muốn.

Ngoài hoạt chất chính, một số chất cho thêm vào thuốc trong khi sản xuất với mục đích giữ gìn, bảo quản, hoặc tạo hương vị cũng có thể ảnh hưởng tới sức khỏe. Chẳng hạn trong sirop thuốc ho chứa chất cồn có thể gây ngây ngất buồn ngủ; đường trong thuốc nước có thể khiến cho việc kiểm soát bệnh tiểu đường khó khăn hơn. Thêm vào đó, thuốc không cần toa cũng tương tác với nhau hoặc tương tác với sinh tố khoáng chất, thực phẩm nước uống.

Do đó muốn tự mua thuốc về dùng thì cũng cần hiểu biết về chúng. Chẳng nên quá đặt tin tưởng vào những lời quảng cáo, nhất là với loại quảng cáo rộng rãi tốn kém. Vì “hữu xạ tự nhiên hương”, tiếng lành đồn xa, đâu cần phải “huênh hoang” giới thiệu quá lố. Chỉ những mặt hàng “rỏm”, có tính cách lường gạt mới cần áp đảo “tuyên truyền” nhồi nhét vào tai vào mắt giới tiêu thụ. Hậu quả là nhiều chục ngàn người cả tin, đặc biệt là các cháu bé, quý lão bà lão ông, bà mẹ mang thai phải nhập viện vì tự dùng các thuốc qua quảng cáo, mà lẽ ra họ không nên dùng và vì cho rằng vô hại.

Sau đây là mấy điều cần nhớ khi dùng thuốc, dù là thuốc do bác sĩ cho toa hoặc do mình tự mua:

1. Đọc kỹ và hiểu rõ các chi tiết về thuốc ghi trong nhãn thuốc drug facts label như tên thuốc, công dụng, liều lượng, uống khi nào và tác dụng phụ của thuốc.

2. Dùng thuốc đúng liều lượng, thời gian và số lần uống mỗi ngày như chỉ dẫn.

3. Đừng dùng cùng một lúc các thuốc có công dụng tương tự. Thí dụ vừa uống aspirin cho đau nhức lại uống thêm thuốc chống đau loại acetaminophen.

4. Mua thuốc đúng với dấu hiệu bệnh của mình. Chẳng hạn nếu chỉ bị sổ mũi thì đừng mua thuốc chữa cả ho và nóng sốt.

5. Hỏi người bán thuốc hoặc dược sĩ coi nếu thuốc có ảnh hưởng gì tới những bệnh mãn tính mình đang có như tiểu đường, cao huyết áp.

6. Đừng dùng chung thuốc do bác sĩ cho toa và thuốc mình tự mua, trừ khi đã hỏi ý kiến bác sĩ.

7. Đừng dùng thuốc đã quá hạn hoặc thuốc do người khác cho.

8. Không dùng thuốc nghi ngờ là không an toàn như mất tem bảo đảm, hộp chai đựng bị hở, rách, sản phẩm đổi mầu hoặc có mùi bất thừng.

9. Nếu chẳng may dùng quá liều lượng hoặc nhầm thuốc, nên thông báo cho bác sĩ hoặc phòng cấp cứu hay ngay.

10. Nên có một danh sách ghi các thuốc đang dùng, dù là do bác sĩ cho toa hoặc mua tự do. Mỗi lần đi khám bệnh, nên đưa cho bác sĩ coi để được hướng dẫn.

Cuối cùng là nên thân thiện với các vị dược sĩ. Vai trò của họ không chỉ giới hạn trong việc bán thuốc mà còn được huấn luyện, để cố vấn cho giới tiêu thụ mỗi khi cần thuốc. Họ là người giúp ta có hiểu biết về thuốc, về công dụng, về tác dụng phụ, uống khi nào, uống bao nhiêu…
 Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Tìm hiểu bệnh Ebola

Saturday, October 11th, 2014

(Ebola Virus Disease)

BS Đỗ Văn Hội

Hiện nay đang có dịch bệnh Ebola gốc từ Phi Châu gây tử vong rất cao, khiến toàn thế giới xôn xao e ngại. Các nhà hữu trách đang tìm phương pháp chữa bệnh và ngăn ngừa không để lan tràn. Cho đến nay chỉ có chừng gần 3 ngàn người chết vì bệnh này trong  kỳ phát bệnh bắt đầu tháng 3/2014 vừa qua, tuy nhiên vẫn chưa có thuốc chữa bệnh và chích ngừa.

Ông Duncan vừa chất vì bệnh Ebola

  Ông Thomas Duncan vừa chết vì bệnh Ebola ở Dallas

Ở Hoa Kỳ, một người đàn ông ở Dallas, tên Thoma Duncan, từ Liberia về nước cách đây khoảng hai tuần lễ. Trên máy bay anh ta không có triệu chứng, nhưng khi về đến nhà vài ngày thì thấy sốt cao, đi khám bệnh chỉ cho thuốc trụ sinh thông thường, vài ngày sau trở nặng, thí nghiệm máu xác định anh ta mắc bệnh Ebola, anh được cách ly và điều trị chu đáo, nhưng anh đã qua đời ngày 8 tháng 10, 2014. Đây là trường hợp nhiễm bệnh Ebola đầu tiên tại Hoa Kỳ và đã qua đời khiến cho nước Mỹ, kể cả tổng thống Obama lo ngại, đang tìm những biện pháp ngăn ngừa thích đáng. Sự thiếu sót trong việc điều trị bệnh nhân này là đã không tìm ra bệnh sớm và điều trị sớm mặc dù anh đã có đủ yếu tố có thể nghĩ đến bị virus Ebola (trở về từ Liberia nơi có dịch bệnh, có sốt).

Để quý vị biết về bệnh nguy hiểm này, chúng tôi xin được trình bày tổng quát về nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng, cách điều trị, cách đề phòng… Dưới cùng có các danh từ y học để tham khảo.

Nếu quý vị muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc với các các cơ quan y tế hoặc bác sĩ gia đình, hoặc vào các website của cơ quan CDC, Webmd, Mayo Clinic…

Định nghĩa:

Bệnh Ebola, trước đây còn được gọi là bệnh “sốt xuất huyết Ebola”, là một bệnh hiếm, nhưng rất  nguy hiểm, có nguồn gốc từ Phi Châu do một loại siêu vi khuẩn (virus) có tên là Ebola gây ra. Virus này gây xuất huyết cơ thể (chảy máu trong người), các chức năng bộ phận cơ thể bị suy kiệt trầm trọng đưa đến cái chết rất nhanh. Bệnh  có thể lây từ người này sang người khác.

Hiện nay vẫn chưa có thuốc trị bệnh hữu hiệu, hoặc thuốc ngừa, tỷ lệ tử vong rất cao có thể lên đến 90%.

Nguyên nhân và cách lây bệnh

220px-Ebola_virus_virionNguyên nhân gây bệnh là do siêu vi khuẩn có tên Ebola (tên một con sông của nước Congo, nơi người ta tìm thấy bệnh lần đầu tiên vào năm 1976), có trên xác thú vật như loài khỉ, dã nhân, dơi trái cây… ở Phi Châu. Một siêu vi khác có tên Marbug cũng gây ra bệnh tương tự.

Bệnh có thể lây từ súc vật qua người khi người tiếp cận với chất dịch từ con bệnh, thường thường từ xác thú vật có bệnh như qua đường máu, chất thải như phân, nước tiểu của thú vật hoặc dơi mắc bệnh. Bệnh có thể lây từ người qua  người cùng một cách thức như nhau.

Vòng lây bệnh:

EbolaCycle

Từ thú vật hoang dã ở Phi Châu như khỉ, dơi, thú hoang lây sang người, từ người sang người hoặc thú vật, rồi lại sang cho người…

 

Những người chôn xác bệnh nhân nếu không mặc quần áo đặc biệt có thể lây bệnh. Chuyên viên ý tế nếu không mang vải che miệng (mask), găng tay, hoặc bị kim tiêm đã dùng cho người bệnh đâm trúng phải có thể lây bệnh. Bệnh không lây qua côn trùng như muỗi..

Những vùng hiện đang có dịch bệnh (hình bên)

EbolaSubmit2

 Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh

Những trường hợp sau đây làm người ta dễ có cơ hội nhiễm bệnh:

–        Du lịch đến vùng có dịch bệnh (hiện nay một số nước Phi Châu đang có dịch như Liberia, Guinea, Sierra Leone, Nigeria…

–        Những chuyên viên nghiên cứu các loại thú vật đã kể trên.

–        Các chuyên viên ngành y tế trực tiếp săn sóc bệnh nhân.

–        Những người chôn xác thú vật hoặc xác người mắc bệnh.

–        Thân nhân trong gia đình có người mắc bệnh..

–        Người có sự đề kháng kém.

–        Nếu định bệnh chậm và điều trị bắt đầu chậm, người bệnh có nguy cơ chết rất cao.

Triệu chứng:

Triệu chứng ban đầu của bệnh rất giống như các bệnh thông thường như cảm, cúm, sốt rét.., nên rất khó nhận dạng.

–        Triệu chứng sở khởi của bệnh Ebola bao gồm: Nóng sốt, ớn lạnh, nhức đầu, đau nhức bắp thịt, đau khớp xương, cơ thể suy yếu…

–        Khi bệnh trở nặng hơn, người bệnh có triệu chứng: nôn, ói, tiêu chảy, mắt đỏ, nổi sẩy ngoài da, tức ngực, ho, đau bụng, sụt cân mau lẹ, xuất huyết ở mắt, mũi, tai, tím bầm ngoài da, nội xuất huyết…

Biến chứng

Bệnh có thể gây ra biến chứng rất nặng, là nguyên nhân đưa đến tử vong như: nhiễm trùng các bộ phận cơ thể, bệnh nhân suy kiệt; xuất huyết trầm trọng bên ngoài cũng như trong nội tạng (nội xuất huyết); vàng da (do xuất huyết); mê man; co giật; bị sốc (trụy tim mạch).. và dĩ nhiên là “chết”, rất khó cứu chữa.

Một biến chứng nguy hiểm khác là suy giảm hệ miễn nhiễm khiến cho cơ thể không đủ khả năng đề kháng chống với siêu vi Ebola cũng như với các loại vi trùng khác.

Một số người may mắn được bình phục có thể vì hệ miễn nhiễm của họ không bị mất, sức đề kháng cao nên sống sót, nhưng số này rất ít, đa số đều chết vì suy hệ miễn nhiễm và hởi sự điều trị quá trễ.

Người thoát chết sẽ phục hồi rất chậm, có thể nhiều tháng, trong lúc đó siêu vi khuẩn vẫn còn tồn tại trong cơ thể. Những dư chứng của những người này là suy nhược, rụng tóc, viêm gan, mệt nhọc, nhức đầu, sung dịch hoàn, sưng mắt..

Chẩn đoán bệnh (diagnosis)

Việc chẩn đoán bệnh rất khó khăn vào lúc ban đầu, như đã nói ở trên, vì triệu chứng rất giống các bệnh thông thường như cảm, cúm, sốt rét. Chỉ thử  máu mới tìm ra được siêu vi Ebola.

Vì thế, một người ở trong hoàn cảnh dễ lây bệnh như vừa du lịch nơi có dịch, có cơ hội tiếp xúc với người mắc bệnh, khi có triệu chứng như sốt, nhức đầu, bác sĩ sẽ cho thử máu ngay để xác định có mắc virus Ebola hay không.

Điều trị

Hiện chưa có thuốc điều trị hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Thường thường kết quả điều trị khả quan khi  các nguyên tắc như sau được áp dụng:

–        Điều trị thật sớm. Vì vậy nên tìm ra bệnh càng sớm càng tốt

–        Người bệnh có hệ miễn nhiễm cao.

–        Điều trị “chống đỡ” và điều trị những biến chứng

Người ta chỉ có thể giúp người bệnh ở tình trạng đủ sức chống cự với siêu vi và biến chứng như: truyền nước biển, huyết tương, máu tươi (nếu mất máu), giữ huyết áp bình thường, cho thở dưỡng khí đầy đủ, điều trị những biến chứng nhiễm trùng khác… Phương pháp này được gọi là “điều trị chống đỡ” (supportive treatment).

Cơ thể người mắc bệnh có thể tự tạo ra chất kháng thể (antibody) sau 10 ngày và kéo dài trong 10 năm.

Phòng bệnh (prevention)

Đề phòng là phương pháp tốt nhất và quan trọng để tránh bệnh nhiễm vi khuẩn Ebola và Marburg bằng những cách sau đây:

–        Tránh không đến những vùng đang có dịch bệnh. Nếu có phải đến thì nên có những biện pháp đề phòng thích nghi.

–        Tránh tiếp xúc với người bệnh hoặc nếu phải tiếp xúc thì nên mặc quần áo đặc biệt chống nhiễm trùng.

–        Rửa tay bằng xa phòng thường xuyên. Làm sạch tay bằng dung dịch diệt trùng được gọi là “hand sanitizer” (vệ sinh tay); hoặc rửa bằng cồn mạnh.

–        Tránh ăn thịt thú rừng, thú đi rong (nhất là thịt khỉ), vì các loại thú này dễ mang virus bệnh.

–        Không tiếp xúc với xác người chết hoặc xác thú vật mắc bệnh mà không có biện pháp an toàn. Việc chôn cất xác người bệnh phải được chuyên viên vệ sinh phụ trách.

–        Không để người măc bệnh sống chung trong nhà. Người có bệnh phải được cách ly đặc biệt.

–        Khi nghi là có bệnh nên đi khám bác sĩ ngay, đặc biệt nên khai rõ mình đã đến nơi nào, đã tiếp xúc với người hoặc thú vật có bệnh hay không. Nếu tìm ra bệnh sớm và được điều trị sớm, cơ may khỏi bệnh khá cao nếu bệnh nhân có miễn nhiễm tốt.

–        Chuyên viên y tế cần áp dụng những phương pháp khử trùng hiệu quả (đeo khẩu trang, mặt nạ, bao tay, hoặc các dụng cụ cách trùng..)

–        Những người vừa từ các vùng nghi ngờ có bệnh như ở Phi châu, hoặc có dịp tiếp xúc với người hoặc thú mắc bệnh, nếu có sốt cần phải được thử máu siêu vi ngay, hoặc cách ly.

Bệnh này không dễ lây như bệnh cúm, sởi, tiêu chảy.., do đó nếu biết cách đề phòng, người ta có thể tránh được việc lây bệnh và kiểm soát được bệnh dịch.

***

Tóm lại, bênh Ebola do một siêu vi trùng đặc biệt có tên Ebola (hoặc Marbug), triệu chứng ban đầu gồm sốt, nhức đầu, nôn, mửa, tiêu chảy, sau đó có các biến chứng nặng như xuất huyết, suy nhược toàn thân, tỷ lệ chết rất cao. Thử máu mới có thể xác định được bệnh. Chưa có cách điều trị và thuốc ngừa hữu hiệu, việc phòng bệnh rất quan trọng. Không nên tiếp xúc với xác thú vật hoặc người mắc bệnh. Khi có triệu chứng nghi ngờ nên gặp nhân viên y tế ngay để được thử máu và điều trị càng sớm càng tốt.

BS Đỗ Văn Hội

 

Tài liệu tham khảo:

– Ebola disease: Mayo Clinic, WHO, CDC, Wikipedia…

Danh từ y học cần biết:

– Siêu vi khuẩn (virus): là loại vi trùng cực nhỏ, cần phải có kính hiển vi tối tân mới nhìn thấy được.

– Miễn nhiễm (immunity): là sự đề kháng của cơ thể chống lại một loại bệnh. Miễn nhiễm có được do đã tiếp xúc với bệnh, hoặc chính ngừa tạo ra kháng thể (antibody) có khả năng chống lại vi trùng khi nó xâm nhập vào cơ thể như bệnh sởi (measles), quai bị (mump), thủy đậu (rubella); tê liệt trẻ em (polio), phong đòn gánh hay sài uốn ván (tetanus), bệnh lao, bệnh cúm (flu), đậu mùa, viêm gan A, B (không có thuốc ngừa viêm gan C)…

– Xuất huyết (hemorrhagia): chảy máu do thiếu tố chất giúp đông máu vì suy gan.

– Viêm gan (hepatitis): các siêu vi trùng có thể làm cho tế bào gan tổn thương, nếu nặng gan không tạo được những chất cần thiết giúp ích cho cơ thể. Viêm gan như viêm gan A, B, C… hoặc do rượu làm chai gan, hoặc chất hóa học gây ung thư gan..

– Thử máu: có nhiều kỹ thuật thử máu để xác định một số bệnh khi tìm thấy có siêu vi, như Enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA); Reverse transcriptase polymerase chain reaction (PCR). Chỉ một số phòng thí nghiệm lớn mới có các loại thử nghiệm này.

– Chẩn đoán (diagnosis): phương  pháp xác định chính xác là có bệnh, không “đoán mò”, thường thường do kết quả của phòng thí nghiệm như phim X ray, MRI, CT Scan, thử máu, nước tiểu..

– Phòng bệnh; phòng ngừa (prevention): là phương pháp phòng ngừa không mắc bệnh, hoặc nếu đã mắc bệnh đề phòng những biến chứng có thể làm giảm thiểu sự bất khiển dụng của cơ thể. Ta gọi là y khoa phòng ngừa hay phòng bệnh (Preventive Medicine).

 

Nếu quý vị muốn biết thêm chi tiết xin gọi:

BS Võ Đình Hữu (MD) 714-928-3038; drhvo@yahoo.com (Cali)

BS Bùi Quang Dũng (MD) 407-443-4829; drdavidbui@bellsouth.net (Florida)

BS Đỗ Văn Hội: 407-234-3596; Hoivando@gmail.com (Florida)

Hoặc bác sĩ gia đình của quý vị.

Bệnh Béo Phì

Wednesday, October 23rd, 2013

BS Đỗ Văn Hội

Theo thống kê năm 2008 của tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO), toàn cầu có khoảng 1.4 tỉ người trên 20 tuổi  bị dư cân (overweight), trong đó có 400 triệu người béo phì (obesity).

Tại Hoa Kỳ, thống kê năm 2003-2004 của Trung Tâm Kiểm Soát Và Đề Phòng Bệnh Tật (CDC) cho biết 66% người dân Mỹ dư cân, trong đó 33% mắc bệnh phì. Năm 1980 con số này là 14.5%, năm 1994 là 23%. Khoảng 15% trẻ em ở tuổi vị thành niên (teenager) bị bệnh béo. Một điều đáng ngạc nhiên là nhóm sắc dân thiểu số (minority) lại có tỷ lệ mắc bệnh béo phì cao hơn. Phái nữ có khuynh hướng mập hơn nam giới. Ngoài ra, đa số người mắc bệnh béo không hề nghĩ rằng mình đang có nhiều rủi ro gặp phải các chứng bệnh nguy hiểm hiện tại cũng như tương lai.

Như thế bệnh béo phì ngày càng gia tăng tại Hoa Kỳ và trên thế giới. Đó cũng là bệnh của các nước nơi mà thực phẩm dư thừa. Và béo phì cũng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe.

* Định nghĩa

Béo phì là một bệnh mà trọng lượng mỡ trong cơ thể quá mức bình thường, vì thế mà sức nặng của cơ thể cũng lên cao. Khi một người có trọng lượng cơ thể 20% cao hơn trọng lượng bình thường, người đó được xem như mắc bệnh béo phì. Bệnh này còn được gọi là mập phì, quá khổ, nặng cân v.v..

Cơ quan Y Tế Quốc Tế (WHO) dùng chỉ số BMI (body mass index; chỉ số khối lượng cơ thể) để xác dịnh tình trạng một người có bị béo phì hay không.

BMI là tỉ lệ giữa trọng lượng cơ thể (tính bằng kilogram kg) đối với bình phương của chiều cao (tính bằng mét m)2, công thức như sau:

BMI = Trọng lượng (kg) : (chiều cao mét)2

Thí dụ: Một người cân nặng 70 kilogram, cao 1.50 m, BMI sẽ là:

BMI= 60 : (1.5)2 = 60 : 2.25 = 31.1 (BMI = 31.1)

Cũng theo định nghĩa của WHO, nếu BMI bằng hoặc nhỏ hơn 25, bạn có cân lượng bình thường. Tuy nhiên, nếu BMI nhỏ hơn 18.5, bạn được coi là thiếu cân (underweight).

Nếu BMI từ 25 đến 29.9, bạn được coi là “dư cân” hoặc “thừa cân” (overweight).

Nếu BMI lớn hơn 30, bạn coi như đã mắc bệnh “béo phì” (obesity). Béo phì được chia làm 3 loại:

Loại I:              BMI từ 30 đến 34.9

Loại II:             BMI từ 35 đến 39.9

Loại III:            BMI từ 40 trở lên

Muốn tính BMI tự động, xin vào xem website: http://www.nhlbisupport.com/bmi/

Người ta đã chứng minh rằng BMI càng cao thì nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm càng lớn (xem phần biến chứng ở dưới).

Một phương pháp khác để xác định béo phì là đo vòng bụng. Các vòng bụng dưới đây có thể xác định ta có dư cân hoặc béo phì hay không:

Nam giới          > 40 inches (> 102 cm)

Nữ giới             > 35 inches (>  88 cm)

Một điều cần ghi nhớ là phương pháp này chỉ có giá trị khi chỉ số BMI nằm trong khoảng 25.5 và 34.9.

Cách đo vòng bụng (nên có một người khác phụ giúp):

1-     Đứng thẳng lưng

2-     Bỏ bớt quần áo dầy

3-     Dùng thước giây, quàng xung quanh bụng, ngang mép trên của xương hông và dưới bờ xương sườn thấp nhất

4-     Vòng tròn ngang bụng phải song song với mặt đất.

5-     Đừng siết dây quá chặt hoặc để quá lỏng.

* Nguyên nhân của bệnh béo phì

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra béo phì, ta có thể tóm thu vào 3 nguyên nhân chính:

1-     Nguyên nhân di truyền

2-     Chế độ dinh dưỡng

3-     Thiếu sự năng động

1- Nguyên nhân di truyền

Yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến bệnh béo phì trong nhiều gia đình. Nếu cha mẹ béo phì, con cái dễ có khuynh hướng mắc bệnh này.

2- Chế độ dinh dưỡng

Thức ăn, thức uống hoặc cách ăn uống không lành mạnh dễ gây ra bệnh: như thói hay ăn vặt; loại thức ăn nhanh (fast food); thức ăn có nhiều chất béo (fat), tinh bột; nước ngọt (soda)…

3- Thiếu vận động cơ thể

Trong thời đại văn minh, người ta thường xử dụng phương tiện máy móc thay cho chân tay, làm giảm tính năng động cơ thể. Thiếu vận động, thân thể không đốt hết năng lượng thu nhập nên được tích trữ trong cơ thể dưới hình thức mỡ thừa, gây ra béo phì.

Tóm lại, người ít hoạt động, ít thể dục thể thao dễ bị tăng cân và béo.

4- Các nguyên nhân khác:

Một số nguyên nhân khác cũng có thể gây ra béo phì như:

–         Phụ nữ mang thai.

–         Một số dược phẩm như steroids (cortisone, prednisone, prednisolone…), thuốc ngừa thai, kích thích tố nữ..

–         Một số bệnh tật làm cho cơ thể béo phì như bệnh giảm tuyến giáp (hypothyroidism), bệnh Cushing (tăng tuyến thượng thận), bệnh viêm khớp xương (cơ thể khó di động)..

* Triệu chứng:

Triệu chứng của bệnh béo phì thường thể hiện dưới một hay nhiều các dấu hiệu như sau:

–         Ngủ ngáy

–         Nghẹt thở khi ngủ

–         Đổ nhiểu mồ hôi; luôn luôn cảm thấy nóng nực

–         Buồn ngủ ban ngày

–         Rất dễ mệt khi  cơ thể hoạt động dù chỉ rất nhẹ.

–         Lở da, nhiễm trùng da nơi các nếp nhăn

–         Dễ buồn chán (depression)

–         Xét nghiệm máu thường thấy lượng mỡ cao, đường cao…

* Biến chứng: Béo phì thường tạo ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho cơ thể như:

–         Nghẹt thở khi ngủ.

–         Bệnh tim mạch, bệnh động mạch tim, nhồi máu cơ tim, cao máu..

–         Tai biến mạch máu não.

–         Bệnh tiểu đường lọai II (loại tiểu đường khó điều trị bằng Insulin).

–         Viêm xương, viêm khớp xương (cơ thể thiếu vận động)

–         Gia tăng nguy cơ các bệnh ung thư (ruột già, vú, tử cung…)

–         Bệnh sỏi túi mật.

–         Mất chủ động tiểu tiện (Stress incontinence)

–         Rối loạn kinh nguyệt

* Chữa trị bệnh béo phì:

Mục tiêu chữa trị bệnh béo phì là làm giảm cân (weight loss) trong dài hạn. Kết quả của sự giảm cân dù chỉ rất nhỏ đều làm lợi cho cơ thể và sức khỏe bệnh nhân. Chỉ cần giảm đi 10 cân (pound, lbs), chúng ta đã giảm đi rất nhiều nguy cơ tác hại lên cơ thể. Tuy nhiên, việc điều trị giảm cân rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi ý chí và quyết tâm cao của bệnh nhân.

Nguyên tắc của điều trị giảm cân: Mỗi tuần người bệnh phải giảm tối thiểu từ 1 đến 2 cân (pound). Sau 6 tháng, trọng lượng cơ thể phải giảm ít nhất 10% trọng lượng ban đầu. Việc giảm cân phải được tiến hành liên tục, không được ngừng, cho dù trọng lượng cơ thể đã trở lại bình thường. Người bệnh phải tiếp tục điều trị bảo trì (xem ở phần dưới).

Những phương cách làm giảm cân như sau:

1- Giảm năng lượng thu nhập hàng ngày. Đa số năng lượng đều từ thực phẩm, thức uống. Đơn vị năng lượng được tính bằng calori. Tùy theo chỉ số BMI, mỗi ngày phải giảm từ 500 đến 1000 calori:

  1. Nếu BMI nằm trong khoảng 27-35, mỗi ngày cần giảm 300-500 calori.
  2. Nếu BMI trên 35, cần giảm 500-1000 calori mỗi ngày

Phụ nữ ít hoạt động cần một năng lượng 1600 calori mỗi ngày. Đàn ông hoặc phụ nữ năng động cần 2500 calori mỗi ngày.

Chú ý: trên nhãn của bao, hộp đựng thực phẩm trên thị trường đều có ghi rõ số lượng calori, ta cần đọc cho kỹ để tính số năng lượng có trong thực phẩm đó.

2- Gia tăng hoạt động cơ thể:

  1. Đi bộ, thể dục, thể thao thường xuyên là phương pháp hữu hiệu để giảm cân và  phòng bệnh béo phì.
  2. Theo cơ quan IOM (Institute Of Medicine), người lớn cần vận động vừa phải (moderate activity) tối thiểu khoảng 1 giờ mỗi ngày và dài hạn.

3- Điều trị bằng dược phẩm:

Khi các phương pháp kể trên không kết quả, chúng ta mới phải dùng dược phẩm. Đa số dược phẩm điều trị bệnh béo phì có tác dụng làm giảm sự thèm ăn mà ta gọi là thuốc “chống đói” hoặc “giảm đói” (appetite suppressant), cần phải được bác sĩ cho toa và theo dõi vì có nhiều tác dụng phụ. Những người có các bệnh về hệ tim mạch như bệnh cao máu, bệnh tim.. thì không nên dùng. Tên một số dược phẩm đó là: phentermine (Adipex-P), phendimetrazine (Bontril), sibutamine (Meridia)…

Một loại thuốc khác có tên thương mại Alli được bán tự do ngoài thị trường, tên tổng quát là orlistat. Tác dụng của thuốc là ngăn cản sự hấp thụ mỡ trong thức ăn. 1 viên Alli chứa 60 mg chất orlistat. Thuốc này uống sau các bữa ăn có mỡ, mỗi ngày tối đa 3 lần, mỗi lần 1-2 viên. Nếu bữa ăn không mỡ thì không cần uống. Thuốc Xenical trị béo mập có 120 mg orlistat cần phải có toa bác sĩ.

Xin vào website dưới đây để biết thêm chi tiết.

http://www.mayoclinic.com/health/alli/WT00030www.Myalli.com

Sau khi ngưng thuốc, trọng lượng có thể gia tăng trở lại, do đó cần được điều trị bảo trì và đề phòng bệnh tái phát.

4-     Giải phẫu:

Nếu bệnh nhân có chỉ số BMI cao hơn 40, hoặc trên 35 kèm với nhiều nguy cơ bệnh như cao máu, cao mỡ, cao đường, nghẹt thở khi ngủ v.v., và khi mà các cách điều trị nói trên không kết quả, chúng ta cần đến phương pháp giải phẫu. Giải phẫu trị béo phì bao gồm cắt nhỏ bao tử, làm ống dẫn tắt tiêu hóa (gastric bypass). Dĩ nhiên phải có bác sĩ chuyên môn quyết định và thực hiện phẫu thuật.

5-     Điều trị bảo trì (maintenance)

Sau khi sự giảm cân có kết quả, người bệnh cần phải điều trị bảo trì, nghĩa là tiếp tục phương pháp tránh tăng cân lượng bằng sự thay đổi lối sống, thay đổi về cách ăn uống, năng vận động cơ thể…

* Phòng ngừa

Đề phòng là phương pháp tốt nhất để tránh bệnh dư cân hoặc béo phì và các nguy hại cho sức khỏe của  nó. Những phương pháp ngừa bệnh chính như sau:

 

– Áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh (ít mỡ, ít chất bột, ít chất ngọt..), nhiều rau, đậu, trái cây…

– Theo dõi lượng calori thu nhập mỗi ngày.

– Năng vận động cơ thể, thể dục thể thao thường xuyên.

– Giảm thì giờ ngồi trước màn ảnh (“screen time”) như bớt xử dụng TV, computer, chơi game, nhất là trẻ em.

– Khám tổng quát hàng năm dù bên ngoài ta không thấy có bệnh.

– Theo dõi trọng lượng cơ thể, chỉ số BMI của mình.

– Săn sóc và theo dõi cẩn thận sức khỏe trẻ em, nhất là cho ăn thức ăn lành mạnh, hạn chế giờ chơi game, xem TV.. 

KẾT LUẬN

Bệnh dư cân và béo phì là hậu quả của sự ăn uống thực phẩm không lành mạnh, cơ thể thiếu hoạt động, không theo dõi tình trạng sức khỏe của mình.

Bệnh này tạo nên nhiều nguy cơ các bệnh nguy hiểm khác cho cơ thể. Đề phòng bệnh rất quan trọng, vì khi đã mắc bệnh, việc chữa trị rất khó khăn. Việc điều trị phải được thực hiện đúng cách và liên tục.

BS Đỗ Văn Hội 

Weight and Body Solutions, Inc.

Tampa, Florida.

(Tháng 3, 2011)

 

Danh từ Y học Anh Việt:

 

Lipid                                                       Chất lipid; chất béo; mỡ.

Dyslipidemia                                         Bệnh rối loạn mỡ trong máu

Hyperlipidemia                                     Bệnh cao mỡ trong máu

Atherosclerosis                                    Bệnh xơ cứng động mạch

Risk factors                                           Yếu tố rủi ro (nguy cơ)

HDL                                                        High Density Lipoproteine : Cholesterol có mật độ cao; Cholesterol tốt

LDL                                                        Low Density Lipoproteine: Cholesterol có mật độ thấp; Cholesterol xấu

Triglycerides                                         Mỡ triglyceride; chất béo triglyceride; VLDL (very low density lipoprotein):

lipoprotein với mật độ rất thấp.

Chylomicron                                         Vi thể nhũ trấp (dạng mỡ từ thức ăn được hấp thụ ở ruột non)

 

 

 

polygenic hypercholesterolemia,

hypercholesterolemia,

hyperlipidemia,

cholesterol level,

high cholesterol,

cholesterol lowering foods,

familial hypercholesterolemia,

nonfamilial hypercholesterolemia,

non-familial hypercholesterolemia cholesterol,

statins, statin therapy,

simvastatin,

pravastatin,

atorvastatin,

coronary heart disease,

CHD,

atherothrombotic stroke,

atherosclerosis,

heart disease

 

 

 

 

 

 

Junk food                                              Ăn vặt

Diabetes type II                                    Bệnh tiểu đường loại II (không chữa trị bằng Insulin)

Arthritis                                                 Bệnh viêm khớp xương

Hypothyroidism                                   Bệnh giảm tuyến giáp

Hyperthyroidism                                  Bệnh tăng tuyến giáp

Cardiovascular disease                       Bệnh tim mạch

Gallstones                                             Bệnh sỏi túi mật

Obesity                                                  Béo phì (=mập phì)

Pound (lb)                                             Cân Anh

Depression                                            Buồn chán

Overweight                                           Dư cân (=thừa cân)

Underweight                                         Thiếu cân

Weight loss                                          Giảm cân

Energy                                                   Năng lượng

Body Mass Index (BMI)                     Chỉ số khối lượng cơ thể

Body weight                                         Trọng lượng cơ thể

Risk                                                        Nguy cơ (rủi ro)

Hypertension                                        Bệnh cao máu (huyết áp cao)

Nutrition                                                Dinh dưỡng

Healthy food                                         Thức ăn lành mạnh

Activity                                                                 Vận động

Hereditary                                             Di truyền

Snore                                                      Ngủ ngáy

Sleep apnea                                           Nghẹt thở khi ngủ

Stroke                                                     Tai biến mạch máu não

Stress Incontinence                             Mất chủ động tiểu tiện

Menstrual disorders                            Rối loạn kinh nguyệt

Calories                                                  Calori (đơn vị năng lượng)

Bariatric surgery                                   Giải phẫu béo phì

Bypass surgery                                    Đường dẫn tắt (vòng)

Gastric bypass                                      Đường dẫn tắt bao tử

Intestinal bypass                                                 Đường dẫn tắt ruột non

Screen time                                            Thì giờ   màn ảnh (thời gian xử dụng Computer, TV, máy chơi game..)

Periodic physical exam                        Khám bệnh định kỳ

Fat                                                          Mỡ

Abdominal fat; belly fat.                     Mỡ bụng

Waist circumference                            Vòng bụng

Cushing syndrome                              Tăng tuyến thượng thận

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

 

–          The practical guide: Identification, Evaluation and Treatment of Overweight and Obesity. National Institutes of Health.

–           Obesity, Author: Gabriel I Uwaifo, MBBS, Clinical and Research Attending, Assistant Professor of Medicine and Endocrinology, MedStar Clinical Research Center, MedStar Research Institute and Washington Hospital Center. Coauthor(s): Elif Arioglu, MD, Assistant Professor of Medicine, Division of Endocrinology and Metabolism, University of Michigan; Updated: May 21, 2009

–          www.Webmd.com

–          www.Mayoclinic.com

–          Diagnosis and Treatment of Obesity in Adults: An Applied Evidence-Based Review

  1. John Orzano, MD, MPH; John G. Scott, MD, PhD;

From Journal of the American Board of Family Medicine

–          Http://www.ehow.com/how_4498839_why-measure-waist-circumference.html

–          Cách tính BMI: National Heart, Lung and Blood Institute (National Institutes of Health), website: http://www.nhlbisupport.com/bmi/

 

Translate »