Posts Tagged ‘Nhân quyền’


Tổng Thống Ngô Đình Diệm dưới cái nhìn của các nhà lãnh đạo thế giới

Thursday, November 2nd, 2017

 

Trong sưốt 40 năm hải ngoại, tôi có dịp nghe rất nhiều người nói về TT Ngô Ðình Diệm. Những người thù ghét ông, lên án ông là con người độc tài, gia đình trị, Công giáo trị và kỳ thị Phật giáo. Ngược lại những người thương tiếc và tôn sùng ông thì ca ngợi khơi khơi ông đủ điều.

Con người thật của nhân vật Ngô Ðình Diệm, và Cuộc Cách Mạng Dân Chủ Mà Ông Thực Hiện Suốt 9 Năm (!954-1963) để xây nên Hòn Ngọc Viễn Ðông cho Miền Nam Việt Nam (MNVN) thì không mấy ai biết đến nơi đến chốn.

Nguyễn Anh Tuấn  –  Political Scientist

Diem4

Bấm để xem tiếp…

Trung Quốc: Cái chết của Lưu Hiểu Ba nói lên tầm mức của sự áp bức

Thursday, July 13th, 2017

Washington – ngày 13 tháng 7 năm 2017 – Phản ứng trước cái chết của Ông Lưu Hiểu Ba, 61 tuổi, khôi nguyên giải Nobel hòa bình năm 2010 trong lúc bị nhà cầm quyền Trung Quốc cầm tù và cưỡng bức vì cổ xúy chế độ dân chủ, Freedom House đưa ra tuyên bố như sau:

Ông Michael J. Abramowitz, chủ tịch Freedom House, nói: “Cái chết của ông Lưu thể hiện mức tồi tệ  mới trong chính sách đàn áp của chính quyền Trung Quốc và hoàn toàn không để ý đến sức khoẻ và tính mạng của các tù nhân chính trị và tôn giáo ở Trung Quốc. “Nhà chức trách đã cưỡng bức Ông ta trong nhà tù, từ chối những yêu cầu khẩn cấp cần được chăm sóc y tế, tiếp tục giam giữ  vợ của ông trong tù, đó là những dấu hiệu của một nhà nước độc tài toàn trị, không tôn trọng quyền của công dân và không khoan nhượng đối với những bất đồng quan điểm chính trị. Chính phủ Trung Quốc làm đủ mọi cách không thương tiếc bịt miệng ông Lưu, nhưng họ không thể ngăn được hàng triệu người Trung Quốc khác tiếp tục hành động để bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người “.

Trung Cộng được đánh giá là một nước “không tự do” trong “báo cáo về tự do thế giới năm 2017”, “không có tự do” trong báo cáo tự do báo chí năm 2017 và không tự do trên mạng năm 2016.​

 FOR IMMEDIATE RELEASE

​​

 China: Death of Liu Shows Reach of Repression 

​​

Washington  –  July 13, 2017 —  In response to the death of 61-year old Liu Xiaobo, awarded the Nobel Peace Prize in 2010 while he was imprisoned and silenced by the Chinese government for his advocacy of democracy, Freedom House issued the following statement:

“The death of Liu represents a new low in the Chinese government’s repression and utter disregard for the health and life of political and religious prisoners in China,” said Michael J. Abramowitz, president of Freedom House. “Authorities silenced him in prison, denied him urgently needed medical care, and continue to hold his wife prisoner, all hallmarks of an authoritarian state with no respect for the rights of citizens and with intolerance of political dissent. China’s government worked without pity to silence Liu but it cannot stop millions of Chinese people who continue to take action towards securing fundamental human freedoms.”

China is rated Not Free in Freedom in the World 2017, Not Free in Freedom of the Press 2017, and Not Free in Freedom on the Net 2016.

Freedom House is an independent watchdog organization that supports democratic change, monitors the status of freedom around the world, and advocates for democracy and human rights.

Join us on Facebook and Twitter (freedomhousedc). Stay up to date with Freedom House’s latest news and events by signing up for our newsletter

Mời tham gia ban tổ chức chống Tập Cận Bình và Tàu Công

Tuesday, March 21st, 2017

THƯ MỜI

Tham gia Ban Tổ Chức

Chống Tập Cận Bình và Trung Cộng

nhân Họp Thượng Đỉnh Hoa Kỳ – Trung Cộng 2017

Kính gửi:

  • Quý vị lãnh đạo Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam
  • Quý vị lãnh đạo Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc
  • Quý vị lãnh đạo các Cộng Đồng, Hiệp Hội Người Việt tại Âu Châu
  • Quý vị lãnh đạo Liên Hội Người Việt tại Canada
  • Quý vị lãnh đạo các Tổ Chức, Đoàn Thể đấu tranh, Nhân Sĩ tại hải ngoại

Kính thưa quý vị,

Tin tức báo chí sau chuyến công du của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Tillerson tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Cộng cho thấy sẽ có cuộc họp thượng đỉnh giữa TT Donald Trump và Tập Cận Bình, ngày giờ và địa điểm tuy chưa được chính thức xác nhận, những nguồn tin bán chính thức cho biết rất có thể cuộc họp sẽ diễn ra trong hai ngày 6 và 7 tháng 4, 2017 tại Mar-a-Lago Resort, Palm Beach, Florida.

Chương trình nghị sự cuộc gặp thượng đỉnh này bao gồm:

  • Vấn đề Bắc Hàn sở hữu vũ khí hạt nhân và thái độ khiêu khích của Kim Jung Un.
  • Thương mại mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng mà T.T. Trump trước đây từng lên án TC dùng mánh lới bất chính làm giàu gây thiệt hại cho nhân dân Hoa Kỳ.
  • Hành động lấn chiếm và thái độ bất chấp luật pháp quốc tế của Trung cộng tại Biển Đông.
  • An ninh tại Á châu Thái Bình Dương và nhiều vấn đề quan trọng khác trên thế giới.

Trước sự kiện quan trọng này và trước tham vọng bành trướng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh tại Biển Đông cũng như đối với Việt Nam, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ sẽ phối hợp cùng cộng đồng địa phương, các cộng đồng người Việt khắp nơi tại Hoa Kỳ và trên thế giới cũng như đồng bào tại quốc nội để bày tỏ lập trường qua nhiều hình thức như sau:

  • Tổ chức biểu tình tại địa điểm họp thượng đỉnh (chúng ta cần chờ tin chính thức).
  • Biểu tình chống Tàu Cộng tại Việt Nam (đồng bào quốc nội tổ chức).
  • Công bố Tuyên Cáo lên án nhà cầm quyền CS Bắc Kinh với chữ ký của các cộng đồng, tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nước (có thể thực hiện ngay).
  • Đăng OPEN LETTER trên một tờ báo lớn tại Hoa Kỳ như Washington Times, Washington Post, hoặc New York Times…. Chi phí cho nguyên trang lớn khoảng từ 5,000 MK đến 100,000 MK. Thư ngỏ sẽ tạo ảnh hưởng quốc tế rất lớn. Công tác này có thể thực hiện ngay nếu có tài chánh và phải làm gấp ít nhất 1 tuần trước ngày đăng.

Một ban tổ chức sẽ được thành lập bao gồm đại diện các cộng đồng người Việt trên khắp thế giới và các tổ chức đấu tranh có uy tín. Chúng tôi kính mời các vị lãnh đạo Cộng Đồng Úc Châu, Âu Châu, Canada và các tổ chức đấu tranh và đoàn thể chính trị cùng tham gia.

Kính thưa quý vị,

Trung Cộng đã chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974, chiếm Trường Sa (đảo Gạc Ma) của Việt Nam năm 1988, lấn chiếm hầu hết vùng Biển Đông mà họ áp đăt chủ quyền theo đường lưỡi bò bất hợp pháp, thiết lập các căn cứ quân sự tạo ra mối nguy hại to lớn cho nền an ninh của Á Châu Thái Bình Dương. Ngoài ra, TC hiện đang chiếm dần lãnh thổ Việt Nam dưới nhiều hình thức như tầm ăn dâu với sự tiếp tay của đảng CSVN, chắc chắn sẽ hoàn toàn khống chế Việt Nam trong một ngày rất gần nếu toàn dân không có hành động mau chóng.

Đây là nỗi uất hận chung của toàn thể dân tộc Việt Nam, của tất cả những ai còn lòng yêu nước, còn quan tâm đến nền độc lập, tự do, dân chủ và sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước. Vì thế, chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam khắp nơi hãy trực tiếp hay gián tiếp tham gia chiến dịch chống Tập Cận Bình và Tàu Cộng này. Để có thể thực hiện các công tác nói trên chúng ta cần có phương tiện tài chánh xin quý vị và đồng bào vui lòng yểm trợ.

Chúng tôi kính mời quý vị lãnh đạo tôn giáo, cộng đồng, tổ chức, đoàn thể, nhân sĩ vui lòng tham gia thành lập ban tổ chức để cùng nhau thực hiện các công tác nêu trên. Xin quý vị vui lòng khẩn liên lạc với chúng tôi để bàn chi tiết.

Trong lúc chờ đợi, mọi yểm trợ xin gửi về: Dr. My Hanh Tran, PO BOX 262066, Tampa, FL 33685. Check xin đề: Fed.vac-USA. Tài chánh này chỉ được dùng cho công tác chống Tàu Cộng hiện tại cũng như trong tương lai.

Về chi tiết cuộc biểu tình chống Tập Cận Bình, Ban tổ chức sẽ thông báo nơi cư ngụ, phi trường và các chi tiết khác sau khi có tin chính thức.

Trân trọng​,

​Hoa Kỳ ngày 21/3/2017

  1. CĐNVQG/LBHK

 

BS Võ Đình Hữu        BS Đỗ Văn Hội          Ông Lưu Văn Tươi     Ô. Nguyễn Văn Tánh

CT HĐĐB                  CT HĐCH                  CT HĐGS                   Cố Vấn

 

Xin liên lạc: drhvo@yahoo.com  714-928-3038; hoivando@gmail.com  407-234-3596; Tuoiluu4905@gmail.com  407-491-9299; tanhnguyen1947@yahoo.com   347-481-8283

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia chống hành động bóp nghẹt tự do ngôn luận của chủ tịch Thượng Viện California.

Wednesday, March 8th, 2017
Xin bấm vào link dưới đây để theo dõi.
————————————————————
 
Video vSBTN Phóng sự Biểu Tình trước mặt trụ sở Quốc Hội California tại Sacramento
Thứ Hai ngày 6/3, rất đông người ủng hộ Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn từ khắp nơi đã tụ hội về trước mặt trụ sở Quốc Hội California tại Sacramento để phản đối hành động của Thượng Viện California đối với TNS Janet Nguyễn.
   1 / Trên  trang nhà của SBTN  

 2/  Trên youtube  của SBTN 

Thư Phản Đối Về Việc Ca Sĩ Mai Khôi Từ Chối Hát Dưới Lá Cờ Quốc Gia và Không Có Nghi Lễ Chào Cờ Khai Mạc

Monday, January 16th, 2017

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA LIÊN BANG HOA KỲ

​​THƯ PHẢN ĐỐI

Thu phan doi Mai Khoi (PDF)

VỀ VIỆC CÔ MAI KHÔI TỪ CHỐI HÁT DƯỚI LÁ CỜ QUỐC GIA, VÀ KHÔNG CÓ NGHI LỄ CHẢO QUỐC KỲ TRONG BUỔI TỔ CHỨC NHẠC THÍNH PHÒNG TẠI HOA THỊNH ĐỐN VỪA QUA 

Kính thưa toàn thể đồng bào,

Vào ngày 8 tháng 1, năm 2017 vừa qua, một sự kiện đã xảy ra tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn Hoa Kỳ làm nhiều người Việt tị nạn cộng sản khắp nơi tức giận và lên tiếng phản đối do việc cô Mai Khôi từ Việt Nam qua đã từ chối không chịu hát dưới lá cờ Quốc Gia và cờ Hoa Kỳ. Ngoài ra cũng không có nghi lễ chào cờ như thường lệ trong một buổi trình diễn thính phòng nơi công cộng, cuối cùng hai lá cờ đã phải để ở sau lưng, người tham dự vẫn ngồi nghe mà không có phản ứng nào.

Sự kiện nêu trên không thể chấp nhận được vì nhiều lý do:

1-    Lá cờ Quốc Gia và cờ Hoa Kỳ là tượng trưng cho những gì linh thiêng nhất của mỗi quốc gia (Hồn  Thiêng Sông Núi, Anh Linh Tử Sĩ…), phải được để nơi trang nghiêm, không thể bất kính như vậy.

2-    Cờ Quốc Gia là biểu tượng cho chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam yêu chuộng tự do không cộng sản, nếu không chấp nhận thì chấp nhận lá cờ nào?

3-    Đây là một buổi trình diễn có tính chính trị trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Theo tinh thần “nhập gia tùy tục”, bất cứ ai đến với cộng đồng Người Việt Quốc Gia đều phải tuân giữ những nghi lễ tối thiểu là chào cờ vàng 3 sọc đỏ (còn được gọi là cờ Quốc Gia), và cờ quốc gia nơi cư ngụ, và phút mặc niệm.

4-    Ban tổ chức và người tham dự nếu còn tự nhận là người Quốc Gia chống cộng sản, tại sao không phản ứng cấp thời bằng cách yêu cầu phải có nghi lễ chào quốc kỳ, nếu không, cần phải tẩy chay hoặc phản đối bỏ ra về.

5-    Lý do cô Mai Khôi đưa ra sợ rằng khi trở về Việt Nam sẽ bị làm khó dễ là không thuyết phục vì cô đã dễ dàng ra khỏi Việt Nam để trình diễn nhạc chống chế độ (nếu cho là như vậy), phải chăng đã có sự đồng ý của CSVN, mọi người có quyền đặt vấn đề đối với cô.

6-    Nếu cho rằng mọi người đều có quyền tự do chọn lá cờ mình ưa thích, người Việt tị nạn đã phải liều chết ra đi vì không muốn sống dưới chế độ cộng sản độc tài, vô nhân, họ có quyền tẩy chay và phản đối bất cứ ai tỏ ra bất kính đối với biểu tượng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ hoặc đi ngược với ý nguyện của họ.

Vì thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ trân trọng tuyên bố:

–       Hoàn toàn phản đối những việc đã xảy ra tại buổi trình diễn ngày 8-1-2017 nói trên và trong bất cứ các buổi tổ chức tương tự nào khác nếu có.

–       Yêu cầu tất cả những ai có trách nhiệm tổ chức phải lên tiếng xin lỗi đồng bào tị nạn cộng sản khắp nơi,

–       Đề nghị các cộng đồng người Việt tị nạn hãy phản đối dưới nhiều hình thức nếu xảy ra những sự việc tương tự tại địa phương mình.

Đây cũng là bài học để cộng đồng Người Việt Quốc Gia đề cao cảnh giác, không thể vô tâm vô cảm trước những sự việc tương tự có thể làm mất chính nghĩa đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ của chúng ta.

Trân trọng,

Ngày 14 tháng 1, năm 2017.

BS Võ Đình Hữu                 BS Đỗ Văn Hội                     Ông Lưu Văn Tươi

CT HĐĐB                              CT HĐCH                              CT HĐGS

(Đã ký)                                   (Đã ký)                                   (Đã ký)

THÔNG BÁO VỀ TỐ CÁO NHỮNG THÀNH PHẦN VI PHẠM NHÂN QUYỀN VÀ THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM

Friday, January 13th, 2017

HÃY TỐ CÁO NHỮNG THÀNH PHẦN VI PHẠM NHÂN QUYỀN

VÀ THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM

(CHIẾU THEO ĐẠO LUẬT NHÂN QUYỀN MAGNITSKY) 

Kính thưa toàn thể đồng bào quốc nội và hải ngoại, 

Vào tháng 12, 2016, chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành đạo luật chế tài vi phạm nhân quyền mang tên “Đạo Luật Nhân Quyền MagnitskyToàn Cầu” (Global Magnitsky Human Rights Accountability Act),  được kèm với đạo luật chuẩn chi ngân sách Quốc Phòng năm 2017 (NDAA2017) mục đích cho phép Hoa Kỳ chế tài các cá nhân hoặc viên chức chính quyền tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới vi phạm nhân quyền và tham nhũng. Đạo luật có các điểm chính như sau:

  • Những tội danh sẽ bị chế tài:
  • Giết người (ngoài pháp luật), tra tấn, đàn áp những ai lên tiếng tố cáo, tranh đấu, cổ vũ, bảo vệ, hay khuyến khích các quyền tự do căn bản của con người bao gồm: tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do hội họp, quyền được xét xử công bằng và quyền được bầu cử dân chủ.
  • Thực hiện, cấu kết hoặc xúi giục tham nhũng, hối lộ, lạm dụng quyền thế để trục lợi cho cá nhân, chiếm hữu tài sản quốc gia hoặc của tư nhân cho riêng mình…
  • Những người ra lệnh, những đại diện, hoặc những ai gián tiếp tham gia các vi phạm nói trên đều phải chịu chế tài.
  • Những đối tượng chịu chế tài gồm: các cá nhân, kể cả viên chức chính quyền các quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam).
  • Những biện pháp chế tài bao gồm:
    1. Cấm nhập cảnh vào Hoa Kỳ (không cấp visa). Nếu đã được cấp visa hoặc các chứng từ khác, chính phủ sẽ thu hồi.
    2. Ngăn chận, cầm giữ tài sản tại Hoa Kỳ của cá nhân vi phạm hoặc các tài sản hiện đang được công dân Hoa Kỳ quản lý hoặc lưu giữ.
    3. Đóng băng (freeze) các chương mục tại Hoa Kỳ.
  • Cơ quan thi hành luật chế tài là Hành pháp Hoa Kỳ. Tổng thống có trách nhiệm thi hành luật này hoặc nếu có sự yêu cầu của các ủy ban đặc biệt Quốc Hội. Tổng thống có quyền bãi miễn.
  • Những thông tin về vi phạm được cung cấp bởi:
    1. Các Ủy Ban liên hệ của quốc hội Hoa Kỳ.
    2. Các quốc gia và các tổ chức NGO (phi chính phủ, phi lợi nhuận).
    3. Tin tức cần có bằng chứng rõ ràng (hình ảnh, nhân chứng, chi tiết…)

Nhiều quốc gia cũng đang hoặc sẽ áp dụng luật tương tự

Kính thưa đồng bào,

Trên 41 năm qua, đồng bào Việt Nam tại quê nhà đã gánh chịu những đàn áp, khủng bố của nhà cầm quyền CSVN; mạng sống bị coi rẻ; quyền con người bị tước đoạt; các nhà đấu tranh dân chủ bị bắt bớ, giam cầm bất công và tùy tiện; tài sản người dân bị cường quyền chiếm đoạt; tài sản quốc gia bị quan chức bỏ túi bằng tham nhũng, hội lộ, hoặc cưỡng chế; đời sống nhân dân thật khốn khổ; những kẻ gây tội vẫn ung dung ngự trị đất nước và cất giấu tài sản tại nước ngoài.

Đã đến lúc đồng bào không thể chịu đựng trước những hành động phi pháp và bất nhân nói trên. Những kẻ phạm tội phải được trừng trị và không được phép giấu diếm tài sản bất hợp pháp hoặc sống an hưởng ở Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào khác.

Vì thế, chúng tôi kêu gọi đồng bào mọi giới trong nước là những nạn nhân trực tiếp, và đồng bào định cư tại hải ngoại biết rõ tin tức về các cá nhân vi phạm, xin vui lòng cung cấp tài liệu để chúng tôi chuyển đến những cơ quan hữu trách hầu có những biện pháp thích đáng. Chúng tôi hoàn toàn giữ kín tên của quý vị. Các chi tiết cần được cung cấp như sau:

  • Tên người vi phạm – Tên nạn nhân – Tên nhân chứng (nếu có).
  • Ngày, giờ, địa điểm xảy ra sự kiện với các chi tiết, hoặc hình ảnh, video…

Quý vị có thể liên lạc với chúng tôi bằng những phương cách như sau:

  • Gửi thư đến: PO Box 262066, Tampa, FL 33685. Gọi điện thoại: 407-927-0014.
  • Gửi email đến: vac.usa@gmail.com hoặc lienlacqnhn@gmail.com
  • Vào website: org, bấm vào nút: Nhân Quyền Magnitsky, điền chi tiết vào các ô trống để tố cáo những kẻ vi phạm.
  • Hoặc liên lạc với các Cộng Đồng Người Việt tại địa phương nơi quý vị cư ngụ.

Chúng tôi rất mong quý đồng bào hợp tác để trừng phạt những kẻ đã gây khốn khổ cho người dân hầu ngăn chận những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 12 tháng 1, 2017

BS Võ Đình Hữu                    BS Đỗ Văn Hội                      Ông Lưu Văn Tươi

CT HĐĐB                              CT HĐCH                              CT. HĐGS

(Đã ký)                                   (Đã ký)                                   (Đã ký)

 

 

 

Đính kèm tài liệu về đạo luật này.

Website của quốc hội Hoa Kỳ

 

Dân biểu Dana Rohrabacher: Cuộc điện đàm giữa ​TT ​ Đài Loan và Ông Trump là cảnh báo với Trung Cộng Hoa Kỳ không còn là ‘kẻ dễ bị bắt nạt’

Sunday, December 4th, 2016

đặc biệt

 

​​The Associated Press

NEIL W. MCCABE

Tháng Mười Hai 2016 Capitol Hill

Dân biểu Cộng hòa miền Nam California được xem như một ứng viên Bộ trưởng Ngoại giao đã nói với Breitbart News rằng Tổng thống đắc cử Donald J. Trump đã gửi đúng thông điệp khi ông chấp nhận cuộc điện đàm chúc mừng từ Tổng Thống Thái Anh Văn của Đài Loan hôm thứ sáu, bất chấp sự phản ứng từ Trung Cộng và phe cánh tả của Mỹ.

“Trung Cộng đang được cảnh báo rằng họ không nên nghĩ Hoa Kỳ như là một kẻ dễ bị bắt nạt nữa,” Dân Biểu Dana Rohrabacher, thành viên Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện và là Chủ tịch Tiểu ban châu Âu, Âu Á và mối đe dọa đang nổi tuyên bố như vậy.

Từng là một nhà hoạt động trong khuôn viên đại học, một ca sĩ dân ca, một nhà viết thoại kịch nói “Trung Quốc có quyền quan tâm về những hành động và chính sách đặc biệt liên quan đến các thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về Đài Loan.”

Ông cho biết có thể cải thiện mối quan hệ (của Hoa Kỳ) với Đài Loan trong bối cảnh của Đạo luật Quan hệ Đài Loan mà Tổng thống James E. “Jimmy” Carter đã ký thay thế hiệp ước phòng thủ chung giữa Đài Loan và Mỹ, và để thiết lập một thể thức duy trì quan hệ với Đài Loan, trong khi vẫn xem nước CHND Trung Cộng là một chính phủ của nước Trung Hoa trong đó Đài Loan là một tỉnh trên pháp lý (dejure), nhưng lại là một nhà nước độc lập trên thực tế (defacto).

“Chúng ta có thể hiện đại hóa và mở rộng mối quan hệ với Đài Loan mà không vi phạm thỏa thuận,” ông nói. “Nói chuyện với họ (ĐL) và đối xử một cách tôn trọng họ hơn không phải là vi phạm Đạo luật Quan hệ Đài Loan.”

Rohrabacher, người viết diễn văn cho Tổng thống Ronald W. Reagan, cho biết người TT Reagan tửng ủng hộ mạnh mẽ Đài Loan và ông mừng khi ông Trump đã cảnh báo với lãnh đạo nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng).

“TT. Ronald Reagan biết rất rõ điều này,” vị dân biểu quốc hội nói.

Ông tiếp, “Các tổng thống Hoa Kỳ đã quá lo lắng có thể làm mất lòng Bắc Kinh. Cuộc điện đàm đã làm sáng tỏ rằng người Mỹ không còn phải sợ hãi vì Trung Cộng bất bình về cuộc nói chuyện với Đài Loan”.

Nhà Dân Biểu cho biết ông không ngạc nhiên về những đợt sóng thần chỉ trích vị tổng thống đắc cử từ các phương tiện truyền thông cánh tả.

“Có những kẻ sẵn sàng cúi đầu trước sự đe dọa của bạo chúa về mối quan hệ tồi tệ hơn với Hoa Kỳ, trong khi bạn đứng thẳng người lên nhìn thẳng vào mắt bạo chúa và bạn có những tiến bộ, bạn sẽ có nhiều cơ hội cho hòa bình về lâu dài, “ông nói.

Nhà dân biểu cho biết có hai mối đe dọa lớn đối với Mỹ là khủng bố Hồi giáo và tư thế hung hăng của Trung Cộng trên sân khấu thế giới. Ông đề xuất nước Mỹ nên thành hình một bộ tứ về kinh tế – ngoại giao với Nhật Bản, Ấn Độ, và Nga, nó sẽ đảm bảo hoà bình và thịnh vượng trên thế giới.

Quan hệ với Nga là việc rất quan trọng liên quan với Trung Quốc, ông nói.

DB Rohrabacher phát biểu với Breitbart News rằng nếu Ông Trump yêu cầu ông giữ Bộ trưởng Ngoại giao, ông sẽ từ nhiệm công việc quốc hội để tham gia nội các chính phủ mới.

Vị Dân Biểu cho biết các thành viên toán chuyển tiếp của Tổng thống đắc cử đang liên lạc với ông. “Họ cho biết những gì đang xảy ra và tôi vẫn đang được cứu xét, nhưng tôi chắc chắn không phải là người đứng đầu danh sách.”

​Nguồn

http://www.breitbart.com/big-government/2016/12/03/exclusive-rep-dana-rohrabacher-trumps-taiwan-call-alerts-chinese-u-s-no-longer-a-pushover/

Phái Đoàn Người Việt Gặp Gỡ Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc tại New York

Thursday, July 7th, 2016

Tin New York – Nhân dịp tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31, vào lúc 11 giờ sáng Ngày thứ sáu 17 tháng 6 năm 2016, một phái đoàn người Việt Hải ngoại đã họp với văn phòng Cao Uỷ Nhân Quyền LHQ tại New York. Phái đoàn đã tiếp xúc với bà Nicole Bijerler, phụ tá đặc biệt Tổng Thư Ký LHQ (Assistant General Secretary  for Human Rights) về vấn đề Nhân Quyền.

Mời xem tiếp…

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM THÔNG BÁO KHẨN Số 2 (6-2016)

Tuesday, June 21st, 2016

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM

THÔNG BÁO KHẨN

Số 2 (6-2016)

V/v: Chùa Liên Trì sắp bị cưỡng chế giải tỏa vào ngày 23/6/2016.

 

Theo một nguồn tin đáng tin cậy được Hoà Thượng Thích Không Tánh xác nhận, Uỷ Ban Nhân Dân quận 2, Phường An Khánh Sài gòn đã họp nhiều lần và ra quyết định sẽ tiến hành cưỡng chế giải toả, xóa bỏ chùa Liên Trì tọa lạc tại 153 Lương Đình Của, Phường An Khánh, Quận 2, Sài gòn vào ngày 23/6/2016.

 

Hiện nay, sức khỏe của Hòa Thượng Thích Không Tánh không được tốt. Các tăng ni chỉ biết cầu nguyện trước hành động phá chùa cướp đất này của bạo quyền Cộng sản.

 

Việc giải tỏa Chùa Liên Trì của nhà cầm quyền đã có dự tính từ lâu nhằm triệt hạ những cơ sở tôn giáo độc lập không chịu nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Tuy nhiên, do áp lực của công luận của quốc tế, họ đã tạm thời chưa thực hiện chờ cơ hội thuận tiện.

 

Nay Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam xin trân trọng thông báo khẩn đến Quý Chức Sắc tôn giáo khắp nơi, quý vị thành viên Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, quý tổ chức dân sự, cộng đồng và đồng bào trong và ngoài nước biết trong tinh thần hiệp thông, đoàn kết bảo vệ tự do tôn giáo, bảo vệ nhân quyền có mặt trước chùa Liên Trì trong ngày 22 và 23-6-2016 để phản đối, ngăn chặn việc phá chùa cướp đất nói trên.

 

Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam trân trọng kêu gọi:

 

– Đồng bào trong và ngoài nước đồng loạt lên tiếng tạo dư luận để ngăn chận hành động đàn áp tôn giáo, triệt hạ cơ sở tôn giáo độc lập của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

– Các cơ quan quốc tế nhân quyền, các chính phủ tự do dân chủ trên thế giới khẩn thiết lên tiếng và hành động nhằm ngăn chận việc giải tỏa một cơ sở tôn giáo độc lập cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hiện nay.

Nguyện Cầu Hồn Thiêng sông núi phù trợ cho chúng ta.

 

Việt Nam ngày 21 tháng 6, 2016

 

TM Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam

Đồng Chủ Tịch:

 

–       Hòa Thượng Thích Không Tánh

–       Linh Mục Phan Văn Lợi

–       Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa

–       Chánh Trị Sự Hứa Phi

–       Đạo Huynh Lê Văn Sóc

 

Tổng Thư Ký: Lê Quang Hiển

Đính kèm: danh sách các chức sắc trong Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam đồng ký tên.

 

          Cao Đài:

– Chánh trị sự Hứa Phi (điện thoại: 0163.3273.240)

– Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (điện thoại: 0988.971.117)

– Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (điện thoại: 0988.477.719)

          Công Giáo:

– Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi (điện thoại: 0984.236.371)

– Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại (điện thoại: 0935.569.205)

– Linh mục An-tôn Lê Ngọc Thanh (điện thoại: 0993.598.820)

– Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc (điện thoại: 0122.596.9335)

– Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình (điện thoại: 01692498463)

          Phật Giáo:

– Hòa thượng Thích Không Tánh (điện thoại: 0165.6789.881)

– Thượng tọa Thích Viên Hỷ (điện thoại: 0937.777.312)

– Thượng tọa Thích Đồng Minh (điện thoại: 0933.738.591)

          Phật Giáo Hoà Hảo:

– Ông Nguyễn Văn Điền (điện thoại: 0122.870.7160)

– Ông Lê Quang Hiển (điện thoại: 0167.292.1234)

– Ông Lê Văn Sóc (điện thoại: 096.4199.039)

– Ông Phan Tấn Hòa (điện thoại: 0162.6301.082)

– Ông Tống Văn Chính (điện thoại: 0163.574.5430)

– Ông Bùi Văn Luốc (điện thoại: 0169.612.9094)

– Ông Hà Văn Duy Hồ (điện thoại 012.33.77.29.29).

 Ông Trần Văn Quang (điện thoại 0169.303.22.77)

          Tin Lành:

– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (điện thoại: 0121.9460.045)

– Mục sư Đinh Uỷ (điện thoại: 0163.5847.464)

– Mục sư Đinh Thanh Trường (điện thoại: 0120.2352.348)

– Mục sư Nguyễn Trung Tôn (điện thoại: 0162.838.7716)

– Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (điện thoại: 0906.342.908)

– Mục sư Lê Quang Du (điện thoại: 0121.2002.001)

​Xin bấm nghe video HT Thích Không Tánh lên tiếng.

https://youtu.be/uXkxKjD3ths

Phải Chăng Đây Không Phải Là Tội Ác của Hồ Chí Minh và Chế Độ Cộng Sản Việt Nam?

Tuesday, June 7th, 2016

Nguyễn Thu Trâm – Dẫu vẫn còn nhiều kẻ nô lệ cộng sản và những tên đầu sỏ cộng sản cứ tiếp tục sống trong u mê lầm lạc và tin tưởng một cách mù quán rằng chính chủ nghĩa cộng sản sẽ tạo ra một thiên đường ngay tại thế gian này và rằng chính chế độ công sản sẽ giải phóng con người ra khỏi sự đói rách lầm than và ra khỏi mọi sự áp bức bất công, bởi tại thiên đường cộng sản chủ nghĩa hoàn toàn không có giai cấp, mà nơi đó mọi con người đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, bình đẳng về phẩm giá và bình đẳng về mọi phương diện, kể cả quyền lực, bởi Xã Hội Chủ Nghĩa và Cộng Sản Chủ Nghĩa là giai đoạn phát triển tột cùng của nhân loại, ngoài ra sẽ không tồn tại bất cứ một chế độ xã hội nào khác nữa trong cộng đồng nhân loại.

Sau gần một thế kỷ ra đời, chủ nghĩa cộng sản với nội tại của nó đã tự chứng minh rằng Chủ Nghĩa Xã Hội và Chủ Nghĩa Cộng Sản không tồn tại trong xã hội loài người, mà nó chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng của một số kẻ mắc chứng hoang tưởng mà thôi. Ấy vậy mà cũng trong ngót một thế kỷ tồn tại đó, những “tín đồ” của sản phẩm hoang tưởng đó, với ước vọng đạt được nó, đã phạm phải vô số những tội ác, gây ra cái chết của hơn một trăm triệu người trên toàn thế giới. Trong đó chỉ riêng ở Việt Nam thôi cũng đã có hơn 10 triệu người đã vong mạng cũng do tội ác của chế độ cộng sản mà kẻ thủ ác không ai khác hơn là lãnh tụ Hồ Chí Minh và thuộc hạ.

ba me am con

Đến nay đã có nhiều tài liệu phơi bày những tội ác đó của Hồ và của các lãnh đạo cộng sản Việt Nam kế thừa sự nghiệp bần cùng hóa nhân dân, ngu hóa dân tộc để dễ bề cai trị của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh thành lập và lãnh đạo, từ cuộc cách mạng Cải Cách Ruộng Đất long trời lỡ đất từ 1949 đến 1956 cho đến vụ án Nhân Văn Giai Phẩm rồi vụ án “Xét Lại Chống Đảng” từ 1967 đến 1973 và đặc biệt là cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam nhân danh cuộc “Cách mạng Giải Phóng Dân Tộc, Thống Nhất Tổ Quốc” từ 1955 đến 1975 khiến hơn 5 triệu thanh niên cả hai miền Nam – Bắc đã bị giết trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàng, nồi da xáo thịt đó và hàng triệu người khác là dân sự của cả hai miền cũng vong mạng vì cảnh bom rơi đạn lạc, hàng triệu người khác thì bị thương tật, tàn phế do trực tiếp tham chiến hoặ là nạn nhân chiến cuộc. Với ngần ấy máu xương của đồng bào ruột thịt trong ròng rã 20 năm chiến tranh huynh đệ tương tàn đó để thắng lợi cuối cùng là một quê hương hoang tàn đổ nát, một dân tộc đói nghèo tăm tối kéo dài hơn 3 thập niên nữa, khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi tìm tự do, bởi sau khi thắng cuộc, trên đường đưa đất nước tiến lên thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa đó, hàng ngàn nhà tù, trại giam lại được xây dựng để đọa đày để giam giữ những người đòi hỏi công bình bác ái, đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền… Bởi thực chất cái gọi là “Cuộc Cách Mạng Dân Tộc, Dân Chủ Nhân Dân” mà Hồ Chí Minh và đảng cộng sản xúi dục đồng bào Miền Bắc tiến hành trong cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam trong suốt 20 năm từ 1955 đến 1975 thực chất chỉ là một cuộc chiến tranh giành quyền cai trị đất nước từ một chính phủ dân chủ của dân, do dân và vì dân sang một chánh phủ độc tài toàn trị vì quyền lợi của một nhóm lợi ích, ấy là tầng lớp cai trị, còn cái gọi là thiên đừơng Xã Hội Chủ Nghĩa và thiên đường Cộng Sản Chủ Nghĩa chỉ là một chiếc bánh vẽ mà thôi… Ấy là tội ác của chế độ cộng sản và của Hồ Chí Minh cùng nhóm lợi ích mà cả dân tộc Việt Nam dường như ai ai cũng đã quá tỏ tường…

Ngoài những tội ác nêu trên, còn nhiều hiện tượng xã hội là hệ lụy của “Cuộc Cách Mạng Dân Tộc, Dân Chủ Nhân Dân” và là hệ lụy của tiến trình xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, mà dường như ít được đề cập đến trong các hành vi thuộc phạm trù tội ác của Hồ và đảng cộng sản, mà trong hành trình đi tìm tự do, chính người viết đã mục sở thị và đã cảm nhận được như một nỗi đau thương bất tận của dân tộc mà mỗi con người Việt Nam còn chút tình yêu quê hương đất nước, còn chút lòng tự trọng dân tộc ít ỏi cũng không thể vô cảm, không thể làm ngơ đó là hình ảnh những “con dân của bác” những “thần dân của đảng cộng sản Việt Nam quang vinh” tha phương cầu thực suốt dọc đường gió bui…

phong 4 trai giam IDC
Hình ảnh Chụp Tại Phòng 4 – Nhà Giam Giữ Người Nhập Cư Trái Phép IDC – Bangkok

Có nhói lòng không khi từ vùng nông thôn đến thành thị của hai nước láng giềng Cambodge và Thái Lan, nơi người viết đã đi qua, nơi nào cũng tồn tại những những nhà thổ mà đa phần những người phải bán phấn buôn hương trong đó để cha mẹ đỡ phải đói nghèo, để anh em khỏi phải thất học lại là cháu con của bà Trưng, bà Triệu? Có ai hỏi từng hỏi rằng hơn 700 năm trước, Huyền Trân Công Chúa đã được:

“Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,

Vốn đà không mất lại thêm lời,

Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm,

Một gái Huyền Trân của mấy mươi.”

Còn ngày nay “con dân của bác và đảng” làm thân cây quế giữa rừng… để đất nước Đại Việt được gì? Để con Hồng cháu Lạc được gì hay chỉ là tiếng ô nhục ngàn đời không rửa sạch?

Cũng dọc đường gió bụi, người viết cũng từng gặp dễ có đến hàng trăm thậm chí là hàng ngàn nam, phụ, lão ấu người Việt la lết ở nhiều tụ điểm đông người cả ở xứ Miên lẫn xứ Thái để ăn xin mà không ít những cái bang xuyên quốc gia này có sự chăn dắt hẳn hoi của những đầu nậu là những kẻ buôn người chuyên nghiệp với những đường dây đưa người tàn tật, mù lòa, cùi hủi từ Việt Nam sang mà chúng gọi là “cóc” và những người chăn dắt để thu lợi nhuận theo tỷ lệ phần trăm từ những “con cóc” đó thì được gọi là “người chăn cóc” mà nhiều người cho rằng những kẻ chăn cóc này có cả một “công nghệ” biến những trẻ em Việt Nam nghèo khổ, nhưng vốn lành lặn, trở thành những đứa trẻ tật nguyền mù, què vĩnh viễn nhưng lại hoạt động như những chiếc máy in tiền cho những “người chăn cóc”… và vì có lắm bạc nhiều tiền, những kẻ đó đã bỏ các nhân viên Lãnh Sự Quán, Đại Sứ Quán Việt Nam ở nước sở tại vào túi để luôn luôn được hợp pháp với công việc “chăn cóc” siêu lợi nhuận này. Xin được hỏi rằng đây là nghiệp chướng của quê hương, của dân tộc hay đây chính là tội ác của lãnh tụ cộng sản họ Hồ và của đảng cộng sản?

Cũng tương tự như vậy, tại nhiều trung tâm thương mại ở Phnom Penh, ở Bangkok có rất rất nhiều cáo thị về những kẻ trộm cắp, móc túi với đầy đủ hình ảnh và danh tánh, cũng là “cháu con của bác và thần dân của đảng”. Xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, giống nòi Lạc Việt đã bao giờ ô nhục như thế này chưa? Xin một lần nữa được hỏi rằng đây là nghiệp chướng của quê hương, của dân tộc hay đây chính là tội ác của lãnh tụ cộng sản họ Hồ và của đảng cộng sản?

Và với 7 ngày phải vào nhà tù giam giữ những người nhập cư vào Thái Lan trái phép trước khi đến bến bờ tự do, người viết càng ngỡ ngàng đến không thể tin đây là sự thật khi được tận mắt nhìn thấy hàng trăm nam thanh nữ tú cũng là “cháu con của bác và thần dân của đảng” đã bị bắt, bị đưa vào trung tâm giam giữ người nhập cư trái phép này mà ngoài một số người đến đây để kiếm sống bằng những công việc nặng nhọc trong các công trường xây dựng, một số khác thì làm công việc hầu bàn ở các nhà hàng nhưng phần đa lại là những người đến bán phấn buôn hương hay trộm cắp, móc túi… Thật là đẹp mặt cho “đảng quang vinh và lãnh tụ vĩ đại”. Thật đẹp mặt cho một dân tộc có một nền văn hiến hàng ngàn năm. Bởi đâu? Do ai?

Xin thêm một lần nữa được hỏi rằng là nghiệp chướng của quê hương, của dân tộc hay chính là tội ác của lãnh tụ cộng sản họ Hồ và của đảng cộng sản?

Và đây:  Một vài hình ảnh về “cháu con của bác, thần dân của đảng” sang Thái Lan “Tác Nghiệp” bị bắt giam vào nhà tù IDC Bangkok

1

2

3

4

 

5

6

7

8

 

Một vài hình ảnh về “cháu con của bác, thần dân của đảng” sang Thái Lan “Tác Nghiệp” bị bắt giam vào nhà tù IDC

Người viết đã tâm nguyện rằng ngay khi đặt chân đến bến bờ tự do là bắt tay ngay vào loạt bài về những tội ác ít được người đời để ý này của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam, tiếc thay ở môi trường sống mới còn quá ngỡ ngàng, chưa hội nhập được kể cả văn hóa cũng như điều kiện làm việc: Khi còn tạm dung ở Thái Lan, mọi nhu liệu, mọi chương trình hoạt động trên computer đều hoàn toàn là sao chép, mà không có bản quyền, cho nên ngày rời Thái Lan để đi định cư, nhiều người đã khuyên người viết hãy chuyển computer về cho đồng bào trong nước sử dụng, vì ở Hoa Kỳ những người sử dụng computer với các nhu liệu sao chép, không có bản quyền đều là phạm pháp có thể gặp rắc rối với pháp luật. Vì vậy đến Hoa Kỳ trong thời gian đầu này, việc tự trang bị cho mình các phương tiện làm việc như cell phone, như laptop chỉ là chuyện “fiction”. Trong khi đó mượn tạm computer của những người quen để làm việc thì cũng không hề đơn giản vì thân ai có phận nấy đã đành, đa phần những computer của những người quen biết ở đây chỉ gồm những chương trình căn bản, mà thiếu khá nhiều nhu liệu và chương trình cần thiết cho công việc ngay cả như Microsoft office và các nhu liệu chuyên dụng cho ngành báo chí khác… Đó là những khó khăn đã ngăn trở người viết không thể thực hiện được những dự định về bài vở và điều này đã làm thất vọng không ít đối với quý tôn trưởng từng đặt nhiều hoài vọng vào người viết khi còn chưa đến được bến bờ tự do.

Kính mong được sự cảm thông và chia sẻ của quý tôn trưởng.

Tất nhiên tội ác của lãnh tụ cộng sản họ Hồ và thuộc hạ vẫn còn nhiều. Xin được tiếp tục trình bày thêm trong những bài viết tiếp theo.

Richmond, Virginia ngày 30 tháng 7 năm 2014

Nguyễn Thu Trâm

Việt Nam tiếp tục đàn áp biểu tình vụ cá chết (VOA 6/6/2016)

Monday, June 6th, 2016
Cuộc tuần hành ở Hà Nội ngày 5/6/2016 chỉ diễn ra một thời gian ngắn đã bị giải tán.

Cuộc tuần hành ở Hà Nội ngày 5/6/2016 chỉ diễn ra một thời gian ngắn đã bị giải tán.

Hàng chục người bị bắt giữ tại Hà Nội và Sài Gòn hôm qua (5/6) khi tham gia các cuộc tuần hành ôn hòa kêu gọi minh bạch hóa nguyên nhân khiến cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung từ đầu tháng tư tới nay.

Những người biểu tình dùng các trang mạng truyền thông xã hội để thống kê và truyền tin về các vụ bắt giữ tại hai thành phố lớn.

Các video được loan tải nhanh rộng trên Facebook chiếu cảnh công an Hà Nội dùng võ lực áp giải nhiều người tham gia biểu tình lên hai chiếc xe buýt chở về đồn trong khi một số người khác bị bắt tại Sài Gòn thậm chí trước khi họ tham gia tuần hành.

Tin cho hay tại Hà Nội có khoảng 30 người bị câu lưu sau khi cuộc tuần hành vừa khởi sự được chừng 15 phút thì bị lực lượng công quyền trấn dẹp.

Cái sợ lớn nhất của chế độ này đó là mọi người nhận thức và mọi người không sợ nữa. Chính vị vậy, đây là cơ hội khá tốt giúp những người lâu nay thờ ơ với cuộc sống cảm thấy đã đến lúc chính họ cũng phải nói, biến nỗi lo thường trực này thành việc mà tất cả cùng có thể lên tiếng.

Hình ảnh chia sẻ trên các trang mạng xã hội cho thấy đoàn người biểu tình ở Hà Nội xếp hàng dài tuần hành trong im lặng, tay cầm những biểu ngữ yêu cầu nhà nước trả lời nguyên nhân gây thảm họa môi sinh chưa từng có trước nay, kêu gọi bảo vệ môi trường, và phản đối công ty thép Formosa của Đài Loan ở Hà Tĩnh, nghi can chính trong đại án cá chết.

Internet đặc biệt là các trang mạng xã hội như Facebook, nơi người dân phát tán thông tin về các cuộc tuần hành cũng bị cản trở truy cập từ một ngày trước.

Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế lên án việc Việt Nam đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa đòi hỏi quyền lợi chính đáng và quyền được sống trong môi trường minh bạch-trong lành chứng tỏ một chính quyền cực kỳ vô trách nhiệm.

Phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á trong Human Rights Watch, ông Phil Robertson, nói với VOA Việt ngữ:

“Nhà nước Việt Nam đàn áp biểu tình, từ chối trả lời những câu hỏi rất chính đáng của người dân về thảm trạng đang diễn ra cho thấy một thái độ hết sức vô trách nhiệm, chứng tỏ nhà chức trách dùng quyền hành của mình để buộc mọi người câm lặng thay vì phải trả lời dân như bất kỳ một chính phủ nào khác thường làm. Thay vì điều tra và công bố nguyên nhân cho dân rõ, nhà cầm quyền Việt Nam lại đàn áp những người thực thi quyền tụ tập ôn hòa căn bản của công dân để yêu cầu trách nhiệm từ nhà chức trách. Người dân mất kế sinh nhai, những người bị ảnh hưởng cuộc sống vì thảm họa môi trường này họ phải được giải đáp thỏa đáng.”

Human Rights Watch mô tả hành động của chính phủ Việt Nam là ‘kinh khủng’ và kêu gọi để cho người dân được bày tỏ quan điểm, chấm dứt chiến dịch vi phạm nhân quyền qua việc sách nhiễu, đe dọa, giam giữ người biểu tình.

Nhà nước Việt Nam đàn áp biểu tình, từ chối trả lời những câu hỏi rất chính đáng của người dân về thảm trạng đang diễn ra cho thấy một thái độ hết sức vô trách nhiệm, chứng tỏ nhà chức trách dùng quyền hành của mình để buộc mọi người câm lặng thay vì phải trả lời dân như bất kỳ một chính phủ nào khác thường làm.

Các cuộc tuần hành, tọa kháng vì cá chết trên cả nước trong thời gian qua liên tục bị trấn dẹp bằng võ lực, nhiều nhà hoạt động bị quản thúc tại gia vì lý do giữ gìn trật tự xã hội với lực lượng an ninh được ghi nhận đông gấp nhiều lần người tuần hành.

Nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một người tham gia các cuộc biểu tình tại Nha Trang, cho rằng hành động trấn áp biểu tình xuất phát từ một mối lo sợ sâu xa từ nhà chức trách:

“Cái sợ lớn nhất của chế độ này đó là mọi người nhận thức và mọi người không sợ nữa. Chính vị vậy, đây là cơ hội khá tốt giúp những người lâu nay thờ ơ với cuộc sống cảm thấy đã đến lúc chính họ cũng phải nói, biến nỗi lo thường trực này thành việc mà tất cả cùng có thể lên tiếng.”

Dù giới hữu trách thành công trong việc quét nhanh, dẹp gọn các cuộc xuống đường tại nhiều miền đất nước, nhưng đó chỉ là thành quả trước mắt, khó lòng tránh được hậu quả lâu dài, theo nhận định của một người tham gia các cuộc tuần hành vừa qua tại Hà Nội. Anh Trần Quang Nam nói:

“Họ đạt được nhiệm vụ đấy nhưng lòng dân sẽ không yên. Trong lòng tất cả mọi người đều không hài lòng. Việc đấy càng kéo dài thì sức chịu đựng của người dân càng dồn nén lại. Rồi mọi người càng ngày càng hiểu ra bản chất của chính quyền hiện nay, đến một lúc nào đó người dân sẽ phản ứng dữ dội hơn.”

Việt Nam tiếp tục đàn áp biểu tình vụ cá chết

Sau gần 2 tháng trì hoãn đưa ra lời giải đáp, nhà chức trách Việt Nam hồi tuần trước công bố đã xác định được nguyên nhân gây cá chết hàng loạt từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, đến Thừa Thiên Huế, nhưng nói rằng còn phải chờ phản biện khoa học mới có thể thông báo ra công luận nguồn gốc sự việc là gì.

Các cuộc tuần hành vì vấn đề môi sinh được công luận trong và ngoài nước quan tâm không được phản ánh trên truyền thông chính thống, dù báo chí nhà nước thoạt đầu tập trung vào nghi phạm Formosa.

http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-tiep-tuc-dan-ap-bieu-tinh-vu-ca-chet/3363590.html

Tuyên bố chung: giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

Tuesday, May 24th, 2016

Nhận lời mời của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Đại Quang, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam để chào mừng sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và thúc đẩy tầm nhìn chung của họ cho tương lai. Nhân dịp chuyến thăm vào ngày 23 tháng năm năm 2016 trong cuộc họp giữa hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Việt Nam đã thông qua bản Tuyên bố chung này.

Hai bên hài lòng ghi nhận sự tăng trưởng nhanh chóng, có thực chất, và toàn diện của quan hệ Mỹ-Việt Nam trong năm qua, được mang đến bởi các đối tác toàn diện Mỹ-Việt Nam năm 2013 và Tuyên bố chung Tầm nhìn công bố trong chuyến thăm lịch sử tới Mỹ của Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2015.

Các lợi ích chung của Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp tục mở rộng thông qua tăng cường trao đổi các phái đoàn ở các cấp và duy trì cơ chế đối thoại; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ vào quan hệ thương mại và tăng cường đầu tư; tăng cường hợp tác trong giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, an ninh, quốc phòng, quan hệ giữa người với người, nhân quyền, nhân đạo, và các vấn đề di sản chiến tranh. Quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam ngày càng gia tăng đã góp phần tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và tôn trọng luật pháp quốc tế trong khu vực, xây dựng một khu vực dựa trên luật pháp. Cùng nhau, chúng ta đang giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, y tế toàn cầu, không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, gìn giữ hòa bình, và buôn bán động vật hoang dã.

Hướng tới mục tiêu đó, hai nước đã tái khẳng định nghĩa vụ của mình để tuân thủ các điều lệ của Liên Hợp Quốc, cam kết tôn trọng luật pháp quốc tế, hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của họ. Hoa Kỳ và Việt Nam cũng cam kết tăng cường và phát triển cộng đồng ASEAN, hợp tác với cộng đồng quốc tế để đối phó với những thách thức toàn cầu. Cả hai bên cam kết sẽ làm việc với nhau nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện trong các lĩnh vực sau:

Tăng cường Quan hệ chính trị và ngoại giao

Hai bên cam kết tiếp tục trao đổi phái đoàn các cấp, đặc biệt là ở cấp cao, tăng cường đối thoại giữa các cơ quan của Chính phủ hai nước. Hai bên có ý định mở rộng đối thoại cấp cao thường niên giữa hai Bộ Ngoại giao để thảo luận biện pháp tăng cường quan hệ đối tác toàn diện và thảo luận các vấn đề khác mà hai bên cùng quan tâm. Hai bên đồng ý rằng việc tăng cường tin cậy lẫn nhau đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho tình thân hữu bền vững, lành mạnh và lâu dài và hợp tác.

Thúc đẩy Quan hệ kinh tế

Hai quốc gia tập trung thúc đẩy hợp tác kinh tế, bao gồm thương mại, đầu tư, khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, và sự thay đổi khí hậu. Hai bên khẳng định rằng quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là lĩnh vực kinh tế và chiến lược quan trọng, sẽ thúc đẩy thương mại và đầu tư với nhau, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện, tạo công ăn việc làm. Hai bên khẳng định cam kết của mình để sớm phê chuẩn và thực hiện đầy đủ các thỏa thuận tiêu chuẩn cao cấp này, bao gồm các cam kết về đầu tư, tạo thuận lợi cho kinh doanh và phát triển, sở hữu trí tuệ, dệt may, dịch vụ, lao động và môi trường. Mỹ cam kết hỗ trợ Việt Nam thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực mạnh mẽ để thực hiện và đáp ứng các tiêu chuẩn cao của TPP có hiệu quả. Hai bên cũng khẳng định lại cam kết của họ để đảm bảo rằng tăng trưởng kinh tế toàn diện và tạo cơ hội cho tất cả, được đẩy mạnh bằng cách thúc đẩy sự đổi mới, doanh nghiệp và phát triển kinh tế bền vững. Hai bên nhấn mạnh rằng hợp tác phát triển tiếp tục là một động lực trong mối quan hệ song phương. Cả hai nước cam kết thúc đẩy thương mại song phương và đầu tư, sẽ tiếp tục làm việc theo hướng truy cập các mặt hàng công nghiệp, nông nghiệp, và thuỷ sản. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết sẽ tham khảo ý kiến ​​thông qua nhóm hành động song phương tăng cường một cách hợp tác và toàn diện về mong muốn của Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường. Cả hai nước đều hoan nghênh việc ký kết các hợp đồng thương mại lớn nhân dịp chuyến thăm viếng, như công ty VietJet mua 100 máy bay Boeing và động cơ Pratt & Whitney, cũng như một biên bản ghi nhớ về năng lượng gió giữa GE và chính phủ Việt Nam.

Tăng cường hợp tác giữa người và người.

Hai bên khẳng định ủng hộ việc tăng cường quan hệ giữa người với người để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, hợp tác và hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Hoa Kỳ hoan nghênh chính phủ Việt Nam chấp nhận cơ quan Peace Corps đến dạy tiếng Anh ở Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam hoan nghênh việc thành lập Trường Đại học Fulbright Việt Nam, đó sẽ là đại học Việt Nam có đẳng cấp thế giới. Cả hai bên hoan nghênh các thỏa thuận song phương cấp thị thực nhập cảnh một năm và nhiều lần cho du khách kinh doanh và du lịch ngắn hạn của hai nước. Cả hai bên đánh giá cao và ghi nhận sự thành công của cộng đồng người Mỹ gốc Việt và những đóng góp của họ vào việc thúc đẩy quan hệ song phương.

Tăng cường an ninh và Hợp tác Quốc phòng

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết của họ để tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước như đã nêu trong Bản ghi nhớ về Thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương năm 2011 và Tuyên bố Tầm nhìn chung Mỹ-Việt Nam về quan hệ quốc phòng ký kết năm 2015, ưu tiên hợp tác nhân đạo , di sản chiến tranh, an ninh hàng hải, gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Cả hai bên khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh, chống tội phạm xuyên quốc gia, và an ninh mạng. Việt Nam hoan nghênh quyết định của chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Việt Nam hoan nghênh Hoa Kỳ hỗ trợ an ninh hàng hải – kể cả thông qua Sáng kiến ​​An ninh Hàng hải (MSI), các chương trình giảm mối đe dọa, hợp tác và tài trợ quân sự nước ngoài – và mong muốn hợp tác với Hoa Kỳ để tăng cường khả năng hàng hải của Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký một thư ghi nhớ về ý định thành lập một nhóm hành động hợp tác nhân đạo và sáng kiến lưu trữ y tế (CHAMSI), sẽ thúc đẩy hợp tác về hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Mỹ tái khẳng định ủng hộ vai trò gìn giữ hòa bình của Việt Nam lần đầu tiên bằng cách hỗ trợ Việt Nam trong lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc vào năm 2017.

Cả hai nước đều bày tỏ sự hài lòng về nỗ lực chung của họ để thúc đẩy giải quyết các vấn đề di sản nhân đạo và chiến tranh. Đặc biệt, Hoa Kỳ đánh giá cao sự hợp tác tích cực của Việt Nam hỗ trợ sứ mệnh nhân đạo bằng cách cung cấp đầy đủ tin tức có thể về các quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh. Cả hai bên cam kết tiếp tục hợp tác loại bỏ các phế liệu chất nổ. Việt Nam hoan nghênh sự hợp tác dẫn đến kết thúc thành công giai đoạn đầu tiên việc xử lý chất dioxin tại sân bay quốc tế Đà Nẵng, với giai đoạn cuối cùng đã được tiến hành. Hoa Kỳ cam kết hợp tác với Việt Nam để thực hiện đóng góp đáng kể làm sạch ô nhiễm dioxin ở căn cứ không quân Biên Hòa.

Cổ vũ nhân quyền và cải cách pháp luật

Cả hai nước cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người phù hợp với hiến pháp riêng của họ và với cam kết quốc tế tương ứng. Hai nước hoan nghênh những kết quả của cuộc đối thoại tích cực, thẳng thắn và xây dựng về quyền con người, đặc biệt là vòng thứ 20 của Đối thoại Nhân quyền giữa Hoa Kỳ-Việt Nam vào tháng Tư năm 2016, để thu hẹp sự khác biệt và tiếp tục xây dựng lòng tin. Hoa Kỳ hoan nghênh những nỗ lực liên tục của Việt Nam trong việc cải thiện hệ thống pháp luật và thực hiện các cải cách pháp luật nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người theo Hiến pháp năm 2013. Việt Nam đã thông báo với Mỹ về kế hoạch điều chỉnh, sửa đổi, và dự thảo luật mới, trong đó có Luật về Tôn giáo và Tín ngưỡng, Luật về Lập Hội, Luật sửa đổi bổ sung trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi bổ sung hồ sơ pháp lý, Luật Ban hành Quyết định hành chính. Cả hai bên đều công nhận những đóng góp mà các tổ chức xã hội và tôn giáo tiếp tục thực hiện trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, và các dịch vụ xã hội ở cả hai nước. Cả hai bên khuyến khích hợp tác hơn nữa để đảm bảo rằng tất cả mọi người – không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, và khuynh hướng tình dục, và bao gồm cả người khuyết tật – được hưởng đầy đủ các quyền con người của họ. Hoa Kỳ và Việt Nam đã đón nhận một thư thỏa thuận về thực thi pháp luật và hỗ trợ tư pháp.

Tuyên bố về thách thức khu vực và toàn cầu

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết chia sẻ của họ để giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và hàng hải, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình ngoại giao và pháp lý, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS). Cả hai nước nhấn mạnh cam kết của các bên tranh chấp để tránh những hành động làm trầm trọng  thêm hoặc mở rộng tranh chấp, và xác nhận tầm quan trọng của việc thực hiện nghiêm chỉnh “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên” (DOC),  hành động để đẩy nhanh sự đàm phán với những kết quả thực tế để sớm kết thúc Quy tắc ứng xử (COC). Về vấn đề này, cả hai nước bày tỏ quan ngại nghiêm trọng về diễn biến gần đây ở Biển Đông đã gây ra những căng thẳng, lòng tin bị xói mòn và đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định. Cả hai nước đều công nhận sự cấp thiết của việc ủng hộ tự do hàng hải và hàng không và thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông, kêu gọi cam kết phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong việc giải quyết các tranh chấp, tái khẳng định sự chia sẻ Tuyên bố Sunnylands, và cam kết hợp tác chặt chẽ với các đối tác khác của ASEAN trong việc thực hiện Tuyên bố đó.

Mỹ tái khẳng định cam kết của mình để chủ động phối hợp và hỗ trợ Việt Nam trong việc tổ chức thành công APEC 2017.

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và thực hiện Hiệp định (khí hậu) Paris. Họ mong muốn giai đoạn đầu của Hiệp định được thực hiện, và cả hai đều cam kết sẽ chính thức gia nhập Hiệp định vào năm 2016. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết thực hiện một số hành động thiết thực để thúc đẩy làm dịu và thích ứng về khí hậu, cũng như tăng cường tính minh bạch và xây dựng khả năng trong quan hệ đối tác khí hậu giữa Mỹ-Việt Nam, bao gồm cả ở đồng bằng sông Cửu Long. Công việc sắp tới sẽ xây dựng trên các kết quả của sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong việc thực hiện chương trình Sáng kiến ​​Hạ lưu sông Mekong. Hoa Kỳ cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam ứng phó với nạn hạn hán tồi tệ nhất vừa qua trong hơn 90 năm và xâm nhập nước mặn, và trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong lưu vực sông Mekong. Là một đối tác phát triển của Ủy hội sông Mekong (MRC), Hoa Kỳ bày tỏ cam kết của mình để hỗ trợ hợp tác giữa các thành viên MRC và giữa các thành viên Ủy hội và các cơ chế khác trong khu vực trong việc sử dụng, quản lý và phát triển nguồn nước xuyên biên giới một cách hiệu quả và bền vững.

Hai nước đã bày tỏ sự ủng hộ cho một sự hợp tác hạt nhân dân sự mở rộng như tìm cách giảm thiểu phế thải từ ngành năng lượng toàn cầu, việc ký kết Thỏa thuận hành chính theo Hiệp định Mỹ-Việt về hợp tác trong hòa bình việc Sử dụng năng lượng hạt nhân (Hiệp ước “123”), và các tiêu chuẩn cao nhất về an toàn, an ninh và không phổ biến hạt nhân. Cả hai nước hoan nghênh kết quả thành công của năm 2016 Hội nghị thượng đỉnh an ninh hạt nhân và cam kết sẽ tiếp tục làm việc với nhau để tăng cường cấu trúc an ninh hạt nhân toàn cầu. Hai bên có ý định thành lập Uỷ ban hỗn hợp Hoa Kỳ-Việt Nam về hợp tác hạt nhân dân sự để tạo điều kiện cho việc thực hiện các Hiệp định 123.

Hai nước cam kết sẽ duy trì sự thành công trong hợp tác và lãnh đạo dưới Chương trình nghị sự An ninh y tế toàn cầu (GHSA), đặc biệt đối với sự hợp tác của các trung tâm hoạt động khẩn cấp và phát hiện ổ dịch và phản ứng ở người và động vật với, cũng như thực hiện một lộ trình quốc gia để đạt được từng mục tiêu GHSA. Mỹ cam kết hỗ trợ nâng cao năng lực của Việt Nam trong y học ven biển. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết sẽ làm việc cùng nhau trong khu vực và trên toàn cầu để ngăn chặn, phát hiện và ứng phó với các mối đe dọa đại dịch, cả hai nước khẳng định sẽ thực hiện sự đánh giá chung về những nỗ lực trong năm 2016.

Cả hai quốc gia cũng khẳng định lại cam kết cùng hành động chống buôn bán động vật hoang dã và bảo vệ đa dạng sinh học dưới sự hợp tác mới của Hoa Kỳ và Việt Nam để phòng chống buôn bán động vật hoang dã.

Làm sâu đậm thêm quan hệ đối tác dài hạn

Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện giữa Hoa Kỳ-Việt Nam, làm cho nó sâu đậm hơn, thực chất hơn, và hiệu quả hơn để phục vụ tốt hơn cho lợi ích của nhân dân hai nước vì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới.

BT lược dịch

Nguồn:

https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2016/05/23/joint-statement-between-united-states-america-and-socialist-republic

Nhân kỷ niệm 25 năm sụp đổ bức tường ô nhục Bá Linh.

Thursday, April 28th, 2016

Bối cảnh lịch sử của nước Đức sau Đệ Nhị Thế Chiến :

Cuối Đệ Nhị Thế Chiến vào ngày 8.5.1945 nước Đức sau khi đầu hàng   bị chia ra làm 4 phần  do 4 Đồng minh quản lý: Hoa Kỳ , Anh , Pháp và Nga . Berlin là  Thủ Đô nước Đức nên cũng bi chia ra làm 4 như trên , Nga trấn giữ vùng Đông Bá Linh .

Đến ngày 30.6.1946 Nga quyết định vạch ra đường ranh giới giữa Đông và Tây Đức và từ ngày 29.10.1946 người  ra vào vùng Nga chiếm đóng phải có giấy Thông Hành Liên Vực (Interzonenpass ) mới được di chuyển  và chỉ có giá trị 30 ngày .

Từ đó xảy ra liên tục những va chạm giữa Nga và ba Đồng Minh còn lại.

Vào ngày 20.6.1948 Đồng Minh Hoa Kỳ Anh Pháp cho đổi Reichmark thành D-Mark ở toàn vùng của mình . Để trả đũa lại Nga cũng cho đổi Reichmark thành tiền Deutsche Mark vào ngày 23.6.1948 và muốn toàn Bá Linh phải sử dụng tiền này . Vì Đồng Minh Hoa Kỳ Anh Pháp không đồng ý ,  nên Nga trở mặt ra lệnh phong tỏa Berlin vào ngày hôm sau  24.6.1948 . Tất cả đường bộ ra vào Berlin đều bị cấm không cho qua lại khiến cho Đồng Minh HoaKỳ Anh Pháp phải lập cầu không vận cho Berlin ngay hôm  25.6.1948 . Cầu Không vận này kéo dài hơn  một năm , khi Nga dỡ bỏ lệnh phong tỏa Berlin  vào ngày 12.5.1949 thì cầu Không vận vẫn tiếp tục tiếp tế cho Berlin tới ngày 30.9.1949 mới chấm dứt nhiệm vụ.

Trong khi đó 65 Nhân Sĩ trong một  cơ quan gọi là Parlamentarischer Rat  dưới sự lãnh đạo của Konrad Adenauer soạn thảo từ 1.9.1948 bộ Luật gốc ( das Grundgesetz ) làm căn bản cho Hiến pháp nước Đức  . Cho tới ngày 24.5.1949 bộ Luật gốc được trình duyệt và thông qua , đánh dấu cho ngày hình thành  nước Cộng Hòa Liên Bang Đức . Trước đó vào tháng 4.1949 toàn bộ Quân Đội Đồng Minh vùng phía Tây Hoa Kỳ Anh Pháp đã rút đi để nhường quyền cho chính phủ Đức. Ngày 12.9.1949 Quốc Hội Cộng Hòa Liên Bang Đức đã bầu chọn  Theodor Heuss làm Tổng Thống ( Bundespresident ) và ba ngày sau đó 15.9.1949  Konrad Adenauer được bầu chọn làm  Thủ Tướng ( Bundeskanzler )  đầu tiên của CHLB Đức .

Ngày 7 10.1949 nước Cộng Hòa Nhân Dân Đức cũng được hình thành và Wilhelm Pieck là Tổng Thống  đầu tiên ( President ) của nước này. Ngày 26.5.1952 phía Đông Đức quyết định đóng cửa ranh giới Đông Tây , chỉ ở Berlin người ta vẫn còn được phép qua lại ranh giới  .

Vào ngày 17.6.1953 xảy ra cuộc nhân dân tổng nổi dậy ( Volksaufstand ) tại Berlin và các vùng có nhiều Công Nhân như Halle ,Magdeburg , Dresden , Leipzig  để chống lại chính quyền Cộng Sản . Số người tham dự được ước đoán khỏang 400.000 tới 1,5 triệu người.  Quân đội Nga và Đông Đức đã dùng xe tăng đàn áp thẳng tay khiến cho số người bị bắn chết  lên đến  34 người , ngoài ra còn có 40 người bị xử tử tại chỗ và cả trăm người bị đày  khổ sai ở Siberien. Tới tháng 1.1954 lại có 1.526 người đem ra xử trước Tòa án Đông Đức , có 2 người bị xử tử vả 3 người bị tù chung thân , phần còn lại đều bị kết án tù. Sự tàn ác với dân chúng của chế độ Cộng Sản Đông Đức và  Nga đã dể lại một vết nhơ trong lịch sử nước Đức. Ngày nay ở Berlin  vẫn còn tên Đại Lộ 17.6 là một con đường lớn chạy thẳng đến Brandenburger Tor, nơi  mà hầu như quốc khách nào của  Berlin đều phải chạy qua khi muốn đến tiếp xúc với Tổng Thống Thủ Tướng hay Quốc Hội. Chính Nguyễn Tấn Dũng , Hồ Cẩm  Đào, Tập Cận Bình   ..cũng đã được đưa đi trên con đường này  .

Sau đó chính quyền nước Cộng Hòa Nhân Dân Đức đã tìm mọi càch ngăn cản người dân Đông Đức đi qua phía Tây Đức. Tới một lúc thì chẳng đặng đừng chính quyền Đông Đức ra lệnh đóng cửa  biên giới và bắt đầu xây bức tường ô nhục Bá Linh vào ngày 13.8.1961. Người  ra lệnh xây bức tường nêu lý do là để ngăn chận  những kẻ phát xít phương Tây vào Đông Đức  , nhưng sụ thật là họ chỉ muốn trói dân ở lại với chế độ Cộng Sản .

Trong thời gian Chiến Tranh Lạnh sau này  đã có hai Tổng Thống Hoa Kỳ đến viếng bức tường Bá Linh , người đầu tiên là John F Kennerdy dứng trước Brandenburger Tor ngày 26.6.1963 với câu nói bất hủ “ich bin ein Berliner „ và  24 năm sau là Ronald Reagan ngày 12.6.1987  với câu „ Herr Gorbatschow , tear down the Wall „

Nói chung bức tường Bá linh tồn tại 28 năm từ 13.8.1961 đến 9.11.1989  , có chiều dài  tổng cộng 167,8km mà phần chia Đông Tây Bá Linh chiếm khoảng 43km  , có cả thảy 13 cổng qua lai nhưng bị đóng kín và canh gác cẩn thận bởi các lính Đông Đức. Họ được phép bắn vào người cố ý lại gần bức tường.

Sống ở Tây Berlin tuy vẫn thoải mái như mọi nơi trên  đất nước CHLB Đức , hồi đó lại còn được hưởng Berliner Zulage là tiền phụ cấp khó khăn nên tiền lương thường cao hơn bên Tây Đức ,  nhưng mỗi lần phải đi ra khỏi Berlin là cả một sự khó khăn  vì bị  bắt buộc phải đi qua con đường Xa Lộ xuyên qua Đông Đức. Vào Xa lộ này là phải  đi thẳng không được dừng tùy tiện và chỉ được đổ xăng hay vào nghỉ  tại những trạm đã được quy định.  Có một  xa lộ chính đi thẳng ra Helmsted , Hannover. Quãng đường chỉ dài  khoảng 200km , nhưng sự kiểm soát lúc vào và ra khỏi Xa lộ thì rất phiền toái vì phải xếp hàng chờ đợi rất lâu và vì  sự hống hách trì hoãn của Cảnh sát Đông Đức . Ngưới ta phải làm thủ tục  để nhận Transitvisum ( giấy thông hành trên xa lộ xuyên Đông Đức) khi  ra khỏi thì phải trả Transitvisum lại. Các lính Cảnh Sát kiểm soát rất gắt gao và khó chịu   ; khi thấy một bộ mặt nào không ưa là họ cho mời xe tách  ra khỏi hàng  và cho đứng  đó cho tới khi họ muốn thì  cho đi lại . Đứng mà không kêu ca được gì cả . Họ làm quyền thế cứ  y như là các cán bộ  công an cảnh sát  ở  Việt Nam bây giờ . Bề gì thì cũng là một lò với nhau. 

Nguyên nhân làm sập đổ bức tường Bá Linh 

Trong thế giới này chỉ tiếc là đời sống con người quá ngắn ngủi nên chúng ta không được nhìn thấy được hết cái đinh luật thiên nhiên chi phối vào đời sống con người. Bức tường ô nhục Bá Linh đã sập đổ cũng do định luật thiên nhiên đó. Nguyên nhân của cái phút giây lịch sử đó đã bắt nguồn từ nhiều sự kiện  cùng xảy ra một lúc : từ sự tự hủy của vật chất theo tháng năm , từ sự sinh lão bệnh tử của con người , từ tấm lòng biết  hướng về lẽ phải , từ sự kiên trì  tranh đấu của toàn dân , từ  những sự kiện tầm thường đến đáng buồn cười .. đã xảy ra như một xâu chuỗi liên tục để tạo ra lịch sử.

1.-Nguyên nhân xa nhưng lại là then chốt của vấn đề:

Giữa Hungary và Áo  có một ranh giới tiếp cận dài 270km  mà hàng rào ranh giới đã bị hư hỏng mục nát từ năm 1987 . Tuy có gắn chuông báo động nhưng thường lại là báo động sai , trong khi hàng năm vẫn có tới 2.000 người Đông Đức vượt hàng rào này thành công qua Áo. Vì vậy chính phủ Hungary đã ký một sắc lệnh vào tháng 2.1989 là sẽ dỡ bỏ hàng rào ranh giới này. Lúc đó chính phủ Đông Đức vẫn yên chí đó chỉ là một quyết định suông để ve vãn phương tây , nhưng không ngờ đến ngày 11.9.1989 hàng rào này thực sự được dỡ bỏ hẳn. Trong vòng 3 tuần sau khi dỡ hàng rào biên giới có tới 25ngàn người Đông Đức chạy trốn qua Áo . Dân Hungary thì không có nhu cầu vượt biên vì họ đã có sẵn một Thông Hành QuốcTế do chính phủ cấp , muốn đi đâu cũng được.

2.- Nguyên nhân từ trong Đông Đức : Montagdemo( Biểu tình vào mỗi thứ Hai )  

Song song với sự kiện trên là vào ngày thứ Hai  4.9.1989 sau khi làm lễ ở nhà thờ Nikolai Kirche ở Leipzig có khoảng 1.000 người giương biểu ngữ “ für ein offenes Land mit freien Menschen= cho môt đất nước thông thoáng với những con người tự  do “ và “ Wir wollen  raus=Chúng tôi muốn đi ra” sau đó bị cảnh sát chìm bao vây họ đổi thành khẩu hiệu “ Stasi raus= Công an cút đi”, và từ đó cứ mỗi thứ Hai là họ lại tụ tập trước nhà thờ ở Leipzig để biểu tình , sau đó lan rộng qua các thành phố Đông Đừc khác. Tới ngày 2.10.1989 con số ngưới biểu tình ở Leipzig lên đến 15.000 người  .

Ngày 7.10.1989  là  ngày lễ lớn kỷ niệm 40 năm thành lập Đông Đức  với duyệt binh và biểu diễn lực lượng võ trang với  xe tăng , súng máy , máy bay …  bên cạnh buổi lễ trang trọng đó vẫn có xảy ra  “ lộn xộn “ gần bên khán đài nơi Honecker và Gorbatschow , có nhưng tiếng kêu trong đám đông  “ Gorbatschow , cứu chúng tôi”. Công an cảnh sát đã được lệnh đàn áp thẳng cánh những người biểu tình này.

Sau đó hai  ngày , ngày 9.10.1989 , số người đi biểu tính ở Leipzig lên đến 70.000 người. Lúc đó ở bên Tây Đức ai cũng hồi hộp hướng về Leipzig vì liên tưởng đến ngày 17.6.1953 người dân Đông Đức đã bị đổ máu dưới  sự đàn áp dã man  của xe tăng Nga Nhưng may thay điều đó đả không xảy ra , vì Gorbatchow, với mục tiêu giảm bớt chiến tranh lạnh với phương tây trong chủ trương Glasnow=mở cửa và Perestroika = đổi mới ,  đã ra lệnh cho lính Nga không được can thiệp vào nội bô Đông Đức.

Đến ngày 4.11.1989  có một triệu  người biểu tình ở Alexander Platz  Berlin với khí thế rất mạnh  , từ khẩu hiệu “ Wir sind das Volk = chúng ta là  nhân dân  “đã trở thành “wir sind ein Volk= chúng ta là một dân tộc ”  .

Ngày 6.11.1989 có dấu hiệu hoảng sợ trong bộ chính trị Đông Đức , một số hồ sơ mật đã bị  cho hủy. Ngày 8.11.1989 bộ chính trị trung ương từ chức và dự định bầu lại bộ chính trị mới.

3.-Sự kiện  trong toà Đại sứ CHLB Đức tại Tiệp khắc:

Số người ùn ùn bỏ Đông Đức  ra đi theo hướng Đông ngày càng nhiều , một số  leo tường rào vào trú ngụ tại toà Đại sứ CHLB Đức . Đến 30.9.1989 có tới 4000-5500 người ở trong Đại sứ quán . Điều kiên ăn ở  và vệ sinh rất khó khăn , cho nên Genscher , bộ trưởng bộ ngoại giao CHLB Đức đã đến và từ Balkon toà Đại sứ  ông đã tuyên bố một câu đã đi vào lịch sử nước Đức “ toàn thể mọi người được nhập cảnh  vào CHLB Đức “ , mọi người đã ôm chầm nhau nhảy múa vui mừng .

Ngày 3.10.1989 CHLB Đức đã đem một đoàn xe lửa chở tất cả mọi người trong tòa Đại sứ ở Prag về Tây đức. Cái khó khăn là  xe lửa phải đi qua một đoạn đường Đông Đức ở Dresden . Tại đây một số dân chúng địa phương được biết đoàn tàu đi qua nên đã tụ tập đòi trèo lên xe lửa đi theo qua Tây Đức , Cảnh sát Đông Đức đã ra tay đàn áp mạnh , nhưng dân chúng cũng lấy gạch đá chống chọi lại. Cuối cùng thì đoàn tàu cũng thoát ra khỏi cuộc  hỗn chiến và đưa mọi người  từ Prag bình an tới Tây Đức,

4.- Nguyên nhân từ sức khỏe của thủ lãnh Honecker:

Honecker sanh năm 1912 , xuát thân  từ  gia đình nông dân , bỏ học sớm  ,  10 tuổi đã tham gia vào đoàn thiếu nhi Cộng Sản. Có một thời gian Honecker xin đi học nghề lợp mái nhà ở người bà con . Học nghề chưa xong Honecker xin gia nhập đoàn thanh niên Cộng Sản vào  lúc 14 tuổi .   Tới 16 tuổi được cử đi học ở trường Lenin bên Nga . Tháng 5.1971 Honecker được bầu làm Đệ  Nhất Bí Thư sau khi  Ullbrich từ nhiệm , 1976 Honecker trở thành Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản.

Ngày 7.7.1989 Honecker  bất ngờ bị Gallenkolik ( đau bụng cấp tính do sạn mật ) và được chở qua Bệnh viện ở Rumanie để điều trị cấp cứu , sau khi ổn định được đưa về bệnh Viện Buch để mổ Túi Mật  .  Trong khi mổ Bác Sĩ đã nghi ngờ là có thể có dấu hiệu ung thư Thận phải., nhưng không can thiệp.  Trong suốt tháng 9 .1989 Honecker không xuất hiện làm việc , Mielke và Mittag đứng ra điều khiển hành chính trung ương .

Trong ngày biểu dương lực lượng kỷ niệm 40 năm thành lập nước Đông Đức Honecker đã  tái xuất hiện  bên cạnh Gorbatschow là khách mời danh dự  , mặc dù trong bụng Honecker chẳng ưa gì chủ trương  Glasnow và Perestroika của Gorbatschow.

Trước sức ép của quần chúng và vì lý do sức khỏe Honecker đã từ chức vào ngày 17.10.1989 .

Giữa tháng11.1989 Hội Đồng Nhân Dân DDR đã họp và tố cáo Honecker về tội tham nhũng và lạm dụng  ngân quỹ quốc gia.

Ngày 3.1.1990 Honecker và vợ bị bắt buộc phải rời  chỗ ở xa hoa tại Wandlitz , ngày 6.1.1990  lại nhập viện và đươc xác định bị ung thư thận.

Ngày 29.1.1990 Honecker bị  bắt nhưng hôm sau 30.1.1990 được thả ra  ngay vì bị bệnh nặng. Khi được thả ra thì Honecker và vợ không còn nhà cửa nữa . Trong một cuốn phim tài liệu  mà phóng viên đã theo sát Honecker trong chuyến đi lang thang tìm nơi trú ẩn này cho thấy sự bất mãn của dân chúng Đông Đức đối với ông Tổng Bí Thư tới mức nào . Có người lấy  nắm tay đấm lên xe , lên cửa kính xe hơi hăm he  .Chưa  bao giờ tính mạng Honecker bị đe dọa dữ dội như lúc này. Cuối cùng  Pastor Uwe Holme, chính Pastor đã từng bị Honecker bỏ tù trước đây ,  đã cho vợ chồng Honecker tạm trú tại nhà thờ Bernau  . Honecker đã ở đây tớỉ 4.1990 vì lý do an toàn  và sau đó dọn qua Quân Y Viện Nga ở Beelitz .

Ngày 30.11.1990 Tòa án CHLB Đức  kết tội Honecker vì đả cho lệnh bắn người vùng biên giới Đông Tây Đức.

Ngày 13.1.1991 Honecker và vợ bay qua Moskau do sự can thiệp của Nga  . Tới tháng 2.1992 thì Honecker đã bị di căn qua Gan.

29.7.1992 Honecker bay từ Moskau về tới  nhà tù Moabit Berlin , còn Margot Honecker bay thẳng qua Santiago / Chile đến nhà con gái Sonja tại đó.

13.1.1993 , sau 169 ngày nằm khám Moabit,  Honecker được thả ra và được đưa qua Santiago với vợ con. Tại đây ông mất ngày 29.5.1994.

Bà Margot Honecker bây giờ 87 tuổi  vẫn cò sống tại Santiago , hưởng mỗi tháng 1.700 Euro tiền luơng hưu của CHLB Đức , có nhà riêng và có người hầu hạ.

 5.-Nguyên nhân kinh tế :

Mặc dù nhận được tiền tiếp viện mỗi năm hàng trăm triệu Đức mã  từ Tây Đức để xây dựng và tu bổ con đưòng xa lộ và đường sắt nối Berlin sang Tây Đức xuyên qua Đông Đức,  cũng như được tiếp hơi đến hàng tỷ Đức Mã  trong thời gian 1983-1984;   và mặc dù đời sống của người dân Đông Đức còn khá hơn đời sống của dân Ba Lan và Rumanie  , nhưng  nền kinh tế của Đông Đức đã dần dần kiệt quệ . Gerhard Schürer là chủ tịch Hội Đồng  Staatliche Plankommission thời đó đã tuyên bố  :  tới 1989 Đông Đức nợ 49 Tỳ Valuta Mark và  mỗi tháng tăng lên 500 triệu Valuta Mark  ; cứ theo đà đó  thì đến năm 1991 Đông Đức sẽ phá sản hoàn toàn.

Trong khi đó thì Gorbatschow đã từ chối không viện trợ kinh tế  cho Đông Đức nữa.

6.-Nguyên nhân gần và rất tầm  thường nhưng lại là yếu tố quyết định tối hậu  :

Lúc 18:53 giờ ngày 9.11.1989 Günter Schabowski , phát ngôn viên DDR tuyên bố trong một cuộc họp báo  có trực tiếp truyền hình  là Công Dân Đông Đức có thể sẽ được qua  Tây Đức thăm viếng người thân . Khi  một phóng viên  hỏi „ lệnh này bắt đầu từ bao giờ“ thì Schabowski chợt trở nên lúng túng  và nói lắp bắp :  „ ab sofort , unverzüglich = ngay lập tức , không trì  hoãn „ , từ đó tin loan ra như cơn bão . Người Đông Đức từ mọi nơi mọi phía dồn về tất cả  cổng thành của bức tường ô nhục và làm áp lực với lính canh gác tại đó. Tới 22:30giờ một cổng ở phiá bắc Berlin , cổng Bornholm , mở ra đầu tiên và sau đó thì tất cả cổng đều được mở ra hết , trừ cổng Brandenburger Tor thì  tới 22.12.1989 mới  được mở. Tại cổng Bornholm chính bà Đương Kim Thủ Tướng Merkel cũng đã lần đầu đi qua đây để đến Tây Berlin.

                                             xx                                       xx

                                                                 xx

Luận bàn:

Qua các yếu tố lịch sử đã được nêu trên đây cho thấy sự sụp đổ bức tường ô nhục Bá Linh là kết quả của một xâu chuỗi sự kiện  theo chiều hướng thiên thời địa lợi nhân hòa khiến sự sụp đổ bức tường  là  đoạn kết  hợp lý của một ván  cờ chót .

Là người Việt Nam có ai không ao ước   có  một ngày nào đó  Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng sẽ bị vướng vào một vòng xoáy khủng hoảng đến nỗi phải tự động rút lui   nhường chỗ cho một thể chế đa nguyên dân chủ  hợp hiến và hợp pháp  .

Trước tình hình trong nước hiện tại nếu chúng ta quan sát kỹ thì cũng có thể nhận ra những dấu hiệu thoái hóa của chế độ Cộng Sản. Chỉ cần tới một thời điểm chín mùi thì quả sẽ rụng mà không cần tới bạo lực.

Những yếu tố bất lợi  của chế độ Cộng Sản Việt Nam là:

1.- Sự khiếm khuyết  của luật pháp trong chế độ Cộng Sản Việt Nam:

Ngày 2.9.1945  là ngày Việt Minh đã cướp công kháng chiến  chống Pháp của toàn dân và cướp chính quyền hợp pháp của Thủ Tướng Trần Trọng Kim để khai sinh ra  chế độ Cộng Sản man rợ đưới cái tên VNDCCH . Tuy rằng họ đã cho ra đời một cái Hiến Pháp   vào ngày 9.11.1946 , nhưng đó chỉ là những sáo ngữ và hệ thống Luật Pháp Hành Pháp và Tư Pháp không được hình thành  , nền Dân chủ không được thực hiện. Thể chế Cộng Sản đã áp đặt lên đầu người dân bằng cách nắm lấy miếng ăn như nuôi một bầy súc vật . Trong chế độ bao cấp con người chỉ còn là những cái Hộ Khẩu . Nói một cách mộc mạc như nhà văn  Tiểu Tử ,  giá trị  một con người với cả một khối óc lương tri chỉ còn là một cái miệng ăn ( không phải là miệng nói )  trong chế độ Cộng Sản. Bảy giờ trước trào lưu tiến hóa của xã hội , trong thời đại Internet bao phủ toàn cầu , trong thời đại suy thoái của Cộng Sản Đông Âu , Cộng Sản Việt Nam phải xoay sở để tồn tại . Ngoài cái Hội Nghị Thành Đô bán nước giữ Đảng , Cộng Sản Việt Nam đã lộ chân tướng của một chế độ vô luật pháp hỗn loạn. Từ cái chiêu bài trị dân theo lối côn đồ , cho công an cảnh sát tay sai  mặc thường phục hành hung  dân chúng hoặc ném đồ dơ bẩn vào nhà dân… thì cái thói côn đồ ấy lại trở nên hoành hành từ trong nội bộ  cơ quan điạ phương khiến trung ương không còn kiểm soát được địa phương nữa. Đó là  định luật   nhân quả .

2.- Chủ thuyết hồng hơn chuyênnhất cùng nhị bạch để  trị dân của Cộng Sản Việt Nam  :

  1. a) Trăm năm trồng người: để củng cố chế độ , Cộng Sản hô hào kế hoạch trăm năm trồng người . Họ trồng một giống người theo kiểu mẫu Mao-it , vô gia đình vô tổ quốc  vô thần và cả vô học nữa . Cộng Sản  muốn con người là công cụ của nhà nước hoàn toàn  , muốn xóa bỏ đạo lý gia đình , xóa biên giới lãnh thổ , xóa lòng tự hào người con đất Việt , xóa sạch  sự hiểu biết của tầng lớp  trí thức  , xóa luôn cả niềm tin vào đấng thiêng liêng. Kết quả của kế hoạch này là một tập đoàn lãnh đạo Cộng sản cuồng chiến nhưng không có khả năng điều hành một đất nước   , một xã hội hỗn loạn : con người trở nên dốt nát  hung dữ , không tin vào lẽ phải điều hay mà lại trở thành  mê tín dị đoan , đạo đức luân lý trong gia đình và xã hội không còn tồn tại.
  2. b) Dân trí:Trong trường học lịch sử bị bóp méo , những lập luận “lưỡi gỗ” nhàm chán không còn thuyết phục được ai nữa . Nhưng môn chính trị kinh điển  về Cộng Sản vẫn là phần chánh trong chương trình đào tạo chuyên môn  . Điều này khiến cho chương trình đào tạo chuyên nghiệp bị thu hẹp lại ,  kết quả là chuyên môn bị kìm hãm , nhân tài bị bóp nghẹt và tài năng cá biệt không được phát triển .
  3. c) Xã hội:.  Chúng ta phải khẳng định là  quốc nạn trộm cắp vặt được nảy sinh từ chế độ bao cấp. Dĩ  nhiên trộm cắp là một bản năng tồn tại của loài  người khi đói  ăn thiếu mặc  . Do  sự cung cấp nhỏ giọt  thời bao cấp nên của cải vật chất trở nên quý hiếm. Từ cái lốp xe đạp , thước vải cũng đổi ra được miếng ăn cái mặc  nên bất cứ vật dụng gì cũng được trưng dụng. Bác Sĩ “ăn” thuốc men , y tá “ăn” kim chích  chăn  mền, thư ký “ăn” giấy bút , nhân viên bưu điện “ăn “ bưu phẩm , thư quà.. Với thói quen “ăn” trong cơ quan như vậy cho nên khi đã bị tiêm nhiễm nặng người ta không còn phân biệt được phải trái , thấy của cải vật chất  là cứ “ chôm “mà không sợ luật pháp  , nên mới xảy ra những vụ người Việt trộm cắp bên Nhật bên Anh nổi tiếng thế giới.

3.- Giai cấp Đảng viên  và tham nhũng :

Trong cuốn “ chuyện thời bao cấp “ của nhà  xuất bản Thông Tấn / Hà Nội  in năm 2007  trang 31”.. Cứ ngỡ rằng thời bao cấp mọi khó khăn được chia đều trong xã hội nhưng khi nghiền ngẫm cơ chế phân phối thời bao cấp với cửa hàng lương thực , hệ thống tem phiếu và quầy hàng tết ở cuộc trưng bày , mới hay rằng nhân dân có tiêu chuẩn riêng và ở mức thấp nhất, tiêu chuẩn của cán bộ , công nhân, viên chức tùy thuộc vào vị trí công tác và đặc thù nghề nghiệp của mỗi người. Cán  bộ cao cấp có cửa hàng phục vụ riêng tại phố Tôn Đản ;  trung cấp tại phố Nhà Thờ , Vân Hồ , Đặng Dung và Kim Liên ; còn cán bộ , công nhân viên chức bình thường mua ở các cửa hàng rải rác trong thành phố.. “như vậy cái ảo tưởng xóa bỏ giai cấp của Cộng Sản chỉ là một cái bánh vẽ để chiêu dụ những kẻ nông nỗi nhất là giới thanh niên sinh viên học sinh tại các vùng đất tự do . Khi vào rọ rồi thì cái giấc mơ “ công bằng bác ái” trong môi trường Cộng Sản trong thực tế chỉ là  những hạt kim cương khi nhìn từ xa   nhưng khi đến gần mới biết đó là những giọt nước mắt.

Khi chế độ bao cấp đã từ từ tự  triệt tiêu vì cái quy chế phản tự nhiên của nó và nhất là sau khi khối Cộng Sản Đông Âu sập đổ, các nguồn viện trợ trao đổi hàng hóa bị cắt đứt  thì Cộng Sản Việt Nam phải biến thái để tồn tại dưới mô hình “ kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”  với những ưu tiên độc đoán trong thị trường cho cán bộ đảng viên cao cấp  để  bóp nghẹt thị trường kinh tế tự do  và tạo sự dung túng lộng hành quyền lực cho  nhóm Đảng Viên và tay chân.

Tham nhũng được hình thành và nuôi dưỡng từ trong  môi trường  độc quyền  đặc lợi , một xã hội hỗn loạn vô luật pháp công minh  tạo ra một nền kinh tế èo uột  tồn tại trên những  ký sinh trùng bòn rút của công làm của riêng , mua quan bán chức…

                                                    xx                                    xx

                                                                      xx

Tóm lại thời   tự hủy diệt chế độ Cộng Sản  Việt Nam đã điểm  ,  thế nước lòng dân  đã và đang tiềm ẩn trong mọi thành phần dân chúng . Khi nào thời và thế đồng nhất hội tụ thì đó chỉ là một câu hỏi về thời gian.

Ngày nay trước sự tiến triển của công nghệ thông tin thì sự độc qưyền chuyển  tải tin tức một chiều từ hệ thống truyền thông của Cộng Sản Việt Nam không còn quan trọng nữa . Những người có khát vọng tìm hiểu về tình hình quốc tế và quốc nội đều có thể cập nhật tin tức hằng ngày trên Internet  mặc dầu có sự cản ngăn của   cả một tập đoàn Công An Mạng . Nhưng những người trẻ tuổi hôm nay đã có đủ khả năng ứng phó và vượt qua những khó khăn này.

Trong không khí đầu năm 2015 chúng ta hãy cầu nguyện cho một nước Việt Nam tự do  , dân chủ và có pháp quyền . Khi  nào mỗi người dân đứng trước luật pháp đếu có quyền lợi và bổn phận ngang nhau  và nhân quyền được tôn trọng tuyệt đối thì ngày đó dân tộc Việt Nam mới có thể ngẩng đầu  so vai với thế giới.

Berlin ngày 01.01.2015

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm

Công Bố Thành Lập Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam

Saturday, April 23rd, 2016

BẢN CÔNG BỐ THÀNH LẬP

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

*** 

NHẬN ĐỊNH RẰNG:

  1.  Sau khi vi phạm Hiệp định Paris để xâm chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn thể dân tộc Việt với một chế độ độc tài toàn trị bạo ngược, tước bỏ mọi quyền tự do căn bản của người dân được long trọng quy định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10-12-1948.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tự cho mình là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước, biến hành pháp, lập pháp, tư pháp, quân đội, công an, báo chí thành công cụ tuyên truyền, khủng bố trấn áp thô bạo những ai tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nhân quyền và dân quyền và cho sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Hậu quả là Việt Nam chẳng có uy tín trên chính trường quốc tế và bị quốc tế thường xuyên lên án về thành tích vi phạm nhân quyền.
  1.   Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương kinh tế quốc doanh là chủ đạo, các công ty nhà nước là ưu tiên, mọi tài nguyên đất đai là sở hữu của nhà nước. Nền kinh tế ngày càng lụn bại, tài chánh ngày càng kiệt quệ, nợ công ngày càng dâng cao, cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Hàng triệu công nhân bị bóc lột sức lao động, hàng chục triệu nông dân bị cướp ruộng cướp đất, hàng triệu thị dân bị cướp nhà cướp cửa. Thực lực kinh tế quốc gia và điều kiện sinh sống của công dân đứng hàng gần chót thế giới.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương khống chế tinh thần của toàn thể xã hội, độc quyền thông tin, độc quyền giáo dục, khuynh loát mọi hình thức văn hóa và các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt trong lĩnh vực tâm linh, đảng cộng sản Việt Nam đã và đang tiêu diệt các tôn giáo chân truyền, thành lập các tổ chức tôn giáo quốc doanh nhằm phục vụ chế độ vô thần, đi ngược với truyền thống của dân tộc. Các tôn giáo không đóng được vai trò lương tâm và giáo dục cho xã hội. Vì thế, dối trá tràn lan, bạo lực tung hoành, văn hóa nghệ thuật và khoa học kỹ thuật chẳng có mấy thành tựu, thế hệ trẻ lớn lên trở thành công dân mất tự do và vô trách nhiệm, không có trí tuệ và đạo đức.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Namtự cho là người chủ tuyệt đối của đất nước, các cán bộ đảng viên biến mình thành những lãnh chúa ra sức bạo hành và tham nhũng. Lực lượng công an là công cụ bạo lực của đảng, ức hiếp và cướp bóc nhân dân, giết người vô tội, xã hội tràn đầy trộm cướp và lừa gạt, môi trường tràn đầy ô nhiễm và độc hại, nhân dân sống lo âu sợ hãi khắp nơi.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngày càng lệ thuộc Trung Cộng về ý thức hệ và chính trị, về kinh tế và tài chánh, về thương mại và kỹ thuật, khiến Trung Cộng chiếm nhiều phần lãnh thổ và lãnh hải, nhiều tài nguyên trên đất và trên biển, nhiều dự án kinh tế và thương mại. Ngoài ra, nhà cầm quyền liên tục đàn áp những công dân biểu tình chống quân xâm lược, bênh vực sự vẹn toàn lãnh thổ, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ chốngTàu và những công dân cảnh báo tai họa từ kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, nguy cơ mất nước quả thật gần kề.

Trước hiện tình bi thảm và nguy ngập đó của đất nước với bao thảm trạng và tệ nạn ấy của quốc gia, để thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn dân trong và ngoài nước, trong phiên họp ngày 28-1-2016 giữa nhiều lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, nhiều đại diện các tổ chức trong và ngoài nước, Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam được thành lập để đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của lịch sử: “Tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền –  chống đế quốc mới Trung Cộng xâm lược để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. 

NAY, HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

long trọng công bố trước quốc dân và công luận quốc tế:

  1. Hội đồng Liên kết Quốc nội và Hải ngoại Việt Nam là một tập hợp của đồng bào trong nước và cộng đồng Người Việt ngoài nước nhằm mục đích:
  • Tranh đấu khôi phục Nhân quyền và Dân quyền tại Việt Nam, thực thi đúng lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và hai Công ước Liên Hiệp Quốc về các quyền Chính trị, Dân sự, Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966.
  • Bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc và sự trường tồn của Dân tộc.
  1. Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại quyết tâm thực hiện các mục tiêu:
  • Góp phần tích cực, tạo sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong công cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho đồng bào và vẹn toàn lãnh thổ của đất nước.
  • Tạo được niềm tin cho các Hội Đoàn, Đoàn Thể, các tổ chức Xã Hội Dân Sự, các phong trào Dân Oan, Công Nhân và Tín Đồ trong nước, khiến họ sẽ tranh đấu tích cực hơn nhờ được Hội đồng Liên kết nói riêng và đồng bào hải ngoại nói chung quan tâm và hỗ trợ.
  • Đáp ứng nguyện vọng của toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước, đang mong muốn một phong trào vì dân chủ và nhân quyền dâng cao và thành tựu tương tự như Liên minh vì Dân chủ của Miến Điện đã thành công gần đây.
  • Vận động Liên Hiệp quốc, chính phủ các nước tự do và các tổ chức nhân quyền quốc tế yểm trợ, làm áp lực chặn đứng những hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền, can thiệp kịp thời cho bất cứ người dân Việt Nam nào bị sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ, giam cầm, xử án bất công.

Kính thưa toàn thể Đồng bào, 

Hơn bốn mươi năm qua, Cộng sản Việt Nam đã rước voi “Mác Lê” giầy mả Tổ, cõng rắn độc “Trung Cộng” cắn gà nhà Dân Tộc, khiến đất nước  trải qua một thời kỳ bi thảm ô nhục nhất trong lịch sử.

Toàn dân Việt Nam phải sống dưới ách thống trị bạo tàn của chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân, phản dân tộc, thế sự đảo điên, xã hội bần cùng, lòng người ly tán, nhân tâm uất hận. Đã thế, tập đoàn cầm quyền lại cam tâm khuyển mã ươn hèn tủi nhục, cúi đầu thần phục, xin làm chư hầu cho phương Bắc, đem lại “Đại Họa” cho Dân Tộc.

Tiền nhân đã viết lên những trang sử oanh liệt hào hùng bằng xương máu của biết bao thế hệ Việt Nam yêu nước. Một Lý Thường Kiệt đã đánh tan tành quân Tống năm 1075, Lê Đại Hành Phá Tống Bình Chiêm, Vua tôi nhà Trần 3 lần chiến thắng đạo quân Mông Nguyên hung hãn nhất trong lịch sử, Quang Trung Đại Đế đã “Đánh cho được để đen răng, Đánh cho được để dài tóc, Đánh cho xe giặc tan tành, Đánh cho quân thù tơi tả… Đánh cho Sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ…”. Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo: “Chỉ Nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền Văn hiến ngàn năm… Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng hào kiệt đời nào cũng có..”. Tập đoàn cầm quyền Cộng sản hèn với giặc ác với dân nhưng toàn dân Việt khí thế hào hùng bất khuất sẽ đứng lên đáp lời sông núi diệt kẻ nội thù, chống quân xâm lược.

Trước tình trạng Tổ Quốc Lâm Nguy Sơn Hà Nguy Biến, toàn thể nhân dân Việt nam trong và ngoài nước, không phân biệt nam nữ, sắc tộc, tôn giáo, địa phương, đảng phái, chính kiến, đoàn kết một lòng, quyết tâm thể hiện lòng yêu nước bảo vệ giang sơn gấm vóc.

Thanh niên sinh viên, Đồng bào dân Oan, Công nhân bị bóc lột đồng loạt đứng lên tranh đấu để giành lại tự do, đòi quyền sống, quyền làm chủ đất nước.

Kính Thưa toàn thể đồng bào,

Là con dân đất Việt lẽ nào chúng ta cam chịu cúi đầu khuất phục chấp nhận thân phận nô lệ, sống kiếp ngựa trâu, để tập đoàn Việt gian phản quốc ngang nhiên dâng hiến đất đai của Tổ Quốc, Dân Tộc bị tiêu diệt, Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới, thế hệ hôm nay sẽ đắc tội với Tổ Tông, với con cháu muôn đời sau.

– Không còn khốn khó thương đau nào hơn thống khổ hôm nay khi 90 triệu đồng bào sống trong ngục tù Cộng Sản!

– Không còn nhục nhã hờn căm nào bằng ô nhục căm hờn hôm nay khi giặc Tàu – Cộng ngang nhiên chiếm đoạt đất đai, biển đảo của chúng ta!

– Toàn dân hãy đứng lên giành quyền làm chủ của nhân dân, để chuyển đổi lịch sử, đón mừng mùa xuân dân tộc trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Toàn dân Việt phải tự quyết định số phận của chính mình và vận mệnh của đất nước chúng ta.

Đại Nghĩa Tất Thắng Hung Tàn

Chí Nhân Phải thay Cường Bạo

Nguyện cầu Hồn Thiêng Sông Núi

Phù trì Dân Tộc Việt Nam

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt.

Việt Nam Ngày 16-4-2016 

Nhằm ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương 10-3 Âm Lịch

Đồng Chủ Tịch:

– HT Thích Không Tánh, Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– LM Phan Văn Lợi, Đồng ChủTịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– CTS Hứa Phi (Cao Đài Chơn Truyền), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– Nhân sĩ Lê Văn Sóc (PGHHTT), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN).

– MS Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành) Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch HĐĐB Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– BS Đỗ văn Hội, Chủ Tịch HĐCH Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Lưu văn Tươi, Chủ Tịch HĐGS Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh, Chủ Tịch UB Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, Cố Vấn CĐNVQGLB

Hoa Kỳ.

– Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh, CT Phong Trào Diên Hồng Thời Đại.

– Phó TS Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây

Ninh Hải Ngoại.

– Nhân sĩ Cao Xuân Khải, PCT Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Tôn Giáo Việt Nam.

– Nhân sĩ Trần văn Đông, TTK Liên Hội Người Việt Canada.

– Nhân sĩ Trần Văn Bính, Hội Người Việt Tự Do Vancouver Canada, Ban Yểm trợ Truyền

Thông Khối 8406.

– BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, CT Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức.

***

Liên lạc:

Email: LienlacQnHn@gmail.com

Website: www.LienketQnHn.org

Thông Báo về “Vietnam War Summit”

Thursday, April 21st, 2016

THÔNG BÁO

Về “Vietnam War Summit”

(Hội Thảo Thượng Đỉnh Chiến Tranh Việt Nam)

tại Thư Viện LBJ, Austin, Texas

Kính thưa:

  • Quý vị Lãnh Đạo các Tôn Giáo, Cộng Đồng, Đoàn Thể,
  • Quý Thân Hào Nhân Sĩ, Truyền Thông Báo Chí và
  • Toàn thể Đồng bào tại Hoa Kỳ, hải ngoại.

Ngày 5 tháng 4, 2016, Thư Viện Lyndon Baines Johnson (LBJ) ở Austin, Texas thông cáo sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam được mệnh danh “Vietnam War Summit” (tạm dịch “hội thảo thượng đỉnh chiến tranh Việt Nam”) từ 26 đến 28 tháng 4, 2016, được Đại Học University of Texas bảo trợ nhằm đưa ra một “cái nhìn thật sự và rõ ràng về chiến tranh Việt Nam”.

Trong buổi hội thảo còn có sự hiện diện của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry với tư cách diễn giả chính. Ông sẽ trình bày sự quan hệ giữa chính phủ Hoa Kỳ và CS Việt Nam, về sự thay đổi kinh tế và xã hội của Việt Nam so với thời kỳ Ông phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ. Buổi hội thảo được tổ chức nhân dịp ngày 30-4 sắp tới và 1 tháng trước khi TT Obama đến thăm Việt Nam.

Ngoài ra, còn có các diễn giả khác như TS Henry Kissinger, cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ thời TT Nixon; Ô. Phạm Quang Vinh, đương kim đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ và Ô. Ken Burns, một nhà làm phim sẽ thực hiện bộ phim tài liệu gồm 10 phần về cuộc chiến tại Việt Nam.

Theo Ông giám đốc thư viện Mark K. Updegrove, mục đích buổi hội thảo nhằm vinh danh các nam nữ chiến binh Hoa Kỳ đã chiến đấu anh dũng tại Việt Nam đồng thời nghiên cứu sự phức tạp của cuộc chiến, để “soi ánh sáng vào cuộc chiến tranh Việt Nam, bài học và di sản của nó” (“Our goal is to shed definitive light on the Vietnam War, its lessons and legacy.”)

Đặc biệt trong danh sách những nhân vật tham dự, còn có một số cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, một số nhân vật  phản chiến nổi tiếng như Tom Hayden (chồng cũ của Jane Fonda cũng là một người phản chiến), ông Peter Arnett, một ký giả phản chiến.

Điều đáng ngạc nhiên là một cuộc hội thảo quan trọng về cuộc chiến tại Việt Nam lại không có một người Việt nào được mời tham dự để góp tiếng nói về vận mệnh của đất nước mình, ngoại trừ Dân Biểu Texas Hubert Vo, một người Việt Nam còn trẻ không trực tiếp tham gia cuộc chiến, như thế, đây có thể là một môi trường thông tin một chiều, thiếu trung thực, để các thành phần phản chiến và thân cộng có cơ hội tuyên truyền cho đảng CSVN hiện nay.

Để đáp ứng sự kiện này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ đề nghị:

1-       Người Việt tỵ nạn chúng ta cần có tiếng nói trong dịp này dưới nhiều hình thức, nêu rõ lập trường, lý do và những nguyên nhân đưa đến cuộc chiến tại Việt Nam. Ai đã gây ra cuộc chiến kéo dài 30 năm (1945-1975), làm thiệt mạng gần 4 triệu người dân Việt Nam, để cuối cùng một chế độ cộng sản vô thần tàn bạo ngự trị đất nước Việt Nam trên 40 năm qua.

2-       Chúng ta không chống cuộc hội thảo nhằm tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam, mà chỉ chống luận điệu một chiều, xuyên tạc của các tên phản chiến, thân cộng và những kẻ bán đứng miền Nam Việt Nam, và đại sứ CSVN tại Hoa kỳ đại diện cho một chính quyền không do dân bầu, hiện đang tiếp tục đàn áp và khống chế dân tộc Việt Nam bằng một chế độ độc tài toàn trị, đưa đất nước đến bờ vực thẳm.

3-       Chúng ta sẽ phải lên tiếng trước công luận đòi hỏi nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam, đòi thả tất cả các tù nhân chính trị hiện đang bị cộng sản giam cầm.

Để đạt muc tiêu này, chúng tôi đề nghị:

1-    Cùng ký vào bản lên tiếng của cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ và trên thế giới dưới hình thức tuyên cáo đăng  trên website, phổ biến trên báo chí và gửi cho ban tổ chức và Ngoại Trưởng John Kerry.

2-    Tổ chức và tham gia biểu tình trước thư viện LBJ trong những ngày có hội thảo.

– Đề nghị cộng đồng tại Austin đứng ra tổ chức và làm phối trí viên.

– Các cộng đồng Việt Nam tại Texas, các tiểu bang lân cận cùng hợp tác và tham dự.

– Đồng bào Việt Nam khắp nơi hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất.

Cộng Đồng Người Viêt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác cùng tất cả cộng đồng, đoàn thể, tổ chức, nhân sĩ và đồng bào tại Hoa Kỳ và hải ngoại nhằm phản bác bất cứ sự kiện phản chiến và thân cộng nào.

Trân trọng.

Hoa Kỳ ngày 15 tháng 4 năm 2016

BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu, 714-928-3038

BS Đỗ Văn Hội, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành , 407-234-3596

Ông Lưu Văn Tươi, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát, 407-491-9299

Xin bấm vào đường dẫn đến bản Tuyên Bố về vấn đề này và ký tên.

Tuyên bố về “họp thượng đỉnh chiến tranh VN”

 

Đính kèm chi tiết về cuộc hội thảo.

http://www.vietnamwarsummit.org

http://www.lbjlibrary.org/events/the-vietnam-war-summit

Ký Tên: Bản Tuyên Bố về”Gặp Mặt Thượng Đỉnh Chiến tranh Việt Nam”

Tuyên bố về “họp thượng đỉnh chiến tranh VN”

Thursday, April 21st, 2016

TUYÊN BỐ

Của Cộng Đồng Người Việt tại Hải Ngoại và Quốc Nội

Nhân Dịp “Họp Mặt Thượng Đỉnh về Chiến Tranh Việt Nam”

tại Thư Viện LBJ, Austin, Texas

(English Version)

(Bản văn bằng Anh ngữ sẽ được đăng trên tờ báo tại Austin, thủ phủ của Texas)

Cuộc “họp mặt thượng đỉnh về chiến tranh Việt Nam” (Vietnam War Summit) sẽ được tổ chức tại Thư Viện Lyndon Baines Johnson ở Austin, Texas từ ngày 26 đến 28 tháng 4, 2016. Một trong những mục đích là nghiên cứu, thảo luận và “soi ánh sáng vào cuộc chiến Việt Nam, bài học và di sản”. Khách mời quan trọng gồm: Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry; TS Henry Kissinger, cựu Ngoại Trưởng thời kỳ TT Nixon; Ô. Phạm Quang Vinh, đương kim đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ; Ô. Ken Burns, người sẽ thực hiện bộ phim tài liệu 10 phần về chiến tranh Việt Nam; một số cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam; và một số nhân vật có thành tích phản chiến như Tom Hayden, Peter Arnett… Đặc biệt, không có một người Việt Nam nào từng phục vụ trong chính phủ hoặc quân đội Việt Nam Cộng Hòa hoặc đại diện chính thức Cộng Đồng Việt Nam được mời để góp tiếng nói, ngoại trừ một Dân Biểu Texas gốc Việt Nam còn quá trẻ trong chiến tranh.

Trước sự kiện này, chúng tôi cộng đồng, đoàn thể, tổ chức người Việt tại hải ngoại cũng như trong nước  cùng nêu lên một số quan điểm như sau về cuộc chiến tại Việt Nam:

  1. Sau khi đại chiến thứ hai kết thúc, xu hướng giải trừ các chế độ thực dân được chấp nhận qua hội nghị Yalta ngày 11-2-1945 (gồm Mỹ, Nga và Anh), nhiều quốc gia bị trị lần lượt được độc lập mà không phải đổ xương máu và không cần phải áp dụng chủ nghĩa Xã Hội (tức Cộng Sản). Vì thế, nếu không có Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, Việt Nam đã được độc lập từ năm 1945 và Hoa Kỳ đã không phải liên hệ vào một cuộc chiến tranh làm hao tổn xương máu mà cho đến nay Việt Nam vẫn không có tự do và dân chủ.
  2. Năm 1954, Hiệp định Geneve được ký kết giữa Hồ Chí Minh và Pháp chia đôi Việt Nam. Hoa Kỳ giúp chính phủ Việt Nam Cộng Hòa xây dựng dân chủ và kinh tế, đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp. Nhưng Hồ Chí Minh và Cộng Sản Bắc Việt đã đưa quân đội xâm lăng miền Nam, khiến Hoa Kỳ là một quốc gia lãnh đạo khối Tự Do cùng với đồng minh phải đưa quân để bảo vệ miền Nam Việt Nam.
  3. Do chính sách ngoại giao thiếu nhất quán, do phong trào phản chiến và thân cộng dâng cao và tình hình chính trị bất ổn, Hoa Kỳ đã ký hiệp định Paris 1973 chấm dứt chiến tranh, nhưng đã cắt viện trợ cho VNCH trong khi CS Bắc Việt tiếp tục tấn công miền Nam bằng quân sự với sự gia tăng hỗ trợ của khối Cộng Sản đưa đến sự sụp đổ của miền Nam ngày 30-4-1975.
  4. Đã có những nhận định sai lệch và thiên kiến về cuộc chiến bảo vệ tự do, về sự chiến đấu oai hùng của quân đội Hoa Kỳ và VNCH tại Việt Nam.
  5. Hậu quả do cuộc chiến tranh gây ra:
    1. Trên 3 triệu người Việt đã thiệt mạng trong cuộc chiến không cần thiết từ 1945 đến 1975 do cộng sản và Hồ Chí Minh gây ra. Hoa Kỳ đã hy sinh 58,000 chiến sĩ, nhiều người mang thương tật, một số còn mất tích.
    2. Cộng Sản hoàn toàn nhuộm đỏ Việt Nam, áp dụng chính sách trả thù tàn bạo đối với quân, dân, cán, chính VNCH, làm kiệt quệ đất nước Việt Nam.
    3. Trên hai triệu người Việt đã phải bỏ nước ra đi tỵ nạn tìm tự do, khoảng nửa triệu người đã chết trên biển cả. Hiện nay có khoảng 4 triệu người Việt Nam sinh sống trên thế giới.
    4. Sau 41 năm kể từ năm 1975, với tư thế của một quốc gia đứng đầu thế giới về kinh tế và quân sự, Hoa Kỳ có thể trợ giúp Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á phát triển để đối đầu với sự bành trướng của Trung Cộng, nhưng chính sách của Hoa Kỳ đối với CS Việt Nam hiện nay đã không đặt Nhân quyền là điều kiện tiên quyết, vì thế đảng CSVN vẫn duy trì chế độ toàn trị, đản áp tôn giáo, tước bỏ các quyền tự do căn bản của nhân dân Việt Nam.

VÌ THẾ, CHÚNG TÔI LONG TRỌNG TUYÊN BỐ:

  1. Các chiến sĩ Hoa Kỳ, Đồng minh và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người đã cùng sát cánh chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng tự do và dân chủ tại miền Nam Việt Nam phải được ghi nhận và vinh danh.
  2. Hoa Kỳ cần đặt nặng nhân quyền trong chính sách ngoại giao, thương mại đối với cộng sản Việt Nam,
  3. Thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, nên đặt quyền lợi của 90 triệu dân Việt Nam lên trên quyền lợi của thiểu số 4.5 triệu đảng viên CSVN bằng cách trợ giúp nhân dân Việt Nam sớm có tự do và dân chủ, có cơ hội phát triển, góp phần vào sự thịnh vượng và nền hòa bình chung của thế giới.
  4. Việc mời Đại sứ CSVN tại Hoa kỳ nói chuyện trong hội nghị là hành động không thích hợp, vì chính quyền mà ông ta đại diện không do dân bầu ra và hiện đang khống chế, đàn áp dân tộc Việt Nam bằng một chế độ độc tài toàn trị.
  5. Riêng đối với cuộc hội thảo, chúng tôi đề nghị cần có tầm nhìn công bằng, khách quan và chính xác về cuộc chiến tại Việt Nam, một cuộc chiến nhằm bảo vệ tự do và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam, thể hiện sự lãnh đạo của Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Ngày 22 tháng 4 năm 2016

Ký tên: (Xin vào ô ký tên góc trên bên phải).

Chữ ký vẫn để ngõ, xin liên lạc với chúng tôi.

TẠI VIỆT NAM:

  • Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam
    • Cao Đài:– Chánh trị sự Hứa Phi.– Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân.– Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng.
    • Công Giáo:– Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi.– Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại.– Linh mục An-tôn Lê Ngọc Thanh. – Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc – Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình.
    • Phật Giáo:– Hòa thượng Thích Không Tánh.– Thượng tọa Thích Viên Hỷ.Thượng tọa Thích Đồng Minh.
    • Phật Giáo Hoà Hảo:– Ông Nguyễn Văn Điền.– Ông Lê Quang Hiển.– Ông Lê Văn Sóc.– Ông Phan Tấn Hòa – Ông Tống Văn Chính – Ông Bùi Văn Luốc – Ông Hà Văn Duy Hồ  Ông Trần Văn Quang.
    • Tin Lành:– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa.– Mục sư Đinh Uỷ.– Mục sư Đinh Thanh Trường.– Mục sư Nguyễn Trung Tôn – Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng – Mục sư Lê Quang Du.
  • Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam: Đồng Chủ Tịch:
    – HT Thích Không Tánh, Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
    – LM Phan Văn Lợi, Đồng ChủTịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
    – CTS Hứa Phi (Cao Đài Chơn Truyền), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
    – Nhân sĩ Lê Văn Sóc (PGHHTT), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN).
    – MS Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành) Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
    – BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch HĐĐB Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.
    – BS Đỗ văn Hội, Chủ Tịch HĐCH Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.
    – Nhân sĩ Lưu văn Tươi, Chủ Tịch HĐGS Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.
    – Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh, Chủ Tịch UB Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, Cố Vấn CĐNVQGLB
       Hoa Kỳ.
    – Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh, CT Phong Trào Diên Hồng Thời Đại.
    – Phó TS Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại.
    – Nhân sĩ Cao Xuân Khải, PCT Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Tôn Giáo Việt Nam.
    – Nhân sĩ Trần văn Đông, TTK Liên Hội Người Việt Canada.
    – Nhân sĩ Trần Văn Bính, Hội Người Việt Tự Do Vancouver Canada, Ban Yểm trợ Truyền Thông Khối 8406.
    – BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, CT Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức.
  • Khối 8406

TẠI HOA KỲ

  • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ (46 Cộng Đồng Thành Viên).
  • Liên Hiệp Hội Thánh Em Cao Đài Tây Ninh Hải Ngoại.
  • Lực Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc
  • Hội Nhân Quyền Helsinki.
  • Phong Trào Nhân Quyền Thời Đại
  • Phong Trào Đoàn Kết VNCH
  • Khối 8406 Hoa Kỳ
  • Hội Ái Hữu Cựu Tù Nhân CT/VN
  • Tổng Hội Cựu Tù Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại

ÚC CHÂU:

  • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu.
  • Hội Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản Úc Châu

ÂU CHÂU

  • Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Liên Bang Đức
  • Hội Người Việt Quốc Gia Lausanne, Thụy Sĩ

CANADA

  • Liên Hội Ngưởi Việt Tại Canada.
  • Hội Người Việt Tự Do Vancouver Canada, Ban Yểm trợ Truyền Thông Khối 8406.

VÀ NHIỀU TỔ CHỨC, HỘI ĐOÀN, CÁ NHÂN NGƯỜI VIỆT NAM QUAN TÂM ĐẾN VẬN MẠNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM Ở TRONG NƯỚC VÀ KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI.

Liên lạc:

  • Fed.Vac.USA@gmail.com
  • Quoc Anh Tran: 832-721-0836
  • Dr. Huu Dinh Vo: 714-928-3038
  • Dr. Hoi Van Do: 407-234-3596

(Ký tên: xin vào ô ký tên ở góc bên phải, trên cùng)

Bản Anh Ngữ

Thông Báo về “Vietnam War Summit” (gặp mặt thượng đỉnh về chiến tranh VN)

Hội đồng Liên tôn Việt Nam Thư tố cáo nhà cầm quyền CSVN hành hạ Mục sư Nguyễn Công Chính trong tù

Saturday, February 27th, 2016

Hội đồng Liên tôn Việt Nam

Thư tố cáo nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

hành hạ Mục sư Nguyễn Công Chính trong tù.

23-02-2016

– Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước

– Toàn thể Chức sắc và Tín đồ các tôn giáo tại Việt Nam

– Các Chính phủ dân chủ năm châu, các Tổ chức Nhân quyền quốc tế

– Báo cáo viên đặc biệt về Tự do tôn giáo của Liên Hiệp Quốc

Mục sư Nguyễn Công Chính, Hội trưởng Giáo hội Tin lành Liên hữu

Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ, là một trường hợp điển hình cho việc bách hại tôn

giáo dữ dội của nhà cầm quyền cộng sản vô thần tại Việt Nam.

Cách đây 5 năm, vào ngày 28-04-2011, đang khi thi hành nhiệm vụ mục tử,

dẫn dắt cộng đoàn tín đồ, Mục sư Nguyễn Công Chính đã bị tống giam, sau đó ra

tòa, bị khép vào điều 87 bộ luật Hình sự cộng sản là “phá hoại chính sách đoàn kết

dân tộc” –một tội danh không hề có trong nền pháp lý văn minh của nhân loại– rồi

bị một bản án bất công và khủng khiếp là 11 năm tù.

Dĩ nhiên, bản thân Mục sư và công luận trong lẫn ngoài nước đều phản đối

phiên tòa man rợ và bản án tàn bạo này, mà chỉ cái chế độ Cộng sản chà đạp con

người và căm thù tôn giáo mới có. Do đó, Mục sư Nguyễn Công Chính đã bị nhà

cầm quyền –qua tay bộCông an và các quản tù- trả thù một cách khốc liệt từ đó đến

nay. Theo chứng từ của bà Trần Thị Hồng, người vợ hiền đau khổ của ông, thì vị tù

nhân lương tâm này đã phải gánh chịu những đòn thù như sau:

a- Sau khi bị bắt cho đến phiên phúc thẩm, Mục sư Nguyễn Công Chính đã

bị nhốt vào trại giam T 20 thuộc tỉnh Gia Lai. Tại đây, để bắt ông nhân tội (điều

mà Cộng sản vẫn làm đối với các tù nhân lương tâm bất khuất), cai tù đã thường

xuyên dùng roi điện, gậy cao su, bình xịt hơi cay tra tấn ông. Ngoài ra, gần cả 2

năm trời, họ không cho ông gặp gia đình, một kiểu hành hạ tinh thần hết sức vô

nhân đạo, nhằm gây hoảng loạn tâm lý và đánh gục ý chí tù nhân.

b- Sau phiên tòa phúc thẩm, Mục sư Chính bị chuyển đến trại giam An

Phước, tỉnh Bình Dương. Tại đây, tuy ông được gặp mặt vợ con, nhưng công an

đều ghi âm ghi hình mọi lời nói cử chỉ của ông và thân thuộc, nhằm khủng bố

không cho ông tiết lộ sự thật về thảm trạng của mình. Tuy nhiên Mục sư vẫn dũng

cảm vạch trần những hành vi tàn ác của các cai ngục đối với ông, nhất là có lần kề

dao vào cổ để bắt ông nhận tội ngõ hầu được hưởng sự khoan hồng của nhà nước.

Đồng thời, ông nhắn nhủ gia đình nỗ lực kêu oan cho ông.

1

c- Không chấp nhận việc đánh đập tra tấn (điều mà Cộng sản luôn trâng tráo

chối bỏ), Mục sư Chính đã viết đơn tố cáo các biện pháp ngược đãi tù nhân trong

nhà ngục. Chính vì thế, hiện nay ông bị biệt giam, chẳng được tiếp xúc với các bạn

tù. Ngoài ra, cai tù còn xúi giục tù xã hội đen gây hấn đánh đập ông, không cho

ông sử dụng nước sinh hoạt trong nhiều tháng, cấm ông nhận sách tôn giáo, cản trở

việc chức sắc đồng đạo đến thăm ông, và không chăm sóc ông đầy đủ về mặt y tế,

dù ông mang nhiều thứ bệnh. Tất cả đã khiến tình trạng sức khỏe của ông lâm cơn

d- Chưa hết, với cung cách “phạt chùm” có từ thời Cải cách Ruộng đất, nhà

cầm quyền CS tỉnh Gia Lai không ngừng sách nhiễu và hăm dọa gia đình Mục

sư Chính. Ngay khi ông chưa bị bắt, nhà nguyện do gia đình ông xây dựng và phụ

trách tại Kon Tum đã bị ủi sập, khiến họ phải đi thuê nhà để ở. Nhưng thuê ở

đâu, công an địa phương cũng đến bắt chủ nhà trục xuất họ. Cho đến nay, họ phải

dời chỗ dời nhà đến 23 lần. Sau ngày Mục sư bị bắt, bà Trần Thị Hồng và 4 con

thơ thường xuyên bị công an tỉnh Gia Lai canh gác trước nhà và theo dõi trên

đường. Tối đến, chúng ngang nhiên khóa cổng nhốt họ lại. Mỗi ngày 4 đứa con

bước chân đến trường trong lo âu vì công an cứ bám đuôi. Về nhà thì sợ không

dám bước ra khỏi cổng. Chúng biến nhà của vợ con Mục sư thành nơi giam giữ.

Bản thân bà Hồng thì đã nhiều phen bị đối xử tàn tệ, đánh đập và lăng nhục.

Trước hành vi chà đạp con người và bách hại tôn giáo hết sức man rợ và vô

luật này, trong niềm hiệp thông sâu xa với Mục sư Nguyễn Công Chính, với Giáo

hội Liên hữu Lutheran của ông và với gia đình ông, Hội đồng Liên tôn Việt Nam:

– Mạnh mẽ tố cáo tội ác của nhà cầm quyền đối với vị lãnh đạo tinh thần

đồng thời là tù nhân lương tâm Nguyễn Công Chính, cũng như đối với nhiều chức

sắc và tín đồ khác, đặc biệt là linh mục Nguyễn Văn Lý, đang phải ở tù lần thứ 4

và năm thứ 22 trong lao ngục cộng sản.

– Khẩn thiết kêu gọi các chính phủ dân chủ năm châu, các tổ chức nhân

quyền quốc tế, các tổ chức tôn giáo hoàn vũ luôn nhớ rằng chế độ CS tại Việt Nam

không ngừng coi tôn giáo là thù cũng như các nhà đấu tranh cho tự do dân chủ là

địch. Xin Quý vị đừng bỏ quên các tù nhân lương tâm tại đất nước chúng tôi.

– Chân thành lưu ý các vị chức sắc và tín đồ tại Việt Nam rằng chúng ta luôn

trong thân phận nạn nhân cùng với hàng chục triệu đồng bào khác, và do đó cần

chung tay nỗ lực dẹp bỏ nhà tù lớn là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa VN với

đảng CS làm cai ngục, để không còn những nhà tù nhỏ giam nhốt những ai đấu

tranh cho các nhân quyền và dân quyền.

Nguyện cầu các Đấng Thiêng Liêng hỗ trợ tất cả chúng ta trong đại cuộc

Làm tại Việt Nam ngày 23 tháng 02 năm 2016

Các chức sắc trong Hội đồng Liên tôn VN đồng ký tên.

2

– Chánh trị sự Hứa Phi (điện thoại: 0163.3273.240)

– Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (điện thoại: 0988.971.117)

– Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (điện thoại: 0988.477.719)

– Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi (điện thoại: 0984.236.371)

– Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại (điện thoại: 0935.569.205)

– Linh mục An-tôn Lê Ngọc Thanh (điện thoại: 0993.598.820)

– Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc (điện thoại: 0122.596.9335)

– Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình (điện thoại: 01692498463)

– Hòa thượng Thích Không Tánh (điện thoại: 0165.6789.881)

– Thượng tọa Thích Viên Hỷ (điện thoại: 0937.777.312)

Phật Giáo Hoà Hảo:

– Ông Nguyễn Văn Điền (điện thoại: 0122.870.7160)

– Ông Lê Quang Hiển (điện thoại: 0167.292.1234)

– Ông Lê Văn Sóc (điện thoại: 096.4199.039)

– Ông Phan Tấn Hòa (điện thoại: 0162.6301.082)

– Ông Tống Văn Chính (điện thoại: 0163.574.5430)

– Ông Bùi Văn Luốc (điện thoại: 0169.612.9094)

– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (điện thoại: 0121.9460.045)

– Mục sư Đinh Uỷ (điện thoại: 0163.5847.464)

– Mục sư Đinh Thanh Trường (điện thoại: 0120.2352.348)

– Mục sư Nguyễn Trung Tôn (điện thoại: 0162.838.7716)

– Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (điện thoại: 0906.342.908)

– Mục sư Lê Quang Du (điện thoại: 0121.2002.001)

Phụ đính

 

Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam – Hoa Kỳ

THÔNG BÁO KHẨN:

TÌNH TRẠNG CỦA MỤC SƯ

NGUYỄN CÔNG CHÍNH ĐANG NGUY KHỐN TRONG

Ban Thường trực Giáo hội xin kính thông báo đến Hội Đồng Liên Tôn và

quý Hội Đoàn XHDS độc lập trong và ngoài nước, được biết tình trạng của Mục sư

Nguyễn CôngChính – Hội trưởng Giáo hội đang bị nguy hiểm đe dọa đến tính

mạng hàng giờ, hàng ngày trong nhà tù như sau:

3

– Ms. Nguyễn Công Chính bị bắt vào ngày 28/4/năm 2011, bị cáo buộc vào

điều 87 bộ luật hình sự, mức án là 11 năm tù giam. Hiện nay ông đang bị giam tại

Khu A, phân trại số 2, trại giam An Phước, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Ông bị bắt đã gần 5 năm và đã chuyển 2 lần trại giam, Giáo hội chúng tôi có cử đại

diện, kết hợp với gia đình đến thăm 2 lần. Nhưng về phía đại diện Giáo hội thì

không được giám thị trạm cho vào gặp với lý do họ đưa ra là chúng tôi không có

tên đăng ký trong sổ thăm nuôi. Lần đi thăm thứ 1 là ngày 26-01-2013, lần đi thăm

thứ 2 vào ngày 03-02-2016 (25 tết Bính Thân) do Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa

Tổng thư ký Giáo hội làm trưởng đoàn, cả 2 lần đều nhận một sự trả lời như nhau.

Lần thăm thứ 2 trước tết âm lịch vừa qua, tiếp chúng tôi là thiếu tá Vũ Hùng Minh

cho biết họ không dám giải quyết vì chưa có hướng dẫn khác của Bộ công an cho

trường hợp này. Vì thế, chỉ có cô Hồng được vào thăm còn chúng tôi thì ở bên

ngoài cổng đợi, hết giờ thăm nuôi cô Hồng trở ra báo cho chúng tôi

biết Ms. Chính đang trong tình trạng hết sức nguy hiểm, đe dọa đến tính mạng; lý

do vì ông không chịu nhận tội để được khoan hồng theo yêu cầu của công an trại.

Mục sư Chính nói ông không có tội gì hết nên không nhận vì thế bọn họ thường

xuyên khủng bố tinh thần, hành hạ thân xác như: đánh đập, thậm chí tổ chức cho tù

xã hội đen gây hấn kiếm chuyện đánh Mục sư Chính. Cô Hồng cho biết cuộc gặp

hôm nay Mục sư Chính cự cải quyết liệt với giám thị, phản đối họ không cho

chúng tôi vào thăm, không cho nhận cuốn lịch của Hội thánh gửi vào, phản đối

việc họ không cho ông sử dụng nước sinh hoạt mấy tháng vừa qua. Cô Hồng cho

biết trong lúc ông cự cãi thì có khoảng gần 10 công an xúm lại quanh ông với thái

độ muốn ăn tươi, nuốt sống mục sư Chính. Cô Trần Thị Hồng có bản tường trình

gần đây nêu rõ tên những côngan hành hung ông trong trại giam, chúng tôi xin gởi

nội dung tường trình kèm theo thông báo này.

Kính thưa quý vị, từ trong trốn lao tù cs Mục sư Nguyễn Công Chính kính

chuyển ra lời kêu cứu xin quý tôi tớ Chúa, quý thân hữu, quý tổ chức, hội đoàn hãy

nhớ đến ông – một tù nhân lương tâm gần như bị quên lãng trong thời gian qua.

Chúng tôi thay mặt giáo hội và gia đình Mục sư Chính kính thông báo tình trạng

nguy khốn của ông. Rất mong được sự chia sẻ, cầu nguyện và lên tiếng yêu cầu

nhà cầm quyền sớm trả tự do cho Mục sư Nguyễn

Cầu xin ơn Thiên Chúa xuống cùng quý vị trong năm 2016.

Sài Gòn, ngày 19 tháng 02 năm 2016

Tổng thư ký Ban thường trực

Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa

 

4

Thư trần tình của Phu nhân Mục sư Nguyễn Công Chính

Tôi là Trần Thị Hồng vợ của MS Nguyễn Công Chính. Hộ khẩu thường trú:

Tổ 10, phường Hoa Lư, đường Cách Mạng Tháng Tám, thành phố Pleiku, tỉnh Gia

Lai. Vợ chồng tôi có 4 đứa con. Ông MS Chính bị bắt vào ngày 28/4/2011. Bị cáo

buộc vào điều 87 bộ luật hình sự mức án là 11 năm tù giam. Hiện nay ông đang bị

giam ở đội 56, khu A, phân trại số 2, trại giam An Phước​ thuộc huyện Phú Giáo,

Kính thưa quý vị. Ông MS Chính bị bắt đã gần 5 năm. Ông đã chuyển 2 lần

trại giam. Khi ông bị bắt vào ngày 28-4-2011 thì ông bị nhốt vào trại giam T 20

thuộc tỉnh Gia Lai. Khi ở trại giam T 20 mẹ con chúng tôi họ không cho gặp mặt

ông. Trong quá trình ông bị giam tại T 20, ông đã bị cán bộ trại giam dùng nhục

hình tra tấn, đánh đập ông, bắt ông phải nhận tội còn không họ sẽ không để ông

được yên thân. Trong thời gian ông mới bị bắt, họ nhốt ông từ 7 tháng cho đến gần

2 năm, gia đình không gặp mặt ông được. Những người an ninh đánh đập ông đánh

bằng gậy cao su, roi điện, bình xịt hơi cay. Trong số người đánh ông ở tỉnh Gia Lai

18-02-2016

+ Trung tá Nguyễn Đình Oanh

+ Nguyễn Văn Biên

Cường

Đó là những người đánh ông ở trại giam T 20. Đến khi Phiên tòa Phúc thẩm

kết thúc, họ chuyển ông xuống trại giam An Phước, tỉnh Bình Dương. Những ngày

tháng ông ở trại giam An Phước thì họ cho mẹ con tôi gặp mặt, thời gian là 45

phút.Trong thời gian nói chuyện, họ quay camera ghi âm những lời vợ chồng tôi

trao đổi, giám sát rất chặt chẽ những lời ông nói với tôi, ngược lại tôi cũng vậy.

Tuy nhiên, ông cũng nói lên những điều ông bị đánh đập, hành hung ở trại giam

An Phước. Ông nhớ nhất là vào ngày 19-8-2013, đại úy Đinh Ngọc Huỳnh (số

quân hàm 081-934), sinh năm 1976 và thiếu tá Hoàng Đức Giang đã đánh ông rất

nhiều lần trong trại giam An Phước. Vào ngày 7-10-2014 họ đã kề dao vào cổ ông,

bắt ông phải nhận tội để được sự khoan hồng của nhà nước VN. Ông không chấp

nhận sự tra tấn, đánh đập và ông viết đơn tố cáo những hành vi vi phạm ngược đãi

tù nhân tôn giáo. Chính vì vậy mà hiện nay ông bị cố lập biệt giam, không cho ông

tiếp xúc với các bạn tù. Mỗi khi gặp ông thì ông luôn kêu oan cho bản án 11 năm

của ông. Cả gia đình chúng tôi luôn bị áp bức.

Trước khi ông MS Chính chưa bị bắt, gia đình chúng tôi đã bị CSVN hành

hạ mọi hình thức, ủi sập nhà nguyện ở tại Kon Tum. Gia đình tôi phải đi thuê nhà ở

5

thì bị công an địa phương bắt chủ nhà trục xuất gia đình tôi không cho cư trú, dời

chỗ ở, thuê nhà 23 lần. Cướp tài sản, đánh đập, truy đuổi,…

Tính từ ngày ông MS Chính bị bắt tới nay, 5 mẹ con chúng tôi luôn thường

xuyên bịcông an tỉnh Gia Lai canh gác trước và sau cổng nhà. Mẹ con tôi đi đâu,

làm gì họ cũng đi theo. Tối đến thì họ cột cổng cửa nhốt mẹ con tôi trong nhà. 4

đứa con của vợ chồng tôi thật đáng thương. Mỗi ngày bước chân đển trường học

thì lại lo sợ khi mà những người an ninh cứ bám theo đuôi. Còn về nhà thì sợ

không dám bước ra khỏi cổng. Họ dùng nhà tôi đang ở không khác gì nhà tù giam

mẹ con tôi. Còn bản thân tôi thì đánh đập, làm nhục đủ điều không thể diễn tả hết

Gia đình chúng tôi tha thiết kêu cầu quý ông bà cầu nguyện và lên tiếng binh

vực cho mẹ con chúng tôi cũng như bản thân chồng tôi là MS Chính. Hiện nay tính

mạng của ông đang bị đe dọa có thể chết bất cứ lúc nào trong trại giam.

Trần Thị Hồng

Huỳnh Anh Tú, Đòn thù của chế độ CA trị đối với vợ con mục

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/09/on-thu-cua-che-o-ca-tri-oi-

sư Chính

voi-vo-con.html

Thảm cảnh sắp tới của chế độ Putin và nước Nga

Tuesday, February 23rd, 2016
 
Trường Sơn chuyển ngữ
Alexander J. Motyl
Đã từng có thời Tổng thống Nga Vladimir Putin gần như bất khả chiến bại. Tuy nhiên, Putin và chính quyền của ông giờ đây đã kiệt sức, bối rối, và tuyệt vọng. Càng ngày, giới bình luận của cả Nga và phương Tây càng tin rằng nước Nga đang đến gần bờ vực suy thoái sâu, nếu không muốn nói là viễn cảnh sụp đổ hoàn toàn khả thi.

Tổng thống Nga Vladimir Putin chụp ảnh selfie với các thành viên của tổ chức thanh niên quân đội yêu nước “Vympel” (The Pennant), ngày 4 tháng 11 năm 2015. Ảnh: Natalia Kolesnikova

Tổng thống Nga Vladimir Putin chụp ảnh selfie với các thành viên của tổ chức thanh niên quân đội yêu nước “Vympel” (The Pennant), ngày 4 tháng 11 năm 2015. Ảnh: Natalia Kolesnikova
Chuyển biến về quan điểm này hoàn toàn không đáng ngạc nhiên. Năm ngoái, bản chất của chính quyền Nga hiện tại đã hiện rõ qua cách họ cướp vùng Crimea, cũng như lập trường đối đầu của họ trong chính biến Donbas. Khi ấy, nền kinh tế của quốc gia này vẫn duy trì được sự ổn định vốn còn trong giai đoạn trì trệ. Putin đã tìm được cách qua mặt cả giới hoạch định chính sách phương Tây và dư luận nước Nga. Tiếng tăm của ông đã đạt đến đỉnh cao. Bây giờ chỉ có thứ danh tiếng ấy còn gượng được; mọi phương diện khác của nước Nga đã tệ hơn trước rất nhiều. Những biến cố ở Crimea và Donbas đã trở thành gánh nặng với nền kinh tế và tạo nên sự hao hụt không nhỏ về tài nguyên của nước Nga. Cuộc nội chiến ở Ukraine giờ đã đi vào bế tắc. Giá năng lượng đang tới hồi sụp đổ, còn nền kinh tế Nga thì chìm trong suy thoái. Những biện pháp trừng phạt mà Putin khởi xướng để chống lại Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ, và phương Tây giờ chỉ tiếp tục làm tổn hại đến nền kinh tế Nga. Trong khi đó, cách chính quyền Nga can thiệp vào Syria khiến họ càng thêm sa lầy.
Thực tế của nước Nga đương đại có lẽ còn tồi tệ hơn nhiều so với những thông tin trong bài viết sơ sài này về những ngày ảm đạm của xứ sở bạch dương. Đất nước này đang kẹt giữa gọng kìm của ba cuộc khủng hoảng tạo ra bởi những chính sách mang tính đối đầu của Putin, và cách nước Nga giải quyết vấn đề ở Ukraine và Syria chỉ càng làm tình hình thêm trầm trọng.
Cuộc khủng hoảng thứ nhất là cuộc khủng hoảng của nền kinh tế Nga đang rơi tự do. Việc giá xăng dầu không còn khả năng tăng trở lại trong một sớm một chiều đã quá đủ tồi tệ với nước Nga rồi. Nhưng màn sương giữa ban ngày chưa dừng lại ở đó, nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào tài nguyên năng lượng của Nga giờ đã hoàn toàn lạc hậu, không mang tính cạnh tranh, và còn chưa được hiện đại hóa, và điều bi thảm nhất là nền kinh tế này vẫn sẽ ở nguyên tình trạng như vậy chừng nào nó còn là công cụ đắc lực cho giới chóp bu chính trị ở Nga.
Cuộc khủng hoảng thứ hai là cuộc khủng hoảng của chính quyền Putin đang tới ngày tan rã. Hình ảnh của chính quyền độc tài kiểu Putin được hy vọng là có thể tạo ra một trật tự “quyền lực theo chiều dọc” có khả năng duy trì trật tự cho bộ máy hành chính của nước Nga, cũng như loại trừ tham nhũng và tập hợp giới tinh hoa của những vùng thuộc Nga và không thuộc Nga dưới ý chí của Moscow. Tuy nhiên, thực tế là chế độ tập trung quyền lực đã hoàn toàn tạo ra tác dụng ngược, nó đã phân mảnh bộ máy hành chính, khuyến khích giới quan chức theo đuổi lợi ích riêng của họ, và tạo điều kiện cho giới tinh hoa của từng vùng ngày càng trở nên ngỗ nghịch, trường hợp Ramzan Kadyrov, quân tốt của Putin ở Chechnya, là một ví dụ điển hình.
Cuộc khủng hoảng thứ ba là cuộc khủng hoảng của chính Putin, với tư cách là trụ cột của trật tự nước Nga, rõ ràng ông đã không còn giữ được quyền kiểm soát tối thượng. Kể từ sau thời khắc ông quyết định ngăn chính quyền Ukraine ký Hiệp định Liên kết với Liên minh châu Âu năm 2013, ông đã phạm từ sai lầm chiến lược này đến sai lầm chiến lược khác. Hình ảnh nam tính có vẻ hấp dẫn mà ông dày công xây dựng giờ chẳng còn nhiều tác dụng nữa, và nỗ lực động viên những người hâm mộ bằng việc xuất bản sách về những tuyên ngôn của ông, cũng như một bộ lịch Putin trông thật nực cười và tuyệt vọng.
Vấn đề chủ yếu của Putin, cũng như của nước Nga – là vấn đề của một hệ thống kinh tế–chính trị không chịu thay đổi. Một nền kinh tế chỉ có thể chìm trong bất ổn lâu dài như vậy khi bị thao túng bởi một bộ máy quan liêu hành động vì chính nó và đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích của đất nước. Theo đó, một hệ thống độc tài tham nhũng cần phải có nhà độc tài trung tâm của nó, nghĩa là một người điều phối và cân bằng lợi ích và tham vọng của những tầng lớp thượng lưu. Điểm khác biệt của Putin so với những nhà độc tài ngày trước là đã biến mình thành một nhân vật trung tâm có tính hợp pháp bởi sức trẻ và xung năng tưởng chừng vô hạn của ông. Tuy nhiên, sau cùng, mọi kẻ lãnh đạo như vậy đều trở thành nạn nhân của cái tôi của chính họ, cũng như Stalin, Hitler, Mao, và Mussolini, những kẻ chưa bao giờ tự nguyện từ nhiệm. Do đó, nước Nga đang bị kẹt trong tình thế tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, cái vỏ dưa của một hệ thống lỗi thời và cái vỏ dừa của một hệ thống trì trệ. Trong tình cảnh như vậy, ông Putin sẽ ngày càng trở thành cái cớ hợp pháp cho chủ nghĩa Sô vanh, chủ nghĩa đế quốc, cũng như chủ nghĩa chủng tộc của người Nga.
Bởi vì không một vấn đề nào trong mớ hỗn độn này có thể được giải quyết sớm, nước Nga càng lúc càng có vẻ sẽ chìm vào một “thời điểm khó khăn” kéo dài, một quá trình suy thoái có thể chuyển biến từ bất ổn xã hội thành thay đổi chế độ và thậm chí là sự sụp đổ của nhà nước. Dĩ nhiên, mọi nỗ lực dự đoán về tương lai nước Nga đều liều lĩnh, nhưng rõ ràng ngày nào Putin còn nắm quyền, ngày đó nước Nga còn ảm đạm. Putin, kẻ đã tuyên bố sẽ cứu rỗi nước Nga, giờ đã trở thành kẻ thù tồi tệ nhất của quốc gia này. Hiện tại, Hoa Kỳ, Châu Âu, cũng như các nước láng giềng của Nga đều đã chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.
Những nhân tố của sự bất ổn
Một số nhà phân tích vẫn bác bỏ khả năng xảy ra bất ổn lớn ở Nga bởi sự yếu kém của phe đối lập, giới lãnh đạo của lực lượng này vẫn thiếu sức hút, trong khi uy tín của Putin còn ở đỉnh cao. Thực ra những yếu tố này không quan trọng như vẻ ngoài. Hầu hết các cuộc cách mạng đã xảy ra như kết quả của khủng hoảng ở bề sâu; chỉ có rất ít cuộc cách mạng mang tính tự phát. Chính trong giai đoạn mà mọi người cố gắng ổn định và tái cấu trúc hệ thống như vậy mà các nhà lãnh đạo với sức lôi cuốn đã xuất hiện. Và danh tiếng trên toàn quốc chưa bao giờ giữ vai trò quá quan trọng đối với một phong trào hay một nhà lãnh đạo kiểu như hệ thống điện ở thủ đô, cũng như với giới tinh hoa chính trị và kinh tế.
Hãy tưởng tượng rằng ba cuộc khủng hoảng trên sẽ tiếp tục diễn biến trầm trọng, bởi thực sự có rất nhiều khả năng dẫn đến kịch bản như vậy. Trong trường hợp đó, gần như mọi phương diện của xã hội Nga sẽ càng tiến gần đến viễn cảnh hỗn loạn. Khi tình trạng lạm phát và thất nghiệp ngày càng tăng, trong khi mức sống giảm, sự bất mãn của giới công nhân, cũng như sự bất ổn của xã hội sẽ ngày một gia tăng. Đến lúc này, ngay cả giới tinh hoa chính trị và kinh tế cũng ngày càng không hài lòng khi nước Nga bế tắc trong ba cuộc khủng hoảng. Thân thế và tài sản của họ sẽ ở vào hoàn cảnh dễ bị tổn thương hơn, nghĩa là họ càng có lý do để tán thành lựa chọn thay thế Putin và hệ thống của ông. Tương tự như vậy, giới trí thức thành thị, học sinh, và các chuyên gia sẽ tái khám phá nhu cầu của họ và đóng góp chất xám của họ vào tiến trình tái cấu trúc.
Khi tình trạng hỗn loạn trong hệ thống và tình trạng trì trệ trong tầng lớp tinh hoa tiếp diễn, ngay cả những thành phần Đại Nga trong lực lượng vũ trang (quân đội, dân quân và cảnh sát mật) cũng sẽ phải tìm kiếm lựa chọn thay thế Putin và hệ thống đổ nát do ông cai trị. Như vậy, binh sĩ và lính đánh thuê đang tham chiến ở Ukraine và Syria có thể trở về nhà và thúc đẩy quan điểm cấp tiến trong cả nước. Ở bên ngoài lảnh thổ Nga, 21 nước cộng hòa không thuộc Liên bang Nga cũng có thể khẳng định quyền lực của họ.
Trong 18 năm qua, ông Putin đã có thể xoa dịu mọi sự bất mãn dựa trên ba phương tiện mà những nhà độc tài hay sử dụng để duy trì quyền lực. Ông tạo ra sự ủng hộ thông qua cơ hội trời cho là giá năng lượng tăng cao. Bên cạnh đó, ông củng cố lực lượng cưỡng chế và đàn áp sự bất mãn. Và bằng cách quảng cáo sự nam tính và sức sống, cũng như lời hứa tái sinh nước Nga trong hình ảnh của mình, ông đã tạo ra được động lực của ý thức hệ để hỗ trợ ông và chế độ của ông. Tuy nhiên, bởi những sai lầm của ông và sự phân rã của hệ thống do ông tạo dựng, Putin hiện không còn sở hữu các nguồn tài lực ngày xưa, và hình ảnh của ông giờ đã bị hoen ố rất nhiều. Và vì thực tại của một nước Nga đang ngày càng giống một nhà nước bất hảo không có khả năng đánh bại Ukraine và ngày càng sa lầy vào Trung Đông, ý tưởng về sự vĩ đại của một nước Nga mới đang mất dần sức hấp dẫn của nó. Kết quả là, ông Putin giờ đây gần như dựa hoàn toàn vào lực lượng trấn áp để duy trì quyền lực và duy trì chế độ của ông. Do đó ông phụ thuộc vào sự đồng lòng của họ để đi hết hành trình cai trị này với ông. Và Putin, nhà độc tài của chế độ vừa thông qua luật cho phép cảnh sát mật bắn người biểu tình, hiểu rõ điều đó hơn ai hết.
Vladimir_PUtin_Russia_Guggenheim_museum
Trấn áp lực lượng trấn áp
Việc dựa vào các lực lượng vũ trang hoàn toàn có thể trở thành một canh bạc nguy hiểm. Hoàn toàn có thể xảy ra tình huống họ không muốn sử dụng vũ lực khi phải đối mặt với một đám đông người biểu tình dựa vào nhân dân. Điều này đã xảy ra với hầu hết các chế độ toàn trị, những chế độ đã theo đuổi con đường viền nổi khả năng của cảnh sát và triển khai các nhân viên ở xa quê nhà của họ. Trong điều kiện Putin vẫn còn uy tín lớn như vậy, và việc tổ chức biểu tình ở các tỉnh heo hút của Nga luôn tiềm ẩn nhiều bất trắc, khả năng lớn nhất là biểu tình sẽ được tổ chức ở Moscow, nơi đã xảy ra trường hợp tương tự vào năm 2011–2012, và ở các khu vực cận lãnh thổ Nga như Tatarstan, Bashkortostan, Yakutia, Dagestan và Ingushetia, nơi mà sự đoàn kết dân tộc hoàn toàn có thể áp đảo được nỗ lực cưỡng chế. Nếu phụ nữ và người lao động tham gia vào các cuộc chính biến như vậy, lực lượng cưỡng chế càng ít có khả năng răm rắp tuân theo mệnh lệnh và bắn vào dân chúng.
Hiện nay, một cuộc cách mạng như vậy vẫn chưa thể xảy ra; nhưng vào giữa năm 2004 và giữa năm 2013, không ai hình dung được cuộc Cách mạng Cam hoặc Cách mạng Euromaidan ở Ukraine. Chính Putin cũng hiểu rằng một hình thức cách mạng như vậy không thể lường trước được, bởi vì đó là hoa trái của những cành cây bén rễ từ sự bất mãn, ức chế, tức giận, cực đoan, và hy vọng tiềm tàng. Dẫu cho hệ thống kinh tế–chính trị ở Nga được vận hành bởi một cơ chế khác thường, cũng như sự bất lực trước thay đổi, cơ hội xảy ra kịch bản như vậy luôn tăng theo từng năm. Các cuộc biểu tình có thể được châm ngòi bởi một sự kiện bất ngờ, một khoảnh khắc đột ngột của giọt nước làm tràn ly và đẩy dân chúng xuống đường. Ngòi nổ có thể là bất cứ điều gì, từ một khoảnh khắc sơ hở trên truyền hình của Putin đến một hành động tàn bạo của cảnh sát và thậm chí là một ngọn lửa thảm khốc. Không ai có thể dự đoán những cú sốc như vậy, nhưng khi hệ thống càng rệu rã thì khả năng xảy ra phản ứng dây chuyền càng cao.
Một kịch bản khác là có thể lực lượng trấn áp không thể ngăn chặn lực lượng của tầng lớp tinh hoa chống chế độ âm mưu tiến hành “đảo chính cung đình” (palace coup) hoặc thúc đẩy tiến trình đòi sự độc lập ở khu vực cận lãnh thổ Nga. Mặc dù Tổng thống Putin đã xây dựng một thể chế độc tài với hình thức gần tương tự như chế độ Phát xít của Đức và chế độ Mussolini của Ý, lực lượng trấn áp trong lịch sử Nga hiện đại, ngay cả trong thời Stalin, vẫn không thể là một nhà nước trong nhà nước có khả năng giám sát trọn vẹn tầng lớp giới tinh hoa. Do vậy, sự trung thành hoặc trung lập của giới tinh hoa của Nga chưa bao giờ ổn định. Giới chính trị Nga hoàn toàn hiểu rằng, giống như Mikhail Khodorkovsky, người doanh nhân Nga với khuynh hướng chống đối đã phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Putin và ở trong tù nhiều năm vì tội lừa đảo, họ có thể bị trừng phạt nếu dám quay giáo trở cờ; nhưng họ cũng biết rằng, trong những thời điểm ngặt nghèo nhất, Điện Kremlin cũng cần họ như họ cần điện Kremlin, nếu không muốn nói là còn cần nhiều hơn thế.
Làm thế nào kịch bản đảo chính cung đình hay khu vực ly khai có thể xảy ra? Lịch sử của Liên bang Soviet và nước Nga hiện đại có thể cung cấp đầy đủ dẫn chứng cho kịch bản này. Sau cái chết của Stalin, người kế nhiệm ông đã tự tay thủ tiêu lãnh đạo của toàn bộ lực lượng cảnh sát mật thời Stalin, là Lavrentii Beria, vào năm 1953. Năm 1964, đến lượt Nikita Khrushchev bị lật đổ trong một cuộc đảo chính cung đình. Trong 1998–99, việc ông Putin bước vào chính trường Nga là kết quả của một thỏa thuận sau cuộc đảo chính của giới tinh hoa và sau đó Tổng thống Boris Yeltsin lên nắm quyền.
Đối với các quốc gia và vùng lãnh thổ cận Nga, mỗi nhà nước đã tự tuyên bố chủ quyền trong giai đoạn khủng hoảng của cuộc Cách mạng 1917–1921, cũng như trong thời kỳ chiếm đóng của Đức là giai đoạn 1941–1943, và cũng trong đỉnh điểm của khủng hoảng Perestroikacủa Mikhail Gorbachev vào giai đoạn 1987–1991. Lòng trung thành của tầng lớp tinh hoa Nga phụ thuộc vào khả năng Putin trả lương cho họ. Cũng như chính cái cách giới tinh hoa chính trị và kinh tế đổ xô ủng hộ Putin trong những năm thịnh vượng, nghĩa là từ năm 1998 đến năm 2013, họ sẽ vì chính lý do ấy mà từ bỏ Putin trong những thời khắc bi thảm sắp đến.
Trong khi đó, giới tinh hoa ở những quốc gia và vùng lãnh thổ cận Nga, đặc biệt là vùng Tatarstan giàu dầu mỏ và vùng Yakutia giàu kim cương – có thể là những người đầu tiên muốn nới lỏng mối quan hệ với Moscow, bởi vì họ có thể có tham vọng gắn liền với chủ nghĩa dân tộc, và khoảng cách địa lý giúp họ ít bị đe dọa hơn. Tựu trung, khi tầng lớp tinh hoa thấy rằng họ có thể trực diện công kích chế độ, căng thẳng sẽ đến đỉnh điểm và “hiệu ứng đoàn tàu” (bandwagon effect) chống Putin hoàn toàn có thể xảy ra. Một số thậm chí có thể âm mưu chống Putin và tìm cách loại trừ hoặc thủ tiêu ông.

Tổng thống Nga Vladimir Putin thử tài trượt băng trong một buổi tập của các thành viên tham dự mùa giải Night Ice Hockey League ở Krasnaya Polyana, Sochi, Nga, ngày 6 tháng 1 năm 2016. Ảnh: Aleksey Nikolskyi /Reuters

Tổng thống Nga Vladimir Putin thử tài trượt băng trong một buổi tập của các thành viên tham dự mùa giải Night Ice Hockey League ở Krasnaya Polyana, Sochi, Nga, ngày 6 tháng 1 năm 2016. Ảnh: Aleksey Nikolskyi /Reuters
Kịch bản thứ ba là lực lượng trấn áp hoàn toàn không đủ khả năng dập tắt bất mãn nếu lực lượng chống đối phản đối bạo lực và giới vũ trang quá yếu để đáp ứng. Những quân đội thua trận hoặc trải qua những kinh nghiệm chiến trường bi thảm thường dễ lâm vào tâm trạng yếu thế như vậy. Quân đội Nga hiện đang tham gia hai cuộc chiến tranh, ở Ukraine và Syria. Họ cũng có thể mở mặt trận mới ở các nước vùng Baltic hoặc Trung Á, khi Putin cố gắng gieo mầm hỗn loạn trong NATO và bảo vệ Nga trước Nhà nước Hồi giáo (còn được gọi là ISIS). Mặc dù quân đội Nga sở hữu lợi thế đáng gờm, cuộc chiến tranh gián tiếp giữa Nga và Ukraine đã kết thúc, ít nhất tình hình là như vậy, với việc Nga thôn tính được và giờ phải chịu trách nhiệm cho hai khu vực nghèo khó về kinh tế, Crimea và Đông Donbas, với rất ít hy vọng phục hồi nhanh chóng. Quan trọng hơn, dự án xây dựng nước Nga mới của Moscow, với mục đích sáp nhập tất cả vùng lãnh thổ phía đông nam của Ukraine, đã thất bại. Tóm lại, mặc dù họ đã đạt được một vài chiến thắng về mặt chiến thuật, các lực lượng vũ trang ở Nga đã phải chịu thất bại.
Còn chiến thắng ở Syria thì vẫn rất xa vời, ngay cả với viễn cảnh nước Nga đầu tư thêm lực lượng cho mặt trận này. Sớm hay muộn, những binh sĩ và lính đánh thuê bị làm nhục và đánh bại của nước Nga sẽ trở về nhà, và họ có thể trực tiếp ném cơn thịnh nộ vào chính cái chế độ đã cử họ đi chiến đấu ở xứ người. Lực lượng cảnh sát mật và các lực lượng trấn áp khác không bao giờ nên nghĩ đến việc có thể ra tay với những người lính bất mãn. Bởi lựa chọn làm phức tạp thêm tình hình chỉ càng gieo mầm cho chủ nghĩa khủng bố mới ở Nga. Ngòi nổ ở Chechnya hoàn toàn có thể được mồi lửa nếu Kadyrov bị lật đổ trong một cuộc đảo chính cung đình địa phương hoặc bị ám sát bởi cơ quan mật vụ Nga, cơ quan từ lâu đã không ưa nhân vật này. Còn phần lớn khu vực phía Bắc Caucasus vốn đã ở trong trạng thái nửa hỗn loạn. Cuộc phiêu lưu quân sự của Nga ở Syria, cũng như liên minh mở của họ chống lại người Sunni có thể không chỉ làm trầm trọng thêm căng thẳng với cộng đồng Sunni trong nước Nga, mà còn có thể cho ISIS lý do chính đáng để mở mặt trận ở Nga.
Làm thế nào lực lượng vũ trang hùng hậu của Nga vẫn không đủ để dập tắt phong trào bất mãn? Cuộc chiến Chechnya giai đoạn 1994–1996 cho thấy rằng lực lượng vũ trang Nga vẫn có thể bị đánh bại. Còn cuộc chiến Ukraine chứng tỏ rằng quân đội và lính đánh thuê Nga vẫn có thể bị kìm chân trong một vịnh nhỏ bởi một lực lượng yếu hơn đáng kể. Một loạt các hành động khủng bố xảy ra ở Nga trong những năm đầu ông Putin cầm quyền cho thấy rằng Nga luôn dễ bị tấn công bạo lực. Dĩ nhiên, việc dự đoán thời điểm xảy ra phong trào bạo lực chống chế độ ở Nga là bất khả thi, nhưng khi hệ thống chính trị–kinh tế phân rã ngày quay ngày, cùng với sự rối loạn trong xã hội và các tầng lớp bất mãn ngày càng nhiều, thì kịch bản như vậy càng dễ xảy ra.
Sau cơn bão
Nước Nga đang ở rất gần một cơn bão hoàn hảo, khi mọi yếu tố gây mất ổn định tụ. Trong điều kiện như vậy, kịch bản hỗn loạn toàn diện rất có thể xảy ra. Viễn cảnh cách mạng, đảo chính cung đình, và bạo lực tràn lan càng lúc càng dễ xảy ra. Kết quả hoàn toàn có thể là sự sụp đổ của chế độ hay sự tan rã của nhà nước. Dù kịch bản nào xảy ra đi chăng nữa thì ông Putin rất khó trụ qua cơn bão này.
Vậy thì thế giới phương Tây và các nước láng giềng của Nga có thể làm gì? Họ đã không thể ngăn Putin và họ càng không thể ngăn được ngày tan rã của Nga, cũng như họ đã không thể ngăn chặn ngày cáo chung của Liên bang Soviet. Lựa chọn tốt nhất là giải quyết được hậu quả là sự bất ổn toàn diện của xã hội Nga. Đặc biệt, các nước sẽ phải lo được những dòng người tị nạn, thế lan tỏa của bạo lực, và trách nhiệm bảo quản một lượng rất lớn vũ khí hạt nhân. Các quốc gia và vùng lãnh thổ cận Nga có thể giải quyết được hai vấn đề đầu tiên chỉ bằng cách tăng cường lực lượng tuần tra biên giới, cũng như quân đội, lực lượng cảnh sát, và bộ máy hành chính. Còn thề giới Phương Tây phải xem họ (đặc biệt là Belarus, Ukraine và Kazakhstan) như những đồng minh hoặc các quốc gia khách hàng, ổn định và an ninh ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ này đều rất quan trọng đối với sự ổn định và an ninh của phương Tây. Sau đó, thế giới phương Tây cũng nên hỗ trợ xây dựng một nền dân chủ thân phương Tây ổn định trong thời đại hậu Putin của nước Nga. Giới hoạch định chính sách phương Tây chắc chắn sẽ tìm được nhiều lý do để hỗ trợ các lực lượng vũ trang Nga, đặc biệt là sau khi bất ổn xảy ra hàng loạt. Nhưng thực ra làm vậy chỉ phản tác dụng: về bản chất, việc hỗ trợ các lực lượng từng trấn áp nhân dân Nga chỉ khiến tình trạng giao tranh kéo dài hơn, đổ máu nhiều hơn, và sự bất ổn luôn còn đó, nghĩa là làm gia tăng khả năng vũ khí hạt nhân rơi vào tay kẻ xấu.
Sớm hay muộn, giai đoạn bất ổn của nước Nga sẽ kết thúc. Sau khi cơn địa chấn qua đi, một nước Nga nhỏ và yếu hơn và một tập thể các quốc gia và vùng lãnh thổ cận Nga vừa tuyên bố độc lập có thể giúp thế giới ổn định hơn, ít nhất là bởi vì một nước Nga của Putin, một mối đe dọa lớn cho hòa bình thế giới, sẽ có biến mất và nhân dân Nga cuối cùng có thể từ bỏ giấc mộng nước Nga Sa Hoàng đã giúp Putin nắm quyền.
Dù cơn bão sắp đến có mang lại kết quả gì, chính các nước láng giềng của nước Nga hiện tại có nhiều khả năng nhất để đảm bảo sự ổn định và an ninh khu vực thời hậu Putin, cũng như thời hậu Liên bang Soviet, đặc biệt là Ukraine, Kazakhstan và Belarus. Nếu họ vững mạnh, thiệt hại từ cơn dư chấn sẽ ở trong tầm kiểm soát. Còn nếu họ trở nên yếu đuối, làn sóng dư chấn sẽ lan truyền sang cả phương Tây. Thời điểm tốt nhất để củng cố các nước này chính là bây giờ, trước khi là những ngày ảm đạm dồn dập xuất hiện.
http://phiatruoc.info/tham-canh-sap-toi-cua-che-do-putin-va-nuoc-nga/

Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Thursday, February 18th, 2016

Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại… đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
*
Theo dòng thời gian Sau những tháng năm suy nghĩ, tôi cũng như rất nhiều người đã nghiệm ra rằng: Tình hình Việt Nam sẽ thay đổi, sự thay đổi vô cùng to tát, mát lòng dân, thuận ý Trời đó là sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam. Suy nghĩ này không đơn thuần chỉ là niềm hy vọng thông thường, lại càng không phải là những điều tiên đoán của một kẻ mù sò voi hay của một chiêm tinh gia mà là của một người được tạo hóa ban cho thứ cảm nhận cao cho những gì sắp xảy ra chung quanh cuộc sống. Với tâm nguyện luôn ước mong cho một Quê Hương sớm thoát khỏi ách tròng cộng sản đầy mụ mị trong nghèo đói, với một tâm hồn luôn đau đáu cho một đất nước đã chìm ngập trong mịt mù không tương lai đến các thế hệ kế tiếp của dân tộc thì sự trăn trở luôn thôi thúc bản thân suy nghĩ về vận mạng của đất nước cùng con đường giải cứu đồng bào ruột thịt sớm thoát khỏi ách nạn cộng sản này.
Ngoài nguyên lý bất di bất dịch là trên hành tinh này vạn vật sẽ thay đổi không ngừng. Sự hiện hữu, biến dạng và hủy diệt, đó là nguyên tắc sinh thải. Con người cũng vậy, có sinh phải có tử, triều đại, thể chế cũng không ngoại lệ, có hợp có tan, có trụ có biến.
Người cộng sản với não trạng vô cùng chủ quan và cường điệu cho rằng “CHXHCNVN muôn năm” hoặc “Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… là sai hẳn về phương diện khoa học lẫn các triết dẫn của tôn giáo. Khi những nguyên tắc rường cột cơ bản đã sai ắt mọi ngọn ngành chi nhánh theo đó sẽ sai theo một cách lô-gic. Ví như quỹ đạo bay của phi thuyền bị tính trật thì con tàu sẽ không đến điểm định, một chủ nghĩa sai lầm sẽ đưa xã hội xa mục đích là lẽ đương nhiên mà theo Duy Vật biện chứng thì những chuỗi kết quả sai lệch trong xã hội ấy không thuộc sự “can thiệp” của bất cứ đấng nhiệm mầu nào, hay còn gọi là đấng Tạo hóa mà chỉ đơn thuần theo tính toán của con người dựa trên các cơ sở khoa học.
Hãy đơn cử vài thí dụ để chứng minh cho sự sai lệch đã nêu ra, hỏi có ai ngờ được rằng cái nôi, đồng thời cũng được xem là cái thành trì vững chắc của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Bang Xô Viết sụp đổ khi trước đó nó đã phát triển rất nhanh, rất vững mạnh khiến 5 nước ở Đông Âu phải hướng theo. Cho đến khi khối cộng sản Đông Âu được mở đầu bởi Ba Lan vào năm 1989 và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Romania sau đó.
Sau khi các nước này lần lượt tan rã thì người ta mới dám nảy lên mầm suy nghĩ là rồi Liên Xô cũng sẽ sụp theo. Và cuối cùng đúng như người ta du đoán, cái nôi của chủ nghĩa, thành trì của chủ nghĩa đã sụp đổ vào cuối năm 1991 kèm theo một chuỗi các nước dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khối Liên Xô: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraina và Uzbekistan. Cộng sản đã bị bỏ rơi tại Albania và Nam Tư từ năm 1990 đến 1992, chia thành năm nước kế tục: Slovenia, Croatia, Cộng hòa Macedonia, Bosnia và Herzegovina, và Cộng hòa Liên bang Nam Tư (gồm Serbia, Montenegro và Kosovo). Tác động này cũng được cảm thấy ở hàng chục quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Chế độ Cộng sản đã bị bỏ rơi ở các nước như Campuchia, Ethiopia, Mông Cổ và Nam Yemen. Sự sụp đổ của các nước cộng sản đã dẫn đến tuyên bố kết thúc của Chiến tranh Lạnh. (1)
Ý nghĩa của những sự sụp đổ này nó lớn lao và quan trọng đến độ nhiều nhà nhận định thời cuộc của thế giới đã có cùng một nhận định: “Nhân loại đã đánh dấu sự kiện quan trọng nhất của Thế kỷ 20 là sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản ở đầu thế kỷ và sự chết của nó ở cuối thế kỷ”.
Giờ đây, thế giới chính thức còn lại vỏ vẹn 5 nước: Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn (Triều Tiên) và Lào và Cu Ba, trong đó 2 nước Lào và Cu Ba đang chuyển hướng dần theo khuynh hướng Dân Chủ. Riêng Việt Nam, nếu căn cứ trên thực tế xã hội thì không hẳn còn là một quốc gia theo cộng sản nguyên thủy vì trong kinh tế XHCN không hề có “Kinh tế thị trường”. Nghĩa là Kinh tế tập trung (quốc doanh) thì không có Kinh tế tư nhân. Hai thứ kinh tế này về mặt nguyên tắc thì kinh tế tư bản là đối nghịch toàn bộ với Kinh tế tập trung là Kinh tế CNXH. Các người chịu trách nhiệm về kinh tế nhà nước đã vì sự thua lỗ, mất mát của nền kinh tế này mà nhập nhằng đánh lận triết thuyết căn bản một cách khập khiểng và hy vọng rằng họ sẽ thành công, sẽ qua mắt được các con mắt của các chuyên gia kinh tế có tầm phân tích quán triệt. Người cộng sản đã cố tình lấp liếm một cách gượng ép:“Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” mà chúng ta thường nghe, thường thấy cũng như thường đặt dấu hỏi.
Tuy nhiên, cho dẫu họ có cố gắng bao biện như thế nào thì nhà nước vẫn cố giữ và có chế độ đặc biệt ưu đãi cho các thành phần kinh tế quốc doanh mà cơ bản của nó đã được cung cấp lượng vốn cực kỳ lớn nếu so với các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân. Các thành phần kinh tế quốc doanh này phải lệ thuộc sự chỉ đạo của đảng và do cán bộ của guồng máy quản lý, trong khi ai cũng biết là đảng CSVN đã quá tùy thuộc vào những lãnh đạo đảng bị giới hạn về kiến thức và trình độ kinh tế nên thực tế đã gây ra quá nhiều lỗi lầm trầm trọng bởi sự thiếu kém kiến thức ấy. Bên cạnh sự ưu đãi và từ sự thông đồng cùng nhau chia lợi cho nên nền kinh tế tập trung này luôn bị thua lỗ, thất thoát và lãng phí ghê gớm, đưa đến nợ âm lớn và dần dà sẽ được hợp thức hóa sự mất mát cực kỳ to lớn đó. Ai sẽ chịu trách nhiệm trong những nợ âm cùng những chuỗi mất mát to lớn này?. Khỏi phải cần câu trả lời thì ai cũng biết là người dân qua các khâu nộp thuế.
Ngoài khối dân chúng quốc nội làm việc, kinh doanh, mua sắm, tiêu dùng hàng hóa…phải đóng thuế, nguồn thu này còn có được từ bán rẻ tài nguyên quốc gia và từ những người Việt đi làm công hoặc định cư ở nước ngoài (còn gọi là Việt kiều) gởi về cho chế độ mỗi năm trung bình 10 đến 16 tỉ USD (10.000.000.000 – 16.000.000.000 USD). (2) Xin thưa rằng với số ngoại tệ cho không, không hoàn vốn, không lãi suất, nó tương đương xấp xỉ 1/10 tổng sản lượng quốc gia (GNP), tức tổng sản lượng thu nhập của VN. Số tiền này có thể gần đủ để chi trả cho toàn bộ cán bộ, đảng viên của đảng phái chính trị và guồng máy cầm quyền như Quân đội, Côn an, công nhân viên, quan chức nhà nước hàng năm.
Không có nguồn thu nhập ngoại tệ cực kỳ quan trọng trên thì chế độ hiện hành sẽ không thể đứng vững, nếu không muốn nói là sẽ khánh tận (bankrupcy) hoặc sẽ sụp đổ. Người Việt ở nước ngoài chỉ cần không cung cấp số ngoại tệ 10 đến 16 tỉ USD như nói trong 3 năm thì chế độ sẽ gặp phải khốn đốn, đưa đến nguy cơ bất ổn về mặt chi trả và sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn chính quyền cũng như xã hội. Nguồn huyết mạch trên, nó chiếm vị thế vô cùng quan trọng trong dòng lưu xã hội. Người Việt ở nước ngoài không gởi lượng kiều hối ấy thì chế độ sẽ chết, gia đình sẽ vô cùng khó khăn…Đây là một nan đề mà mãi cho đến hôm nay chúng ta vẫn chưa có bài toán giải quyết như thế nào cho ổn thỏa!. Tuy nhiên, đó không phải là con đường bế tắc cho người Việt ở hải ngoại. Những nhà đấu tranh, những nhân sĩ vận động cho chính trị, chính sách có thể tăng cường phương pháp làm việc của mình bằng cách vận động và lên tiếng cho chính quyền sở tại, nơi quốc gia mình đang cư ngụ để có yêu cầu (hay yêu sách) ĐỀ NGHỊ QUỐC GIA SỞ TẠI GIỚI HẠN hoặc CẤM CHUYỂN GỞI NGOẠI TỆ ĐẾN VN, hay KIỂM SOÁT THẬT GẮT GAO VIỆC GỞI NGOẠI TỆ ra những nước “đặc biệt cần quan tâm” như tham nhũng, độc tài và khủng bố.. Cộng đồng người Việt nên ủng hộ việc làm này của các nhà đấu tranh như các Luật sư, Nghị sĩ, Dân biểu, Nghị viên, Thị trưởng Thành phố v.v…
Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại…đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
Trở lại vấn đề sụp đổ của cộng sản, kẻo không chữ nghĩa, lý luận kinh tế và con số sẽ làm quí vị nhức đầu đi mất. Với nhận thức của người Việt hôm nay, nói chung sự hiểu biết về cộng sản là khá phổ quát. Tuy nhiên, thông tin vẫn còn rất giới hạn cho số dân châm lấm tay bùn, thấp cổ bé họng hoặc cư trú vùng sâu vùng xa. Cho nên người Việt ở quốc nội nên thông truyền cho nhau rộng khắp hơn, cụ thể hơn về đảng CSVN cùng những tiêu cực mà đảng đã làm, cũng như đánh động sự lo sợ về hiểm họa nô lệ Tàu cộng, về việc mất nước. Được như vậy thì vấn đề nội công, ngoại kích mới được kết hợp một cách nhuần nhuyễn.
Với con số hơn 4 triệu rưỡi người Việt ở khắp các quốc gia trên thế giới cùng tài năng về tinh thần lẫn của cải của họ sẽ là những LỰC đáng kể. Ngày nào số lượng người đông đảo này còn thì đảng CSVN vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và bất lợi. Ngày nào đảng cộng sản và guồng máy còn đàn áp với dân chúng trong nước thì đảng cũng sẽ còn gặp phải nhiều phản ứng quyết liệt của người Việt ở nước ngoài.
Dòng thời gian 40 năm, thiết nghĩ đã quá đủ cho một thể chế mụ mị và hung bạo đã tàn phá con người và đất nước một cách khủng khiếp. Để tránh được những tai họa hủy diệt đó cũng như nhằm tránh được hiểm họa nô lệ Tàu cộng, giờ đây người Việt yêu Quê Hương, yêu Tổ Quốc nên thức tỉnh ngay nếu chúng ta không góp phần trách nhiệm của mình cho sự thay đổi của đất nước là chúng ta mang trọng tội với tiền nhân đã dày công dựng nước và giữ nước, với lớp con cháu của các thế hệ nối tiếp. Chúng ta phải thể hiện thái độ dứt khoát không thể để đảng CSVN muốn làm gì thì làm.
Sự chuyển mình của thế giới qua nhận thức Tàu cộng cùng sự nguy hiểm của nó về nhân phẩm nhân sinh, chất độc hại tung ra thế giới, mổ cướp nội tạng dã man, ngang ngược lấn chiếm biển đảo không thuộc chủ quyền của họ, đe dọa an ninh của các quốc gia lân bang. Trật tự cho một Thế giới mới sẽ dấy nên trào lưu BÀI TÀU CỘNG – BOYCOTT CHINA nhằm bảo tồn hành tinh này, đó là quan điểm và hành động của nhân loại văn minh.
Cộng sản Việt Nam rồi cũng sẽ chẳng khá gì hơn khi đảng đã hiện nguyên hình lòi mặt chuột đục phá đất nước chứ chẳng giúp được gì nhiều cho tiến trình phát triển quốc gia mà thế giới đã chửi xéo “Việt Nam là một quốc gia không muốn phát triển!”. Giờ đây, đảng bị xem là kẻ thù của cả dân tộc quốc nội lẫn hải ngoại. Không bạn bè, không đồng minh, không thân hữu ngoài đàn anh Trung cộng nhưng oái ăm thay, người đồng chí duy nhất cũng luôn rình mò, mưu mẹo, toan tính trở mặt và luôn chực hờ cướp giựt và thôn tính.
Cộng sản VN cô đơn và thất thế hơn bao giờ hết, số phận của nó cũng chẳng may mắn gì hơn thằng đàn anh, thằng ông nội Tàu cộng đang bị bao vây, tứ bề thọ địch. Chủ không vững thì tôi tớ cũng lung lay. Người Việt hãy giữ vững chính nghĩa, giữ vững niềm tin xây dựng lại đất nước trong một ngày không xa.

Kiến Nghị của Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại VN gửi các nguyên thủ quốc gia tham dự thượng đỉnh Mỹ – Đông Nam Á

Thursday, February 11th, 2016

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT

QUỐC NỘI VÀ HẢI NGOẠI VIỆT NAM

KIẾN NGHỊ KÍNH GỬI CÁC VỊ NGUYÊN THỦ

THAM DỰ HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH HOA KỲ-ASEAN TẠI CALIFORNIA

Kính thưa quý vị Nguyên Thủ Quốc Gia tham dự Hội Nghi,

Theo thông cáo của tòa Bạch Ốc Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN tại Sunnylands, Rancho Mirage, California trong hai ngày 15-16 tháng 2, 2016 nhằm mục đích tăng cường sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và 10 nước Đông Nam Á trong mục tiêu tái cân bằng lực lượng tại vùng Á Châu Thái Bình Dương, đặc biệt trong các lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế mà Hoa Kỳ đã có nhiều nỗ lực trong gần 40 năm qua.

Ngày 10-2-2016, tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch đã liệt kê một số quốc gia vẫn tiếp tục đàn áp người dân trong đó có Việt Nam và khuyến cáo Tổng Thống  Obama nên đặt chủ đề nhân quyền là trọng tâm của Hội Nghị.

Nhân dịp này, chúng tôi, đại diện Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại Việt Nam  xin kiến nghị đến tất cả quý vị những vấn đề liên quan đến tình hình chính trị tại Việt Nam và sự bất an tại Biển Đông.

          Kính thưa quý vị,

1- Vể chính trị, hiện nay, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn áp dụng chế độ độc tài, toàn trị, tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân, đàn áp, giam giữ tùy tiện và xét xử bất công các nhà hoạt động vì dân chủ, nhân quyền và công lý, vì phản đối đường lưỡi bò 9 điểm vô lý trên Biển Đông. Các cơ quan quốc tế nhân quyền đã tường trình đầy đủ những vi phạm này của chính quyền cộng sản Việt Nam.

2- Về kinh tế, Hoa Kỳ đang thành hình Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), tạo cơ hội cho các nước tham gia phát triển, mang phúc lợi cho người dân. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn tiếp tục chính sách được gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, với mục đích nắm giữ đặc quyền đặc lợi, làm giàu cho đảng cầm quyền, do đó tạo bất công xã hội, khiến đa số người dân vẫn sống trong cảnh nghèo khổ. Ngoài ra nhà cầm quyền Hà Nội còn ngăn cản các công nhân thành lập công đoàn độc lập,

3- Vể an ninh khu vực, nhà cầm quyền Trung Quốc đã ngang nhiên tuyên bố chủ quyền 90% tại Biển Đông, đã và đang xâm chiếm bằng võ lực biển đảo của Việt Nam và các nước Đông Nam Á, xây cất các đảo nhân tạo bất chấp luật pháp quốc tế, tăng cường quân sự, thường xuyên đe dọa nền an ninh của các nước Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương, trong đó có Hoa Kỳ.

Ngoài ra, nhà cầm quyền Bắc Kinh còn dùng thủ đoạn nhằm lũng đoạn nền kinh tế và chính trị của các quốc gia Đông Nam Á, tạo sự bất ổn thường xuyên trong vùng.

          Bởi thế, chúng tôi đại diện Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại của Việt Nam trân trọng kiến nghị cùng quý vị:

1- Áp lực buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải chấp nhận các quyền tự do căn bản của người dân, trong đó có quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, để cho hơn 90 triệu người dân được sống xứng nhân phẩm thay vì chỉ củng cố quyền lực và quyền lợi cho đảng cộng sản; phải thả ngay lập tức và vô điều kiện các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị và những người hiện bị quản chế một cách bất công; phải trả lại tất cả tài sản đã chiếm đoạt của các tôn giáo cũng như của người dân.

2- Liên minh chặt chẽ để bảo vệ chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á, ngăn chặn sự bành trướng trái phép của bất cứ quốc gia nào tại Biển Đông và Biển Đông Á; mọi tranh chấp phải được giải quyết trong hòa bình và luật pháp quốc tế.

3- Cần áp dụng triệt để các điều kiện về quyền con người và quyền công nhân trong Hiệp Định Xuyên Thái Bình Dương, có kèm theo biện pháp chế tài, để mọi người dân được hưởng những phúc lợi do Hiệp Định mang lại.

Cuối cùng, chúng tôi kính chúc quý vị nguyên thủ quốc gia một Năm Mới Bính Thân 2016 an khang, thịnh vượng và may mắn. Chúc Hội Nghị thành công.

Làm tại Hoa Kỳ ngày 10 tháng 2, năm 2016

  1. Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại Việt Nam 

Đại Diện: 

Hòa Thượng Thích Không Tánh, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, Phó Viện Trưởng Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Linh Mục Phan Văn Lợi, đồng Chủ Tịch Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, thành viên Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Chánh Trị Sự Hứa Phi, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, Ban Đại Diện Khối Nhơn Sanh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh (Chơn Truyền).

Ông Lê Văn Sóc, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, đại diện Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy

Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, đại diện Hội Thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam.

Ô. Cao Minh Tâm, Hội Nhà Báo Độc Lập, thành viên Saigon báo.

BS Đỗ Văn Hội, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Ô. Lưu Văn Tươi, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Ô. Nguyễn Văn Tánh, Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế

Ông Phạm Trần Anh, Hội Diên Hồng Thời Đại

Phó Trị Sự Trần Viết Hùng, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại

Ông Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ Tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Liên Bang Đức.

 

_________________________________________________________________

 

Địa chỉ liên lạc:

PO Box 262066, Tampa, FL 33685.

Tel: 407-927-0014. Email: Lienlacqnhn@gmail.com

Tuyên Cáo Về Tình Hình Việt Nam 2016

Wednesday, January 20th, 2016

TUYÊN CÁO

VỀ TÌNH HÌNH VIỆT NAM NĂM 2016 (Có bổ túc chữ ký)

(Muốn ký vào Tuyên Cáo, xin vào ô bên phải ====>)

Bổ túc chữ ký sẽ được công bố vào ngày 1/1/2017

_____________________

         Xét rằng:

1-     Đảng cộng sản đã hiện diện trên đất nước Việt Nam hơn 70 năm qua, gây ra nhiều đau thương tang tóc cho Dân tộc Việt Nam. Các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản trước đây đều lần lượt từ bỏ chế độ bất nhân và sai lầm này để chuyển đổi sang chế độ dân chủ tự do, chỉ còn lại một số nhỏ trong đó có Việt Nam.

2- Sau 40 năm kể từ ngày 30-4-1975, đất nước vẫn còn nằm dưới gọng kềm cai trị độc tài, độc đảng. Đảng cộng sản Việt Nam liên tục tước bỏ mọi quyền căn bản của con người, đàn áp những nhà đấu tranh vì tự do dân chủ, tự do tôn giáo và toàn vẹn lãnh thổ. Đảng cộng sản Việt Nam đã làm cho văn hóa suy đồi, kinh tế lụn bại, xã hội đầy dẫy tệ đoan, tài sản của nhân dân bị cường quyền vơ vét.

3-   Đại hội đảng thứ XII năm 2016 cho thấy không có dấu hiệu cải tổ về chính trị cũng như kinh tế, càng tỏ rõ sự lệ thuộc vào Trung cộng, nguy cơ mất nước không thể tránh khỏi. Đại hội đảng cộng sản chỉ là cơ hội để tập đoàn lãnh đạo tranh giành quyền lực, chia chác quyền lợi, hoàn toàn không vì lợi ích của nhân dân và đất nước Việt Nam.

4-   Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn tách rời quần chúng, xem đất nước là của riêng, nhân dân chỉ là nô lệ cho tập đoàn cai trị. Một số đảng viên có đầu óc cải cách muốn thay đổi đều bị trù dập hoặc loại trừ.

          Bởi các lẽ ấy, chúng tôi gồm đại diện một số cộng đồng, đoàn thể, tôn giáo trong và ngoài nước  ký tên dưới đây khẩn thiết tuyên cáo:

1-  Đòi hỏi đảng cộng sản Việt Nam phải tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân, đặc biệt là các quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội; phải trả tự do ngay lập tức tất cả tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị và tôn giáo.

2-   Đòi hỏi đảng cộng sản Việt Nam phải trả lại quyền cai trị đất nước cho toàn dân bằng một cuộc bầu cử thật sự dân chủ và công bằng được quốc tế giám sát, bầu ra một quốc hội của dân, do dân và vì dân như các nước tự do trên thế giới, đặc biệt tại Đài Loan, Miến Điện và Venezuela trong những ngày gần đây.

3-   Kêu gọi các đảng viên, cán bộ cộng sản hãy thức tỉnh vì vận mệnh của đất nước, hãy đứng về phía nhân dân, phục vụ quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc.

4-  Kêu gọi Đồng bào trong và ngoài nước liên kết chặt chẽ tạo thành sức mạnh  tổng hợp nhằm tranh đấu cho một chế độ dân chủ tự do, phồn vinh an lạc, bảo vệ được sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc.

5-  Thỉnh cầu công luận quốc tế và chính phủ các nước tự do dân chủ trên thế giới hỗ trợ cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

          Kính thưa toàn thể Đồng bào,

          Đã đến lúc toàn dân cần phải đồng tâm hiệp lực, liên kết trong ngoài, từ Tín đồ đến Chức sắc, từ các Tổ chức dân sự đến các Đảng phái chính trị, từ giới thường dân đến giới trí thức, từ các Đoàn thể đến các Cộng đồng, Đồng Bào chúng ta không còn sự chọn lựa nào khác mà phải đứng lên giải nguy cho Quốc gia Dân tộc.

          Ý Dân là Ý Trời ! Bất cứ chính quyền nào, thế lực nào đi ngược lòng dân, phản lại ý Trời chắc chắn phải bị diệt vong.  

Công bố ngày 21 tháng 1 năm 2016,

                        Đồng ký tên sau đây:

 

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM (QUỐC NỘI)

  • LM Giuse Đinh Hữu Thoại, đồng Chủ Tịch
  • Hòa Thượng Thích Không Tánh, đồng Chủ Tịch
  • Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa, đồng Chủ Tịch
  • Chánh Trị Sự Hứa Phi (Cao Đài), đồng Chủ Tịch
  • Chánh Trị Sự Nguyễn Bạch Phụng, Thành Viên
  • Chánh Trị Sự Nguyễn Kim Lân, thành Viên
  • Ông Lê Văn Sóc, Hòa Hảo, đồng Chủ Tịch.
  • LM Phêrô Phan Văn Lợi, thành viên
  • LM Nguyễn Công Bình, thành viên
  • MS Nguyễn Mạnh Hùng, thành viên

KHỐI 8406

  • LM Phê rô Phan Văn Lợi, đồng Đại Diện.
  • Ông Nguyễn Chính Kết, Đại Diện Hải Ngoại.

HỘI CỰU TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM (QUỐC NỘI)

  • BS Nguyễn Đan Quế, Chủ Tịch
  • LM Phêrô Phan Văn Lợi, đồng Chủ Tịch
  • Ông Phạm Bá Hải, Điều Phối Viên

TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển

LIÊN HIỆP HỘI THÁNH EM CAO ĐÀI HẢI NGOẠI: Phó Trị Sự Trần Viết Hùng, Tổng Thư Ký – Ông Sinh Cẩm Minh, Trưởng Ban Ngoại Vụ – Ông Phạm Văn Đức, Trưởng Ban Nội Vụ

– Cựu Chánh Trị Sự Bùi Văn Y, Trưởng Ban Giám Sát

TẬP HỢP VÌ NỀN DÂN CHỦ VIỆT NAM: Bs Nguyễn Quốc Quân

PHONG TRÀO GIÁO DÂN VIỆT NAM HẢI NGOẠI: Ông Phạm Hồng Lam, Điều Hợp Viên Ban Thường Vụ.

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA LIÊN BANG HOA KỲ : BS Võ Đình Hữu, CT HĐĐB – BS Đỗ Văn Hội, CT HĐCH – Ông Lưu Văn Tươi, CT HĐGS – Ông Nguyễn Văn Tánh, Cố Vấn – Ông Trần Văn Giỏi, Chủ Tịch CĐNVQG Connecticutt – LS Nguyễn Thanh Phong, PCT Nội Vụ HĐCH – Trung Tá Trần Quốc Anh, PCT Ngoại Vụ HĐCH – Ông Trần Công Thức, TTK HĐCH

TỔNG HỘI CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HẢI NGOẠI: Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch – Ông Nguyễn Trung Châu, Cựu Chủ Tịch, Cố Vấn

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC: BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ Tịch

LIÊN HỘI NGƯỜI VIỆT CANADA: Ông Trần Văn Đông, TTK

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO LIÊN BANG ÚC CHÂU: Luật sư Võ Trí Dũng, Chủ Tịch

ỦY BAN NHÂN QUYỀN HELSINSKI: Luật Sư Tạ Quang Trung, Cố Vấn – Ông Trần Tử Thanh, Cựu Tù Nhân Vì Lương Tâm (do Ân Xá Quốc Tế và Human Rights Watch phong tặng)

HỘI ÁI HỮU CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM: Ông Cao Xuân Khải, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ

CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM DC, MARYLAND VÀ VIRGINIA: Ông Đoàn Hữu Định, Chủ tịch

HỘI DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI: Ông Phạm Trần Anh

HỘI ĐÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM: Ông Rong Nay, Phó Chủ Tịch

HỘI BẢO VỆ DI SẢN VIỆT NAM CỘNG HÒA ̣(Canada):Ông Ngô Anh Võ, Chủ Tịch

LM Đinh Xuân Long (Giáo Phận Charlotte, NC)

MS Ngô Đắc Lũy (Hội Thánh Tin Lành Mennonite)

Nguyễn Thu Trâm: Nhà báo độc lập, Trưởng Phân Bộ Báo Chí Hội AHCTNCTTGVN

Ông Huỳnh Hiệp (Hòa Hảo)

Truyền Hình Việt Nam Hải Ngoại OVM 4TV: Ông Nguyễn Đình Toàn, Giám Đốc

Ông Lý Hiền Tài: Cựu Dân Biểu VNCH, Chủ Tịch LMDCVN thuần túy.

Ông Cao Xuân Thức: Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh  Nam California và Đồng Hương Hướng Phương.

BS Bùi Quang Dũng, PCT Hội Đồng Đại Biểu CĐ LBHK

Đốc Sự Trần Xuân Thời, Cố Vấn: CĐ LBHK

Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Cố Vấn, CĐ LBHK

KS Đỗ Như Điện, Cố Vấn HĐCH CĐ LBHK, Cựu Chủ Tịch Hiệp Hội Người Việt San Diego

CĐVN Arkansas, AR: Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh,

CĐVN Arizona, AZ; Chủ tịch: DS. Đặng Thế Khương

CĐVN Southern California, CA; Chủ tịch: KS Trương Ngải Vinh

CĐNVQG Nam Cali; Chủ Tịch: NV Bùi Phát

CĐNVQG Charlotte, N. Carolina: Chủ Tịch Cô Nguyễn Thu Hương

CĐNVQG Greenville, S. Carolina, CT Ô. Võ Phương.

CĐNVQG Columbia, SC: CT Ông Nghiệp Nguyễn

CĐNVQG Raleigh, NC: CT Ông Huyền Nguyễn

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm  

CĐNVQG Sacramento, CA, Chủ tịch: Ô. Đỗ Thiện Thịnh

CĐNVQG Stockton, CA, Chủ Tịch: Ô. Nguyễn Hữu Hiến

CĐNVQG Colorado, CO, Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Trọng Cường

CĐNVQG Connecticut, Chủ Tịch: Ô. Trần Văn Giỏi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu: Ô. Lê Thanh Liêm

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch: Ông Phạm Quốc Hưng

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch HĐĐD: Ô. Châu Ngọc An

CĐVN Tampa Bay, FL; Chủ tịch: Ô. Trần Công Thức

CĐVN Jacksonville, FL; Chủ tịch: Ô. Eric  Nguyễn

CĐVN South Florida, FL; Chủ tịch: KTS Nguyễn Đức Huy

CĐVN Pensacola, FL; Chủ tịch: Ô. Bùi Lý

CĐVN Georgia, GA, Chủ Tịch: Ông Young Huynh,

CĐNVQG Ilinois, IL, CT Ô. Lưu Toàn Trung

CĐNVQG Massachusetts, MA; Chủ tịch: Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn

CĐNVQG St Louis, MO; Chủ tịch: Ô. Cường Nguyễn

CĐNVQG South New Jersey, NJ; Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm

CNVN New Jersey, NJ: Chủ Tịch: Bà Lê Ánh Nguyệt

CĐNVQG New Hampshire, NH; Chủ Tịch: Ô. Lê Hà Dũng

CĐNVQG New Mexico, NM: Ô. Lương Thông,

CĐNVQG Minnesota, MN; Chủ tịch: Ô. 

CĐNVQG Louisiana, LA; Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh

CĐNVQG New York, NY; Chủ tịch: LS Nguyễn Thanh Phong

CĐNVQG Oklahoma City, OK; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh

CĐNVQG Allentown, PA; Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo

CĐNVQG Philadelphia, PA; Chủ tịch: ô. Vũ Trực

CĐNVQG Pennsylvania, PA; Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm

CĐNVQG Pittsburgh, PA; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Hoa

CĐNVQG Lancaster, PA; Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan

CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA ; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh

CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải

CĐNVQG  TP Lebanon, PA; Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Hải

CĐNVQG TP York, PA ; Chủ tịch: Ô. Vũ Ngọc Hải 

CĐNVQG TP Easton/Bethlehem, PA.  Chủ Tịch: Ô. Đỗ Đức Chiến,

CDNVQG Nashville và Middle Tennessee, TN; Chủ Tich: Ô. Bùi Văn Kiệt

CĐNVTD West Tennessee; Chủ Tịch: Ông Đặng Q. Dũng

CĐNVQG Houston, TX; Chủ tịch: TT Trần Quốc Anh

CĐNVQG Dallas, TX; Chủ tịch: LS. Phạm Quang Hậu

CĐNVQG Utah: Ông Nguyễn Văn Thành, chủ tịch

GHI CHÚ:

Danh sách này được hoàn tất kể từ ngày 18-1-2016 đến 22 giờ ngày 20-1-2016.

BỔ TÚC KÝ TUYÊN CÁO (1) ngày 26-1-2016

(Chúng tôi vẫn nhận ký tên vào tuyên cáo, xin bấm vào: KÝ TUYÊN CÀO)

Ô. Phạm Hữu Sơn, Chủ Tịch CĐNVQG Bắc Cali

TS Nguyễn Quang A, đại diện Diễn Đàn Dân Sự Việt Nam

MS Nguyễn Công Bình, Việt Nam

Phật Giáo: Thượng Toạ Thích Viên Hỷ, Thành Viên Hội Đồng Liên Tôn VN .

Phật Giáo Hoà Hảo Thuần Túy: Cụ Nguyễn Văn Điền – Hội Trưởng Trung Ương GHPGHHTT

  • Ông Lê Quang Hiền (chánh thư ký TU.Phat Giao Hoa Hao Thuan Tuy ) cung deu la Thanh Vien Hoi Dong Lien Ton VN

Phật Giáo: HT. Thich Không Tánh : Phó Viện Trưởng kiêm Tổng Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội Tăng Đòan GHPGVNTN.

– Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm thi Anh Em bau toi la Chủ Tịch Ban Cố Vấn

Mục Sư Lê Quang Du (Vi Anh Le) Việt Nam

Bà Bạch-Y :  Hội Dân Oan    Lâm-Đồng

Trương-Kim :  thành-viên Hội-Tù Nhân Lương-Tâm  Việt-Nam.

Khối 8406 Quốc Nội

Phong Trào Cách Mạng Hoa Sen, Chủ tịch: Nguyễn Bá Đăng (Hà Nội, Việt Nam)

Người Hà Nội (VDP, Hà Nội Việt Nam)

Ô. Vương Kỳ Sơn, Nhà Biên Khảo: 1-Giám đốc Đài – Báo – TV Việt Nam Tự Do New Orleans. 2. Chủ Tịch Ủy Ban Yểm Trợ Khối 8406 New Orleans. 3. Đại Diện: Việt Nam Linh Thiêng – Quỹ Việt Linh Corporation..

Ô. Minh Đức, Diễn Đàn Người Dân Việt Nam

Ô. Lê Thành Lập

Ô. Hoàng Hùng, seattle wa

Ô. Đông H. Nguyễn,

Ô. Võ Hiền

Ô. Trần Quán Niệm, NJ Hoa Kỳ

Ô. Nguyên Vũ

Ô. Nguyễn Trí Dương, y/c giải tán đảng CSVN

Ô. Huỳnh Thúc Khải, (Chủ bút blog Lời Hằng Sống.)

Ô. Thomas Lương, Hoa Kỳ

Ô. Long Phạm,

Ô. Nhật Nguyễn, Hoa Kỳ

Ô. Hùng Nguyễn, Cali, Hoa Kỳ

Ô. Hoàng Độ, Florida, Hoa Kỳ

Bà Thu Nguyễn, Florida Hoa Kỳ

Ô. Lập Phan

 

GHI CHÚ: Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận ký tên vào bản tuyên cáo, email: lienlacqnhn@gmail.com)

 

Ủy Ban Liên Lạc Quốc Nội và Hải Ngoại

PO Box 262066, Tampa, Florida 33658

Điện thoại: 407-927-0014. Email: lienlacqnhn@gmail.com

KHỐI 8406 HOA KỲ: Ông Vũ Hoàng Hải

KHỐI 8406 HOA CANADA:Ông Trần Ngọc Bính

 

  • Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam : Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh.
  • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.
  • Phong Trào Phụ Nữ Hành Động Cứu Nước: Bà Trần Thị Hồng Khương.
  • Linh Mục Nguyễn Văn Lý: Cố Vấn Hội Đồng Kiên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.
  • HT Thích Minh Tuyên: Cố Vấn Hội Đồng Kiên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.
  • TT Thích Thiện Minh: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Cố Vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.
  • Linh Mục Nguyên Thanh, Cố Vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.
  • Diên Hồng Thời Đại Việt Nam: Ô Phan Kỳ Nhơn.
  • Liên Minh Dân Chủ Tự Do Cho Việt Nam: Ô Huỳnh Hưng Quốc.
  • Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo Và Nhân Quyền Việt Nam: HT Thích Nguyên Trí.
  • Mặt Trận Toàn Dân Dựng Cờ Dân Chủ: Ô Cao Xuân Khải.
  • Hội Đồng Liên Kết Tranh Đấu Dân Chủ và Nhân quyền Cho Việt Nam: Ô Lạc Việt.
  • Phong Trào Liên Đới Dân Oan: Trần Ngọc Anh.
  • Hội Dân Oan Đòi Quyền Sống: Hồ Thị Bích Khương.
  • Liên Minh Dân Chủ: Ô Nguyễn Hữu Ninh.
  • Văn Đàn Thời Đại: Nhà Thơ Cao Nguyên.
  • Câu Lạc Bộ Thi Văn Hải Ngoại: Nhà Thơ Vũ Lang.
  • Hội Thanh Niên Dân Chủ: Ô Trần Long.

Cong Dong NVQG Tacoma/ Pierce County.

Chu tich

Bs Nguyen Xuan Dung

Hoi Cao Nien Tacoma va Vung phu can

Hoi Truong

Tran Minh

 

 

 

 

 

TUYÊN CÁO Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67

Monday, December 14th, 2015

TUYÊN CÁO

Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67

(10-12-1948 / 10-12-2015) 

NHẬN ĐỊNH 

  • Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã du nhập và duy trì chủ nghĩa Cộng Sản bất nhân tại đất nước Việt Nam. Kể từ năm 1954 ở miền Bắc và từ tháng 4, 1975 tại toàn cõi Việt Nam, đảng CSVN áp đặt một chế độ độc tài, toàn trị, khống chế hoàn toàn xã hội Việt Nam; xóa bỏ các quyền tự do căn bản của con người; áp dụng một chế độ bất công, xử dụng các điều khoản của bộ luật Hình Sự nhằm áp chế người dân, nhất là những nhà tranh đấu vì dân chủ, tự do, công lý và vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam;
  • Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam có nhiệm vụ tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khi gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977; đã cam kết thực hiện 14 điểm cải thiện nhân quyền khi ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016. Nhưng cho đến nay, CSVN đã không thực hiện những gì đã hứa hẹn và cam kết, tiếp tục vi phạm nhân quyền trầm trọng, xem thường dư luận quốc tế, bất chấp ước vọng dân chủ tự do của nhân dân Việt Nam.

VÌ CÁC LÝ DO ĐÓ, Chúng tôi, đại diện các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại long trọng tuyên bố:

  • Cực lực lên án và tố cáo nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam về sự ngoan cố và những vi phạm quyền làm người của nhân dân Việt Nam;
  • Đòi hỏi đảng CSVN:
    1. Tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các quyền dân sự khác; tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam;
    2. Thiết lập một hệ thống tư pháp độc lập, xét xử công bằng; Hủy bỏ các điều khoản bất công của Bộ Luật Hình Sự; thực thi những điều cam kết khi gia nhập Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.
    3. Trả tự do tức khắc và vô điều điện tất cả tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm và những công dân hiện đang bị sách nhiễu, tù đày, quản chế tại gia dưới mọi hình thức.
    4. Trao trả quyền cai trị cho nhân dân Việt Nam.
  • Kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước hãy đoàn kết đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam;
  • Yêu cầu Liên Hiệp Quốc giám sát và điều tra tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam; thỉnh cầu các quốc gia dân chủ trên thế giới hỗ trợ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cho một chế độ tự do, dân chủ, và pháp trị.

Làm tại New York, ngày 10 tháng 12, 2015

  • BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội, Ông Lưu Văn Tươi: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ
  • Ông Nguyễn Văn Tánh: Trưởng Ban Điều Hợp.
  • Ông Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada.
  • Ông Trần Viết Hùng: Tổng Thư Ký Liên Hiệp Hội Thánh Em Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại và các thành viên từ Canada
  • Ông Huỳnh Hiệp: Phật Giáo Hòa Hảo, tử Virginia, Hoa Kỳ
  • MS Ngô Đắc Lũy: Hội Thánh Tin Lành Mennonite, đại diện Hội Đồng Liên Tôn Quốc Nội.
  • Mr Joe L Ramos USP4GG Coordinator For New York
  • Mr Bert Aguilera President CEO Filaid Foundation INE
  • Tập Hợp Chiến Sĩ VNCH tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá GS Nguyễn Xuân Vinh.
  • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí.
  • Ô. Nguyễn Trung Châu, cựu Chủ Tịch Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại
  • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.
  • Tập Hợp vì Dân Chủ Việt Nam: BS Nguyễn Quốc Quân.
  • Các Cộng Đồng Việt Nam tại Úc Châu, Âu Châu, Canada, Hoa Kỳ
  • Đài SBTN.
  • Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại
  • Ông Đoàn Hữu Định Chủ Tịch Cộng Đồng DC&MD &VA.
  • DS Nguyễn Đức Nhiệm Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia TB/PA .
  • Trung Tá Trần Quốc Anh Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston .
  • Ông Nguyễn Thanh Bình Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia MA
  • Cô Huỳnh Duyên Trinh, TTK/HDQT/ CDVN/MASS và Chủ tịch CDVN thành Phố Worcester.
  • Ông Trần Văn Giỏi Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Connecticut
  • Bà Lê Ánh Nguyệt Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Tự Do, New Jersey.
  • Ông Vũ Trực Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG thành phố Philadelphia
  • Ông Trần Quán Niệm Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG Nam NJ
  • Ông Nguyễn Đình Toàn, GĐ đài OPM4TV
  • BS Bùi Quang Dũng, PCT Hội Đồng Đại Biểu
  • Đốc Sự Trần Xuân Thời, Cố Vấn
  • Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Cố Vấn
  • Ô. Phạm Thế Vinh, Chủ Tịch CĐVN Arkansas, AR
  • Đặng Thế Khương, Chủ Tịch CĐVN Arizona, AZ
  • Ô. Phạm Hữu Sơn, Chủ Tịch CĐNVQG Bắc California, CA
  • KS Trương Ngải Vinh, Chủ tịch CĐVN Southern California, CA
  • Cô Nguyễn Thu Hương, Chủ Tịch CĐNVQG Charlotte, N. Carolina
  • Ô. Võ Phương, Chủ Tịch CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  
  • Ô. Nghiệp Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG Columbia, SC: CT
  • Ô. Huyền Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG Raleigh, NC: CT
  • Ô. Phạm Thanh Liêm, Chủ Tịch Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA 
  • Ô. Đỗ Thiện Thịnh, Chủ Tịch CĐNVQG Sacramento, CA,
  • Ô. Nguyễn Hữu Hiến, Chủ Tịch CĐNVQG Stockton, CA, 
  • Ô. Nguyễn Trọng Cường, Chủ Tịch CĐNVQG Colorado, CO,  
  • Ô. Lê Thanh Liêm, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu CĐVN Florida, FL
  • Ông Phạm Quốc Hưng, Chủ Tịch CĐVN Central Florida, FL
  • Ô. Châu Ngọc An, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện CĐVN Central Florida, FL
  • Ô. Trần Công Thức, Chủ Tịch CĐVN Tampa Bay, FL \
  • Ô. Eric  Nguyễn, Chủ Tịch CĐVN Jacksonville, FL
  • KTS Nguyễn Đức Huy, Chủ Tịch CĐVN South Florida, FL
  • Ô. Bùi Lý, Chủ Tịch CĐVN Pensacola, FL
  • Bà Đặng T. K. Hạnh, Chủ Tịch CĐVN Georgia, GA
  • Ô. Lưu Toàn Trung, Chủ Tịch CĐNVQG Ilinois, IL,
  • Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn, Chủ Tịch CĐNVQG Massachusetts, MA
  • Ô. Cường Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG St Louis, MO
  • Ô. Lê Hà Dũng, Chủ TịchCĐNVQG New Hampshire, NH
  • Ô. Lương Thông, Chủ Tịch CĐNVQG New Mexico, NM
  • KS Lê Hồng Thanh, Chủ Tịch CĐNVQG Louisiana, LA
  • LS Nguyễn Thanh Phong, Chủ Tịch CĐNVQG New York, NY
  • Ô. Nguyễn Khắc Vinh, Chủ Tịch CĐNVQG Oklahoma City, OK
  • Ô. Ngô Thế Bảo, Chủ Tịch CĐNVQG Allentown, PA
  • Ô. Nguyễn Hoa Chủ Tịch CĐNVQG Pittsburgh, PA
  • Ô. Võ Văn Loan, Chủ Tịch CĐNVQG Lancaster, PA
  • Ô. Nguyễn Văn Thanh, Chủ Tịch CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA
  • CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải
  • Ô. Nguyễn Hải, Chủ Tịch CĐNVQG  TP Lebanon, PA
  • Ô. Vũ Ngọc Hải , Chủ Tịch CĐNVQGTP York, PA
  • Ô. Đỗ Đức Chiến, , Chủ Tịch CĐNVQG TPEaston/Bethlehem, PA
  • Ô. Bùi Văn Kiệt, Chủ Tịch CDNVQG Nashville và MiddleTennessee, TN
  • Ông Đặng Q. Dũng, Chủ Tịch CĐNVTD West Tennessee
  • Phạm Quang Hậu, Chủ Tịch CĐNVQG Dallas, TX

Đính kèm:

Tài liệu vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam 

REFERRENCES:

1. Amnesty International Report 2014/15 | Amnesty International
2. World Report 2015: Vietnam | Human Rights Watch
  1. Special Report: Public Insecurity Deaths in Custody and Police Brutality in Vietnam
4. Vietnam 2014 human rights report – US Department of State
  1. Reports of human rights in Vietnam by Vietnam Human Rights Network

 

Tin Tức Hình Ảnh Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2015 tại Trụ Sở LHQ New York

Monday, December 14th, 2015

Thông Cáo Báo Chí: Tin tức về Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2015 tại New York

Tường thuật Phái Đòan vào tòa đại sứ Canada tại LHQ

Tường trình điều trần nhân quyền tại tòa đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ

Hình ảnh biểu tình trước LHQ (Trần Quán Niệm)

Tường thuật biểu tình trước trụ sở LHQ (Trần Quán Niệm tường thuật)

Hình ảnh:

Nhất Hùng (Câu Lạc Bộ Thơ và Ảnh Hoa Thịnh Đốn)

Hình ảnh gặp gỡ tòa Đại Sứ Canada

Xem video:

Phóng sự của MS Daniel Tùng, Boston (5 Level)

Phóng sự đài THVN – Hoa Thịnh Đốn (Phúc THVN-HTD)

Đài Truyển Hình VN Hải Ngoại OVM4TV (phút thứ 58.20)

 

Phe đối lập thắng lớn tại Venezuela trước chính phủ xã hội chủ nghĩa của cựu tổng thống thiên tả Chavez. Bài học nào cho chúng ta?

Monday, December 7th, 2015

Suy nghĩ trong ngày:

Kết quả Cuộc bầu cử quốc hội tại Venezuela ngày 6 tháng 12 năm 2015:  Phe đối lập thắng lớn trước chính phủ xã hội chủ nghĩa của cựu tổng thống thiên tả Chavez. Bài học nào cho chúng ta?

Chắc mọi người không ai quên hình ảnh hung hăng của nhà độc tài thiên tả Hugo Chavez, cựu Tổng Thống nước Venezuela, trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc New York năm 2006 khi ông còn sống. Ngay sau khi TT Bush đọc bài diễn văn và rời khỏi diễn đàn, ông Chavez bước lên mỉa mai: “Quý vị có thấy con quỷ (ám chỉ TT Bush) vừa đứng ở chỗ này không, vẫn còn mùi hôi hám của nó…” Rồi ông ta mạt sát Hoa Kỳ đủ mọi lời thậm tệ.

Chính phủ thiên tả đã ngự trị nước Venezuela 17 năm, Chavez làm tổng thống 14 năm, nếu không chết vì ung thư, ông ta sẽ làm TT muôn đời do sự giàn dựng quốc hội bù nhìn (tăng số lượng nhiệm kỳ và kéo dài thời gian của mỗi nhiệm kỳ TT). Chavez đã áp dụng chính sách độc tài, mỵ dân, quốc hữu hóa các công ty lớn như dầu hỏa, dùng tiền thu từ bán dầu để củng cố quyền bính, đàn áp đối lập, ủng hộ và phát triển các chính phủ độc tài thiên tả khác như Cuba, các nước Nam Mỹ, Phi Châu, Iran, kể cả Việt Nam và Bắc Hàn và đặc biệt ông ta chống Hoa Kỳ triệt để. Chavez dùng thủ đoạn chính trị, tài chánh, kinh tế nhằm biến Nam Mỹ thành khối xã hội chủ nghĩa đối lập với Mỹ.

Với lợi tức to lớn từ bán dầu đầu thập niên 2000, Chavez tìm cách mua chuộc và lung lạc  dân Mỹ bằng trợ giá dầu hỏa với giá rẻ bán tại Hoa Kỳ qua công ty phụ thuộc Citgo, thực tế Citgo là chi nhánh của công ty nhà nước Venezuela. Chavez tài trợ cho những phong trào chống Mỹ ngay tại đất Mỹ, các nhóm tả phái, mà có lần nhiều người đề nghị nên ghi Venezuela vào danh sách các quốc gia tài trợ khủng bố ngoài Iran, Syria, Sudan and Cuba.

Chavez mắc bệnh ung thư không biết từ bao giờ, được bí mật điều trị tại Cuba, chỉ đến tháng 6 năm 2011 mới có tin là ông đã hồi phục sau cuộc giải phẫu tại Havana, nhưng cuối cùng vẫn phải chết vì bệnh quái ác này ngày 5 tháng 3, 2013 tại Caracas, thủ đô Venezuela sau khi điều trị thất bại tại đảo quốc tí hon này.

Phó tổng thống là ông Nicholas Maduro lên thay, tiếp nối chính sách của Chavez. Chính sách này được gọi là chủ nghĩa Chavez (Chavismo), vẫn không thể cứu vãn được tình thế do các chế độ xã hội chủ nghĩa mang lại: dân ngày càng đói nghèo, tệ nạn xã hội gia tăng, tham nhũng lan tràn, kinh tế xuống dốc, nạn thiếu thốn thực phẩm hàng hóa ngày càng trầm trọng, dân chúng bất mãn, đặc biệt là do tình hình giá dầu giảm thấp. Cuộc khảo sát ý kiến gần đây trước cuộc bầu cử cho thấy trên 80 % dân chúng bất mãn với chính phủ thiên tả này.

 

Bài học cho chúng ta:

Qua kết quả cuộc bầu cử này tại Venezuela, do những thay đổi dồn dập trên thế giới trong cuối thế kỷ XX và gần đây của thế kỷ thứ XXI, chúng ta có thể rút ra được những bài học đáng giá:

  • Các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa luôn nắm giữ quyền bính bằng mọi thủ đoạn nhưng lại cố tỏ ra là có dân chủ (dù có đối lập hay không)
  • Chủ nghĩa Xã Hội (với kinh tế chỉ huy, quốc hữu hóa các tư liệu sản xuất…) không thể tạo nên “dân giàu nước mạnh”
  • Chế độ XHCN ngoài sự đàn áp đối lập, bóp nghẹt các quyền tự do, còn là tập đoàn tham nhũng từ trên xuống dưới không thể nào tiêu diệt được vì đó là chế độ “vừa đá bóng vừa thổi còi”.
  • Người dân dưới XHCN nếu được thông tin đầy đủ sẽ là một đối kháng mạnh mẽ với chính quyền, và sẽ là động lực thay đổi chính quyền (bằng tiến trình dân chủ hoặc bạo động tùy theo tình thế).
  • Theo xu thế toàn cầu hóa hiện nay: Truyền thông, thông tin dễ dàng lan rộng, trao đổi hàng hóa khắp nơi, sản phẩm văn hóa trí tuệ có tính thuyết phục làm thay đổi tư tưởng sẽ đến với mọi người… khiến cho mọi bưng bít che đậy dù cố gắng đến mấy sẽ không là trở lực, tạo sự thức tỉnh của người dân..

Kết luận: Các chế độ XHCN hoàn toàn đi ngược với ước vọng loài người và xu hướng của thời đại, cuối cùng sẽ bị nhân dân nhận chìm. Bất cứ chế độ nào mang tính xã hội chủ nghĩa độc tài rồi cũng bị đào thải theo như các chế độ từ Đông Âu, đến Trung Đông, Phi Châu, Nam Mỹ, Á Châu…

Tất cả đều đã có một lộ trình được vẽ sẵn, không còn có con đường nào khác.

Ban Báo Chí / CĐ Liên Bang

“Nhóm Lợi Ích” Đang Tàn Phá Việt Nam (Đại Dương)

Wednesday, December 2nd, 2015

Đại-Dương

Gần 30 năm thực thi chính sách “Đổi Mới”, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang nằm trong số 20 quốc gia có khả năng vỡ nợ lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản công khai tiến hành kế hoạch kỹ-nghệ-hoá quốc gia từ năm 2001 đến 2020 mà bây giờ (năm 2015) thừa nhận không thể đạt tới mục tiêu.

Dĩ nhiên, đất nước lụn bại do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng, giới chuyên gia quốc tế và trong nước đã dí tay vào trán các “nhóm lợi ích” như thủ phạm chính.

Thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” được giới lãnh đạo chóp bu của Việt Nam đề cập từ sau Đại hội XI (năm 2011), nhưng, chỉ nói đến hiện tượng xảy ra trong xã hội mà chưa xác định đích danh của từng “nhóm lợi ích”.

Giới phân tích quốc nội xem xét qua lăng kính triết học, chính trị, kinh tế, xã hội các thủ đoạn thu lợi bất chính của “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích”: (1) Lợi dụng và lạm dụng quyền lực kinh tế, chính trị; (2) Lợi dụng yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản hồi tháng 1-2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm” cũng như Phòng, chống tham nhũng.

Vì không dám chỉ mặt, đặt tên nên đã thất bại trong Hội nghị Trung ương 6 hồi tháng 10-2012 khi tất cả Uỷ viên Trung ương không đồng ý thi hành kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và 1 đồng chí trong Bộ Chính trị như yêu cầu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ai cũng biết đồng chí đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà khi tiếp xúc với cử tri sau Hội nghị, Chủ tịch Trương Tấn Sang chỉ dám gọi “đồng chí X”.

Cuộc chiến chống “lợi ích nhóm” vô vàn khó khăn, không hữu hiệu vì chiến tuyến không rõ rệt nên dẫn tới tình trạng “ta chống ta”.

Bộ Chính trị không dám công khai danh tính nên các “nhóm lợi ích” tiếp tục lộng hành làm cho Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng Việt Nam 31/100 điểm không thay đổi trong giai đoạn 2012-2014.

Việt Nam và cộng đồng quốc tế đều biết rõ khu vực kinh tế nhà nước là gánh nặng quá sức của quốc gia, ổ tham nhũng, lắm đại án, làm ăn thua lỗ. Nhưng, Bộ Chính trị vẫn quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”.

Dù đang ở trong tình trạng bội chi ngân sách, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn bơm 8 tỉ USD cho đầu tư và chắc chắn phần lớn được rót vào các doanh nghiệp Nhà nước.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Quản lý Kinh tế Trung ương chỉ trích Chính phủ “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc như 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới”.

Như thế, các “nhóm lợi ích” đã có ảnh hưởng từ thượng tầng lãnh đạo bất chấp tới quyền lợi tối cao của dân tộc.

Dưới bàn tay thao túng của các “nhóm lợi ích” làm cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái.

Tăng trưởng GDP 8.5% của năm 2007 giảm xuống 5.9% vào năm 2011 và 5.4% của 2013.

Tỷ lệ nợ công trong GDP của Việt Nam tăng với tốc độ khá nhanh, từ mức 52% của năm 2010 lên 60% năm 2014 so với trần 65% do Quốc hội đề ra.

Nhưng, một số chuyên gia quốc tế ước tính nợ công của Việt Nam đã lớn hơn GDP.

Các “nhóm lợi ích” bất chấp nguy cơ vỡ nợ nên vẫn phát hành khối lượng lớn trái phiếu vào giai đoạn 2013-2014 đã khiến nợ công tăng nhanh chóng.

Áp lực trả lãi vay của Chính phủ sẽ gia tăng mạnh kể từ năm 2018, tăng 17% so với năm trước, và tiếp tục lên 20% và 23% vào 2 năm sau.

Nợ của Chính phủ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, vay ODA chiếm 80% bằng 49% GDP, và 20% còn lại do bảo lãnh cho ngân hàng và địa phương, chiếm 11% GDP.

Tất cả các khoản vay trực tiếp, vay ưu đãi (ODA=Viện trợ Phát triển Chính thức), trái phiếu chứng khoán đều tăng lãi suất hơn gấp đôi kể từ năm 2017 trong khi dư nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ ở mức 191 tỉ USD vào năm 2020, gấp đôi năm 2015.

GDP danh nghĩa (nominal) của Việt Nam ước tính chỉ có 204 tỉ USD vào năm 2015 đang đối diện với nguy cơ phá sản rất lớn.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ tụt hậu nên đã phát động chiến dịch chống-tham-nhũng từ năm 1998. Nhưng, tới nay tham nhũng vẫn sống mạnh, sống hùng, lan tràn khắp mọi khía cạnh đời sống.

Tất cả những phát biểu đao to búa lớn, các cuộc hội thảo rầm rộ, nhiều bài tham luận tràng giang đại hải chỉ mang lại vài kết quả rất khiêm nhường trong chiến dịch chống-tham-nhũng.

Thất bại được báo trước này do những “đỉnh cao trí tuệ loài người” quen thói dối người, dối mình, chỉ nói nửa sự thật.

Hùng hổ buộc tội “nhóm lợi ích”, nhưng, chưa chỉ ra được ai và ở đâu để trừng trị.

Hà Phong trên Hà Nội mới Online ngày 31-03-2012 phê bình bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện; (2) Tính minh xác, tính minh định, phạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật.

Thực sự, Bộ máy Nhà nước gồm đảng, chính phủ, đoàn thể vô cùng đồ sộ và phình to vô tội vạ không những ăn hết tiền thuế do dân đóng mà còn giành giật phần lớn thành quả phát triển của toàn dân.

Không ai có quyền và khả năng áp lực để đảng Cộng sản Việt Nam phải tinh giản Bộ máy Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, kể cả các chính phủ ngoại quốc và định chế quốc tế.

Đúng ra, các chính phủ và định chế bên ngoài Việt Nam không có trách nhiệm hốt rác vì đó thuộc về nghĩa vụ của mỗi công dân trên quê hương hình cong như chữ S.

Đảng Cộng sản từ khi thành lập cho tới lúc lên cầm quyền vẫn không thay đổi bản chất độc tài, đảng trị, hành động bất minh nên tất cả vị trí lãnh đạo từ trung ương tới địa phương đều lọt vào tay đảng viên.

Như thế, đảng Cộng sản vốn là một “nhóm siêu lợi ích” sản sinh nuôi dưỡng và bảo kê, bảo vệ cho các “nhóm lợi ích” lớn, nhỏ tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chống các “nhóm lợi ích” sẽ không có hiệu quả nếu đảng Cộng sản còn cầm quyền.

Đại-Dương

Thư ngỏ của Ban Liên Lạc & Phối Hợp Vận Động Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Tuesday, December 1st, 2015

Xem pdf: Thu Ngo LLPH_Final

banLLPH letterhead

THƯ NGỎ

Ngày 28 tháng 10, năm 2015

Kính gởi:

Quí vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo,

Quí vị chủ tịch các tổ chức Cộng Đồng Người Việt,

Quí vị Hội trưởng các Hội đoàn, Tổ chức, các cơ quan Truyền thông,

Quí Nhân Sĩ và toàn thể Đồng Hương tại Hải Ngoại.

 

V/v: Liên lạc và Phối hợp Vận Động Liên Kết người Việt Quốc Gia Hải ngoại

Kính thưa quí vị,

Sau 20 năm cai trị miền Bắc và 40 năm cai trị toàn thể đất nước Việt Nam, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn duy trì chế độ độc tài, toàn trị, vẫn không có một chỉ dấu tiến đến một chế độ Tự Do và Dân Chủ thực sự cho dân tộc Việt Nam.

Trước hiện tình đất nước còn dưới quyền cai trị độc tài bởi đảng Cộng Sản Việt Nam và trước hiểm họa thôn tính đất đai, lãnh hải bởi nhà cầm quyền Trung Cộng, hơn 70 đại diện tôn giáo,  cộng đồng, hội đoàn, cơ quan truyền thông và nhân sĩ người Việt ở hải ngoại (không kể nhiều tổ chức, cộng đồng, nhân sĩ gửi lời thư chào mừng và ủng hộ) đã đáp lời mời đến dự Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại trong hai ngày 11 và 12 tháng 10, năm 2015 tại thành phố Vienna, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ, để thảo luận và tìm phương thức phối hợp các sinh hoạt của người Việt tại hải ngoại hầu gia tăng sự hữu hiệu của những công tác đang được thực hiện riêng rẽ như hiện nay.

Các đại biểu và nhân sĩ tham dự Hội Nghị nhận thấy nhu cầu liên kết người Việt Quốc Gia ở hải ngoại rất quan trọng nhằm hoàn thành mục đích chung trong đó mục tiêu tối hậu là đẩy mạnh cuộc vận động cho một nước Việt Nam Tự Do và Dân chủ.

Hội Nghị đã thành lập Ban Liên Lạc và Phối Hợp nhiệm kỳ 1 năm với nhiệm vụ vận động các cộng đồng, hội đoàn, tổ chức và nhân sĩ người Việt hải ngoại cùng hợp tác tổ chức Hội Nghị Liên Kết kỳ 2 (hay một tên thích hợp) trong vòng 1 năm, mà không có mục đích “đại diện” hay tạo “tiếng nói chung” của người Việt ở hải ngoại.

Thành phần Ban Liên Lạc và Phối hợp gồm có:

  1. Trưởng Ban: Bác sĩ Nguyễn Quyền Tài, giáo sư khoa Giải Phẫu Thần Kinh University of Florida; cựu Chủ Tịch Ban Chấp hành Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do; thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Ban Chấp hành Hội Y Sĩ Việt Nam tại Florida; thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Hội đồng Quản trị Hội Y sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ; thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Jacksonville, Florida; thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Ban Chấp hành Lâm thời Cộng Đồng Việt Nam Florida; thành viên sáng lập Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.
  2. Phó Ban Nội Vụ: Bác Sĩ Đỗ Văn Hội, cựu Sĩ Quan Quân Y QLVNCH, thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Orlando và Phụ Cận; Nguyên: chủ tịch Hội Y Nha Dược Sĩ Florida, thành viên Hội Đồng Quản Trị Hội Y Sĩ Việt Nam Hoa Kỳ,  chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Trung Tâm Florida, chủ tịch Hội Đồng Đại Biểu Cộng Đồng Việt Nam Florida; đương kim chủ tịch Hội Đồng Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ; Hội viên hội Ân Xá Quốc Tế và Human Rights Watch.
  3. Phó Ban Ngoại Vụ: Bác Sĩ Nguyễn Thể Bình, Cựu Chủ tịch Hội Đồng Cố Vấn Á Châu cho Thống Đốc Tiểu Bang Virginia.
  4. Tổng Thư Ký: Ông Trần Văn Đông, đương kim Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada.
  5. Thủ Quĩ: Cô Phạm Thu Thảo, ủy viên Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Phụ cận.

 

Kính thưa quí vị,

Trong 12 tháng sắp tới, Ban Liên Lạc và Phối Hợp chúng tôi sẽ cố gắng tiếp xúc với đại diện các cộng đồng, tổ chức, hội đoàn, đảng phái, tôn giáo, cựu quân-cán-chính, sinh viên,  cơ quan truyền thông, các nhân sĩ Người Việt Quốc Gia ở hải ngoại để mời tham gia cuộc vận động, cùng nhau thảo luận, hợp tác để tổ chức Hội Nghị Liên Kết kỳ 2 trong vòng 1 năm. Chúng tôi cũng sẽ đề nghị dự án “Phối Hợp Hoạt Độngvới mục tiêu thành hình một cơ cấu vững chắc qua Hội Nghị Liên Kết kỳ 2 theo những qui tắc dân chủ để điều hành và phối hợp các chương trình hoạt động cụ thể mà không có tính cách “đại diện” toàn thể người Việt tại hải ngoại.

Chúng tôi tin rằng, với sự hợp tác của toàn thể quý vị cùng với tinh thần dân chủ và hoàn toàn minh bạch của Ban Liên Lạc Phối Hợp, chúng ta sẽ tổ chức thành công một Hội Nghị Liên Kết được sự tín nhiệm của số đông người Việt hải ngoại hầu hoàn thành những mục tiêu được trao phó.

Chúng tôi trân trọng cám ơn tất cả ý kiến của quý vị về Hội Nghị Liên Kết ngày 11-12 tháng 10, 2015 vừa qua. Xin chân thành cám ơn quý vị đại biểu và nhân sĩ tham dự Hội Nghị đã tín nhiệm và trao trách nhiệm cho Ban Liên Lạc và Phối Hợp chúng tôi. Kính xin quí vị tiếp tục hỗ trợ bằng cách vận động các cộng đồng, đoàn thể và nhân sĩ mà quí vị biết để thực hiện thành công công cuộc liên kết này.

Kính thư,

  1. Ban Liên Lạc và Phối Hợp

Vận Động Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Nguyễn Quyền Tài

Trưởng Ban

_________________________________________

GHI CHÚ:Quý vị nào muốn tham gia vận động liên kết người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, xin vui lòng bấm vào link dưới đây và điền các chi tiết:

http://www.lienkethn.org/phieu-ghi-danh/

 

Xem pdf: Thu Ngo LLPH_Final

 

Tăng Đoàn GHPGVNTN báo động giặc đã vào nhà, vận mệnh Tổ quốc lâm nguy

Wednesday, November 11th, 2015

HT. Thích Viên Định (hàng đứng, thứ 4 từ phải sang)
 
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
Chùa Giác Hoa, 15/7 Nơ Trang Long,
Phường 7, Q. Bình Thạnh,
TP Sài Gòn
Phật lịch 2559
Số: 08/HĐĐH/TB/VT
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
BÁO ĐỘNG
GIẶC ĐÃ VÀO NHÀ, VẬN MỆNH TỔ QUỐC LÂM NGUY
Kính thưa Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,
Toàn dân đều biết Trung cộng đã xâm chiếm 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam, việc bắn giết, giam giữ, đánh phá ghe thuyền, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam vẫn đang tiếp tục xảy ra trên vùng biển thuộc hải phận Việt Nam.
Thế nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã không có một hành động nào để bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự tôn nghiêm quốc thể bằng những công cụ ngoại giao, pháp lý hay quân sự như Philippines đã làm để đòi lại biển đảo cho tổ quốc Việt Nam.
Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối qua loa lấy lệ, và trong nhiều trường hợp còn đưa ra lời đề nghị 2 bên “cùng duy trì nguyên trạng.”, ”cùng hợp tác khai thác…”, có nghĩa là họ coi việc mất chủ quyền quốc gia là “chuyện đã rồi”.
Về mặt ngoại giao, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không có thái độ cương quyết trong các cuộc gặp thượng đỉnh để phản đối mà còn rước giặc vào nhà, đón chào trọng vọng, cờ xí rợp trời. Người dân biểu tình lên tiếng, bày tỏ thái độ tẩy chay kẻ xâm lăng lại bị Nhà cầm quyền cho Công an đàn áp, bắt giam, đánh đập đến đổ máu.
Về quốc phòng, không tạo được một thế liên minh hữu hiệu để cùng các nước có chung lợi ích trên biển Đông đối phó với tham vọng bành trướng của Bắc Kinh, và hiện tại đất nước chúng ta vẫn đơn độc trước kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần.
Về nội bộ, không tạo được sự đoàn kết toàn dân như ông cha ta đã làm trong lịch sử mà Hội nghị Diên Hồng là một điển hình để sẵn sàng đương đầu chống quân xâm lược. Trái lại, Nhà cầm quyền ra sức đàn áp những người yêu nước, làm phân hóa, chia rẽ lòng người, triệt tiêu nội lực quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho quân xâm lược.
Trong thời gian ông Tập Cận Bình, Chủ Tịch nước kiêm Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung quốc đến Việt Nam, các chùa Liên Trì, chùa Giác Hoa và tư gia các nhà tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam bị công an canh gác ngày đêm chặt chẽ.
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không lượng định được dã tâm thật sự trong chuyến công du Việt Nam của ông Tập Cận Bình là để xoa dịu dư luận thế giới, biến hành động xây dựng những căn cứ quân sự bất hợp pháp trên vùng biển đảo Việt Nam thành chuyện “bình thường”.
Phía Trung quốc còn dùng chuyến đi này để ru ngủ, phân hóa nội bộ Cộng sản Việt Nam và dư luận trong nước làm cho nhân dân Việt Nam mất cảnh giác.
Trước và sau khi đến Việt Nam, ông Tập Cận Bình vẫn vô lý khi tuyên bố với thế giới rằng Hoàng sa và Trường sa là lãnh thổ của Trung quốc từ thời xa xưa.
Không thể thương lượng “hòa bình, ổn định” với kẻ ngang ngược, bất chấp công lý, xem thường dư luận, ỷ mạnh, dùng vũ lực đốt nhà, giết người, cướp bóc tài sản, xâm chiếm biển đảo tổ quốc ta được !
Việc trải thảm đỏ đón tiếp lãnh đạo Trung quốc trong tình hình hiện nay của nhà cầm quyền Hà nội là một sai lầm nghiêm trọng vì sẽ đánh mất sự thông hiểu và ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhất là với hai đối tác lớn là Hoa Kỳ và Nhật Bản, càng làm cho đất nước bị cô lập thêm.
Đất nước và Dân tộc chúng ta phải trả giá đắt cho những sai lầm này của đảng Cộng sản Việt Nam.
Tổ quốc thật sự đã lâm nguy!
Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 08 tháng 11 năm 2015.
Thay mặt Hội Đồng Điều Hành
Tăng Đoàn GHPGVNTN
Viện Trưởng
(ấn ký)
Tỳ kheo Thích Viên Định

Tuyên Cáo Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam – Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Monday, November 2nd, 2015

Tuyên Cáo

Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam,

Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Theo tin tức quốc tế, chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình sẽ đến Việt Nam ngày 5 và 6 tháng 11 năm 2015 và sẽ đọc diễn văn trước quốc hội CSVN trong bối cảnh:

  • Trung Cộng vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền ngụy tạo trên Biển Đông và xây dựng các đảo nhân tạo trên các bãi đá ngầm chiếm đoạt của Việt Nam ở Quần Đảo Trường Sa. Để thách thức chủ quyền bất hợp pháp này, Hoa Kỳ đã đưa chiến hạm Lassen tuần tra trong vùng 12 hải lý chung quanh các đảo nói trên, được sự hỗ trợ của các nước đồng minh trong đó có Liên Hiệp Âu Châu.
  • Các quốc gia vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương cùng Hoa kỳ lập liên minh chống sự bành trướng của Bắc Kinh;
  • Tòa án Liên Hiệp Quốc ở La Hayes tuyên bố có thẩm quyền xét xử đơn kiện của Phi Luật Tân về những đòi hỏi chủ quyền bất hợp pháp của Trung Cộng tại Biển Đông;
  • Sắp sửa có họp thượng đỉnh G-20 tại Thổ Nhĩ Kỳ và APEC tại Philippines;
  • Trung Cộng đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chia rẽ nội bô, trong lúc họ vẫn đàn áp những người tranh đấu cho tự do và nhân quyền; gia tăng áp bức các dân tộc Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông…
  • CSVN chuẩn bị tổ chức Đại Hội đàng lần thứ 12 trong tình trạng nội bộ tranh chấp gay go, nhưng chính sách đàn áp nhân quyền, cấm cản người dân Việt Nam bày tỏ lòng yêu nước trước sự lâm nguy của Đất Nước vẫn tiếp tục mạnh bạo.
  • Nhiều chỉ dấu cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đã lệ thuộc quá nhiều vào Trung Cộng qua mưu toan đưa đất nước vào ách thống trị của Bắc Kinh.

Xét rằng:

  • Trung Cộng là kẻ thù số một của nhân dân Việt Nam. Trung Cộng đã chiếm đất đai, biển đảo của Việt nam, dùng võ lực chiếm Hoàng Sa Trường Sa, khống chế Việt Nam bằng mọi hình thức về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường…
  • Trung Cộng chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng, tự tuyên bố chủ quyền hơn 80% vùng Biển Đông; gây hấn tại biển Hoa Đông; xây các đảo nhân tạo trong vùng tranh chấp ở Quần Đảo Trường Sa bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Chính phủ Hoa Kỳ vừa có hành động thích ứng rất đáng ca ngợi khi đưa chiến hạm vào vùng biển xung quanh các đảo nhân tạo do Trung Cộng chiếm giữ ở Trường Sa, cương quyết thực hiện quyền tự do lưu thông hàng hải trên vùng biển quốc tế.
  • Các cuộc tiếp đón trọng thể của lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đối với Tập Cận Bình sẽ mang ý nghĩa chấp nhận sự thống trị của Trung Cộng đối với VN và hợp thức hóa những lời tuyên bố xấc xược của Trung Cộng và đặc biệt là của Tập Cẩn Bình vể chủ quyền trên Biển Đông,

Vì thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ phối hợp cùng các Cộng Đồng trên thế giới, long trọng tuyên cáo:

  • Cực lực phản đối sự có mặt của Tập Cận Bình tại Việt Nam nhằm khống chế đất nước và dân tộc Việt Nam;
  • Lên án đảng CSVN tiếp tay dâng đất dâng biển cho Trung Cộng;
  • Nhiệt liệt ủng hộ những cuộc đối kháng, biểu tình chống Tập Cận Bình, chống Trung Cộng bất cứ hình thức nào tại quốc nội do dân chúng và những người yêu nước khởi xướng.
  • Kêu gọi đồng bào quốc nội hãy mạnh dạn đứng lên phản đối sự hiện diện của Tập Cận Bình; Kêu gọi đồng bào hải ngoại tổ chức, hoặc tham gia những cuộc biểu tình phản đối Tàu Cộng và Việt Cộng; tích cực tẩy chay hàng hóa Trung Cộng;
  • Kêu gọi các quốc gia tự do trên thế giới hãy có thái độ mạnh mẽ chống lại sự bành trướng của nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Kinh và hỗ trợ nhân dân Việt Nam đấu tranh giành Độc Lập Tự Do Dân Chủ cho Quê Hương Việt Nam.

 

Hoa Kỳ ngày 2 tháng 11 năm 2015

BS Võ Đình Hữu                                BS Đỗ Văn Hội                            Ô. Lưu Văn Tươi

CT Hội Đổng Đại Biểu                       CT Hội Đồng Chấp Hành             CT Hội Đồng Giám Sát

 

Hội Đồng Cố Vấn: Bs Trương Ngọc Tích – Đốc Sự Trần Xuân Thời – ĐT Nguyễn Xuân Sơn

Ô. Nguyễn Văn Tánh – GS Phạm Văn Thanh – KS Lê Hồng Thanh

Cố Vấn Hội Đồng Chấp Hành: Ông Nguyễn Trung Châu, Ô. Nguyễn Khắc Vinh, KS Đỗ Như Điện, Ô. Bùi Quang Lâm

Các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia:

CĐVN Arkansas, AR: Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh,

CĐVN Arizona, AZ; Chủ tịch: Ô. Đặng Thế Khương

CĐNVQG Bắc California: Ô. Phạm Hữu Sơn

CĐVN Southern California, CA; Chủ tịch: KS Trương Ngải Vinh

CĐNVQG Nam Cali; Chủ Tịch: NV Bùi Phát

 

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm  

CĐNVQG Sacramento, CA, Chủ tịch: Ô. Đỗ Thiện Thịnh

CĐNVQG Stockton, CA, Chủ Tịch: Ô. Nguyễn Hữu Hiến

CĐNVQG Charlotte, N. Carolina: Chủ Tịch Cô Nguyễn Thu Hương

CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  CT Ô. Võ Phương.

CĐNVQG Columbia, SC: CT Ông. Nghiệp Nguyễn

CĐNVQG Raleigh, NC: CT Ông Huyền Nguyễn

CĐNVQG Colorado, CO, Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Trọng Cường

CĐNVQG Connecticut, Chủ Tịch: Ô. Trần Văn Giỏi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu: Ô. Lê Thanh Liêm

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch: Ông Phạm Quốc Hưng

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch HĐĐD: Ô. Châu Ngọc An

CĐVN Tampa Bay, FL; Chủ tịch: Ô. Trần Công Thức

CĐVN Jacksonville, FL; Chủ tịch: Ô. Eric  Nguyễn

CĐVN South Florida, FL; Chủ tịch: KTS Nguyễn Đức Huy

CĐVN Pensacola, FL; Chủ tịch: Ô. Bùi Lý

CĐVN Georgia, GA, Chủ Tịch: Bà Đặng T. K. Hạnh

CĐNVQG Ilinois, IL, CT Ô. Lưu Toàn Trung

CĐNVQG Massachusetts, MA; Chủ tịch: Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn

CĐNVQG St Louis, MO; Chủ tịch: Ô. Cường Nguyễn

CĐNVQG South New Jersey, NJ; Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm

CĐNVQG New Hampshire, NH; Chủ Tịch: Ô. Lê Hà Dũng

CĐNVQG New Mexico, NM: Ô. Lương Thông,

CDVN New Jersey, NJ: Chủ Tịch: Bà Lê Ánh Nguyệt

CĐNVQG Minnesota, MN; Chủ tịch: Ô. Lê Đình Thăng

CĐNVQG Louisiana, LA; Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh

CĐNVQG New York, NY; Chủ tịch: LS Nguyễn Thanh Phong

CĐNVQG Oklahoma City, OK; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh

CĐNVQG Allentown, PA; Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo

CĐNVQG Philadelphia, PA; Chủ tịch: ô. Vũ Trực

CĐNVQG Pennsylvania, PA; Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm

CĐNVQG Pittsburgh, PA; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Hoa

CĐNVQG Lancaster, PA; Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan

CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA ; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh

CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải

CĐNVQG  TP Lebanon, PA; Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Hải

CĐNVQG TP York, PA ; Chủ tịch: Ô. Vũ Ngọc Hải 

CĐNVQG TP Easton/Bethlehem, PA.  Chủ Tịch: Ô. Đỗ Đức Chiến,

CDNVQG Nashville và Middle Tennessee, TN; Chủ Tich: Ô. Bùi Văn Kiệt

CĐNVTD West Tennessee; Chủ Tịch: Ông Đặng Q. Dũng

CĐNVQG Houston, TX; Chủ tịch: TT Trần Quốc Anh

CĐNVQG Dallas, TX; Chủ tịch: LS. Phạm Quang Hậu

CĐNVQG Utah, UT; Chủ Tịch: Ông Nguyễn Văn Thành

Danh sách các tổ chức và Cộng Đồng ủng hộ tuyên cáo sẽ được phổ biến sau.

Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, CT Đại Tá Nguyễn Văn Quí

Liên Hội Người Việt Canada, TTK: Ô. Trần văn Đông

CĐVN DC/Maryland/Virginia, CT Ông Đoàn Hữu Định, Đồng CT: Ô. Thomas Phạm.

CĐNVQG Lausane, Thụy Sĩ – CT Ô. Trần Xuân Sơn

CĐNVQG Tacoma và Pierce County, Wa, CT: BS Nguyễn Xuân Dũng

Hội Cao Niên Tacoma và Vùng Phụ Cận: Pht Ông Trần Minh

Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Vùng Hoa Thịnh Đốn, CT: Dr. Tạ Cự Hải

Thẳng Tiến Việt Nam: Đại diện: Nguyễn Sơn Hà, Thái Thanh Thuy

CĐ Người Mỹ Gốc Việt Sacramento, CA

Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn CS tại Đức Quốc, CT: BS Hoàng thị Mỹ Lâm.

 

(xin liên lạc với chúng tôi để bổ túc danh sách)

Thông Cáo Báo Chí: Kết Quả Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Thursday, October 29th, 2015

HoiNghiLienKet_Banner2 (1)

ỦY BAN VẬN ĐỘNG
HỘI NGHỊ LIÊN KẾT NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HẢI NGOẠI
 THÔNG CÁO BÁO CHÍ

Về Kết Quả Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại
Hoa Thịnh Đốn, 12 tháng 10, 2015 – Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại được tổ chức trong hai ngày 11 và 12 tháng 10 năm 2015 tại khách sạn Courtyard Marriott, Fairfax, VA đã đạt kết quả tốt đẹp.​

​Lễ khai mạc diễn ra lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật 11 tháng 10 năm 2015 với sự hiện diện của đại diện Cộng Đồng từ các tiểu bang và thành phố Hoa Kỳ, Cộng Đồng Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn, Cộng Đồng Ngưởi Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ (*), Liên Hội Người Việt từ Canada (Ô. Trần Đông, TTK). Về phía tôn giáo có sự hiện diện của Hội Thánh Em Cao Đài Hải Ngoại (đại diện: Ô. Sinh Cẩm Minh), Phật Giáo Hòa Hảo (Ô. Huỳnh Hiệp đại diện), Tin Lành (Mục Sư Ngô Đắc Lũy), Phật Giáo, Công Giáo. Từ quốc nội, LM Phan Văn Lợi, HT Thích Không Tánh đã gửi lời chúc mừng Hội Nghị qua băng ghi âm và thu hình. Từ Úc Châu, LS Võ Trí Dũng, chủ tịch Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu qua âm thanh đã gửi lời chúc mừng Hội Nghị. Nhiều đại diện đoàn thể hiện diện như Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam (Ô. Nguyễn Trung Châu), Tập Hợp Vì Dân Chủ (BS Nguyễn Quốc Quân), Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (DS Nguyễn Mậu Trinh), hoặc từ xa gửi điện thư chúc mừng như Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải (Ô. Phạm Hồng Lam), Hội Nghị Diên Hồng Thời Đại (Ô. Phạm Trần Anh), Khối 8406 Hải Ngoại (Ô. Nguyễn Chính Kết), Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, Giáo Hội VNTN Hải Ngoại (HT Thích Huyền Việt từ Houston) v.v… cùng nhiều Hội Đoàn tại địa phương. Về phía đảng phái có Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Đại Việt, Liên Minh Dân Chủ… Nhiều cựu quân dân cán chính VNCH, nhân sĩ từ xa đến hoặc tại địa phương hiện diện, đặc biệt có cựu Tổng Trưởng Dân Vận Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã, Bà Nam Anh, cựu Giám Đốc đài VNHN, Ông Phan Lương Quang, cựu Tổng Cuộc Trưởng Tổng Cuộc Du Lịch, Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Bà Jackie Bông (phu nhân của Cố Giáo Sư Nguyễn Văn Bông), LS Lâm Chánh Thọ từ Montreal Canada, TS Hồ Văn Di Hấn, Cụ Phạm Ngọc Lũy (thuyền trưởng tàu Trường Xuân), Nhân Sĩ Paul Van, Ông Lê Vinh, Ô. Phạm Đại Lộc, Ô. Lý Văn Phước, Ô. Trần Tử Thanh, Ô. Nguyễn Mậu Trinh và nhiều nhân sĩ khác. Ngoài ra còn có các phóng viên, ký giả, nhiếp ảnh gia, báo chí, truyền thanh truyền hình v.v..

Vào buổi chiều Hội nghị thảo luận sôi nổi trong ôn hòa và tinh thần đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau về nhu cầu, mục đích, nguyên tắc, đối tượng, hình thức tham dự, mô hình liên kết. Cuối cùng, Hội nghị đã bỏ phiếu thông qua mô hình liên kết B trong dự thảo đã phổ biến trước đây gồm hai cơ chế có sửa đổi:

khach san courtyard

Khách sạn Courtyard Marriott

nh-quankhach2

Quan khách

nh-hoithao

Thảo luận

ban dieu hop hnlk

Chủ tọa đoàn

1-      Ủy Ban Vận Động Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại (gọi tắt: Ủy Ban Vận Động Liên Kết) gồm tất cả các đại biểu hiện diện và sẽ được mở rộng để các Cộng Đồng, Tổ Chức, Nhân Sĩ có thể tham gia bất cứ  lúc nào.

2-      Ban Liên Lạc và Phối Hợp gồm 5 thành viên có nhiệm vụ liên lạc với các Cộng Đồng, Tổ Chức người Việt khắp nơi, vận động tham gia để cùng nhau tổ chức một Đại Hội Liên Kết trong vòng 1 năm, đồng thời phối hợp các công tác khi cần thiết. Nhiệm kỳ của Ban Liên Lạc và Phối Hợp là 1 năm.

Về nhân sự, Hội Nghị đã bầu ra 5 thành viên của Ban Liên Lạc và Phối Hợp theo thể thức đơn danh, trực tiếp và kín, kết quả như sau:

Ban LL-PH

​Ban Liên Lạc Và Phối Hợp

Từ trái sang phải: Ông Trần Đông – BS Đỗ Văn Hội – BS Nguyễn Quyền Tài – BS Nguyễn Thế Bình – Cô Phạm Thu Thảo

1-      Trưởng Ban: BS Nguyễn Quyền Tài, Giáo Sư khoa Giải Phẫu Thần Kinh Đại Học University of Floria, cựu Chủ Tịch Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, cựu chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Jacksonville, sáng lập viên CĐVN Florida, thành viên sáng lập và nguyên chủ tịch Hội Y Nha Dược Sĩ Việt Nam tại Florida…

2-      Phó Trưởng Ban Nội Vụ: BS Đỗ Văn Hội, nguyên chủ tịch CĐVN Trung Tâm Florida, nguyên chủ tịch Hội Đồng Đại Biểu CĐVN Florida, đương kim Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ…

3-      Phó Ban Ngoại Vụ: BS Nguyễn Thể Bình, Giám Đốc tổ chức Human Rights For Vietnam PAC, từng tham gia nhiều cuộc vận động nhân quyền tại Văn Phòng Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ở Geneve, New York, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Âu Châu v.v…

4-      Ông Trần Đông, đương kim Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada

5-      Cô Phạm Thu Thảo, ủy viên Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và phụ cận.

Qua ngày thứ hai 12 tháng 10, 2015, Hội Nghị thảo luận về công tác của Ban Liên Lạc và Phối Hợp tổng quát với 4 nhiệm vụ  chính như sau:

1-      Củng cố và kiện toàn Ban Liên Lạc và Phối Hợp. Thành lập các tiểu ban chuyên môn cần thiết.

2-      Liên lạc, mời gọi các Cộng Đồng, Tổ Chức, Nhân Sĩ và Đồng Hương tại hải ngoại tham gia vào Ủy Ban Vận Động Liên Kết để chuẩn bị tổ chức Đại Hội Liên Kết trong vòng 1 năm.

3-      Khuyến khích giới trẻ tham gia các sinh hoạt phục vụ Cộng Đồng và liên kết các giới trẻ tại hải ngoại.

4-      Mở rộng thông tin về tiến trình liên kết đến cộng đồng tại hải ngoại và thông báo tin tức vào quốc nội.

Ngoài ra, tùy hoàn cảnh đòi hỏi, Ban LL/PH sẽ cùng phối hợp với cộng đồng các châu lục, địa phương trong các công tác tranh đấu đòi nhân quyền, Tự Do Tôn Giáo và các quyền tự do căn bản khác cho 90 triệu đồng bào quốc nội; vận động trả tự do tất cả tù nhân lương tâm, tù chính trị, dân oan vị áp bức; hỗ trợ các phong trào tranh đấu cho sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam; lên tiếng về các vấn đề liên quan đến sự bành trướng của Trung Cộng tại Biển Đông.

Trước khi bế mạc, Ủy Ban Vận Động đã trao bằng khen đến các anh chị em đã tích cực đóng góp công sức để Hội Nghị đạt được thành công.

Một cuộc họp báo ngắn tường trình kết quả của Hội Nghị và giới thiệu thành phần của Ban Liên Lạc và Phối Hợp.

Bản tường trình chi tiết sẽ được phổ biến sau.

Ban Tổ Chức.

Đoàn Hữu Định: 703-475-6186

Đỗ Văn Hội: 407-234-3596

Nguyễn Văn Tánh: 347-481-8283

 

Một vài video về Hội Nghị Liên Kết

phỏng vấn tìm hiểu hội nghị liên kết người việt quốc gia hải …

www.youtube.com/watch?v=VDF1bP5d8cU

Hội nghị Liên kết Người Việt Quốc Gia Hải ngoại – YouTube

(*) Danh sách CĐNVQG / Liện Bang Hoa Kỳ:

Thư Ngỏ của Ban Liên Lạc và Phối Hợp Vận Động Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

………………..

Tags: đoàn kết, hải ngoại, hội đoàn, Liên Bang Hoa Kỳ, liên kết, Liên Lạc,Phối Hợp, tưởng niệm, Ủy Ban

Nhà báo Bùi Tín đã giác ngộ và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN

Thursday, October 29th, 2015

Nhà báo Bùi Tín và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN mà ông là cựu đại tá bộ độ “Cụ hồ”(Thay một lời trăng trối gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)

Tác giả: Bùi Tín

Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là “sao mà ngu lâu thế!”, nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.

Năm nay tôi tự làm “cuộc kỷ niệm” độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người – gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

Giác ngộ là hai chữ tôi nghe rất nhiều lần khi được tuyên truyền về Đảng CS, về chủ nghĩa CS. Các vị đàn anh giải thích con người tốt phải là con người giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là nhận ra lý tưởng cho cuộc đời minh. Tuổi trẻ cần có lý tưởng, hiểu rõ con đường cần chọn, hiểu rõ tổ chức cần tham gia, không bỏ phí cuộc đời minh. Đó là con đường Cộng Sản, dẫn đến độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân, họ rao giảng triền miên như thế, chúng tôi cũng cả tin là thế thật.

Theo học các chương trinh và lớp học cho đảng viên mới, cho cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp của đảng, bao giờ giảng viên cũng nhắc đến hai chữ giác ngộ. Học, học nữa, học mãi để nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ của mỗi người. Đảng viên phải có trình độ giác ngộ cao hơn quần chúng ngoài đảng. Đảng viên mới luôn được học kỹ tấm gương của anh thanh niên Lý Tự Trọng, với nét nổi bật nhất là giác ngộ CS từ tuổi thiếu niên, rồi biết bao tấm gương của những chiến sỹ CS ưu tú, bất khuất trong các nhà tù thực dân ở Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum…giác ngộ cách mang cao, nhà tù, máy chém không nao núng, biến nhà tù thành trường học nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bất khuất, kiên cường.

Trong các bản khai lý lịch cá nhân, mỗi đảng viên thường kể lại bản thân mình được giác ngộ ra sao, được ai giác ngộ, giác ngộ đến mức nào, và luôn kết luận với lời hứa không ngừng học tập, tu luyện, tự phê bình và phê bình để không ngừng nâng cao trinh độ giác ngộ của bản thân.

Tôi kể ra như thế để thấy hai chữ giác ngộ có tác dụng sâu sắc ra sao đối với mỗi đảng viên CS. Hai mươi nhăm năm nay, tôi hồi tưởng lại quãng đời 44 năm là đảng viên CS, theo dõi chặt chẽ thời cuộc hằng ngày trong nước và thế giới, tôi không khỏi cảm thấy chua chát và cay đắng về hai chữ giác ngộ.

Giác ngộ hình như là một chữ Đảng CS mượn của Đạo Phật. “Giác” là nhận thấy, cảm nhận, thấy rõ, “ngộ” là tỉnh ra, nhận ra lẽ phải, chân lý để làm theo.

Sau khi là con người tự do, là nhà báo tự do, kết thân với nhiều nhà báo tự do của thế giới, các nhà báo tự do Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Ba Lan, Tiệp…, tôi tìm đọc các kho tư liệu lưu trữ quý ở Paris, Moscow, London, Washington… rồi suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, của riêng mình, không sùng bái bất cứ một người hay một học thuyết nào. Từ đó tôi giác ngộ không biết bao nhiêu điều mới mẻ, và lần này tôi thật sự có cảm giác sâu sắc về hạnh phúc tinh thần tiếp cận được ngày càng nhiều sự thật, lẽ phải, chân lý. Tôi đã tự giác ngộ mình.

Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác.

Như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản kiểu mác-xít đều là những học thuyết chủ quan, lầm lẫn, hoàn toàn nguy hại trong thực tế, cổ xuý đấu tranh giai cấp cực đoan và bạo lực, đi đến chiến tranh, khủng bố, đổ máu, hận thù. Giữa thủ đô Washington, tôi cùng anh Cù Huy Hà Vũ đã viếng Tượng đài Kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, trong đó có hàng triệu nạn nhân đồng bào Việt ta. Tượng đài nhắn nhủ toàn nhân loại hay cảnh giác với chủ nghĩa CS, tai họa của toàn thế giới.

Tháng 5/2015, Tổng thống Ukraine, một nước cộng sản cũ, đã ký Luật cấm tuyên truyền về chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như trong thời kỳ trong Liên bang Xô Viết từ 1917 đến 1991, coi đó là thời kỳ bi thảm, sai lầm và Tội Ác. Các tượng đài, di tích thời kỳ ấy đều bị phá bỏ. Các sự kiện ấy giúp tôi khẳng định việc thoát đảng CS của tôi là chuẩn xác và giúp tôi thấy Dự thảo văn kiện sẽ đưa ra Đại hội XII sắp đến là lạc hậu, lẩm cẩm và cực kỳ nguy hại cho đất nước, cho nhân dân, cho chính Đảng CS ra sao.

Tôi không thể hiểu vì sao, sau khi Giáo sư Trần Phương, từng là Phó Thủ tướng, là uỷ viên Trung ương Đảng, đã chứng minh rành mạch rằng chủ nghĩa Mác, Lênin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS đều là ảo tưởng sai lầm, nguy hại, hay vì sao sau khi đương kim Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã công khai cho rằng: “Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tim cho mất công! “, vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ khẳng định trong văn kiện Đại hội XII rằng “kiên định chủ nghĩa Mác, Lênin, kiên định chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa CS là lập trường không thể thay đổi “, một thái độ ngoan cố, cổ hủ, tối tăm, buộc toàn đảng phải đi theo sự lẩm cẩm dai đẳng nguy hại của minh.

Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật.
Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của minh. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

Mới đây, có 2 sự kiện minh họa rõ thêm bản chất con người thật HCM. Nhà báo Trần Đĩnh từng gần gũi ông Hồ kể lại ông từng cho rằng không thể giết bà Năm – Cát Hanh Long để mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất, bà lại là ân nhân của đảng CS, – ông còn văn hoa nói: “Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa”. Vậy mà theo Trần Đĩnh, chính ông Hồ đã viết bản Cáo trạng kết án Bà Năm: “Địa chủ ác ghê”, ký tên CB (của Bác- Bác Hồ) trên báo Nhân Dân của Đảng. Cũng theo Trần Đĩnh, ông Hồ đã cải trang, mang kính râm đích thân đến dự cuộc xử bắn bà Năm.

Vậy ông Hồ là con người thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, lá mặt lá trái, tử tế hay không tử tế? đạo đức hay vô đạo đức?

Nhà triết học uyên bác bậc nhất nước ta Trần Đức Thảo trước khi từ giã cõi trần đã kể trong cuốn Những lời trăng trối (do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ghi âm) rằng ông đã gặp ông Hồ, quan sát, nghiên cứu sâu về tư tưởng, hành vi, đạo đức của ông Hồ, và đi đến kết luận vững chắc rằng ông Hồ là “con Người muôn mặt, lắm mưu mô, nhiều tham vọng quyền lực, nhiều điều bí hiểm, lắm tên nhiều họ, ẩn hiện khôn lường, lắm vợ, nhiều con, rất phức tạp”, là một “Tào Tháo của muôn đời”.

Ông Trần Đức Thảo cho rằng đảng CS kêu gọi cả nước học tập đạo đức HCM, vậy là muốn biến cả nước thành Tào Tháo hết cả ư!
Thế thật thì nguy cho dân tộc ta quá ! Ý kiến của nhà triết học này thật thỏa đáng.

Tôi có nhiều lý do để quí trọng ông Hồ. Tôi từng gặp ông khá nhiều lần, khi là phóng viên thời sự quốc tế, vào Dinh Chủ tịch dự chiêu đãi ông Lưu Thiếu Kỳ, ông Alexei Kosigyn hay các nhà báo Pháp, Nga, Trung Quốc. Năm 1957 khi ông vào Vinh thăm bộ đội Quân khu IV tôi được giao chuẩn bị bài nói chuyện của ông trước cán bộ quân khu, khen ngợi thành tích giúp dân gặt lúa, chống bão, lụt và diễn tập ở giới tuyến, ông liếc qua bản viết, khen đãi bôi: “Chú văn hay chữ tốt nhỉ!” rồi đút vào túi. Hơn nữa, cha tôi có quan hệ mật thiết với ông Hồ. Ông từng ngỏ lời mời cha tôi ra tham chính từ những ngày đầu Cách mang tháng Tám. Cha tôi lưỡng lự, do quan niệm Nho giáo “Trung thần không theo hai Vua”, nhưng ông Hồ vẫn cử ông Bộ trưởng Tư pháp Vũ Trọng Khánh, rồi ông Vũ Đình Huỳnh mang thư riêng đến. Chính ông Hồ đề cử cha tôi thay Cụ Nguyễn Văn Tố làm nhiệm vụ Chủ tịch Quốc hội sau khi Cụ Tố bị lính Pháp bắn chết. Nhưng tôi không thể vì những chuyện riêng tư ấy mà làm sai lạc sự đánh giá công bằng, khách quan, chuẩn xác của chính mình.

Không một học thuyết nào, không một cá nhân lãnh tụ nào có thể được đặt trên dân tộc và nhân dân. Do yêu nước thật lòng, thương đồng bào Việt mình thật lòng nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận dứt khoát, sòng phẳng rằng ông HCM là một nhân vật tiêu cực trong lịch sử VN. Ông có phần trách nhiệm lớn làm cho đất nước lâm vào chiến tranh, do ông chọn con đường CS của Đệ Tam Quốc tế nên mới bị thế giới Dân chủ sớm đặt VN ta trong Chiến lược Be bờ ngăn chặn CNCS (Containment of Communism Strategy). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông dựng lên thật ra không phải là chế độ dân chủ, mà còn là chế độ độc đoán toàn trị do đảng CS độc quyền cai trị, đến nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, tự do ứng cử và bầu cử, tự do xuất nhập cảnh, tự do tôn giáo, không thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh, đảng CS nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn thêm quyền thứ tư là ngôn quyền.

Các tổ chức xã hội dân sự tự phát đang lớn mạnh cùng các nhà dân chủ từ lão thành đến trẻ tuổi đang cùng các cựu đảng viên CS đã thoát đảng tự đặt cho mình nghĩa vụ trước Dân tộc và Lịch Sử chung sức mở ra Kỷ Nguyên Dân chủ và Tự Do cho nước Việt Nam ta.

Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các đảng viên CS nhân các cuộc họp Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ, đảng bộ cơ sở đến Đại Hội toàn quốc hãy thắp sáng lên ngọn đèn Giác ngộ mới mẻ, manh dạn xoá bỏ những điều giác ngộ cũ kỹ, lạc hậu, giáo điều, lẩm cẩm, mê muội rất có hại, như kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mác-xít, sùng bái nhân vật HCM, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng lạc lõng, tệ hại.

Đó chính là sự giác ngộ cần thiết cấp bách hiện nay. Trong các cuộc họp bàn, góp ý vào các văn kiện dự thảo, chớ bị lừa dối khi nghe lãnh đạo tuyên truyền rằng các văn kiện đã tiếp thu hàng triệu ý kiến xây dựng, đã được nhất trí cao, không cần bổ sung, sửa chữa gì nhiêu, “do kẻ xấu và bọn phản động xúi giục”. Cần nhận rõ nội dung các văn kiện mới là điều kiện sinh tử của đảng, quan trọng hơn vấn đề nhân sự nhiều, vì vận mệnh đất nước, quyền lợi của toàn dân phụ thuộc vào học thuyết chính trị, vào đường lối đối nội, đối ngoại, vào các quốc sách chính trị, kinh tế tài chính, đối ngoại, xã hội và văn hoá đạo đức. Kiên quyết từ bỏ, gột rửa những điều giác ngộ cũ, nhận rõ đó chỉ là những học thuyết sai lầm tệ hại trong thực tế cuộc sống, những tà thuyết đã bị thế giới nhận diện, lên án, loại bỏ, ta không có một lý do nào để gắn bó, quyến luyến, tiếc thương.

Xin các bạn chớ sợ mình đơn độc, thiểu số trong các cuộc họp. Chân lý ban đầu bao giờ cũng là thế. Các bạn chính là những hạt kim cương trong khối quặng đen. Hãy dũng cảm thắp lên ngọn đèn giác ngộ mới, tiên tiến. Các bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc sâu lắng khi dần dần chính kiến của bạn được lan tỏa trở thành chân lý, sự giác ngộ của số đông.

Buổi tâm sự về hai chữ giác ngộ xin tạm ngừng ở đây, mong có ích trong khêu gợi những ý kiến mới mẻ trong tư duy của các bạn về hiện tình đất nước, về con đường cần chọn cho dân tộc, cho Quê hương, để đất nước phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mỗi công dân, mỗi gia đình chung hưởng.

Bùi Tín, VOAs Blog

Tái bút: Xin đề nghị các mạng blog tự do, lề trái, và bạn đọc có điều kiện nhân bản bài viết này và gửi cho các đảng viên CS quen biết, nhân Đại hội Đảng các cấp thảo luận các văn kiện dự thảo cho Đại Hội Đảng Toàn quốc lần thứ XII đầu năm 2016. Xin đa tạ. B.T

Tuyên Cáo chống Tập Cẩm Bình Đến Hoa Kỳ

Tuesday, September 22nd, 2015

Xin ký tên vào ô bên tay phải ——->

*

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA TẠI HẢI NGOẠI

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

______________________________________________________

TUYÊN CÁO

NHÂN DỊP TẬP CẨM BÌNH VIẾNG THĂM HOA KỲ

Chủ tịch Trung Cộng Tập Cẩm Bình sẽ viếng thăm Hoa Kỳ từ ngày 22 đến 28 tháng 9 năm 2015 và sẽ được Tổng Thống Obama tiếp đón vào ngày 25/9/2015.

Theo thông cáo báo chí từ tòa Bạch Ốc: “cuộc viếng thăm này là đáp lại việc Tổng Thống Obama đến thăm Trung Cộng tháng 11 năm 2014.  Cuộc thăm viếng của Tập Cẩm Bình sẽ tạo cơ hội mở rộng sự hợp tác Mỹ – Trung trên cấp độ toàn cầu, cấp vùng và những vấn đề lợi ích hỗ tương, đồng thời hai vị sẽ nêu lên những bất đồng một cách xây dựng.  Tổng Thống và bà Obama sẽ khoản đãi Tập Cập Bình và phu nhân vào tối 25 tháng 9.”

Xét rằng: Nhà cầm quyền TC đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng như sau:

  • Vi phạm nhân quyền trầm trọng đối với dân tộc Trung Hoa, nhất là giáo phái Pháp Luân Công; tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân;
  • Đàn áp các dân tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Nội Mông…
  • Chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng trong đó có Việt Nam;
  • Tự tuyên bố chủ quyền 80% vùng Biển Đông; xâm lăng bất hợp pháp các đảo và hải phận Biển Đông; xây các đảo nhân tạo và 3 đường bay bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây ra thảm họa môi trường và nguy cơ bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Tấn công và ăn cắp các dữ kiện bí mật thương mại và cá nhân của Hoa Kỳ gây ra tổn thất nghiêm trọng về kinh tế và nền an ninh của Hoa Kỳ;
  • Lấn chiếm đất đai của Việt Nam với sự tiếp tay của đảng Cộng Sản Việt Nam; gây tác hại trên nhiều lãnh vực như kinh tế, môi trường, xã hội, văn hóa… đe dọa sự tồn vong của Việt Nam.
  • Chính phủ của Tổng Thống Obama đã áp dụng một chính sách không đủ mạnh trước nguy cơ bành trướng và mối đe dọa của Trung Cộng đối với quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và các nước khác.

Vì thế, người Việt Nam trên toàn thế giới long trọng:

Tuyên Cáo

  • Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận quốc tế những vi phạm nhân quyền và mưu đồ bành trướng của Trung Cộng;
  • Thỉnh cầu Tổng Thống Obama và các quốc gia tự do cần có thái độ cương quyết để bảo vệ nền dân chủ cho Trung Hoa; quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và toàn thế giới.

Hoa Kỳ ngày 25 thán 9, 2015

Đại Diện các Cộng Đồng, Đoàn Thể, Tổ Chức:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

 

VIETNAMESE COMMUNITY OVERSEAS

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

____________________________________________________________________

 

DECLARATION

ON THE CHINESE PRESIDENT XI JINPING’S VISIT TO THE UNITED STATES

Chinese President Xi Jinping will visit to the US from September 22nd to 28th, 2015 and will be hosted by President Obama on September 25th, 2015.

According to the White House Press release, this visit “reciprocates President Obama’s State Visit to China in November 2014. President Xi’s visit will present an opportunity to expand U.S.-China cooperation on a range of global, regional, and bilateral issues of mutual interest, while also enabling President Obama and President Xi to address areas of disagreement constructively. The President and Mrs. Obama will host President Xi and Madame Peng Liyuan at an official State Dinner on the evening of September 25.”

Whereas, The Chinese Administration had implemented erroneous activities as listed below:

  1. Serious violation of the Human Rights against the people of China, especially to Falun Gong group, and deprivation of all basic rights from the people;
  2. Suppression of Tibetan, the Uighurs at Xinjiang, and he Inner Mongolian etc..
  3. Endless expansion with negative effects to the neighbor countries including Vietnam;
  1. Self-declaration of sovereignty of 80% of East Seas (South China Sea); illegal invasion of the East Sea islands and waters; construction of artificial islands and three airports regardless international law and condemnation; causing environmental disasters and instability for the Southeast Asia and Asia-Pacific regions;
  1. Cyber-attack and stealing business and personal confidential data that causes serious damage to the U.S economy and poses major threat to the U.S. homeland security.
  2. Land encroachment of Vietnam with the support of The Vietnamese Communist Party that caused adverse effect in many areas such as land, economy, social, culture, etc…, and threatened the existence of Vietnam as an independent country.
  3. The Obama Administration has enforced a weak policy against the aforementioned illegal expansion and China’s threat to the fundamental rights and national security of America and foreign countries.

Therefore, the Vietnamese community overseas solemnly declared:

  • We, vehemently denounce and condemn to the world the Chinese  serious human rights violations and illegal expansion;
  • We, supplicate President Obama and all democratic countries to take strong actions to protect the freedom, democracy, fundamental rights for Chinese people and safety for the U.S and the other countries.

 

Washington DC, September 22nd , 2015

Representatives of Communities, Organizations:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    106-Quoi Nguyen, Jacksonville, Florida, USA.

    107- Tri dang, Toronto, ont, Canada.

    108- D.Q. Nguyen, Oklahoma city, OK, USA

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

Một chút lịch sử gửi tuổi trẻ Việt Nam: Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ – Tự Do Rồi

Tuesday, September 15th, 2015

Phạm Cao Dương – Nhân dịp đầu năm Ất Mùi – 2015, một chút lịch sử gửi tuổi trẻ Việt Nam: Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ – Tự Do Rồi

Thứ Năm, ngày 22 tháng 1 năm 2015

Hoàng Ðế Bảo Ðại
Do sự phức tạp của thời thế và sự nóng nảy muốn giành độc lập nhất thời của chính người Việt, lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đã không những không biến chuyển như mọi người  mong muốn mà còn đầy rẫy những ngộ nhận, từ đó oan khuất cần phải được giải toả và làm sáng tỏ. Đây là một việc làm vô cùng khó khăn mà một cá nhân khó có thể làm nổi. Tuy nhiên, tuy gọi là khó nhưng những người quan tâm và hiểu biết ít nhiều vẫn phải làm để sau này sẽ có người tiếp tục và điều chỉnh. Vì là một khoa học, sử học luôn luôn tiến bộ. Những gì gọi là đúng ngày hôm nay có thể sẽ cần phải được ít ra là điều chỉnh và bổ khuyết ngày mai, không có gì gọi là chân lý vĩnh cửu trong môn học này. Người học sử không thể chủ quan nhất định điều mình nói, viết ra hay được học mãi mãi là đúng, là chân lý bất di bất dịch.


 
Trong bài này cũng như một số bài trước, người viết xin gửi tới các bạn đọc, đặc biệt là các nhà tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ, một vài nhận định về những gì Hoàng Đế Bảo Đại và vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập là nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim cùng với các bộ trưởng của ông, đã làm,  trong một thời gian ngắn ngủi hơn ba tháng của năm 1945, từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 6 tháng 8 năm 1945, để xây dựng một chính thể dân chủ lâu dài cho đất nước và ban hành các quyền tự do cho người dân từ cách nay ngót 70 năm bằng những đạo luật không phải là không  tiến bộ. Đây là một việc làm mà 70 năm sau với ít nhất ba thế hệ đã qua đi một cách uổng phí, với hàng triệu sinh mạng đã bị hi sinh cùng với máu và nước mắt của người dân lành vô tội, người ta vẫn chưa muốn làm hay chưa làm được.
 
Bốn bước tiến đã được Vua Bảo Đại thực hiện trong thời gian này gồm có:
Thứ nhất:  Ban hành dụ “Dân vi Quý”
Thứ hai:  Đích thân tham khảo ý kiến của các quan lại, các thân hào, nhân sĩ có uy tín để thành lập một chính phủ mới
Thứ ba:  Thành lập các hội đồng chuyên môn để mọi người có thể tham gia việc soạn thảo hiến pháp và các sinh hoạt quan trọng của quốc gia
Thứ tư:  Ban hành các đạo dụ liên quan đến các quyền tự do cơ bản của người dân
 
Sau đây là những chi tiết liên hệ tới bốn bước tiến kể trên:
 
Khẩu hiệu “Dân Vi Quý” của Hoàng Đế Bảo Đại
 
Đây là khẩu hiệu của vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn mà ai đã từng học sử Việt Nam đều biết và cũng là bước tiến đầu tiên của vị hoàng đế này trên đường thực hiện chế độ dân chủ của ông.  Khẩu hiệu này được trích dẫn từ sách Mạnh Tử, một trongTứ Thư của các Nhà Nho ta thời xưa[1], nguyên văn là “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là “Dân là quý, sau đó là xã tắc, vua là nhẹ”, được nhà vua chính thức đưa ra trong Dụ Số 1, mở đầu cho một giai đoạn mới trong triều đại của ông.  Dụ này được ban hành ngày 17 tháng 3 dương lịch năm 1945, nguyên văn như sau:
 
Dương Lịch ngày 17 tháng 3 năm 1945
 
Nước Nhật muốn hoàn toàn thực hiện chương trình sây nền thịnh vượng chung ở Đại-Đông-Á đã giải phóng cho nước Nam ta, và Trẫm tuyên bố Việt Nam độc lập rồi.
Nay Trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ lấy quyền lợi cho Tổ-quốc và giáng dụ rằng
1)      Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “DÂN VI QUÍ’
2)      Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.
3)      Trẫm sẽ tái định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân.
 
           Nhận định về đạo dụ này, Nguyễn Tường Phượng trong bài “Một Đạo Dụ, Một Chế Độ” đăng trên Tri Tân Tạp Chí số ra ngày 20 tháng 4 năm 1945, trên trang đầu, đã viết như sau:
 
           “Ba điều ban bố trên đáng ghi vào lịch sử xứ này, thật là trên thuận lòng giời, dưới đẹp lòng dân, quốc dân rất trông mong ở sự thi hành triệt để khác nào như đói mong ăn và khát mong uống vậy.
           “Nếu một khi nhà nước dùng được người tài, đức vẹn hai ra gánh vác, đảm đương những trọng trách, lại thêm vào đấy cái chính sách thân dân, thể tất đến dân nguyện thời nền tảng quốc gia xứ này có thể phục hưng.
           “Được như vậy, đạo dụ ngày 17 tháng ba đáng ghi vào trang đầu lịch sử của nước Việt-Nam độc lập.”
 
           Còn Luật Sư Bùi Tường Chiểu, trong bài “Đạo Dụ Số 1 Của Đức Bảo Đại Hoàng Đế” đăng trên Thanh Nghị, số 107, “Số Đặc-San Chính Trị”, ra ngày 5 tháng Năm 1945, cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của đạo dụ này. Ngay những dòng mở đầu ông viết:
 
           “Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này.”

rồi nhấn mạnh hơn đến ba chữ Dân Vi Quý, ông phân tích:
           “Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là đức Bảo-Đại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành.  Như thế là trong nền chính trị đức Bảo-Đại Hoàng-Đế đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới.”

           Cuối cùng đi xa hơn nữa, vị luật gia này còn nói tới hiến pháp. Ông viết:
           “Xong chúng ta có thể căn cứ vào điều thứ 3 của bản Dụ mà nói rằng đức Bảo-Đại sẽ tuyên bố các cơ quan chính trị mới mà trong câu cơ quan ấy sẽ có một cơ quan có quyền lập pháp. Muốn tổ chức một cách phân minh các cơ quan hành chính, lập pháp và tư pháp, tất nhiên phải có một đạo hiến-luật để ấn định rõ ràng những quyền hành của các cơ quan chính trị.”

           Đúng như vậy, Hoàng Đế Bảo Đại sau đó đã từng bước tiến hành những biện pháp mang tính cách dân chủ để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều. Sau đây là những nét chính của những nỗ lực này.

Đặt nền tảng cho việc xây dựng chế độ mới và sửa soạn cho những công trình tái dựng đất nước lâu dài (sửa lại chính thể và toàn bộ guồng máy chính quyền)
 
Đây là bước tiến thứ hai trong tiến trình xây dựng chế độ dân chủ bằng cách tạo dịp cho người dân mà đại diện là các nhân sĩ, trí thức và chuyên viên các ngành được tham gia việc nước, đồng thời thực hiện khẩu hiệu Dân Vi Quý của Hoàng Đế Bảo Đại.  Bước đầu tiên là việc Vua Bảo Đại tham khảo ý kiến các quan lại, trí thức nhằm thành lập chính phủ đầu tiên cho nước Việt Nam độc lập thay thế cho Nội Các Phạm Quỳnh đã từ chức.  Với bước tiến thứ hai, vào khoảng từ trung tuần tháng sáu đến thượng tuần tháng bảy, vừa nhằm chiêu dụ nhân tài, vừa nhằm tạo cơ hội cho người dân được góp phần vào việc đặt nền tảng và thiết lập các cơ chế căn bản cho mọi phạm vi sinh hoạt lâu dài của đất nước, bốn hội đồng đã được thành lập qua ba đạo dụ và một đạo sắc. Bốn hội đồng này gồm có:
 
Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp, do Phan Anh làm Thuyết Trình Viên gồm có các ông Phan Anh, Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hoè, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Huy Lai, Đặng Thái Mai, Vương Quang Nhường, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Văn Sâm, Nhượng Tống, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Thinh và Nguyễn Trác (Dụ số 60 ngày 7 tháng 7 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 7 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính, do Vũ Văn Hiền làm Thuyết Trình Viên, gồm có các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Ân, Trần Văn Chương, Phạm Khắc Hoè, Lê Quang Hộ, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoát, Trần Văn Lý, Trần Đình Nam, Nguyễn Khắc Niêm, Đặng Như Nhơn, Dương Tấn Tài, Nguyễn Hữu Tảo, Trịnh Đình Thảo và Phan Kế Toại (Dụ số 70 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 9 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Cải Cách Giáo dục, do Hoàng Xuân Hãn làm Thuyết Trình Viên, gồm có Bà Hoàng Thị Nga, các ông Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Kha Vạng Cân, Nguyên Văn Chi, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Thành Giung, Ngụy Như Kontum, Bùi Kỷ, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Quang Oánh, Ưng Quả, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Đạo Thúy và Nguyễn Xiển (Dụ số 71 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 10 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Thanh Niên. Hội Đồng này gồm có
Chủ Tịch: Hoàng Đạo Thúy
Phó Chủ Tịch: Trần Duy Hưng, Bắc Chi Bộ
Phó Chủ Tịch: Tạ Quang Bửu, Nam Chi Bộ
Cố Vấn Bắc Chi Bộ:  Bà Nguyễn Thị Thục Viên, các ông Nguyễn Xiển, Phạm Thành Vinh, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Xuân Phương, Trần Văn Quý, Phan Huy Quát, Ngụy Như Kon-tum, Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tường Bách.
Cố Vấn Nam Chi Bộ: Bà Nguyễn Đình Chi, các ông Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thủ, Tôn Quang  Phiệt, Kha Vạng Cân, Nguyễn Tư Vinh, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Kinh Chi và Thái Can (Sắc số 65 ngày 15 tháng 6 năm 1945)[2]
 
Khi đọc danh sách các hội viên được đề nghị tham gia các hội đồng kể trên để trình lên Hoàng Đế Bảo Đại phê duyệt, Phạm Khắc Hoè tỏ ý thắc mắc là có tên những người ông “chưa từng thấy bao giờ” nên đã hỏi Trần Trọng Kim và được Trần Trọng Kim cho biết là các danh sách này “đã được toàn thể Nội các và nhất là các ông bộ trưởng thuyết trình viên đồng ý cả rồi, tuy chưa hỏi được ý kiến của tất cả những người hữu quan, song chắc họ vui lòng nhận cả, vì lúc này ai mà chẳng sẵn sàng ra thờ vua giúp nước” và nói thêm “Vậy ông chịu khó xin Hoàng Đế phê chuẩn đi cho kịp thời, đừng nên hỏi đi hỏi lại nữa.”  Kết quả, theo lời Phạm Khắc Hoè, là“chỉ mấy phút sau, bốn dự thảo của nội các trở thành ba đạo dụ và một đạo sắc chính thức.”[3]  Những lời đối thoại này cho ta thấy tính cách hữu hiệu và làm việc chạy theo thời gian của Trần Trọng Kim và nội các của ông dù đó mới chỉ là ban hành được những đạo dụ hay đạo sắc để làm nền tảng pháp lý cho những bước kế tiếp trong tương lai.  Nó cũng nói lên tính cách hữu hiệu của chế độ quân chủ chuyên chế và sự tin tưởng của Hoàng Đế Bảo Đại vào vị thủ tướng và nội các đương thời, vì bình thường những quyết định liên hệ đến thể chế và những cơ chế tương lai trong một quốc gia  dân chủ bình thường không thể nào có thể thực hiện được trong vòng trên dưới hai tháng tính từ ngày Nội Các Trần Trọng Kim họp phiên họp đầu tiên, ngày 8 tháng 5, đến ngày 10 tháng 7,  ngày đạo dụ cuối cùng trong bốn đạo sắc dụ này được đệ trình, rồi được vị nguyên thủ quốc gia phê chuẩn trong có“mấy phút sau”.  Một thời gian kỷ lục.  Cũng nên để ý là các vị bộ trưởng được Trần Trọng Kim nói đến ở đây là Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Hiền và Bộ trưởng Giáo Dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn.   Cả ba, ngoài bằng cấp chuyên môn, đều là những chuyên viên hàng đầu của Việt Nam thời đó.   Họ là những người từ lâu đã tìm hiểu, nghiên cứu và viết những những bài tham khảo bàn về những lãnh vực riêng của mình và là những cây bút nòng cốt của tờ Thanh Nghị, một thứ “think tank” của chính phủ đương thời.   Đây cũng là dịp để họ thi thố tài năng và thực thi hoài bão mà từ lâu họ đã từng thai nghén.  Cũng nên nhớ là thành ngữ  “thờ vua giúp nước” cho đến thời điểm này vẫn chưa trở thành lạc hậu. Thế nhưng họ vẫn bị Phạm Khắc Hoè cản trở và mỉa mai. (Chú thích)
 
“Tuần lễ của các Tự Do”
 
Đây là sự ban hành một số những đạo dụ ấn định những nguyên tắc liên hệ đến các quyền tự do căn bản của người dân.  Ba đạo dụ sau đây đã được báo Thanh Nghị số 117, ra ngày 21 tháng Bảy năm 1945[4] ghi nhận theo thứ tự thời gian gồm có:
1.     Dụ số 73, ngày 26 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 5 tháng 7 dương lịch năm 1945 về tự do lập nghiệp đoàn.
2.     Dụ số 78, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do lập hội.
3.     Dụ số 79, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do hội họp.
 
Cả ba đạo dụ này đã được ban hành trong một thời gian ngắn là thượng tuần tháng bảy năm 1945 và Thanh Nghị đã gọi tuần  lễ này là “Tuần của các Tự Do.”
Về chi tiết, báo Thanh Nghị tóm tắt như sau:
 
Tự do lập hội: Từ nay phàm người công dân Việt Nam ai nấy đều có quyền lập những hội có mục đích chính trị, văn hóa, tôn giáo hay xã hội, ngoài những hội có mục đích kiếm lợi.   Chỉ cần mục đích của hội không trái với pháp luật, luân lý hoặc là có hại đến nền duy nhất và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.  Nhưng cần phải báo trước với nhà chức trách ít nhất là 30 ngày trước khi hoạt động
 
Muốn phân biệt các hội do đạo Dụ số 78 với các hội có mục đích kiếm lợi phải xét xem các hội viên có chia lãi cho nhau hay không?   Nếu chia lãi thì tất phải theo những luật lệ hiện hành về các hội buôn.
 
Nhiều người hội họp với nhau nhiều lần cũng lại không họp thành một hội vì không có điều lệ để hội viên theo.   Cho nên trong tờ khai phải đính theo cả bản điều lệ của hội mình định sáng lập.
 
Hội có thể tự giải tán (theo điều lệ hay theo ý muốn toàn thể hội viên) hay bị toà án giải tán, nếu mục đích trái với pháp luật, luân lý, hại tới quốc gia, nếu không khai báo cho đúng thể lệ (chưa kể những sự trừng phạt về tội hình những người có trách nhiệm).  Tài sản của hội khi đó sẽ phân phát theo điều lệ của hội, theo quyết định của đại hội đồng của hội hay theo lệnh của toà.
 
Có hai thứ hội: hội thường và hội được Hội Đồng Nội Các công nhận là một hội có ích lợi chung.   Hội thường có quyền tố tụng, thu nhập tiền đóng góp của hội viên, có quyền mua, quyền sở hữu và quản lý nhà hội quán, quản trị những bất động sản mà bộ Nội Vụ và Tài Chính cho phép mua.  Còn hội được chính quyền công nhận là có ích lợi chung thì ngoài những quyền này còn có quyền được nhận những tặng dữ.
 
Tự do hội họp: Người dân được quyền tự do hội họp nhưng Dụ số 72 phân biệt hai thứ hội họp là hội họp trong tư gia có tính cách gia đình hay lễ nghi và các hội họp ở những nơi công cộng.
 
Đối với các hội họp trong gia đình hay lễ nghi hay những hội họp của các hội tư nhóm họp trong tư gia với số người tham dự không quá 30 người, người triệu tập không cần phải khai báo. Các cuộc hội họp khác cũng được tự do nhưng phải khai báo với nhà chức trách.  Tất cả các cuộc hội họp ở các nơi công cộng như họp ở ngoài đượng phố, trong các công viên hay các thị xã đều phải xin phép trước. Giờ họp không được quá 12 giờ đêm trừ khi có phép riêng. Ngoài ra một nhân viên hành chánh hay tư pháp cũng có quyền tới dự.
 
Tự do lập nghiệp đoàn: Việc lập nghiệp đoàn cũng được coi như quyền tự do của người dân với những quy luật được ấn định trong Dụ số 73, theo đó, để tránh không cho những hội kiếm lợi giả danh làm nghiệp đoàn với mục tiêu trốn thuế, các nghiệp đoàn bị cấm không được chia lời cho các đoàn viên và khi giải tán thì của cải không được đem chia cho các đoàn viên.  Đồng thời để bảo vệ những người trong nghề, dụ này cấm không cho nghiệp đoàn cưỡng ép những người này  phải gia nhập hay bắt đoàn viên phải ở lại trong nghiệp đoàn vĩnh viễn nhưng ngược lại cho phép nghiệp đoàn được từ chối không nhận một người làm đoàn viên theo điều lệ của mình.  Mặt khác, nghiệp đoàn có tư cách pháp nhân trong việc bảo vệ các quyền lợi của mình, có quyền sở hữu các động sản hay bất động sản nếu xin phép, có quyền liên kết với nhau để thành lập các liên đoàn và về phía chính quyền, chính quyền có quyền cử nguời kiểm soát việc quản lý tài chánh của nghiệp đoàn hay liên đoàn.  Cuối cùng vì nghiệp đoàn là một tổ chức có thể dùng để tranh đấu nên người sáng lập bắt buộc phải có quốc tịch Việt Nam và phải ở trong nghề ít nhất một năm.
 
Vì ba đạo luật kể trên đã được ban hành trong thượng tuần tháng 7 năm 1945 nên tác giả của bài báo gợi ý gọi tuần lễ này là “Tuần Lễ Của Các Tự Do”.  Mặt khác nếu người ta theo dõi những cuộc hội họp của người dân ở cả hai miền Trung và Bắc đã diễn ra liên tiếp từ ngày 10 tháng 3, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, đặc biệt là ở Huế và Hà Nội với hàng vạn người tham dự một cách tự do, thoải mái, thì sự ban hành các đạo dụ này “đã làm hợp pháp một tình trạng riêng của các tỉnh ở Bắc Bộ Việt Nam vì từ  sau ngày 9 tháng 3 các hội, các đoàn mọc lên như nấm, các cuộc hội họp công khai tự do vô cùng”.[5]
 
Kết Luận
 
Tất cả các công trình lớn lao kể trên đã được Hoàng Đế Bảo Đại, Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn và trong một thời gian kỷ lục chưa tới ba tháng ngắn ngủi kể từ ngày 8 tháng 5 khi chính phủ này được trình diện đến ngày 6 tháng 8 năm 1945 khi chính phủ này từ chức và được Hoàng Đế Bảo Đại cho phép, ngắn hơn nữa nếu tính đến ngày 9 tháng 7, ngày các Dụ số 78 về Tự Do Lập Hội và số 79 về Tự Do Hội Họp được nhà vua chấp nhận. Đây là một phần của một cuộc cải cách rộng lớn hơn bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt đương thời, gọi theo Sử Gia Na Uy Stein Tonnesson là “từ trên xuống”, còn gọi theo Vũ Ngự Chiêu thì đó là một cuộc cách mạng cũng từ trên xuống: “cách mạng từ trên xuống”. Cả hai sử gia này đều có lý vì tính cách nhanh chóng ít ai có thể ngờ của nó. Câu hỏi được đặt ra ở đây là làm sao nó có thể xảy ra được trong một chế độ quân chủ chuyên chế đã từng tồn tại cả ngàn năm như vậy? Có ba sự kiện người ta có thể nghĩ tới để trả lời câu hỏi này. Đó là ý muốn của người cầm đầu hay đúng hơn vị nguyên thủ quốc gia, ước vọng và khả năng của những người lãnh nhiệm vụ thực hiện cuộc cải cách theo ý muốn của vị nguyên thủ quốc gia ấy và cuối cùng là sự đón nhận của dư luận đương thời. Cả ba sự kiện này Đế QuốcViệt Nam ở thời điểm đương thời đều có đủ. Từ Vua Bảo Đại đến Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng đều là những người được huấn luyện đầy đủ, có kiến thức và nhất là có thực tâm, tha thiết với nền độc lập và sự tiến bộ của nước nhà.  Điều đáng tiếc là biến cố 19 tháng 8 đã xảy ra, Việt Minh cướp chính quyền và tất cả đều đã bị dẹp bỏ, điển hình là ngày 22 tháng 9 năm 1945, 20 ngày sau khi tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ các nghiệp đoàn trong toàn cõi Việt Nam[6] và Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên Giáp ký NghịĐịnh ngày 14 tháng 9 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức trong khi cùng ngày lại ký một nghị định khác “cấp năng lực pháp luật”[7] cho hội “Văn Hoá Cứu Quốc Việt Nam” (Việt Minh)[8].  Cuối cùng thì sau 70 năm, cho đến tận ngày hôm nay khi bài này được viết, bất chấp mọi sự hy sinh, gian khổ, máu và nước mắt của hàng triệu đồng bào,Tự Do và Dân Chủ, Công Bằng và Bác Ái vẫn nguyên vẹn chỉ là niềm mơ ước hầu như còn lâu mới đạt được của người dân Việt.

Phạm Cao Dương
Viết để tưởng niệm các học giả Trần Trọng Kim,
Hoàng Xuân Hãn, những người đã góp phần xây
dựng nền giáo dục mới cho nước Việt Nam độc lập
và một thế hệ trí thức mới đã đứng ra làm việc nước
 




[1]Đoàn Trung Còn, dịch giả, Tứ Thư, Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Quyển Bảy, “Chương Sau: Tận Tâm”Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 2000, tr. 263.-  Nguyễn Đức Lân (dịch và chú giải),  Tứ
Thư Tập Chú, “Mạnh Tử, ChươngXIV, Tân Tâm, Chương Cú Hạ”. Hà nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 1999, tr. 1346.-  Nguyễn Hiến Lê, Mạnh Tử. Saigon: Cảo Thơm, 1975; Nhà Xuất Bản Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, Los Alamitos, CA, tr. 58. – Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng Trọn Bộ. Houston: Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm, tr. 463.-Bàn về khẩu hiệu này, Phạm Khắc Hoè, Ngự Tiền Tổng  Lý Văn Phòng của Vua Bảo Đại và là người thân Việt Minh nằm trong Đại Nội bên cạnh nhà vua cho là do một người nào đó “mớm” cho nhà vua chứ Bảo Đại không thể có ý tưởng đó được.   Nhận xét này nhiều phần không đúng nếu ta để ý tới căn bản giáo dục mà Bảo Đại nhận được xuyên qua Phụ Đạo Lê Nhữ Lâm từ hồi ông mới 6 tuổi rồi sau đó theo ông sang Pháp trong suốt thời gian ông ở Pháp để dạy ông về đạo làm vua theo truyền thống Việt Nam trong đó có Khổng Giáo, tiếp theo là những gì ông làm trong thời kỳ cải cách trước đó và những gì ông viết trong hồi ký sau này của ông.   Xem thêm Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1987, tr. 22-23.
[2]Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đình Huế…, dẫn trên, tr. 41-43.
[3]  – như trên -, tr. 41.
[4]Trong mục “Đời Sống Đông Dương qua bài báo nhan đề“Mấy Đạo Dụ về Tự Do”, tr. 23-25.
[5]- như trên-, tr. 25
[6]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, số  2, 6 Tháng Mười 1945, “Mục Lục Công Báo ngày 6 tháng 10 năm 1945”
[7]Tư cách pháp nhân
[8]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, dẫn trên.

 

Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Sunday, August 23rd, 2015

ỦY BAN VẬN ĐỘNG

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Email: lienketHN@gmail.com

________________________________________

 THÔNG BÁO 

Về Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại 

Kính gửi:

–          Quý vị Lãnh Đạo Tinh Thần các Tôn Giáo;

–          Quý vị Lãnh Đạo các Cộng Đồng, Tổ Chức Quân, Dân, Cán, Chính VNCH, các Tổ Chức Đảng Phái Chính Trị, Tổ chức dân sự Văn Hóa, Chính Trị, Truyền Thông, Nghề Nghiệp, Thương Mại, Tôn Giáo, Thanh Niên, Ái Hữu;

–          Quý vị Đồng Hương tại Hải Ngoại;

–          Và quý Đồng Bảo tại Quốc Nội (để kính thông báo)

Thưa quý vị,

Năm 2015 đánh dấu 40 năm Cộng Sản miền Bắc chiếm trọn miền Nam Việt Nam, áp đặt một chế độ độc tài toàn trị lên hai miền Nam Bắc. Cho đến ngày hôm nay, hơn 90 triệu đồng bào trong nước vẫn phải sống dưới ách kìm kẹp của đảng Cộng Sản trong khi thế giới đã thay đổi sâu rộng: Làn gió dân chủ lan tràn khắp toàn cầu; chủ nghĩa Cộng Sản đã cáo chung; các chế độ Cộng Sản tan rã khắp nơi chỉ còn tồn tại trong bất ổn định ở bốn Quốc gia trong đó có Việt Nam (Trung Cộng, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam).

Tại Quốc Nội, cuộc đấu tranh của đồng bào đòi tự do dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ ngày càng dâng cao bất chấp thường xuyên bị đàn áp, bắt bớ, giam cầm.

Họa xâm lăng Việt Nam từ phương Bắc đã thành hiện thực, nguy cơ mất nước đã đến gần.

Tại Hải Ngoại, trong 40 năm qua Người Việt tỵ nạn đã có nhiều nỗ lực kết hợp nhưng chưa thành công vì hoàn cảnh chưa thích hợp.  Ai cũng biết Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại cần có tiếng nói chung trước Quốc tế và cần có một tập thể vững mạnh để hỗ trợ hiệu quả cho cuộc đấu tranh của đồng bào quốc nội.

Vì thế nhu cầu kết hợp là cần thiết và cấp bách.

Chúng tôi gồm đại diện các Cộng Đồng, Tổ Chức, Đoàn Thể, Hội Đoàn, Nhân Sĩ trên thế giới đã gặp gỡ, trao đổi, nghiên cứu và vận động suốt một năm qua để tiến đến việc tổ chức một Hội Nghị Liên Kết nhằm thực hiện các mục tiêu nói trên.

MỤC ĐÍCH HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Mục đích của Hội Nghị nhằm kết hợp các Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại thành một cơ cấu Đại diện chính danh cho tiếng nói chung của người Việt tại hải ngoại nhắm hai mục tiêu: Đối phó với tình hình đất nước và; Thực hiện các công tác của người Việt ở nước ngoài.

Thành phần tham dự Hội Nghị bao gồm: các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, Canada, Á Châu v.v… đã được bầu ra hợp pháp và hoạt động bất vụ lợi; các Tổ chức và Đảng phái đấu tranh có lập trường Quốc gia rõ rệt; các Tổ chức cựu Quân nhân, Cảnh sát; các tổ chức dân sự như Tôn giáo, Văn hóa, Truyền thông, Nghề nghiệp, Thanh niên, Ái hữu v.v…

NGUYÊN TẮC LIÊN KẾT:

Để công tác liên kết thành công, chúng tôi xin đề ra những nguyên tắc căn bản như sau:

1-      Cộng Đồng địa phương là đơn vị căn bản trong Hội Nghị, tương tự như các quốc gia hội viên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Ban Đại Diện Cộng Đồng các Châu lục có thể đại diện cho Cộng Đồng địa phương (có giấy ủy quyền) nếu Địa phương không về dự được. Các tổ chức Tôn Giáo, Chính trị và Xã hội có thể cử đại diện tham dự.

2-      Có lập trường Quốc Gia không chấp nhận Chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản bất cứ dưới hình thức nào. Minh bạch không hòa hợp và hòa giải với Cộng Sản.

3-      Kết hợp trong tinh thần “vì quyền lợi tối thượng của Đất Nước, của Cộng Đồng, không vì quyền lợi cá nhân, tổ chức, đảng phái, tôn giáo hay giai tầng xã hội…”

4-      Mọi cá nhân tham dự trong các cơ cấu được thành lập phải phục vụ cho quyền lợi chung không vì quyền lợi riêng của Tổ chức mình đại diện.

5-      Gạt bỏ những tỵ hiềm cá nhân, tổ chức và đảng phái. Hợp tác chân thành, trong tinh thần tương thân tương ái, trao đổi hòa nhã, tôn trọng nguyên tắc dân chủ.

6-      Ứng dụng phương thức khoa học, thường xuyên liên lạc bằng những phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại viễn liên (teleconference calls), skype, paltalk, Webcam…

7-      Trong thời gian lâm thời 1 năm, Ủy Ban Liên Lạc Phối Hợp được Hội Nghị thành lập có nhiệm vụ thực hiện các công tác của Cộng Đồng hải ngoại. Ủy ban này có trách nhiệm tổ chức Đại Hội Liên Kết lần thứ II rộng lớn hơn sau 1 năm để thành lập Cơ cấu Đại diện duy nhất và thống nhất toàn cầu.

8-      Mọi điều đi ngược lại với những nguyên tắc này đều không được cứu xét.

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỀM TỔ CHỨC HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Hội Nghị được tổ chức trong 2 ngày:

11 và 12 tháng 10, 2015 (Chủ Nhật và Thứ Hai)

Tại Khách Sạn Courtyard Marriott – Dunn Loring Fairfax

2722 Gallows Rd, Vienna, VA 22180-7133 (703) 573-9555 

Lý do tổ chức tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ vì nơi đây được công nhận là Trung tâm quyền lực ảnh hưởng của Thế giới. Giá cả khách sạn, sinh hoạt phải chăng, lưu thông dễ dàng.

CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT HỘI NGHỊ:

* Chủ Nhật 11 tháng 10, 2015:

Sáng: 10:00 am – 12:00 pm. Lễ Khai mac

Chiều: Hội thảo các nguyên tắc, văn bản của Hội Nghị

Tối: Cơm thân mật hội ngộ.

* Thứ Hai 12 tháng 10, 2015:

Sáng: tiếp tục Hội Nghị, thành lập Ủy Ban Phối Hợp

Trưa: bế mạc

Cơm trưa – giới thiệu Ủy Ban Phối Hợp và các công tác trong tương lai.

Thư mời và chi tiết tham dự Hội Nghị sẽ được phổ biến và gửi đến quý vị sau.

Rất mong được toàn thể quý vị hưởng hứng, tham dự, góp ý kiến và hỗ trợ cho Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại được thành công.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 22 tháng 8, năm 2015

Thay mặt Ban Vận Động

BS Đỗ Văn Hội,                 Ô. Đoàn Hữu Định.         Ô. Nguyễn Văn Tánh

Chủ Tịch HĐCH                     Chủ Tịch                                 Cựu Chủ Tịch CĐNVQG HKỳ

CĐNVQG/ Liên Bang HKỳ   CĐVN DC. MD. VA.            Trưởng Ban Điều Hợp

Liên lạc:

LienketHN@gmail.com

BS Đỗ Văn Hội:         407-234-3596hoivando@gmail.com

Ô. Đoàn Hữu Định:    703-475-6186CongdongthudoHTD@gmail.com

Ô. Nguyễn Văn Tánh:       347-481-8283Tanhnguyen1947@yahoo.com

Mọi yểm trợ xin đề:

CDVN DC. MD, VA

Memo: Hội Nghị Liên Kết

Và gửi về:

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Declaration On the subject of removing neck strap and not allowing to display the yellow flag with three red stripes

Wednesday, August 12th, 2015

Declaration

On the subject of removing neck strap with yellow flag symbol and not allowing to display the yellow flag with three red stripes when Ambassador Ted Osius meeting with the Vietnamese American Communities.

During the meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese-American Communities in the Southern and Northern California last mid-July, a couple incidents have occurred that made the Vietnamese-Americans and other Vietnamese communities around the world quite discontented with.

Summary of incidents:

  1. In these meetings, the US Ambassador to Vietnam Ted Osius asked not to display the yellow flag with three red stripes in the hall because of “diplomatic reason” and his ambassadorial position. However he always wore on the pin showing 20th anniversary of diplomatic relations between (Communist) Vietnam – US containing Vietnam Communist flag, the flag that the Vietnamese refugees abroad does not recognize and that belongs to the Communist Party and does not represent the country and the people of Vietnam. The current communist authorities in Vietnam were not elected freely by the people. Also, they seriously violated human rights and other rights of their people.

2- In particular at the meeting in San Jose, besides not allowing display of yellow flag with three red stripes, the organizers also requested Miss Do Minh Ngoc to remove her neck strap made of yellow flag with three red stripes and the US flag.

  1. The organizers did not notify in advance that there will be no yellow flag with three red stripes allowed so that the people can decide whether to attend the meeting or not. The Vietnamese community was caught by surprise of such rule, and because of courtesy for the Ambassador, the meeting goers had reluctantly agreed to stay.

Whereas:

1. The town hall meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese Americans, presenting and acquiring opinions from the Vietnamese Americans are useful dialogue and appreciated by our community. However, unfortunately above mentioned incidents had offended the Vietnamese Community.

  1. Wearing a symbolic neck strap is the freedom of expression under the US Constitution and the International Covenant on Political Freedom and Civil Rights of the United Nations. Removing that symbol is an act of violations of human and civil rights and freedom of expression.
  2. The yellow flag with three red stripes symbolizes the “Heritage and Freedom” of the Vietnamese Americans that had been officially recognized by many cities, counties and states in America. Denying this symbol means going against the aspiration of the Vietnamese Community in the United States in particular, and against others in the world in general.
  3. Wearing a pin with the Communist flag when meeting with the Vietnamese people who once fled the Communists is an indelicate act; it could be seen as provocative to them.
  1. If because of diplomatic reasons and the duty that Ambassador must act like that, why his predecessors did not question about the yellow flag with three red stripes when meeting the Vietnamese American Community?
  2. The above incidents really offended the Vietnamese Community in the United States and throughout the world.

Therefore, the Federation of Vietnamese American Communities of the USA:

  1. Oppose the above incidents; withstand the US government if it does not allow its diplomatic officials to be photographed with Vietnamese Community with its traditional yellow flag with three red stripes.
  2. Request the authorities to investigate, publish and have appropriate discipline toward those who have instructed to remove the neck strap of Miss Do Minh Ngoc; and also to offer her a public apology.
  3. Recommend all the Vietnamese Communities should have necessary political attitudes toward any government or individual that:
  4. Advocate and assist the Communist regime and ignore the interest of over 90 million people in Vietnam that need freedom and democracy;
  5. Offend the symbol, the yellow flag with three red stripes, of the Vietnamese refugees abroad.

Executed in the United States on August 11, 2015

Huu Dinh Vo, M.D.: Chairman, Board of Representatives   Huu Dinh Vo
Hoi Van Do, M.D.: Chairman of the Executives                   Hoi Van Do
Thanh Van Pham, M.A: Chairman of Board of Supervisors Thanh Van Pham

Contact:

Dr. Hoi Van Do

Tel. 407-234-3596

Email: Hoivando@gmail.com

Tài liệu Trung Cộng về ý đồ chiếm quần đảo Trường Sa tại Biển Đông  

Tuesday, July 28th, 2015

 

QUẦN ĐẢO NAM SA*

*Gs Vũ Cao Đàm dịch (*theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo *“Trung quốc Binh khí Đại toàn”)*

DHVH13_Xe Hoa_BanDo

(Hình minh họa – Diễn hành Văn Hóa Quốc Tế chủ đề Hoàng Sa Trường Sa của VN)

*Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.*

* Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :*

*1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những  đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm,  khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.*

*2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.*

*3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.*

*4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.*

*5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.*

*6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.*

*7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.*

* 8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.*

*9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.*

 *10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công. Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.*

*Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng.

Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.*

*Trên lĩnh vực quân sự**, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải.*

* Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết.*

* Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng.*

*Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc.*

*Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.*

*Trên lĩnh vực chính trị**, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta.*

*Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh.*

* Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của
nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.*

*Trên lĩnh vực ngoại giao**, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. *

* Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.*

* Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”.*

 *Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm*

* “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipines, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc.*

* Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó. Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt.*

* Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối.*

* Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu tiên thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.*
Gs. Vũ Cao Đàm dịch
Nguồn: VQC

 

Lý Do Tẩy Chay Hàng Hóa Trung Cộng

Tuesday, July 28th, 2015

 

  • Hàng TC chứa nhiều chất độc hại, gây ung thư và các bệnh nguy hiểm khác. TC thường làm hàng nhái, hàng giả, hàng lậu, thiếu tính an toàn và lâu bền.
  • TC phá hoại các nền kinh tế thế giới nhất là những nước láng giềng như Việt Nam bằng hàng rẻ do sự bóc lột sức lao động của người dân TH. Hàng năm TC tống xuất hàng hóa dư thừa, cặn bã, hàng hết hạn hoặc hư hại gây tổn hại sức khỏe và phá hoại nền kinh tế của VN cũng như các nước khác.
  • Tiêu thụ hàng TC là giúp kinh tế TC phát triển, tức giúp TC gia tăng sự bành trướng và làm nguy hại nền kinh tế của Việt Nam và các nước khác.
  • TC là nước có khuynh hướng bành trướng lãnh thổ, lãnh hải, thôn tính các nước khác, hiếp đáp các nước nhỏ tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. TC tạo sự bất ổn cho vùng Đông Nam Á, vùng Á Châu Thái Bình Dương và toàn Thế Giới theo kế hoạch tầm ăn dâu và dùng tiền để mua chuộc.
  • TC bất chấp luật pháp quốc tế xâm chiếm Biển Đông, tuyên bố 90% Biển Đông thuộc chủ quyền của mình với đường lưỡi bò vô lý và bất hợp pháp, xây cất các đảo nhân tạo, gây hư hại môi trường sinh thái, gây hư hại các thuyền bè của ngư dân, biến Biển Đông thành ao nhà, dùng BĐ làm bàn đạp lấn chiếm và ngăn cản các hoạt động tại Biển Đông. TC sẽ thiết lập những vùng nhận dạng phòng không ADZ để  khống chế BĐ và toàn vùng.
  • Trung Hoa là kẻ thù truyển kiếp của dân tộc Việt Nam, từng xâm chiếm và đô hộ Việt Nam hàng ngàn năm, nay lại muốn chiếm nước ta dưới nhiều hình thức xuyên qua đảng CSVN.
  • TC là một nước độc tài toàn trị, bóp chẹt quyền tự do căn bản của người dân, chà đạp nhân quyền, tóm thu quyền lực và tài sản quốc gia vào tay đảng CSTC.
  • TC kiềm tỏa Việt Nam qua đảng CSVN qua hình thức chủ nghĩa độc tài toàn trị. TC lợi dụng đàn em là CSVN nhằm thôn tính dần dần và biến Việt Nam thành chư hầu hay một tỉnh.

HÃY TẨY CHAY VĂN HÓA TÀU CỘNG

Lý do:

  • Văn hóa Tàu gây trì trệ cho sự phát triển, tạo tính nhu nhược của người dân, người dân khiếp sợ trước cường quyền.
  • Tàu Cộng hiện là một nước Cộng Sản, văn hóa nhiễm đặc tính mác xít, độc tôn, độc tài, tàn ác, gian dối. TC một phần dựa vào Tây Phương nên phát triển kinh tế, nhưng nền kinh tế vẫn không có tính bền vững, không thông thoáng, vẩn còn bị nhà nước chỉ đạo và không phục vụ người dân.
  • TC vẫn bóp chẹt tự do, dân chủ, tóm thu quyền lực vào tay đảng CSTC.
  • Qua chủ nghĩa CS, TC kiềm tỏa Việt Nam nhờ vào sự tiếp tay của đảng CSVN. TC là mối nguy hại lớn cho Việt Nam và cho toàn thể nhân loại.

Phiếm Luận về KHOA BẢNG

Monday, July 27th, 2015
Trần Xuân Thời
“Sơn hạ hồng trần Nam Thoán lộ
Bất tri quan đái kỷ nhân hồi”
Dưới núi, bụi hồng, đường Nam Thoán, không biết có bao nhiêu người lãnh áo mão cân đai trở về.
Hai câu thơ này thể hiện sự cam go của sĩ tử phấn đấu, thi thố tài năng qua trường thi trận bút hầu mong đỗ đạt để được tiến cử ra làm quan từ thời nhà Hán, cách đây gần hai ngàn năm về trước. Dầu trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào vẫn có vấn đề “Học tàỉ thi phận”. Thế nên, mặc dầu vào thời nhà Hán một số người Việt khoa bảng như Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng đã đỗ đạt vinh quy bái tổ và được Hán triều bố nhiệm ra làm quan, mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, Tú Xương than thở vì thi mãi vẫn chưa hết phạm trường quy:
“Đau quá đòn hằn
Rát hơn lửa bỏng
Hổ bút hổ nghiên
Hổ lều hổ chõng”
Thi hỏng liên tiếp, Tú Xương quả đã thất vọng
”Phen này tớ hỏng tớ đi ngay
Cúng giỗ từ đây nhớ tới ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ngậm ớt thế mà cay!”
Cụ Nguyễn Công Trứ cũng đã trải qua những âu lo khắc khoải của cuộc đời khoa hoạn, mãi đến tứ tuần mới đỗ Cử Nhân và được tiến cử ra làm quan. Đối với Nguyễn Tiên sinh đỗ đạt ví như: ”Bẻ cành đơn quế cho rồi liền tay” chẳng những để khỏi:
“Thẹn đèn hỗ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rất cổ cha.”
mà còn đạt đến ước nguyện (self actualization) của cuộc đời. Đắc chí, hay đạt được lý tưởng vì được liệt vào hàng “Kẻ sĩ”
”Tước hữu ngũ Sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ Sĩ vi chỉ tiên
Có giang sơn thì Sĩ đã có tên
Từ Chu, Hán vốn Sĩ này là qúi”
Với danh tước Nho Sĩ, thì tiến vi quan thối vi sư. Trước hết, phải tích cực tiến theo tấc bóng của mặt trời, “Nhật tân chỉ vị thịnh đức” mỗi ngày một mớỉ và mỗi ngày một thêm mới mới là đức thịnh. Đem lờỉ hay ý đẹp phụng sự xã hội lúc chưa gặp thời:
“Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất
Hiêu hiêu nhiên điếu Vị canh Sằng
Xe bổ luân dầu chứa gặp Thang, Văn
Phù thế giáo một vàỉ câu thanh nghị. ”
Và khi gặp thời thì:
”Rồng mây khi gặp hội ưa duyên
Đem tất cả sở tồn làm sở dụng
Trong lăng mỉếu ra tài lương đống
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương
Làm cho bách thế lưu phương
Trước là Sĩ sau là Khanh, Tướng.”
Sau khi đem tài kinh bang, tế thế để giúp nước trị dân, kẻ sĩ mới được thung dung thụ hưởng cảnh an nhàn:
“Nhà nước yên Sĩ mớỉ được thung dung
Bấy giờ Sĩ mớỉ tìm ông Hoàng Thạch
Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch .
Tiêu dao nơi hàn cốc thanh sơn
Nào thơ nào rượu nào dịch nào dờn
Đồ thích chí chất đầy mội túỉ
Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi đến
Ngẩm việc đời mà ngằm kẻ trọc thân
Này này Sĩ mới hoàn danh.”
Tuy vậy, cũng có nhiều vị khoa bảng chỉ chuyên nghề dạy học và không màng danh lợi như Cụ Chu Văn An, có thể vì:
”Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu.
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê !
Cũng có thể vì không muốn dấn thân vào vòng tục lụy xích xiềng để rồi phải ân hận:
“Về đi sao chẳng về di,
Ruộng hoang vườn rộng còn chi không về
Đem thân dể hình bia sai khiến,
Còn ngậm ngùi than vãn với ai.”
 
Vấn đề thi thố tài năng qua trường thi trận bút đã bắt đầu từ thế kỷ thứ 11, đời nhà Lý. Vua Lý Nhân Tôn đã mở khoa thi đầu tiên vào năm 1075 để chọn Minh Tinh Bác Học, ra giúp nước trị dân. Năm 1195 lại mở khoa thi Tam Giáo, khảo sát kiến thức về triết học Nho Giáo, Phật Giáo và Lão Giáo.
Qua đời nhà Trần, chế độ thi cử được cải tiến quy củ hơn. Vua Trần Tháỉ Tôn mở khoa thi Thái Học Sinh năm 1232. Năm 1247, nhà Trần đặt ra Tam Khôi: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa. Vua Trần Duệ Tôn mở kỳ thi lấy Tiến Sĩ thay thế Thái Học Sinh và danh từ tiến sĩ được thông dụng từ thời nhà Trần.
 Các khoa thỉ cứ 7 năm thi một kỳ. Đến đời nhà Hồ đổi thành 3 năm, nhưng mãi đến đời vua Lê Thánh Tôn (1463) lệ thi 3 năm một lần mới được thông dụng. Các kỳ thi để tuyển dụng nhân tài được tổ chức cho đến thời mạt diệp nhà Nguyễn với kỳ thi cuối cùng năm Mậu Ngọ 1918.
Về nội dung các khoa thi, tuy có gia giảm tùy thời đại, nhưng đại để các khoa thi chia thành 4 phần chính:
–    Trường Nhất: Thi Kinh – Nghĩa: Luận về ý nghĩa của kinh truyện, còn gọi là tinh nghĩa, hiểu rõ ý nghĩa của triết lý thánh hiền.
–    Trường Nhì: Thi thơ, phú theo quy luật và đề tài do ban giám khảo định.
–    Trường Ba: Thi Chiếu, Chế, Biểu: Soạn thảo các loại công văn dùng trong triều đình. Chiếu là lệnh của Vua, như sắc lệnh của Quốc Trưởng. Chế là lệnh ân thưởng, phạt cho quân thần và Biểu là Sớ dâng lên nhà Vua để tán tụng hoặc xin thỉnh nguyện, một hình thức kiến nghị.
–    Trường Tư: Thi Văn sách: Thi Văn sách nhằm trắc nghiệm óc suy luận và kiến thức về một đề án.
Đã gọi là học tài thi phận, sĩ tử ngoài việc thuộc làu kinh sử, còn phải có biệt tài viết văn hay và chữ thật đẹp mới có nhiều hy vọng đắc cử. Nếu không thì dù có thi cà chục lần, cũng chưa chắc đạt được bảng vàng, bia đá.
Cụ Nguyễn Khuyến đã đỗ đầu 3 kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình được lừng danh là Tam Nguyên Yên Đỗ, thật là một nhân tài.
 
Tú xương đã thể hiện được tâm trạng của người thi hỏng:
“Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa nầy có sướng không?
Trên ghế bà đầm nhoi đít vịt
Dưới sân ông cứ ngổng đầu rồng.”
Đọc lại một số bài Kinh Nghĩa, Thơ, Phú, Văn sách còn truyền lại với cách hành văn và ý nghĩa thật khúc triết mới thấy, dù là văn chương trích cú, chế độ thi cử thật là khó khăn, đúng là: “Thi không ăn ớt thế mà cay.”
 
Về định chế giáo dục, Việt Nam đã thành lập Đại Học, từ thế kỷ thứ 11. Văn Miếu đã được lập từ năm 1070 để thờ Đức Khổng Tử và làm cơ sở diễn giãng triết lý thánh hiền. Vua Lý Nhân Tông lập Quốc Tử Giám năm 1076. Vào đời nhà Trần, Quốc Học Viện được thành lập để diễn giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh. Các định chế giáo dục này, tồn tại cho đến thế kỷ thứ 20. Ngày nay trong thành nội Huế, Quốc Tử giám vẫn là nơi trang nghiêm biểu tương cho nền quốc học.
Việt Nam đã thành lập Đại Học từ năm 1070 và cấp bằng Tiến Sĩ từ năm 1075, đó là niềm hãnh diện cho nền Văn Minh Việt Nam khi đề cập đến nền học chế của nước nhà.
Dưới thời Pháp thuộc, vào cuối thế kỷ thứ 19, và đầu thế kỷ 20, một số cơ sở giáo dục phổ thông danh tiếng được thành lập như Trường Quốc Học Huế mở năm 1896, Trường Tabert ở Sài Gòn mở năm 1890, Trường Puginier ở Hà Nội mở năm 1894 và Trường Pellerin Huế mở năm 1904. Các trường Bảo Hộ/ Bưởi/ Chu Văn An thành lập năm 1908,  Trường Đồng Khánh Hà nội , 1917, sau đổi thành Trường Trưng Vương năm 1948.  Trường Petrus Ký thành lập năm 1925 và Trường Gia Long,  thànhlập năm 1913 tại Saìgon.
 Trường Đại Học Hậu Bổ, sau đổi thành Đại Học Uyên Bác (School of Law and Administration), được thành lập  để đào tạo các cấp cai trị Tri Huyện, Tri Phủ, Thượng Thư… cho Triều đình Huế.  Hậu thân của Đại Học Uyên Bác là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh được tái lập năm 1955 dưới sự bảo trợ của Đại học Michigan State University của Hoa Kỳ.
Viện Đại học Đông Dương được thành lập năm 1906 tại Hà Nội. Sau thế chiến thứ hai, Viện ĐH Đông Dương đựợc đổi tên thành Viên Đại học Hà Nội và mở một chi nhánh tại Saigòn. Sau Quốc Hận năm 1954,  Viện Đại Học Hà-Nội được di chuyển vào Saigòn, hợp với chi nhánh sẵn có,  để thành lập Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam.  Năm 1957, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thành lập Viện Đại học Saigòn và Viện Đại học Huế, rồi Viện Đại học Đà Lạt gồm các phân khoa chính yếu như Khoa học, Luât khoa, Văn khoa, Sư phạm, Kiến trúc, Dược khoa, Nha khoa….  Sau đó, nhiều đại học công và tư được thành lập trong thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà taị Thủ Đô Saigòn và nhiều tỉnh của Miền Nam Việt Nam. Đến năm 1975, Miền Nam có khoảng trên 100,000 sinh viên đang theo học tại các đại học Miền Nam Việt Nam.
Tại Mỹ, mãi đến thế kỷ thứ 17 mới thành lập Đại Học. Đại Học Harvard được lập vào năm 1638. Viện Trưởng Increase Matter, không được Đại Học Anh cấp bằng Tiến Sĩ. Hội đồng khoa Đại Học Harvard quyết định cấp bằng Tiến Sĩ cho ông Matter để ông có đủ thẩm quyền cấp bằng cho ban giảng huấn và sinh viên tốt nghiệp. Hơn 300 năm sau Đại Học Harvard mổi được công nhận vào quy chế Đại Học chung do Khu giáo dục công nhận (Accredition) vào năm 1949.
Nền giáo dục ở Mỹ, mỗi Đại Học có quy chế riêng và tự trị, mặc dù đa số các Đại Học phải theo các tiêu chuẩn về tài chánh, giảng huấn, cơ sở  và học liệu do 1 trong 6 khu định chuẩn công nhận. Các Hội đồng này do tư nhân thành lập và quản trị. Một số đại học do Tiểu bang cấp giấy phép và không màng liên hệ đến các Hội đồng này.
Hiện nay có trên 2000 Đại Học tại Mỹ, là một quốc gia cung cấp nhiều khoa bảng nhất thế giới. Theo tài liệu của US Dept, of Labor thì chỉ trong niên khóa 1985-86:
–    1,300,000 SV được cấp bằng cử nhân (BA, BS..)
–    288,000 SV được cấp bằng Cao Học (MA, MS..)
–    32,000 SV được cấp bằng Tiến Sĩ (Ph.D, Ed.D..)
chưa kể đến các văn bằng Trung cấp như Associate Degrees (AA,AS..) cán sự học 2 năm hoặc các chứng chỉ (Certificate học dưới 2 năm như Chứng chỉ về thương mại, phụ tá luật lệ, kỷ thuật v.v…)
 
Danh từ BA (Bachelor of Art) được hiểu như là một “Bồ chữ” (A batch of knowledge) như Cao Bá Quát nói trong nhân gian có 4 “Bồ chữ“, ông ta và bạn bè chiếm hết 3 bồ, còn lại một bồ cho thiên hạ!
Ngày trước, danh từ Bachelor chỉ dùng cho đàn ông, còn đàn bà không được dùng vì không “xứng đáng“! Đàn bà đỗ Cử Nhân chỉ được gọi là Mistress of Art hoặc Maid of Science. Dù bị kỳ thị nhưng vẫn còn khá hơn ở Trung Hoa và Việt Nam, theo quan niệm cổ thì nữ giới “chỉ lo việc trong nhà, khi vào canh cửi khi ra thêu thùa. Trai thì đọc sách ngâm thơ, dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa, mai sau nối được nghiệp nhà, trước là tỏ mặt sau là ấm thân” Mạnh Lệ Quân phải giả trai mới được dự thi và được bổ nhiệm ra làm quan.
Ngày trước đỗ Cử Nhân( BA, BS…)  là thành công trên đường học vấn và thành danh được liệt vào hàng “kẻ sĩ”.  Sĩ rồi mới đến Nông, Công, Thương và được tiến cử vào hàng Công Hầu Khanh Tướng. Ngày nay, với cấp bằng Cử nhân cũng đủ sống với đời về cả “Danh” cũng như “Phận”.
Có thể nói rằng hấp thụ kiến thức cần thiết là trình độ học vấn ở bậc Cử Nhân.  Nghiên cứu thêm để tinh luyện suy luận ỏ bậc Cao Học và phát triển sáng tạo ở bậc Tiến Sĩ.
Cao học thường học lại các môn đã học ở cử Nhân, tùy ngành, và nghiên cứu thêm về thực trạng của một vấn đề. Tiến Sĩ cũng thường nghiên cứu lại những môn đã học, thêm phần suy diễn, đặt giả thuyết (hypotheses) và tìm cách chứng minh bằng thực nghiệm (test) hoặc áp dụng kiến thức nghiên cứu sự liên hệ nhân quả giữa các hiện tương chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa h ọc….
Việt Nam trước năm 1975, các văn bằng đại học thường được cấp chuyên ngành học từ cấp cử nhân, cao học đến tiến sĩ phỏng theo hệ thống giáo dục từ thời Pháp thuộc.
Tại Mỹ đa số ngành chuyên môn cũng vậy. Tuy nhiên ở VN các ngành kể  cả  các ngành như Luật khoa, Y khoa thì sinh viên có bằng Tú Tài II có thể ghi danh theo học, nhưng tại Mỹ, các trường luật, y khoa chỉ nhận các sinh viên đã có văn  bằng cử nhân trở lên mới được xin nhập học… Sinh viên tốt nghiệp bậc Cử nhân các ngành   kỷ thuãt, khoa học, kinh tế, nhân văn,…  đều có  thể  nạp đơn xin vào  ban Cao học Kinh doanh, Tiến sĩ  luật khoa , Tiến sĩ  y khoa …sau khi trải qua một kỳ thi Admission Test, thường với số điểm trên 500 và  các  điều kiện khác mới được cứu xét….
Chung quy mục đích của giáo dục là phát triển kiến thức và tinh luyện suy luận. Về luân lý, nhằm đào tạo con người trở nên cao thượng hơn vì giáo dục mà thiếu lương tâm chỉ làm thêm bại hoại tâm hồn “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme“.
 Do đó mà Nguyễn Công Trứ đã đặt sứ mệnh của Kẻ Sĩ rất rõ rệt: “Trong lăng miếu ra tài lương đống, ngoài biên thùy rạch mũi can tương” để phụng sự quốc gia dân tộc.
Sự thành công ở đời, phần thì do khoa bảng phần khác do kinh nghiệm.
 Học và Hành đều nhằm mục đích tinh luyện kỷ năng (skill). Thế thì nếu mình thành công trong một ngành chuyên môn nào đó, do kinh nghiệm hoặc do các phương thức khác, sự thành công này không thua gì khoa bảng.
Các nước tân tiến, ngoài ngành văn, ngành võ cũng được phát triển. Trường West Poin của Hoa Kỳ huấn luyện sinh viên cả văn lẫn võ. Sau khi xuất ngũ, cựu sinh viên West Point thường được trọng dụng trong ngành kinh doanh và các sĩ quan cấp tướng phải có bằng Cao học.
Tại Việt Nam, tuy khoa bảng thường nói đến văn tài, nhưng võ lược dưới thời quân chủ  cũng có văn bằng Võ Cử Nhân. Các quân trường sĩ quan huấn luyện quân sự 1 hoặc 2 năm, tương đương với bằng Trung Cấp (A A hay Associate degree  in Military Sciences) hay 4 năm tưong đương với Cử Nhân Khoa Quân Sự. Tại Trung hoa ngoài  Cử Nhân Võ còn có Võ Trạng Nguyên. 
Không phải khoa bảng nào cũng thành công, ngoài kiến thức, kinh nghiệm  thu nhận được, mỗi người còn có biệt tài thiên phú, hoặc do khả năng tự đào luyện thành người hữu dụng.  Khi quân Minh xâm lăng Việt Nam, vua quan trốn chạy. Lê Lơị người dân áo vãi đất Lam Sơn đã dựng cờ khởi nghĩa, quy tụ quần hùng  10 năm (1418-1428) nếm mật năm gai, đã cứu giang sơn ra khỏi nơi đắm đuối, lập nên triều đại Hậu Lê.
  Bên phương trời Tây có triết gia Socrate, được mệnh danh là sư tổ của nền triết học Tây phương. Ông  nỗi tiếng là người giỏi nhất vì đi đâu ông cũng nói ” Điều tôi biết rõ là tôi không biết gì cã – As for me, all I know is that I know nothing”. Thế là ông được mọi người đua nhau giải thích cho ông những gì họ biết.  Học như vậy,  khỏi mất tiền mà được nhiều người thương là hiếu học !
Trái lại triết gia Khổng Tử ở phương trời Đông nỗi tiếng vì đã chu du lục quốc để thuyết minh về đạo lý làm người, tu, tề, trị, bình …… Đức Khổng Tử (551-479 BC và Socrate (470-399 BC) có điểm tương đồng là chủ trương cái gì biết thì cho là biết, cái gì không biết thì  nói là không biết, chú trọng vào vấn đề công lý, đạo đức, nhân cách làm người… và  cũng gần có chung một quan niệm” Thuận Trời thì sống, chống Trời thì  chết”!.
Socrate chủ trương muốn sống xứng đáng phải biết luôn tự xét mình vì ”The unexamined life is not worth  lìving  for a human being” và ”I do not fancy I know what I do not know”.
 Ảnh hưởng của hai nhà  hiền triết nầy thật sâu rộng nhất là về thái độ làm người. Người Tây phương nghe  nhiều hơn nói và thích nghe để học hỏi. Người Đông phương thích làm thầy, nói nhiều hơn nghe !?
Trường đời là Đại Học hữu hiệu nhất tôi luyện con người làm nên sự nghiệp. Hiện nay, có trên 300 ngành học khác nhau và xã hội tân tiến như Hoa Kỳ có trên 2000 nghề chuyên môn. 
Người Mỹ quan niệm ”thầy” của ngành nầy là ”học trò” của ngành khác, nên khi gặp vấn đề không thuộc ngành chuyên môn của mình, thường trả lời ”I don’t know”. Phần khác vì tinh thần trách nhiệm, người Mỹ không ”advise” người khác về  những vấn nạn không thuộc ngành chuyên môn của mình. Còn người Việt, ít khi nghe nói ” I don’t know”…!
 Nhân viên các cấp, các ngành trong công ty, công sở đều phải học hỏi trong thời gian làm việc để thăng tiến nghề nghiệp, để đủ điều kiện hành nghề  theo luật định, nên vấn đề tu nghiệp rất quan trọng để cập nhật kiến thức.
 
Thường các bậc phụ huynh khuyên con cháu lo học hành vì hiểu rõ tầm mức quan trọng của sự học trong đời sống. Ngày trước ở Việt Nam đỗ Tú Tài như Tú Xương không có cơ hội thăng tiến. Ngày nay tại các quốc gia tân tiến mà chúng ta đang cư ngụ, mọi ngành hoạt động đều cần chuyên viên có kỹ năng tinh luyện, được chứng minh bằng kiến thức và kinh nghiệm. Nếu không có nghề chuyên môn, cạnh tranh với đời thật là vất vả.
Đa số những người có kiến thức và kinh nghiệm ở Việt Nam, sau ngày di tản, tuổi tác đã chồng chất, lại phải lo gánh nặng gia đình, còn đâu thì giờ để theo lũ em học hành như xưa.
 Vì vậy, các bậc tiền bối chỉ trông nhờ vào lớp hậu sinh, con cháu chuyên tâm nghiên bút, chẳng những để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, vinh thân, phì gia, mà còn làm:
Nở nang mày mặt, rở ràng mẹ cha
Trên vì nước, dưới vì nhà
Một là đắc Hỉếu, hai là đắc Trung.”
Hiếu thảo với mẹ cha, đem tài năng phục vụ nhân quần xã hội là niềm mong ước chung của các bậc phụ huynh vậy.
 
Trần Xuân Thời
Cựu sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học Văn Khoa, Học Viện Quốc Gia hành Chánh và Võ Khoa Thủ Đức trong thập niên 1960.

Đôi Chân Bằng Đất Sét (của Trung Cộng)

Monday, July 27th, 2015

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

Hí họaTập Cận Bình đả hổ Chu Vĩnh Khang, cựu bộ trưởng bộ công an Trung cộng.
Bài đọc suy gẫm: Nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có “Đôi chân bằng đất sét”, câu nói nổi tiếng của cựu Thủ tướng Chu Dung Cơ, thời Giang Trạch Dân nắm quyền bên tàu.  Blog Mười Sáu thân mời quý độc giả theo dõi bài viết về Tập Cận Bình và chính sách cải cách của ông ta liệu có thành công qua nhận xét của tác gỉa Chu Chi Nam và Vũ văn Lâm.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Bạc Hy Lai (trái), cựu Bí thư thành ủy Trùng Khánh, Từ Tài Hậu (giữa, chết), Phó chủ tịch quân ủy trung ương, và (phải) Chu Vĩnh Khang trước vành móng ngựa với mái tóc bạc trắng.
 
Tập cận Bình và chương trình cải cách.
Tập cận Bình sinh năm 1953, tại Bắc kinh, nhưng quê quán thực của ông ở Thiểm tây, cha là Tập trọng Huấn (1913 – 2002), là một Phó Thủ tướng trước đây. Tập cận Bình là người ít nói, ít phát biểu, có nhiều người còn cho ông là người không có lập trường rõ rệt. Ông từng làm Bí thư thành phố  Thượng Hải, được Giang Trạch Dân chọn lựa và hậu thuẫn để trở thành người kế thừa của Hồ Cẩm Đào với ý định trong tương lai, khi họ Đào không còn quyền, ông lên ngôi, thì họ Giang dễ khống chế ông.
Tập cận Bình từng bước trở thành Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau đó lần lượt vào năm 2010 ông được bầu vào chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, n ăm 2012 tr ở th ành Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực của đảng cộng sàn Tàu.
Có lẽ tất cả những kế hoạch, dự đoán của họ Giang từ ngày họ Tập lên ngôi đều trở nên mây khói ?
Chương trình cải cách của Tập cận Bình.
Tháng 8/2013, họ Tập ra Văn kiện được mang tên là « Văn kiện số 9 «, trong đó có 7 cái « Không «, bắt buộc đảng viên, công chức từ dưới lên trên phải tuân theo. Đó là: Không được tự do phát biểu ý kiến riêng ngoài ý kiến chính thức của đảng, không chấp nhận ảnh hưởng từ nước ngoài, không chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, tính phê bình, và không chấp nhận tư tưởng độc lập.
Thêm vào đó, để ngăn cản sự trốn chạy ra nước ngoài của cán bộ, họ Tập thâu hồi tất cả những hộ chiếu của họ, thành lập ủy ban gồm 3 người, kiểm soát lẫn nhau, nếu có 1 trong 3 người xuất ngoại «  Không chính đáng «, thì 2 người còn lại phải vạ lây. Họ Tập mệnh danh chương trình cải cách này là một chương trình « Trẻ trung hóa vĩ đại «, dựa trên giấc mơ của Trung quốc, niềm tự hào của dân tộc, dựa trên chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cũng từ đó, họ Tập đã tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, từ Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy hội, Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, Chủ tịch Ủy ban thanh lọc Nhà nước v.v…
Họ Tập đã thanh trừng từ trên xuống dưới, bắt đầu phong trào « Giết hổ và đập ruồi « , loại khỏi Đảng, khỏi Nhà nước 182,000 công chức từ thấp đến cao, bắt đầu bằng vụ đưa ra tòa Bạc hy Lai, rồi khai trừ Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội ra khỏi đảng vào ngày 30/06/2014. Ngày 29/7/2014, Đảng cộng sản Trung quốc tuyên bố điều tra Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba, trong đảng.
Đó là sơ qua một vài vụ thanh trừng to lớn.
Hình ảnh những người tự thiêu phản đối chính sách đàn áp, Hán hóa người dân Tây Tạng của chính quyền Bắc Kinh gây chấn động thế giới
Ngoài ra họ Tập còn đàn áp dã man dân Duy ngô nhĩ, dân phần lớn theo đạo Hồi ở vùng tây bắc, trấn áp Tây Tạng, gửi thông điệp cứng rắn đối với Đài loan, dẹp tất cả những hy vọng của dân Hồng kông mong muốn có một cuộc bầu cử tự do trong tương lai, theo kiểu dân cử, dân bầu, chứ không phải là một cuộc bầu cử « Đảng cử, dân bầu «,được áp đặt từ Bắc kinh.
Nhưng thật ra bản chất của cuộc cải cách này là một cuộc cải cách giật lùi hay đúng hơn chỉ là một cuộc tranh quyền, thâu tóm quyền hành vào tay một người, trái lại nguyên tắc lãnh đạo tập thể, để lại từ hồi Đặng tiểu Bình, và tương đối được tuân thủ  và  áp dụng bởi Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào.
Độc tài từ cổ chí kim trên thế giới là một chế độ cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, nhất là với 2 chế độ độc tài phát xít và cộng sản. Cái loa có nghĩa là khai thác tối đa nghệ thuật tuyên truyền. Kiểu nói như Goebel, Bộ trường Tuyên truyền của Hitler: « Một sự việc dù không phải là sự thật, nhưng chúng ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, sau đó không nghi nữa và cuối cùng cho đó là sự thật. » Bưng bít thông tin, chỉ cho dân nghe những thông tin, dù không phải sự thật, nhưng có lợi cho chế độ.
Với Hitler thì khơi dậy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bài trừ Do thái, đưa ra lý thuyết không có một tý gì là khoa học, theo đó « Chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết nhất, tài giỏi nhất. Đó là chủng tộc của dân Đức, xứng đáng để thống trị thế giới «. Cộng sản thì khơi dậy những bản năng xấu xa, ghen tỵ của con người, qua lý thuyết bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ tất cả những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp được truyền thừa hàng ngàn năm lịch sử nơi con người. Thêm vào đó cả 2 chế độ phát xít và cộng sản đều vẽ ra một thiên đàng, một bên là thế giới thiên đàng của giòng giống Aryen, dân tộc Đức. Bên kia là thiên đàng cộng sản.
Cai trị dân với cái còng và cái súng là khủng bố, bỏ tù những thành phần không cùng chính kiến, đường lối với họ, và nếu sự chống đối trở nên có ảnh hưởng mạnh mẽ thì sẽ bị vu khống, thủ tiêu và hãm hại.
Ngày nay, ở một vài nước cộng sản còn lại, vì kinh nghiệm cộng sản đã thất bại ê chề sau hơn 70 năm áp dụng, thì họ trở về chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kiểu phát xít.
Từ đó chúng ta xét bản chất thực của chương trình cải cách Tập cận Bình: Đó là chương trình cải cách giật lùi, trở về thời quân chủ phong kiến, quyền hành tập trung vào tay một người, ngày xưa là ông vua, ngày nay là Tổng bí thư. Hiện nay họ Tập nắm hết trong tay mọi quyền hành.
Vì vậy bản chất thật cuộc cải cách của họ Tập chỉ là một cuộc tranh quyền mà ngày hôm nay người ta thấy rõ là giữa Giang trạch Dân, cựu Tổng bí Thư, được phe nhóm tài phiệt Thượng hải và Hồng kông ủng hộ và phe nhóm Tập cận Bình, được mang nhãn hiệu là chống tham nhũng, trẻ trung hóa và trong sạch hóa chế độ, thực hiện giấc mơ Trung quốc.
Người Tàu có câu châm ngôn « Giết gà để dọa khỉ «, thực chất là họ Tập giết cả gà lẫn khỉ, khi chúng không theo mình, và dung túng cả gà lẫn khỉ, khi chúng theo mình. Hỏi rằng ở nước Tàu hiện nay, trong những người đảng viên, từ cấp dưới lên đến ngay Tập cận Bình, có ai là không tham nhũng. Cũng như họ Tập ra lệnh thâu hồi tất cả những người có hộ chiếu ra nước ngoài, lập ra tổ 3 người trong cơ quan đảng và nhà nước để kiểm sóat lẫn nhau về việc xuất ngọat. Trong khi đó thì chính con gái họ Tập hiện nay đang học ở Hoa kỳ, tại trường đại học Harvard. Việc thanh trừng 182 000 nhân viên đảng và nhà nước đi đến chỗ ai cũng sợ, có những cơ quan nhà nước, người cầm đầu bị thanh trừng, người dưới không dám lên kế vị, vì ai cũng tham nhũng, sợ bị chỉa mũi dùi vào mình.
Họ Tập không những trở về thời quân chủ phong kiến, mà còn trở về thời kỳ xấu xa nhất của chế độ cộng sản Tàu, thời kỳ « Cách mạng Hồng vệ binh «, khơi dậy lòng hận thù của của những giai tầng xã hội, đề cao tinh thần dân tộc cực đoan. Tập cận Bình hiện nay là hình ảnh những tên bạo chúa tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại, như vua Kiệt, Tần thủy Hoàng, Mao trạch Đông của Tàu, như Néron, Staline của thế giới, cho rằng: « Kẻ nào không theo Ta, thì có nghĩa là chống Ta «, « Ta chính là Nhà nước và Pháp luật « .
Ngày xưa vua cho rằng mình thay trời để trị dân, ngày hôm nay họ Tập cho rằng mình có một sứ mạng cao cả, dẫn dắt dân tộc Tàu thực hiện ước mơ của mình, trẻ trung hóa chế độ, mang lại hạnh phúc cho mọi người dân và sự kính nể đối với những nước trên thế giới.
Vẽ ra những ước mơ, cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, đây không phải là riêng của Tập cận Bình, mà là của tất cả giới lãnh đạo cộng sản. Ngày hôm nay Tập cận Bình đang trở về phương pháp này với dân Tàu. Vì vậy thực chất đây là một cuộc cải cách giật lùi.
Chương trình cải cách cuả Tập cận Bình sẽ thành công ?
Một câu hỏi đến với chúng ta là liệu chính sách cải cách của Tập cận Bình sẽ thành công hay không ?
Có nhiều người cho rằng sẽ thành công, viện những lý do: Với sức mạnh kinh tế hiện nay, theo như bản thống kê mới nhất của Quĩ Tiền tệ thế giới, tổng sản lượng kinh tế tính theo khả năng mua sắm, thì Trung cộng hiện nay là 17 632 tỷ $, đã qua mặt Hoa kỳ là 17 416 tỷ, cũng như Ấn độ, với tổng sản lượng là 7 277 tỷ, đã qua mặt Nhật, với 4,788 tỷ. ( Theo Bản Tường trình của FMI – tháng 10/2014). Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ là sản lượng tính theo đầu người hàng năm của Hoa Kỳ và của Nhật là gấp 4 hay 5 lần của Trung cộng. Ngoài ra hiện nay Trung cộng có một dự trữ gần 4,000 tỷ $, hiện là nước có nền thương mại lớn nhất thế giới, hàng hóa Trung cộng có mặt trên khắp 5 châu.
Đây là một điều hay, nhưng cũng có mặt trái của nó, đó là đừng nghĩ với kinh tế, tiền bạc là có thể giải quyết được tất, nhiều khi mang hại vào thân, ngay ở cả mức độ quốc gia, vì mức độ giầu nghèo quá chênh lệch ở Trung cộng, thêm vào đó giới giầu có, quyền lực thì càng ngày càng muốn giầu có thêm, nhiều quyền lực thêm, trước sự đau khổ của dân.
Chúng ta có thể giản tiện hóa vấn đề, ví một quốc gia như một gia đình. Một gia đình giầu có, có nhiều con cái với nhiều thân thuộc, bộ hạ, vấn đề chia gia tài giữa các con, sau khi người cha chết, có thể đưa đến việc các con cấu xé lẫn nhau. Trung cộng hiện nay đang bị “ nạn “ tương tự qua việc chuyển quyền hành. Những đại gia, vừa giầu có, vừa có quyền, đang tìm cách tiêu diệt lẫn nhau như việc Giang trạch Dân, Chu vĩnh Khang, Từ tài Hậu, Bạc hy Lai v.v… tìm cách đảo chính Tập cận Bình, cũng như sau đó tìm cách ám sát nhiều lần, nhưng không thành, theo như nhiều nguồn tin đáng tin cậy.
Điều này chứng tỏ tình hình Trung cộng không ổn như người ta tưởng.
Thêm vào đó, họ Tập lại thâu tóm quyền hành một cách rất mau lẹ. Vừa mới lên ngôi, họ Tập đã gặp Obama vào năm 2013, chính một nhân viên của Phủ Tổng thống Hoa kỳ đã tuyên bố: “ Chúng tôi rất ngạc nhiên là ông Tập cận Bình đã thâu tóm quyền hành mau lẹ như vậy “.
Chương trình cải cách của họ Tập chỉ là một chương trình bế quan tỏa cảng vào cuối thời nhà Minh, nhà Thanh, vì vậy nó sẽ không thành công, mà còn có thể đi đến chỗ làm sụp đổ chế độ cộng sản ?
Có người lại cho rằng sức mạnh của Trung cộng hiện nay chỉ là cái vỏ, chỉ là “ Một con hổ giấy “, nhãn hiệu mà Mao dùng để chỉ Hoa kỳ trước đây. Thật vậy, không nói đâu xa, ngay chính Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng của Trung cộng cũng nói: “ Trung cộng chỉ là anh khổng lồ chân bằng đất sét.”
Lý do đầu tiên và quan trọng trong sự thất bại của Tập cận Bình là ông đã đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại.
Thật vậy, nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: văn minh trẩy hái, văn minh du mục, văn minh định cư nông nghiệp, và văn minh thương mại, rồi tới văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay.
Mỗi một thời văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã. Với hai 2 nền văn minh đầu, đó là chế độ gia tộc và bộ lạc. Với văn minh định cư nông nghiệp, đó là chế độ quân chủ phong kiến; và ngày hôm nay là mô hình tổ chức dân chủ tự do và kinh tế thị trường.
Có người bảo rằng họ Tập muốn trở về thời kỳ cộng sản của Mao. Nhưng chúng ta biết, mô hình tổ chức nhân xã của cộng sản chỉ là mặt trái của mô hình quân chủ phong kiến, cũng là một chế độ cá nhân, độc đảng, độc tài, nó đã dùng khoa học, kỹ thuật và thông tin tuyên truyền để củng cố chế độ.
Lý do thứ nhì của sự thất bại, đó là như Khổng Tử đã nói:
“Để cai trị dân tốt thì phải dựa trên công lý và lòng thành tâm.”
Đằng này họ Tập không dựa trên công lý để chống tham nhũng, nhưng chỉ nhằm vào người nào tham nhũng không theo ông, còn những người theo ông thì dung túng. Họ Tập thâu hồi tất cả những chiếu kháng, hạn chế tối đa sự xuất ngoại, nhưng chính gia đình ông xuất ngoại, con gái ông đang học ở Hoa kỳ.
Lý do thứ ba của sự thất bại đó là ông đã phá hủy tất cả những luật bất thành văn, được để lại bởi Đặng tiểu Bình, nhằm thực hiện những cuộc trao quyền một cách êm thắm, tránh đổ máu. Những luật bất thành văn này đã được thực hiện bởi 2 người trước ông là Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào. Ngày 29/7/2014, họ Tập ra thông cáo điều tra Chu vĩnh Khang, quản thúc ông tại gia, tịch thu tài sản của những người họ hàng thân thích với ông này, lên tới 300 người, với tài sản là 14,5 tỷ $.
Ngày xưa thì có việc chu di tam tộc, quả là ác ôn và đổ máu. Nhưng ngày hôm nay, dù không đổ máu, nhưng tịch thu hết gia sản, rồi hôm nay bị thẩm vấn, ngày mai bị tra hỏi bởi công an, mặc dầu sống nhưng nhiều khi khổ hơn là chết. Chính vì vậy mà có người cho rằng lịch sử Tàu là một chuỗi dài tranh quyền, cướp nước và trả thù.
Những gia đình, gia tộc bị họ Tập thanh trừng, bằng bất cứ giá nào cũng tìm cách trả thù. Phim ảnh không nói lên tất cả, nhưng cũng nói lên một phần nào lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Phim chưởng Tàu là một chuỗi dài những cuộc trả thù thiên thu bất tận.
Chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng
Trở về với ý kiến cho rằng chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng trước đậy.
Thật vậy, nước Tàu có một nền văn minh lớn và rất sớm, nhưng sau đó nước Tàu bị tụt hậu, vì rất nhiều nguyên do, nhưng trong đó có một nguyên do chính, đó là chính sách bế quan tỏa cảng vào cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh và chính sách mở cửa nhập cảng vội vã tư tưởng Marx Lénine của đảng cộng sản, cặn bã của văn hóa, văn minh tây phương mà những nước này đã chối bỏ.
Nước Tàu là một nước lớn, dân tộc Tàu có một nền văn minh rất sớm:
Năm 105, đời nhà  Hán ( 206 trước Tây Lịch – 219 sau Tây Lịch), nước Tàu đã phát minh ra giấy.  Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy ( 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu. Mãi sau này Johannes Gutenberg (1400 – 1468), người Đức dựa vào những phát minh trên đã phát minh ra máy in và có thể nói đây là một trong những nguyên do chính giúp Âu châu phát triển, vì nhờ máy in mà sự hiểu biết, trí thức được lan rộng, lúc đầu là ở trong nhà thờ, in kinh thánh, sau đó được quảng bá ra ngoài.
Năm 1000, đời Bắc Tống (916 – 1125), phát minh ra địa bàn và thuốc súng. ( Theo « La Formidable Histoire de l’Economie mondiale de l’Egypte antique à la Chine de 2014 – báo Capital – hors série – Juin – Juillet 2014 « )
Tuy nhiên văn minh Tàu bị khựng lại vì rất nhiều nguyên do, mà trong đó là chế độ quân chủ, kéo dài quá lâu, từ chế độ quân chủ phong kiến tản quyền sang chế độ quân chủ tập quyền, từ thời nhà Chu ( 1134 – 770 trước Tây Lịch ) cho tới ngày hôm nay với chế độ cộng sản ( 1949 – ?), chỉ là mặt trái của chế độ này. Người ta nói Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình và ngay Tập cận Bình là những ông hoàng đế đỏ, cũng không sai.
« Cải cách giật lùi, đi ngược lại đà tiến bộ của con người, của nhân loại « của Tập cận Bình có thể thành công ngắn hạn, nhờ kích thích tinh thần quốc gia cực đoan, tôn quân, bản tính gió chiều nào theo chiều ấy của người Tàu, như trường hợp điển hình, ông Chu Bân, con của Chu vĩnh Khang, đã đứng về phía họ Tập, tố cáo bố mình. Tuy nhiên nếu thành công cũng chỉ là ngắn hạn; nhưng dài hạn, thật dài, thì có hại cho Tàu, gương cuối đời của 2 triều đại nhà Minh và nhà Thanh còn ngay trước mắt.
Hoàng cung Tử Cấm Thành do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt xây lên. Dưới: Súng thần công (nòng 21-25 cm) và đạn đá thời Hồ Quý Ly được tìm thấy ở vùng Thanh Hóa, Việt Nam.
 
 
Thực ra nói đến chính sách bế quan tỏa cảng của Tàu thì đã có từ lâu, có thể từ thời lập quốc, qua quan niệm nước Tàu là trung tâm của vũ trụ ( Trung hoa), Hán là dân tộc văn minh nhất, còn những dân tộc chung quanh chỉ là man di, mọi rợ. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài này, chúng tôi không thể đi xa, đi sâu, chỉ xin nói sơ về sự thất bại của chính sách bế quan tỏa cảng cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh :
Nhà Minh ( 1368 – 1643), do Chu nguyên Chương lập ra, sau khi đánh đuổi nhà Nguyên ( 1278 – 1368), một chế độ của người Mông cổ mà sử còn gọi là chế độ Nguyên Mông, chế độ ngoại tộc, không phải là Hán tộc. Chính vì vậy mà Chu nguyên Chương và tất cả vua quan sau này của nhà Minh có một chính sách bế quan tỏa cảng, bài ngoại rất cao, rất tàn ác với những dân tộc không phải là Hán. Đây là kinh nghiệm máu xương của dân tộc Việt nam trong vòng 20 năm bị lệ thuộc nhà Minh từ năm 1407 tới 1427. Quân đội của Trương Phụ nhà Minh không những tàn ác với dân Việt, mà còn tìm cách tiêu hủy tất cả những gì có tính chất đặc th ù dân tộc Việt, qua việc đốt sách vở, bắt tất cả những người có đầu óc mang về Tàu. Việc 2 người Việt nam, ông Nguyễn An, một trong những kiến trúc sư chính, xây lên Tử cấm Thành ( thành Bắc Kinh), một người khác, ông Hồ nguyên Trừng, con của Hồ quí Ly, bị bắt qua Tàu, làm đến chức Bộ Công, xây dựng quân cụ thời vua Minh Anh Tông, đã làm ra súng đại bác ( thần công), cũng là từ đó. Theo sử sách thì « Quân Minh khi làm lễ tế súng, đều phải tế Trừng ».
Có người nói thời Minh không có chuyện bế quan tỏa cảng, dẫn sự việc Trịnh Hòa, một hoạn quan thời Minh với lệnh của triều đình, đóng 62 chiếc thuyền, chiều dài cả 100m, chiều ngang 40m, chở 37000 hải quân, đem nhiều vàng, đồ gốm, lụa, đi từ cửa biển Lưu gia cảng, tây bắc Thượng Hải, vào năm 1405, qua Phúc kiến, có thể nói là một cuộc hành trình vòng quanh thế giới vào lúc bấy giờ, vì đã qua cả chục nước, có nhiệm vụ quảng bá sức mạnh của nhà Minh và đồng thời buôn bán, trao đổi hàng hóa. Đấy là bề ngoài của sự việc, bên trong có người cho là Trịnh Hòa còn có nhiệm vụ tìm vua Huệ đế, mà vua Minh Thành Tổ nghi là đã trốn ra nước ngoài, ở những nước chung quanh hoặc các đảo ngoài biển.
Sự  việc là vua Minh thái Tổ, Chu nguyên Chương, lập người con trưởng tên là Tiêu làm thái tử, không dè Tiêu chết sớm, vua bèn lập con của Tiêu, tên là Kiến Văn, lên làm thế tôn. Khi Chu nguyên Chương chết, Kế văn lên làm vua, tức Huệ đế, được 4 năm. Không dè người chú, lúc đó đang trấn thủ ở đất Yên xưa kia, mang quân về đảo chánh, thành công, lên ngôi vua tức Minh thành Tổ. Minh thành Tổ nghi Huệ đế trốn ra nước ngoài nên làm ra đoàn tầu Trịnh Hòa, để đi kiếm. Điều này nói lên sự tranh quyền, giữ quyền ở Tàu rất là khủng khiếp, cũng chẳng khác nào như thời Tập cận Bình hiện nay. Vì nhiều lý do, trong đó có lý do là sau khi Minh thành Tổ chết, việc tìm kiếm Huệ đế không được đặt ra, nên ngân sách cho đoàn tàu Trịnh Hòa dần dần bị cắt giảm.
Ngày hôm nay, giới lãnh đạo cộng sản Tàu, nhắc nhiều đến Trịnh Hòa và đoàn tàu, nhất là trong khuôn khổ tranh chấp biển Đông, muốn nói lên sức mạnh hải quân của Tàu từ xưa, nhưng họ cố ý hay vô tình quên đi sự tranh quyền nội bộ nằm ngay sau lưng.
Triều đại nhà Minh chỉ thịnh lúc ban đầu, nhưng sau đó đi vào suy thoái ( 1436 – 1623), rồi bước sang chỗ diệt vong ( 1623 – 1660).
Đại tài tử Hồng Kông Lưu Đức Hòa thủ vai Khang Hy trong bộ phim Lộc Đỉnh Ký của nhà văn Kim Dung. (Phải) Vua Khang Hy đang uy hiếp Vi Tiểu Bảo do Lương Triều Vỹ đóng.
Trong thời gian suy thoái và diệt vong này, nhà Minh đã chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng cao độ: Hạm đội của Trịnh hòa không còn nữa, đó là về mặt biển, về mặt đất liền thì tăng cường tu bổ Vạn lý trường thành. Bên ngoài thì bế quan tỏa cảng, bên trong thì bài xích những chủng tộc khác qua văn hóa, giáo dục, bắt đầu bằng chủng tộc Mông, triều đại đã cai trị nước Tàu trước đó. Sau này từ  thời Mao thì kỳ thị, coi thường dân tộc Mãn, dân tộc đã đánh bại chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Minh, hay nói đúng hơn là đánh bại nhà Minh, cai trị xứ Tàu sau đó, cũng như tất cả các dân tộc khác như Hồi, Mông, Tạng.
Dân tộc Mãn Thanh là một dân tộc sống ở phía đông bắc nước Tàu.
Hai người được coi là sáng lập nền tảng cho nhà Thanh chính là Nỗ nhĩ cáp Xích, Hoàng thái Cực.
Nỗ nhĩ cáp xích (1559 – 2626), ông sinh ra trong một gia đình quí tộc Mãn châu ở vùng đông bắc nước Tàu. Theo chính sách phên dậu của nhà Minh dùng những bộ tộc làm hàng rào, phên chắn cho triều đình trung ương, gia đình ông được nhà Minh phong cho chức Đô đốc vùng Kiến châu, cha truyền con nối. Ông là người dũng cảm, được viên Tổng trấn vùng đông bắc, nhà Minh, tuyển ông vào đội cận vệ. Từ đó, nhờ can đảm, nhờ những liên hệ gia đình trước đó, cùng những liên hệ mới, ông đã qui tụ những chân tay bộ hạ của bộ tộc mình trước kia, nay bị những bộ tộc khác tiêu diệt, rồi thống nhất 8 bộ lạc Mãn, để lên làm khả hãn, như Thành cát tư Hãn của bộ tộc Mông cổ trước đó. Ông đã lập ra thể chế « Bát Kỳ «, tiêu biểu bằng 8 lá cờ, từ màu vàng, sang màu trắng, màu lam, mà người ta có thể hiểu là 8 bộ tộc, 8 vùng chiến thuật, từ Hoàng kỳ, Bạch Kỳ, Lam Kỳ v.v…Tám Kỳ này lấy những quyết định quan trọng theo cách bỏ phiếu đa số, nhất là việc kế vị ngôi vua.
Nỗ nhĩ cáp xích lên ngôi Hoàng đế năm 1616, dần dần trở  lên lớn mạnh, thống lãnh cả một vùng đông bắc, có lúc lên đến cả sáu bảy vạn quân. Năm 1619, vua Minh sai Binh bộ thị lang Dương Cảo, lãnh 16 vạn quân, thẳng tiến phía đông bắc nhằm tiêu diệt ông, gồm 4 cánh quân : tây lộ, bắc lộ, đông lộ và nam lộ. Bình tĩnh nhận định tình hình, phân tích sự việc, phân tích từng cánh quân của địch, ông đã cho quân Bát kỳ, chỉ có 6 vạn, nhanh chóng chiếm bờ sông Tát nhĩ Hử, chờ cánh quân chủ lực Tây lộ của quân Minh tới. Quả như điều ông tiên đoán, trong trận này ông đã phá tan quân chủ lực của nhà Minh. Những cánh quân tiếp đến, ông tiêu diệt từng cánh một.
Ông chết vào năm 1626, nhưng người ta có thể nói là ông đã gây dựng tất cả những nền móng, để nhà Thanh đánh vào trung nguyên, lập nên nghiệp lớn cho con cháu ông sau này.
Người kế thừa ông là Hoàng thái Cực (1592 – 1643), người con thứ 8 của ông. Ông kế thừa sự nghiệp và chí lớn của cha, chủ trương học hỏi tinh thần dũng mãnh, chiến lược hành quân thần tốc của người Mông cổ, sự uyên bác của người Tàu, nên các vị vua kế nghiệp ông về sau rất thông hiểu văn hóa Trung hoa. Ông cũng nhất quyết đánh xuống trung nguyên, kết thúc chế độ nhà Minh.
Một sự kiện lịch sử nhỏ chứng tỏ sự thất bại của chính sách xây Vạn lý trường thành, bế quan tỏa cảng của triều Minh : Ngày 27/10/1629, Hoàng thái Cực xuất binh, vòng qua thành tuyến Liêu đông, đốt phá Vạn lý trường thành, ở phía tây bắc, vòng đến Hà bắc, tiến vào đốt phá thành Bắc kinh.
Nước Tàu ngày hôm nay, Tập cận Bình có xây bao nhiêu bức tường lửa ( Fire wall) đi chăng nữa, cũng không thể nào cấm được những nguồn thông tin trung thực, những luồng tư tưởng Tự Do, Nhân Bản từ bên ngoài. Sẽ có ngày không xa người dân Tàu sẽ  nổi dậy giành lại quyền sống, lật đổ  chế  độ  cộng sản, như ngày xưa người Mãn đã phá Vạn lý trường thành và lật đổ nhà Minh.
Khang Hy là ông vua thứ nhì đời nhà Thanh, sau khi nhà Thanh chiếm được toàn cõi nước Tàu, được coi là một trong 10 vị Đại Hoàng đế của Tàu. Ông không những tỏ ra thao lược về chính trị và quân sự, mà ông còn giỏi cả về văn hóa, nghệ thuật. Chỉ cần người ta nói đến Tự điển Khang Hy, được làm ra thời ông, bằng Hán văn, gồm 47 035 chữ, hay người ta nói đến đồ gốm Khang hy, vừa đẹp về sắc gốm, vừa đẹp về hình tượng vẽ ở trên, cũng đủ chứng minh ông là một vị hoàng đế lớn.
Tuy nhiên cũng như nhà Minh, chỉ có ba bốn vị vua đầu thì khá, nhưng sau đó thì đi vào thoái trào.
Người ta có thể nói giống như nhà Minh, nhà Thanh đi từ chỗ suy thế (1795 – 1850), rồi tới thế diệt vong ( 1850 – 1911).
Thời nhà Minh, khi quân Minh bị Lê Lợi đánh đuổi về Tàu năm 1427, thì liền sau đó là tới thời suy thoái, bắt đầu vào năm 1436.
Với nhà Thanh, sau khi quân nhà Thanh bị Nguyễn Huệ đánh bại ở Việt Nam, năm 1789, thì nhà Thanh cũng bước vào thời kỳ suy thoái.
Thời kỳ suy thoái của nhà Thanh có thể nói là bắt đầu vào cuối đời vua Càn Long, cầm quyền 60 năm từ năm 1735 đến 1795.
Càn long vào cuối đời, có thể vì một phần già yếu, không lo triều chính như lúc còn trẻ, thêm vào đó, lại tiêu xài hoang phí, qua những cuộc du ngoạn phương nam, rất tốn kém. Bên cạnh là Tể tướng Hòa Thân, một con người tham nhũng khét tiếng; có người nói, tài sản của họ Hòa hơn cả ngân khố quốc gia.
Điều này làm chúng ta liên tưởng đến chế độ cộng sản hiện nay của Tập cận Bình: tham nhũng từ trên xuống dưới, không chỉ thủ tướng mà cả cựu và đương kim tổng bí thư, xuống đến tận hang cùng ngõ hẻm, đến một anh cán bộ đảng tầm thường cấp xã. Vào thời Càn Long, còn có những ông quan liêm khiết, chính trực, vì còn trọng Nho giáo, Khổng giáo, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu.
Ngày hôm nay tại Tàu, sau khi chạy theo lý thuyết Mác – Lê, theo duy vật chủ nghĩa, vứt bỏ mọi giá trị tốt đẹp cổ truyền, lại thực hiện lời dạy của Đặng tiểu Bình: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết. Chỉ cần là mèo biết bắt chuột. », từ dân cho chí quan, chạy theo vật chất, không còn chút liêm sỉ, làm giàu, bằng bất cứ thủ đoạn, phương tiện gì, ngay cả giết người, lừa đảo, dối trá.
Thời kỳ diệt vong của chế độ nhà Thanh bắt đầu từ 1850, khi ông vua Hàm Phong, chồng bà Từ Hy, lên ngôi năm 1850 cho tới cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.
Nguyên sự kiện ông vua này chán nản trước tình hình, vận nước, bị liệt cường xâu xé, như chúng ta lấy sự kiện Hồng kông đang nổi tiếng qua những cuộc biểu tinh của sinh viên học sinh hiện này. Vùng đất này bị nhượng cho nước Anh trước đó 8 năm, 1842, rồi tới chiến tranh Nha Phiến, Liệt cường xâu xé. Ông đã cùng một thái giám, ban đêm thường lẻn ra khỏi thành, chơi bời nơi tửu điếm, lầu xanh đến nỗi bị mắc bệnh giang mai, rồi chết sớm.
Con của ông với bà Từ Hy, lên ngôi tức vua Đồng Trị, do 2 người Thái hậu nhiếp chính, Đông cung tức bà Từ An, Tây cung tức bà Từ Hy. Sau đó Từ Hy tìm cách vu khống Từ An, loại bà này, nắm toàn quyền nhiếp chính. Từ đây, nước Tàu đời nhà Thanh quả đi vào thời kỳ diệt vong : không những ngoại loạn, mà còn nội ưu. Sau vua Đồng Trị là vua Quang Tự, người cháu, con người em gái của bà, nhưng bà Từ Hy vẫn toàn quyền nhiếp chính. Ông vua này đã chống đối bà, chủ trương cải cách mạnh cùng với một số trí thức cải cách lúc bấy giờ, như Khang hữu Vi, Lương khải Siêu, cùng một người thầy của vua Quang Tự, ông Đồng Hòa, quyết định biến pháp, năm 1898 : ban hành hiến pháp và nhiều luật lệ mới, để canh tân nước Tàu theo gương nước Nhật và nước Nga. Tuy nhiên cuộc biến pháp này chỉ kéo dài 100 ngày rồi bà Từ Hy trở lại dẹp tan, mặc dầu vậy vua Quang tự vẫn ngồi vì cho tới khi chết năm 1908, rồi bà chết theo. Vua Phổ Nghi lên, ba năm sau, thì có cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chấm dứt triều đại nhà Thành.
Cuối đời nhà Thanh, với bà Từ Hy và phe Triều đình bảo thủ, cũng cố dựng lên những bức tường để ngăn chặn tư tưởng tự do từ bên ngoài, nhưng phòng tuyến đã bị chọc thủng qua nhân vật vua Quang Tự, ngay trong triều, để đi đến chỗ xụp đổ.
Chúng ta thấy 2 chính sách bế quan tỏa cảng của 2 triều đại cuối, nhà Minh, nhà Thanh đều thất bại, hoặc vì nội loạn ngoại ưu, hay ngoại loạn nội ưu.
Thời suy thoái và thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản Tàu
Trở về với nước Tàu hiện nay có người hỏi đâu là thời suy thoái và đâu là thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản ?
Đây là câu hỏi khó trả lời vì chế độ cộng sản chưa chấm dứt. Tuy nhiên một cách ước đoán, chúng ta có thể nói:
 Biểu tình Thiên An Môn 1989 có lúc lên tới cả triệu người theo Wikipia. (Dưới) Sinh viên thực hiện biểu tượng cho Tự Do – Dân Chủ ngay tại quảng trường.
 
 
Hình ảnh lịch sử nổi bật, quan trọng của thế kỷ 20:  Cảnh 1 sinh viên đứng cản trước xe tăng đang tiến vào Thiên An Môn yêu cầu đoàn xe quay trở lại,  không đàn áp nhân dân với phong trào hợp lý yêu cầu cải cách, dân chủ cho đất nước.  Link: Người biểu tình vô danhWikipidea.
 
Thời kỳ suy thoái của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 1989 tới 2014, với sự đàn áp dân, sinh viên và học sinh bằng xe tăng và súng. Chắc chắn có nhiều người khó chấp nhận  với nhận định này vì nhìn vào bề ngoài và thực tế thì nền kinh tế Tàu trong giai đoạn này đã tăng trưởng một cách dài hạn và vượt bực, đã đưa tổng sản lượng quốc gia của nước Tầu lên hàng nhất nhì thế giới. Nhưng theo như câu nói của Chu Dung Cơ, cựu thủ tướng dưới thời Giang Trạch Dân, thì nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có đôi chân bằng đất sét. Sau biến cố Thiên an môn, những thành tựu ban đầu do chính sách tương đối cởi mở về tư tưởng và chính trị dưới thời Hồ diệu Bang và Triệu tử Dương, nhằm đưa nước Tàu trên con đường phát triển ổn định và quân bình đã bị hủy bỏ và hoàn toàn đi ngược lại. Vì vậy, mặc dù nước Tàu đạt được một số thành quả ngoạn mục về kinh tế qua chính sách « Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa «, nói nôm na dễ hiểu là chính sách kinh tế tư bản rừng rú kiểu mèo trắng mèo đen của Đặng tiểu Bình, kiếm tiền, làm giầu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn và hậu quả. Đằng sau những cao ốc chọc trời, xa lộ thêng thang, xe lửa cao tốc là những bất công chồng chất trong một xã hội bất ổn, vô đạo đức, vô nhân tâm, người người giết nhau như bầy thú chỉ vì chút ít tiền hay tranh giành địa vị. Ngoài ra những vấn nạn: mâu thuẫn chủng tộc, Tạng, Hồi, Mông, Mãn, Hán, ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, thực phẩm độc hại đang giết hại lần mòn hàng tỷ dân Tàu. Đúng như lời ông François Mittérand, Tổng thống Pháp lúc bấy giờ, đã bình luận về vụ đàn áp Thiên an môn 1989:« Một chính quyền dùng súng bắn vào dân, học sinh, sinh viên là một chính quyền dùng súng bắn vào tương lai của mình. » Ngọn lửa Thiên an Môn vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân, trong tâm khảm của hàng triệu thanh thiếu niên, trong lòng của nhửng người mẹ, người cha, chỉ chờ một biến cố nhỏ là có thể bùng cháy kết thúc một chế độ gian xảo, cực ác trong lịch sử nhân loại.
Thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 2014, khi xẩy ra vụ Bạc Hy Lai, bị bắt và bị đưa ra tòa, bề ngoài là vì tham nhũng, nhưng theo tin tức đáng tin cậy, thì là âm mưu đảo chính Tập cận Bình, rồi liền sau đó có những vụ ám sát nhưng không thành, khiến cho Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội, cùng một số tướng lãnh bị khai trừ khỏi Đảng. Rồi Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba trong Đảng, bị tuyên bố điều tra.
Nhưng thời kỳ diệt vong này kéo dài bao lâu, người ta chưa thể biết.
Cần lưu ý một điều là chế độ cộng sản, khác với 2 chế độ vừa kể, không chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng lúc ban đầu từ năm 1949, khi họ cướp được chính quyền, mà phải nói là từ ngày thành lập năm 1921, đảng cộng sản Tàu đã chủ trương mở cửa, đón nhận những tư tưởng nước ngoài. Nhưng có một điều không may mắn, đáng buồn cho dân tộc và nước Tàu, đó là giới lãnh đạo này chưa đủ trình độ trí thức để biết rõ đâu là cái hay cái đở của văn hóa, văn minh đông phương, đâu là cái hay cái dở của văn hóa, văn minh tây phương, vội vứt bỏ toàn bộ văn hóa đông phương, kiểu như Mao trạch Đông tuyên bố: «  Khổng tử là con chó giữ nhà cho bọn phong kiến «, vội nhập cảng lý thuyết Marx, Lenin, cặn bã của văn hóa tây phương.
Giới sĩ phu, trí thức cộng sản Tàu và Việt Nam nên suy ngẫm điều này! (1)
Trở về chính sách cải cách của Tập cận Bình, được che dấu dưới những mỹ từ, nào là chống tham nhũng, lấy lại niềm tin của dân, thực hiện giấc mơ Trung quốc; nhưng bản chất thực là sự đấm đá nội bộ, tranh quyền, trở về chính sách bế quan tỏa cảng, kiểm soát những nhà đối lập mạnh mẽ hơn, cấm dân phát biểu tự do, kiểm sóat dân truy cập Internet v.v…, đây cũng là bắt đầu thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản, như một số người đưa ra giả thuyết này.
Người dân Hồng Kông thắp nến tưởng niệm Thiên An Môn làm Bắc Kinh nhức nhối, khó chịu.
Nhưng đâu là chỉ dấu của sự diệt vong ?
Chỉ dấu đầu là sự thanh trừng nội bộ một sống một còn, khi Tập cận Bình tuyên bố: « Tôi không màng đến sự sống chết, tôi không lưu tâm đến việc tiếng tăm của tôi còn hay mất, tôi quyết tâm chống tham nhũng. »
Chỉ dấu thứ nhì là sự nổi dậy của dân Hồng kông. Tất nhiên Hồng Kông không đòi độc lập, nhưng sớm muộn, dân Hồng Kông sẽ đòi tự do, dân chủ, dân cử và dân bầu, chứ không phải là đảng cử dân bầu. Một khi ước vọng này được thực hiện, thì nó sẽ là một vết dầu loang, loang ra những vùng lân cận, như Tây Tạng, Tân cương, Quảng Đông, Quảng tây và tới ngay cả Bắc Kinh.
Đến lúc đó, chế độ cộng sản còn đứng vững không ? Đảng cộng sản Tàu còn tồn tại không ?
Câu trả lời là chế độ cộng sản rất khó tồn tại và đứng vững. Nhưng đó cũng chỉ là dự đoán tương lai. Chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi.
Paris ngày 14/11/2 014
 Chu chi Nam và Vũ văn Lâm
(1)  Xin xem thêm những bài về Tàu và Tập cận Bình, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Cam Ranh-Yes or No (hay là chiến tranh Trung-Mỹ)

Thursday, July 23rd, 2015
Tác Giả: Nguyễn Đình Phùng
Hoaky- taucong
Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa có thể đã và đang xảy ra, nhanh chóng hơn tất cả những tiên đoán từ trước đến nay!

Những diễn tiến dồn dập xảy đến trong khoảng thời gian gần đây cho thấy Hoa Kỳ đã sửa soạn cho một bối cảnh xung đột với Trung Hoa và có thể đã cho bắt đầu một chiến dịch để triệt hạ quốc gia đối thủ là Trung Hoa, càng ngày càng ra mặt để khiêu khích Hoa Kỳ, bất chấp hậu quả!

Cuộc chiến tranh này không bắt đầu bằng những đụng độ quân sự qui ước như những chiến tranh trước đây trong lịch sử, nhưng khởi sự bằng kinh tế và đặc biệt bằng cyberwarfare, chiến tranh vi tính!

Và những biến chuyển của tuần lễ vừa qua, đặc biệt là sự sụp đổ thị trường chứng khoán của Trung Hoa, đã đưa đến nghi vấn có phải Hoa Kỳ đã bắt đầu chiến lược triệt hạ Trung Hoa về mặt kinh tế bằng cách nhúng tay vào việc sụp đổ thị trường chứng khoán này của Trung Hoa?

Ngày thứ sáu 3 tháng 7 vừa qua, chỉ số về stock của Trung Hoa là Shangai Composite Index mất đi 5.8% đứng ở mức 3687.
So với ngày 12 tháng 6, chỉ số này đứng ở mức 5166, có nghĩa chỉ trong vòng 3 tuần lễ, stock của Trung Hoa đã mất đi 29% giá trị.

Sự sụp đổ nhanh chóng này đã làm mất đi 2.7 trillion tức 2700 tỷ Mỹ Kim giá trị của chứng khoán Trung Hoa.

Và sự mất mát này đã đổ trên đầu của hàng trăm triệu gia đình dân Tàu, mấy năm nay đã đổ xô như điên cuồng vào việc chơi stock để làm giàu nhanh chóng, nay mất hết cơ nghiệp và tài sản vì sự sụp đổ này!

Thị trường chứng khoán Shangai có 112 triệu trương mục, thị trường chứng khoán tại Shenzhen có 142 triệu trương mục. Chỉ trong mùa xuân năm 2015 mỗi thị trường đã có thêm 20 triệu accounts do dân Tàu nhảy vào chơi stock!

Khác với Hoa Kỳ, hiện nay cá nhân ít chơi stock, tại Trung Hoa 4/5 các trương mục trên thị trường chứng khoán hai nơi là của tư nhân, do dân Tàu giới trung lưu có ít tiền vốn để dành nhảy vào chơi stock kiểu đánh bạc, ăn thua đủ!

Nay với stock sụp, cả trăm triệu người mất tiền hay sạt nghiệp. Trường hợp này còn lớn lao hơn thời sụp đổ của Wall Street thập niên 30’s dẫn dắt đến tai họa Great Depression cho Hoa Kỳ và toàn cầu.

Lý do thiệt hại nặng là dân Tàu chơi stock kiểu margin rất nhiều, có nghĩa đi vay để chơi stock, chỉ cần bỏ ra 10 – 20% vốn, phần còn lại đi vay của ngân hàng hay công ty đầu tư. Khi stock lên, chơi kiểu margin này lời lớn.

Nhưng khi stock xuống, sẽ bị trường hợp gọi là margin call, khi giá trị stock xuống nhiều và nhanh, công ty đầu tư sẽ bắt châm thêm tiền vào, nếu không có, sẽ đương nhiên bị bán số stock đang có và tiền vốn bỏ ra lúc đầu sẽ mất sạch!

Như thế, chơi stock kiểu đi vay margin rất nguy hiểm và như tuần lễ vừa qua tại Thượng Hải, khi stock đã mất đi gần 1/3 giá trị, hàng trăm triệu dân Tàu chơi stock kiểu margin này mất hết, tán gia bại sản!

Trong ba tuần lễ qua, Ngân Hàng Trung Ương tại Bắc Kinh đã tìm cách cứu thị trường chứng khoán Tàu bằng cách hạ lãi xuất, giảm bớt luật lệ hạn chế.v.v., nhưng không đi đến đâu.

Các công ty lớn của Trung Hoa cũng tung tiền vào để mua stock nhằm giữ giá trị và Hiệp Hội Chứng Khoán của Trung Hoa, do chính quyền kiểm soát, cũng dự định sẽ tung tiền vào đến mức 120 tỷ nhân dân tệ hay renminbi, tương đương với 19.4 tỷ Mỹ Kim.

Nhưng con số này được coi là quá ít ỏi, khó lòng làm thị trường chứng khoán tại Thượng Hải và tại Shenzhen đứng vững được. Có thể sẽ lên được vài ngày nhưng nhiều phần sẽ tiếp tục đi xuống.

Một trong những lý do stock của Tàu xuống nhiều và nhanh như vậy vì các công ty đầu tư đổ xô vào để bán short – selling, tức vay tiền để bán stock đi. Khi giá xuống nhiều sẽ mua lại để trả cho chủ nhân và kiếm lời bằng tiền sai biệt. Với kiểu bán stock short này, các công đầu tư kiếm lợi nhiều và làm giá xuống còn nhanh hơn!

Chính quyền Tàu hiện đang la hoảng vì short selling này của các công ty đầu tư ngoại quốc, đặc biệt là của Hoa Kỳ. Công ty đầu tư của Wall Street bị vạch mặt chỉ tên là Morgan Stanley, đã dùng phương cách short selling để kiếm lời tối đa.

Nhưng câu hỏi sau hậu trường là các công ty đầu tư của Hoa Kỳ đã có sự khuyến khích hay giúp đỡ nào không của chính quyền Obama để lũng đoạn thị trường chứng khoán Trung Hoa, cũng như làm tình trạng trở nên tồi tệ hơn, gây ra sụp đổ toàn diện cho stock market của Trung Hoa?

Dĩ nhiên tình trạng thị trường chứng khoán của Trung Hoa sụp đổ là chuyện không sớm thì muộn cũng xảy ra.

Lý do là kinh tế Trung Hoa đã chậm đi nhiều, mức tăng trưởng trước kia từ 15 – 20%, nay chỉ còn 7% và năm nay 2015 sẽ còn xuống nhiều hơn. Với quả bóng địa ốc vỡ tan, khi các thành phố xây cất thành thành phố ma, các mall vĩ đại không một bóng người, các building xây cất bỏ không vì không có ai thuê, kinh tế Trung Hoa đang sụp đổ.

Nhưng chỉ vì chính quyền cộng sản tìm đủ cách để ếm nhẹm và bịp bợm các nhà đầu tư ngoại quốc, hậu quả của quả bóng địa ốc vỡ nổ chưa lan rộng lắm. Nhưng kế tiếp cho sự tan vỡ kinh tế của Trung Hoa chính là thị trường chứng khoán như việc sụp đổ trong ba tuần lễ vừa qua, chính quyền Trung Hoa không che dấu nổi!

Có thể nói thời điểm cho thị trường chứng khoán của Trung Hoa tan vỡ đã chín mùi, bắt buộc phải xảy ra kế tiếp cho quả bóng địa ốc vỡ tan.
Và các công ty đầu tư Wall Street đã đánh hơi và tính toán đúng để nhảy vào lũng đoạn và giúp cho thị trường chứng khoán Tàu sụp nhanh hơn bằng kiểu short selling!

Nhưng bàn tay của chính quyền Hoa Kỳ có thể đứng đằng sau giật dây là chuyện nhiều phần đã xảy ra!  Lý do là gần đây chính quyền Obama đã hứa hẹn là sẽ trả đũa Trung Hoa về tội dùng hacking để lấy tài liệu cá nhân của hơn 4 triệu nhân viên làm việc trong chính quyền.

Và tuy không nói ra, chính quyền Obama có thể đã dùng việc hacking vào chính các cơ sở của Trung Hoa và tại thị trường chứng khoán Thượng Hải để giúp cho thị trường stock này của Tàu sụp nhanh hơn?!!

Một khi quả bóng địa ốc vỡ tan và thị trường chứng khoán bị sụp, kinh tế sẽ đi vào suy thoái nặng nề. Trường hợp Nhật Bản thập niên 80’s đã có kinh nghiệm này và mất đến hơn 20 năm vẫn chưa ra khỏi được suy thoái.  Dĩ nhiên các chiến lược gia của Hoa Kỳ cũng hy vọng lịch sử sẽ tái diễn với Trung Hoa đi vào suy thoái nặng và mất đi tiềm năng kinh tế với việc sụp đổ vừa qua.

Trong chiến lược kinh tế tầm xa hơn, chính quyền Obama đã thành công khi cả 2 viện tại Quốc Hội đã thông qua luật để Obama thương thảo nhanh chóng cho thỏa ước mậu dịch Thái Bình Dương TPP, Trans Pacific Partnership.

Đây là đòn để triệt hạ kinh tế Trung Hoa về lâu về dài, với Hoa Kỳ và các nước Thái Bình Dương khác, trong đó có Việt Nam, trao đổi mua bán với nhau và gạt hẳn Trung Hoa ra ngoài!

Điểm quan trọng của thỏa ước mậu dịch TPP này là Hoa Kỳ đã nhắm vào Việt Nam. Lý do là trong 12 quốc gia hợp thành tổ chức mậu dịch này, quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất về mậu dịch và đầu tư là Việt Nam.

Và Hoa Kỳ đã dùng việc thông qua thoả ước mậu dịch TPP, hy vọng sẽ hoàn tất vào năm đến để tách rời Việt Nam ra khỏi quĩ đạo của Trung Hoa và thành đồng minh của Hoa Kỳ. Lý do để Hoa Kỳ mong muốn và tìm đủ cách để kéo Việt Nam từ bỏ chuyện đi hàng đôi và trở thành đồng minh với Hoa Kỳ nằm trong hai chữ: Cam Ranh!

Trong chiến lược kiềm tỏa Trung Hoa về mặt quân sự, vị thế đặc biệt của Cam Ranh nắm giữ tầm quan trọng bậc nhất với Ngũ Giác Đài. Phi Luật Tân đã mong muốn Hoa Kỳ trở lại Subic Bay tái lập căn cứ quân sự tại đây, nhưng Subic Bay không thể sánh với Cam Ranh về vị thế chiến lược hàng đầu được.

Một căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Cam Ranh sẽ trấn áp được hạm đội tiềm thủy đĩnh nguyên tử của Trung Hoa hiện đang đặt tại đảo Hải Nam. Hải quân Hoa Kỳ ở Cam Ranh sẽ giữ cho biển Đông Hải tự do giao thông, không e dè gì về việc Trung Hoa đang cho xây cất các hòn đảo nhân tạo làm phi đạo và thiết lập các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, kiểm soát toàn thể vùng biển Đông.

Hơn nữa căn cứ Cam Ranh sẽ giúp cho Hoa Kỳ tạo thành vòng đai nguyên tử bao vây Trung Hoa với các phi đạn gắn đầu đạn nguyên tử tầm gần loại Pershing như đã đặt tại Âu Châu thời chiến tranh lạnh, không cần đến hoả tiễn liên lục địa bắn đến Trung Hoa lâu hơn!

Tập Cận Bình đã đi sai một nước cờ khi cho kéo giàn khoan vào hải phận của Việt Nam và tạo nên làn sóng chống Tàu năm ngoái.

Việc Hoa Kỳ cho chiếu các video với đài CNN thu hình chuyện Trung Hoa cho lập đảo nhân tạo và xây phi đạo cho phản lực cơ quân sự gần Hoàng Sa là sự cố ý của chính quyền Obama, trước hết để đánh thức dư luận dân chúng Hoa Kỳ về hiểm họa Trung Hoa, nhưng cũng là để lôi kéo Việt Nam ra khỏi quĩ đạo Tàu và đi hẳn với Hoa Kỳ.

Những diễn biến gần đây tại Việt Nam cho thấy chiến lược này của Hoa Kỳ đang thành hình.

Trước hết một loạt các yếu nhân của Hoa Kỳ đã sang Việt Nam trong vài tháng nay như bộ trưởng quốc phòng Aston Carter, chủ tịch ủy ban quân lực tại Thượng Viện John McCain và gần đây nhất vào lễ quốc khánh Hoa Kỳ 4 tháng 7 là cựu tổng thống Bill Clinton. Clinton có thể là người đại diện cho Obama để thương thảo và đi đến thỏa thuận sau cùng về việc Việt Nam thành đồng minh của Hoa Kỳ và cho thiết lập căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Cam Ranh.

Đồng thời trong tuần này, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam là Nguyễn Phú Trọng sẽ đi với phái đoàn chính phủ hàng 150 người sang Hoa Kỳ và sẽ gặp Obama. Nguyễn Phú Trọng không phải là chủ tịch nước nhưng được tòa Bạch Cung phá lệ để tiếp đón như thủ lĩnh quốc gia.  Điều này cho thấy tay này đã đi theo phe thân Hoa Kỳ và gạt bỏ được Chủ tịch Trương Tấn Sang được coi như phe thân Tàu.

Một nhân vật theo phe thân Tàu là đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng không có tên trong phái đoàn sang Hoa Kỳ vào giờ chót. Tin chính thức của chính phủ cộng sản là Phùng Quang Thanh chữa bệnh tại Pháp, tuy có tin đồn không kiểm chứng được là tay này bị ám sát khi sang đến Pháp?

Tất cả những diễn biến này cho thấy Hoa Kỳ đã thành công trong việc lôi kéo Việt Nam ra khỏi quĩ đạo của Trung Hoa và nhiều phần sẽ được thoả thuận để lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh, có thể sau chuyến Obama sang thăm Việt Nam vào tháng 11 năm nay.

Tuy nhiên điều quan trọng đối với Việt Nam là việc phải thương thảo để Hoa Kỳ ký kết một hiệp ước hỗ tương phòng thủ như Hoa Kỳ đã ký kết các hiệp ước này với Nhật Bản và Phi Luật Tân trước đây.

Thực sự gọi là hỗ tương phòng thủ, nhưng điều đó có nghĩa Hoa Kỳ sẽ nhẩy vào bảo vệ Việt Nam một khi bị Trung Hoa tấn công. Vì phản ứng của Trung Hoa trước thế kiềm tỏa và chiến lược triệt hạ Trung Hoa của Hoa Kỳ sẽ làm cho Việt Nam ở vào thế nguy hiểm dễ dàng bị Trung Hoa tấn công và xâm lăng.

Chỉ một khi có được hiệp ước hỗ tương phòng thủ với Hoa Kỳ và căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Cam Ranh thiết lập xong xuôi, lúc đó Việt Nam mới ở vào thế an toàn trước đe dọa của Trung Hoa được.

Tóm lại, chiến lược triệt hạ Trung Hoa của Hoa Kỳ đã thành hình và đã bắt đầu được thi hành, về phương diện kinh tế cũng như quân sự. Điều tốt nhất cho toàn cầu vẫn là Trung Hoa suy yếu và tan rã một khi dân chúng Tàu bị khó khăn kinh tế và thất nghiệp nổi loạn và thay đổi được chính quyền cộng sản Trung Hoa hiện tại.

Cũng như Việt Nam một khi đi với Hoa Kỳ, sẽ phải chịu điều kiện để đi đến dân chủ hóa, nếu muốn hưởng lợi do thỏa ước mậu dịch TPP và được chiếc dù quân sự của Hoa Kỳ bảo vệ với căn cứ Hoa Kỳ tại Cam Ranh. Các chuyện này tuy còn xa vời nhưng điều gì cũng có thể xảy ra được. Và thời gian sẽ cho chúng ta câu trả lời rõ ràng nhất!

World Bank: Việt Nam nợ công 110 tỷ USD

Tuesday, July 21st, 2015

Nguồn: VNExpress

Số liệu này cao hơn mọi công bố từ trước tới nay của các cơ quan Việt Nam, và như vậy mỗi người dân đang gánh trên 1.200 USD nợ công, tương đương hơn nửa năm thu nhập.
no-cong-JPG-1893-1437464150.jpg

Theo số liệu của WB, mỗi người dân Việt Nam gánh hơn 1.200 USD nợ công. Ảnh:Reuters

Ngân hàng Thế giới (WB) – nhà tài trợ đa phương lớn nhất hôm qua công bố về nợ công Việt Nam với số liệu bất ngờ. Tính đến cuối năm 2014, tổng nợ công của Việt Nam, bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương ước tính là 2,35 triệu tỷ đồng (khoảng 110 tỷ USD).  Nếu xét về tỷ lệ tương đối so với GDP (186,2 tỷ USD), thì nợ công theo tính toán của WB tương đương 59% – xấp xỉ số liệu được Bộ Tài chính đưa ra. Nhưng nếu xét riêng số tuyệt đối, nợ công theo tính toán của WB cao hơn bất kỳ số liệu nào được nêu ra trước đó.

Bản tin nợ công tháng 11/2014 của Bộ Tài chính cho biết cuối năm 2013, nợ công của Việt Nam gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ nước ngoài của doanh nghiệp tự vay tự trả không tính nợ chính quyền địa phương đạt hơn 1,5 triệu tỷ đồng, tăng so với mức gần 890.000 tỷ đồng cuối năm 2010.

Theo WB, toàn bộ dữ liệu về nợ công Việt Nam được thu thập từ các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ. Nếu dựa trên con số này và mức dân số cuối năm 2014 là 90,7 triệu người, bình quân mỗi người dân Việt Nam “gánh” gần 1.212,8 USD nợ công.

Đồng hồ nợ công của Economist ghi nhận vào cuối năm ngoái, mỗi người Việt Nam gánh 914,1 USD nợ và hiện tại là 997,9 USD.

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tính tới cuối năm ngoái là hơn 2.000 USD một năm.

no-cong-JPG-5172-1437464150.jpg

Nguồn: MOF/VinaCapital

Trong một báo cáo mới công bố, Công ty Quản lý quỹ VinaCapital – đơn vị đang đầu tư hơn một tỷ USD tại Việt Nam đánh giá bức tranh tài khóa trong nước đang gặp nhiều vấn đề, đặc biệt là nợ công. “Tình hình nợ công ngày càng tệ trong những năm gần đây”, công ty này cho biết.

Tỷ lệ nợ công trên GDP đã giảm về 50,8% vào năm 2012, nhưng dự báo tăng lên 60,3% năm 2015 và có thể tiến tới 64,9% trong năm tới – tiệm cận với ngưỡng an toàn 65% GDP.  Chính phủ phát đi thông tin sẽ giảm chỉ tiêu này về 60,2% vào năm 2020, nhưng VinaCapital vẫn đặt câu hỏi làm thế nào để nợ công leo lên gần mốc 65% GDP trong năm tới và sau đó có thể giảm về 60,2%.

Các chuyên gia nước ngoài nhận định Việt Nam vay nợ cao chủ yếu do nhu cầu tài trợ ngân sách lớn. Bội chi đã tăng từ mức 4,9% GDP năm 2008 lên 5,3% GDP năm 2014. Nửa đầu năm 2015, ngân sách tiếp tục thâm hụt khoảng 99.000 tỷ đồng (4,5 tỷ USD).

Tình trạng này diễn ra khi chi tiêu của Chính phủ ngày càng tăng trong lúc nguồn thu không ổn định do Việt Nam đang trong lộ trình giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp và giá dầu sụt giảm. Ngoài ra, WB cho rằng chính sách nới lỏng tài khóa để ngăn ngừa suy thoái kinh tế mạnh hơn đã dẫn tới nới rộng đáng kể thâm hụt tài khóa.

So sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN đang cạnh tranh về thu hút đầu tư, VinaCapital đánh giá Việt Nam kiểm soát tài khóa kém nhất so với các “ông hàng xóm”. Điều này thể hiện qua mức thâm hụt cao nhất so với Thái Lan, Indonesia, Philippines, trong đó thu ngân sách của Việt Nam trên GDP giảm từ mức 26,3% năm 2009 về 20,1% năm 2014, còn các quốc gia khác lại tăng.

tham-hut-ngan-sach-JPG-6625-1437464151.j

Tỷ lệ bội chi ngân sách của Việt Nam so với các nước trong khu vực. Nguồn: VinaCapital

Chuyên gia kinh tế Sebastian Eckardt của WB nhận xét nợ công có xu hướng tăng sẽ gây áp lực lên nguồn trả nợ. Nghĩa vụ thanh toán nợ công (tổng thanh toán nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã tăng từ 22% năm 2010 lên gần 26% tổng thu ngân sách năm 2014. Chi trả lãi vay hiện chiếm gần 7,2% chi ngân sách, lấn át các khoản chi tiêu khác.

Ngoài ra, nghĩa vụ nợ tiềm tàng từ doanh nghiệp Nhà nước và khu vực ngân hàng cũng trở thành mối nguy cơ rủi ro tới tính bền vững của nợ công. Ngoài các khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh đã được tính toán, WB cho rằng vẫn còn nhiều khoản nợ tiềm ẩn chưa được thống kê một cách đầy đủ. “Các khoản nợ này ước tính có quy mô khá lớn, tính rủi ro cao và có thể đe dọa tới ổn định tài khóa”, WB cảnh báo.

Để kiềm chế áp lực nợ công, bà Victoria Kwakwa – Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam khuyến nghị Chính phủ cần củng cố tài khóa phù hợp với tăng trưởng để giảm bớt nhu cầu bù đắp thâm hụt ngân sách, đồng thời phải hợp lý hóa nguồn chi và cải thiện hiệu quả đầu tư công.

Lấy ví dụ về Hy Lạp, bà Kwakwa cho hay Việt Nam sẽ không rơi vào tình trạng tệ như vậy, nhưng cũng cần có những giải pháp ngay từ lúc này, trong đó chú trọng tới công tác thu thập thông tin và cập nhật nợ của khu vực doanh nghiệp Nhà nước để có đánh giá rủi ro kịp thời.

“Câu chuyện xảy ra tại Hy Lạp không phải chỉ sau một đêm mà đã diễn ra trong thời gian dài. Do đó, Việt Nam cần thu thập thông tin tốt, số liệu tin cậy sẽ là nền tảng quan trọng cho việc hoạch định chính sách, ra quyết định chính sách”, bà nhấn mạnh.

Phương Linh

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

Saturday, July 18th, 2015

From: VietVungVinh
To: Viet VungVinh
Sent: Thu, Jul 16, 2015 11:29 pm
Subject: Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

 
Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểutình của CĐNV

Một số người căn cứ vào bài báo của Việt cộng đã nhanh nhẩu cho rằng đoàn biểu tình và TNS Janet Nguyễn bị lừa. Nhưng trái lại chính họ mới là người bị Việt Cộng lừa. Cái đau nữa là cũng chính họ lại dẫn lời của TT Thiệu để răn bảo: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lựcbiểu tình của CĐNV

Đông đảo người người Mỹ gốc Việt từ Bắc Cali, Nam Cali và tại địa phương Sacramento đã tập trung biểu tình trước City Hall Sacramento lúc 12 giờ trưa thứ Ba ngày 14 tháng 7 năm 2015, để phản đối việc chính quyền thành phố trong ngày này sẽ có 2 cuộc gặp gỡ và tiếp đón phái đoàn CSVN do Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải dẫn đầu.

Cách đó, 4 ngày tức hôm thứ Sáu ngày 10 tháng 7 năm 2015 tại Văn phòng Cảnh Sát Quận Hạt Sacramento, một số đại diện Hội Đoàn tạiSacramento và đồng hương tham dự cuộc họp do ông Phó Thị Trưởng Allen Warren mở ra. Ông Allen Warren kể về chuyến viếng thăm VN của ông mới đây vào tháng 2 và nghe ông Warren trình bày về dự kiến kết nghĩa chị em giữa Sacramento với thành phố Hồ Chí Minh. Tại buổi bàn thảo này, ông Đỗ Thiện Thịnh Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Người Mỹ Gốc Việt Sacramento) và ông Tido Thạc Hoàng (Chủ tịch Điều Hành Người Mỹ Gốc Việt Sacramento) cùng một số đồng hương lên tiếng phản đối rằng chúng tôi không thể chấp nhận việc kết nghĩa vì CSVN đã vi phạm nhân quyền, không tự do báo chí, đàn áp tôn giáo v.v…

Trở lại cuộc biểu tình, đứng trước đoàn biểu tình tại khuôn viên tòa thị chính Sacramento, TNS Janet Nguyễn phát biểu qua loa cầm tay rằng chúng ta cần có thái độ phản đối mạnh mẽ để tránh sự việc này xảy ra trong tương lai.

Mặc dù là ngày thường, nhưng vẫn có rất đông đồng hương các nơi tề tựu tại đây, không những thế, thông tin cho chúng tôi biết các phái đoàn từ Bắc Cali đang chuẩn bị khởi hành để tiếp ứng cho cuộc biểu tình kéo dài cho đến 7 giờ tối.

Khoảng gần 1 gìờ trưa, TNS Janet Nguyễn đọc Email gởi ra từ một nhân viên của Phó Thị Trưởng Allen Warren thông báo hủy bỏ cả hai buổi họp với phái đoàn CSVN. Cuộc họp thứ nhất bị hủy theo dự trù là lúc 3 giờ 30 phút chiều Ðại diện của Hội Ðồng Kết Nghĩa Quốc Tế Sacramento, và một đại diện của phái đoàn CSVN. Sau đó là phần phát biểu của Phó Thị Trưởng Allen Warren và một phó chủ tịch của Sài Gòn. Cuộc họp thứ hai bị hủy theo dự trù lúc 6g chiều cùng ngày là phần nói về các cơ hội hợp tác giữa hai quốc gia.

Sau khi cuộc biểu tình nói trên diễn ra 24 tiếng, tại Việt Nam các báo đưa tin Giám đốc Sở Ngoại vụ và Giám đốc Văn phòng phụ trách Quan hệ Kết nghĩa Sacramento đã ký bản ghi nhớ nội dung nguyên văn nhưsau: “Bản Ghi nhớ để hai bên cùng tiếp tục bàn thảo phương thức, xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác đầy đủ giữa hai TP trong thời gian tới.” .

Một số người căn cứ vào bài báo VC đã nhanh nhẩu cho rằng đoàn biểutình và TNS Janet Nguyễn bị lừa. Nhưng trái lại chính họ mới là người bị Việt Cộng lừa. Cái đau là cũng chính họ lại dẫn lời của TT Thiệu để răn bảo: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Tin mới nhất 16/7/2015 : Trả lời phóng viên nhật báo Người Việt, ông Shoun Thao, cho biết: “Bản hứa hẹn mà bà Hurley ký không chắc chắn một việc gì cả. Bà Hurley ký với tư cách đại diện tổ chức Sister Cities International tại thành  phố Sacramento, một tổ chức vô vụ lợi do cựu Tổng Thống Dwight D. Eisenhower thành lập từ năm 1956 và chuyên kêu gọi các thành phố kết nghĩa. Ông Warren có mặt vì được mời. Ông Warren và thành phố Sacramento đã không ký bất kỳ thỏa thuận gì với phái đoàn Sài Gòn.”

 

 

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

Friday, July 17th, 2015

 

Ô. Đỗ Thiện Thịnh đang cầm loa

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

Một số người căn cứ vào bài báo của Việt cộng đã nhanh nhẩu cho rằng đoàn biểu tình và TNS Janet Nguyễn bị lừa. Nhưng trái lại chính họ mới là người bị Việt Cộng lừa. Cái đau nữa là cũng chính họ lại dẫn lời của TT Thiệu để răn bảo: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

Đông đảo người người Mỹ gốc Việt từ Bắc Cali, Nam Cali và tại địa phương Sacramento đã tập trung biểu tình trước City Hall Sacramento lúc 12 giờ trưa thứ Ba ngày 14 tháng 7 năm 2015, để phản đối việc chính quyền thành phố trong ngày này sẽ có 2 cuộc gặp gỡ và tiếp đón phái đoàn CSVN do Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải dẫn đầu.

Cách đó, 4 ngày tức hôm thứ Sáu ngày 10 tháng 7 năm 2015 tại Văn phòng Cảnh Sát Quận Hạt Sacramento, một số đại diện Hội Đoàn tại Sacramento và đồng hương tham dự cuộc họp do ông Phó Thị Trưởng Allen Warren mở ra. Ông Allen Warren kể về chuyến viếng thăm VN của ông mới đây vào tháng 2 và nghe ông Warren trình bày về dự kiến kết nghĩa chị em giữa Sacramento với thành phố Hồ Chí Minh. Tại buổi bàn thảo này, ông Đỗ Thiện Thịnh Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Người Mỹ Gốc Việt Sacramento) và ông Tido Thạc Hoàng (Chủ tịch Điều Hành Người Mỹ Gốc Việt Sacramento) cùng một số đồng hương lên tiếng phản đối rằng chúng tôi không thể chấp nhận việc kết nghĩa vì CSVN đã vi phạm nhân quyền, không tự do báo chí, đàn áp tôn giáo v.v…

Trở lại cuộc biểu tình, đứng trước đoàn biểu tình tại khuôn viên tòa thị chính Sacramento, TNS Janet Nguyễn phát biểu qua loa cầm tay rằng chúng ta cần có thái độ phản đối mạnh mẽ để tránh sự việc này xảy ra trong tương lai.

Mặc dù là ngày thường, nhưng vẫn có rất đông đồng hương các nơi tề tựu tại đây, không những thế, thông tin cho chúng tôi biết các phái đoàn từ Bắc Cali đang chuẩn bị khởi hành để tiếp ứng cho cuộc biểu tình kéo dài cho đến 7 giờ tối.

Khoảng gần 1 gìờ trưa, TNS Janet Nguyễn đọc Email gởi ra từ một nhân viên của Phó Thị Trưởng Allen Warren thông báo hủy bỏ cả hai buổi họp với phái đoàn CSVN. Cuộc họp thứ nhất bị hủy theo dự trù là lúc 3 giờ 30 phút chiều Ðại diện của Hội Ðồng Kết Nghĩa Quốc Tế Sacramento, và một đại diện của phái đoàn CSVN. Sau đó là phần phát biểu của Phó Thị Trưởng Allen Warren và một phó chủ tịch của Sài Gòn. Cuộc họp thứ hai bị hủy theo dự trù lúc 6g chiều cùng ngày là phần nói về các cơ hội hợp tác giữa hai quốc gia.

Sau khi cuộc biểu tình nói trên diễn ra 24 tiếng, tại Việt Nam các báo đưa tin Giám đốc Sở Ngoại vụ và Giám đốc Văn phòng phụ trách Quan hệ Kết nghĩa Sacramento đã ký bản ghi nhớ nội dung nguyên văn nhưsau: “Bản Ghi nhớ để hai bên cùng tiếp tục bàn thảo phương thức, xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác đầy đủ giữa hai TP trong thời gian tới.” .

Một số người căn cứ vào bài báo VC đã nhanh nhẩu cho rằng đoàn biểu tình và TNS Janet Nguyễn bị lừa. Nhưng trái lại chính họ mới là người bị Việt Cộng lừa. Cái đau là cũng chính họ lại dẫn lời của TT Thiệu để răn bảo: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Tin mới nhất 16/7/2015 : Trả lời phóng viên nhật báo Người Việt, ông Shoun Thao, cho biết: “Bản hứa hẹn mà bà Hurley ký không chắc chắn một việc gì cả. Bà Hurley ký với tư cách đại diện tổ chức Sister Cities International tại thành  phố Sacramento, một tổ chức vô vụ lợi do cựu Tổng Thống Dwight D. Eisenhower thành lập từ năm 1956 và chuyên kêu gọi các thành phố kết nghĩa. Ông Warren có mặt vì được mời. Ông Warren và thành phố Sacramento đã không ký bất kỳ thỏa thuận gì với phái đoàn Sài Gòn.”

Phân Ưu: Cụ Lê Quang Liêm qua đời

Friday, July 17th, 2015

PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn:

Cụ LÊ QUANG LIÊM, 

Cu Le Quang Liem

Hội Trưởng Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam.

sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.  

Vừa mệnh chung lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia ở Thủ Đô Saigon.

Thượng thọ 96 tuổi.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Chân thành phân ưu cùng Tang Quyến và Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Xin Cầu Nguyện cho Hương Linh Cụ sớm về cõi Niết Bàn.

Trân trọng

TM. CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ

BS Võ Đình Hữu

BS Đỗ Văn Hội

GS Phạm Văn Thanh

Ban Cố Vấn: 

BS Trương Ngọc Tích 

Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn

Ông Trần Xuân Thời 

Ông Nguyễn Văn Tánh

Cùng toàn thể các Cộng Đồng Thành Viên

——————————————–

Tóm Tắt Tiểu Sử Cụ Lê Quang liêm

Cụ Lê Quang Liêm là Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam. Cụ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An , huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cụ tạ thế lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia hưởng thọ 96 tuổi.

Cụ sinh ra và lớn lên trong gia đình đại điền chủ và là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến tháng giêng năm Canh Thìn (1940) Cụ đã quy y với Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Cụ từng là chiến sĩ chống Pháp, sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và là Dân Biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa:

1945-1946: Đoàn Trưởng Bảo An Phật Giáo Hòa Hảo quận Chợ Mới, tỉnh An Giang

1946-1947: Chính Trị Viên Đại Đội I, Chi Đội 30, Bộ Đội Nguyễn Trung Trực

1948-1952: Tham Mưu Trưởng Nghĩa Quân Cách Mạng Dân Xã Đảng do cụ Lê Quang Vinh lãnh đạo.

1953-1955: Sáp nhập vào Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, cấp bậc Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 525

1956-1957: Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 12

1958-1959: Tham Mưu Phó Quân Đoàn II

1960-1962: Trưởng Phòng 4 Bộ Tư Lệnh Hành Quân

1963-1964: Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang

1964-1965: Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang

1966-1967: Chỉ Huy Trưởng Hậu Bị Quân Vùng 4 Chiến Thuật, kiêm Thanh Tra Tòa Đại Biểu Vùng 4

1968-1969: Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến;

1972-1975: Dân Biểu Quốc Hội, Chủ Tịch Ủy Ban Định Chế, Chủ Tịch Ủy Ban Canh Nông;

Sau 1975 cụ bị nhà cầm quyền Cộng sản cầm tù trong nhiều nhà giam khác nhau.

2006 Cụ là thành viên sáng lập và là Cố vấn của Khối 8406.

Về hoạt động giáo sự:

1967-1975: Cố vấn kiêm Đại Diện Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Gíao Hội Phật Gíao Hòa Hảo, Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo.

Từ tháng 02-2000 đến hiện nay: Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo Thuần Túy.

Tháng 12-2000, cụ cùng Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh và Linh mục Chân Tín, viết một bản lên tiếng phản đối chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Cộng sản, đòi hỏi nhà cầm quyền phải “tôn trọng quyền tự do tôn giáo thực sự của các tôn giáo, nhất là các quyền căn bản của các Giáo Hội. Các Giáo Hội phải được hoàn toàn độc lập và tự do trong việc lựa chọn, huấn luyện, chỉ định các chức vụ tôn giáo tùy theo nhu cầu của từng Giáo Hội”.

Tháng 2/2001, tại Huế, cụ Liêm gặp gỡ Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Thượng Tọa Thích Chân Trí, và cùng ba vị lãnh đạo tôn giáo này thành lập Hội Đồng Liên Tôn.

2013-1015 cụ cùng nhiều tu sĩ 5 tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành và Phật giáo Hòa Hảo đồng sáng lập Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Đến tận cuối đời cụ Lê Quang Liêm vẫn một lòng cùng vì nước vì dân theo Thầy giữ trọn Tứ Ân.

Nguyễn Quang Duy – Soạn

Melbourne Úc Đại Lợi

17-7-2015

Trang Biểu Tình chống Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ

Saturday, July 11th, 2015

Thông Cáo Kết quả cuộc biểu tình Chống Nguyễn Phú Trọng

Tuyên Cáo về việc Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ

Vỉdeo cuộc biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng (1) (SBTN Hoa Thịnh Đốn)

Video cuộc biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng (2) (SBTN Hoa Thịnh Đốn)

http://youtu.be/8wC_j5LW9lE (Á Châu tự Do)

Biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng 7-7-2015 by bebeliem

http://www.youtube.com/watch?v=2Oy3k5DHAtE  (Vũ Nhân, STBN)

https://www.youtube.com/watch?v=Q9Z-sYyBBsw&feature=youtu.be (Nữ Ký Giả Tuyết Mai)

https://youtu.be/5G9AJMq0eHI (Viet TV DC: THVN-HTD:)

https://www.youtube.com/watch?v=y-n3ljVJ8og (Đài Bọt  Biển)

Trang hình ảnh Nhất Hùng:

Cộng Đồng VN Biểu Tình Chống Nguyển Phú Trọng Tại Hoa Thịnh Đốn 7/7/ 2015

Press Release: Demonstration to protest Against Vietnamese Communist Party Chief to Visit White House on July 7, 2015. 

Thông Cáo về Cuộc Biểu Tình Chống Nguyễn Phú Trọng và Phái Đoàn đến Hoa Kỳ 

Nguyễn Phú Trọng đi thăm Hoa Kỳ nói lên điều gì?

Press Release: Demonstration to protest Against Vietnamese Communist Party Chief to Visit White House

Wednesday, July 1st, 2015

Organizing Committee

for the Rally Against CPV General Secretary’s Visit

 Press Release

June 30, 2015

Contact us

Dr. The-Binh Nguyen,

binhnguyenmd@gmail.com .

(703) 618-3630

According to the latest information, Mr. Nguyen Phu Trong, General Secretary of the Communist Party of Vietnam and his delegation will visit the United States on July 5th through July 9th, 2015.

A proposed plan to meet with President Obama at the White House has been scheduled for the morning of July 7th, 2015.

The Communist Party of Vietnam has committed many crimes against the people of Vietnam since their establishment in the 1930s.  They impose a totalitarian regime on more than 90 million of Vietnamese citizens.  We call on the US government and the international community to denounce their legitimacy from representing the people of Vietnam on the basis of their past and on-going crimes including depriving all fundamental freedoms of the people, abusing human rights, seizing all private assets, and supporting the Chinese invasion in the East Sea (South China Sea.)

The Vietnamese community overseas will organize a demonstration to protest Mr. Nguyen Phu Trong and his delegation:

From 8 am to 12 pm on Tuesday, July 7th, 2015

At the Lafayette Park (in front of the White House), Washington DC.

 

USCIRF Urges President to Designate Vietnam as a CPC in Letter

Sunday, June 28th, 2015

1/21/10: USCIRF Urges President to Designate Vietnam as a CPC in Letter

FOR IMMEDIATE RELEASE
January 21, 2010WASHINGTON, D.C. – The U.S. Commission on International Religious Freedom sent the following letter to President Obama urging him to designate Vietnam as a “Country of Particular Concern.”

*****
January 6, 2010

President Barack Obama
The White House
1600 Pennsylvania Avenue, NW
Washington, D.C. 20500

Dear Mr. President:

We are writing today to respectfully ask your Administration to consider reviewing current policy regarding Vietnam. Human rights conditions in that country continue to deteriorate and the Vietnamese government has taken active steps to repress, intimidate, and imprison free speech, democracy, religious freedom, labor activists, and the lawyers who defend them. We urge the Administration to consider designating Vietnam as a “Country of Particular Concern” (CPC) under the International Religious Freedom Act of 1998 and signaling to Congress its support for quick passage of the Vietnam Human Rights Act (S. 1159/H.R. 1969). We believe these two measures will provide your Administration with the necessary tools, incentives, and funding to effectively advance U.S. interests in freedom and human rights in Vietnam.

In your inaugural address, you eloquently said that those who “cling to power through corruption and deceit and the silencing of dissent…are on the wrong side of history…we will extend a hand if you are willing to unclench your fist.” Though the U.S. and Vietnam share a tragic history, the U.S. has extended substantial trade benefits, development assistance, and humanitarian project funding to Vietnam in recent years. The U.S. granted Vietnam Permanent Normal Trading Relations in December 2006, paving the way for Vietnam to join the World Trade Organization. Over the past three years, however, Vietnam has imprisoned dozens of dissidents and taken steps to silence dissent and ban independent religious and human rights organizations.

The U.S. Commission on International Religious Freedom (USCIRF) and its staff have traveled to Vietnam five times since 2003, most recently in May 2009. Sadly, it is our belief that the human rights situation in Vietnam will deteriorate even more next year in advance of the 11th National Party Congress. Additional political, economic, and political incentives are needed at this time to advance vital U.S. interests and protect human rights.

It is our belief that the CPC designation is a flexible diplomatic tool that, when used previously for Vietnam, brought about some tangible results without hindering advances on other bilateral interests. We believe it can be used now with similar results. Targeted diplomatic action, when coupled with positive political incentives and possible economic sanctions, produced real human rights improvements in Vietnam. The current policy of quiet diplomacy and increased trade has not brought about the same results.

As a senator, you worked closely with USCIRF on Vietnam. In a letter to the previous Administration, you cited numerous cases of religious freedom and human rights abuses and asked that the State Department be a “strong voice on behalf of the human rights of the Vietnamese people.”

Designating Vietnam as a CPC and signaling support for passage of the Vietnam Human Rights Act is the type of strong voice needed at this time. We hope your Administration can establish clear policies and use all available diplomatic tools to support the hopes and aspirations of the Vietnamese people for both greater freedoms and prosperity.

Sincerely yours,

Leonard Leo
Chair

cc: Kurt M. Campbell, Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
Michael H. Posner, Assistant Secretary for Democracy, Human Rights and Labor
Samantha Power, Special Assistant to the President and Senior Director for Multilateral Affairs and Human Rights
Ambassador Jeffrey A. Bader, Special Assistant to the President and Senior Director for East Asian Affairs

Click here to view the pdf version of the letter.

USCIRF is an independent, bipartisan U.S. federal government commission. USCIRF Commissioners are appointed by the President and the leadership of both political parties in the Senate and the House of Representatives. USCIRF’s principal responsibilities are to review the facts and circumstances of violations of religious freedom internationally and to make policy recommendations to the President, the Secretary of State and Congress.

To interview a USCIRF Commissioner, contact Tom Carter, Communications Director at tcarter@uscirf.gov. This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it , or (202) 523-3257.

Source: http://www.uscirf.gov/index.php?option=com_content&task=view&id=2938&Itemid=1

Saturday, January 30, 2010

Nam Bắc Phân Tranh Sau 1975 – Nguyễn Tường Tâm



Thuyền nhân Việt Nam tại trại tị nạn Hồng Kông

Nguyễn Tường Tâm

Không ai có thể xóa bỏ một đoạn đời mà mình kiêu hãnh, vì thế sự ngăn cách của hai thế hệ trưởng thành sau 1954, đã từng, dù không hoàn toàn tự nguyện, tham gia vào cuộc chiến nam bắc phân tranh 1954 -1975 là một điều tự nhiên. 35 năm sau ngày đất nước thống nhất về mặt địa dư, không những sự phân cách trong lòng người vẫn còn mà đôi khi còn tiến tới sự phân tranh không kém mãnh liệt. Chính bởi thế ngay trong tập thể những người Việt bỏ nước ra đi trốn chế độ cộng sản cũng có sự phân tranh mãnh liệt giữa người Việt miền bắc và người Việt miền nam.Trong thời gian tôi ở trại tỵ nạn Màn Dìn ở Hồng Kông (1989), trong trại có xuất bản bản tin hàng tuần. Một hôm ban lãnh đạo hội cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trong trại mà chủ tịch là cựu thiếu tá Hùng, khóa 20 Võ Bị, hiện ở Nam Cali, cho người mời tôi tới họp khẩn. Khi tới nơi anh em cho biết trong số báo sắp ra tuần này có một bài của mấy người miền bắc chửi anh em cựu quân nhân VNCH và hỏi ý kiến tôi xem sẽ phải đối phó ra sao. Suy nghĩ một hồi tôi nói để tôi gặp ông đại diện cao ủy tỵ nạn nói chuyện với ông ta xem sao. Trong văn phòng cao ủy của trại, ngoài ông cao ủy còn thì nhân viên là thuyền nhân, trong đó có cả thuyền nhân miền bắc. Những thuyền nhân làm trên mấy văn phòng của trại hay văn phòng cao ủy đa số là thông dịch viên (interpreter). Thông dịch viên có thể nói là những “viên chức tỵ nạn cao cấp nhất” trong trại, là những người có ảnh hưởng rất lớn tới các chương trình của trại. Bởi thế mấy thông dịch viên người miền bắc mới đưa mấy bài chửi các cựu quân nhân VNCH vào tờ báo. Những thông dịch viên người miền nam không muốn (hay không dám) trực tiếp cá nhân đương đầu với mấy thông dịch viên miền bắc vì sợ đầu gấu miền bắc trả thù nên thông báo tin tức để hội cựu quân nhân có kế hoạch đối phó.

Hôm sau gặp đại diện cao ủy tỵ nạn, một thanh niên khoảng 30 tuổi người Anh, tôi đề cập tới vấn đề tờ báo thì ông cao ủy cho biết rằng Hồng Kông là xứ tự do, ngay cả cộng sản cũng được quyền hoạt động. Đã dự trù luận điểm này từ trước nên tôi lý luận rằng tôi đồng ý với ông là Hồng Kông là xứ tự do, nhưng trại tỵ nạn này là trại của những người tỵ nạn cộng sản và ngân sách của Liên Hiệp Quốc tài trợ cho những nạn nhân cộng sản. Sẽ thực là vô lý khi dùng ngân sách tỵ nạn cộng sản để nuôi cán bộ cộng sản và hỗ trợ các hoạt động của họ. Họ có thể hoạt động và vận động cho cộng sản ở Hồng Kông bên ngoài trại tỵ nạn cộng sản chứ không thể ở bên trong trại tỵ nạn cộng sản này. Ông đại diện cao ủy đuối lý và phải chấp nhận cho xé bài báo đó trước khi cho phát hành. Ngoài ra tôi còn yêu cầu ông phải cho một đại diện của người tỵ nạn miền nam làm phiên dịch trong ủy ban để kiểm soát các ấn loát phẩm trước khi cho phổ biến. Ông ta đồng ý và hội cựu quân nhân đã đưa cho tôi tên một cựu sĩ quan để đưa vào làm (dĩ nhiên có lương như chúng tôi).

Trước đó trong văn phòng cao ủy tỵ nạn vẫn có mấy thông dịch viên người miền nam nhưng họ không tham gia việc biên soạn bản tin của trại. Một yêu cầu thứ ba mà hội cựu quân nhân VNCH đề nghị tôi đòi hỏi là yêu cầu Cao Ủy Tỵ Nạn sa thải hai thông dịch viên người miền bắc đó. Dĩ nhiên đòi hỏi này không được ông cao ủy chấp thuận. Ngay khi nghe yêu cầu của anh em cựu quân nhân tôi đã thấy đòi hỏi này khó được chấp thuận vì vô lý nhưng tôi vẫn đưa ra với đại diện Liên Hiệp Quốc. Sau đó, cũng chiều ý ban đại diện hội Cựu Quân Nhân VHCH, tôi đề nghị đại diện Liên Hiệp Quốc cho di chuyển hai thông dịch viên đó sang khu vực hoàn toàn chỉ có người miền bắc, đối diện với khu vực hỗn hợp nam bắc của chúng tôi. Lý luận của tôi vừa hơi có tính cách đe dọa vừa có vẻ có thiện ý xây dựng là nếu không di chuyển hai thông dịch viên đó thì tôi e rằng sẽ có đổ máu cho hai anh đó và tôi không nghĩ là tôi có thể giúp giảm căng thẳng giữa hai phe trong trại.

Vị đại diện Liên Hiệp Quốc cho biết ông không thể di chuyển hai thông dịch viên đó nhưng ông sẽ cho hai thông dịch viên đó biết nguy cơ để tự quyết định. Mấy hôm sau vị đại diện Liên Hiệp Quốc gặp tôi cho biết ông ta đã thuyết phục nhưng hai thông dịch viên đó không chịu chuyển trại. Tôi hiểu rằng đây là thái độ của hai anh thách thức người miền nam. Và tôi cũng biết ngay rằng người miền nam trong trại không đủ hung dữ để thực hiện ý muốn bằng bạo động. Với thái độ lo ngại bất an trong trại, vị đại diện Liên Hiệp Quốc thuyết phục tôi rằng, “Ông hãy bảo với người miền nam của ông đừng bạo động. Lâu nay người miền nam các ông được tiếng là tốt, có cơ hội đi tỵ nạn. Trong khi như ông biết đấy, người miền bắc đâu có cơ hội tỵ nạn như các ông. Họ là những người xấu”. Nói tới đó tôi thấy đôi mắt ông long lanh như có nước. Tôi đã cộng tác và chứng kiến lòng tốt của nhiều người ngoại quốc trong khi giúp đỡ thuyền nhân Việt Nam tại Hong Kong, nhưng chính thuyền nhân Việt Nam lại chia rẽ, chém giết lẫn nhau. Đôi mắt long lanh như có nước của thanh niên trẻ người Anh này làm tôi xúc động, và hơi xấu hổ. Tôi nói với ông, tôi sẽ cố gắng nhưng tôi không bảo đảm kết quả.

Cách sống của người hai miền cũng cách biệt quá nhiều khiến chính quyền Hông Kông phải có chính sách tách biệt hai nhóm người để bảo vệ các thuyền nhân miền nam. Có lẽ trại tỵ nạn duy nhất ở Hồng Kông có một số nhỏ thuyền nhân miền bắc được cho ở chung với người miền nam trong một khu vực không có ngăn cách là trại Màn Dìn nơi tôi ở.

Trại Màn Dìn là một trại lớn có lẽ đứng thứ nhì sau trại White Head (trại Đầu Bạc). Tôi cũng nên kể thêm rằng sau này sang Mỹ, tôi mới biết trại Màn Dìn chính là trại có đoàn người khá đông từ San Jose, Hoa Kỳ, dẫn đầu bởi nhà báo Đỗ Văn Trọn và ca sĩ Mai Hân, theo bà Thanh Hải, dự định vào thăm các thuyền nhân nhưng không được vào trại nên đã ngồi ở trên đường dẫn vào trại để cầu nguyện cho thuyền nhân. Trại Màn Dìn có hai khu nam bắc riêng biệt với cổng an ninh ngăn cách. Khu miền Nam có 21 căn nhà, mỗi căn chứa khoảng 200 người. Cái khu miền nam này là khu vực duy nhất tại Hồng Kông có gần một nửa là người miền bắc ở chung với người miền nam mà không có hàng rào ngăn cách. Số người miền bắc được cho ở chung này kém về số lượng nên không gây ra đe dọa cho an ninh. Tuy nhiên cũng khiến người miền nam “hơi” lo ngại.

Đầu tiên là sự lo ngại bị thuyền nhân miền bắc cướp bóc, kể cả cướp bóc những giấy tờ quan trọng cho cuộc thanh lọc tỵ nạn. Sự lo ngại của thuyền nhân miền nam sau này cũng tới cực điểm khiến trại phải kêu gọi những ai có giấy tờ hay tài sản gì quý cần đưa trại giữ hộ thì mang nộp, khi nào cần thì lên lấy lại. Tuy hướng dẫn chung như vậy nhưng chủ đích chỉ nhằm bảo vệ thuyền nhân miền nam tránh sự cướp bóc của người miền bắc. Tình hình đe dọa cướp bóc căng thẳng tới độ trại phải cho cảnh sát mang bàn tới đặt tại từng căn nhà, ra lệnh mọi người ở nguyên chỗ ở của mình, rồi những ai có giấy tờ hay tài sản quý giá mang tới bàn nạp cho cảnh sát. Điều buồn cười là tuyệt đối không có thuyền nhân miền bắc nào có giấy tờ hay tài sản gì cần gửi cảnh sát, chỉ có thuyền nhân miền nam. Ngoài tài sản, cái mà thuyền nhân miền bắc muốn cướp của người miền nam là các giấy tờ tuỳ thân và các chứng minh bị cộng sản đàn áp của họ như giấy cựu quân nhân, giấy ra trại cải tạo v…v. Lúc bấy giờ với những giấy tờ chứng minh sự đàn áp đó thuyền nhân miền nam có nhiều hy vọng đi tỵ nạn hơn cho nên thuyền nhân miền bắc vì ganh tỵ, muốn cướp để thủ tiêu các giấy tờ đó để biến cơ hội đi tỵ nạn giữa thuyền nhân hai miền giống nhau.

Chính sách rõ ràng của Hồng Kồng là tách rời các thuyền nhân miền nam ra khỏi thuyền nhân miền bắc, nên tình trạng ở chung này chỉ là tạm thời chờ cho trại Đảo Bò, một hòn đảo hoang trước kia, được xây cất thành một trại khang trang có tên là trại Tai A Châu. Khi trại Tai A Châu được hoàn tất, lập tức Hong Kong cho chuyển người miền nam ra đó. Đó là trại dành riêng cho người miền nam. Vì người miền nam được tiếng có kỷ luật nên trại Tai A Châu cho phép thuyền nhân được ra khỏi trại đi chơi trên đảo hay ra bờ biển bất cứ lúc nào, dù là ban đêm.

Công việc chuyển khoảng bốn ngàn thuyền nhân miền nam từ trại Màn Dìn ra trại Tai A Châu phải từ từ trong khoảng một tuần. Để bảo đảm an toàn, họ khoanh vùng trong trại cho di chuyển từng khu vực nhỏ. Di chuyển theo lối cuốn chiếu, khởi đầu là từ bên trong cùng. Khi được gọi tên mang hành lý đi thì cũng có người được gọi tên trước, người được gọi sau. Khoảng cách nhiều lắm chỉ mấy tiếng đồng hồ thôi, nhưng những ai chậm được gọi cũng rất hoang mang hồi hộp, chỉ sợ bị người miền bắc thừa cơ hội người miền nam còn ít tới trấn lột, cướp bóc.

Cuối cùng cũng có một gia đình người miền Trung bị lọt danh sách. Gia đình này hiện đang ở San Jose. Có lẽ vì văn phòng trại tưởng đó là gia đình miền bắc. Đây là gia đình của một cựu sĩ quan cảnh sát miền nam. Ông ta cũng là một võ sư nổi tiếng ở Huế trước 1975. Khi các thuyền nhân miền Nam khác trong khu vực nhỏ của ông được gọi đi hết rồi, ông ta sợ quá không dám trở về chỗ ở nữa. Trong khi chờ đợi, mấy anh em miền nam đưa ông ta tới chỗ tôi ở để họp về trường hợp của ông. Chúng tôi quyết định một mặt liên lạc với đại diện Liên Hiệp Quốc để cho gia đình ông ấy đi trong cùng đợt với những người đã được gọi tên, một mặt tôi bảo ông ấy cứ ở gần chỗ với tôi thì không đến nỗi nào nguy hiểm bởi vì ít ra là trên cái giường ba tầng của gia đình tôi cũng đã từng tiếp nhiều anh chị em miền bắc.

Một lần, có lẽ vào năm 1991, tất cả anh chị em miền bắc thấy cơ hội đi tỵ nạn của họ có vẻ khó khăn đã quyết định biểu tình. Ban chỉ đạo biểu tình kéo tới chỗ gia đình tôi họp để hỏi ý kiến, vì trong đời họ chưa bao giờ thấy một cuộc biểu tình nào, nên họ không biết làm thế nào để tổ chức một cuộc biểu tình. Tôi cũng nhìn thấy một mối nguy về an ninh cho người miền nam là người miền bắc cảm thấy bực bội với người miền nam vì người miền nam thờ ơ với ý muốn biểu tình của họ. Bà vợ tôi thấy tình hình bắt đầu có vẻ hơi căng thẳng như vậy nên bảo nhỏ với tôi không nên liên hệ với công việc chuẩn bị biểu tình của người miền bắc. Vợ tôi nói, biểu tình thì người miền bắc có đánh gia đình mình đâu mà anh cần tham gia. Tôi bảo vợ tôi đừng sợ. Thứ nhất, nếu tôi không giúp họ thì ai giúp? Thứ nhì, nếu tôi không giúp họ thì thế nào cũng đi tới căng thẳng có thể đổ máu giữa hai nhóm người nam, bắc vì một bên cần biểu tình, một bên không.

Tôi phải giải thích cho người miền bắc: Mục tiêu, đối tượng và phương cách biểu tình cũng như là những việc cụ thể cần làm trước, trong và sau khi biểu tình. Tôi giải thích cho họ về mục tiêu biểu tình là đánh động dư luận qua giới truyền thông, báo chí. Đối tượng là giới truyền thông, báo chí chứ không phải ban chỉ huy trại, như vậy không có gì phải bạo động cả. Dĩ nhiên là giới truyền thông không được vào trại nhưng họ sẽ đứng trên con đường ở đỉnh núi dẫn vào trại và họ trông thấy cuộc biểu tình. Ngoài ra ban chỉ đạo biểu tình phải viết một thỉnh nguyện thư gửi cho đại diện Liên Hiệp Quốc. Thỉnh nguyện thư này cũng sẽ được chuyển ra ngoài cho giới truyền thông. Họ hỏi tôi trong lúc biểu tình thì phải làm gì. Mặc dù đã biết trước là trong đời người miền bắc chưa bao giờ biểu tình nhưng tôi vẫn thấy buồn cười trước câu hỏi này. Tôi phải nói với họ rằng đâu có làm gì ghê gớm đâu, chỉ cần kéo dài thời gian biểu tình và trong suốt thời gian đó đoàn người chỉ hô lớn những đòi hỏi thôi. Tiếp đó họ nêu vấn đề là họ sợ rằng người miền nam trong trại sẽ không tham gia biểu tình với họ. Tôi giải thích cho họ biết rằng, trong xã hội tự do, chỉ những ai có quyền lợi hay quan tâm tới vấn đề họ mới biểu tình thôi. Trong trường hợp này vì người miền nam sẽ được chấp nhận cho đi tỵ nạn hết (đó là chính sách của Liên Hiệp Quốc vào thời điểm đầu của cuộc thanh lọc vào khoảng 1991) cho nên họ không có lý do gì để tham gia thì quý anh chị cũng đừng bận tâm. Nếu không có sự giải thích trước như vậy thì chắc chắn chuyện người miền bắc muốn biểu tình, người miền nam không muốn sẽ đưa tới chém giết đổ máu. Với sự giúp sức của tôi, cuộc biểu tình của anh chị em miền bắc tại trại Màn Dìn diễn ra êm đẹp, không có người miền nam tham dự nhưng không có đổ máu giữa hai bên. Trong khi ở nửa trại bên kia, số thuyền nhân miền bắc đông hơn nhưng không tổ chức biểu tình được vì không có người miền nam giúp sức góp ý. Bây giờ nghĩ lại, tôi không biết đó có phải là cuộc biểu tình đầu tiên của thuyền nhân miền bắc tại Hông Kông hay không?. Trước đó dường như thuyền nhân miền bắc chỉ biết bạo loạn chứ không biết biểu tình.

Ngày đầu tiên, 21 tháng 6-1989, cũng như mọi thuyền tỵ nạn khác, thuyền của tôi được cảnh sát Hông Kông kéo vào đậu trong bãi tỵ nạn có tên là Đảo Bò. Đây là một trong đám đảo nhỏ. Trước kia được chủ nhân dùng để nuôi heo và bò cho nên thuyền nhân chúng tôi gọi là Đảo Bò. Tên thực của đảo là Tai A Châu. Vào tháng 6/1989, đây là trại tiếp nhận đầu tiên trong khi chờ chính quyền sắp xếp đủ chỗ chứa trong đất liền. Vì số người Việt tỵ nạn tới mỗi ngày không dưới 300 người nên trong đất liền Hông Kông không xây kịp chỗ chứa. Những người mới tới thường phải ở đây khoảng 2 tuần lễ. Ngay lúc vừa được cảnh sát đưa mấy người đại diện thuyền lên bờ làm thủ tục nhập trại, tôi đã thấy thuyền cấp cứu chở đi bệnh viện một nạn nhân bị cướp bởi chính thuyền nhân khác. Sợ quá, suy nghĩ một hồi tôi quyết định liều đứng dậy yêu cầu chính quyền trại bảo vệ. Tôi nói với người mà sau này tôi biết là trung sĩ nhất thường vụ quản lý trại rằng: “Tôi là một sĩ quan miền nam, tôi có khả năng tự vệ chống lại cướp, nhưng đây là Hồng Kông, một xứ sở có luật pháp nên tôi phải tôn trọng luật pháp Hồng Kông và tôi yêu cầu được bảo vệ tránh bị cướp như trường hợp vừa rồi”. Ông ta nhìn tôi mặt lạnh như tiền. Tôi thấy “không ăn” rồi. Ngay lập tức tôi quyết định lập lại yêu cầu nhưng cố nhét làm sao để có chữ “Quân đội Hoa Kỳ” (US Army). Tôi nói tiếp, “Tôi là cựu sĩ quan liên lạc của quân đội Hoa Kỳ” và lập lại yêu cầu. Khi nghe tới chữ US Army tôi thấy mắt ông ta nhấp nháy, tôi biết là “ăn tiền”. Ông ta nhìn tôi từ đầu tới chân rồi bảo tôi ở lại trong khi mấy người đại diện của các thuyền kia được đưa trở lại thuyền của họ. Thực sự tôi biết có cái chức “sĩ quan liên lạc” (liason officer) là trước kia trong thời gian ở bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 1, tôi có thời gian ngắn được gửi sang bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn 1/5 Cơ Giới Hoa Kỳ (1/5 Mechanized Division) để làm sĩ quan liên lạc hành quân.Toàn bộ 25 người thuộc ba gia đình trên con thuyền của tôi được đưa vào một khu biệt lập hẳn với mấy ngàn thuyền nhân khác. Khu vực này có những dẫy chuồng heo, và thuyền nhân được cho ở trong mấy cái chuồng heo đó. Cũng giống như ở nhà quê Việt Nam, mỗi chuồng heo vuông vức mỗi cạnh khoảng 4 m. Trong đó còn dấu vết của máng ăn, rãnh nước để rửa chuồng, chỗ hốt phân heo. Cứt heo và cám heo vẫn còn. Chúng tôi phải lấy nước rửa chuồng heo để ở. Thỉnh thoảng vẫn thấy những con dòi bò cạnh chỗ nằm. Nhưng dù sao cũng hơn mấy ngàn thuyền nhân khác là chỗ này còn có mái che là mái chuồng heo. Tới nơi tôi thấy toàn bộ thuyền nhân người Việt gốc Hoa đã ở trong khu vực này. Tất cả những thuyền nhân Việt gốc Hoa đều được cho ở riêng để bảo vệ. Ngay khi vừa rời Việt Nam, giữa người Việt và người Việt gốc Hoa đã có sự chia rẽ rồi, cho dù là họ sinh đẻ đã nhiều đời tại Việt Nam. Thuyền chúng tôi là những người miền nam duy nhất được bảo vệ chung với người Việt gốc Hoa. Một kỷ niệm nho nhỏ. Chỗ chuồng heo đó là chỗ duy nhất các phái đoàn hay phóng viên báo chí tới thăm đảo có thể tới gặp thuyền nhân để làm phóng sự, phỏng vấn. Những chỗ khác toàn là rừng hoang nên các đoàn khách đâu biết đường đi mà tới thăm được. Một hôm có một cô người nhỏ nhắn, xinh xinh, trạc ba mươi tuổi tới phỏng vấn thuyền nhân. Cô ta giới thiệu là làm cho chương trình Việt Ngữ đài BBC. Tôi ngưỡng mộ lắm. Vì từ trong tù cải tạo tôi đã ước mơ được làm cho đài BBC hoặc VOA. Lúc đó chỉ là một ước mơ viển vông thôi. Nhưng đời có ai ngờ nếu mình cứ mơ những giấc mơ “viễn vông” và cố thực hiện nó thì cũng có cơ may thành đạt. Còn hơn là không mơ gì cả. Thế là 10 năm sau, 1989-1999, sau thời gian học đại học Hoa Kỳ, tôi đã trúng tuyển vào ban Việt Ngữ đài VOA và sang thủ đô Washington làm việc trong một toà building lớn có vài ngàn nhân viên ở cạnh trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ.

Trên đảo ngoại trừ vài kiến trúc của chủ đảo mà cảnh sát đang xử dụng để quản lý trại không có một kiến trúc nào khác. Trừ một số nhỏ nằm trong các chuồng heo cũ, tất cả thuyền nhân phải căng lều nằm ngoài trời. Lều do trại phát. Những ngày sau đó tôi chứng kiến 100 phần trăm tất cả những thuyền nhân mới tới đảo đều bị người miền bắc cướp. Cướp khủng khiếp tới độ gần như công khai mà cảnh sát không làm gì được vì nạn nhân không dám khai báo và làm nhân chứng.

Người miền bắc chiếm đa số trong tổng cộng khoảng 6 ngàn người trên đảo. Họ tự động phân chia ra ở từng khu vực riêng rẽ: Khu Hải Phòng, khu Đồ Sơn, khu Hà Nội, khu Quảng Ninh. Dân miền bắc khác địa phương cũng không sống hợp nhất với nhau. Tôi không biết trước khi người cộng sản chiếm miền bắc năm 1954 thì người miền bắc có óc kỳ thị địa phương nặng nề như thế không. Nhóm nào đông thì nhóm đó chế ngự trại. Nhóm Quảng Ninh là đông nhất, có nghĩa là mạnh nhất. Thời gian tôi vừa tới trại thì cũng là lúc còn dư âm của anh chàng Hoa Hùng, một xếp đầu gấu người miền bắc vừa được chuyển vào đất liền. Hoa Hùng đi thì không có tay nào làm trùm của trại mà có nhiều băng nhóm nổi lên theo danh xưng địa phương. Mỗi băng nhóm hùng cứ một khu vực. Người Việt gốc Hoa, vì biết tiếng Hoa để giải thích với trại nên họ được bảo vệ ở một khu vực riêng ngay khi mới tới. Riêng người miền Nam thì không ai bảo vệ và cũng không có nhóm đầu gấu nào để đương đầu với các nhóm đầu gấu miền bắc. Người miền nam hiền quá và trở nên một cộng đồng bơ vơ giữa một xã hội không luật lệ.

Hai tuần lễ sau, khi gia đình tôi và một số người vừa được chuyển tới trại khác thì tại trại Đảo Bò xẩy ra bạo động làm rung động Hồng Kông và xấu mặt người Việt Nam. Cuộc bạo động gây ra bởi người miền bắc. Cuộc bạo động không lý do nhưng mức độ khiến các thuyền nhân người Việt gốc Hoa và miền nam ghê sợ và người Hồng Kông khinh bỉ. Người miền bắc chiếm trại, chiếm các kho thực phẩm. Cảnh sát Hồng Kông phải rút ra khỏi đảo. Kể từ lúc đó người miền bắc hoàn toàn làm chủ trên đảo và họ tự do cướp bóc, hãm hiếp.

Trong bài báo “Vietnam Refugees Riot in Hong Kong” do BARBARA BASLER, viết đặc biệt cho tờ The New York Times xuất bản ngày mùng 3 tháng 9-1989, tác giả đã viết, “HONG KONG, Sept. 2— Chủ nhật tuần trước, 1,000 người Việt nam đã bạo động trên đảo Tai A Châu, và mặc dù đã xử dụng hơi cay, một toán nhỏ cảnh sát tại đó đã không thể phục hồi được an ninh và buộc phải rút ra khỏi đảo. Sau một đêm bị tấn công, cướp bóc và 5 vụ hãm hiếp, hòn đảo, nơi có 5,500 người Việt nam bị tạm giữ, đã được cảnh sát chiếm lại khi các phi cơ trực thăng chuyển hơn 350 cảnh sát chống bạo động tới. Cảnh sát đã bắt 12 người và một người bị truy tố tội hãm hiếp. Đảo không có điện, không chỗ đi tiêu tiểu … Các thuyền nhân phải sống trong những lều tạm, giữa các đống rác và phân người … Các giới chức nói, “Trật tự hoàn toàn bị tan vỡ.”

Bản tin vắn tắt đã thấy rùng mình. Nhưng sẽ rùng mình hơn khi đã từng ở đó và may mắn được ra đi trước đó không lâu rồi được nghe chính những bạn bè, người quen của mình thuật lại ngay sau biến cố đó. Sau này mấy người miền nam kể lại với tôi rằng khi đổ quân vào tái chiếm lại đảo, cảnh sát chống bạo động và đại diện Liên Hiệp Quốc đã tìm cách cứu những người Việt gốc Hoa và người miền nam ra khỏi đảo trước. Cuộc giải cứu như giải cứu con tin bị bắt cóc. Có lẽ người đầu tiên được giải cứu là cựu thiếu tá Sơn, cựu giảng viên trường Võ Bị Đà Lạt. Lý do trại biết tới ông Sơn là vì ông làm phiên dịch cho một cơ quan thiện nguyện và cảnh sát cũng cần những người như ông để phân biệt đâu là người miền nam. Trên đường tiến vào chiếm trại, cảnh sát gọi đích danh để tìm kiếm ông Sơn và những thông dịch viên khác. Người Việt gốc Hoa thì được giải cứu hầu như toàn bộ vì họ nói được tiếng Hoa. Người miền nam thì được giải cứu ít thôi vì cảnh sát không phân biệt được ai là người miền nam, ai là người miền bắc. Chỉ những người được các phiên dịch viên như ông Sơn xác nhận, hay biết tiếng Anh để tự giới thiệu thì mới được cho lên thuyền cấp cứu rời đảo. Người miền bắc tuyệt đối không được cho lên thuyền cấp cứu.

Bản tin cho biết cảnh sát có bắt một số nghi can nhưng tôi biết rồi những người này cũng sẽ được thả ra ngay sau đó bởi vì luật lệ Hồng Kông rất là văn minh, dân chủ, muốn kết tội một người thì phải có đầy đủ bằng chứng, cần rất nhiều thời gian điều tra, với lời khai của rất nhiều nhân chứng. Thì giờ và ngân quỹ đâu mà họ điều tra và nạn nhân nào giám khai báo khi trong trại băng đảng bạn bè và thân quyến của nghi can còn đầy rẫy. Bản tin nói rằng có 5 vụ hãm hiếp. Nhưng bạn bè tôi cho biết những cuộc hãm hiếp nhiều hơn như thế nhiều lần. Họ còn nói rằng phụ nữ Việt gốc Hoa thì bị hãm hiếp gần như 100 phần trăm. Phụ nữ miền nam thì bị hiếp ít hơn. Nhưng tất cả các phụ nữ đều sợ hãi phải làm cho đầu tóc bù xù, bôi đất lấm lem lên mặt cho xấu đi. Người phụ nữ bạn với gia đình tôi trong tấm hình dưới đây đã thuật chị phải bôi mặt cho lem luốc, xấu đi hầu thoát nạn. Chị tên là Đinh Thị Thu Vân, hiện ở Hoa Kỳ.Cuộc chiếm đảo của đầu gấu miền bắc còn man rợ hơn nữa khi mấy ngày sau cảnh sát Hồng Kông phát hiện ra sự kiện là người miền bắc còn đi “ị” cả vào mấy bồn chứa nước ăn cung cấp cho chính thuyền nhân.

Những hành động và cung cách sống như vậy khiến các người ngoại quốc cũng như viên chức Hồng Kông hoạt động trong trại đánh giá thuyền nhân miền bắc thấp hơn thuyền nhân miền nam thật nhiều.

Sau hai tuần ở Đảo Bò, gia đình tôi cùng với 1,600 người khác được chuyển tới trại Thuyền Châu. Trại này cũng vẫn là tạm thời để chờ trong đất liền xây xong trại mới. Trại Thuyền Châu gồm bốn cái phà nhỏ, mỗi cái chứa được 400 người. Vì thế thuyền nhân gọi đây là trại Phao Nổi. Diện tích dành cho mỗi gia đình thật hẹp. Gia đình tôi 6 người được một diện tích bằng một chiếc chiếu nhỏ. Chỉ đủ chỗ cho vợ chồng tôi nằm ôm thùng quần áo. 4 đứa con và cháu phải mắc võng nằm ngay sát trên mặt vợ chồng tôi. Chúng tôi sống như thế trong bốn tháng.

Các phao này được để cặp bờ một đảo rất nhỏ cách đất liền Hồng Kông một eo biển hẹp có thể bơi qua dễ dàng. Eo biển này là đường lưu thông nườm nượp của các chiếc tầu cao tốc nối liền Hông Kông và Macau. Nhưng mỗi buổi tối, đều có những toán thanh niên miền bắc bơi vào đất liền đi ăn cắp đồ ở Hồng Kông. Liên Hiệp Quốc và cảnh sát Hồng Kông biết nhưng họ khuyên răn thiếu điều muốn năn nỉ rằng: “Xin quý vị đừng bơi như thế, rất là nguy hiểm cho mạng sống của quý vị”. Thế nhưng các đầu gấu với sự hỗ trợ của chính gia đình họ đã hàng đêm thực hiện những phi vụ phạm pháp như vậy. Những vụ trấn lột diễn ra hàng ngày nhưng cảnh sát không làm gì được vì nạn nhân không dám khai báo. Đầu gấu trừng phạt nhau mỗi đêm. Chúng để đối phương đứng ở giữa, chúng đứng vòng tròn xung quanh. Kẻ thù bị đánh, đá văng từ bên này sang bên kia. Chúng không cho ai đứng xem. Nạn nhân bị đánh gần chết được trực thăng chở đi cấp cứu trong đất liền mà khi trở về trại không ai dám chỉ hung phạm.

Trong hoàn cảnh ghê gớm đó người miền nam chỉ biết im lặng chịu đựng. Ngay gia đình tôi có một thùng bìa nhỏ, trước là thùng đựng cơm hộp do trại phát, nay gia đình tôi dùng để đựng quần áo vớ vẩn (thuyền nhân còn có gì hơn ngoài mấy bộ áo quần trại tiếp tế) nhưng bọn đầu gấu tưởng gia đình tôi có vàng nên một đêm vợ tôi ngủ say chúng cũng lấy được. Nếu thức giấc mà thấy chúng ăn cắp đồ của mình thì cũng chỉ cười trừ thôi chứ la lên thì cũng chẳng có ai tiếp cứu mà không khéo chúng lại đập cho vỡ sọ.

Tình hình phân chia nam bắc trong các trại tỵ nạn ở Hông Kông trầm trọng tới độ họ đối xử với nhau như hai dân tộc khác nhau. Người miền bắc hiếp đáp người miền nam. Người miền nam khiếp sợ người miền bắc. Sau khoảng hai tháng ở trại phao nổi, trong đất liền có một số chỗ, trại xắp xếp đưa số người miền nam tách rời khỏi số miền bắc. Nhưng họ phải làm kín đáo để người miền bắc đừng bạo động. Sáng hôm chuyển trại, họ bảo tất cả các thuyền nhân mang hết đồ đạc tập trung trên sân để nghe đọc danh sách chuyển trại vào đất liền. Nghe thấy vậy ai cũng vui mừng. Trại làm rất dân chủ. Khi được gọi tên họ hỏi thuyền nhân có muốn chuyển trại không? Ai mà không muốn sớm được vào một trại nào đó trong đất liền để có cuộc sống ổn định hơn. Đến khi gọi được nửa số người rồi thì người miền bắc đã biết ngay đó là kế hoạch trại cho di chuyển người miền nam đi trại khác tách biệt với người miền bắc. Họ ngồi buồn so trong khi những người miền nam có tên được gọi đi thì tay xách nách mang khuôn mặt hí hửng.

Gia đình tôi được gọi lên sau cùng. Họ cũng hỏi tôi có muốn chuyển trại không. Tôi trả lời “Không!”. Ngay sau đó gia đình tôi mang hành trang trở lại ngồi với nhóm miền bắc để ở lại phao nổi. Nhìn thấy gia đình tôi mang đồ trở lại ngồi với toán người miền bắc, tất cả các cặp mắt đều đổ dồn về gia đình tôi. Người miền nam không hiểu tại sao gia đình tôi lại chọn ở lại. Người miền bắc thì thấy vui mừng. Ít ra họ cũng thấy đỡ cô đơn vì còn có một gia đình miền nam ở lại với họ.

Sáng hôm sau, trong chuyến tầu đầu tiên đưa nhân viên từ đất liền ra làm việc, anh cán sự xã hội Hùng trông thấy tôi còn ở trại tròn mắt ngạc nhiên. Nhưng anh không dám hỏi tôi vấn đề đó giữa lúc tôi đang đứng với đông người miền bắc, anh bèn mời tôi vào văn phòng của anh đặt trong một thùng sắt chuyển hàng (container). Hùng là cựu trung úy Thủy Quân Lục Chiến Trần Như Hùng của VNCH, định cư tại Úc, tình nguyện sang phục vụ giúp dân tỵ nạn Hồng Kông. Một lần tôi hỏi Hùng tại sao lại sang tình nguyện công tác tại Hồng Kông thì Hùng làm tôi cảm động và kính trọng, “Ông hỏi thế thì coi thường tôi quá!”. Vào văn phòng, anh cẩn thận đóng kín cửa rồi hỏi tôi: “Sao ông còn ở lại?”. Tôi cho biết, tôi mà đi nữa thì số gần một ngàn rưởi thuyền nhân miền bắc này ai giúp đỡ họ, họ không nói được tiếng Anh thì trại làm sao làm việc với họ. Hùng hỏi tiếp, “Thế ông không sợ họ sao?”. Tôi trả lời, “Tôi ở lại giúp họ thì làm sao họ lại hại tôi?”. Ngày nay Hùng lấy bút hiệu Quốc Việt đang làm trưởng ban Việt Ngữ của đài phát thanh SBS Radio của chính phủ Autralia tại Melbourne. Có một lần Hùng chụp cho tôi một tấm hình tôi ngồi giữa đám thanh niên đầu gấu miền bắc. Tôi cười nói đùa, đây là tấm hình đặc biệt lắm đó nghe. Mới đây, Hùng liên lạc được với tôi và nói sẽ cố tìm lại tấm hình đó gửi cho tôi nhưng cuối cùng anh tìm không ra.

Như tôi đã trình bày, vì muốn bảo vệ người miền nam nên Hồng Kông có chính sách tách rời thuyền nhân miền nam khỏi người miền bắc. Nhưng tình hình đặc biệt thiếu người phiên dịch tại trại Thuyền Châu khiến trại phải hội ý với tôi. Thực sự ra nếu chỉ cần một người phiên dịch thì trại có thể thuê ở ngoài vào một cách dễ dàng. Nhưng qua thời gian giúp trại một cách thiện nguyện, trại biết tôi là người có thể giúp họ liên lạc với thuyền nhân miền bắc một cách hữu hiệu nên trại muốn tôi ở lại. Nhưng họ không thể bảo vệ an ninh cho tôi nên họ không giám trực tiếp yêu cầu tôi ở lại vì lỡ có chuyện gì xảy ra cho tôi thì ai chịu trách nhiệm. Trại chỉ mật bàn hỏi tôi làm cách nào để chuyển người miền nam ra đi một cách an toàn, không sợ người miền bắc có cảm tưởng bị bỏ rơi mà nổi loạn.

Đồng thời họ cho tôi biết là nếu người miền nam đi hết thì không có ai phiên dịch cho người miền bắc, họ sẽ rất khó điều hành trại. Trước tình hình đó tôi cho họ biết tôi sẵn sàng ở lại để giúp trại điều hành. Tôi nói với trại rằng người miền bắc cũng là đồng bào của tôi, tôi phải giúp họ nếu cần thiết. Cho nên toàn bộ kế hoạch di chuyển số người miền nam hôm đó hoàn toàn do tôi đề nghị. Cái kế hoạch chuyển trại mau lẹ và an toàn đó tôi học được trong nhà tù cải tạo. Mỗi lần người cộng sản di chuyển tách rời một số tù cải tạo chúng tôi đi trại khác thì họ không cho biết ai đi ai ở, và sẽ đi đâu. Họ cứ kêu tất cả mang hết hành trang lên sân ngồi chờ. Rồi ai được gọi tên thì người đó ôm hành trang đứng sang khu vực khác.

Tại trại Phao Nổi (Thuyền Châu), công việc chính thức thiện nguyện của tôi là phiên dịch bệnh xá dưới quyền của một bác sĩ trẻ người Anh. Mỗi ngày ông ấy từ trong Hồng Kông ra khám bệnh cho thuyền nhân. Bệnh xá do tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới của Âu châu phụ trách (Medecins Sans Frontières). Các thuốc men rất tốt và đầy đủ và mỗi ngày có một chuyến tầu đưa thuyền nhân có bệnh nặng vào bệnh viện tối tân của Hồng Kông điều trị. Khi cấp cứu sẽ có tầu cao tốc hoặc trực thăng chở bệnh nhân tới bệnh viện trong đất liền. Thuyền nhân được chữa trị tại bệnh viện y hệt như mọi người Hồng Kông giầu có nhất. Có thể nói, trên mọi lãnh vực, Hồng Kông là thiên đường của người Việt tỵ nạn. Nhưng vấn đề này sẽ được đề cập tới trong một loạt bài khác. Một điều đáng xấu hổ là tất cả các trường hợp cấp cứu bằng tầu cao tốc hay trực thăng trong thời gian tôi công tác toàn là nạn nhân của những vụ đâm chém, cướp bóc của đầu gấu miền bắc.

Người miền bắc dường như cũng không quen tôn trọng luật pháp và kỷ luật. Ngày nào cũng có một đoàn dài người xếp hàng chờ khám bệnh xin thuốc, mà chỉ xin thuốc trụ sinh thôi, trong khi họ không có bệnh gì cả. Mặc dù bác sĩ đã giải thích, kêu gọi mọi người không cần xin thuốc dự trữ vì ở bệnh xá luôn luôn đủ thuốc tốt và khi cần sẽ đưa đi cấp cứu trong bệnh viện trong đất liền. Nhưng lời giải đáp, kêu gọi hàng ngày đó vẫn không hữu hiệu. Mỗi ngày hàng đoàn người vừa xếp hàng, vừa chen lấn, xô cả cửa của phòng khám khiến ngay vị bác sĩ cũng phải lúc thì đứng chèn cửa, ngăn không cho đoàn người tràn vào, lúc thì ngồi xuống khám bệnh. Tôi nói với bác sĩ là tôi không giúp gì được ông ta trong việc giữ cửa ngăn chặn sự chen lấn bạo động của thuyền nhân vì họ sẽ đánh cả tôi. Một thời gian sau, quá sức mệt mỏi bởi tình trạng vô kỷ luật của thuyền nhân miền bắc tôi phải xin bác sĩ cho tôi nghỉ việc. Mấy ngày đầu ông ấy tới làm việc vẫn kêu tôi lên giúp vì không có phiên dịch. Sau đó tôi sợ quá phải viết cho ông ấy miếng giấy như van xin, ““Please! Please!” đừng gọi tôi lên nữa vì tôi sợ quá không thể tiếp tục giúp ông được”. Sau đó ông ta phải thuê phiên dịch từ ngoài Hông Kông vào mỗi ngày.

Từ ngày cặp thuyền vào trại hoang dã là Đảo Bò cho tới khi rời khỏi trại tỵ nạn ở Bataan, Phi luật Tân, tổng cộng 3 năm 8 tháng, trong số những người hoạt động thiện nguyện lúc đầu, sau đó được Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc trả trợ cấp 180 đô Hồng Kông, tương đương 25 đô Mỹ một tháng, có thể nói tôi là người miền nam duy nhất có quan hệ thân thiết với người miền bắc. Hầu như tất cả mọi người miền nam đều tránh né người miền bắc. Có giao thiệp thì cũng chỉ là bề mặt, xã giao, thiếu cái thân tình. Riêng duy nhất tôi thì không. Tại sao vậy ? Thứ nhất, trong tận cùng suy nghĩ, tôi luôn luôn thấy rằng sự quảng giao là tấm áo giáp bảo vệ mình trong mọi tình huống. Thứ nhì, tôi là người bản chất khá cởi mở, không thành kiến. Tôi có thể và thích giao du với người của mọi miền, mọi giới khác nhau, từ dân sự tới quân đội, từ người trí thức tới những tay anh chị. Thêm nữa, tôi gốc người Hà Nội 1954 nên dễ tiếp cận với người miền bắc.

Chính nhờ lúc nào tôi cũng có mối quan hệ thân thiện với người miền bắc, được họ thương mến, kính trọng, tin tưởng, mà trong tất cả những trại tôi ở có thể nói tôi là người duy nhất giúp tránh được các xô xát có thể đưa tới đổ máu tập thể như đã từng xảy ra rất nhiều lần ở những trại khác. Đó là một đóng góp âm thầm mà không ai biết trừ bà vợ tôi. Chưa đổ máu thì làm sao mà biết ai là người đã giúp ngăn chặn những chuyện đó từ trong trứng nước. Đóng góp đó quan trọng cho một tập thể có khi tới bẩy ngàn người. Và thành thực mà nói, đóng góp đó quan trọng cho cả chính gia đình tôi. Đôi khi nghĩ lại tôi thấy cũng vui và cũng nhớ khá nhiều những anh chị em miền bắc có gắn bó tình cảm với tôi, kể cả bảo vệ tôi. Không kể những lần điện thoại thăm hỏi, tôi và vợ tôi đã một lần tới Canada thăm một gia đình miền bắc và họ còn hẹn kỳ tới trước khi sang chúng tôi nên báo trước để họ liên lạc rủ các anh chị em khác tới gặp vợ chồng tôi cho vui.

Như là một quy luật, để giải quyết những mâu thuẫn xã hội, điều hữu hiệu nhất là giải quyết sau hậu trường, dựa vào sự thân thiết cá nhân trước khi mâu thuẫn bùng nổ. Ngay cả trong chính trường quốc gia hay quốc tế, cá tính của người lãnh đạo và cảm tình họ dành được đối với quần chúng cũng làm giảm căng thẳng chính trị quốc nội và quốc tế. Mầu da và cách cư xử của tổng thống Obama đã giúp giảm căng thẳng và gia tăng thân thiện giữa Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Phi châu và nam Mỹ đã là một ví dụ sinh động. Một khi mâu thuẫn đã nổ ra rồi thì nắm lại tình hình rất khó và chắc chắn sẽ có nhiều tổn thất. Tại trại tị nạn Bataan ở Philipines, một buổi tối một đầu gấu miền bắc gặp tôi nói rằng nghe nói tối hôm trước anh em cựu quân nhân miền nam có cuộc họp định tấn công anh em miền bắc, em muốn hỏi anh xem có đúng không. Nếu đúng như vậy thì bọn em sẽ tấn công trước. Đây là một câu hỏi nhưng cũng là một đe dọa họ mượn tôi chuyển tới anh em miền nam. Dĩ nhiên câu hỏi đó được tôi giải toả dễ dàng.

Người miền bắc dường như có thói quen hành động không theo kỷ luật. Một lần tại trại Phao Nổi, không biết làm sao mà ban chỉ huy trại mang cơm từ trong đất liền ra chậm. Gần như tất cả hơn một ngàn người miền bắc lên biểu tình ngay tức khắc. Không có người miền nam. Nhưng họ không biết cách biểu tình, mà cũng chẳng ai trong số đó biết tiếng Anh để tiếp xúc thảo luận với trại. Họ chỉ còn một cách là dàn hàng ngang ném đá tấn công ban chỉ huy trại. Ban chỉ huy trại là những người dân sự có lẽ thuộc sở xã hội. Họ không hiểu tại sao mà thuyền nhân lại dữ tợn như vậy và họ sợ quá cố thủ trong khu vực ban chỉ huy có hàng rào kẽm gai. Thấy nguy cấp tôi đi lên yêu cầu đồng bào miền bắc dừng ném đá để tôi vào thương thuyết với trại. Khi vừa thấy tôi, mấy người trong ban chỉ huy trại nói ngay: Tôi chờ ông từ nẫy tới giờ. Tôi cho ban chỉ huy trại biết là thuyền nhân họ muốn được phát cơm ngay không chậm trễ và ban chỉ huy trại đồng ý sẽ gọi máy vào đất liền yêu cầu chuyện đó. Chuyện thật đơn giản.

Không quen thuộc với pháp luật và luật lệ của trại nhưng người miền bắc quen thuộc với kỷ luật của đầu gấu, của mafia.

Trong các trại cấm (closed camp) ở Hồng Kông, trại Whitehead (Đầu Bạc) là trại lớn nhất chứa gần 30,000 người, trong đó đại đa số là thuyền nhân miền bắc. Dĩ nhiên thuyền nhân hai miền được cho ở riêng có hàng rào và các con đường ngăn cách xa nhau. Trong khu miền nam tôi không nghe nói có đầu gấu hay du đãng, ăn cướp.

Tình hình ở khu vực thuyền nhân miền bắc thì trái lại: các đầu gấu hoàn toàn cai trị. Đây là một nét rất đặc thù của cộng đồng thuyền nhân miền bắc. Chính bởi thế, tôi nghe nói, trong trại miền bắc rất là ngăn nắp, kỷ luật và sạch sẽ, cái ngăn nắp, kỷ luật của một chế độ độc tài. Trong khi trại miền nam thì rất là vô tổ chức và rác rến vứt bừa, bản chất của chế độ dân chủ. Trại có trả một trợ cấp nhỏ cho một số thuyền nhân làm lao công dọn vệ sinh hàng ngày. Nói về kỷ luật và sạch sẽ thì cảnh sát rất thích trại miền bắc. Tại những trại đó thuyền nhân không nghe lệnh đầu gấu thì nhừ đòn.

Các người miền bắc đi làm việc cho trại như thông dịch, giáo viên, vệ sinh viên v…v. đều phải đóng góp cho ban lãnh đạo thuyền nhân là các đầu gấu. Các thuyền nhân buôn bán trong trại cũng phải nạp “thuế” cho đầu gấu. Tại trại của người miền nam thì tuyệt đối không có tình trạng đầu gấu cai trị và thu thuế như thế. Đối với người miền bắc họ thấy việc điều hành trại như thế là bình thường. Một chú em đầu gấu miền bắc thuật với tôi như vậy và nói rằng, “Em hỏi anh nếu không thu tiền như thế thì làm sao trả lương cho những thằng trật tự trong trại.” Trái lại trại miền nam không cần có “trật tự viên”. Vì là đầu gấu điều hành trại nên mọi sinh hoạt đều phải theo lệnh họ. Một khi họ hô biểu tình là tất cả phải tham gia. Nhưng đã là đầu gấu cai trị thì dĩ nhiên có tình trạng bạo động tranh dành quyền lực. Tình hình đầu gấu và bạo động tràn lan trong khu vực của thuyền nhân miền bắc được mô tả trong hai bản tin dưới đây:

Trong bản tin Cảnh sát Hông Kông bố ráp trại tị nạn (Hong Kong Police Raid Refugee Camp) đăng trên tờ The Washington Post ngày 30 /12/1989, “phát ngôn viên chính phủ Timithy Li cho hay cảnh sát đã bắn hơi cay sau khi thuyền nhân Việt nam nổi lửa đốt các chăn mền và ném đá để ngăn cản không cho lục soát các vũ khí tự chế. Cảnh sát cho hay 27 thuyền nhân bị bắt cùng với hơn 700 vũ khí bị tịch thu”. Một cộng đồng biết thượng tôn luật pháp sẽ không ngăn cản cảnh sát trong hoạt động ngăn ngừa tội phạm như trong bản tin.

Bản tin ngày 20 /2/1990 cũng của tờ The Washington Post loan tải, “truyền hình chiếu cảnh cảnh sát trang bị mũ bảo hiểm và khiên, bắn hơi cay và người ta có thể thấy khói bốc lên từ những đám cháy quanh trại. (www.korchinatnc.com/HongKong) Khi đêm xuống, …. Các nhóm băng đảng thuyền nhân người Việt thù địch nhau, nhiều người từng trải qua nhiều năm chiến đấu trong quân đội, tập trung tại những khu vực riêng. Quanh trại vang lên tiếng mài bén các thanh kim loại thành các thanh kiếm và xà mâu (spears) dài, kiểu thời trung cổ. Ngày càng có bạo động hàng đêm.” Đọc bản tin thì không thấy nói gì tới người miền bắc hay miền nam mà chỉ đề cập tới người Việt nói chung. Nhưng những ai đã ở trong trại tỵ nạn Hồng Kông trong thời gian đó khi đọc bản tin này đều biết ngay đây là những trại của người miền bắc.

Trong một lần một phái đoàn khoảng hơn một chục cô thầy giáo người miền bắc từ trại tỵ nạn Whitehead sang thăm (giao lưu) có ở qua đêm tại trại Tai A Châu của người miền nam chúng tôi, các cô thầy miền bắc được đi lại thoải mái trong trại, kể cả ban đêm ra bãi biển mà không sợ hãi điều gì. Các cô thầy ngạc nhiên thích quá buột miệng, “Các anh chị ở trại này thích quá. Ở trại của chúng em không thể an ninh như thế này!”

Trong một lần khác đi cùng với phái đoàn giáo chức miền nam ở trại miền nam Tai A Châu sang thăm trại White Head của người miền bắc. Khi vừa tới trại, đoàn được dự một cuộc thuyết trình ngắn cho biết tình hình an ninh ở trại đó không được bảo đảm. Đoàn được ban quản trị trại dặn dò cẩn thận là không được lang thang vào trong trại dù là có gặp người quen. Lang thang vào trong trại có thể gặp nguy hiểm bởi đầu gấu. Đoàn chỉ được ở quanh quẩn nơi phòng dưỡng bệnh của bệnh xá thôi. Nghe vậy mọi giáo chức trong đoàn đều ớn lạnh. Khi vào phòng ở trong khu bệnh xá, tôi thấy có một thanh niên duy nhất và được bệnh xá giới thiệu là người trông nom khu vực này.

Tôi chợt nghĩ ngay tay này cũng phải là một đầu gấu có hạng đây. Anh ta sống sung túc. Có đầy đủ máy hát, loa, đài, những cái vào thời đó và nhất là trong trại tỵ nạn là thứ rất xa xỉ. Như vậy anh ta phải kiếm được khá nhiều bổng lộc với tư cách một trong các đầu gấu có hạng. Buổi tối, ngồi quây quần trên giường anh ta nói chuyện. Tôi vờ hỏi anh ta ở đây một mình không sợ đầu gấu sao thì anh ta liền nhấc tấm nệm ngay dưới chỗ anh ta ngồi để khoe hai thanh kiếm nhọn, lưỡi cong, dài khoảng 1 mét, anh ta nói, “Em phải có cái này đấy chứ!”. Sau đó anh ta vừa vấn điếu thuốc vừa hỏi chúng tôi có dùng không. Các cô thầy giáo trong đoàn sợ quá. Tôi vội chồm lên với tay lấy điếu thuốc đưa lên miệng rít một hơi. Ém khói hẳn hoi. Xong rồi từ từ nhả khói ra. Tỏ vẻ đê mê. Thực ra đây là lần đầu tiên tôi thử sì ke nên chẳng thấy hương vị gì cả: Không phê mà cũng không một chút khó chịu. Nhưng tôi giả là một tay chơi, gật gù nói với anh ta,“Đã quá! Lâu lắm mới có cái này đây!”. Các cô thầy giáo trong đoàn nhìn cách cư xử giang hồ của tôi phục lắm.

Một hôm tôi và mấy người bạn ngượng muốn độn thổ khi một thiện nguyện viên người Âu châu tới làm việc ở trại thuật với chúng tôi rằng hôm trước cô ta tới làm thiện nguyện ở trại miền bắc, mấy thuyền nhân cũng quấn quít lấy cô ấy rồi bất chợt có một thuyền nhân giựt sợi giây chuyền vàng của cô ta đeo ở cổ chân. Đứng quanh cô ấy rất đông người mà không một ai can thiệp. Tội phạm ở trại của người miền bắc có tính cách tập thể như vậy.

Trại của người miền bắc hoàn toàn khác trại của người miền nam.

So sánh với trại miền nam, trại miền bắc có sự khác biệt lớn:

– Trại miền bắc hoàn toàn do đầu gấu cai trị và dĩ nhiên bằng luật giang hồ: Đã tường thuật ở trên.

– Thuyền nhân miền bắc có thể ẩu đả chém giết nhau một cách tập thể chỉ vì một quyền lợi rất nhỏ. Tình trạng bạo động tập thể của những trại miền bắc đã được một số báo tiếng Anh mô tả. Bài báo “Vietnam Refugees Riot in Hong Kong”viết bởi BARBARA BASLER, đặc biệt cho tờ The New York Times xuất bản ngày mùng 3 tháng 9-1989, viết: “HONG KONG, Sept. 2— Trong cuộc bạo động quan trọng lần thứ nhì trong một tuần lễ, một người Việt nam bị giết ngày hôm nay và 11 người khác bị thương, khởi đầu bởi một cuộc cãi nhau về một món nợ đánh bạc … Cảnh sát tin rằng cuộc bạo loạn ngày hôm nay bắt đầu từ một cuộc cãi vả giữa những người Việt đánh cá kết quả một trận bóng chuyền trong trại. Không ai đứng ra xác nhận danh tánh người bị giết trong cuộc bạo động.” (bài báo này được in trên trang 13 ấn bản ngày mùng 3 tháng 9-1989 của bộ The New York edition)

– Người từng ở trong trại đọc tới câu cuối của bản tin vừa nêu hiểu ngay rằng không ai dám đứng ra xác nhận danh tánh người bị giết vì sợ đầu gấu. Luật của đầu gấu, của mafia mọi nơi là “im lặng tuyệt đối, nếu không thì sẽ bị xử theo luật giang hồ”.

– Trong trại ỵị nạn của người miền bắc đầy rẫy tội phạm đủ loại.

Trên tờ The Seattle Times xuất bản ngày Chủ Nhật 15 tháng 12-1996, bài “Hong Kong Camp For Viet Refugees Is Land Of Lives In Limbo” viết bởi Kristin Huckshorn thuộc “Knight-Ridder Newspapers” viết rằng, “HONG KONG

– Một trại tỵ nạn được điều hành bởi Liên Hiệp Quốc và đông kẻ nghiện hút, tội phạm, kết hôn giả (mail-order brides) và các trẻ em bị bỏ mặc (neglected children) đã trở thành một di sản xấu xa (an ugly legacy) của truyện dài (saga) thuyền nhân người Việt … Đó là trại the Pillar Point. Bài báo viết tiếp: “Thực ra, những người tỵ nạn, hầu hết là người miền bắc, đã liên tục bị từ chối cho đi định cư trong 8 năm qua, hầu hết vì án phạt nghiện hút hay tội phạm hình sự từ tội trộm cắp nhỏ cho tới sát nhân. Liên Hiệp Quốc và các quốc gia khác thường ngăn cấm chấp nhận cho đi định cư những thành phần này … Hơn 90 phần trăm những người tỵ nạn đàn ông nghiện hút, hầu hết là những người dùng heroin. Những người khác là thành viên băng đảng và buôn ma túy. Hầu hết những người này được hưởng quy chế tỵ nạn trước giữa năm 1988, khi mà tất cả các thuyền nhân Việt Nam khi tới nơi thì tự động được quy chế tỵ nạn … Thực sự ra trại này (Sek Kong) đầy bạo động và tội phạm. Nhân viên an ninh đi tuần suốt ngày, liên lạc với nhau qua máy bộ đàm cá nhân. Cảnh sát Hồng Kông thỉnh thoảng bố ráp các căn nhà với lệnh toà để tìm ma túy.

– Trại miền nam cũng có du đãng, nhưng du đãng miền nam khác đầu gấu miền bắc rõ ràng nhất ở điểm họ không được gia đình, bà con hay lối xóm hỗ trợ, vì vậy họ ít hơn, yếu hơn, bị tách rời khỏi cộng đồng và không có khả năng cai trị cộng đồng, do đó không gây được tội phạm tập thể như đầu gấu miền bắc. Trong bản tin của tờ The Washington Post ngày 30 /12/1989 trích dẫn ở trên, “… cảnh sát đã bắn hơi cay sau khi thuyền nhân Việt nam nổi lửa đốt các chăn mền và ném đá để ngăn cản không cho lục soát các vũ khí tự chế”. Nội dung này cho thấy gia đình và cộng đồng miền bắc đã hỗ trợ, và bảo vệ các đầu gấu qua hành động phi pháp là ngăn cản cảnh sát trong công tác truy lùng vũ khí để phòng ngừa tội phạm. Tình trạng này không thể có được ở cộng đồng thuyền nhân miền nam.

– Điểm khác biệt nữa giữa hai cộng đồng là trong cộng đồng người miền nam có một tập thể tương đối trí thức, so với các thành phần khác, được cộng đồng tương đối kính trọng, chấp nhận vai trò hướng dẫn cộng đồng, đó là tập thể các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Dưới sự lãnh đạo của thành phần này thì du đãng không thể tự tung tự tác như các đầu gấu trong trại miền bắc.

– Và một điểm khác biệt quan trọng là người miền nam tương đối quen sống với tinh thần thượng tôn luật pháp hơn. Luật pháp xã hội chủ nghĩahoàn toàn khác với luật pháp phương tây đã được áp dụng tại miền nam cho nên người miền bắc không có tinh thần thượng tôn luật pháp. Người miền bắc hành động theo cảm tính nhiều hơn, điều gì thấy có lợi cho bản thân là họ làm, bất kể cái hại cho cộng đồng.

Tình trạng tội phạm ở trại của người miền nam.

Bạo động, tội phạm v…v. là một hiện tượng xã hội ở mọi nơi, mọi thời, mọi sắc tộc. Nhưng tuỳ từng nền văn hoá mà hiện tượng đó có hình thái và mức độ khác nhau. Trại miền nam cũng có du đãng (miền bắc gọi là đầu gấu), nhưng hoạt động của du đãng miền nam có mức độ hạn hẹp hơn đầu gấu miền bắc rất nhiều.

Vụ hành hung người lớn nhất ở trại miền nam mà tôi biết là vụ xảy ra ở trại Tai A Châu một cựu đại úy hiệu trưởng trường trung học của trại bị du đãng đánh trọng thương và sau đó được đưa đi trại khác để bảo vệ an ninh.

Cũng có vụ xung đột giữa thanh niên người Việt gốc Hoa và thanh niên miền nam, và một vụ xung đột với cảnh sát bị cảnh sát bắn lựu đạn cay khoảng 15 phút. Tất cả tình trạng bạo động trong trại miền nam chỉ ở mức độ như vậy chứ không lan rộng sang bạo động tập thể, kéo dài hay không có trấn lột, cướp bóc, hãm hiếp và nhất là không có giết người.

Tham gia giải quyết những bạo động nhỏ và có tính cách cá nhân như thế để ngăn ngừa các bạo động tập thể trầm trọng có sự đóng góp của những người thuộc thành phần thuyền nhân lãnh đạo trại, trong đó cũng có khi có sự đóng góp của tác giả bài viết này.

Xin kể sơ hai ví dụ. Trước khi gia đình tôi được chuyển trở lại trại Tai A Châu sau khi trại này được xây cất xong, một số thanh niên miền nam và thanh niên Việt gốc Hoa ra ở trước đã xung đột với nhau khiến một tu sĩ trẻ phật giáo người miền nam bị gẫy tay. Khi gia đình tôi được chuyển ra đó, thì ngay buổi tối, một nhóm thanh niên miền trung (miền nam) khoảng 20 người, người lớn nhất khoảng trên 30 tuổi (nay tôi quên tên rồi), mời tôi sang khu họ ở là Khu D, trên tầng 3 của một trong các dẫy nhà ghép bằng sắt. Họ trình bày tình hình trong thời gian trước khi tôi tới và nói rằng “Chúng em có nghe anh sẽ qua nên chúng em chờ anh đây!” Người thanh niên ngoài 30 tuổi trưởng toán nói thêm, vũ khí chúng em đã chuẩn bị sẵn rồi. Họ muốn tôi đồng ý và lãnh đạo (?) một trận “quyết đấu” với thanh niên Việt gốc Hoa.

Tôi hơi ngạc nhiên tại sao họ lại trông chờ tôi để quyết định một chuyện thế này. Tôi chưa bao giờ chỉ huy bạo động trong trại. Tôi cũng chưa bao giờ xúi ai hay nhóm nào bạo động. Nhưng lực lượng của nhóm thanh niên miền trung này tôi biết hết nên không có gì phải lo ngại. Tôi phải giải thích với nhóm thanh niên là “chúng mình là người miền nam đi tị nạn chính trị. Nếu chúng mình đâm chém nhau thì đều mang hình ảnh xấu hết và sẽ không ai cho mình đi tỵ nạn chính trị nữa. Mọi chuyện đối với thanh niên Việt gốc Hoa anh em hãy để tôi xử trí. Chuyện xích mích giữa hai bên phải chấm dứt”. Sau đó tôi gặp mấy thanh niên có uy tín của người Việt gốc Hoa bảo họ ngăn chặn không cho thanh niên Việt gốc Hoa chặn đường đánh thanh niên miền nam là xong. Trường hợp tương tự nếu xảy ra trong trại miền bắc thì chắc chắn sẽ có quyết đấu một mất một còn ngay.

Khi hoạt động cộng đồng, có những lúc vì cộng đồng mình phải kìm hãm tự ái cá nhân để nhịn nhục, tạo dĩ hoà vi quý. Trong trại có chương trình giáo dục phổ thông và cơ sở trường học khang trang từ lớp 1 tới lớp 12 do thuyền nhân điều hành, Liên Hiệp Quốc tài trợ. Liên Hiệp Quốc cũng tài trợ một chương trình dậy tiếng Anh cho người lớn.

Tôi và anh bạn trung úy Nguyễn Cửu Hùng, hiện ở Nam Cali là hai người xây dựng nên chương trình với sự yểm trợ và chỉ đạo của một ủy viên giáo dục người Mỹ tên là Paul thuộc cơ quan tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Chương trình có tới 700 học viên và gần 15 giáo viên thuyền nhân do hai chúng tôi tuyển chọn. Lúc lập chương trình thì không ai biết cách lập, nhưng khi chương trình chạy xuông sẻ thì lập tức có kẻ tới tranh dành. Chuyện thường tình ở mọi nơi, mọi thời. Một hôm tôi, anh Hùng và ông Paul đang họp thì một người tỵ nạn Việt gốc Hoa, nghe nói trước kia là cựu thông dịch viên của lực lượng đặc biệt Mỹ tự động tới ngồi cùng bàn. Lại nghe nói anh ta giỏi võ nữa chứ.

Trong trại thì ai cũng biết nhau nên chuyện đó không có gì là lạ. Trong lúc chúng tôi vừa dừng bàn thảo thì anh bạn thông dịch viên gốc Hoa này xin phát biểu ý kiến. Anh ta nói rằng, “Chúng tôi là người Việt gốc Hoa, ở trong trại cũng đông, chúng tôi không muốn chịu sự chỉ huy của người Việt trong chương trình này”. Nghe vậy, ba người chúng tôi chưng hửng. Ông “xếp” Paul của chúng tôi mặt hơi xanh nhìn anh thông dịch viên như không hiểu anh ta nói gì. Anh trung úy Hùng bạn tôi, nhị đẳng thái cực đạo, cũng ngạc nhiên nhìn anh bạn người Hoa sững sờ luôn. Riêng tôi, sau khoảng 15 giây ngạc nhiên, tôi ôm chầm lấy vai anh người Hoa và bảo với “xếp” Paul, “Anh này là bạn thân của tôi. Anh ta giỏi lắm. Tôi nghĩ ông nên trao chương trình này cho anh ta”. Đến lượt Paul lại không hiểu tôi muốn nói gì. Nhưng 5 giây sau có lẽ Paul hiểu nên bảo anh ta là ông ấy sẽ mời anh ta gặp ông ấy tại văn phòng vào tuần tới. Mọi chuyện vui vẻ. Anh người Hoa ra về.

Cuộc họp kết thúc. Hơn tuần sau gặp lại anh người Hoa, tôi hỏi anh ấy đã gặp ông Paul chưa thì anh ấy cho biết không hiểu sao chưa thấy ông Paul gọi. Tôi nghĩ thầm, “Paul là tôi đây này chứ Paul nào! Chẳng bao giờ anh được gọi đâu!”.Hôm họp, sau khi anh người Hoa đi, Paul hỏi tôi sẽ đối xử với anh ta ra sao thì tôi nói gọn, “Ông hãy quên anh ta đi! Anh ta sẽ chẳng bao giờ dám lên văn phòng đòi gặp ông để yêu sách nữa đâu”. Nếu tình huống này xảy ra tại trại miền bắc thì diễn biến và kết thúc sẽ hoàn toàn khác, không êm thắm như thế này.

Tại Hồng Kông còn có một trại mở là trại Pillar Point. Trại này chứa những thuyền nhân tới trước tháng 6/1988 là thời gian thuyền nhân Việt Nam đương nhiên được tư cách tỵ nạn. Sau thời gian này tất cả những thuyền nhân tới Hồng Kông đều bị nhốt vào trại cấm (closed camps) để chờ thủ tục thanh lọc xác định tư cách tỵ nạn tùy từng trường hợp.

Ngoài một số thuyền nhân mới được thanh lọc chấp nhận qui chế tỵ nạn đang chờ đi nước thứ ba, đại đa số thuyền nhân trong trại này là người miền bắc đã tới Hồng Kông từ trước tháng 6/1988 nhưng vẫn chưa được nước nào nhận vì là thành phần có án tù. Là một trại mở (open camp), các thuyền nhân trong trại Pillar Point được tự do ra vào. Trong trại này hầu hết là thành phần nghiện hút và tội phạm. Tôi đã một lần vào đó tìm người quen giữa ban trưa mà nhìn những thuyền nhân miền bắc trong đó cũng cảm thấy rờn rợn, không biết mình có thể bị trấn lột lúc nào. Sau đó tôi không dám bén mảng vào trong trại đó nữa.

Tình hình an ninh trong trại này được mô tả theo bản tin của AFP ngày 14/6/1999, (Riot at Vietnamese refugee camp in Hong Kong; 17 injured- http://www.catholic.org.tw/) như sau: “Bạo động trong một trại tỵ nạn người Việt tại Hồng Kông; 17 người bị thương”. Theo bản tin, cảnh sát Hồng Kông đã dùng lựu đạn cay để dẹp một cuộc bạo động trong một trại tị nạn khiến ít nhất 17 người bị thương. Khoảng 200 thuyền nhân Việt Nam đang tìm sự bảo vệ tại một đồn cảnh sát gần trại tị nạn Pillar Point cho hay họ sợ bị các thuyền nhân khác tấn công. Cảnh sát trang bị chống bạo động đã chiến đấu trong hơn một tiếng đồng hồ để dập tắt một cuộc đánh nhau giữa hàng trăm người tỵ nạn trong trại vào ngày hôm trước, Chủ Nhật 13/6/99. Cảnh sát cho hay có bốn thuyền nhận bị bắt và 17 vũ khí tự chế bị tịch thu. 11 trong 17 người bị thương được cho nhập bệnh viện trong đó có một em bé 9 tháng tuổi. Các người trong trại cho hay trại Pillar Point đã bị các nhóm băng đảng chiếm giữ. Đó là thành phần tạo ra những rối loạn. Một thuyền nhân cho biết các người trong trại bị buộc phải nạp cho các thuyền nhân đã ở trước tới 300 đô la Hông Kông, tương đương 39 đô la Mỹ để trả tiền bảo vệ.

Báo chí cũng cho hay các thuyền nhân trong trại đổ lỗi cho những phần tử nghiện hút trong trại tạo ra những bất an. Họ nói rằng các nhóm băng đảng kiểm soát đĩ điếm, cờ bạc và nghiện hút. Đồng thời từ lâu vẫn có sự thù địch giữa các thuyền nhân miền nam và miền bắc trong trại.” Bản tin không nói ai là thuyền nhân miền bắc, ai là thuyền nhân miền nam, nhưng những ai đã ở tại Hồng Kông thì đều biết nạn nhân là các thuyền nhân miền nam hay Việt gốc Hoa miền nam, còn thủ phạm là các thuyền nhân miền bắc. Chính đầu gấu miền bắc đã thu 39 đô la Mỹ tiền bảo vệ như trong bản tin.Tại một trại chuyển tiếp khác dành để tạm thời chứa những thuyền nhân đã được cấp quy chế tỵ nạn chờ được đưa đi Phi luật tân để được các quốc gia đệ tam phỏng vấn tuyển chọn, những người miền bắc cũng trấn lột những thuyền nhân miền nam. Những người ở trại này chỉ ở tạm thời 2 tuần lễ thôi cho nên người miền nam họ nín thở qua sông để chờ ngày ra đi, không dám phản ứng gì. Thậm chí không dám kể với ai. Khi tôi hỏi thăm thì mới vỡ lẽ ra là 100 phần trăm đều bị người miền bắc trấn lột.

Không những trấn lột người tỵ nạn miền nam, người miền bắc còn ra Hồng Kông ăn cắp của người Hồng Kông, thường là của các siêu thị. Một hôm một cô gái trẻ đẹp miền bắc hỏi vợ chồng tôi, “Cô chú không đi chợ à?”. Chúng tôi thành thật trả lời là không có tiền thì cô ta giọng thản nhiên, “Đi chợ đâu cần tiền cô chú!”. Tôi ngạc nhiên giả bộ muốn đi, hỏi tiếp, thế đi chợ làm sao. Cô ta thản nhiên cho biết, “Đi ăn cắp trong các siêu thị đó mà chú!”. Cô ta còn hướng dẫn, đi thành một toán 3 , 4 người. Vào siêu thị giả bộ hỏi mua đồ lung tung. Tốt nhất là hỏi xem các tấm vải để bọn nó (người bán) phải giăng rộng tấm vải ra, như thế tấm vải sẽ che mắt nó (người Hồng Kông). Những đứa khác tha hồ mà ăn cắp.

Sau đó, mỗi khi gia đình chúng tôi đi siêu thị, tôi thấy nhân viên siêu thị đi theo bén gót. Tôi thấy nhục nhưng thông cảm với họ. Là người Việt ở Hồng Kông mình bị nhục vì hành vi ăn cắp, quậy phá của những người miền bắc trong suốt gần hai chục năm trời (tính theo thời điểm cuối năm 1992 là năm gia đình tôi được cấp quy chế tỵ nạn và ra ở trại chuyển tiếp ở Hồng Kông) kể từ khi người miền bắc ăn theo người người miền nam đặt chân “tỵ nạn” tới Hồng Kông.

Không phải khi đã tới nơi an toàn là Hồng Kông người miền bắc mới quậy phá. Trên đường vượt biên, một lần tôi dừng thuyền tại một thị xã nhỏ của Trung Quốc. Năm 1989, Trung Quốc còn nghèo lắm. Nhiều nơi còn nghèo hơn Việt Nam cộng sản nữa. Lên bờ đi vào thị xã, tôi thấy một toán thuyền nhân miền bắc hơn một chục nam, nữ, lớn bé. Có cả mấy tay thanh niên mặc quần đùi, cởi trần một cách rất là “mất dạy”, xâm trổ khắp thân mình, lang thang trong phố xá của người ta. Trong khi mình là người đang đi tỵ nạn, cần được người ta thương và giúp đỡ. Trông thấy trong một quán tạp hóa nhỏ có toán thuyền nhân người Việt nên chúng tôi cũng bước vào. Quán thì nhỏ, hàng thì ít, họ tới trước nên chúng tôi đứng chờ họ mua. Tôi thấy họ mở hết lọ này tới lọ kia hỏi chủ quán lung tung. Rồi tôi thấy bà chủ quán tiếp họ mà mặt không vui, cứ nhìn tôi lắc đầu hoài. Tới khi toán người miền bắc đi ra, không mua gì, tôi thấy bà chủ quán tiếp toán của tôi rất bình thường. Bà ấy không nói được tiếng Anh, và chúng tôi thì không nói được tiếng Tầu nhiều. Nhưng nhìn cử chỉ tôi biết là bà chủ quán như cảm thấy vừa thoát nạn khi toán người miền bắc ấy đi ra.

Người miền bắc đi vượt biên quá dễ dàng. Nếu bị bắt họ không bị tù vì tội vượt biên như người miền nam. Đường đi lại ngắn, không nguy hiểm. Nhiều khi họ lấy nguyên chiếc tầu sắt của nhà nước để chở cả trăm người trong một chuyến đi với đầy đủ thức ăn nước uống. Họ đi một cách rất an toàn. Nhiều người miền bắc kể với tôi, “Đi vượt biên mà xếp hàng như đi hành quân ấy”. Vì thế họ đến Hồng Kông rất đông. Theo trang web “Vietnamese people in Hong Kong – Wikipedia, the free encyclopedia” cao điểm vào năm 1989 có tới khỏang 300 người đổ tới Hồng Kông một ngày. Bởi vì họ đi quá dễ dàng nên tại những trại tị nạn ở Hồng Kông họ chiếm đa số. Vì thế trong suốt những năm dài có trại tị nạn ở Hồng Kông, với số đông áp đảo, tính tình hung hãn và dường như kết quả của nền giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa (?), người miền bắc luôn luôn làm chủ tình hình, bắt nạt, cướp bóc, trấn lột người miền nam và người Việt gốc Hoa. Đối với nội bộ địa phương với nhau thì họ cũng chia rẽ, chém giết nhau để tranh dành quyền lực. Và phe nào thắng thế trong trại cũng đều “cai trị” rất là độc đoán, áp dụng luật mafia chứ không áp dụng luật bình thường văn minh của Hồng Kông. Một lần tôi hỏi một chú em người miền bắc, được người nhà bảo lãnh đi Mỹ, “Anh thấy em hiền như thế này lúc ở trong trại thì gia đình em sống làm sao?”. Chú ấy hiền lành trả lời, “Trong trại thì em cũng phải “gấu” chứ, nếu không thì chúng nó bắt nạt chết!”

Nhưng cũng có một lần người miền nam quá uất ức phản công. Đó là lần duy nhất người miền nam thắng thế nhưng đó lại là lần gây tử vong nhiều nhất trong lịch sử tỵ nạn Hồng Kông khiến dư luận Hồng Kông cũng như những người ngoại quốc thiện nguyện làm việc trong các trại tỵ nạn bàng hoàng và ghê sợ người Việt nam nói chung. Nội vụ được mô tả trong bản tin “18 người Việt thiệt mạng vì bạo động trong trại tỵ nạn” (18 Vietnamese Die in Violence at Refugee Camp-By BARBARA BASLER,-Published: Tuesday, February 4, 1992) Theo bản tin của Barbara Basler, ngày Thứ Ba, mùng 4/2/1992, nhà chức trách cho hay, mười tám thuyền nhân Việt Nam đã thiệt mạng và 128 thuyền nhân khác bị thương trong một trại tỵ nạn ở Hồng Kông vào tối thứ Hai khi các phần tử bạo động đã nổi lửa đốt một căn nhà lớn (Hut) trong một cuộc đụng độ bắt đầu từ việc tranh nhau nước nóng.

Bộ trưởng an ninh Alistair Asprey cho hay, hoả hoạn đã được gây ra bởi những người Việt nam nhét những tấm mền đang cháy qua các cửa sổ vào trong một căn nhà. Đây là cuộc tấn công cố tình nhắm vào một nhóm người trong căn nhà đó.

Nhà chức trách cho hay các người thiệt mạng trong đó có ít nhất một em nhỏ, là những thuyền nhân đã tự nguyện hồi hương và đang chờ thủ tục. Nội vụ là một thương vong lớn nhất từ trước tới nay tại trại tỵ nạn Hồng Kông, khởi đầu lúc 11 giờ trưa tại một khu vực nằm cạnh khu vực các người tự nguyện hồi hương tại trại Sek Kong. Nhà chức trách cho hay 17 trong các nạn nhân bị đốt chết cháy và một người khác bị chết sau đó tại bệnh viện. Trong số 55 người được điều trị tại bệnh viện, 7 người ở tình trạng trầm trọng. Nhà chức trách tin rằng số tử vong sẽ còn thêm. Nhà chức trách nói rằng nhiều trăm thuyền nhân tham gia trong cuộc đánh nhau giữa các băng đảng miền bắc và miền nam. Họ đánh nhau bằng các vũ khí dao kiếm tự chế. Những người thiệt mạng là người miền bắc. Ông Asprey nói rằng cuộc tranh cãi về nước nóng trong lúc xếp hàng chờ được xử dụng đã được cảnh sát ngăn chặn nhưng lại bộc phát sau đó vào buổi tối. Khi cảnh sát cố ngăn chặn vụ đánh nhau thì hàng trăm người Việt Nam từ khu vực kế cận phá hàng rào ngăn cách tham gia ẩu đả khiến cảnh sát phải rút ra ngoài và gọi tăng viện.

Sau đó có khoảng 400 cảnh sát được gọi tới giúp chấm dứt bạo động bằng cách bắn 33 quả lựu đạn cay vào trại. Lính cứu hỏa phải mất tới 90 phút mới dập tắt được ngọn lửa. Thống đốc Hồng Kông ông David Wilson, và các viên chức an ninh hàng đầu đã tới trại bằng trực thăng vào sáng hôm sau … Thống đốc đã ra lệnh tách rời số thuyền nhân hai miền nam, bắc Việt nam này ra hai địa điểm khác nhau. Có khoảng 2000 (hai ngàn) thuyền nhân miền bắc sẽ được di chuyển sang trại khác. Hầu hết các thuyền nhân ở Hồng Kông tới từ miền bắc Việt Nam.”

Ỷ số đông, người miền bắc hiếp đáp người miền nam như thường lệ. Nhưng lần này những người bị hiếp đáp đã phản công. Những người miền trung (nam) ở trong khu vòng rào đã xô ngã hàng rào để tràn sang khu người miền bắc. Họ bao vây bên ngoài căn nhà chứa khoảng 200 người (căn nhà nào cũng chứa số người như thế), đồng thời họ lấy mền (rất nhiều, do trại phát) tẩm dầu (trong trại có dầu hôi để nấu ăn), tung vào căn nhà để đốt. Những ai từ trong nhà chạy ra đều bị họ đánh, chém hung bạo. Kết quả tử vong như bản tin đã loan. Thống đốc Hồng Kông đã chỉ thị tách rời 2,000 thuyền nhân miền bắc đi chỗ khác chính là để tránh một sự trả thù của người miền bắc.

Hôm sau, nhân viên ngoại quốc làm thiện nguyện trong trại kể chuyện đó với chúng tôi và họ kết luận, lâu nay họ tưởng người miền nam hiền và tốt, nhưng chuyện đó cho thấy người miền nam cũng như người miền bắc. Chúng tôi nghe mà không nói nổi một lời! Vợ một người bạn gốc miền trung, nên theo dõi chi tiết nội vụ, sau đó cho tôi hay trong nội vụ những người miền trung cũng tàn nhẫn quá. Số người chết và bị thương đa số là đàn bà con nít, không chạy ra được. Còn những tên đầu gấu thực sự thì hầu như chạy thoát được cả. Chị này cũng cho biết tiếp, trong thời gian sau đó, hàng ngày được chở ra bệnh viện Hồng Kông khám bệnh, những người miền trung không dám lên tiếng sợ bị nhận giọng là người miền trung sẽ bị đầu gấu miền bắc trả thù.

Vào cuối chương trình tỵ nạn, 1992, Hồng Kông chỉ chấp nhận cho những thuyền nhân được công nhận tỵ nạn tạm trú trong 2 tuần lễ để làm thủ tục đi nước thứ ba thôi. Thời gian đó chỉ đủ để cao uỷ tỵ nạn chuyển số thuyền nhân đó sang trại Bataan ở Phi luật tân trong ít nhất là 6 tháng để họ học cách sống để hội nhập vào các quốc gia phương tây, đồng thời xin quốc gia thứ ba phỏng vấn để thu nhận họ.

Tại trại Bataan lúc đó có 12 vùng, trong đó chỉ có 1 vùng là có người tỵ nạn miền bắc. Mặc dù số lượng ít ỏi như vậy nhưng họ rất đoàn kết chặt chẽ cho nên họ áp đảo được du đãng miền nam. Một lần cảnh sát Phi luật tân trong trại cùng với ông đại diện cao ủy tỵ nạn đi lùng khắp trại để tìm một người bị bắt cóc. Suốt một ngày trời tìm đôn tìm đáo, tới mãi xế chiều nhà chức trách mới giải cứu được thanh niên bị bắt cóc khỏi một căn nhà ở ngay gần văn phòng trại. Thanh niên này là một du đãng miền nam. Tối hôm trước cậu ta trấn lột chiếc đồng hồ của một thanh niên miền bắc. Thế là hôm sau đầu gấu miền bắc tập trung kéo tới tận nơi cư trú của cậu du đãng miền nam này bắt trói thúc ké, cho khoác bên ngoài một cái áo măng tô rồi hai bên có hai đầu gấu cặp cổ đi kèm cứ như là ba người bạn thân đi ngoài đường. Cuộc bắt cóc như thế vượt qua được các trạm kiểm soát từ vùng nọ sang vùng kia để rồi đem nhốt đối thủ vào trong nhà đánh cho một trận nhừ tử tới chiều mới thả. Nếu ở ngoài đời thì cậu du đãng miền nam này có thể đã bị thủ tiêu rồi.

Phương cách hoạt động của đầu gấu miền bắc cho thấy họ được gia đình hỗ trợ (bởi thế họ đông hơn), đoàn kết hơn, hành động tập thể hơn và liều mạng hơn. Gia đình miền nam không hỗ trợ khi con em họ trở thành du đãng nên số lượng du đãng miền nam không nhiều bằng miền bắc nếu hai bên có số dân cư tương tự. Hôm sau viên sĩ quan cảnh sát trưởng vùng tôi ở gặp tôi cho biết tin về vụ bắt cóc hôm trước và nói với tôi rằng, “Ông biết bắt cóc ở Phi luật tân là một tội nặng lắm. Đã vậy bọn chúng lại cả gan nhốt kẻ bị bắt cóc ở ngay gần trụ sở cảnh sát chúng tôi. Tôi thắc mắc là không biết mạng lưới của bọn chúng sâu rộng cỡ nào và bọn chúng muốn thách thức cảnh sát chúng tôi hay sao?” Tôi nói với vị cảnh sát đó rằng đó là vụ thanh toán nhau giữa hai băng ăn cướp thôi, chứ chúng không định thách thức các ông đâu. Và bọn chúng cũng không nhiều đâu. Sau đó khi ông ta hỏi tôi về phương cách đối phó, tôi đề nghị để mặc kệ cho hai nhóm thanh toán nhau, không điều tra vụ bắt cóc. Như vậy là dẹp yên được một phe. Sau đó gọi bên thắng tới nói cho biết “danh sách và mọi hoạt động đã bị cảnh sát ghi nhận rồi. Nếu muốn yên thì không được quậy phá. Nếu quậy phá thì sẽ bị bắt hết”. Giải pháp đó mang lại yên bình cho trại tỵ nạn Bataan trong thời gian 6 tháng gia đình tôi ở trại đó, trước khi đi Mỹ.

Hầu hết các thuyền nhân miền bắc không được vào Mỹ.Theo chính sách tiếp nhận những người được quy chế tỵ nạn, tất cả những ai có thân nhân bảo lãnh đều phải được phỏng vấn trước tiên bởi quốc gia của người thân nhân nạp đơn xin bảo lãnh. Ví dụ tôi có mẹ ở Pháp đã nạp đơn bảo lãnh thì sau khi đậu thanh lọc, tôi phải được phỏng vấn trước tiên bởi nước Pháp. Và khi nước Pháp nhận thì tôi phải đi Pháp chứ không có quyền chọn lựa nước khác.

Nguyên tắc thứ nhì là tất cả những cựu quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa sau khi đậu thanh lọc đều phải được Mỹ phỏng vấn trước tiên. Khi nào Mỹ từ chối thì mới được đi phỏng vấn với các nước khác.

Nguyên tắc kế tiếp là tất cả những thuyền nhân miền bắc đều không được Mỹ nhận cho phỏng vấn, tức là Mỹ từ chối không nhận người miền bắc (dĩ nhiên trừ một số ít có thân nhân ruột thịt như cha mẹ anh chị em tại Mỹ bảo lãnh).

Đó là lý do các thuyền nhân miền bắc quy tụ đông đảo tại các nước Canada, Úc và Anh. Đặc biệt lúc đó Hồng Kông còn là thuộc địa của Anh cho nên tất cả những thuyền nhân miền bắc phạm tội tại Hồng Kông nếu bị các quốc gia khác từ chối thì Anh quốc phải nhận hết trước khi trao trả Hồng Kông lại cho Trung Quốc. Đó là lý do Anh quốc nhận nhiều thuyền nhân miền bắc có tiền sử tội phạm nhất.

Cách sống, tức là văn hóa, khó có thể thay đổi. Một cộng đồng dân chúng khi di cư (immigrate) mang theo họ tất cả nền văn hóa mà từ đó họ trưởng thành. Người miền bắc trưởng thành trong nền văn hóa xã hội chủ nghĩa khi di cư sang các quốc gia đông âu, qua diện lao động hay du sinh, hoặc tới Hồng Kông dưới dạng thuyền nhân, lẽ dĩ nhiên mang theo họ tất cả tính chất giả trá, lừa lọc, tham lam, bạo động, và tàn bạo của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Rồi từ các “căn cứ địa” đó, họ du nhập nền “văn hóa đầu gấu” tới các quốc gia thâu nhận họ như Tây Đức, Anh, Pháp, Canada và Úc. Mới đây trong thượng tuần tháng 1/2010, một bản tin của đài BBC cho biết một chiếc xe hơi đã mang bỏ bên đường xác chết của một thanh niên khiến cảnh sát Anh phải yêu cầu ai biết danh tánh của thanh niên nạn nhân hãy cung cấp cho cảnh sát. Bản tin này làm người ta nhớ lại một tin trong bài “Nam Bắc Phân Tranh sau 1975 bài số # 3” trong đó một nạn nhân thiệt mạng trong một cuộc giao tranh giữa hai nhóm đầu gấu miền bắc trong trại tị nạn khiến cảnh sát Hồng Kông cũng phải yêu cầu ai biết danh tánh nạn nhân thì cung cấp cho cảnh sát. Nhưng cũng như bản tin ở Anh Quốc, không ai dám làm điều đó. Vì quy luật chung của đầu gấu là “im lặng tuyệt đối.” Ai vi phạm sẽ bị xử theo luật giang hồ.

Ngay khi còn ở trại tỵ nạn, với nguyên tắc nhận người tỵ nạn như thế, tôi đã thấy trước là ba nước nhận nhiều thuyền nhân miền bắc nhất là Canada, Úc và Anh, nhất là Anh quốc, sẽ gặp rất nhiều khó khăn về mặt tội phạm.

Canada và Mỹ gần nhau, những thuyền nhân từng ở cùng trại với nhau nay phải chia đôi Mỹ và Canada thường hay giữ liên lạc với nhau. Khoảng một năm sau khi tới Mỹ, tạm ổn định cuộc sống, tôi tìm cách bắt liên lạc với cô học trò tiếng Anh của tôi hồi ở trong trại, khi hỏi về cuộc sống thì đã được cô nói tiếng lóng cho biết là đi làm công hái cần sa rồi. Những năm sau đó theo dõi báo chí, thấy đã có mấy vụ người Việt tại Úc bị bắt vì chuyển lậu cần sa về Việt Nam. Tin tức về người Việt tại Anh quốc cũng có mức độ tội phạm tương tự.

Tại mấy nước cựu cộng sản đông Âu và Nga, những năm trước không có nạn trồng và bán cần sa nhưng có nạn buôn lậu, đặc biệt tại đông Đức là buôn lậu thuốc lá và băng đảng thanh toán nhau vì tranh dành thị trường. Sự thanh toán tàn bạo tới độ có vụ nạn nhân bị bắt cóc mang đi giết rồi chặt nhỏ thi hài ra thủ tiêu. Tất cả tình trạng tội phạm và phương cách phạm tội của người Việt tại Canada, Úc, Anh và các nước đông Âu qua tin tức báo chí làm tôi nhớ lại “văn hóa đầu gấu” của người miền bắc trong trại tị nạn Hồng Kông. Nền văn hóa đầu gấu của miền bắc có năm biểu hiện: Kiếm tiền bất hợp pháp bằng mọi giá, cướp bóc, thanh toán nhau, tàn bạo và chế ngự cộng đồng bằng luật giang hồ (tranh dành quyền lực). Năm biểu hiện này dường như quyện chặt lấy nhau từ trong nước ra tới hải ngoại.

Sự khác biệt văn hóa bắc nam thể hiện rõ nét qua hiện tượng ở hải ngoại, người miền bắc đi vào con đường kiếm ăn bất hợp pháp một cách tập thể, một điều không thấy trong cộng đồng người miền nam. Dĩ nhiên tội phạm thì ở đâu cũng có nhưng tội phạm tập thể, rủ nhau kéo đàn kéo lũ từ trong nước ra để làm ăn phi pháp thì chỉ có cộng đồng người miền bắc. Người miền nam vượt biên ra hải ngoại, nói chung là đông hơn người miền bắc nhiều, nhưng họ đi làm để nuôi con cái ăn học, và bản thân họ đa số cũng cắp sách trở lại trường học, cho dù khi đặt chân được tới nước ngoài, đa số tuổi khá cao, nhất là so với các thuyền nhân miền bắc.

Cho nên người miền nam ở hải ngoại đông hơn người miền bắc nhiều lần nhưng tỉ lệ phạm pháp lại thấp hơn rất nhiều lần, không gây một tai tiếng nào tại quốc gia họ định cư. Cái đặc tính ham học và làm ăn đàng hoàng có văn hóa đó đã mang lại sự kính trọng của người bản xứ. Con cái thành phần miền nam đã tạo được nhiều thành quả về học vấn và công tác, kể cả đạt được những chức vụ cao trong chính phủ nước người như là ông Đinh Việt cựu thứ trưởng bộ Tư Pháp Liên Bang Hoa Kỳ, Luật sư Lưu Tường Quang cựu Tổng Giám Đốc Đài Phát Thanh Quốc Gia Úc Châu (SBS), ông Vũ Khanh Thanh, nghị viên tại Anh Quốc (Councillor for the London Borough of Hackney ) và còn nhiều viên chức cao cấp khác nữa.

Tóm lại người miền nam và con cái họ, chỉ sau thời gian ngắn tới trường học, họ đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội mới và được người bản xứ kính nể. Trong khi con cái người miền bắc ở nước ngoài không tạo được những thành quả gây ấn tượng bằng một phần nhỏ con em miền nam. Một nhà báo nổi tiếng của miền bắc đang tị nạn chính trị tại London, một người bạn thân vong niên với tôi trong trại tù Z30D vì tội chống đảng, một lần điện thoại nói với tôi thế này: “Em biết đấy, đám miền bắc khác người miền nam. Chúng có chăm lo cho con cái đi học đâu. Ở bên này (Anh Quốc) chúng toàn làm những chuyện bất hợp pháp”. Điều buồn cười là nhà văn miền bắc này chính cống là người Hà Nội cho tới sau 1975 và là một trong vài cán bộ được đảng huấn luyện giỏi nhất miền bắc để đảm nhiệm những công tác cần trình độ cao tương đương với giới trí thức phương tây (vì an ninh cho ông ấy tôi xin miễn nêu tên).

Từ trên Những bi can người Việt liên quan đến vụ cần sa khác vẫn chưa thụ án. Người Việt trồng cần sa với quy mô lớn và đa quốc gia trong EU. Một cơ sở trồng cần sa của người Việt tại Pudapest bị cảnh sát Hungari phá hủy (nguồn: Vietinfo.eu)

Tại Canada, trình trạng tội phạm của người Việt gia tăng với tốc độ đáng sợ. Theo trang mạng Sherdog.net, bài “Vietnamese gangs stranglehold over the Canadian marijuana industry” viết rằng 95 phần trăm hoạt động trồng cần sa do cảnh sát khám phá tại Vancouver được điều hành bởi các nhóm người Việt. Bài báo viết tiếp, các nhóm trồng cần sa này là những gia đình, hợp tác với nhau để kiếm tiền… Các nhóm người Việt là những người trồng nhiều cần sa nhất trên toàn quốc …

Việc trồng cần sa có lợi nhuận khổng lồ (tremendous profit)… Người Việt trồng cần sa đã phát triển khắp các vùng Edmonton, Calgary, Saskatoon, Winnipeg, Toronto và Montreal… Một người Canada gốc Việt hoạt động cộng đồng hàng đầu (community leader) nói rằng nhiều người bàn tán về việc các gia đình gốc Việt tham gia trồng cần sa. Ông nói nguyên văn, “Nhiều người trong số họ (người Việt) cảm thấy đó là cách dễ kiếm tiền và vì thế họ đã đi vào nghề đó..” Sự tham gia của các nhóm gia đình người Việt vào việc kinh doanh bất hợp pháp này cũng gia tăng nhiều. Trong năm 1997 số nghi can gốc Việt liên quan tới hoạt động cần sa tăng từ 2% lên tới 36%. Các ghi nhận cho thấy con số người Việt trồng cần sa là đông nhất. Những người Việt từ Âu Châu và Úc châu đang được tuyển mộ để chăm sóc cây cần sa …

Cảnh sát tại Anh quốc cho hay 75 phần trăm cơ sở trồng cần sa bị khám phá do các nhóm băng đảng người Việt điều hành…Tại Anh Quốc cảnh sát đã lục soát từ giữa năm 2005 tới 2006, 802 cơ sở trồng cần sa tại London, trong đó 2/3 cho tới ¾ các cơ sở đó là do các băng nhóm người Việt điều hành … Phương pháp trồng cần sa được dùng tại Canada hiện đang được lặp lại tại Anh quốc. Nhật báo The Vancouver Sun ra ngày Thứ Năm, mùng 10-12-2009 đăng bài “The RCMP’s gangster ‘hit list’: …” công bố ngày thứ Sáu, mùng 10-6-2005 viết rằng Nhóm băng đảng Á châu nổi tiếng nhất tại Vancouver là nhóm “Big Circle Boys-BCB). Bài báo viết tiếp, các nhóm người Việt kiểm soát 85% hoạt động trồng cần sa tại vùng Lower Mainland và hầu hết các thương vụ ma túy tại Vancouver Island, bắc Nanaimo. Thành viên nhóm BCB can dự vào những vụ giết người, cho vay nặng lãi, buôn người, thu hụi chết, cướp bóc và xuất cảng xe hơi ăn cắp sang Á châu. Các nhóm băng đảng người Việt nổi tiếng tàn nhẫn và bạo động bất chợt. Các nhóm tội phạm Á châu khác chìm hơn (more low-key) và không muốn làm cảnh sát chú ý, nhưng sẽ dùng bạo động và giết người như giải pháp cuối cùng để bảo vệ quyền lợi bất hợp pháp của chúng.

Tại Úc châu, cảnh sát cho hay các tay buôn cần sa người Việt đã đi Canada để học hỏi cách trồng loại cây này. Người ta tin rằng chúng sẽ dùng kiến thức học được để trồng và bán cần sa tại Việt Nam.

Tại Anh quốc tình trạng tội phạm của người Việt miền bắc cũng được nêu đích danh. Bài Archive for March 24th ,2009, “A Viet Member of the British Empire” viết rằng, mới đây, người Việt tại Anh quốc đã nổi tiếng trên báo chí truyền thông Anh quốc do các hoạt động tội phạm trồng cần sa và buôn người.

Ngay cả người miền bắc cũng xác nhận tình trạng tội phạm của họ. Trong bài “Người Việt tại Vacsava trồng cần sa” đăng trên mạng Đàn Chim Việt ngày mùng 2 tháng 1-2009, phần góp ý, ông Nguyễn Dũng viết rằng dân Việt Nam tại Anh Quốc, phần nhiều từ Hải Phòng cũng trồng và buôn bán cần sa ma túy. Một người khác tên là Tâm thì viết, thực lòng mà nói những người Việt Nam trồng cần sa ở Anh, Canada và một vài nước khác đã bị bắt hầu hết đều là người miền bắc Việt Nam, cho dù tôi cũng là người miền bắc thì tôi cũng không thể chối cãi điều đó, nhưng xin bà con thông cảm, bởi vì sống trong một chế độ mà nhà cầm quyền chà đạp lên tất cả để giữ độc quyền cai trị, thì người dân họ cũng học theo cái xấu đó để mà tồn tại. Chính vì thế mà họ coi thường luật pháp và thượng tôn đồng tiền.Theo ông Nguyễn Dũng, một di dân gốc bắc ở trên, người dân miền bắc học theo cái xấu của đảng “để tồn tại.” Như vậy nguyên nhân của tình trạng tội phạm của người miền bắc phải là vấn đề văn hóa chứ không phải vấn đề kinh tế. Vả lại nếu nguyên nhân của tội phạm là vấn đề kinh tế thì người di dân gốc miền nam cũng phải có mức độ và hình thức tội phạm tương tự.

Làm giầu nhanh chóng bằng mọi giá, kể cả bất hợp pháp, bạo động, đâm chém là mộng ước lớn hiện nay của cộng đồng người miền bắc hải ngoại. Nghề trồng cần sa đáp ứng mộng ước bất hợp pháp đó của người miền bắc bởi thế họ đang đua nhau tràn sang Anh quốc, bất kể mọi nguy hiểm. Trong bài “ Những bước đổi đời gian nan” của Huỳnh Tâm đăng ngày 28/10/2009 trên trang mạng Đàn Chim Việt tác giả viết “Trước khi chia tay, chúng tôi hỏi lý do vì sao phải đến Anh mà không qua Đức, Bỉ hay Hà Lan. Tất cả đều nói giống nhau: “Chúng tôi đến Anh là vì nơi đó tìm kiếm việc làm dễ hơn, lương cũng cao hơn và sẽ có giấy tờ cư trú hợp pháp, cũng như nơi ăn ở đã có chủ lo hết”. Qua tìm hiểu, công việc lương cao, chủ bao là trồng cỏ hay bán sản phẩm quốc cấm, còn nữ có khả năng phải làm trong ngành buôn hương bán phấn, dịch vụ mới phát triển tại Anh quốc do người Việt làm thầu.”

Đồng thời người miền bắc đang mở một chiến dịch phổ biến trồng cần sa hầu như khắp Âu châu và cả ở Hoa Kỳ. Nhưng riêng tại Hoa kỳ lâu nay cũng có một vài âm mưu phổ biến kỹ nghệ bất hợp pháp này sang thành phố Seattle, Hoa Kỳ, kế cận thành phố Vancouver của Canada. Nhưng chiều hướng này khó thành công vì hai lý do: 1- Tại Hoa Kỳ, tội trồng cần sa bị trừng phạt nặng hơn ở Canada và Anh quốc rất nhiều. 2-Người miền bắc ở Hoa Kỳ rất ít nên họ không tìm được đồng minh như ở các quốc gia khác.

Trồng cần sa là một nghề rất hấp dẫn và một khi đã đâm đầu vào rồi thì khó bỏ, bởi vì nó quá dễ và quá có lời. Kiếm vài triệu dễ như chơi. So với một kỹ sư tại Mỹ, trung bình lương 50 ngàn đô một năm. Một đời làm việc trung bình 30 năm mới kiếm được 1 triệu rưỡi. Trừ thuế 30 phần trăm thì còn lại hơn 1 triệu. Sau khi trừ chi phí đời sống thì cuối đời còn được bao nhiêu. Nhưng đi vào trồng cần sa thì tất cả mọi người đều trở thành triệu phú trong chớp mắt. Người quen của tôi từ Việt Nam kể chuyện rằng có người trong nước mới đi xuất cảnh lao động không biết làm gì mà gửi tiền về nhà nhiều quá. Thân nhân của họ ở Việt Nam mua căn nhà bốn, năm tỉ dễ dàng như lấy tiền trong túi. Tôi bảo rằng những người xuất cảnh lao động mà nhiều tiền như thế thì chỉ có nước trồng cần sa, buôn ma túy thôi chứ làm gì có nước nào kiếm tiền dễ như thế.

Một lần sang Canada thăm một cặp vợ chồng quen trong trại tị nạn. Thấy họ sống sung túc trong một ngôi nhà khang trang mua bằng tiền mặt và đã trả hết nợ, có nghĩa là không vay ngân hàng, tôi hết sức ngạc nhiên và cũng đoán thầm nghề nghiệp của họ. Ở chơi được nửa ngày họ mới thật tình thổ lộ hết công việc. Hiện nay thì chị vợ mở tiệm nails chủ yếu chỉ để tạo bề mặt rửa tiền. Anh chồng không phải làm gì cả. Họ thú thật đã có bạc triệu. Mấy triệu thì tôi không biết và không tiện hỏi chi tiết nhưng chính miệng anh ta nói ra là “triệu”. Anh ta cho biết bây giờ đã giải nghệ. Tôi không tin, cười hỏi, “Giải nghệ thật không?”. Anh ta thú thật rằng, giải nghệ là bản thân anh ta không còn trực tiếp trồng thôi, chứ căn nhà cơ sở của anh ta vẫn còn và anh ta kêu người chăm nom rồi chia lời. Vài ba tháng anh ta tới thu vài chục ngàn đô tiền chia lợi tức.

Một năm không phải làm gì cả mà thu lợi tức bốn chuyến như thế thì cuộc sống khoẻ quá. Lợi tức hơn một bác sĩ làm việc cật lực. Anh ta bảo tôi nếu muốn thì mua một căn nhà ở Canada rồi anh ta sẽ kêu người lo giúp cho. Lúc đó tôi không phải làm gì cả mà cứ vài tháng đi du lịch sang Canada thu vài chục ngàn đô. Anh ta trình bày tiếp, trong làm ăn mọi việc tự nó sẽ hình thành một hệ thống kín từ A tới Z. Mình không phải bận tâm. Mỗi khâu đều có dịch vụ. Từ người Realtor chuyên mua nhà tới anh constructor sửa nhà để thành cơ sở trồng cần sa, tới luật sư lo về pháp lý khẩn cấp mỗi khi bị cảnh sát khám phá, đã tự nhiên trở thành một hệ thống mắt xích hoàn hảo. Khi nghe như thế thú thực lòng tôi cũng chao đảo. Huống chi là mấy người nghèo đói ở Việt Nam. (còn tiếp-Kết luận: Chia rẽ bắc nam sẽ còn kéo dài)

Nguyễn Tường Tâm

Ghi chú: danh từ “Người miền bắc” trong loạt bài này chỉ những người bắc còn ở lại Hà nội sau năm 1954 và những người vào miền nam sau ngày 30-4-1975, kể cả con cháu họ, cho dù sinh trưởng tại miền nam sau đó.

ooOoo

    Zlikwidowana plantacja konopi indyjskich
Kryminalni z Piaseczna zabezpieczyli ponad 500 doniczek z krzewami konopi, z których można było uzyskać nawet do kilkudziesięciu kilogramów marihuany. Jest to jedna z największych plantacji jaką w ostatnim czasie zlikwidowano na tym terenie. Wartość zlikwidowanej plantacji wstępnie oszacowano na kilkaset tysięcy złotych.Policjanci codziennie walczą z przestępczością narkotykową i wszelkimi jej przejawami. Poza zatrzymywaniem osób mających związek z środkami odurzającymi równie ważnym ogniwem pracy kryminalnych jest znajdowanie i eliminowanie samych narkotyków. Każda zabezpieczona przez funkcjonariuszy „działka” nigdy więcej nie trafi już na rynek.

Kryminalni w trakcie działań ukierunkowanych na zwalczanie przestępczości narkotykowej pozyskali informację dotyczącą nielegalnej uprawy konopi na terenie powiatu. Realizując działania operacyjne ujawnili nielegalną plantację konopi indyjskich. Wczoraj o 6.30 nad ranem funkcjonariusze z wydziału kryminalnego weszli na teren posesji w Tarczynie. Na parterze, piętrze i poddaszu willi policjanci zabezpieczyli ponad 500 doniczek z krzakami konopi indyjskich. Rośliny miały wysokość od kilkudziesięciu centymetrów do 1 metra. Na poddaszu budynku policjanci zabezpieczyli kilkadziesiąt zużytych doniczek oraz około metra sześciennego krzewów z których były zdjęte liście i kwiatostan. Pomieszczenia były specjalnie przystosowane do uprawy narkotyków.

Policjanci do sprawy zatrzymali mężczyznę i dwie towarzyszące mu kobiety narodowości wietnamskiej. Organizatorem całego procederu był 37-letni Phan D.H. Policjanci w chwili zatrzymania mężczyzny zabezpieczyli w jego miejscu zamieszkania około 20 gram marihuany. Narkotyki były ukryte w różnych miejscach, w opakowaniu po prezerwatywach, w plecaku, w puszce po orzeszkach, w zwoju folii aluminiowej.

Śledczy wstępnie szacują, że po odpowiedniej obróbce na rynek mogło trafić nawet kilkadziesiąt kilogramów suszu roślinnego o wartości czarnorynkowej sięgającej do kilkuset tysięcy złotych. Zatrzymany mężczyzna będzie odpowiadał za posiadanie i uprawę narkotyków. Sprawa jest rozwojowa, niewykluczone są dalsze zatrzymania.

(źródło: KSP)




 

Lý Quang Diệu với thuyền nhân Việt Nam

Sunday, June 28th, 2015

THỨ HAI, 30 THÁNG 3 2015 16:04 TU DO

EmailInPDF.

Ông Lý Quang Diệu trong thời kỳ nắm quyền lãnh đạo ở Singapore trước đây đã từng theo đuổi một chính sách được cho là ‘sắt đá’ có lúc, có phần gây bất lợi cho một số thuyền nhân Việt Nam, những người đã rời bỏ đất nước trên những con thuyền trên Biển Đông, theo lời nhân chứng nói với BBC.

Ông Lý Quang Diệu

Ông Lý Quang Diệu làm Thủ tướng đầu tiên của Singapore với nhiệm kỳ từ 1959-1988

Tuy nhiên, cũng cần ‘thông cảm’ và ‘công bằng’ đối với ông Lý Quang Diệu vì ông không phải là lãnh đạo duy nhất ở Đông Nam Á đã nói ‘không’ với nhiều trường hợp thuyền nhân cần tìm chỗ ‘đáp lên bờ’ và ‘tị nạn’ khẩn cấp vì các lý do thiết yếu, vẫn theo lời nhân chứng.

Trao đổi với BBC hôm 28/3/2015, một nhân chứng trong chương trình người Việt tự cứu thuyền nhân trên Biển Đông, được biết tới là chương trình ‘Máu chảy ruột mềm’ những năm nửa cuối thuộc thập niên 1970, sau diễn biến 30/4 ở Sài Gòn, trước hết nói với BBC về cảm nghĩ của mình trước tin vị quốc phụ của Singapore vừa tạ thế.

“Tôi nghĩ là ông Lý Quang Diệu vừa qua đời, thì thế hệ sau này chắc là ai cũng ca ngợi ông ấy hết,” Sư cô Chân Không, từ Đạo tràng Làng Mai, một cộng đồng Phật giáo Việt Nam, tại Tây Nam nước Pháp nói.

“Và tôi thấy gần như 99% ai cũng ca ngợi, dĩ nhiên trong những câu ca ngợi họ cũng nói là nhờ chính sách sắt đá, thì thôi, thì tôi muốn để cho qua, nhưng muốn hỏi một nhân chứng chân thực thì hồi năm 1976, 1977, lúc đó thuyền nhân (Việt Nam) đang bị cư xử rất tàn tệ ở Singapore.

“Lúc đó tôi đang ở Singapore để trong chương trình Đại hội Tôn giáo Thế giới vì Hòa Bình (World Conference on Religion and Peace) họ mời Sư ông (Thích Nhất Hạnh) làm giám đốc chương trình ‘Máu chảy, Ruột mềm’, và Sư ông mời tôi qua làm phụ tá, với 8 người đệ tử của Sư ông, cư sỹ nữa, thì đi qua hết để làm.

“Lúc đó, báo chí đăng tin có một tàu Nhật vớt 99 thuyền nhân ghé tạm Singapore để trao hàng và đi các nước khác để giao hàng nữa, thì ở đó (Singapore) họ không cho vô và họ bắt tàu Nhật đó phải đóng thuế 1 triệu USD thì họ mới cho tạm để ghé giao hàng rồi mới đi, thì khi mà tàu đi mà đem đủ 99 thuyền nhân đó rồi, thì họ mới cho đi.

“Tôi nhớ chung chung là một thuyền nhân được một người đánh cá ở Singapore mà vớt và cho vào bờ, thì sẽ bị phạt 5.000 đô-la Singapore, và một người đánh cá mà phạt năm ngàn thì sống làm sao nổi?”

‘Những người có lòng’

Nhân chứng này tường thuật tiếp về cách thức mà những người muốn cứu giúp các thuyền nhân Việt Nam tới Singapore đã phải sử dụng ra sao, kể cả liên kết với ‘giới ngoại giao’ của ‘một nước thứ ba’ để đối phó với luật pháp và chính sách nhập cư của đảo quốc Đông Nam Á dưới thời ông Lý Quang Diệu.

Lý Quang Diệu
Ông Lý Quang Diệu được coi là bậc ‘quốc phụ’, là người có công kiến thiết Singapore hậu thuộc địa 

“Nhưng mà trong khi đó, cũng có những người đánh cá có lòng, và có những người Phật tử Việt Nam có lòng, mấy vị đó là vợ của những người Hoa Kỳ, hay người của các nước khác, là vợ của những vị đó, những bà đó có một ít tiền vì chồng cũng khá giả, thành ra mới lại nói với mấy người đánh cá Singapore, nói là anh mà vớt được một thuyền nhân, thì tôi cho anh 100 đô-la, rồi anh báo tin âm thầm cho chúng tôi biết,” Sư cô Chân Không, người đã có hẳn một cuốn sách với tựa đề ‘Con đường mở rộng’ trong đó có một chương nói về thuyền nhân Việt Nam ở Singapore, nói tiếp với BBC.

“Rồi chúng tôi mới âm thầm lấy xe, vì họ khá giả, họ lấy xe nhà, mà chở tới tòa Đại sứ Pháp, thì ở trong Tòa đại sứ Pháp lúc bấy giờ cũng có một người thư ký rất ‘chịu chơi’, lén vô mở cửa cho thuyền nhân. Mỗi lần vớt được 3 thuyền nhân, 5 thuyền nhân, thì mấy bà ấy phải hùn tiền nhau, mỗi bà 100 đô-la, để cho 500 đô-la hay 300 đô-la, rồi chở vô tòa Đại sứ Pháp rồi khóa cửa lại như là mấy người này nhảy vào hay sao ‘không biết’.

“Sáng hôm sau, Tòa Đại sứ mở cửa nói ‘Có ba tên nhập cảnh bất hợp pháp, thì họ phải báo tin cho Singapore biết, ‘có ba người này (chúng) tôi không biết, toàn nói tiếng Việt không, (họ) nói chúng tôi thuyền nhân, ‘chúng tôi mò từ biển, tụi tôi đi bộ lên’.

“Ông Đại sứ Pháp là một người rất có lòng, lúc đó, ông tên là Jacques Gasseau, ông khai báo với cảnh sát Singapore là có 3 người nhập cư bất hợp pháp ở trong lãnh thổ Pháp, thì chúng tôi sẽ làm giấy tờ để cho mấy người bay được đi Pháp.”

Theo nhân chứng này, nhiều lần các nhà vận động Việt Nam đã tiến hành các cuộc họp báo ở quốc tế hay khu vực, vận động công khai tới chính quyền của ông Lý Quang Diệu, nhưng dường như nhà lãnh đạo này đã trong suốt thời gian dài không thay đổi chính sách với thuyền nhân Việt Nam, ngược lại được cho là còn ‘trục xuất’ nhiều nhà hoạt động trong các chương trình ‘Cứu giúp thuyền nhân’, trong đó có Thiền sư Nhất Hạnh và các trợ lý.

‘Đẩy ngược ra biển’

Cũng hôm 28/3/2015, một đại diện của Tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam xác nhận với BBC rằng Singapore trong thời gian lãnh đạo của ông Lý Quang Diệu đã có các chính sách ‘push back policy’, tức là đẩy lại ra biển những người thuyền nhân tị nạn từ Việt Nam từ cuối thập niên 1970’s, kể cả những trường hợp được cho là cần ‘hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp’, mà chỉ nhận những hồ sơ tị nạn nào đã được các nước thứ ba tiếp nhận về nguyên tắc cho tị nạn ‘xong xuôi’.

Hôm thứ Bảy, ông Trần Đông, một người chuyên tìm hiểu về thuyền nhân trên Biển Đông từ tổ chức này, nói với BBC:

“Vấn đề đó cũng là phản ánh sự thật, nhưng không riêng gì ở Singapore có chính sách gọi là ‘push back policy’ đẩy ngược tàu thuyển ra biển, Malaysia cũng sử dụng như vậy, Thái Lan cũng sử dụng như vậy, chỉ có hai quốc gia không áp dụng, đó là Indonesia và Philippines. Cho nên đối với Indonesia và Philippines thì thuyền nhân tới là họ nhận hết.”

Theo ông Đông, Singapore cũng có một số nỗ lực nhất định, tuy nhiên cũng có những ‘giới hạn’ về chính sách.

Ông nói: “Singapore cũng đã có những nỗ lực tiếp nhận thuyền nhân, thế nhưng giới hạn của Singapore là trại tị nạn ở tại Singapore chỉ dành cho những thuyền nhân được các quốc gia khác nhận cho đi định cư.

“Thí dụ nếu một tàu quốc tế nào đó vớt thuyền nhân, quốc gia đó nhận cho những người ở trên tàu đi định cư, thì như vậy Singapore tiếp nhận cho họ ở tạm tại Singapore trong một khoảng thời gian ngắn vài ba tháng, để làm thủ tục đi định cư.”

Theo người đã nhiều năm sưu tầm tư liệu về thuyền nhân Việt Nam trên Biển Đông, việc Đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam trong nhiều lần tiếp xúc với ông Lý Quang Diệu đã không bao giờ nhắc tới chính sách này của ông và Singapore dưới thời mà ông cầm quyền là một điều ‘dễ hiểu’ trong ngoại giao.

Thuyền nhân Việt Nam 

Ông Trần Đông nói: “Về vấn đề không chất vấn thảm cảnh thuyền nhân đối với một lãnh tụ của một quốc gia khác, tôi nghĩ rằng vấn đề đó cũng thường xảy ra, người ta cũng không muốn vì quyền lợi quốc gia, vì vấn đề bang giao, cho nên người ta cũng không muốn đưa một vấn đề khó xử hoặc là khó trả lời đối với lãnh tụ của một quốc gia là quốc khách của mình được mời đến.

“Cho nên tôi nghĩ là người ta không đặt ra các vấn đề đó, thì những vấn đề đó cũng là sự thường thôi.”

‘Như một bài toán’

Hôm thứ Bảy, nhân chứng từ cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Pháp, Làng Mai, giải thích với BBC vì sao chính quyền của ông Lý Quang Diệu đã không chiếu cố những trường hợp, dù được cho là ‘chỉ một, hay hai cá nhân’ đơn lẻ trong số các thuyền nhân là ‘trẻ em, con nít, phụ nữ, hay người già, người bị bệnh nặng’ để họ được lên bờ vào Singapore tiếp nhận ‘hỗ trợ khẩn cấp’, mà trái lại, lại bị ‘đẩy ngược ra biển’, mặc dù nhiều cuộc họp báo, vận động khi đó đã được cho là chuyển thông tin tới quốc tế và chính quyền của ông bằng nhiều cách thức.

Sư cô Chân Không, trợ lý của Thiền sư Nhất Hạnh trong chương trình cứu giúp thuyền nhân Việt Nam trên Biển Đông, nói:

“Tôi nghĩ là ông Lý Quang Diệu chỉ nghĩ trong đầu như một bài toán thôi. Ông không có cơ hội để thấy được những đứa con nít mà thoi thóp ở trong tay mẹ mà không còn nước, không có nước, không thức ăn, đang đói, đang khát.

“Ông chỉ thấy việc của Singapore như một bài toán, một nước mà không có tài nguyên thiên nhiên, thì chỉ có một cách là đem tiền vô càng nhiều, càng tốt, chỉ nhận những công dân có tiền nhiều, đầu tư nhiều, vậy thôi.

“Thành ra ông ấy không có thì giờ tiếp xúc với sự thật… Ông Lý Quang Diệu, ông ấy tiếp xúc với những bài toán kinh tế của nước ông, một đất nước không có tài nguyên gì hết, thì ông ấy phải làm việc trên cái lý thuyết đó thôi.”

Nhân chứng từ Pháp còn cho hay trong các thời kỳ cao điểm của ‘thuyền nhân Việt Nam’ trên Biển Đông và Đông Nam Á, Singapore vừa áp dụng chính sách đẩy thuyền nhân ‘ngược trở ra biển’, vừa được cho là ‘mở cửa, trải thảm’ đỏ tiếp các công dân quốc tế, khu vực vào Singapore sống để có ‘thẻ xanh’, ‘vô dân’, ‘nhập quốc tịch’, nếu có tài lực từ ‘300 nghìn tới 500 nghìn Mỹ Kim trở lên’.

Bình luận về điều được cho là ‘chính sách hai mặt’ về nhập cư này của chính quyền của ông Lý Quang Diệu thời gian đó, ông Trần Đông từ Australia nói:

“Khi người ta quyết định một chính sách, thì người ta đặt quyền lợi quốc gia của người ta ở trên hết.

“Và khi một điều xảy ra mà trở thành một gánh nặng cho quốc gia của người ta và người ta khó có thể kham nổi, thì người ta có quyền từ chối,” nhà quan sát từ Tổ chức Văn khố Thuyền nhân Việt Nam nói với BBC.

Theo Quốc Phương, BBC

Lịch sử thuyền nhân Việt Nam sau năm 1975 (Báo La Croix nhìn lại)

Sunday, June 28th, 2015
CHÂU Á LỊCH SỬ PHÁP VIỆT NAM ĐIỂM BÁO ĐÔNG NAM Á

Lê Vy

mediaNgười Việt tại trại tị nạn Pulau Bidong, Malaysia. Trại này có khoảng 36.000 người tị nạn Việt Nam (08/1979).UN Photo/John Isaac

Trong loạt bài mùa hè nói về những con tàu chở di dân đã đánh dấu lịch sử thế giới, báo La Croix hôm nay dẫn độc giả quay trở lại thời kỳ người dân Việt Nam ồ ạt vượt biên sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975. Tờ báo đặc biệt đề cập đến con tàu huyền thoại mang tên « Đảo ánh sáng ».

Con tàu này đã đưa hàng nghìn người Việt Nam thời bấy giờ vượt biên, chạy trốn chế độ cộng sản. Nhờ vào con tàu, hàng nghìn thuyền nhân Việt Nam đã làm lại cuộc đời. Đây là nơi dùng làm bệnh viện để chữa bệnh cho những người vượt biên. Đồng thời, con tàu còn chứng kiến nhiều giây phút trọng đại của người Việt, như một số đôi đã nên duyên vợ chồng trên chuyến tàu này.

La Croix nhắc lại lịch sử và bối cảnh của việc hàng nghìn người Việt Nam chạy trốn khỏi đất nước lúc bấy giờ. Ngày 08/11/1978, người Pháp hay tin chiếc tàu chở hàng Hai Hong chở 2 564 thuyền nhân miền Nam Việt Nam, nhưng không có một đất nước châu Á nào chấp nhận đón tiếp. Đây chỉ là một trong nhiều con tàu khác. Vào thời kỳ đó, có hàng trăm nghìn thuyền nhân muốn rời khỏi miền Nam Việt Nam, lãnh thổ trước đây được Hoa Kỳ yểm trợ và sau đó bị chế độ cộng sản miền Bắc Việt Nam chiếm vào năm 1975.

Vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ, vào tháng 5/1975, 3743 người Việt Nam đầu tiên đến Hồng Kông. Để cứu giúp họ, một số trí thức Paris đã nghĩ đến việc lập ra « chiếc tàu cho người Việt Nam ». Một số đã từng ủng hộ miền Bắc trong cuộc chiến chống quân Mỹ. Trong một bản tin thời sự trên truyền hình, nghệ sĩ Yves Montand phát biểu : « Người Việt Nam đang chết chìm, nên chúng ta phải giúp họ ». Từ đó, chiếc tàu « Đảo ánh sáng » ra đời để đến biển Đông cứu vớt người Việt.

Vào tháng 7/1979, một hội nghị được tổ chức tại Genève để bàn về số phận của những người vượt biên Việt Nam. Hội nghị này lập ra một Hiệp ước giữa Việt Nam, các nước Đông Nam Á cho tỵ nạn trong thời gian đầu và các nước cho phép định cư lâu dài. Indonesia và Philippines thành lập các trung tâm tị nạn tạm thời. Việt Nam hứa hẹn cho phép những người vượt biên có tổ chức. Các nước thứ ba sẽ tăng tốc trong việc tái định cư dân Việt Nam lâu dài.

Từ 07/1979 đến 07/1982, hơn 20 nước như Mỹ, Úc, Pháp và Canada đã tái định cư 623 800 người Đông Dương tị nạn. Về phía mình, chính quyền Việt Nam cho phép người Việt ra đi nếu họ muốn. Trong năm 1984, có 30 000 người Việt ra đi theo dạng này. Hội nghị này tổ chức việc gửi tàu đến một số nước không tiếp nhận người tị nạn để cứu vớt họ. Trong 5 tháng đầu năm 1979, 81 tàu chuyên chở tổng cộng 4 031 người trên biển, trong đó có con tàu « Đảo ánh sáng ». Từ năm 1975 đến năm 1990, 67 000 người Việt Nam được cứu vớt trên biển.

Thuyền trưởng con tàu « Đảo ánh sáng » nhận xét : « Người Việt Nam thật sự làm tôi bất ngờ. Có nhiều tài năng khác nhau. Họ rất có tổ chức, có phẩm cách và muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn ». Theo báo La Croix thì Hoa Kỳ là đất nước mà người dân Việt Nam muốn được đến định cư nhiều nhất.

 

Translate »