Posts Tagged ‘Hoàng Sa’


Trung Quốc: Cái chết của Lưu Hiểu Ba nói lên tầm mức của sự áp bức

Thursday, July 13th, 2017

Washington – ngày 13 tháng 7 năm 2017 – Phản ứng trước cái chết của Ông Lưu Hiểu Ba, 61 tuổi, khôi nguyên giải Nobel hòa bình năm 2010 trong lúc bị nhà cầm quyền Trung Quốc cầm tù và cưỡng bức vì cổ xúy chế độ dân chủ, Freedom House đưa ra tuyên bố như sau:

Ông Michael J. Abramowitz, chủ tịch Freedom House, nói: “Cái chết của ông Lưu thể hiện mức tồi tệ  mới trong chính sách đàn áp của chính quyền Trung Quốc và hoàn toàn không để ý đến sức khoẻ và tính mạng của các tù nhân chính trị và tôn giáo ở Trung Quốc. “Nhà chức trách đã cưỡng bức Ông ta trong nhà tù, từ chối những yêu cầu khẩn cấp cần được chăm sóc y tế, tiếp tục giam giữ  vợ của ông trong tù, đó là những dấu hiệu của một nhà nước độc tài toàn trị, không tôn trọng quyền của công dân và không khoan nhượng đối với những bất đồng quan điểm chính trị. Chính phủ Trung Quốc làm đủ mọi cách không thương tiếc bịt miệng ông Lưu, nhưng họ không thể ngăn được hàng triệu người Trung Quốc khác tiếp tục hành động để bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người “.

Trung Cộng được đánh giá là một nước “không tự do” trong “báo cáo về tự do thế giới năm 2017”, “không có tự do” trong báo cáo tự do báo chí năm 2017 và không tự do trên mạng năm 2016.​

 FOR IMMEDIATE RELEASE

​​

 China: Death of Liu Shows Reach of Repression 

​​

Washington  –  July 13, 2017 —  In response to the death of 61-year old Liu Xiaobo, awarded the Nobel Peace Prize in 2010 while he was imprisoned and silenced by the Chinese government for his advocacy of democracy, Freedom House issued the following statement:

“The death of Liu represents a new low in the Chinese government’s repression and utter disregard for the health and life of political and religious prisoners in China,” said Michael J. Abramowitz, president of Freedom House. “Authorities silenced him in prison, denied him urgently needed medical care, and continue to hold his wife prisoner, all hallmarks of an authoritarian state with no respect for the rights of citizens and with intolerance of political dissent. China’s government worked without pity to silence Liu but it cannot stop millions of Chinese people who continue to take action towards securing fundamental human freedoms.”

China is rated Not Free in Freedom in the World 2017, Not Free in Freedom of the Press 2017, and Not Free in Freedom on the Net 2016.

Freedom House is an independent watchdog organization that supports democratic change, monitors the status of freedom around the world, and advocates for democracy and human rights.

Join us on Facebook and Twitter (freedomhousedc). Stay up to date with Freedom House’s latest news and events by signing up for our newsletter

Phản đối Tập Cận Bình đến Hoa kỳ

Thursday, March 23rd, 2017

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

Theo tin báo chí quốc tế (Reuters đính kèm), chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng sẽ đến gặp TT Trump tại Mar-a-Lago resort, ​West Palm Beach, ​Florida trong hai ngày 6 và 7 tháng 4, 2017.​

Mặc dù chưa được tòa Bạch Ốc ​chính thức ​xác định ngày giờ, nhưng theo nguồn tin ​đáng tin cậy này, cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo của hai cường quốc số 1 và 2 trên thế giới là nối tiếp cuộc du hành của Ngoại Trưởng Tillerson đến các nước Á Châu trong thời gian vừa qua sau khi ông Trump đắc cử và tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ. Thế giới hiện đang ​hồi hộp​

chờ đợi chính sách của chính phủ Donald Trump đối với TC như thế nào, nên cuộc gặp thư​ợ​ng đỉnh này sẽ là một biến cố quan trọng.

Tổng Thống Trump đã từng viết sách tố cáo Trung Cộng dùng thủ đoạn bất chính để làm giàu khiến cho người dân Hoa Kỳ chịu nhiều thiệt hại về kinh tế. Ngoài ra, tân Ngoại Trường HK Tillerson trong cuộc điều trần trước quốc hội đã lên án TC lấn chiếm bất hợp pháp Biển Đông và HK không chấp nhận hành động này. Ngoài ra, một vị chuyên gia khác là TS Peter Navarro từng cố vấn cho ông Trump trong lúc tranh cử đã được TT Trump chọn ​làm điều hành Hội đồng Thương Mại của chính phủ TT Trump. Ông Navarro là tác cuốn sách nhan đề “chết bởi TC” mô tả những hành vi gây nguy hại cho thế giới về mặt kinh tế và môi trường của TC.

Cũng theo nguồn tin này, nghị trình cuộc gặp mặt có thể ngoài vấn đề thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng còn có:

– Vấn đền hạt nhân của Bắc Hàn

– Áp lực buộc TC phải tuân thủ các luật pháp và nghĩa vụ bình thường quốc tế.

– Và dĩ nhiên sẽ có vấn đề Biển Đông và an ninh tại Á châu Thái Bình Dương.

Trước tin này, chắc chắn người Việt khắp nơi sẽ không thể ngồi yên không tổ chức biểu tình phản đối TC đã chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam như trước đây tại Hoa Thịnh Đốn.

Được biết Cộng Đồng Việt Nam Nam Florida ​đang nghiên cứu phối hợp cùng Cộng Đồng Việt Nam tại Florida và các cộng đồng khắp nơi đ​ể

tổ chức biểu tình và sẽ thông báo chi tiết đến toàn thể quý đồng hương sau khi có những tin tức chính thức.

Trân trọng​ thông báo

​Hoa Kỳ ngày 13/3/2017

Ban Báo Chí

CĐNVQG/LBHK

​————————————-

Trump plans to host China’s Xi in April: media reportst

(Reuters, 3/12/2017)

left

Camera is seen in front of China’s President Xi Jinping attending the second plenary session of the National People’s Congress (NPC) at the Great Hall of the People in Beijing, China March 8, 2017. REUTERS/Jason Lee.

U.S. President Donald Trump plans to host Chinese President Xi Jinping at a two-day summit next month, according to media reports, as his administration seeks to smooth relations with the world’s second-largest economy.

The meeting is tentatively scheduled for April 6-7 at Trump’s Mar-a-Lago resort in Florida, U.S. online media outlet Axios reported on Monday, citing officials familiar with the plans.

CNN also reported the planned summit, citing an unnamed administration official. It said the plan was tentative and that Secretary of State Rex Tillerson was expected to finalize plans during a trip this week to Asia, which includes a stop in China.

Press Secretary Sean Spicer said on Monday the White House was preparing for a meeting between the two leaders but was not ready to announce a date.

“Planning is ongoing for a visit between President Trump and President Xi at a date to be determined,” Spicer said, saying any meeting would cover North Korea and other issues.

In previewing Tillerson’s Asia visit, U.S. Acting Assistant Secretary of State Susan Thornton told reporters it would “to some extent be paving the way for future high-level meetings between our two presidents.”

In Beijing, Chinese Foreign Ministry spokeswoman Hua Chunying said both countries were in “close communication” about exchanges between their leaders, and that information would be issued in a timely manner.

A summit would follow a string of other recent U.S.-China meetings and conversations aimed at mending ties after strong criticism of China by Trump during his election campaign.

Thornton said the United States was “pursuing a results-oriented relationship with China; one that benefits the American people and one that remains faithful to our allies and presses China to abide by international rules and norms.”

She said Tillerson had urged China in previous meetings to do all it can to rein in North Korea’s nuclear and missile programs and “to create a level playing field for trade and investment.”

“We want to be able to pursue a constructive discussion with China that enables us to get at problem areas,” she said.

China’s top diplomat, State Councilor Yang Jiechi, visited Washington last month and met Trump and Tillerson.

During his campaign, Trump accused China of unfair trade policies, criticized its island-building in the strategic South China Sea, and accused it of doing too little to constrain its neighbor, North Korea.

Trump incensed Beijing in December by taking a phone call from Taiwanese President Tsai Ing-wen and later saying the United States did not have to stick to the so-called “one China” policy.

Trump later agreed in a phone call with Xi to honor the long-standing policy and has also written to Xi since seeking “constructive ties.”

Tillerson, making his first trip to Asia as secretary of state, will visit China on Saturday and Sunday and meet Xi and other leaders.

U.S. Vice President Mike Pence will visit Japan and Indonesia as part of an Asian tour next month, sources said on Monday, amid concerns that the Trump administration is rolling back former President Barack Obama’s “pivot to Asia.”

Thorton said the United States was a Pacific power and would “certainly be remaining active and engaged in Asia,” whether or not the terminology remained the same.

(Reporting by Susan Heavey, Roberta Rampton, Emily Stephenson, David Brunnstrom and Yeganeh Torbati in Washington, and Ben Blanchard in Beijing; Editing by Frances Kerry and Jonathan Oatis)

http://www.reuters.com/article/us-usa-trump-china-idUSKBN16K15D

19-3-2017: Hơn 6000 nạn nhân Formosa diễn hành sau thánh lễ cầu an

Sunday, March 19th, 2017

Giáo phận Vinh: Hơn 6000 nạn nhân Formosa cầu nguyện cho quốc thái dân an và diễu hành

Đăng ngày
 (Tin mừng cho người nghèo)

GNsP (19.03.2017) – Vào sáng ngày 19.03.2017, tại Giáo phận Vinh, hơn 6000 bà con giáo dân đến từ các giáo xứ: Phú Yên, Mành Sơn, Cẩm Trường đến giáo xứ Song Ngọc hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho các nạn nhân chịu thảm họa hủy diệt môi trường do Formosa xả thải.

Từ sáng sớm, bà con giáo dân ở ba giáo xứ Mành Sơn, Phú Yên và Cẩm Trường quy tụ tại sân nhà thờ của mỗi giáo xứ trên tay cầm cờ ngũ sắc, khởi hành từ giáo xứ và diễu hành đến giáo xứ Song Ngọc bằng các xe gắn máy đi trong trật tự và ôn hòa.

Vào lúc 7 giờ 30, hơn 5000 bà con giáo dân quy tụ tại sân nhà thờ giáo xứ Song Ngọc. Tại đây, bà con cầm các băng rôn khẩu hiệu với thông điệp: “Formosa cút khỏi VN”, “Trả lại biển xanh cho chúng tôi”…

Thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình bắt đầu vào lúc 8 giờ cùng ngày tại giáo xứ Song Ngọc do cha Fx. Phan Đình Giáo, Quản xứ giáo xứ Cẩm Trường chủ tế, cha Antôn Đặng Hữu Nam, Quản xứ giáo xứ Phú Yên giảng thuyết và cùng đồng tế có cha JB Nguyễn Đình Thục, Quản xứ giáo xứ Song Ngọc.

Bài chia sẻ Lời Chúa của cha Antôn Đặng Hữu Nam được soi sáng bởi bài Tin Mừng (Ga 4, 5-42). “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Trong bài chia sẻ, cha Quản xứ giáo xứ Phú Yên thông tin cho cộng đoàn một vài vấn đề thời sự đang nhức nhối trong xã hội Việt Nam như: nạn bạo lực học đường; nhà trường không còn là nơi an toàn cho trẻ nhỏ khi nhiều trẻ em bị xâm hại và lạm dụng tình dục trong chính trường học. Cha nhấn mạnh xã hội việt nam hiện nay nhiều anh hùng nhưng vắng bóng tình yêu, một xã hội đầy rẫy những bất công, gian dối và lừa lọc. Cha Antôn cũng kêu gọi, bà con giáo dân hãy mạnh mẽ đứng lên bảo vệ lãnh thổ quê hương Việt Nam trước nạn nội xâm và giặc ngoại xâm, hãy bảo vệ giống nòi Việt Nam, hãy đấu tranh cho Công Lý, Công bằng trong tinh thần ôn hòa, văn minh và đạo đức của người Kitô giáo… Người Công giáo không bao giờ mất hy vọng, bởi vì nếu chúng ta có chối bỏ Thiên Chúa thì Ngài luôn chờ đợi chúng ta.

H1H2H3H4H5H13H14H6H7H9

Trước khi kết thúc thánh lễ, cha Thục gửi lời cám ơn cha Quản xứ giáo xứ Cẩm Trường, giáo xứ Mành Sơn và giáo xứ Phú Yên đã thấu hiểu, đồng hành và hiệp thông với nỗi đau không chỉ riêng bà con giáo xứ Song Ngọc mà cho tất cả các nạn nhân Formosa đang gánh chịu thảm họa.

Cha JB Nguyễn Đình Thục kêu gọi cộng đoàn hãy mạnh mẽ đấu tranh cho Công lý và Hòa bình trong tình yêu thương, tha thứ cho những người đã ra tay hành hung đánh đập, chà đạp lên luật pháp để tước đoạt quyền khiếu kiện/khiếu nại của bà con ngư dân. Chỉ có tình yêu thương, lời cầu nguyện mới giúp con người gắn kết với nhau, đoàn kết với nhau đấu tranh cho quê hương Việ Nam không còn bị cai trị bởi những con người độc ác, gian tà và vô trách nhiệm.

Sau khi kết thúc thánh lễ, cha JB Nguyễn Đình Thục cùng với bà con xứ Song Ngọc tiễn cộng đoàn ngay khu vực Ủy ban Nhân dân xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và chia tay tại đây.

Trước cổng Ủy Ban nhân dân xã Quỳnh Ngọc, bà con giáo dân cả bốn giáo xứ Mành Sơn, Phú Yên, Cẩm Trường và Song Ngọc đã biểu tình, hô to các khẩu hiệu với thông điệp “cướp” lại quyền sống, “cướp” lại quyền được làm người, “cướp” lại nhân quyền, “cướp” lại tất cả những gì nhà cầm quyền cộng sản đã cướp và tước đoạt từ tay người dân trong suốt nhiều năm qua.
H15H12H10H11

Trong các thánh lễ hiệp ý cầu nguyện cho các nạn nhân Formosa, bà con giáo dân đã được tiếp thêm sức mạnh, sự can đảm để tiếp tục dấn thân trong hành trình kiếm tìm công lý, sự thật trong một xã hội đầy rẫy oan khiên, oan sai, chà đạp nhân phẩm và xem thường mạng sống.

Pv.GNsP

Phái Đoàn Người Việt Gặp Gỡ Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc tại New York

Thursday, July 7th, 2016

Tin New York – Nhân dịp tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31, vào lúc 11 giờ sáng Ngày thứ sáu 17 tháng 6 năm 2016, một phái đoàn người Việt Hải ngoại đã họp với văn phòng Cao Uỷ Nhân Quyền LHQ tại New York. Phái đoàn đã tiếp xúc với bà Nicole Bijerler, phụ tá đặc biệt Tổng Thư Ký LHQ (Assistant General Secretary  for Human Rights) về vấn đề Nhân Quyền.

Mời xem tiếp…

Công Bố Thành Lập Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam

Saturday, April 23rd, 2016

BẢN CÔNG BỐ THÀNH LẬP

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

*** 

NHẬN ĐỊNH RẰNG:

  1.  Sau khi vi phạm Hiệp định Paris để xâm chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn thể dân tộc Việt với một chế độ độc tài toàn trị bạo ngược, tước bỏ mọi quyền tự do căn bản của người dân được long trọng quy định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10-12-1948.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tự cho mình là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước, biến hành pháp, lập pháp, tư pháp, quân đội, công an, báo chí thành công cụ tuyên truyền, khủng bố trấn áp thô bạo những ai tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nhân quyền và dân quyền và cho sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Hậu quả là Việt Nam chẳng có uy tín trên chính trường quốc tế và bị quốc tế thường xuyên lên án về thành tích vi phạm nhân quyền.
  1.   Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương kinh tế quốc doanh là chủ đạo, các công ty nhà nước là ưu tiên, mọi tài nguyên đất đai là sở hữu của nhà nước. Nền kinh tế ngày càng lụn bại, tài chánh ngày càng kiệt quệ, nợ công ngày càng dâng cao, cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Hàng triệu công nhân bị bóc lột sức lao động, hàng chục triệu nông dân bị cướp ruộng cướp đất, hàng triệu thị dân bị cướp nhà cướp cửa. Thực lực kinh tế quốc gia và điều kiện sinh sống của công dân đứng hàng gần chót thế giới.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương khống chế tinh thần của toàn thể xã hội, độc quyền thông tin, độc quyền giáo dục, khuynh loát mọi hình thức văn hóa và các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt trong lĩnh vực tâm linh, đảng cộng sản Việt Nam đã và đang tiêu diệt các tôn giáo chân truyền, thành lập các tổ chức tôn giáo quốc doanh nhằm phục vụ chế độ vô thần, đi ngược với truyền thống của dân tộc. Các tôn giáo không đóng được vai trò lương tâm và giáo dục cho xã hội. Vì thế, dối trá tràn lan, bạo lực tung hoành, văn hóa nghệ thuật và khoa học kỹ thuật chẳng có mấy thành tựu, thế hệ trẻ lớn lên trở thành công dân mất tự do và vô trách nhiệm, không có trí tuệ và đạo đức.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Namtự cho là người chủ tuyệt đối của đất nước, các cán bộ đảng viên biến mình thành những lãnh chúa ra sức bạo hành và tham nhũng. Lực lượng công an là công cụ bạo lực của đảng, ức hiếp và cướp bóc nhân dân, giết người vô tội, xã hội tràn đầy trộm cướp và lừa gạt, môi trường tràn đầy ô nhiễm và độc hại, nhân dân sống lo âu sợ hãi khắp nơi.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngày càng lệ thuộc Trung Cộng về ý thức hệ và chính trị, về kinh tế và tài chánh, về thương mại và kỹ thuật, khiến Trung Cộng chiếm nhiều phần lãnh thổ và lãnh hải, nhiều tài nguyên trên đất và trên biển, nhiều dự án kinh tế và thương mại. Ngoài ra, nhà cầm quyền liên tục đàn áp những công dân biểu tình chống quân xâm lược, bênh vực sự vẹn toàn lãnh thổ, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ chốngTàu và những công dân cảnh báo tai họa từ kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, nguy cơ mất nước quả thật gần kề.

Trước hiện tình bi thảm và nguy ngập đó của đất nước với bao thảm trạng và tệ nạn ấy của quốc gia, để thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn dân trong và ngoài nước, trong phiên họp ngày 28-1-2016 giữa nhiều lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, nhiều đại diện các tổ chức trong và ngoài nước, Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam được thành lập để đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của lịch sử: “Tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền –  chống đế quốc mới Trung Cộng xâm lược để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. 

NAY, HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

long trọng công bố trước quốc dân và công luận quốc tế:

  1. Hội đồng Liên kết Quốc nội và Hải ngoại Việt Nam là một tập hợp của đồng bào trong nước và cộng đồng Người Việt ngoài nước nhằm mục đích:
  • Tranh đấu khôi phục Nhân quyền và Dân quyền tại Việt Nam, thực thi đúng lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và hai Công ước Liên Hiệp Quốc về các quyền Chính trị, Dân sự, Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966.
  • Bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc và sự trường tồn của Dân tộc.
  1. Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại quyết tâm thực hiện các mục tiêu:
  • Góp phần tích cực, tạo sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong công cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho đồng bào và vẹn toàn lãnh thổ của đất nước.
  • Tạo được niềm tin cho các Hội Đoàn, Đoàn Thể, các tổ chức Xã Hội Dân Sự, các phong trào Dân Oan, Công Nhân và Tín Đồ trong nước, khiến họ sẽ tranh đấu tích cực hơn nhờ được Hội đồng Liên kết nói riêng và đồng bào hải ngoại nói chung quan tâm và hỗ trợ.
  • Đáp ứng nguyện vọng của toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước, đang mong muốn một phong trào vì dân chủ và nhân quyền dâng cao và thành tựu tương tự như Liên minh vì Dân chủ của Miến Điện đã thành công gần đây.
  • Vận động Liên Hiệp quốc, chính phủ các nước tự do và các tổ chức nhân quyền quốc tế yểm trợ, làm áp lực chặn đứng những hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền, can thiệp kịp thời cho bất cứ người dân Việt Nam nào bị sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ, giam cầm, xử án bất công.

Kính thưa toàn thể Đồng bào, 

Hơn bốn mươi năm qua, Cộng sản Việt Nam đã rước voi “Mác Lê” giầy mả Tổ, cõng rắn độc “Trung Cộng” cắn gà nhà Dân Tộc, khiến đất nước  trải qua một thời kỳ bi thảm ô nhục nhất trong lịch sử.

Toàn dân Việt Nam phải sống dưới ách thống trị bạo tàn của chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân, phản dân tộc, thế sự đảo điên, xã hội bần cùng, lòng người ly tán, nhân tâm uất hận. Đã thế, tập đoàn cầm quyền lại cam tâm khuyển mã ươn hèn tủi nhục, cúi đầu thần phục, xin làm chư hầu cho phương Bắc, đem lại “Đại Họa” cho Dân Tộc.

Tiền nhân đã viết lên những trang sử oanh liệt hào hùng bằng xương máu của biết bao thế hệ Việt Nam yêu nước. Một Lý Thường Kiệt đã đánh tan tành quân Tống năm 1075, Lê Đại Hành Phá Tống Bình Chiêm, Vua tôi nhà Trần 3 lần chiến thắng đạo quân Mông Nguyên hung hãn nhất trong lịch sử, Quang Trung Đại Đế đã “Đánh cho được để đen răng, Đánh cho được để dài tóc, Đánh cho xe giặc tan tành, Đánh cho quân thù tơi tả… Đánh cho Sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ…”. Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo: “Chỉ Nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền Văn hiến ngàn năm… Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng hào kiệt đời nào cũng có..”. Tập đoàn cầm quyền Cộng sản hèn với giặc ác với dân nhưng toàn dân Việt khí thế hào hùng bất khuất sẽ đứng lên đáp lời sông núi diệt kẻ nội thù, chống quân xâm lược.

Trước tình trạng Tổ Quốc Lâm Nguy Sơn Hà Nguy Biến, toàn thể nhân dân Việt nam trong và ngoài nước, không phân biệt nam nữ, sắc tộc, tôn giáo, địa phương, đảng phái, chính kiến, đoàn kết một lòng, quyết tâm thể hiện lòng yêu nước bảo vệ giang sơn gấm vóc.

Thanh niên sinh viên, Đồng bào dân Oan, Công nhân bị bóc lột đồng loạt đứng lên tranh đấu để giành lại tự do, đòi quyền sống, quyền làm chủ đất nước.

Kính Thưa toàn thể đồng bào,

Là con dân đất Việt lẽ nào chúng ta cam chịu cúi đầu khuất phục chấp nhận thân phận nô lệ, sống kiếp ngựa trâu, để tập đoàn Việt gian phản quốc ngang nhiên dâng hiến đất đai của Tổ Quốc, Dân Tộc bị tiêu diệt, Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới, thế hệ hôm nay sẽ đắc tội với Tổ Tông, với con cháu muôn đời sau.

– Không còn khốn khó thương đau nào hơn thống khổ hôm nay khi 90 triệu đồng bào sống trong ngục tù Cộng Sản!

– Không còn nhục nhã hờn căm nào bằng ô nhục căm hờn hôm nay khi giặc Tàu – Cộng ngang nhiên chiếm đoạt đất đai, biển đảo của chúng ta!

– Toàn dân hãy đứng lên giành quyền làm chủ của nhân dân, để chuyển đổi lịch sử, đón mừng mùa xuân dân tộc trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Toàn dân Việt phải tự quyết định số phận của chính mình và vận mệnh của đất nước chúng ta.

Đại Nghĩa Tất Thắng Hung Tàn

Chí Nhân Phải thay Cường Bạo

Nguyện cầu Hồn Thiêng Sông Núi

Phù trì Dân Tộc Việt Nam

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt.

Việt Nam Ngày 16-4-2016 

Nhằm ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương 10-3 Âm Lịch

Đồng Chủ Tịch:

– HT Thích Không Tánh, Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– LM Phan Văn Lợi, Đồng ChủTịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– CTS Hứa Phi (Cao Đài Chơn Truyền), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– Nhân sĩ Lê Văn Sóc (PGHHTT), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN).

– MS Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành) Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch HĐĐB Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– BS Đỗ văn Hội, Chủ Tịch HĐCH Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Lưu văn Tươi, Chủ Tịch HĐGS Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh, Chủ Tịch UB Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, Cố Vấn CĐNVQGLB

Hoa Kỳ.

– Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh, CT Phong Trào Diên Hồng Thời Đại.

– Phó TS Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây

Ninh Hải Ngoại.

– Nhân sĩ Cao Xuân Khải, PCT Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Tôn Giáo Việt Nam.

– Nhân sĩ Trần văn Đông, TTK Liên Hội Người Việt Canada.

– Nhân sĩ Trần Văn Bính, Hội Người Việt Tự Do Vancouver Canada, Ban Yểm trợ Truyền

Thông Khối 8406.

– BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, CT Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức.

***

Liên lạc:

Email: LienlacQnHn@gmail.com

Website: www.LienketQnHn.org

Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Thursday, February 18th, 2016

Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại… đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
*
Theo dòng thời gian Sau những tháng năm suy nghĩ, tôi cũng như rất nhiều người đã nghiệm ra rằng: Tình hình Việt Nam sẽ thay đổi, sự thay đổi vô cùng to tát, mát lòng dân, thuận ý Trời đó là sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam. Suy nghĩ này không đơn thuần chỉ là niềm hy vọng thông thường, lại càng không phải là những điều tiên đoán của một kẻ mù sò voi hay của một chiêm tinh gia mà là của một người được tạo hóa ban cho thứ cảm nhận cao cho những gì sắp xảy ra chung quanh cuộc sống. Với tâm nguyện luôn ước mong cho một Quê Hương sớm thoát khỏi ách tròng cộng sản đầy mụ mị trong nghèo đói, với một tâm hồn luôn đau đáu cho một đất nước đã chìm ngập trong mịt mù không tương lai đến các thế hệ kế tiếp của dân tộc thì sự trăn trở luôn thôi thúc bản thân suy nghĩ về vận mạng của đất nước cùng con đường giải cứu đồng bào ruột thịt sớm thoát khỏi ách nạn cộng sản này.
Ngoài nguyên lý bất di bất dịch là trên hành tinh này vạn vật sẽ thay đổi không ngừng. Sự hiện hữu, biến dạng và hủy diệt, đó là nguyên tắc sinh thải. Con người cũng vậy, có sinh phải có tử, triều đại, thể chế cũng không ngoại lệ, có hợp có tan, có trụ có biến.
Người cộng sản với não trạng vô cùng chủ quan và cường điệu cho rằng “CHXHCNVN muôn năm” hoặc “Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… là sai hẳn về phương diện khoa học lẫn các triết dẫn của tôn giáo. Khi những nguyên tắc rường cột cơ bản đã sai ắt mọi ngọn ngành chi nhánh theo đó sẽ sai theo một cách lô-gic. Ví như quỹ đạo bay của phi thuyền bị tính trật thì con tàu sẽ không đến điểm định, một chủ nghĩa sai lầm sẽ đưa xã hội xa mục đích là lẽ đương nhiên mà theo Duy Vật biện chứng thì những chuỗi kết quả sai lệch trong xã hội ấy không thuộc sự “can thiệp” của bất cứ đấng nhiệm mầu nào, hay còn gọi là đấng Tạo hóa mà chỉ đơn thuần theo tính toán của con người dựa trên các cơ sở khoa học.
Hãy đơn cử vài thí dụ để chứng minh cho sự sai lệch đã nêu ra, hỏi có ai ngờ được rằng cái nôi, đồng thời cũng được xem là cái thành trì vững chắc của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Bang Xô Viết sụp đổ khi trước đó nó đã phát triển rất nhanh, rất vững mạnh khiến 5 nước ở Đông Âu phải hướng theo. Cho đến khi khối cộng sản Đông Âu được mở đầu bởi Ba Lan vào năm 1989 và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Romania sau đó.
Sau khi các nước này lần lượt tan rã thì người ta mới dám nảy lên mầm suy nghĩ là rồi Liên Xô cũng sẽ sụp theo. Và cuối cùng đúng như người ta du đoán, cái nôi của chủ nghĩa, thành trì của chủ nghĩa đã sụp đổ vào cuối năm 1991 kèm theo một chuỗi các nước dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khối Liên Xô: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraina và Uzbekistan. Cộng sản đã bị bỏ rơi tại Albania và Nam Tư từ năm 1990 đến 1992, chia thành năm nước kế tục: Slovenia, Croatia, Cộng hòa Macedonia, Bosnia và Herzegovina, và Cộng hòa Liên bang Nam Tư (gồm Serbia, Montenegro và Kosovo). Tác động này cũng được cảm thấy ở hàng chục quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Chế độ Cộng sản đã bị bỏ rơi ở các nước như Campuchia, Ethiopia, Mông Cổ và Nam Yemen. Sự sụp đổ của các nước cộng sản đã dẫn đến tuyên bố kết thúc của Chiến tranh Lạnh. (1)
Ý nghĩa của những sự sụp đổ này nó lớn lao và quan trọng đến độ nhiều nhà nhận định thời cuộc của thế giới đã có cùng một nhận định: “Nhân loại đã đánh dấu sự kiện quan trọng nhất của Thế kỷ 20 là sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản ở đầu thế kỷ và sự chết của nó ở cuối thế kỷ”.
Giờ đây, thế giới chính thức còn lại vỏ vẹn 5 nước: Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn (Triều Tiên) và Lào và Cu Ba, trong đó 2 nước Lào và Cu Ba đang chuyển hướng dần theo khuynh hướng Dân Chủ. Riêng Việt Nam, nếu căn cứ trên thực tế xã hội thì không hẳn còn là một quốc gia theo cộng sản nguyên thủy vì trong kinh tế XHCN không hề có “Kinh tế thị trường”. Nghĩa là Kinh tế tập trung (quốc doanh) thì không có Kinh tế tư nhân. Hai thứ kinh tế này về mặt nguyên tắc thì kinh tế tư bản là đối nghịch toàn bộ với Kinh tế tập trung là Kinh tế CNXH. Các người chịu trách nhiệm về kinh tế nhà nước đã vì sự thua lỗ, mất mát của nền kinh tế này mà nhập nhằng đánh lận triết thuyết căn bản một cách khập khiểng và hy vọng rằng họ sẽ thành công, sẽ qua mắt được các con mắt của các chuyên gia kinh tế có tầm phân tích quán triệt. Người cộng sản đã cố tình lấp liếm một cách gượng ép:“Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” mà chúng ta thường nghe, thường thấy cũng như thường đặt dấu hỏi.
Tuy nhiên, cho dẫu họ có cố gắng bao biện như thế nào thì nhà nước vẫn cố giữ và có chế độ đặc biệt ưu đãi cho các thành phần kinh tế quốc doanh mà cơ bản của nó đã được cung cấp lượng vốn cực kỳ lớn nếu so với các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân. Các thành phần kinh tế quốc doanh này phải lệ thuộc sự chỉ đạo của đảng và do cán bộ của guồng máy quản lý, trong khi ai cũng biết là đảng CSVN đã quá tùy thuộc vào những lãnh đạo đảng bị giới hạn về kiến thức và trình độ kinh tế nên thực tế đã gây ra quá nhiều lỗi lầm trầm trọng bởi sự thiếu kém kiến thức ấy. Bên cạnh sự ưu đãi và từ sự thông đồng cùng nhau chia lợi cho nên nền kinh tế tập trung này luôn bị thua lỗ, thất thoát và lãng phí ghê gớm, đưa đến nợ âm lớn và dần dà sẽ được hợp thức hóa sự mất mát cực kỳ to lớn đó. Ai sẽ chịu trách nhiệm trong những nợ âm cùng những chuỗi mất mát to lớn này?. Khỏi phải cần câu trả lời thì ai cũng biết là người dân qua các khâu nộp thuế.
Ngoài khối dân chúng quốc nội làm việc, kinh doanh, mua sắm, tiêu dùng hàng hóa…phải đóng thuế, nguồn thu này còn có được từ bán rẻ tài nguyên quốc gia và từ những người Việt đi làm công hoặc định cư ở nước ngoài (còn gọi là Việt kiều) gởi về cho chế độ mỗi năm trung bình 10 đến 16 tỉ USD (10.000.000.000 – 16.000.000.000 USD). (2) Xin thưa rằng với số ngoại tệ cho không, không hoàn vốn, không lãi suất, nó tương đương xấp xỉ 1/10 tổng sản lượng quốc gia (GNP), tức tổng sản lượng thu nhập của VN. Số tiền này có thể gần đủ để chi trả cho toàn bộ cán bộ, đảng viên của đảng phái chính trị và guồng máy cầm quyền như Quân đội, Côn an, công nhân viên, quan chức nhà nước hàng năm.
Không có nguồn thu nhập ngoại tệ cực kỳ quan trọng trên thì chế độ hiện hành sẽ không thể đứng vững, nếu không muốn nói là sẽ khánh tận (bankrupcy) hoặc sẽ sụp đổ. Người Việt ở nước ngoài chỉ cần không cung cấp số ngoại tệ 10 đến 16 tỉ USD như nói trong 3 năm thì chế độ sẽ gặp phải khốn đốn, đưa đến nguy cơ bất ổn về mặt chi trả và sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn chính quyền cũng như xã hội. Nguồn huyết mạch trên, nó chiếm vị thế vô cùng quan trọng trong dòng lưu xã hội. Người Việt ở nước ngoài không gởi lượng kiều hối ấy thì chế độ sẽ chết, gia đình sẽ vô cùng khó khăn…Đây là một nan đề mà mãi cho đến hôm nay chúng ta vẫn chưa có bài toán giải quyết như thế nào cho ổn thỏa!. Tuy nhiên, đó không phải là con đường bế tắc cho người Việt ở hải ngoại. Những nhà đấu tranh, những nhân sĩ vận động cho chính trị, chính sách có thể tăng cường phương pháp làm việc của mình bằng cách vận động và lên tiếng cho chính quyền sở tại, nơi quốc gia mình đang cư ngụ để có yêu cầu (hay yêu sách) ĐỀ NGHỊ QUỐC GIA SỞ TẠI GIỚI HẠN hoặc CẤM CHUYỂN GỞI NGOẠI TỆ ĐẾN VN, hay KIỂM SOÁT THẬT GẮT GAO VIỆC GỞI NGOẠI TỆ ra những nước “đặc biệt cần quan tâm” như tham nhũng, độc tài và khủng bố.. Cộng đồng người Việt nên ủng hộ việc làm này của các nhà đấu tranh như các Luật sư, Nghị sĩ, Dân biểu, Nghị viên, Thị trưởng Thành phố v.v…
Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại…đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
Trở lại vấn đề sụp đổ của cộng sản, kẻo không chữ nghĩa, lý luận kinh tế và con số sẽ làm quí vị nhức đầu đi mất. Với nhận thức của người Việt hôm nay, nói chung sự hiểu biết về cộng sản là khá phổ quát. Tuy nhiên, thông tin vẫn còn rất giới hạn cho số dân châm lấm tay bùn, thấp cổ bé họng hoặc cư trú vùng sâu vùng xa. Cho nên người Việt ở quốc nội nên thông truyền cho nhau rộng khắp hơn, cụ thể hơn về đảng CSVN cùng những tiêu cực mà đảng đã làm, cũng như đánh động sự lo sợ về hiểm họa nô lệ Tàu cộng, về việc mất nước. Được như vậy thì vấn đề nội công, ngoại kích mới được kết hợp một cách nhuần nhuyễn.
Với con số hơn 4 triệu rưỡi người Việt ở khắp các quốc gia trên thế giới cùng tài năng về tinh thần lẫn của cải của họ sẽ là những LỰC đáng kể. Ngày nào số lượng người đông đảo này còn thì đảng CSVN vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và bất lợi. Ngày nào đảng cộng sản và guồng máy còn đàn áp với dân chúng trong nước thì đảng cũng sẽ còn gặp phải nhiều phản ứng quyết liệt của người Việt ở nước ngoài.
Dòng thời gian 40 năm, thiết nghĩ đã quá đủ cho một thể chế mụ mị và hung bạo đã tàn phá con người và đất nước một cách khủng khiếp. Để tránh được những tai họa hủy diệt đó cũng như nhằm tránh được hiểm họa nô lệ Tàu cộng, giờ đây người Việt yêu Quê Hương, yêu Tổ Quốc nên thức tỉnh ngay nếu chúng ta không góp phần trách nhiệm của mình cho sự thay đổi của đất nước là chúng ta mang trọng tội với tiền nhân đã dày công dựng nước và giữ nước, với lớp con cháu của các thế hệ nối tiếp. Chúng ta phải thể hiện thái độ dứt khoát không thể để đảng CSVN muốn làm gì thì làm.
Sự chuyển mình của thế giới qua nhận thức Tàu cộng cùng sự nguy hiểm của nó về nhân phẩm nhân sinh, chất độc hại tung ra thế giới, mổ cướp nội tạng dã man, ngang ngược lấn chiếm biển đảo không thuộc chủ quyền của họ, đe dọa an ninh của các quốc gia lân bang. Trật tự cho một Thế giới mới sẽ dấy nên trào lưu BÀI TÀU CỘNG – BOYCOTT CHINA nhằm bảo tồn hành tinh này, đó là quan điểm và hành động của nhân loại văn minh.
Cộng sản Việt Nam rồi cũng sẽ chẳng khá gì hơn khi đảng đã hiện nguyên hình lòi mặt chuột đục phá đất nước chứ chẳng giúp được gì nhiều cho tiến trình phát triển quốc gia mà thế giới đã chửi xéo “Việt Nam là một quốc gia không muốn phát triển!”. Giờ đây, đảng bị xem là kẻ thù của cả dân tộc quốc nội lẫn hải ngoại. Không bạn bè, không đồng minh, không thân hữu ngoài đàn anh Trung cộng nhưng oái ăm thay, người đồng chí duy nhất cũng luôn rình mò, mưu mẹo, toan tính trở mặt và luôn chực hờ cướp giựt và thôn tính.
Cộng sản VN cô đơn và thất thế hơn bao giờ hết, số phận của nó cũng chẳng may mắn gì hơn thằng đàn anh, thằng ông nội Tàu cộng đang bị bao vây, tứ bề thọ địch. Chủ không vững thì tôi tớ cũng lung lay. Người Việt hãy giữ vững chính nghĩa, giữ vững niềm tin xây dựng lại đất nước trong một ngày không xa.

Trung Quốc bị cô lập vì tham vọng bành trướng ở Biển Đông

Tuesday, February 16th, 2016

TRUNG QUỐC BỊ CÔ LẬP TRONG VÙNG

Lược dịch bài viết của ông Heydarian trên tờ Al Jazeera, cũng là tác giả cuốn sách Trận tuyến mới của châu Á: Mỹ, TQ và cuộc đấu giành phía tây Thái Bình Dương. TL

*****************************************

Bề ngoài, Trung Quốc giống như một cường quốc tại Á Châu. TQ tự nhận là nền kinh tế lớn nhất châu Á, che mờ Nhật Bản và đang nhắm trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong tương lai gần.

TQ đã là quyền lực thương mại lớn nhất thế giới, qua mặt cả Mỹ hồi năm 2013. Và trong một thời gian ngắn, TQ nổi lên là một nhà đầu tư hàng đầu ở toàn thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng,

Không như Nhật, TQ là một thế lực không bị hiến pháp hạn chế sự phát triển khả năng quân sự. Giàu tiền và tham vọng, TQ nhanh chóng đuổi kịp các thế lực quân sự hàng đầu, nay có một tàu sân bay, hai chiến đấu cơ thế hệ 5 cùng khả năng chống tiếp cận và chống xâm nhập (A2/AD).

Vì thế, không ngạc nhiên khi các chuyên gia hải quân nhận định TQ gần như là đối thủ quân sự trực tiếp của Mỹ ở Đông Á.

Nhưng không ai không có ấn tượng rằng Trung Quốc ngày càng bị cô lập về ngoại giao  vì hành xử hung hăng trên biển Đông.

Mỹ và các đồng minh đang tự tin thúc đẩy một sự đoàn kết khu vực lớn lao, để bảo đảm tư do hàng hải và an ninh hàng hải ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Đó là không kể đến những rắc rối kinh tế gần đây của TQ, gồm thị trường chứng khoán đổ vỡ, xuất khẩu hàng hóa bị suy giảm.

TQ là mối đe dọa quyền tự do hàng hải trên Biển Đông

Vị thế TQ bị suy yếu là  rõ ràng ở hai hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) kết thúc trong tuần qua ở Philippines và Malaysia.

Đối mặt với những chỉ trích về cách hành xử hung hăng trên biển Đông, TQ tuyệt vọng tìm cách chống lại bất kỳ cuộc đàm phán đa phương nào về tranh chấp biển Đông.

Vì sợ Philippines – chủ nhà APEC 2015 và là nước phản đối quyết liệt tuyên bố chủ quyền ngang ngược của TQ – sử dụng sự kiện này để đối đầu ngoại giao với Bắc Kinh, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình đã từ chối xác nhận sự tham gia của ông cho đến phút chót, và ra điều kiện là Philippines phải đồng ý gạt sang một bên chuyện tranh chấp biển Đông trong thời gian diễn ra hội nghị thượng đỉnh APEC.

Trước khi ông Tập đến Manila, TQ cử Ngoại trưởng Vương Nghị đến cảnh báo Philippines chớ quấy rầy lãnh đạo của họ. Trên thực tế, Bắc Kinh tìm cách tác động vào lịch làm việc của hội nghị này, để hình ảnh ông Tập không bị bóng tối che phủ.

Trên hết, chuyến thăm của ông Tập sẽ là chuyến thăm đầu tiên của ông đến quốc gia Đông Nam Á này, có khả năng mở đường phục hồi quan hệ cấp cao giữa hai nước vốn bị đóng băng lâu nay.

Là lãnh đạo nền kinh tế lớn thứ nhì châu Á, sự hiện diện của ông Tập được là cần thiết cho sự thành công của hội nghị thượng đỉnh APEC.

Dù TQ tìm cách ngăn chặn bất kỳ sự bàn luận về tranh chấp biển Đông trong Tuyên bố chung APEC, Philippines vẫn đưa vấn đề này ra tại các cuộc nói chuyện bên lề hội nghị.

Ngay sau khi hạ cánh ở Manila, Tổng thống Mỹ Barack Obama có chuyến thăm biểu tượng tới chiến hạm BRP Gregorio del Pilar của hải quân Philippines. Ông nhắc lại lời hứa Mỹ quyết tâm bảo vệ đồng minh, hứa tặng 2 tàu chiến và tăng hỗ trợ an ninh hàng hải cho nước này.

Cả Mỹ và Philippines đều nhấn mạnh tự do hàng hải là trọng tâm của an ninh khu vực. Đối với Mỹ và đồng minh, các hành động hung hăng và việc tăng hiện diện quân sự khắp biển Đông của TQ là mối đe dọa đối với quyền tự do hàng hải tại một trong những tuyến lưu thông quan trọng nhất của thế giới.

Cả châu Á cùng quay ra đối phó TQ 

Việt Nam cũng ký một thỏa thuận đối tác chiến lược với Philippines, để tăng cường sự hợp tác ngoại giao, pháp lý và hàng hải giữa hai nước nhằm đối phó TQ.

Thỏa thuận mới này đồng nghĩa phát tín hiệu đến Bắc Kinh, rằng đối thủ của họ ở biển Đông đang đoàn kết chống lại mối đe dọa từ TQ.

Philippines cũng ký một thỏa thuận quân sự với Nhật, một thế lực khác cũng bị phiền nhiễu vì hành động hung hăng của TQ trên biển Hoa Đông. Theo thỏa thuận mới nhất này, Philippines sẽ nhận được sự hỗ trợ quân sự lớn, cùng những cuộc tập trận hải quân chung thường xuyên với Nhật.

Các thế lực khác trong khu vực như Úc, Hàn Quốc, thậm chí cả Nga cũng đề nghị những hỗ trợ quân sự lớn cho Philippines.

Đầu tháng 11, TQ sốt ruột muốn phá một cuộc thảo luận cấp cao giữa các bộ trưởng quốc phòng trong khu vực: hội nghị bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng, bằng cách từ chối ký vào một tuyên bố chung có đề cập vấn đề tranh chấp biển Đông.

Nhưng xui cho TQ, hội nghị thượng đỉnh ASEAN đã chứng kiến các ngoại trưởng ASEAN thúc đẩy một Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên biển Đông (COC), nhằm kiềm chế TQ hung hăng đòi chủ quyền vùng biển này.

Không còn nghi ngờ gì nữa, TQ sẽ tiếp tục duy trì yêu sách đòi chủ quyền các vùng biển lân cận. Nhưng cũng rõ ràng là Bắc Kinh không còn được nhiều nước láng giềng xem là một thế lực trỗi dậy hòa bình, hoàn toàn vô hại.

Các nước láng giềng của TQ ngày càng ngả về phía Mỹ, xem Mỹ là người bảo đảm an toàn khu vực tại châu Á.

Richard Javad Heydarian

Richard Javad Heydarian là chuyên viên về địa chính trị và kinh tế tại Á Châu

Bài này đăng trên tờ AL Jazeera ngày 23/11/2015.

Nguồn:

http://www.aljazeera.com/indepth/opinion/2015/11/china-regional-isolation-151122134410410.html

Kiến Nghị của Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại VN gửi các nguyên thủ quốc gia tham dự thượng đỉnh Mỹ – Đông Nam Á

Thursday, February 11th, 2016

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT

QUỐC NỘI VÀ HẢI NGOẠI VIỆT NAM

KIẾN NGHỊ KÍNH GỬI CÁC VỊ NGUYÊN THỦ

THAM DỰ HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH HOA KỲ-ASEAN TẠI CALIFORNIA

Kính thưa quý vị Nguyên Thủ Quốc Gia tham dự Hội Nghi,

Theo thông cáo của tòa Bạch Ốc Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN tại Sunnylands, Rancho Mirage, California trong hai ngày 15-16 tháng 2, 2016 nhằm mục đích tăng cường sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và 10 nước Đông Nam Á trong mục tiêu tái cân bằng lực lượng tại vùng Á Châu Thái Bình Dương, đặc biệt trong các lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế mà Hoa Kỳ đã có nhiều nỗ lực trong gần 40 năm qua.

Ngày 10-2-2016, tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch đã liệt kê một số quốc gia vẫn tiếp tục đàn áp người dân trong đó có Việt Nam và khuyến cáo Tổng Thống  Obama nên đặt chủ đề nhân quyền là trọng tâm của Hội Nghị.

Nhân dịp này, chúng tôi, đại diện Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại Việt Nam  xin kiến nghị đến tất cả quý vị những vấn đề liên quan đến tình hình chính trị tại Việt Nam và sự bất an tại Biển Đông.

          Kính thưa quý vị,

1- Vể chính trị, hiện nay, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn áp dụng chế độ độc tài, toàn trị, tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân, đàn áp, giam giữ tùy tiện và xét xử bất công các nhà hoạt động vì dân chủ, nhân quyền và công lý, vì phản đối đường lưỡi bò 9 điểm vô lý trên Biển Đông. Các cơ quan quốc tế nhân quyền đã tường trình đầy đủ những vi phạm này của chính quyền cộng sản Việt Nam.

2- Về kinh tế, Hoa Kỳ đang thành hình Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), tạo cơ hội cho các nước tham gia phát triển, mang phúc lợi cho người dân. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn tiếp tục chính sách được gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, với mục đích nắm giữ đặc quyền đặc lợi, làm giàu cho đảng cầm quyền, do đó tạo bất công xã hội, khiến đa số người dân vẫn sống trong cảnh nghèo khổ. Ngoài ra nhà cầm quyền Hà Nội còn ngăn cản các công nhân thành lập công đoàn độc lập,

3- Vể an ninh khu vực, nhà cầm quyền Trung Quốc đã ngang nhiên tuyên bố chủ quyền 90% tại Biển Đông, đã và đang xâm chiếm bằng võ lực biển đảo của Việt Nam và các nước Đông Nam Á, xây cất các đảo nhân tạo bất chấp luật pháp quốc tế, tăng cường quân sự, thường xuyên đe dọa nền an ninh của các nước Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương, trong đó có Hoa Kỳ.

Ngoài ra, nhà cầm quyền Bắc Kinh còn dùng thủ đoạn nhằm lũng đoạn nền kinh tế và chính trị của các quốc gia Đông Nam Á, tạo sự bất ổn thường xuyên trong vùng.

          Bởi thế, chúng tôi đại diện Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại của Việt Nam trân trọng kiến nghị cùng quý vị:

1- Áp lực buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải chấp nhận các quyền tự do căn bản của người dân, trong đó có quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, để cho hơn 90 triệu người dân được sống xứng nhân phẩm thay vì chỉ củng cố quyền lực và quyền lợi cho đảng cộng sản; phải thả ngay lập tức và vô điều kiện các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị và những người hiện bị quản chế một cách bất công; phải trả lại tất cả tài sản đã chiếm đoạt của các tôn giáo cũng như của người dân.

2- Liên minh chặt chẽ để bảo vệ chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á, ngăn chặn sự bành trướng trái phép của bất cứ quốc gia nào tại Biển Đông và Biển Đông Á; mọi tranh chấp phải được giải quyết trong hòa bình và luật pháp quốc tế.

3- Cần áp dụng triệt để các điều kiện về quyền con người và quyền công nhân trong Hiệp Định Xuyên Thái Bình Dương, có kèm theo biện pháp chế tài, để mọi người dân được hưởng những phúc lợi do Hiệp Định mang lại.

Cuối cùng, chúng tôi kính chúc quý vị nguyên thủ quốc gia một Năm Mới Bính Thân 2016 an khang, thịnh vượng và may mắn. Chúc Hội Nghị thành công.

Làm tại Hoa Kỳ ngày 10 tháng 2, năm 2016

  1. Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại Việt Nam 

Đại Diện: 

Hòa Thượng Thích Không Tánh, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, Phó Viện Trưởng Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Linh Mục Phan Văn Lợi, đồng Chủ Tịch Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, thành viên Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Chánh Trị Sự Hứa Phi, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, Ban Đại Diện Khối Nhơn Sanh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh (Chơn Truyền).

Ông Lê Văn Sóc, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, đại diện Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy

Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, đại diện Hội Thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam.

Ô. Cao Minh Tâm, Hội Nhà Báo Độc Lập, thành viên Saigon báo.

BS Đỗ Văn Hội, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Ô. Lưu Văn Tươi, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Ô. Nguyễn Văn Tánh, Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế

Ông Phạm Trần Anh, Hội Diên Hồng Thời Đại

Phó Trị Sự Trần Viết Hùng, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại

Ông Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ Tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Liên Bang Đức.

 

_________________________________________________________________

 

Địa chỉ liên lạc:

PO Box 262066, Tampa, FL 33685.

Tel: 407-927-0014. Email: Lienlacqnhn@gmail.com

“Nhóm Lợi Ích” Đang Tàn Phá Việt Nam (Đại Dương)

Wednesday, December 2nd, 2015

Đại-Dương

Gần 30 năm thực thi chính sách “Đổi Mới”, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang nằm trong số 20 quốc gia có khả năng vỡ nợ lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản công khai tiến hành kế hoạch kỹ-nghệ-hoá quốc gia từ năm 2001 đến 2020 mà bây giờ (năm 2015) thừa nhận không thể đạt tới mục tiêu.

Dĩ nhiên, đất nước lụn bại do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng, giới chuyên gia quốc tế và trong nước đã dí tay vào trán các “nhóm lợi ích” như thủ phạm chính.

Thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” được giới lãnh đạo chóp bu của Việt Nam đề cập từ sau Đại hội XI (năm 2011), nhưng, chỉ nói đến hiện tượng xảy ra trong xã hội mà chưa xác định đích danh của từng “nhóm lợi ích”.

Giới phân tích quốc nội xem xét qua lăng kính triết học, chính trị, kinh tế, xã hội các thủ đoạn thu lợi bất chính của “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích”: (1) Lợi dụng và lạm dụng quyền lực kinh tế, chính trị; (2) Lợi dụng yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản hồi tháng 1-2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm” cũng như Phòng, chống tham nhũng.

Vì không dám chỉ mặt, đặt tên nên đã thất bại trong Hội nghị Trung ương 6 hồi tháng 10-2012 khi tất cả Uỷ viên Trung ương không đồng ý thi hành kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và 1 đồng chí trong Bộ Chính trị như yêu cầu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ai cũng biết đồng chí đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà khi tiếp xúc với cử tri sau Hội nghị, Chủ tịch Trương Tấn Sang chỉ dám gọi “đồng chí X”.

Cuộc chiến chống “lợi ích nhóm” vô vàn khó khăn, không hữu hiệu vì chiến tuyến không rõ rệt nên dẫn tới tình trạng “ta chống ta”.

Bộ Chính trị không dám công khai danh tính nên các “nhóm lợi ích” tiếp tục lộng hành làm cho Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng Việt Nam 31/100 điểm không thay đổi trong giai đoạn 2012-2014.

Việt Nam và cộng đồng quốc tế đều biết rõ khu vực kinh tế nhà nước là gánh nặng quá sức của quốc gia, ổ tham nhũng, lắm đại án, làm ăn thua lỗ. Nhưng, Bộ Chính trị vẫn quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”.

Dù đang ở trong tình trạng bội chi ngân sách, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn bơm 8 tỉ USD cho đầu tư và chắc chắn phần lớn được rót vào các doanh nghiệp Nhà nước.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Quản lý Kinh tế Trung ương chỉ trích Chính phủ “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc như 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới”.

Như thế, các “nhóm lợi ích” đã có ảnh hưởng từ thượng tầng lãnh đạo bất chấp tới quyền lợi tối cao của dân tộc.

Dưới bàn tay thao túng của các “nhóm lợi ích” làm cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái.

Tăng trưởng GDP 8.5% của năm 2007 giảm xuống 5.9% vào năm 2011 và 5.4% của 2013.

Tỷ lệ nợ công trong GDP của Việt Nam tăng với tốc độ khá nhanh, từ mức 52% của năm 2010 lên 60% năm 2014 so với trần 65% do Quốc hội đề ra.

Nhưng, một số chuyên gia quốc tế ước tính nợ công của Việt Nam đã lớn hơn GDP.

Các “nhóm lợi ích” bất chấp nguy cơ vỡ nợ nên vẫn phát hành khối lượng lớn trái phiếu vào giai đoạn 2013-2014 đã khiến nợ công tăng nhanh chóng.

Áp lực trả lãi vay của Chính phủ sẽ gia tăng mạnh kể từ năm 2018, tăng 17% so với năm trước, và tiếp tục lên 20% và 23% vào 2 năm sau.

Nợ của Chính phủ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, vay ODA chiếm 80% bằng 49% GDP, và 20% còn lại do bảo lãnh cho ngân hàng và địa phương, chiếm 11% GDP.

Tất cả các khoản vay trực tiếp, vay ưu đãi (ODA=Viện trợ Phát triển Chính thức), trái phiếu chứng khoán đều tăng lãi suất hơn gấp đôi kể từ năm 2017 trong khi dư nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ ở mức 191 tỉ USD vào năm 2020, gấp đôi năm 2015.

GDP danh nghĩa (nominal) của Việt Nam ước tính chỉ có 204 tỉ USD vào năm 2015 đang đối diện với nguy cơ phá sản rất lớn.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ tụt hậu nên đã phát động chiến dịch chống-tham-nhũng từ năm 1998. Nhưng, tới nay tham nhũng vẫn sống mạnh, sống hùng, lan tràn khắp mọi khía cạnh đời sống.

Tất cả những phát biểu đao to búa lớn, các cuộc hội thảo rầm rộ, nhiều bài tham luận tràng giang đại hải chỉ mang lại vài kết quả rất khiêm nhường trong chiến dịch chống-tham-nhũng.

Thất bại được báo trước này do những “đỉnh cao trí tuệ loài người” quen thói dối người, dối mình, chỉ nói nửa sự thật.

Hùng hổ buộc tội “nhóm lợi ích”, nhưng, chưa chỉ ra được ai và ở đâu để trừng trị.

Hà Phong trên Hà Nội mới Online ngày 31-03-2012 phê bình bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện; (2) Tính minh xác, tính minh định, phạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật.

Thực sự, Bộ máy Nhà nước gồm đảng, chính phủ, đoàn thể vô cùng đồ sộ và phình to vô tội vạ không những ăn hết tiền thuế do dân đóng mà còn giành giật phần lớn thành quả phát triển của toàn dân.

Không ai có quyền và khả năng áp lực để đảng Cộng sản Việt Nam phải tinh giản Bộ máy Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, kể cả các chính phủ ngoại quốc và định chế quốc tế.

Đúng ra, các chính phủ và định chế bên ngoài Việt Nam không có trách nhiệm hốt rác vì đó thuộc về nghĩa vụ của mỗi công dân trên quê hương hình cong như chữ S.

Đảng Cộng sản từ khi thành lập cho tới lúc lên cầm quyền vẫn không thay đổi bản chất độc tài, đảng trị, hành động bất minh nên tất cả vị trí lãnh đạo từ trung ương tới địa phương đều lọt vào tay đảng viên.

Như thế, đảng Cộng sản vốn là một “nhóm siêu lợi ích” sản sinh nuôi dưỡng và bảo kê, bảo vệ cho các “nhóm lợi ích” lớn, nhỏ tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chống các “nhóm lợi ích” sẽ không có hiệu quả nếu đảng Cộng sản còn cầm quyền.

Đại-Dương

Tăng Đoàn GHPGVNTN báo động giặc đã vào nhà, vận mệnh Tổ quốc lâm nguy

Wednesday, November 11th, 2015

HT. Thích Viên Định (hàng đứng, thứ 4 từ phải sang)
 
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
Chùa Giác Hoa, 15/7 Nơ Trang Long,
Phường 7, Q. Bình Thạnh,
TP Sài Gòn
Phật lịch 2559
Số: 08/HĐĐH/TB/VT
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
BÁO ĐỘNG
GIẶC ĐÃ VÀO NHÀ, VẬN MỆNH TỔ QUỐC LÂM NGUY
Kính thưa Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,
Toàn dân đều biết Trung cộng đã xâm chiếm 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam, việc bắn giết, giam giữ, đánh phá ghe thuyền, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam vẫn đang tiếp tục xảy ra trên vùng biển thuộc hải phận Việt Nam.
Thế nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã không có một hành động nào để bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự tôn nghiêm quốc thể bằng những công cụ ngoại giao, pháp lý hay quân sự như Philippines đã làm để đòi lại biển đảo cho tổ quốc Việt Nam.
Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối qua loa lấy lệ, và trong nhiều trường hợp còn đưa ra lời đề nghị 2 bên “cùng duy trì nguyên trạng.”, ”cùng hợp tác khai thác…”, có nghĩa là họ coi việc mất chủ quyền quốc gia là “chuyện đã rồi”.
Về mặt ngoại giao, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không có thái độ cương quyết trong các cuộc gặp thượng đỉnh để phản đối mà còn rước giặc vào nhà, đón chào trọng vọng, cờ xí rợp trời. Người dân biểu tình lên tiếng, bày tỏ thái độ tẩy chay kẻ xâm lăng lại bị Nhà cầm quyền cho Công an đàn áp, bắt giam, đánh đập đến đổ máu.
Về quốc phòng, không tạo được một thế liên minh hữu hiệu để cùng các nước có chung lợi ích trên biển Đông đối phó với tham vọng bành trướng của Bắc Kinh, và hiện tại đất nước chúng ta vẫn đơn độc trước kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần.
Về nội bộ, không tạo được sự đoàn kết toàn dân như ông cha ta đã làm trong lịch sử mà Hội nghị Diên Hồng là một điển hình để sẵn sàng đương đầu chống quân xâm lược. Trái lại, Nhà cầm quyền ra sức đàn áp những người yêu nước, làm phân hóa, chia rẽ lòng người, triệt tiêu nội lực quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho quân xâm lược.
Trong thời gian ông Tập Cận Bình, Chủ Tịch nước kiêm Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung quốc đến Việt Nam, các chùa Liên Trì, chùa Giác Hoa và tư gia các nhà tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam bị công an canh gác ngày đêm chặt chẽ.
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không lượng định được dã tâm thật sự trong chuyến công du Việt Nam của ông Tập Cận Bình là để xoa dịu dư luận thế giới, biến hành động xây dựng những căn cứ quân sự bất hợp pháp trên vùng biển đảo Việt Nam thành chuyện “bình thường”.
Phía Trung quốc còn dùng chuyến đi này để ru ngủ, phân hóa nội bộ Cộng sản Việt Nam và dư luận trong nước làm cho nhân dân Việt Nam mất cảnh giác.
Trước và sau khi đến Việt Nam, ông Tập Cận Bình vẫn vô lý khi tuyên bố với thế giới rằng Hoàng sa và Trường sa là lãnh thổ của Trung quốc từ thời xa xưa.
Không thể thương lượng “hòa bình, ổn định” với kẻ ngang ngược, bất chấp công lý, xem thường dư luận, ỷ mạnh, dùng vũ lực đốt nhà, giết người, cướp bóc tài sản, xâm chiếm biển đảo tổ quốc ta được !
Việc trải thảm đỏ đón tiếp lãnh đạo Trung quốc trong tình hình hiện nay của nhà cầm quyền Hà nội là một sai lầm nghiêm trọng vì sẽ đánh mất sự thông hiểu và ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhất là với hai đối tác lớn là Hoa Kỳ và Nhật Bản, càng làm cho đất nước bị cô lập thêm.
Đất nước và Dân tộc chúng ta phải trả giá đắt cho những sai lầm này của đảng Cộng sản Việt Nam.
Tổ quốc thật sự đã lâm nguy!
Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 08 tháng 11 năm 2015.
Thay mặt Hội Đồng Điều Hành
Tăng Đoàn GHPGVNTN
Viện Trưởng
(ấn ký)
Tỳ kheo Thích Viên Định

Tuyên Cáo Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam – Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Monday, November 2nd, 2015

Tuyên Cáo

Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam,

Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Theo tin tức quốc tế, chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình sẽ đến Việt Nam ngày 5 và 6 tháng 11 năm 2015 và sẽ đọc diễn văn trước quốc hội CSVN trong bối cảnh:

  • Trung Cộng vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền ngụy tạo trên Biển Đông và xây dựng các đảo nhân tạo trên các bãi đá ngầm chiếm đoạt của Việt Nam ở Quần Đảo Trường Sa. Để thách thức chủ quyền bất hợp pháp này, Hoa Kỳ đã đưa chiến hạm Lassen tuần tra trong vùng 12 hải lý chung quanh các đảo nói trên, được sự hỗ trợ của các nước đồng minh trong đó có Liên Hiệp Âu Châu.
  • Các quốc gia vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương cùng Hoa kỳ lập liên minh chống sự bành trướng của Bắc Kinh;
  • Tòa án Liên Hiệp Quốc ở La Hayes tuyên bố có thẩm quyền xét xử đơn kiện của Phi Luật Tân về những đòi hỏi chủ quyền bất hợp pháp của Trung Cộng tại Biển Đông;
  • Sắp sửa có họp thượng đỉnh G-20 tại Thổ Nhĩ Kỳ và APEC tại Philippines;
  • Trung Cộng đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chia rẽ nội bô, trong lúc họ vẫn đàn áp những người tranh đấu cho tự do và nhân quyền; gia tăng áp bức các dân tộc Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông…
  • CSVN chuẩn bị tổ chức Đại Hội đàng lần thứ 12 trong tình trạng nội bộ tranh chấp gay go, nhưng chính sách đàn áp nhân quyền, cấm cản người dân Việt Nam bày tỏ lòng yêu nước trước sự lâm nguy của Đất Nước vẫn tiếp tục mạnh bạo.
  • Nhiều chỉ dấu cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đã lệ thuộc quá nhiều vào Trung Cộng qua mưu toan đưa đất nước vào ách thống trị của Bắc Kinh.

Xét rằng:

  • Trung Cộng là kẻ thù số một của nhân dân Việt Nam. Trung Cộng đã chiếm đất đai, biển đảo của Việt nam, dùng võ lực chiếm Hoàng Sa Trường Sa, khống chế Việt Nam bằng mọi hình thức về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường…
  • Trung Cộng chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng, tự tuyên bố chủ quyền hơn 80% vùng Biển Đông; gây hấn tại biển Hoa Đông; xây các đảo nhân tạo trong vùng tranh chấp ở Quần Đảo Trường Sa bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Chính phủ Hoa Kỳ vừa có hành động thích ứng rất đáng ca ngợi khi đưa chiến hạm vào vùng biển xung quanh các đảo nhân tạo do Trung Cộng chiếm giữ ở Trường Sa, cương quyết thực hiện quyền tự do lưu thông hàng hải trên vùng biển quốc tế.
  • Các cuộc tiếp đón trọng thể của lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đối với Tập Cận Bình sẽ mang ý nghĩa chấp nhận sự thống trị của Trung Cộng đối với VN và hợp thức hóa những lời tuyên bố xấc xược của Trung Cộng và đặc biệt là của Tập Cẩn Bình vể chủ quyền trên Biển Đông,

Vì thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ phối hợp cùng các Cộng Đồng trên thế giới, long trọng tuyên cáo:

  • Cực lực phản đối sự có mặt của Tập Cận Bình tại Việt Nam nhằm khống chế đất nước và dân tộc Việt Nam;
  • Lên án đảng CSVN tiếp tay dâng đất dâng biển cho Trung Cộng;
  • Nhiệt liệt ủng hộ những cuộc đối kháng, biểu tình chống Tập Cận Bình, chống Trung Cộng bất cứ hình thức nào tại quốc nội do dân chúng và những người yêu nước khởi xướng.
  • Kêu gọi đồng bào quốc nội hãy mạnh dạn đứng lên phản đối sự hiện diện của Tập Cận Bình; Kêu gọi đồng bào hải ngoại tổ chức, hoặc tham gia những cuộc biểu tình phản đối Tàu Cộng và Việt Cộng; tích cực tẩy chay hàng hóa Trung Cộng;
  • Kêu gọi các quốc gia tự do trên thế giới hãy có thái độ mạnh mẽ chống lại sự bành trướng của nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Kinh và hỗ trợ nhân dân Việt Nam đấu tranh giành Độc Lập Tự Do Dân Chủ cho Quê Hương Việt Nam.

 

Hoa Kỳ ngày 2 tháng 11 năm 2015

BS Võ Đình Hữu                                BS Đỗ Văn Hội                            Ô. Lưu Văn Tươi

CT Hội Đổng Đại Biểu                       CT Hội Đồng Chấp Hành             CT Hội Đồng Giám Sát

 

Hội Đồng Cố Vấn: Bs Trương Ngọc Tích – Đốc Sự Trần Xuân Thời – ĐT Nguyễn Xuân Sơn

Ô. Nguyễn Văn Tánh – GS Phạm Văn Thanh – KS Lê Hồng Thanh

Cố Vấn Hội Đồng Chấp Hành: Ông Nguyễn Trung Châu, Ô. Nguyễn Khắc Vinh, KS Đỗ Như Điện, Ô. Bùi Quang Lâm

Các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia:

CĐVN Arkansas, AR: Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh,

CĐVN Arizona, AZ; Chủ tịch: Ô. Đặng Thế Khương

CĐNVQG Bắc California: Ô. Phạm Hữu Sơn

CĐVN Southern California, CA; Chủ tịch: KS Trương Ngải Vinh

CĐNVQG Nam Cali; Chủ Tịch: NV Bùi Phát

 

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm  

CĐNVQG Sacramento, CA, Chủ tịch: Ô. Đỗ Thiện Thịnh

CĐNVQG Stockton, CA, Chủ Tịch: Ô. Nguyễn Hữu Hiến

CĐNVQG Charlotte, N. Carolina: Chủ Tịch Cô Nguyễn Thu Hương

CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  CT Ô. Võ Phương.

CĐNVQG Columbia, SC: CT Ông. Nghiệp Nguyễn

CĐNVQG Raleigh, NC: CT Ông Huyền Nguyễn

CĐNVQG Colorado, CO, Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Trọng Cường

CĐNVQG Connecticut, Chủ Tịch: Ô. Trần Văn Giỏi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu: Ô. Lê Thanh Liêm

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch: Ông Phạm Quốc Hưng

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch HĐĐD: Ô. Châu Ngọc An

CĐVN Tampa Bay, FL; Chủ tịch: Ô. Trần Công Thức

CĐVN Jacksonville, FL; Chủ tịch: Ô. Eric  Nguyễn

CĐVN South Florida, FL; Chủ tịch: KTS Nguyễn Đức Huy

CĐVN Pensacola, FL; Chủ tịch: Ô. Bùi Lý

CĐVN Georgia, GA, Chủ Tịch: Bà Đặng T. K. Hạnh

CĐNVQG Ilinois, IL, CT Ô. Lưu Toàn Trung

CĐNVQG Massachusetts, MA; Chủ tịch: Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn

CĐNVQG St Louis, MO; Chủ tịch: Ô. Cường Nguyễn

CĐNVQG South New Jersey, NJ; Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm

CĐNVQG New Hampshire, NH; Chủ Tịch: Ô. Lê Hà Dũng

CĐNVQG New Mexico, NM: Ô. Lương Thông,

CDVN New Jersey, NJ: Chủ Tịch: Bà Lê Ánh Nguyệt

CĐNVQG Minnesota, MN; Chủ tịch: Ô. Lê Đình Thăng

CĐNVQG Louisiana, LA; Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh

CĐNVQG New York, NY; Chủ tịch: LS Nguyễn Thanh Phong

CĐNVQG Oklahoma City, OK; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh

CĐNVQG Allentown, PA; Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo

CĐNVQG Philadelphia, PA; Chủ tịch: ô. Vũ Trực

CĐNVQG Pennsylvania, PA; Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm

CĐNVQG Pittsburgh, PA; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Hoa

CĐNVQG Lancaster, PA; Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan

CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA ; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh

CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải

CĐNVQG  TP Lebanon, PA; Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Hải

CĐNVQG TP York, PA ; Chủ tịch: Ô. Vũ Ngọc Hải 

CĐNVQG TP Easton/Bethlehem, PA.  Chủ Tịch: Ô. Đỗ Đức Chiến,

CDNVQG Nashville và Middle Tennessee, TN; Chủ Tich: Ô. Bùi Văn Kiệt

CĐNVTD West Tennessee; Chủ Tịch: Ông Đặng Q. Dũng

CĐNVQG Houston, TX; Chủ tịch: TT Trần Quốc Anh

CĐNVQG Dallas, TX; Chủ tịch: LS. Phạm Quang Hậu

CĐNVQG Utah, UT; Chủ Tịch: Ông Nguyễn Văn Thành

Danh sách các tổ chức và Cộng Đồng ủng hộ tuyên cáo sẽ được phổ biến sau.

Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, CT Đại Tá Nguyễn Văn Quí

Liên Hội Người Việt Canada, TTK: Ô. Trần văn Đông

CĐVN DC/Maryland/Virginia, CT Ông Đoàn Hữu Định, Đồng CT: Ô. Thomas Phạm.

CĐNVQG Lausane, Thụy Sĩ – CT Ô. Trần Xuân Sơn

CĐNVQG Tacoma và Pierce County, Wa, CT: BS Nguyễn Xuân Dũng

Hội Cao Niên Tacoma và Vùng Phụ Cận: Pht Ông Trần Minh

Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Vùng Hoa Thịnh Đốn, CT: Dr. Tạ Cự Hải

Thẳng Tiến Việt Nam: Đại diện: Nguyễn Sơn Hà, Thái Thanh Thuy

CĐ Người Mỹ Gốc Việt Sacramento, CA

Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn CS tại Đức Quốc, CT: BS Hoàng thị Mỹ Lâm.

 

(xin liên lạc với chúng tôi để bổ túc danh sách)

Nhà báo Bùi Tín đã giác ngộ và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN

Thursday, October 29th, 2015

Nhà báo Bùi Tín và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN mà ông là cựu đại tá bộ độ “Cụ hồ”(Thay một lời trăng trối gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)

Tác giả: Bùi Tín

Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là “sao mà ngu lâu thế!”, nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.

Năm nay tôi tự làm “cuộc kỷ niệm” độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người – gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

Giác ngộ là hai chữ tôi nghe rất nhiều lần khi được tuyên truyền về Đảng CS, về chủ nghĩa CS. Các vị đàn anh giải thích con người tốt phải là con người giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là nhận ra lý tưởng cho cuộc đời minh. Tuổi trẻ cần có lý tưởng, hiểu rõ con đường cần chọn, hiểu rõ tổ chức cần tham gia, không bỏ phí cuộc đời minh. Đó là con đường Cộng Sản, dẫn đến độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân, họ rao giảng triền miên như thế, chúng tôi cũng cả tin là thế thật.

Theo học các chương trinh và lớp học cho đảng viên mới, cho cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp của đảng, bao giờ giảng viên cũng nhắc đến hai chữ giác ngộ. Học, học nữa, học mãi để nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ của mỗi người. Đảng viên phải có trình độ giác ngộ cao hơn quần chúng ngoài đảng. Đảng viên mới luôn được học kỹ tấm gương của anh thanh niên Lý Tự Trọng, với nét nổi bật nhất là giác ngộ CS từ tuổi thiếu niên, rồi biết bao tấm gương của những chiến sỹ CS ưu tú, bất khuất trong các nhà tù thực dân ở Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum…giác ngộ cách mang cao, nhà tù, máy chém không nao núng, biến nhà tù thành trường học nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bất khuất, kiên cường.

Trong các bản khai lý lịch cá nhân, mỗi đảng viên thường kể lại bản thân mình được giác ngộ ra sao, được ai giác ngộ, giác ngộ đến mức nào, và luôn kết luận với lời hứa không ngừng học tập, tu luyện, tự phê bình và phê bình để không ngừng nâng cao trinh độ giác ngộ của bản thân.

Tôi kể ra như thế để thấy hai chữ giác ngộ có tác dụng sâu sắc ra sao đối với mỗi đảng viên CS. Hai mươi nhăm năm nay, tôi hồi tưởng lại quãng đời 44 năm là đảng viên CS, theo dõi chặt chẽ thời cuộc hằng ngày trong nước và thế giới, tôi không khỏi cảm thấy chua chát và cay đắng về hai chữ giác ngộ.

Giác ngộ hình như là một chữ Đảng CS mượn của Đạo Phật. “Giác” là nhận thấy, cảm nhận, thấy rõ, “ngộ” là tỉnh ra, nhận ra lẽ phải, chân lý để làm theo.

Sau khi là con người tự do, là nhà báo tự do, kết thân với nhiều nhà báo tự do của thế giới, các nhà báo tự do Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Ba Lan, Tiệp…, tôi tìm đọc các kho tư liệu lưu trữ quý ở Paris, Moscow, London, Washington… rồi suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, của riêng mình, không sùng bái bất cứ một người hay một học thuyết nào. Từ đó tôi giác ngộ không biết bao nhiêu điều mới mẻ, và lần này tôi thật sự có cảm giác sâu sắc về hạnh phúc tinh thần tiếp cận được ngày càng nhiều sự thật, lẽ phải, chân lý. Tôi đã tự giác ngộ mình.

Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác.

Như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản kiểu mác-xít đều là những học thuyết chủ quan, lầm lẫn, hoàn toàn nguy hại trong thực tế, cổ xuý đấu tranh giai cấp cực đoan và bạo lực, đi đến chiến tranh, khủng bố, đổ máu, hận thù. Giữa thủ đô Washington, tôi cùng anh Cù Huy Hà Vũ đã viếng Tượng đài Kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, trong đó có hàng triệu nạn nhân đồng bào Việt ta. Tượng đài nhắn nhủ toàn nhân loại hay cảnh giác với chủ nghĩa CS, tai họa của toàn thế giới.

Tháng 5/2015, Tổng thống Ukraine, một nước cộng sản cũ, đã ký Luật cấm tuyên truyền về chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như trong thời kỳ trong Liên bang Xô Viết từ 1917 đến 1991, coi đó là thời kỳ bi thảm, sai lầm và Tội Ác. Các tượng đài, di tích thời kỳ ấy đều bị phá bỏ. Các sự kiện ấy giúp tôi khẳng định việc thoát đảng CS của tôi là chuẩn xác và giúp tôi thấy Dự thảo văn kiện sẽ đưa ra Đại hội XII sắp đến là lạc hậu, lẩm cẩm và cực kỳ nguy hại cho đất nước, cho nhân dân, cho chính Đảng CS ra sao.

Tôi không thể hiểu vì sao, sau khi Giáo sư Trần Phương, từng là Phó Thủ tướng, là uỷ viên Trung ương Đảng, đã chứng minh rành mạch rằng chủ nghĩa Mác, Lênin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS đều là ảo tưởng sai lầm, nguy hại, hay vì sao sau khi đương kim Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã công khai cho rằng: “Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tim cho mất công! “, vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ khẳng định trong văn kiện Đại hội XII rằng “kiên định chủ nghĩa Mác, Lênin, kiên định chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa CS là lập trường không thể thay đổi “, một thái độ ngoan cố, cổ hủ, tối tăm, buộc toàn đảng phải đi theo sự lẩm cẩm dai đẳng nguy hại của minh.

Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật.
Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của minh. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

Mới đây, có 2 sự kiện minh họa rõ thêm bản chất con người thật HCM. Nhà báo Trần Đĩnh từng gần gũi ông Hồ kể lại ông từng cho rằng không thể giết bà Năm – Cát Hanh Long để mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất, bà lại là ân nhân của đảng CS, – ông còn văn hoa nói: “Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa”. Vậy mà theo Trần Đĩnh, chính ông Hồ đã viết bản Cáo trạng kết án Bà Năm: “Địa chủ ác ghê”, ký tên CB (của Bác- Bác Hồ) trên báo Nhân Dân của Đảng. Cũng theo Trần Đĩnh, ông Hồ đã cải trang, mang kính râm đích thân đến dự cuộc xử bắn bà Năm.

Vậy ông Hồ là con người thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, lá mặt lá trái, tử tế hay không tử tế? đạo đức hay vô đạo đức?

Nhà triết học uyên bác bậc nhất nước ta Trần Đức Thảo trước khi từ giã cõi trần đã kể trong cuốn Những lời trăng trối (do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ghi âm) rằng ông đã gặp ông Hồ, quan sát, nghiên cứu sâu về tư tưởng, hành vi, đạo đức của ông Hồ, và đi đến kết luận vững chắc rằng ông Hồ là “con Người muôn mặt, lắm mưu mô, nhiều tham vọng quyền lực, nhiều điều bí hiểm, lắm tên nhiều họ, ẩn hiện khôn lường, lắm vợ, nhiều con, rất phức tạp”, là một “Tào Tháo của muôn đời”.

Ông Trần Đức Thảo cho rằng đảng CS kêu gọi cả nước học tập đạo đức HCM, vậy là muốn biến cả nước thành Tào Tháo hết cả ư!
Thế thật thì nguy cho dân tộc ta quá ! Ý kiến của nhà triết học này thật thỏa đáng.

Tôi có nhiều lý do để quí trọng ông Hồ. Tôi từng gặp ông khá nhiều lần, khi là phóng viên thời sự quốc tế, vào Dinh Chủ tịch dự chiêu đãi ông Lưu Thiếu Kỳ, ông Alexei Kosigyn hay các nhà báo Pháp, Nga, Trung Quốc. Năm 1957 khi ông vào Vinh thăm bộ đội Quân khu IV tôi được giao chuẩn bị bài nói chuyện của ông trước cán bộ quân khu, khen ngợi thành tích giúp dân gặt lúa, chống bão, lụt và diễn tập ở giới tuyến, ông liếc qua bản viết, khen đãi bôi: “Chú văn hay chữ tốt nhỉ!” rồi đút vào túi. Hơn nữa, cha tôi có quan hệ mật thiết với ông Hồ. Ông từng ngỏ lời mời cha tôi ra tham chính từ những ngày đầu Cách mang tháng Tám. Cha tôi lưỡng lự, do quan niệm Nho giáo “Trung thần không theo hai Vua”, nhưng ông Hồ vẫn cử ông Bộ trưởng Tư pháp Vũ Trọng Khánh, rồi ông Vũ Đình Huỳnh mang thư riêng đến. Chính ông Hồ đề cử cha tôi thay Cụ Nguyễn Văn Tố làm nhiệm vụ Chủ tịch Quốc hội sau khi Cụ Tố bị lính Pháp bắn chết. Nhưng tôi không thể vì những chuyện riêng tư ấy mà làm sai lạc sự đánh giá công bằng, khách quan, chuẩn xác của chính mình.

Không một học thuyết nào, không một cá nhân lãnh tụ nào có thể được đặt trên dân tộc và nhân dân. Do yêu nước thật lòng, thương đồng bào Việt mình thật lòng nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận dứt khoát, sòng phẳng rằng ông HCM là một nhân vật tiêu cực trong lịch sử VN. Ông có phần trách nhiệm lớn làm cho đất nước lâm vào chiến tranh, do ông chọn con đường CS của Đệ Tam Quốc tế nên mới bị thế giới Dân chủ sớm đặt VN ta trong Chiến lược Be bờ ngăn chặn CNCS (Containment of Communism Strategy). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông dựng lên thật ra không phải là chế độ dân chủ, mà còn là chế độ độc đoán toàn trị do đảng CS độc quyền cai trị, đến nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, tự do ứng cử và bầu cử, tự do xuất nhập cảnh, tự do tôn giáo, không thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh, đảng CS nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn thêm quyền thứ tư là ngôn quyền.

Các tổ chức xã hội dân sự tự phát đang lớn mạnh cùng các nhà dân chủ từ lão thành đến trẻ tuổi đang cùng các cựu đảng viên CS đã thoát đảng tự đặt cho mình nghĩa vụ trước Dân tộc và Lịch Sử chung sức mở ra Kỷ Nguyên Dân chủ và Tự Do cho nước Việt Nam ta.

Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các đảng viên CS nhân các cuộc họp Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ, đảng bộ cơ sở đến Đại Hội toàn quốc hãy thắp sáng lên ngọn đèn Giác ngộ mới mẻ, manh dạn xoá bỏ những điều giác ngộ cũ kỹ, lạc hậu, giáo điều, lẩm cẩm, mê muội rất có hại, như kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mác-xít, sùng bái nhân vật HCM, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng lạc lõng, tệ hại.

Đó chính là sự giác ngộ cần thiết cấp bách hiện nay. Trong các cuộc họp bàn, góp ý vào các văn kiện dự thảo, chớ bị lừa dối khi nghe lãnh đạo tuyên truyền rằng các văn kiện đã tiếp thu hàng triệu ý kiến xây dựng, đã được nhất trí cao, không cần bổ sung, sửa chữa gì nhiêu, “do kẻ xấu và bọn phản động xúi giục”. Cần nhận rõ nội dung các văn kiện mới là điều kiện sinh tử của đảng, quan trọng hơn vấn đề nhân sự nhiều, vì vận mệnh đất nước, quyền lợi của toàn dân phụ thuộc vào học thuyết chính trị, vào đường lối đối nội, đối ngoại, vào các quốc sách chính trị, kinh tế tài chính, đối ngoại, xã hội và văn hoá đạo đức. Kiên quyết từ bỏ, gột rửa những điều giác ngộ cũ, nhận rõ đó chỉ là những học thuyết sai lầm tệ hại trong thực tế cuộc sống, những tà thuyết đã bị thế giới nhận diện, lên án, loại bỏ, ta không có một lý do nào để gắn bó, quyến luyến, tiếc thương.

Xin các bạn chớ sợ mình đơn độc, thiểu số trong các cuộc họp. Chân lý ban đầu bao giờ cũng là thế. Các bạn chính là những hạt kim cương trong khối quặng đen. Hãy dũng cảm thắp lên ngọn đèn giác ngộ mới, tiên tiến. Các bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc sâu lắng khi dần dần chính kiến của bạn được lan tỏa trở thành chân lý, sự giác ngộ của số đông.

Buổi tâm sự về hai chữ giác ngộ xin tạm ngừng ở đây, mong có ích trong khêu gợi những ý kiến mới mẻ trong tư duy của các bạn về hiện tình đất nước, về con đường cần chọn cho dân tộc, cho Quê hương, để đất nước phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mỗi công dân, mỗi gia đình chung hưởng.

Bùi Tín, VOAs Blog

Tái bút: Xin đề nghị các mạng blog tự do, lề trái, và bạn đọc có điều kiện nhân bản bài viết này và gửi cho các đảng viên CS quen biết, nhân Đại hội Đảng các cấp thảo luận các văn kiện dự thảo cho Đại Hội Đảng Toàn quốc lần thứ XII đầu năm 2016. Xin đa tạ. B.T

Protest against Xi Jinping. Please have strong actions on Chinese aggression

Tuesday, September 22nd, 2015

Protest against Xi Jinping.
Please have strong actions on Chinese aggression.
Please sign now! Thank you! ===========================> (sign in this box)

VIETNAMESE COMMUNITY OVERSEAS
PO Box 5055 Springfield, VA 22150
____________________________________________________________________

DECLARATION
ON THE CHINESE PRESIDENT XI JINPING’S VISIT TO THE UNITED STATES

Chinese President Xi Jinping will visit to the US from September 22nd to 28th, 2015 and will be hosted by President Obama on September 25th, 2015.

According to the White House Press release, this visit “reciprocates President Obama’s State Visit to China in November 2014. President Xi’s visit will present an opportunity to expand U.S.-China cooperation on a range of global, regional, and bilateral issues of mutual interest, while also enabling President Obama and President Xi to address areas of disagreement constructively. The President and Mrs. Obama will host President Xi and Madame Peng Liyuan at an official State Dinner on the evening of September 25.”

Whereas, The Chinese Administration had implemented erroneous activities as listed below:

1. Serious violation of the Human Rights against the people of China, especially to Falun Gong group, and deprivation of all basic rights from the people;

2. Suppression of Tibetan, the Uighurs at Xinjiang, and the Inner Mongolian etc…

3. Endless expansion with negative effects to the neighbor countries including Vietnam;

4. Self-declaration of sovereignty of 80% of East Seas (South China Sea); illegal invasion of the East Sea islands and waters; construction of artificial islands and three airports regardless international law and condemnation; causing environmental disasters and instability for the Southeast Asia and Asia-Pacific regions;

5. Cyber-attack and stealing business and personal confidential data that causes serious damage to the U.S economy and poses major threat to the U.S. homeland security.

6. Land encroachment of Vietnam with the support of The Vietnamese Communist Party that caused adverse effect in many areas such as land, economy, social, culture, etc…, and threatened the existence of Vietnam as an independent country.

7. The Obama Administration has enforced a weak policy against the aforementioned illegal expansion and China’s threat to the fundamental rights and national security of America and foreign countries.

Therefore, the Vietnamese community overseas solemnly declared:

(1) We, vehemently denounce and condemn to the world the Chinese serious human rights violations and illegal expansion;

(2) We, supplicate President Obama and all democratic countries to take strong actions to protect the freedom, democracy, fundamental rights for Chinese people and safety for the U.S and the other countries.

Washington DC, September 22nd , 2015

Representatives of Communities, Organizations:

  • Vietnamese American Community VAC) of Washington, D.C., Maryland & Virginia: Mr. Dinh Huu Doan, President.
  • Federation of Vietnamese American Communities of the USA, Vo Dinh Huu, MD – Hoi Van Do, MD- Prof. Thanh Van Pham – Tich Ngoc Truong, MD – Mr. Thoi Xuan Tran – Mr. Son Xuan Nguyen – Mr. Tanh Van Nguyen.
  • Former Vietnamese Political Prisoners Association: Fmr Qui Van Tran, President.
  • Vietnam Human Rights Network: Dr. Nguyễn Bá Tùng, President.
  • Movement for Vietnamese Laity in Diaspora: Mr. Pham Hong Lam, Coordinator.
  • Bao Tran, President, the People Force’s To Save Vietnam, Torrance, California, USA
  • Vietnamese Canadian Federation – Dong Van Tran, Secretary General
  • Liem Thanh Nguyen, Cao Đài Tây Ninh Church.
  • Hung Tran, Representative of The Cao Dai High Church Brother Overseas, Canada
  • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, Arkansas.
  • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ,
  • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA,
  • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA
  • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA,
  • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA
  • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California
  • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA
  • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA
  • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CA
  • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC
  • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC
  • Gioi Van Tran, President, VAC of  Connecticut, CT,
  • – Mr. Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL
  • Lien Thanh Le: President, BOD, VAC Florida.
  • – Mr. Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL,
  • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC  Central Florida, FL,
  • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL,
  • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL,
  • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL,
  • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
  • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA
  • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL
  • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA,
  • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA
  • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of  Massachusetts, MA,
  • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN,
  • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO,
  • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM,
  • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH,
  • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ,
  • Paula Hícks-Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ
  • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY,
  • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK,
  • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA
  • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA,
  • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA,
  • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA,
  • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA,
  • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA,
  • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA,
  • – Mr. Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA
  • – Mr. Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg ,PA
  • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA
  • Do duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem
  • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina
  • – Mr. Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
  • – Mr. Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN,??
  • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN
  • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX
  • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX
  • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT
  • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
  • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey
  • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association
  • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community VAC) of Washington, D.C., Maryland & Virginia
  • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany
  • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, ca, United States
  • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia
  • Lam Bui, Phoenix, Arizona, United States
  • Bill Duong, Sterling, Virginia, United States

…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………..

Tuyên Cáo chống Tập Cẩm Bình Đến Hoa Kỳ

Tuesday, September 22nd, 2015

Xin ký tên vào ô bên tay phải ——->

*

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA TẠI HẢI NGOẠI

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

______________________________________________________

TUYÊN CÁO

NHÂN DỊP TẬP CẨM BÌNH VIẾNG THĂM HOA KỲ

Chủ tịch Trung Cộng Tập Cẩm Bình sẽ viếng thăm Hoa Kỳ từ ngày 22 đến 28 tháng 9 năm 2015 và sẽ được Tổng Thống Obama tiếp đón vào ngày 25/9/2015.

Theo thông cáo báo chí từ tòa Bạch Ốc: “cuộc viếng thăm này là đáp lại việc Tổng Thống Obama đến thăm Trung Cộng tháng 11 năm 2014.  Cuộc thăm viếng của Tập Cẩm Bình sẽ tạo cơ hội mở rộng sự hợp tác Mỹ – Trung trên cấp độ toàn cầu, cấp vùng và những vấn đề lợi ích hỗ tương, đồng thời hai vị sẽ nêu lên những bất đồng một cách xây dựng.  Tổng Thống và bà Obama sẽ khoản đãi Tập Cập Bình và phu nhân vào tối 25 tháng 9.”

Xét rằng: Nhà cầm quyền TC đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng như sau:

  • Vi phạm nhân quyền trầm trọng đối với dân tộc Trung Hoa, nhất là giáo phái Pháp Luân Công; tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân;
  • Đàn áp các dân tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Nội Mông…
  • Chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng trong đó có Việt Nam;
  • Tự tuyên bố chủ quyền 80% vùng Biển Đông; xâm lăng bất hợp pháp các đảo và hải phận Biển Đông; xây các đảo nhân tạo và 3 đường bay bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây ra thảm họa môi trường và nguy cơ bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Tấn công và ăn cắp các dữ kiện bí mật thương mại và cá nhân của Hoa Kỳ gây ra tổn thất nghiêm trọng về kinh tế và nền an ninh của Hoa Kỳ;
  • Lấn chiếm đất đai của Việt Nam với sự tiếp tay của đảng Cộng Sản Việt Nam; gây tác hại trên nhiều lãnh vực như kinh tế, môi trường, xã hội, văn hóa… đe dọa sự tồn vong của Việt Nam.
  • Chính phủ của Tổng Thống Obama đã áp dụng một chính sách không đủ mạnh trước nguy cơ bành trướng và mối đe dọa của Trung Cộng đối với quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và các nước khác.

Vì thế, người Việt Nam trên toàn thế giới long trọng:

Tuyên Cáo

  • Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận quốc tế những vi phạm nhân quyền và mưu đồ bành trướng của Trung Cộng;
  • Thỉnh cầu Tổng Thống Obama và các quốc gia tự do cần có thái độ cương quyết để bảo vệ nền dân chủ cho Trung Hoa; quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và toàn thế giới.

Hoa Kỳ ngày 25 thán 9, 2015

Đại Diện các Cộng Đồng, Đoàn Thể, Tổ Chức:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

 

VIETNAMESE COMMUNITY OVERSEAS

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

____________________________________________________________________

 

DECLARATION

ON THE CHINESE PRESIDENT XI JINPING’S VISIT TO THE UNITED STATES

Chinese President Xi Jinping will visit to the US from September 22nd to 28th, 2015 and will be hosted by President Obama on September 25th, 2015.

According to the White House Press release, this visit “reciprocates President Obama’s State Visit to China in November 2014. President Xi’s visit will present an opportunity to expand U.S.-China cooperation on a range of global, regional, and bilateral issues of mutual interest, while also enabling President Obama and President Xi to address areas of disagreement constructively. The President and Mrs. Obama will host President Xi and Madame Peng Liyuan at an official State Dinner on the evening of September 25.”

Whereas, The Chinese Administration had implemented erroneous activities as listed below:

  1. Serious violation of the Human Rights against the people of China, especially to Falun Gong group, and deprivation of all basic rights from the people;
  2. Suppression of Tibetan, the Uighurs at Xinjiang, and he Inner Mongolian etc..
  3. Endless expansion with negative effects to the neighbor countries including Vietnam;
  1. Self-declaration of sovereignty of 80% of East Seas (South China Sea); illegal invasion of the East Sea islands and waters; construction of artificial islands and three airports regardless international law and condemnation; causing environmental disasters and instability for the Southeast Asia and Asia-Pacific regions;
  1. Cyber-attack and stealing business and personal confidential data that causes serious damage to the U.S economy and poses major threat to the U.S. homeland security.
  2. Land encroachment of Vietnam with the support of The Vietnamese Communist Party that caused adverse effect in many areas such as land, economy, social, culture, etc…, and threatened the existence of Vietnam as an independent country.
  3. The Obama Administration has enforced a weak policy against the aforementioned illegal expansion and China’s threat to the fundamental rights and national security of America and foreign countries.

Therefore, the Vietnamese community overseas solemnly declared:

  • We, vehemently denounce and condemn to the world the Chinese  serious human rights violations and illegal expansion;
  • We, supplicate President Obama and all democratic countries to take strong actions to protect the freedom, democracy, fundamental rights for Chinese people and safety for the U.S and the other countries.

 

Washington DC, September 22nd , 2015

Representatives of Communities, Organizations:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    106-Quoi Nguyen, Jacksonville, Florida, USA.

    107- Tri dang, Toronto, ont, Canada.

    108- D.Q. Nguyen, Oklahoma city, OK, USA

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Sunday, August 23rd, 2015

ỦY BAN VẬN ĐỘNG

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Email: lienketHN@gmail.com

________________________________________

 THÔNG BÁO 

Về Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại 

Kính gửi:

–          Quý vị Lãnh Đạo Tinh Thần các Tôn Giáo;

–          Quý vị Lãnh Đạo các Cộng Đồng, Tổ Chức Quân, Dân, Cán, Chính VNCH, các Tổ Chức Đảng Phái Chính Trị, Tổ chức dân sự Văn Hóa, Chính Trị, Truyền Thông, Nghề Nghiệp, Thương Mại, Tôn Giáo, Thanh Niên, Ái Hữu;

–          Quý vị Đồng Hương tại Hải Ngoại;

–          Và quý Đồng Bảo tại Quốc Nội (để kính thông báo)

Thưa quý vị,

Năm 2015 đánh dấu 40 năm Cộng Sản miền Bắc chiếm trọn miền Nam Việt Nam, áp đặt một chế độ độc tài toàn trị lên hai miền Nam Bắc. Cho đến ngày hôm nay, hơn 90 triệu đồng bào trong nước vẫn phải sống dưới ách kìm kẹp của đảng Cộng Sản trong khi thế giới đã thay đổi sâu rộng: Làn gió dân chủ lan tràn khắp toàn cầu; chủ nghĩa Cộng Sản đã cáo chung; các chế độ Cộng Sản tan rã khắp nơi chỉ còn tồn tại trong bất ổn định ở bốn Quốc gia trong đó có Việt Nam (Trung Cộng, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam).

Tại Quốc Nội, cuộc đấu tranh của đồng bào đòi tự do dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ ngày càng dâng cao bất chấp thường xuyên bị đàn áp, bắt bớ, giam cầm.

Họa xâm lăng Việt Nam từ phương Bắc đã thành hiện thực, nguy cơ mất nước đã đến gần.

Tại Hải Ngoại, trong 40 năm qua Người Việt tỵ nạn đã có nhiều nỗ lực kết hợp nhưng chưa thành công vì hoàn cảnh chưa thích hợp.  Ai cũng biết Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại cần có tiếng nói chung trước Quốc tế và cần có một tập thể vững mạnh để hỗ trợ hiệu quả cho cuộc đấu tranh của đồng bào quốc nội.

Vì thế nhu cầu kết hợp là cần thiết và cấp bách.

Chúng tôi gồm đại diện các Cộng Đồng, Tổ Chức, Đoàn Thể, Hội Đoàn, Nhân Sĩ trên thế giới đã gặp gỡ, trao đổi, nghiên cứu và vận động suốt một năm qua để tiến đến việc tổ chức một Hội Nghị Liên Kết nhằm thực hiện các mục tiêu nói trên.

MỤC ĐÍCH HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Mục đích của Hội Nghị nhằm kết hợp các Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại thành một cơ cấu Đại diện chính danh cho tiếng nói chung của người Việt tại hải ngoại nhắm hai mục tiêu: Đối phó với tình hình đất nước và; Thực hiện các công tác của người Việt ở nước ngoài.

Thành phần tham dự Hội Nghị bao gồm: các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, Canada, Á Châu v.v… đã được bầu ra hợp pháp và hoạt động bất vụ lợi; các Tổ chức và Đảng phái đấu tranh có lập trường Quốc gia rõ rệt; các Tổ chức cựu Quân nhân, Cảnh sát; các tổ chức dân sự như Tôn giáo, Văn hóa, Truyền thông, Nghề nghiệp, Thanh niên, Ái hữu v.v…

NGUYÊN TẮC LIÊN KẾT:

Để công tác liên kết thành công, chúng tôi xin đề ra những nguyên tắc căn bản như sau:

1-      Cộng Đồng địa phương là đơn vị căn bản trong Hội Nghị, tương tự như các quốc gia hội viên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Ban Đại Diện Cộng Đồng các Châu lục có thể đại diện cho Cộng Đồng địa phương (có giấy ủy quyền) nếu Địa phương không về dự được. Các tổ chức Tôn Giáo, Chính trị và Xã hội có thể cử đại diện tham dự.

2-      Có lập trường Quốc Gia không chấp nhận Chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản bất cứ dưới hình thức nào. Minh bạch không hòa hợp và hòa giải với Cộng Sản.

3-      Kết hợp trong tinh thần “vì quyền lợi tối thượng của Đất Nước, của Cộng Đồng, không vì quyền lợi cá nhân, tổ chức, đảng phái, tôn giáo hay giai tầng xã hội…”

4-      Mọi cá nhân tham dự trong các cơ cấu được thành lập phải phục vụ cho quyền lợi chung không vì quyền lợi riêng của Tổ chức mình đại diện.

5-      Gạt bỏ những tỵ hiềm cá nhân, tổ chức và đảng phái. Hợp tác chân thành, trong tinh thần tương thân tương ái, trao đổi hòa nhã, tôn trọng nguyên tắc dân chủ.

6-      Ứng dụng phương thức khoa học, thường xuyên liên lạc bằng những phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại viễn liên (teleconference calls), skype, paltalk, Webcam…

7-      Trong thời gian lâm thời 1 năm, Ủy Ban Liên Lạc Phối Hợp được Hội Nghị thành lập có nhiệm vụ thực hiện các công tác của Cộng Đồng hải ngoại. Ủy ban này có trách nhiệm tổ chức Đại Hội Liên Kết lần thứ II rộng lớn hơn sau 1 năm để thành lập Cơ cấu Đại diện duy nhất và thống nhất toàn cầu.

8-      Mọi điều đi ngược lại với những nguyên tắc này đều không được cứu xét.

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỀM TỔ CHỨC HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Hội Nghị được tổ chức trong 2 ngày:

11 và 12 tháng 10, 2015 (Chủ Nhật và Thứ Hai)

Tại Khách Sạn Courtyard Marriott – Dunn Loring Fairfax

2722 Gallows Rd, Vienna, VA 22180-7133 (703) 573-9555 

Lý do tổ chức tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ vì nơi đây được công nhận là Trung tâm quyền lực ảnh hưởng của Thế giới. Giá cả khách sạn, sinh hoạt phải chăng, lưu thông dễ dàng.

CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT HỘI NGHỊ:

* Chủ Nhật 11 tháng 10, 2015:

Sáng: 10:00 am – 12:00 pm. Lễ Khai mac

Chiều: Hội thảo các nguyên tắc, văn bản của Hội Nghị

Tối: Cơm thân mật hội ngộ.

* Thứ Hai 12 tháng 10, 2015:

Sáng: tiếp tục Hội Nghị, thành lập Ủy Ban Phối Hợp

Trưa: bế mạc

Cơm trưa – giới thiệu Ủy Ban Phối Hợp và các công tác trong tương lai.

Thư mời và chi tiết tham dự Hội Nghị sẽ được phổ biến và gửi đến quý vị sau.

Rất mong được toàn thể quý vị hưởng hứng, tham dự, góp ý kiến và hỗ trợ cho Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại được thành công.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 22 tháng 8, năm 2015

Thay mặt Ban Vận Động

BS Đỗ Văn Hội,                 Ô. Đoàn Hữu Định.         Ô. Nguyễn Văn Tánh

Chủ Tịch HĐCH                     Chủ Tịch                                 Cựu Chủ Tịch CĐNVQG HKỳ

CĐNVQG/ Liên Bang HKỳ   CĐVN DC. MD. VA.            Trưởng Ban Điều Hợp

Liên lạc:

LienketHN@gmail.com

BS Đỗ Văn Hội:         407-234-3596hoivando@gmail.com

Ô. Đoàn Hữu Định:    703-475-6186CongdongthudoHTD@gmail.com

Ô. Nguyễn Văn Tánh:       347-481-8283Tanhnguyen1947@yahoo.com

Mọi yểm trợ xin đề:

CDVN DC. MD, VA

Memo: Hội Nghị Liên Kết

Và gửi về:

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Declaration On the subject of removing neck strap and not allowing to display the yellow flag with three red stripes

Wednesday, August 12th, 2015

Declaration

On the subject of removing neck strap with yellow flag symbol and not allowing to display the yellow flag with three red stripes when Ambassador Ted Osius meeting with the Vietnamese American Communities.

During the meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese-American Communities in the Southern and Northern California last mid-July, a couple incidents have occurred that made the Vietnamese-Americans and other Vietnamese communities around the world quite discontented with.

Summary of incidents:

  1. In these meetings, the US Ambassador to Vietnam Ted Osius asked not to display the yellow flag with three red stripes in the hall because of “diplomatic reason” and his ambassadorial position. However he always wore on the pin showing 20th anniversary of diplomatic relations between (Communist) Vietnam – US containing Vietnam Communist flag, the flag that the Vietnamese refugees abroad does not recognize and that belongs to the Communist Party and does not represent the country and the people of Vietnam. The current communist authorities in Vietnam were not elected freely by the people. Also, they seriously violated human rights and other rights of their people.

2- In particular at the meeting in San Jose, besides not allowing display of yellow flag with three red stripes, the organizers also requested Miss Do Minh Ngoc to remove her neck strap made of yellow flag with three red stripes and the US flag.

  1. The organizers did not notify in advance that there will be no yellow flag with three red stripes allowed so that the people can decide whether to attend the meeting or not. The Vietnamese community was caught by surprise of such rule, and because of courtesy for the Ambassador, the meeting goers had reluctantly agreed to stay.

Whereas:

1. The town hall meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese Americans, presenting and acquiring opinions from the Vietnamese Americans are useful dialogue and appreciated by our community. However, unfortunately above mentioned incidents had offended the Vietnamese Community.

  1. Wearing a symbolic neck strap is the freedom of expression under the US Constitution and the International Covenant on Political Freedom and Civil Rights of the United Nations. Removing that symbol is an act of violations of human and civil rights and freedom of expression.
  2. The yellow flag with three red stripes symbolizes the “Heritage and Freedom” of the Vietnamese Americans that had been officially recognized by many cities, counties and states in America. Denying this symbol means going against the aspiration of the Vietnamese Community in the United States in particular, and against others in the world in general.
  3. Wearing a pin with the Communist flag when meeting with the Vietnamese people who once fled the Communists is an indelicate act; it could be seen as provocative to them.
  1. If because of diplomatic reasons and the duty that Ambassador must act like that, why his predecessors did not question about the yellow flag with three red stripes when meeting the Vietnamese American Community?
  2. The above incidents really offended the Vietnamese Community in the United States and throughout the world.

Therefore, the Federation of Vietnamese American Communities of the USA:

  1. Oppose the above incidents; withstand the US government if it does not allow its diplomatic officials to be photographed with Vietnamese Community with its traditional yellow flag with three red stripes.
  2. Request the authorities to investigate, publish and have appropriate discipline toward those who have instructed to remove the neck strap of Miss Do Minh Ngoc; and also to offer her a public apology.
  3. Recommend all the Vietnamese Communities should have necessary political attitudes toward any government or individual that:
  4. Advocate and assist the Communist regime and ignore the interest of over 90 million people in Vietnam that need freedom and democracy;
  5. Offend the symbol, the yellow flag with three red stripes, of the Vietnamese refugees abroad.

Executed in the United States on August 11, 2015

Huu Dinh Vo, M.D.: Chairman, Board of Representatives   Huu Dinh Vo
Hoi Van Do, M.D.: Chairman of the Executives                   Hoi Van Do
Thanh Van Pham, M.A: Chairman of Board of Supervisors Thanh Van Pham

Contact:

Dr. Hoi Van Do

Tel. 407-234-3596

Email: Hoivando@gmail.com

Tài liệu Trung Cộng về ý đồ chiếm quần đảo Trường Sa tại Biển Đông  

Tuesday, July 28th, 2015

 

QUẦN ĐẢO NAM SA*

*Gs Vũ Cao Đàm dịch (*theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo *“Trung quốc Binh khí Đại toàn”)*

DHVH13_Xe Hoa_BanDo

(Hình minh họa – Diễn hành Văn Hóa Quốc Tế chủ đề Hoàng Sa Trường Sa của VN)

*Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.*

* Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :*

*1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những  đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm,  khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.*

*2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.*

*3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.*

*4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.*

*5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.*

*6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.*

*7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.*

* 8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.*

*9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.*

 *10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công. Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.*

*Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng.

Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.*

*Trên lĩnh vực quân sự**, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải.*

* Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết.*

* Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng.*

*Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc.*

*Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.*

*Trên lĩnh vực chính trị**, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta.*

*Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh.*

* Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của
nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.*

*Trên lĩnh vực ngoại giao**, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. *

* Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.*

* Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”.*

 *Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm*

* “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipines, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc.*

* Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó. Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt.*

* Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối.*

* Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu tiên thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.*
Gs. Vũ Cao Đàm dịch
Nguồn: VQC

 

Đôi Chân Bằng Đất Sét (của Trung Cộng)

Monday, July 27th, 2015

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

Hí họaTập Cận Bình đả hổ Chu Vĩnh Khang, cựu bộ trưởng bộ công an Trung cộng.
Bài đọc suy gẫm: Nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có “Đôi chân bằng đất sét”, câu nói nổi tiếng của cựu Thủ tướng Chu Dung Cơ, thời Giang Trạch Dân nắm quyền bên tàu.  Blog Mười Sáu thân mời quý độc giả theo dõi bài viết về Tập Cận Bình và chính sách cải cách của ông ta liệu có thành công qua nhận xét của tác gỉa Chu Chi Nam và Vũ văn Lâm.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Bạc Hy Lai (trái), cựu Bí thư thành ủy Trùng Khánh, Từ Tài Hậu (giữa, chết), Phó chủ tịch quân ủy trung ương, và (phải) Chu Vĩnh Khang trước vành móng ngựa với mái tóc bạc trắng.
 
Tập cận Bình và chương trình cải cách.
Tập cận Bình sinh năm 1953, tại Bắc kinh, nhưng quê quán thực của ông ở Thiểm tây, cha là Tập trọng Huấn (1913 – 2002), là một Phó Thủ tướng trước đây. Tập cận Bình là người ít nói, ít phát biểu, có nhiều người còn cho ông là người không có lập trường rõ rệt. Ông từng làm Bí thư thành phố  Thượng Hải, được Giang Trạch Dân chọn lựa và hậu thuẫn để trở thành người kế thừa của Hồ Cẩm Đào với ý định trong tương lai, khi họ Đào không còn quyền, ông lên ngôi, thì họ Giang dễ khống chế ông.
Tập cận Bình từng bước trở thành Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau đó lần lượt vào năm 2010 ông được bầu vào chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, n ăm 2012 tr ở th ành Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực của đảng cộng sàn Tàu.
Có lẽ tất cả những kế hoạch, dự đoán của họ Giang từ ngày họ Tập lên ngôi đều trở nên mây khói ?
Chương trình cải cách của Tập cận Bình.
Tháng 8/2013, họ Tập ra Văn kiện được mang tên là « Văn kiện số 9 «, trong đó có 7 cái « Không «, bắt buộc đảng viên, công chức từ dưới lên trên phải tuân theo. Đó là: Không được tự do phát biểu ý kiến riêng ngoài ý kiến chính thức của đảng, không chấp nhận ảnh hưởng từ nước ngoài, không chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, tính phê bình, và không chấp nhận tư tưởng độc lập.
Thêm vào đó, để ngăn cản sự trốn chạy ra nước ngoài của cán bộ, họ Tập thâu hồi tất cả những hộ chiếu của họ, thành lập ủy ban gồm 3 người, kiểm soát lẫn nhau, nếu có 1 trong 3 người xuất ngoại «  Không chính đáng «, thì 2 người còn lại phải vạ lây. Họ Tập mệnh danh chương trình cải cách này là một chương trình « Trẻ trung hóa vĩ đại «, dựa trên giấc mơ của Trung quốc, niềm tự hào của dân tộc, dựa trên chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cũng từ đó, họ Tập đã tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, từ Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy hội, Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, Chủ tịch Ủy ban thanh lọc Nhà nước v.v…
Họ Tập đã thanh trừng từ trên xuống dưới, bắt đầu phong trào « Giết hổ và đập ruồi « , loại khỏi Đảng, khỏi Nhà nước 182,000 công chức từ thấp đến cao, bắt đầu bằng vụ đưa ra tòa Bạc hy Lai, rồi khai trừ Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội ra khỏi đảng vào ngày 30/06/2014. Ngày 29/7/2014, Đảng cộng sản Trung quốc tuyên bố điều tra Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba, trong đảng.
Đó là sơ qua một vài vụ thanh trừng to lớn.
Hình ảnh những người tự thiêu phản đối chính sách đàn áp, Hán hóa người dân Tây Tạng của chính quyền Bắc Kinh gây chấn động thế giới
Ngoài ra họ Tập còn đàn áp dã man dân Duy ngô nhĩ, dân phần lớn theo đạo Hồi ở vùng tây bắc, trấn áp Tây Tạng, gửi thông điệp cứng rắn đối với Đài loan, dẹp tất cả những hy vọng của dân Hồng kông mong muốn có một cuộc bầu cử tự do trong tương lai, theo kiểu dân cử, dân bầu, chứ không phải là một cuộc bầu cử « Đảng cử, dân bầu «,được áp đặt từ Bắc kinh.
Nhưng thật ra bản chất của cuộc cải cách này là một cuộc cải cách giật lùi hay đúng hơn chỉ là một cuộc tranh quyền, thâu tóm quyền hành vào tay một người, trái lại nguyên tắc lãnh đạo tập thể, để lại từ hồi Đặng tiểu Bình, và tương đối được tuân thủ  và  áp dụng bởi Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào.
Độc tài từ cổ chí kim trên thế giới là một chế độ cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, nhất là với 2 chế độ độc tài phát xít và cộng sản. Cái loa có nghĩa là khai thác tối đa nghệ thuật tuyên truyền. Kiểu nói như Goebel, Bộ trường Tuyên truyền của Hitler: « Một sự việc dù không phải là sự thật, nhưng chúng ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, sau đó không nghi nữa và cuối cùng cho đó là sự thật. » Bưng bít thông tin, chỉ cho dân nghe những thông tin, dù không phải sự thật, nhưng có lợi cho chế độ.
Với Hitler thì khơi dậy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bài trừ Do thái, đưa ra lý thuyết không có một tý gì là khoa học, theo đó « Chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết nhất, tài giỏi nhất. Đó là chủng tộc của dân Đức, xứng đáng để thống trị thế giới «. Cộng sản thì khơi dậy những bản năng xấu xa, ghen tỵ của con người, qua lý thuyết bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ tất cả những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp được truyền thừa hàng ngàn năm lịch sử nơi con người. Thêm vào đó cả 2 chế độ phát xít và cộng sản đều vẽ ra một thiên đàng, một bên là thế giới thiên đàng của giòng giống Aryen, dân tộc Đức. Bên kia là thiên đàng cộng sản.
Cai trị dân với cái còng và cái súng là khủng bố, bỏ tù những thành phần không cùng chính kiến, đường lối với họ, và nếu sự chống đối trở nên có ảnh hưởng mạnh mẽ thì sẽ bị vu khống, thủ tiêu và hãm hại.
Ngày nay, ở một vài nước cộng sản còn lại, vì kinh nghiệm cộng sản đã thất bại ê chề sau hơn 70 năm áp dụng, thì họ trở về chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kiểu phát xít.
Từ đó chúng ta xét bản chất thực của chương trình cải cách Tập cận Bình: Đó là chương trình cải cách giật lùi, trở về thời quân chủ phong kiến, quyền hành tập trung vào tay một người, ngày xưa là ông vua, ngày nay là Tổng bí thư. Hiện nay họ Tập nắm hết trong tay mọi quyền hành.
Vì vậy bản chất thật cuộc cải cách của họ Tập chỉ là một cuộc tranh quyền mà ngày hôm nay người ta thấy rõ là giữa Giang trạch Dân, cựu Tổng bí Thư, được phe nhóm tài phiệt Thượng hải và Hồng kông ủng hộ và phe nhóm Tập cận Bình, được mang nhãn hiệu là chống tham nhũng, trẻ trung hóa và trong sạch hóa chế độ, thực hiện giấc mơ Trung quốc.
Người Tàu có câu châm ngôn « Giết gà để dọa khỉ «, thực chất là họ Tập giết cả gà lẫn khỉ, khi chúng không theo mình, và dung túng cả gà lẫn khỉ, khi chúng theo mình. Hỏi rằng ở nước Tàu hiện nay, trong những người đảng viên, từ cấp dưới lên đến ngay Tập cận Bình, có ai là không tham nhũng. Cũng như họ Tập ra lệnh thâu hồi tất cả những người có hộ chiếu ra nước ngoài, lập ra tổ 3 người trong cơ quan đảng và nhà nước để kiểm sóat lẫn nhau về việc xuất ngọat. Trong khi đó thì chính con gái họ Tập hiện nay đang học ở Hoa kỳ, tại trường đại học Harvard. Việc thanh trừng 182 000 nhân viên đảng và nhà nước đi đến chỗ ai cũng sợ, có những cơ quan nhà nước, người cầm đầu bị thanh trừng, người dưới không dám lên kế vị, vì ai cũng tham nhũng, sợ bị chỉa mũi dùi vào mình.
Họ Tập không những trở về thời quân chủ phong kiến, mà còn trở về thời kỳ xấu xa nhất của chế độ cộng sản Tàu, thời kỳ « Cách mạng Hồng vệ binh «, khơi dậy lòng hận thù của của những giai tầng xã hội, đề cao tinh thần dân tộc cực đoan. Tập cận Bình hiện nay là hình ảnh những tên bạo chúa tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại, như vua Kiệt, Tần thủy Hoàng, Mao trạch Đông của Tàu, như Néron, Staline của thế giới, cho rằng: « Kẻ nào không theo Ta, thì có nghĩa là chống Ta «, « Ta chính là Nhà nước và Pháp luật « .
Ngày xưa vua cho rằng mình thay trời để trị dân, ngày hôm nay họ Tập cho rằng mình có một sứ mạng cao cả, dẫn dắt dân tộc Tàu thực hiện ước mơ của mình, trẻ trung hóa chế độ, mang lại hạnh phúc cho mọi người dân và sự kính nể đối với những nước trên thế giới.
Vẽ ra những ước mơ, cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, đây không phải là riêng của Tập cận Bình, mà là của tất cả giới lãnh đạo cộng sản. Ngày hôm nay Tập cận Bình đang trở về phương pháp này với dân Tàu. Vì vậy thực chất đây là một cuộc cải cách giật lùi.
Chương trình cải cách cuả Tập cận Bình sẽ thành công ?
Một câu hỏi đến với chúng ta là liệu chính sách cải cách của Tập cận Bình sẽ thành công hay không ?
Có nhiều người cho rằng sẽ thành công, viện những lý do: Với sức mạnh kinh tế hiện nay, theo như bản thống kê mới nhất của Quĩ Tiền tệ thế giới, tổng sản lượng kinh tế tính theo khả năng mua sắm, thì Trung cộng hiện nay là 17 632 tỷ $, đã qua mặt Hoa kỳ là 17 416 tỷ, cũng như Ấn độ, với tổng sản lượng là 7 277 tỷ, đã qua mặt Nhật, với 4,788 tỷ. ( Theo Bản Tường trình của FMI – tháng 10/2014). Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ là sản lượng tính theo đầu người hàng năm của Hoa Kỳ và của Nhật là gấp 4 hay 5 lần của Trung cộng. Ngoài ra hiện nay Trung cộng có một dự trữ gần 4,000 tỷ $, hiện là nước có nền thương mại lớn nhất thế giới, hàng hóa Trung cộng có mặt trên khắp 5 châu.
Đây là một điều hay, nhưng cũng có mặt trái của nó, đó là đừng nghĩ với kinh tế, tiền bạc là có thể giải quyết được tất, nhiều khi mang hại vào thân, ngay ở cả mức độ quốc gia, vì mức độ giầu nghèo quá chênh lệch ở Trung cộng, thêm vào đó giới giầu có, quyền lực thì càng ngày càng muốn giầu có thêm, nhiều quyền lực thêm, trước sự đau khổ của dân.
Chúng ta có thể giản tiện hóa vấn đề, ví một quốc gia như một gia đình. Một gia đình giầu có, có nhiều con cái với nhiều thân thuộc, bộ hạ, vấn đề chia gia tài giữa các con, sau khi người cha chết, có thể đưa đến việc các con cấu xé lẫn nhau. Trung cộng hiện nay đang bị “ nạn “ tương tự qua việc chuyển quyền hành. Những đại gia, vừa giầu có, vừa có quyền, đang tìm cách tiêu diệt lẫn nhau như việc Giang trạch Dân, Chu vĩnh Khang, Từ tài Hậu, Bạc hy Lai v.v… tìm cách đảo chính Tập cận Bình, cũng như sau đó tìm cách ám sát nhiều lần, nhưng không thành, theo như nhiều nguồn tin đáng tin cậy.
Điều này chứng tỏ tình hình Trung cộng không ổn như người ta tưởng.
Thêm vào đó, họ Tập lại thâu tóm quyền hành một cách rất mau lẹ. Vừa mới lên ngôi, họ Tập đã gặp Obama vào năm 2013, chính một nhân viên của Phủ Tổng thống Hoa kỳ đã tuyên bố: “ Chúng tôi rất ngạc nhiên là ông Tập cận Bình đã thâu tóm quyền hành mau lẹ như vậy “.
Chương trình cải cách của họ Tập chỉ là một chương trình bế quan tỏa cảng vào cuối thời nhà Minh, nhà Thanh, vì vậy nó sẽ không thành công, mà còn có thể đi đến chỗ làm sụp đổ chế độ cộng sản ?
Có người lại cho rằng sức mạnh của Trung cộng hiện nay chỉ là cái vỏ, chỉ là “ Một con hổ giấy “, nhãn hiệu mà Mao dùng để chỉ Hoa kỳ trước đây. Thật vậy, không nói đâu xa, ngay chính Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng của Trung cộng cũng nói: “ Trung cộng chỉ là anh khổng lồ chân bằng đất sét.”
Lý do đầu tiên và quan trọng trong sự thất bại của Tập cận Bình là ông đã đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại.
Thật vậy, nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: văn minh trẩy hái, văn minh du mục, văn minh định cư nông nghiệp, và văn minh thương mại, rồi tới văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay.
Mỗi một thời văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã. Với hai 2 nền văn minh đầu, đó là chế độ gia tộc và bộ lạc. Với văn minh định cư nông nghiệp, đó là chế độ quân chủ phong kiến; và ngày hôm nay là mô hình tổ chức dân chủ tự do và kinh tế thị trường.
Có người bảo rằng họ Tập muốn trở về thời kỳ cộng sản của Mao. Nhưng chúng ta biết, mô hình tổ chức nhân xã của cộng sản chỉ là mặt trái của mô hình quân chủ phong kiến, cũng là một chế độ cá nhân, độc đảng, độc tài, nó đã dùng khoa học, kỹ thuật và thông tin tuyên truyền để củng cố chế độ.
Lý do thứ nhì của sự thất bại, đó là như Khổng Tử đã nói:
“Để cai trị dân tốt thì phải dựa trên công lý và lòng thành tâm.”
Đằng này họ Tập không dựa trên công lý để chống tham nhũng, nhưng chỉ nhằm vào người nào tham nhũng không theo ông, còn những người theo ông thì dung túng. Họ Tập thâu hồi tất cả những chiếu kháng, hạn chế tối đa sự xuất ngoại, nhưng chính gia đình ông xuất ngoại, con gái ông đang học ở Hoa kỳ.
Lý do thứ ba của sự thất bại đó là ông đã phá hủy tất cả những luật bất thành văn, được để lại bởi Đặng tiểu Bình, nhằm thực hiện những cuộc trao quyền một cách êm thắm, tránh đổ máu. Những luật bất thành văn này đã được thực hiện bởi 2 người trước ông là Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào. Ngày 29/7/2014, họ Tập ra thông cáo điều tra Chu vĩnh Khang, quản thúc ông tại gia, tịch thu tài sản của những người họ hàng thân thích với ông này, lên tới 300 người, với tài sản là 14,5 tỷ $.
Ngày xưa thì có việc chu di tam tộc, quả là ác ôn và đổ máu. Nhưng ngày hôm nay, dù không đổ máu, nhưng tịch thu hết gia sản, rồi hôm nay bị thẩm vấn, ngày mai bị tra hỏi bởi công an, mặc dầu sống nhưng nhiều khi khổ hơn là chết. Chính vì vậy mà có người cho rằng lịch sử Tàu là một chuỗi dài tranh quyền, cướp nước và trả thù.
Những gia đình, gia tộc bị họ Tập thanh trừng, bằng bất cứ giá nào cũng tìm cách trả thù. Phim ảnh không nói lên tất cả, nhưng cũng nói lên một phần nào lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Phim chưởng Tàu là một chuỗi dài những cuộc trả thù thiên thu bất tận.
Chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng
Trở về với ý kiến cho rằng chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng trước đậy.
Thật vậy, nước Tàu có một nền văn minh lớn và rất sớm, nhưng sau đó nước Tàu bị tụt hậu, vì rất nhiều nguyên do, nhưng trong đó có một nguyên do chính, đó là chính sách bế quan tỏa cảng vào cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh và chính sách mở cửa nhập cảng vội vã tư tưởng Marx Lénine của đảng cộng sản, cặn bã của văn hóa, văn minh tây phương mà những nước này đã chối bỏ.
Nước Tàu là một nước lớn, dân tộc Tàu có một nền văn minh rất sớm:
Năm 105, đời nhà  Hán ( 206 trước Tây Lịch – 219 sau Tây Lịch), nước Tàu đã phát minh ra giấy.  Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy ( 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu. Mãi sau này Johannes Gutenberg (1400 – 1468), người Đức dựa vào những phát minh trên đã phát minh ra máy in và có thể nói đây là một trong những nguyên do chính giúp Âu châu phát triển, vì nhờ máy in mà sự hiểu biết, trí thức được lan rộng, lúc đầu là ở trong nhà thờ, in kinh thánh, sau đó được quảng bá ra ngoài.
Năm 1000, đời Bắc Tống (916 – 1125), phát minh ra địa bàn và thuốc súng. ( Theo « La Formidable Histoire de l’Economie mondiale de l’Egypte antique à la Chine de 2014 – báo Capital – hors série – Juin – Juillet 2014 « )
Tuy nhiên văn minh Tàu bị khựng lại vì rất nhiều nguyên do, mà trong đó là chế độ quân chủ, kéo dài quá lâu, từ chế độ quân chủ phong kiến tản quyền sang chế độ quân chủ tập quyền, từ thời nhà Chu ( 1134 – 770 trước Tây Lịch ) cho tới ngày hôm nay với chế độ cộng sản ( 1949 – ?), chỉ là mặt trái của chế độ này. Người ta nói Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình và ngay Tập cận Bình là những ông hoàng đế đỏ, cũng không sai.
« Cải cách giật lùi, đi ngược lại đà tiến bộ của con người, của nhân loại « của Tập cận Bình có thể thành công ngắn hạn, nhờ kích thích tinh thần quốc gia cực đoan, tôn quân, bản tính gió chiều nào theo chiều ấy của người Tàu, như trường hợp điển hình, ông Chu Bân, con của Chu vĩnh Khang, đã đứng về phía họ Tập, tố cáo bố mình. Tuy nhiên nếu thành công cũng chỉ là ngắn hạn; nhưng dài hạn, thật dài, thì có hại cho Tàu, gương cuối đời của 2 triều đại nhà Minh và nhà Thanh còn ngay trước mắt.
Hoàng cung Tử Cấm Thành do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt xây lên. Dưới: Súng thần công (nòng 21-25 cm) và đạn đá thời Hồ Quý Ly được tìm thấy ở vùng Thanh Hóa, Việt Nam.
 
 
Thực ra nói đến chính sách bế quan tỏa cảng của Tàu thì đã có từ lâu, có thể từ thời lập quốc, qua quan niệm nước Tàu là trung tâm của vũ trụ ( Trung hoa), Hán là dân tộc văn minh nhất, còn những dân tộc chung quanh chỉ là man di, mọi rợ. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài này, chúng tôi không thể đi xa, đi sâu, chỉ xin nói sơ về sự thất bại của chính sách bế quan tỏa cảng cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh :
Nhà Minh ( 1368 – 1643), do Chu nguyên Chương lập ra, sau khi đánh đuổi nhà Nguyên ( 1278 – 1368), một chế độ của người Mông cổ mà sử còn gọi là chế độ Nguyên Mông, chế độ ngoại tộc, không phải là Hán tộc. Chính vì vậy mà Chu nguyên Chương và tất cả vua quan sau này của nhà Minh có một chính sách bế quan tỏa cảng, bài ngoại rất cao, rất tàn ác với những dân tộc không phải là Hán. Đây là kinh nghiệm máu xương của dân tộc Việt nam trong vòng 20 năm bị lệ thuộc nhà Minh từ năm 1407 tới 1427. Quân đội của Trương Phụ nhà Minh không những tàn ác với dân Việt, mà còn tìm cách tiêu hủy tất cả những gì có tính chất đặc th ù dân tộc Việt, qua việc đốt sách vở, bắt tất cả những người có đầu óc mang về Tàu. Việc 2 người Việt nam, ông Nguyễn An, một trong những kiến trúc sư chính, xây lên Tử cấm Thành ( thành Bắc Kinh), một người khác, ông Hồ nguyên Trừng, con của Hồ quí Ly, bị bắt qua Tàu, làm đến chức Bộ Công, xây dựng quân cụ thời vua Minh Anh Tông, đã làm ra súng đại bác ( thần công), cũng là từ đó. Theo sử sách thì « Quân Minh khi làm lễ tế súng, đều phải tế Trừng ».
Có người nói thời Minh không có chuyện bế quan tỏa cảng, dẫn sự việc Trịnh Hòa, một hoạn quan thời Minh với lệnh của triều đình, đóng 62 chiếc thuyền, chiều dài cả 100m, chiều ngang 40m, chở 37000 hải quân, đem nhiều vàng, đồ gốm, lụa, đi từ cửa biển Lưu gia cảng, tây bắc Thượng Hải, vào năm 1405, qua Phúc kiến, có thể nói là một cuộc hành trình vòng quanh thế giới vào lúc bấy giờ, vì đã qua cả chục nước, có nhiệm vụ quảng bá sức mạnh của nhà Minh và đồng thời buôn bán, trao đổi hàng hóa. Đấy là bề ngoài của sự việc, bên trong có người cho là Trịnh Hòa còn có nhiệm vụ tìm vua Huệ đế, mà vua Minh Thành Tổ nghi là đã trốn ra nước ngoài, ở những nước chung quanh hoặc các đảo ngoài biển.
Sự  việc là vua Minh thái Tổ, Chu nguyên Chương, lập người con trưởng tên là Tiêu làm thái tử, không dè Tiêu chết sớm, vua bèn lập con của Tiêu, tên là Kiến Văn, lên làm thế tôn. Khi Chu nguyên Chương chết, Kế văn lên làm vua, tức Huệ đế, được 4 năm. Không dè người chú, lúc đó đang trấn thủ ở đất Yên xưa kia, mang quân về đảo chánh, thành công, lên ngôi vua tức Minh thành Tổ. Minh thành Tổ nghi Huệ đế trốn ra nước ngoài nên làm ra đoàn tầu Trịnh Hòa, để đi kiếm. Điều này nói lên sự tranh quyền, giữ quyền ở Tàu rất là khủng khiếp, cũng chẳng khác nào như thời Tập cận Bình hiện nay. Vì nhiều lý do, trong đó có lý do là sau khi Minh thành Tổ chết, việc tìm kiếm Huệ đế không được đặt ra, nên ngân sách cho đoàn tàu Trịnh Hòa dần dần bị cắt giảm.
Ngày hôm nay, giới lãnh đạo cộng sản Tàu, nhắc nhiều đến Trịnh Hòa và đoàn tàu, nhất là trong khuôn khổ tranh chấp biển Đông, muốn nói lên sức mạnh hải quân của Tàu từ xưa, nhưng họ cố ý hay vô tình quên đi sự tranh quyền nội bộ nằm ngay sau lưng.
Triều đại nhà Minh chỉ thịnh lúc ban đầu, nhưng sau đó đi vào suy thoái ( 1436 – 1623), rồi bước sang chỗ diệt vong ( 1623 – 1660).
Đại tài tử Hồng Kông Lưu Đức Hòa thủ vai Khang Hy trong bộ phim Lộc Đỉnh Ký của nhà văn Kim Dung. (Phải) Vua Khang Hy đang uy hiếp Vi Tiểu Bảo do Lương Triều Vỹ đóng.
Trong thời gian suy thoái và diệt vong này, nhà Minh đã chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng cao độ: Hạm đội của Trịnh hòa không còn nữa, đó là về mặt biển, về mặt đất liền thì tăng cường tu bổ Vạn lý trường thành. Bên ngoài thì bế quan tỏa cảng, bên trong thì bài xích những chủng tộc khác qua văn hóa, giáo dục, bắt đầu bằng chủng tộc Mông, triều đại đã cai trị nước Tàu trước đó. Sau này từ  thời Mao thì kỳ thị, coi thường dân tộc Mãn, dân tộc đã đánh bại chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Minh, hay nói đúng hơn là đánh bại nhà Minh, cai trị xứ Tàu sau đó, cũng như tất cả các dân tộc khác như Hồi, Mông, Tạng.
Dân tộc Mãn Thanh là một dân tộc sống ở phía đông bắc nước Tàu.
Hai người được coi là sáng lập nền tảng cho nhà Thanh chính là Nỗ nhĩ cáp Xích, Hoàng thái Cực.
Nỗ nhĩ cáp xích (1559 – 2626), ông sinh ra trong một gia đình quí tộc Mãn châu ở vùng đông bắc nước Tàu. Theo chính sách phên dậu của nhà Minh dùng những bộ tộc làm hàng rào, phên chắn cho triều đình trung ương, gia đình ông được nhà Minh phong cho chức Đô đốc vùng Kiến châu, cha truyền con nối. Ông là người dũng cảm, được viên Tổng trấn vùng đông bắc, nhà Minh, tuyển ông vào đội cận vệ. Từ đó, nhờ can đảm, nhờ những liên hệ gia đình trước đó, cùng những liên hệ mới, ông đã qui tụ những chân tay bộ hạ của bộ tộc mình trước kia, nay bị những bộ tộc khác tiêu diệt, rồi thống nhất 8 bộ lạc Mãn, để lên làm khả hãn, như Thành cát tư Hãn của bộ tộc Mông cổ trước đó. Ông đã lập ra thể chế « Bát Kỳ «, tiêu biểu bằng 8 lá cờ, từ màu vàng, sang màu trắng, màu lam, mà người ta có thể hiểu là 8 bộ tộc, 8 vùng chiến thuật, từ Hoàng kỳ, Bạch Kỳ, Lam Kỳ v.v…Tám Kỳ này lấy những quyết định quan trọng theo cách bỏ phiếu đa số, nhất là việc kế vị ngôi vua.
Nỗ nhĩ cáp xích lên ngôi Hoàng đế năm 1616, dần dần trở  lên lớn mạnh, thống lãnh cả một vùng đông bắc, có lúc lên đến cả sáu bảy vạn quân. Năm 1619, vua Minh sai Binh bộ thị lang Dương Cảo, lãnh 16 vạn quân, thẳng tiến phía đông bắc nhằm tiêu diệt ông, gồm 4 cánh quân : tây lộ, bắc lộ, đông lộ và nam lộ. Bình tĩnh nhận định tình hình, phân tích sự việc, phân tích từng cánh quân của địch, ông đã cho quân Bát kỳ, chỉ có 6 vạn, nhanh chóng chiếm bờ sông Tát nhĩ Hử, chờ cánh quân chủ lực Tây lộ của quân Minh tới. Quả như điều ông tiên đoán, trong trận này ông đã phá tan quân chủ lực của nhà Minh. Những cánh quân tiếp đến, ông tiêu diệt từng cánh một.
Ông chết vào năm 1626, nhưng người ta có thể nói là ông đã gây dựng tất cả những nền móng, để nhà Thanh đánh vào trung nguyên, lập nên nghiệp lớn cho con cháu ông sau này.
Người kế thừa ông là Hoàng thái Cực (1592 – 1643), người con thứ 8 của ông. Ông kế thừa sự nghiệp và chí lớn của cha, chủ trương học hỏi tinh thần dũng mãnh, chiến lược hành quân thần tốc của người Mông cổ, sự uyên bác của người Tàu, nên các vị vua kế nghiệp ông về sau rất thông hiểu văn hóa Trung hoa. Ông cũng nhất quyết đánh xuống trung nguyên, kết thúc chế độ nhà Minh.
Một sự kiện lịch sử nhỏ chứng tỏ sự thất bại của chính sách xây Vạn lý trường thành, bế quan tỏa cảng của triều Minh : Ngày 27/10/1629, Hoàng thái Cực xuất binh, vòng qua thành tuyến Liêu đông, đốt phá Vạn lý trường thành, ở phía tây bắc, vòng đến Hà bắc, tiến vào đốt phá thành Bắc kinh.
Nước Tàu ngày hôm nay, Tập cận Bình có xây bao nhiêu bức tường lửa ( Fire wall) đi chăng nữa, cũng không thể nào cấm được những nguồn thông tin trung thực, những luồng tư tưởng Tự Do, Nhân Bản từ bên ngoài. Sẽ có ngày không xa người dân Tàu sẽ  nổi dậy giành lại quyền sống, lật đổ  chế  độ  cộng sản, như ngày xưa người Mãn đã phá Vạn lý trường thành và lật đổ nhà Minh.
Khang Hy là ông vua thứ nhì đời nhà Thanh, sau khi nhà Thanh chiếm được toàn cõi nước Tàu, được coi là một trong 10 vị Đại Hoàng đế của Tàu. Ông không những tỏ ra thao lược về chính trị và quân sự, mà ông còn giỏi cả về văn hóa, nghệ thuật. Chỉ cần người ta nói đến Tự điển Khang Hy, được làm ra thời ông, bằng Hán văn, gồm 47 035 chữ, hay người ta nói đến đồ gốm Khang hy, vừa đẹp về sắc gốm, vừa đẹp về hình tượng vẽ ở trên, cũng đủ chứng minh ông là một vị hoàng đế lớn.
Tuy nhiên cũng như nhà Minh, chỉ có ba bốn vị vua đầu thì khá, nhưng sau đó thì đi vào thoái trào.
Người ta có thể nói giống như nhà Minh, nhà Thanh đi từ chỗ suy thế (1795 – 1850), rồi tới thế diệt vong ( 1850 – 1911).
Thời nhà Minh, khi quân Minh bị Lê Lợi đánh đuổi về Tàu năm 1427, thì liền sau đó là tới thời suy thoái, bắt đầu vào năm 1436.
Với nhà Thanh, sau khi quân nhà Thanh bị Nguyễn Huệ đánh bại ở Việt Nam, năm 1789, thì nhà Thanh cũng bước vào thời kỳ suy thoái.
Thời kỳ suy thoái của nhà Thanh có thể nói là bắt đầu vào cuối đời vua Càn Long, cầm quyền 60 năm từ năm 1735 đến 1795.
Càn long vào cuối đời, có thể vì một phần già yếu, không lo triều chính như lúc còn trẻ, thêm vào đó, lại tiêu xài hoang phí, qua những cuộc du ngoạn phương nam, rất tốn kém. Bên cạnh là Tể tướng Hòa Thân, một con người tham nhũng khét tiếng; có người nói, tài sản của họ Hòa hơn cả ngân khố quốc gia.
Điều này làm chúng ta liên tưởng đến chế độ cộng sản hiện nay của Tập cận Bình: tham nhũng từ trên xuống dưới, không chỉ thủ tướng mà cả cựu và đương kim tổng bí thư, xuống đến tận hang cùng ngõ hẻm, đến một anh cán bộ đảng tầm thường cấp xã. Vào thời Càn Long, còn có những ông quan liêm khiết, chính trực, vì còn trọng Nho giáo, Khổng giáo, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu.
Ngày hôm nay tại Tàu, sau khi chạy theo lý thuyết Mác – Lê, theo duy vật chủ nghĩa, vứt bỏ mọi giá trị tốt đẹp cổ truyền, lại thực hiện lời dạy của Đặng tiểu Bình: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết. Chỉ cần là mèo biết bắt chuột. », từ dân cho chí quan, chạy theo vật chất, không còn chút liêm sỉ, làm giàu, bằng bất cứ thủ đoạn, phương tiện gì, ngay cả giết người, lừa đảo, dối trá.
Thời kỳ diệt vong của chế độ nhà Thanh bắt đầu từ 1850, khi ông vua Hàm Phong, chồng bà Từ Hy, lên ngôi năm 1850 cho tới cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.
Nguyên sự kiện ông vua này chán nản trước tình hình, vận nước, bị liệt cường xâu xé, như chúng ta lấy sự kiện Hồng kông đang nổi tiếng qua những cuộc biểu tinh của sinh viên học sinh hiện này. Vùng đất này bị nhượng cho nước Anh trước đó 8 năm, 1842, rồi tới chiến tranh Nha Phiến, Liệt cường xâu xé. Ông đã cùng một thái giám, ban đêm thường lẻn ra khỏi thành, chơi bời nơi tửu điếm, lầu xanh đến nỗi bị mắc bệnh giang mai, rồi chết sớm.
Con của ông với bà Từ Hy, lên ngôi tức vua Đồng Trị, do 2 người Thái hậu nhiếp chính, Đông cung tức bà Từ An, Tây cung tức bà Từ Hy. Sau đó Từ Hy tìm cách vu khống Từ An, loại bà này, nắm toàn quyền nhiếp chính. Từ đây, nước Tàu đời nhà Thanh quả đi vào thời kỳ diệt vong : không những ngoại loạn, mà còn nội ưu. Sau vua Đồng Trị là vua Quang Tự, người cháu, con người em gái của bà, nhưng bà Từ Hy vẫn toàn quyền nhiếp chính. Ông vua này đã chống đối bà, chủ trương cải cách mạnh cùng với một số trí thức cải cách lúc bấy giờ, như Khang hữu Vi, Lương khải Siêu, cùng một người thầy của vua Quang Tự, ông Đồng Hòa, quyết định biến pháp, năm 1898 : ban hành hiến pháp và nhiều luật lệ mới, để canh tân nước Tàu theo gương nước Nhật và nước Nga. Tuy nhiên cuộc biến pháp này chỉ kéo dài 100 ngày rồi bà Từ Hy trở lại dẹp tan, mặc dầu vậy vua Quang tự vẫn ngồi vì cho tới khi chết năm 1908, rồi bà chết theo. Vua Phổ Nghi lên, ba năm sau, thì có cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chấm dứt triều đại nhà Thành.
Cuối đời nhà Thanh, với bà Từ Hy và phe Triều đình bảo thủ, cũng cố dựng lên những bức tường để ngăn chặn tư tưởng tự do từ bên ngoài, nhưng phòng tuyến đã bị chọc thủng qua nhân vật vua Quang Tự, ngay trong triều, để đi đến chỗ xụp đổ.
Chúng ta thấy 2 chính sách bế quan tỏa cảng của 2 triều đại cuối, nhà Minh, nhà Thanh đều thất bại, hoặc vì nội loạn ngoại ưu, hay ngoại loạn nội ưu.
Thời suy thoái và thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản Tàu
Trở về với nước Tàu hiện nay có người hỏi đâu là thời suy thoái và đâu là thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản ?
Đây là câu hỏi khó trả lời vì chế độ cộng sản chưa chấm dứt. Tuy nhiên một cách ước đoán, chúng ta có thể nói:
 Biểu tình Thiên An Môn 1989 có lúc lên tới cả triệu người theo Wikipia. (Dưới) Sinh viên thực hiện biểu tượng cho Tự Do – Dân Chủ ngay tại quảng trường.
 
 
Hình ảnh lịch sử nổi bật, quan trọng của thế kỷ 20:  Cảnh 1 sinh viên đứng cản trước xe tăng đang tiến vào Thiên An Môn yêu cầu đoàn xe quay trở lại,  không đàn áp nhân dân với phong trào hợp lý yêu cầu cải cách, dân chủ cho đất nước.  Link: Người biểu tình vô danhWikipidea.
 
Thời kỳ suy thoái của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 1989 tới 2014, với sự đàn áp dân, sinh viên và học sinh bằng xe tăng và súng. Chắc chắn có nhiều người khó chấp nhận  với nhận định này vì nhìn vào bề ngoài và thực tế thì nền kinh tế Tàu trong giai đoạn này đã tăng trưởng một cách dài hạn và vượt bực, đã đưa tổng sản lượng quốc gia của nước Tầu lên hàng nhất nhì thế giới. Nhưng theo như câu nói của Chu Dung Cơ, cựu thủ tướng dưới thời Giang Trạch Dân, thì nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có đôi chân bằng đất sét. Sau biến cố Thiên an môn, những thành tựu ban đầu do chính sách tương đối cởi mở về tư tưởng và chính trị dưới thời Hồ diệu Bang và Triệu tử Dương, nhằm đưa nước Tàu trên con đường phát triển ổn định và quân bình đã bị hủy bỏ và hoàn toàn đi ngược lại. Vì vậy, mặc dù nước Tàu đạt được một số thành quả ngoạn mục về kinh tế qua chính sách « Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa «, nói nôm na dễ hiểu là chính sách kinh tế tư bản rừng rú kiểu mèo trắng mèo đen của Đặng tiểu Bình, kiếm tiền, làm giầu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn và hậu quả. Đằng sau những cao ốc chọc trời, xa lộ thêng thang, xe lửa cao tốc là những bất công chồng chất trong một xã hội bất ổn, vô đạo đức, vô nhân tâm, người người giết nhau như bầy thú chỉ vì chút ít tiền hay tranh giành địa vị. Ngoài ra những vấn nạn: mâu thuẫn chủng tộc, Tạng, Hồi, Mông, Mãn, Hán, ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, thực phẩm độc hại đang giết hại lần mòn hàng tỷ dân Tàu. Đúng như lời ông François Mittérand, Tổng thống Pháp lúc bấy giờ, đã bình luận về vụ đàn áp Thiên an môn 1989:« Một chính quyền dùng súng bắn vào dân, học sinh, sinh viên là một chính quyền dùng súng bắn vào tương lai của mình. » Ngọn lửa Thiên an Môn vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân, trong tâm khảm của hàng triệu thanh thiếu niên, trong lòng của nhửng người mẹ, người cha, chỉ chờ một biến cố nhỏ là có thể bùng cháy kết thúc một chế độ gian xảo, cực ác trong lịch sử nhân loại.
Thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 2014, khi xẩy ra vụ Bạc Hy Lai, bị bắt và bị đưa ra tòa, bề ngoài là vì tham nhũng, nhưng theo tin tức đáng tin cậy, thì là âm mưu đảo chính Tập cận Bình, rồi liền sau đó có những vụ ám sát nhưng không thành, khiến cho Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội, cùng một số tướng lãnh bị khai trừ khỏi Đảng. Rồi Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba trong Đảng, bị tuyên bố điều tra.
Nhưng thời kỳ diệt vong này kéo dài bao lâu, người ta chưa thể biết.
Cần lưu ý một điều là chế độ cộng sản, khác với 2 chế độ vừa kể, không chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng lúc ban đầu từ năm 1949, khi họ cướp được chính quyền, mà phải nói là từ ngày thành lập năm 1921, đảng cộng sản Tàu đã chủ trương mở cửa, đón nhận những tư tưởng nước ngoài. Nhưng có một điều không may mắn, đáng buồn cho dân tộc và nước Tàu, đó là giới lãnh đạo này chưa đủ trình độ trí thức để biết rõ đâu là cái hay cái đở của văn hóa, văn minh đông phương, đâu là cái hay cái dở của văn hóa, văn minh tây phương, vội vứt bỏ toàn bộ văn hóa đông phương, kiểu như Mao trạch Đông tuyên bố: «  Khổng tử là con chó giữ nhà cho bọn phong kiến «, vội nhập cảng lý thuyết Marx, Lenin, cặn bã của văn hóa tây phương.
Giới sĩ phu, trí thức cộng sản Tàu và Việt Nam nên suy ngẫm điều này! (1)
Trở về chính sách cải cách của Tập cận Bình, được che dấu dưới những mỹ từ, nào là chống tham nhũng, lấy lại niềm tin của dân, thực hiện giấc mơ Trung quốc; nhưng bản chất thực là sự đấm đá nội bộ, tranh quyền, trở về chính sách bế quan tỏa cảng, kiểm soát những nhà đối lập mạnh mẽ hơn, cấm dân phát biểu tự do, kiểm sóat dân truy cập Internet v.v…, đây cũng là bắt đầu thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản, như một số người đưa ra giả thuyết này.
Người dân Hồng Kông thắp nến tưởng niệm Thiên An Môn làm Bắc Kinh nhức nhối, khó chịu.
Nhưng đâu là chỉ dấu của sự diệt vong ?
Chỉ dấu đầu là sự thanh trừng nội bộ một sống một còn, khi Tập cận Bình tuyên bố: « Tôi không màng đến sự sống chết, tôi không lưu tâm đến việc tiếng tăm của tôi còn hay mất, tôi quyết tâm chống tham nhũng. »
Chỉ dấu thứ nhì là sự nổi dậy của dân Hồng kông. Tất nhiên Hồng Kông không đòi độc lập, nhưng sớm muộn, dân Hồng Kông sẽ đòi tự do, dân chủ, dân cử và dân bầu, chứ không phải là đảng cử dân bầu. Một khi ước vọng này được thực hiện, thì nó sẽ là một vết dầu loang, loang ra những vùng lân cận, như Tây Tạng, Tân cương, Quảng Đông, Quảng tây và tới ngay cả Bắc Kinh.
Đến lúc đó, chế độ cộng sản còn đứng vững không ? Đảng cộng sản Tàu còn tồn tại không ?
Câu trả lời là chế độ cộng sản rất khó tồn tại và đứng vững. Nhưng đó cũng chỉ là dự đoán tương lai. Chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi.
Paris ngày 14/11/2 014
 Chu chi Nam và Vũ văn Lâm
(1)  Xin xem thêm những bài về Tàu và Tập cận Bình, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Vấn đề ngày càng sáng tỏ về vấn đề chủ quyền tại Biển Đông

Friday, July 24th, 2015

02.07.2011
Lữ Giang

Các tài liệu được công bố từ trong nước, hoặc bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Anh, trong thời gian gần đây cho thấy trong một năm trở lại đây, các chuyên gia ở Việt Nam đã càng ngày càng nhận ra được những điểm then chốt trong vấn đề Biển Đông, bỏ cách nhìn và phương thức phản chứng cũ, đi theo cách nhìn mới và phương thức phản chứng mới phù hợp với luật pháp và tập tục quốc tế hơn để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, trong khi đó các nhà tranh đấu ở trong nước và đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại vì không bắt kịp thời thế, vẫn có cách nhìn cũ và đi theo con đường cũ.
Cuộc hội thảo được tổ chức tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington trong hai ngày ngày 20 và 21.6.2011 đã đưa ra ánh sáng thực chất của cuộc tranh chấp về Biển Đông hiện nay và cho Trung Quốc cũng như thế giới thấy giải pháp phải đi tới. Đây là một vấn đề rất phức tạp, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng trình bày đơn giản để độc giả có thể nắm bắt được.

LỊCH SỬ KHÔNG LIÊN QUAN GÌ CẢ!

Trước tiên, Trung Quốc đã dùng “lịch sử” để chứng minh các hòn đảo nằm trên Biển Đông là của Trung Quốc, sau đó họ lại dùng “lịch sử” để chứng minh cả Biển Đông nằm trong vùng “đường lưỡi bò” là đất nước của họ.

Phủ Lục Tạp Biên của Lê Quí Đôn năm 1776 cho biết Chúa Nguyễn đã cho lập đội Hoàng Sa đi kiểm hải vật trên quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Chí của Việt Nam ấn hành năm 1908 cho biết vua Gia Long (1802 – 1819) đã thiết lập đội Hoàng Sa để kiểm soát và triển khai quần đảo này. Nhưng trong bài thuyết trình vào sáng 20.6.2011, giáo sư Tô Hảo (Su Hao), Phó giám đốc trung tâm nghiên cứu quốc tế thuộc trường Đại Học Ngoại Giao Trung Quốc, lại nói rằng Trung Quốc đã có chủ quyền về lịch sử không chối cãi đối với Biển Đông từ 2000 năm về trước. Từ đời nhà Tống cách đây vài trăm năm, Trung Quốc đã có một cơ quan phụ trách hành chính về khu vực này và đã có đội tàu đi tuần trên biển.

Những cuộc tranh cãi căn cứ vào “lịch sử” theo kiểu này đã kéo dàihơn nữa thế kỷ và có thể còn kéo dài vô tận, nhưng sau khi giáo sư Tô Hảo thuyết trình xong, ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN đã lên tiếng như sau:

“Tôi không cho rằng Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền”.

Giáo sư Peter Dutton thuộc Đại học Hải quân Hoa Kỳ cũng có quan điểm tương tự:

“Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan gì cả, mà phải tuân theo UNCLOS.”

Giáo sư Dutton đã nhấn mạnh rằng việc dùng lịch sử để giải thích chủ quyền làm xói mòn các quy tắc của UNCLOS.

Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia nói rằng việc học giả Trung Quốc sử dụng “di sản lịch sử” để giải thích về tuyên bố chủ quyền một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lý theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này.

Những lời tuyên bố này không phải chỉ nói lên những sai lầm của Trung Quốc mà của cả Việt Nam trong nỗ lực dùng tài liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền trên Biển Đông: “Ai chiếm trước, người đó có chủ quyền”!

Hiện nay. Trung Quốc đang theo đuổi chủ thuyết “vùng biển lịch sử” để xác định vùng nằm trong khu vực “đường lưởi bò” là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Chủ thuyết này đang bị phản ứng mạnh mẽ, Trung Quốc tạm thời quay trở lại chủ trương Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc theo lịch sử.

VẤN ĐỀ THỤ ĐẮC CÁC HOANG ĐẢO

Vấn đề thụ đắc chủ quyền đối với các hoang đảo trên biển là vấn đề thuộc quốc tế công pháp và khá phức tạp.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 15, phong trào đi tìm thuộc địa của các quốc gia Tây phương bùng nổ mạnh, khởi đầu là Bồ Đào Nha, rồiđến Tây Ban Nha, Anh, Pháp, v.v. Đến năm 1922, thuộc địa Anh chiếm 1/4 tổng số diện tích toàn cầu với khoảng 1/8 dân số thế giới. Pháp là nước đứng thứ hai. Dĩ nhiên, trong cuộc chính phục thế giới này, vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường xẩy ra, trong đó có vấn đề tranh chấp các hoang đảo, thường được gọi là các đảo vô chủ (ownerless islands).

Để giải quyết tranh chấp về các hoang đảo trên biển, các nguyên tắc về chấp hữu đât vô chủ (possession of ownerless vacant land) ở trong dân luật của các quốc gia theo hệ thống Roman Law đã được đem áp dụng. Các nguyên tắc này được tìm thấy dễ dàng trong các bộ dân luật Pháp và dân luật VNCH trước đây.

Nói một cách tổng quát, học lý, tục lệ và án lệ quốc tế chỉ công nhận quyền sở hữu của một quốc gia về một đảo vô chủ trên biển khi sự chấp hữu (possession) hội đủ những điều điều kiện sau đây:

(1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch (publique, non équivoque).

(2) Sự chấp hữu phải hoà bình (paisible), tức không có sự đối kháng của người khác.

(3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn (continue et non interrompue).

(4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ (à titre de propriétaire). Nếu chỉ chấp hữu để làm một đài quan sát hay một nơi tạm trú, chứ không muốn làm chủ thì không được chấp nhận.

Như chúng ta đã biết, các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là đảo đá (rocky islands) hay đảo đá ngầm (reefs), không thể có sự sống bình thường, nên cả Trung Hoa lẫn Việt Nam khó đáp ứng điều kiện thứ ba là đã chấp hữu một cách liên tục và không gián đoạn. Vì thế, khi Giáo sư Tô Hảo cho rằng Trung Quốc đã chấp hữu hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa cách đây 2000 năm, bà Bà Caitlyn L. Antrim, Phó Đại Diện Hoa Kỳ trong Hội Đồng LHQ về Luật Biển đã nói:

“Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái gì trong đường lưỡi bò đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, thì câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu.”

Nói cách khác bà Antrim muốn lưu ý Trung Quốc rằng dù Trung Quốc có chấp hữu các đảo trong đường lưỡi bò 500 trước, nhưng sự chấp hữu đó không liên tục, bị gián đoạn, thì không thể được coi như đã thụ đắc chủ quyền trên các đảo đó.

Điều kiện thứ hai là phải sự chấp hữu hoà bình, không có ai phản kháng. Nếu theo điều kiện này thì cả Trung Quốc lẫn Việt Nam khó hội đủ vì khi bên này chấp hữu, bên kia đã phản kháng ngay.

Năm 1887, khi thảo luận về hiệp ước vịnh Bắc Bộ, Trung Quốc yêu cầu thảo luận luôn về Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng Pháp gạt đi, nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Vì có sự phản kháng của Trung Quốc, sự chấp hữu của Pháp và Việt Nam không thể được coi là hoà bình.

Trong thực tế, sự chấp hữu có khi còn tiến hành bằng bạo lực, như trường hợp Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974 và 6 đảo ở Trường Sa năm 1988 (sát hại 74 người).

CHỦ THUYẾT “VÙNG BIỂN LỊCH SỬ”

“Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đưa ra hiện nay lúc đầu là do chủ trương của chính phủ Tưởng Giới Thạch. Tháng 1 năm 1948, Bộ Nội Vụ nước Cộng Hòa Trung Hoa chính thức công bố một bản đồ có tên “Nanhai zhudao weizhi tu” (Bản đồ các đảo trên Nam Hải), trên bản đồ này có xuất hiện một đường hình chữ “U”. Đó là một đường đứt khúc gồm 11 đoạn, bao gồm cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa).

Tuy nhiên, theo bản đồ do chính phủ CHNDTQ của Mao Trạch Đông công bố năm 1953, đường này chỉ còn lại 9 đoạn. Hai đoạn đứt khúc đã bị hủy bỏ, một đoạn nằm giữa đảo Hải Nam và bờ biển VN trong vịnh Bắc Bộ, và một đoạn nằm giữa Đài Loan và các đảo Lưu Cầu (Ryukyu) của Nhật Bản. Đường này được vẽ sát vào bờ của các quốc gia ở quanh Biển Đông như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines, bao gồm 80% Biển Đông và thường được gọi là “đường chữ U” (U shaped line), “đường đứt đoạn” (dotted line) hay “đường lưỡi bò”.

Ngày 7.5.2009 Trung Quốc đã gởi cho Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc một công hàm phản đối việc Việt Nam nộp Báo cáo về Ranh giới thềm lục địa nới rộng của Việt Nam. Kèm theo công hàm này là một sơ đồ trên đó thể hiện đường yêu sách 9 đoạn trên Biển Đông như đã nói trên. Công hàm nói rõ:

“Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển nam Trung Hoa (tức biển Đông – TN) và các vùng nước kế cận, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất đáy biển ở đó (xem sơ đồ kèm theo)”.

Dựa vào đâu Trung Quốc đã coi 80% Biển Đông là của Trung Quốc?

Trung Quốc quan niệm rằng vùng nước được con đường chữ U bao bọc được coi là “vùng nước lịch sử” theo chế độ nội thủy của Trung Quốc, theo đó tất cả các đảo, đá, bãi ngầm, vùng nước nằm trong con đường đó đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nói cách khác, Trung Quốc coi Biển Đông chỉ là vùng ao hồ của Trung Quốc.

Quan niệm “vùng nước lịch sử” (historic water) này lấy ở đâu ra? Trong luật quốc tế về biển năm 1958 cũng như năm 1982 không hề nói đến “vùng nước lịch sử”. Người ta chỉ tìm thấy nó trong phán quyết ngày 18.12.1951 của Toà Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) xét xử vụ tranh chấp giữa Anh và Na Uy về vùng đánh cá. Trong phán quyết này tòa đã nói đến “quyền sử hữu lịch sử” (historic title).

Hội Nghị LHQ về Luật Biển ngày 27.4.1958 đã ra nghị quyết yêu cầu Đại Hội Đồng LHQ cho nghiên cứu về “chế độ pháp lý của vùng nước lịch sử” (the juridical regime of historic waters), kể cả các “vịnh lịch sử” (historic bays).

Theo Niên giám của Uỷ Ban Luật Quốc Tế năm 1962, Vol. 11, khái niệm “vùng nước lịch sử” “có gốc trong thực tế lịch sử mà các quốc gia thông qua các thế hệ khẳng định và duy trì chủ quyền trên vùng biển mà họ coi là quan trọng đối với họ, không chú ý nhiều đến ý kiến khác nhau và thay đổi về những gì mà luật pháp quốc tế nói chung có thể quy định liên quan đến việc phân định lãnh hải”.

Nói một cách vắn tắt, “vùng nước lịch sử” là vùng biển mà một quốc gia đã chấp hữu qua nhiều thế hệ và trở thành vùng sống còn của quốc gia đó.

Trong các cuộc họp về dự thảo Công Ước LHQ về Luật Biển từ năm 1973 đến năm 1982, Colombia đã yêu cầu đưa “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào dự thảo công ước, nhưng LHQ không xét. Cuối cùng, Ủy Ban Luật Quốc Tế của LHQ đã quyết định không đưa chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào Công Ước LHQ về Luật Biển năm 1982, có lẽ vì các lý do sau đây: Chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” rất mơ hồ và có thể đưa tới những tranh chấp chính trị. Luật Biển mới đã ấn định lãnh hãi rộng đến 12 hải lý (thay vì 3 hải lý như cũ) và vùng khai thác kinh tế đến 200 hải lý, nên chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” không cần thiết nữa.

Nay Trung Quốc đi lượm lại một chế độ pháp lý về luật biển đã bị Công Ước LHQ về Luật Biển 1982 loại bỏ để xác định chủ quyền của họ trên Biển Đông. Nhưng Trung Quốc cũng không xác định được sự chấp hữu liên tục, không gián đoạn và yên ổn của Trung Quốc trên Biển Đông trong lịch sử, không xác định được ngay cả tọa độ chính xác từng đoạn của “đường lưỡi bò”.

Vã lại, ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước CHNDTQ đã đưa ra bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc là 12 hải lý, bao gồm cả đất liền và các đảo ngoài khơi. Khi tuyên bố như vậy Trung Quốc đã thừa nhận Biển Đông thuộc về nhiều quốc gia và là biển quốc tế. Nay Trung Quốc lại đưa ra “đường lưỡi bò”, coi Biển Đông như ao hồ của mình, tức là tự mâu thuẫn.

Dĩ nhiên, Đài Loan ủng hộ tuyên bố về “đường lưỡi bò” do Trung Quốc đưa ra vì chủ trương đó do chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa ra từ năm 1948, và khác với một số người Việt chống cộng ở hải ngoại, Đài Loan vẫn coi Trung Quốc là tổ quốc của mình, mặc dầu đang do Cộng Sản cai trị.

GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ

Nhiều người đã đặt câu hỏi tại sao không đưa vấn đề Biển Đông ra trước LHQ hay Tòa Án Quốc Tế? Câu trả lời là rất khó thực hiện được. Tại Hội Đồng Bảo An LHQ, Trung Quốc có quyền phủ quyết nên khó có thể thông qua nghị quyết nào trái với ý của họ.

Pháp Viện Quốc Tế (International Court of Justice) có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế, nhưng muốn đưa ra trước pháp viện này, hai bên phải cam kết thi hành phán quyết của toà. Nếu Trung Quốc không chịu cam kết, toà không xử được. Toà Án Quốc Tế về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea) cũng qui định rằng các bên tranh chấp phải đồng ý đưa nội vụ ra toà, tòa mới xử được.

Vã lại, dù có tranh tụng, Việt Nam chưa chắc đã thắng, vì cả Việt Nam lẫn Trung Quốc rất khó chứng minh được quyền sở hữu chấp hữu (possessory title) về một số đảo đá trên Biển Đông theo đúng các tiêu chuẩn luật định. Trong cuộc hội thảo về Biển Đông tại Washington vừa qua, phóng viên Việt Hà của đài RFA đã hỏi Đại diện Việt Nam là luật sư Nguyễn Duy Chiến, cộng tác viên của Học viện quốc tế, về vấn đề này, ông đã trả lời:

“Đấy là cái đánh giá của mình, mình có nhiều chứng cứ như vậy, nhưng còn cái ra tòa án thế nào thì còn tùy thuộc vào các thẩm phán họ quyết định”.

Để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, hôm 4.11.2001, các quốc gia thuộc khối ASEAN đã ký một bản Tuyên Bố về Ứng Xử của Các Bên ở Biển Đông (Declaration o­n the Conduct of Parties in the South China Sea – gọi tắt là DOC) cam kết tôn trọng luật pháp quốc tế và các hiệp ước đã ký kết, giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và quyền hạn bằng các phương tiện hòa bình. Trung Quốc đã ký kết nhưng sau đó lại không tuân theo.

Tiếp pheo, các nước ASEAN đã soạn thảo xong Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông (Code of Conduct in the South China Sea – gọi tắt là COC), nhưng Trung Quốc không chịu thông qua.

Ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN cho biết những nỗ lực mà ASEAN đã làm nhằm đưa ra tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông thành một bản quy tắc có tính ràng buộc nhưng cả 20 lần đề nghị đều bị Trung Quốc từ chối. Hiện ASEAN đang đưa ra đề nghị thứ 21 liên quan đến vấn đề này.

Năm 2011, Trung Quốc đã tiến lên hàng thứ hai sau Mỹ về phát triển kinh tế, về chi phí quốc phòng, về tiêu thụ dầu lửa, v.v., nên Trung Quốc cũng muốn bắt chước Mỹ, “biểu dương khí thế” của Trung Quốc. Mỹ và NATO đã tấn công Iraq và Libya để giành quyền khai thác dầu lửa, cạnh tranh với Trung Quốc, tại sao Trung Quốc không dùng sức mạnh của mình để giàng quyền khai thác dầu lửa ở Biển Đông? Nhưng Trung Quốc đã đi quá sớm, vì sức mạnh hải quân Trung Quốc còn thua Mỹ đến 20 năm.

MÓN NỢ CỦA VIỆT NAM

Trong cuộc hội thảo tại Washington, ông Tô Hảo, học giả của Trung Quốc, đã nói rằng “trong hệ thống luật quốc tế có một nguyên tắc là nếu một nước đã có tuyên bố về chủ quyền và một số nước đã chấp nhận tuyên bố này. Tuy nhiên rất tiếc là hiện có một số nước đã thay đổi quan điểm của mình”.

Lời tuyên bố này đặc biệt ám chỉ Việt Nam.

Năm 1958, một bản hoà tấu đã được thực hiện: Ngày 4.9.1958, Bắc Kinh chính thức tuyên bố hải phận của họ bao gồm 12 hải lý từ bất kỳ mốc lãnh thổ nào của Trung Quốc, trong đó tính gồm cả các đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa và các đảo khác thuộc về Trung Quốc. Hà Nội hợp tấu ngay: Ngày 14.9.1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gởi công hàm công nhận tuyên bố nói trên của Bắc Kinh.

Về pháp lý, chúng ta có thể coi lời tuyên bố của Thủ Tướng Đồng là không có giá trị vì lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về VNCH. Hơn nữa, theo hiến pháp 1956, mọi quyết định liên quan đến lãnh thổ đều phải có sự phê chuẩn của quốc hội, công hàm của Thủ Tướng Đồng không hội đủ điều kiện đó.

Nhưng về phương diện khác, có thể coi công hàm của Thủ Tướng Đồng như một lời hứa bán. Lúc đó, nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” được áp dụng, tức hứa bán có giá trị như bán, khi hai điều kiện sau đây hội đủ: (1) Vật hứa bán đã được xác định, đó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (2) Giá bán cũng đã được thỏa thuận, đó là Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội đủ phương tiện để đánh chiếm miền Nam. Do đó, Trung Quốc có thể bắt Hà Nội phải giao nạp Hoàng Sa và Trường Sa sau khi chiếm miền Nam.

Hoa Kỳ và các cường quốc Tây phương chỉ can thiệp khi nào Trung Quốc nhất quyết dùng chế độ “quyền sở hữu lịch sử” (historic title) để chiếm Biển Đông, phương hại đến hải lộ quốc tế. Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào sự tranh chấp về “quyền sở hữu chấp hữu” (possessory title) các đảo trên Biển Đông. Vậy Hà Nội chỉ còn có thể trông chờ vào “Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông” mà ASEAN chờ thông qua. Biểu tình, tuyên ngôn, tuyên cáo, kháng thư, hịch tướng sĩ… chẳng có ảnh hưởng gì.

Ngày 28.6.2011

Lữ Giang

Bắc Kinh vẫn đòi chủ quyền các đảo ở biển Ðông

Bám chặt lấy chứng cứ là bức thư của Phạm Văn Ðồng. BẮC KINH (TH) -Tuy đã đồng ý với Hà Nội là “tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước” viên chức cầm quyền Bắc Kinh vẫn đưa ra những lời tuyên bố ngang ngược.

Theo Tân Hoa Xã hôm Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011, Dương Nghị, phát ngôn viên của Ðài Loan Vụ thuộc Quốc Vụ Viện (chính phủ) Trung Quốc tuyên bố rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo và các vùng nước chung quanh trên biển Nam Hải mà Việt Nam gọi là biển Ðông.

Dương Nghị nói như vậy khi bình luận sau lời phát biểu của lãnh tụ Ðài Loan Mã Anh Cửu kêu gọi một giải pháp hòa bình cho sự tranh chấp giữa Hoa Lục và Ðài Loan.

Bản tin Tân Hoa Xã nói trên kế tiếp theo bản tin cũng của Tân Hoa Xã ngày hôm qua không những cùng một luận điệu đó mà còn lôi ra bức thư của Thủ Tướng CSVN Phạm Văn Ðồng gửi Tổng Lý (thủ tướng) Trung Quốc Chu Ân Lai công nhận lập trường của Hà Nội tôn trọng hải phận 12 hải lý mà Bắc Kinh tuyên bố.

Bức thư thời đó của ông Phạm Văn Ðồng đã được Bắc Kinh bám chặt lấy, lập đi lập lại công khai suốt nhiều năm qua để cột Hà Nội vào trong các cuộc thương thuyết cũng như tranh luận hay tranh chấp. Bức thư nguyên văn như sau:

“Thưa đồng chí Tổng Lý,

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.

“Chúng tôi xin kính gởi đồng chí Tổng Lý lời chào rất trân trọng.

“Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958”

(Ký tên Phạm Văn Ðồng, chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – đóng dấu)

Bức thư này không nói gì đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng Bắc Kinh lại coi như hàm ngụ công nhận chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để đòi hỏi tôn trọng chủ quyền của họ.

Bản tin Tân Hoa Xã coi bức thư của ông Phạm Văn Ðồng là “văn kiện lịch sử” (historical record) làm căn bản cho họ đối phó với Việt Nam trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Ðông, tức coi như sự “đồng thuận” (consensus) của các lãnh tụ cấp cao giữa hai nước.

Cái chữ “đồng thuận” được diễn giải mỗi bên một khác. Phía Hà Nội không hề thấy nhắc đến bức thư trong tất cả các bản tin, bài viết trên hệ thống báo chí chính thống những năm gần đây.

Ngược thời gian, ngày 7 tháng 8 năm 1979, tức hơn nửa năm sau khi bị Trung Quốc mang đại quân sang đánh suốt 6 tỉnh biên giới, Bộ Ngoại Giao CSVN ra bản tuyên bố “Sự diễn giải của Trung Quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung Quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc.”

Bản tin Tân Hoa Xã ngày 28 tháng 6, 2011 nói: “Không có sự phản đối nào của bất cứ nước nào đối với chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực này cho đến thập niên 1970 khi các nước gồm cả Việt Nam và Phi Luật Tân tuyên bố chủ quyền một phần ở đây.” Bản tin này để lộ sự lươn lẹo cố ý của nhà cầm quyền Bắc Kinh để kêu gọi “sự đồng thuận” của Việt Nam. Chính phủ VNCH ở miền Nam thời đó và nhà cầm quyền CSVN say này luôn luôn tuyên bố chủ quyền hoàn toàn đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ không hề nhìn nhận chủ quyền một phần.

Bản tin TTXVN tường thuật chuyến đi của Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn ở Bắc Kinh ngày 25 tháng 6, 2011 không nêu ra nhưng bản tin của Tân Hoa Xã nói cả hai nước “chống lại sự can thiệp từ những thế lực bên ngoài đối với sự tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.”

Bắc Kinh muốn Hà Nội cấm dân Việt biểu tình, cấm viết bài đả kích chính sách bá quyền của Hoa Lục nhưng viên chức cầm quyền và báo chí chính thức của họ vẫn tiếp tục áp lực với Việt Nam

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958) Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc.

Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ.

Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.

(Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện)
Chú thích: Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands
Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands
Bộ Ngoại giao Trung Quốc diễn giải về Công Hàm Bán Nước
International Recognition Of China’s Sovereignty over the Nansha Islands

5. Viet Nam

a) Vice Foreign Minister Dong Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d’affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that “according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory.” Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that “judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty.”

b) Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail o­n September 6, 1958 the Chinese Government’s Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People’s Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People’s Republic of China, including all islands o­n the South China Sea. o­n September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam “recognizes and supports the Declaration of the Government of the People’s Republic of China o­n China’s territorial sea.”

c) It is stated in the lesson The People’s Republic of China of a standard Vietnamese school textbook o­n geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China


Công nhận của thế giới về chủ quyền của Trung Quốc trên
Quần đảo Trường Sa

  1. Việt Nama) Thứ trưởng ngoại giao Ðồng văn Khiêm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại Sứ Trung quốc tại Việt Nam đã nói rằng “theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”. Ông Le Doc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt nam, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng “xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống”

    b) Báo Nhân Dân của Việt Nam đã tường thuật rất chi tiết trong số xuất bản ngày 6/9/1958 về Bản Tuyên Bố ngày 4/9/1958 của Nhà nước Trung quốc, rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung quốc, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa. Ngày 14/9 cùng năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía nhà nước Việt Nam, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam “nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải”

    c) Bài học về nước CHND Trung Hoa trong giáo trình cơ bản của môn địa lý của Việt Nam xuất bản năm 1974, đã ghi nhận rằng các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Ðài Loan hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa .

    (Trích và lược dịch từ trang nhà của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc)

 

NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC BẤT AN VỀ NHỮNG THỎA THUẬN GIỮA ÐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ TRUNG CỘNG VỀ BIỂN ÐÔNG

Tin tổng hợp – Trên các trang mạng, sự thấp thỏm về chủ quyền biển đảo từ giới trí thức, sinh viên, blogger phản kháng có thể nhìn thấy rất rõ. Những ngày cuối cùng của tháng 6 bước qua đầu tháng 7, là những giây phút mà rất nhiều người nín thở chờ đợi kết quả của các vụ thương thuyết về chủ quyền Biển Ðông giữa Ðảng Cộng sản Việt Nam và Ðảng Cộng sản Trung Cộng. Ở mạng xã hội Facebook, người ta cũng nhìn thấy nhiều tuyên ngôn nêu rõ ý nghĩa này, xuất phát từ các nhóm blogger ẩn danh yêu nước như Nhật Ký Yêu Nước, Talamot, Truyền thông Liên mạng vân vân. Chẳng hạn như nhóm Talamot, ghi rõ trong hiển văn ngắn của họ là sự kiện lãnh đạo Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam thỏa thuận riêng biệt với nhau về vấn đề Biển Ðông cho người Việt cảm giác bất an, cần phải đòi hỏi sự việc này được đem ra ánh sáng dư luận.

Rõ ràng cuộc thương thuyết giữa Trung Cộng và Việt Nam là một cái nồi đang đậy nắp kín, mà chỉ có số phận một dân tộc sẽ chịu thiệt thòi là Việt Nam. Ai quan tâm đến tương lai của đất nước, đều cảm thấy phập phồng âu lo. Báo chí trong nước được lệnh hạ giọng chỉ trích Trung Cộng và và ém nhẹm những kết quả thương thuyết quan trọng. Người Việt chỉ biết đến hiện tình đất nước của mình sau khi đọc được bản tin của Tân Hoa Xã, với nội dung hết sức bí hiểm là Trung Cộng đã kêu gọi Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Ðông, vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước.

VIỆT NAM CHUẨN BỊ THÔNG QUA LUẬT BIỂN, PHÁT GIÁC VỈA DẦU MỚI VỚI LƯU LƯỢNG LỚN

Tin Hà Nội – Trong khi đó tại Việt Nam, báo chí trong nước loan tin Quốc Hội khóa 13 của Cộng sản Việt Nam đã xem xét về luật Biển và sẽ thông qua vào kỳ họp thứ 2 vào tháng 10 sắp tới. Luật này trước đó nhà nước Cộng sản Việt Nam đã lùi thời hạn trình duyệt và nêu lý do là còn một số vấn đề chưa thống nhất. Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cũng được đưa vào chương trình chuẩn bị của năm 2012.

Hôm nay cũng có tin từ Liên doanh Vietsopetro, vào ngày hôm qua khi thử khoan ở giếng khoan thăm dò số 50 ở khối sụt phía tây bắc mỏ Bạch Hổ, đã cho giòng dầu tự phun mạnh với lưu lượng 4560 thùng một ngày. Ðây là một vỉa dầu mới độc lập với các phát giác dầu khí trước đây tại vòm nâng của mỏ Bạch Hổ. Vỉa dầu sẽ góp phần gia tăng trữ lượng cũng như hoàn thành sản lượng khai thác của Vietsopetro vào năm 2011. Ðiều này lại chứng minh thêm một lần nữa là khu vực biển Ðông là nơi có một trữ lượng dầu khí rất lớn, nên đang là miếng mồi ngon cho Trung cộng để chiếm đoạt trong tham vọng bá quyền của quốc gia Cộng sản này.

Việt Nam tuyên bố trong nửa đầu năm nay, đã phải nhập cảng xăng dầu trị giá 5.5 tỉ mỹ kim, tăng gần 70% so với cùng kỳ năm ngoái với tổng cộng hơn 6 triệu tấn. Về xuất cảng, Việt Nam xuất ra gần 4 triệu tấn dầu thô, thu về 3.38 tỷ đô-la.(SBTN)
Hiện đã xuất hiện những lời kêu gọi tuổi trẻ tiếp tục xuống đường biểu tình vào chủ nhật tuần này, nhưng qua những tin tức hôm nay cho thấy Trung cộng đã ra lệnh cho đàn em Cộng sản Việt Nam phải làm mọi cách để bịt kín những dư luận phản đối, và ngăn cản những cuộc biểu tình của người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại trong những ngày tới.(SBTN)

Philippin tỏ ra thân thiện nhưng kiên quyết trong vụ giằng co với TQ về tranh chấp lãnh thổ

Các giới chức Philippin cho biết họ dự trù mở các cuộc đàm phán cấp cao với Trung Quốc trong những tháng sắp tới để duy trì quan hệ tốt đẹp, bất kể cuộc tranh luận sôi nổi trong mấy tuần qua về lãnh hải có tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Quốc.

Simone Orendain | Manila

< script language=javascript1.2>var trkcid=124852164;var partnerID=593047; var _hb=1;< /script> < script language=javascript1.2 src=”http://www.voanews.com/g/g/button/button_1.js”>< /script> < script language=JavaScript> window.onerror=function(){clickURL=document.location.href;return true;} if(!self.clickURL) clickURL=parent.location.href; < /script>

  • < script type=text/javascript>                         var addthis_config = {                               “data_track_clickback”:true,                                                             “services_exclude”: ‘print,email’,                               “ui_language”: “vi”                               };                     < /script> < script type=text/javascript src=”http://s7.addthis.com/js/250/addthis_widget.js#pubid=ra-4da5bd0c2d67348a&ui_language=vi”>< /script>
  • < script type=text/javascript src=”http://platform.twitter.com/widgets.js”>< /script>< iframe style=”WIDTH: 55px; HEIGHT: 20px” class=”twitter-share-button twitter-count-none” title=”Twitter For Websites: Tweet Button” src=”http://platform0.twitter.com/widgets/tweet_button.html?_=1309581980453&count=none&counturl=http%3A%2F%2Fwww.voanews.com%2Fvietnamese%2Fnews%2Fphilippines-south-china-sea-7-1-11-124852164.html&id=twitter_tweet_button_0&lang=en&original_referer=http%3A%2F%2Fwww.voanews.com%2Fvietnamese%2Fnews%2Fphilippines-south-china-sea-7-1-11-124852164.html&related=VOAVietnamese&text=Philippin%20t%E1%BB%8F%20ra%20th%C3%A2n%20thi%E1%BB%87n%20nh%C6%B0ng%20ki%C3%AAn%20quy%E1%BA%BFt%20trong%20v%E1%BB%A5%20gi%E1%BA%B1ng%20co%20v%E1%BB%9Bi%20TQ%20v%E1%BB%81%20tranh%20ch%E1%BA%A5p%20l%C3%A3nh%20th%E1%BB%95&url=http%3A%2F%2Fwww.voanews.com%2Fvietnamese%2Fnews%2Fphilippines-south-china-sea-7-1-11-124852164.html&via=VOAVietnamese” frameBorder=0 allowTransparency scrolling=no>< /iframe>
  • < iframe style=”BORDER-BOTTOM: medium none; BORDER-LEFT: medium none; WIDTH: 88px; HEIGHT: 21px; OVERFLOW: hidden; BORDER-TOP: medium none; BORDER-RIGHT: medium none” src=”http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http://www.voanews.com/vietnamese/news/philippines-south-china-sea-7-1-11-124852164.html&layout=button_count&locale=vi_VN&show_faces=false&action=like&colorscheme=light&height=21&width=88px” frameBorder=0 allowTransparency scrolling=no>< /iframe>

Hình: VOA – S. Orendain

Tại một cuộc họp báo với giới truyền thông nước ngoài ở Manila, Ngoại trưởng Philippin nhắc lại lập trường của Philippin ‘những gì của chúng ta là của chúng ta’

Ngoại trưởng Philippin Albert del Rosario cho biết văn phòng của ông dự định nhận lời mời đi thăm Bắc Kinh vào những tháng sắp tới như một cơ hội để tái khẳng định quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc. Ông nói cho đến nay nước ông đã ký 100 hiệp định với Trung Quốc có liên quan đến thương mại và đầu tư, quốc phòng, an ninh và giáo dục.

Ông nói: “Tôi tin rằng mối bang giao là lành mạnh và nếu có những khó khăn ở Trường Sa hay vùng biển Nam Trung Quốc hoặc Biển Tây Philippin, thì chúng ta phải loại trừ thách thức đó vào lúc này và giải quyết một cách riêng rẽ đừng để tác động có hại đến bang giao của chúng ta.”

Nhưng tại một cuộc họp báo với giới truyền thông nước ngoài ở Manila hôm nay, Ngoại trưởng Philippin nhắc lại lập trường của Philippin “những gì của chúng ta là của chúng ta”, và nói rằng công cuộc hợp tác và thăm dò chung phải thắng thế trong những khu vực có tranh chấp ở Biển Nam Trung Quốc.

Ông nói rằng kể từ hồi tháng 2, Trung Quốc đã tiến hành hơn 7 vụ xâm nhập và khu vực mà các giới chức ở Manila nay gọi là Biển Tây Philippin.

Vùng biển này chứa nhóm đảo Trường Sa được cho là có trữ lượng lớn về dầu khí. Khu vực này cũng là nơi tập tung những tuyến hàng hải quốc tế quan trọng.

Trung Quốc, Philippin, Việt  Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan đều đòi chủ quyến một phần hoặc toàn bộ Trường Sa và phần lớn những vụ xung đột đều có liên quan đến vùng đảo này.

Bắc Kinh nhấn mạnh rằng gần như toàn bộ khu vực Biển Nam Trung Hoa đều thuộc chủ quyền Trung Quốc từ nhiều thế kỷ.

Tuần trước, ông Del Rosario đã gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, người đã tái khẳng định sự cam kết của Hoa Kỳ đối với việc tôn trọng một hiệp ước quốc phòng chung đã có từ nhiều thập niên với Philippin.

Các giới chức Hoa Kỳ cho hay họ có lợi ích trong việc giữ cho các tuyến đường biển này được tự do.

Bà Clinton nói Washington vẫn trung lập trong những vụ tranh cãi về lãnh hải trong vùng Biển Nam Trung Hoa nhưng bà cũng nói Hoa Kỳ sẽ giúp Philippin có được thiết bị quân sự “với giá hợp lý.”

Chiến hạm lớn nhất của Philippin là một khu trục hạm của Hoa Kỳ đã sử dụng trong Thế chiến thứ hai. Ông del Rosario nói tân trang các thiết bị cũ rất tốn kém và phải mất nhiều thời giờ để hoàn tất. Vì thế, ông nói bộ Quốc phòng Philippin đang tính chuyện thuê các thiết bị quân sự của Hoa Kỳ.

Ngoại trưởng Philippin nói: “Mà theo tôi có thể có lợi về mặt có khả năng thủ đắc thiết bị mới hơn được giao hàng sớm hơn và dĩ nhiên với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, có được loại thiết bị ít tốn kém hơn.”

Tuy nhiên, ông del Rosario nói ông không tin rằng căng thẳng trong vùng Biển Nam Trung Hoa sẽ đi đến bất kỳ giai đoạn chiến tranh nào cần sử dụng đến vũ khí.

Hoa Kỳ lâu nay vẫn tán thành các cuộc đàm phán đa phương có liên quan đến Biển Nam Trung Hoa. Nhưng Trung Quốc nhiều lần nói với Washington nên đứng ngoài vụ tranh chấp này.

Trung Quốc tung ra ‘cuộc chiến trên bộ’ chống VN: tung tiền mua hết nông sản

 

Friday, 01 July 2011 00:40
Cali Today News – Dường như TQ nhất quyết không để cho VN được yên thân. Sau nhiều tuần quậy tưng bùng trên Biển Đông, giờ đây, TQ cho người sang VN quậy tan nát trên bộ bằng một chiến thuật khác.Thứ năm 30/6 nhiều tờ báo ở VN có nói về hiện tượng từng đoàn doanh nhân TQ sang VN vơ vét mua hàng nông sản. Hiện tượng này đã có vài năm nay, nhưng thời gian gần đây, số lượng bị “vét” lên quá cao.Chẳng những cao mà còn đều đặn và hiện nay không có dấu hiệu nào cho thấy “cơn dịch vét hàng VN” sắp chấm dứt. Hiện tượng này khiến vật giá leo thang ngay tại VN vì thiếu hàng để bán và người dân trong nước lãnh đủ.

Bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó Chủ tịch hiệp hội Hàng Xuất Cảng Thủy Hải Sản VN (VASEP), nói rằng những năm trước doanh nhân Tàu sang thu mua tôm trực tiếp từ các trại nuôi tôm của VN.

Giờ đây các “chú Ba” này ra tận “đầu hẽm”, đón các con tàu đánh cá VN từ ngoài khơi vào, tung tiền mua sạch luôn các hải sản khác. Các công ty VN thiếu hàng xuất cảng, đẩy giá mua lên cạnh tranh mà vẫn thua các “chú Ba”

Miền Trung VN bị dịch thu mua từ ‘các xì thẩu’ nặng nhất. Hậu quả là giá tôm trắng vọt lên 90,000 đông/kí lô, trong lúc năm ngoái giá mua chỉ là 57,000 đồng/kí.

Bà Sắc báo động tình trạng này sẽ ‘giết’ các công ty xuất cảng thủy hải sản của VN. Từ đầu năm 2011 đến nay đã có 147 công ty loại này ở VN đã đóng cửa vì không mua được hàng.

Bà Sắc cho là đã đến lúc chính phủ VN nên bắt chước Indonesia vì quốc gia này đã cấm xuất cảng nguyên liệu thủy hải sản kiểu đó. Bà Sắc nói ‘VN cần phải bảo vệ thị trường nội địa’.

Các “chú Ba” còn nhắm vào hồ tiêu, theo lời ông Đỗ Hà Nam, Chủ Tịch Hiệp Hội Tiêu VN (VPN) cho hay. Đã có tới 20% toàn bộ sản lượng tiêu VN bị thương lái TQ thu vét. Cao su cũng thế, có đến 70% số cao su làm ra ở VN trực chỉ thị trường TQ.

Ngoài ra còn đường cát, heo, vịt, trứng gà cũng bị vơ vét từng đống lớn. Đặc biệt vịt là sản phẩm bị chiếu cố thật mặn mà, khiến giá mỗi con tăng từ 60,000 đồng lên 120,000 đồng, tức tăng gấp đôi. Ngay cả vịt đang đẻ sai trứng cũng bị lôi đầu ra bán cho các chàng luôn miệng nói ‘hảo, hảo lớ!’

Sau “Biển Đông dậy sóng” giờ đây đến “đất bằng dậy sóng”, các ‘anh em đồng chí ta’ định chơi trò bóp bao tử dân VN, sau khi định giật đảo ngoài khơi không xong?

Trường Giang

 

Cam Ranh-Yes or No (hay là chiến tranh Trung-Mỹ)

Thursday, July 23rd, 2015
Tác Giả: Nguyễn Đình Phùng
Hoaky- taucong
Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa có thể đã và đang xảy ra, nhanh chóng hơn tất cả những tiên đoán từ trước đến nay!

Những diễn tiến dồn dập xảy đến trong khoảng thời gian gần đây cho thấy Hoa Kỳ đã sửa soạn cho một bối cảnh xung đột với Trung Hoa và có thể đã cho bắt đầu một chiến dịch để triệt hạ quốc gia đối thủ là Trung Hoa, càng ngày càng ra mặt để khiêu khích Hoa Kỳ, bất chấp hậu quả!

Cuộc chiến tranh này không bắt đầu bằng những đụng độ quân sự qui ước như những chiến tranh trước đây trong lịch sử, nhưng khởi sự bằng kinh tế và đặc biệt bằng cyberwarfare, chiến tranh vi tính!

Và những biến chuyển của tuần lễ vừa qua, đặc biệt là sự sụp đổ thị trường chứng khoán của Trung Hoa, đã đưa đến nghi vấn có phải Hoa Kỳ đã bắt đầu chiến lược triệt hạ Trung Hoa về mặt kinh tế bằng cách nhúng tay vào việc sụp đổ thị trường chứng khoán này của Trung Hoa?

Ngày thứ sáu 3 tháng 7 vừa qua, chỉ số về stock của Trung Hoa là Shangai Composite Index mất đi 5.8% đứng ở mức 3687.
So với ngày 12 tháng 6, chỉ số này đứng ở mức 5166, có nghĩa chỉ trong vòng 3 tuần lễ, stock của Trung Hoa đã mất đi 29% giá trị.

Sự sụp đổ nhanh chóng này đã làm mất đi 2.7 trillion tức 2700 tỷ Mỹ Kim giá trị của chứng khoán Trung Hoa.

Và sự mất mát này đã đổ trên đầu của hàng trăm triệu gia đình dân Tàu, mấy năm nay đã đổ xô như điên cuồng vào việc chơi stock để làm giàu nhanh chóng, nay mất hết cơ nghiệp và tài sản vì sự sụp đổ này!

Thị trường chứng khoán Shangai có 112 triệu trương mục, thị trường chứng khoán tại Shenzhen có 142 triệu trương mục. Chỉ trong mùa xuân năm 2015 mỗi thị trường đã có thêm 20 triệu accounts do dân Tàu nhảy vào chơi stock!

Khác với Hoa Kỳ, hiện nay cá nhân ít chơi stock, tại Trung Hoa 4/5 các trương mục trên thị trường chứng khoán hai nơi là của tư nhân, do dân Tàu giới trung lưu có ít tiền vốn để dành nhảy vào chơi stock kiểu đánh bạc, ăn thua đủ!

Nay với stock sụp, cả trăm triệu người mất tiền hay sạt nghiệp. Trường hợp này còn lớn lao hơn thời sụp đổ của Wall Street thập niên 30’s dẫn dắt đến tai họa Great Depression cho Hoa Kỳ và toàn cầu.

Lý do thiệt hại nặng là dân Tàu chơi stock kiểu margin rất nhiều, có nghĩa đi vay để chơi stock, chỉ cần bỏ ra 10 – 20% vốn, phần còn lại đi vay của ngân hàng hay công ty đầu tư. Khi stock lên, chơi kiểu margin này lời lớn.

Nhưng khi stock xuống, sẽ bị trường hợp gọi là margin call, khi giá trị stock xuống nhiều và nhanh, công ty đầu tư sẽ bắt châm thêm tiền vào, nếu không có, sẽ đương nhiên bị bán số stock đang có và tiền vốn bỏ ra lúc đầu sẽ mất sạch!

Như thế, chơi stock kiểu đi vay margin rất nguy hiểm và như tuần lễ vừa qua tại Thượng Hải, khi stock đã mất đi gần 1/3 giá trị, hàng trăm triệu dân Tàu chơi stock kiểu margin này mất hết, tán gia bại sản!

Trong ba tuần lễ qua, Ngân Hàng Trung Ương tại Bắc Kinh đã tìm cách cứu thị trường chứng khoán Tàu bằng cách hạ lãi xuất, giảm bớt luật lệ hạn chế.v.v., nhưng không đi đến đâu.

Các công ty lớn của Trung Hoa cũng tung tiền vào để mua stock nhằm giữ giá trị và Hiệp Hội Chứng Khoán của Trung Hoa, do chính quyền kiểm soát, cũng dự định sẽ tung tiền vào đến mức 120 tỷ nhân dân tệ hay renminbi, tương đương với 19.4 tỷ Mỹ Kim.

Nhưng con số này được coi là quá ít ỏi, khó lòng làm thị trường chứng khoán tại Thượng Hải và tại Shenzhen đứng vững được. Có thể sẽ lên được vài ngày nhưng nhiều phần sẽ tiếp tục đi xuống.

Một trong những lý do stock của Tàu xuống nhiều và nhanh như vậy vì các công ty đầu tư đổ xô vào để bán short – selling, tức vay tiền để bán stock đi. Khi giá xuống nhiều sẽ mua lại để trả cho chủ nhân và kiếm lời bằng tiền sai biệt. Với kiểu bán stock short này, các công đầu tư kiếm lợi nhiều và làm giá xuống còn nhanh hơn!

Chính quyền Tàu hiện đang la hoảng vì short selling này của các công ty đầu tư ngoại quốc, đặc biệt là của Hoa Kỳ. Công ty đầu tư của Wall Street bị vạch mặt chỉ tên là Morgan Stanley, đã dùng phương cách short selling để kiếm lời tối đa.

Nhưng câu hỏi sau hậu trường là các công ty đầu tư của Hoa Kỳ đã có sự khuyến khích hay giúp đỡ nào không của chính quyền Obama để lũng đoạn thị trường chứng khoán Trung Hoa, cũng như làm tình trạng trở nên tồi tệ hơn, gây ra sụp đổ toàn diện cho stock market của Trung Hoa?

Dĩ nhiên tình trạng thị trường chứng khoán của Trung Hoa sụp đổ là chuyện không sớm thì muộn cũng xảy ra.

Lý do là kinh tế Trung Hoa đã chậm đi nhiều, mức tăng trưởng trước kia từ 15 – 20%, nay chỉ còn 7% và năm nay 2015 sẽ còn xuống nhiều hơn. Với quả bóng địa ốc vỡ tan, khi các thành phố xây cất thành thành phố ma, các mall vĩ đại không một bóng người, các building xây cất bỏ không vì không có ai thuê, kinh tế Trung Hoa đang sụp đổ.

Nhưng chỉ vì chính quyền cộng sản tìm đủ cách để ếm nhẹm và bịp bợm các nhà đầu tư ngoại quốc, hậu quả của quả bóng địa ốc vỡ nổ chưa lan rộng lắm. Nhưng kế tiếp cho sự tan vỡ kinh tế của Trung Hoa chính là thị trường chứng khoán như việc sụp đổ trong ba tuần lễ vừa qua, chính quyền Trung Hoa không che dấu nổi!

Có thể nói thời điểm cho thị trường chứng khoán của Trung Hoa tan vỡ đã chín mùi, bắt buộc phải xảy ra kế tiếp cho quả bóng địa ốc vỡ tan.
Và các công ty đầu tư Wall Street đã đánh hơi và tính toán đúng để nhảy vào lũng đoạn và giúp cho thị trường chứng khoán Tàu sụp nhanh hơn bằng kiểu short selling!

Nhưng bàn tay của chính quyền Hoa Kỳ có thể đứng đằng sau giật dây là chuyện nhiều phần đã xảy ra!  Lý do là gần đây chính quyền Obama đã hứa hẹn là sẽ trả đũa Trung Hoa về tội dùng hacking để lấy tài liệu cá nhân của hơn 4 triệu nhân viên làm việc trong chính quyền.

Và tuy không nói ra, chính quyền Obama có thể đã dùng việc hacking vào chính các cơ sở của Trung Hoa và tại thị trường chứng khoán Thượng Hải để giúp cho thị trường stock này của Tàu sụp nhanh hơn?!!

Một khi quả bóng địa ốc vỡ tan và thị trường chứng khoán bị sụp, kinh tế sẽ đi vào suy thoái nặng nề. Trường hợp Nhật Bản thập niên 80’s đã có kinh nghiệm này và mất đến hơn 20 năm vẫn chưa ra khỏi được suy thoái.  Dĩ nhiên các chiến lược gia của Hoa Kỳ cũng hy vọng lịch sử sẽ tái diễn với Trung Hoa đi vào suy thoái nặng và mất đi tiềm năng kinh tế với việc sụp đổ vừa qua.

Trong chiến lược kinh tế tầm xa hơn, chính quyền Obama đã thành công khi cả 2 viện tại Quốc Hội đã thông qua luật để Obama thương thảo nhanh chóng cho thỏa ước mậu dịch Thái Bình Dương TPP, Trans Pacific Partnership.

Đây là đòn để triệt hạ kinh tế Trung Hoa về lâu về dài, với Hoa Kỳ và các nước Thái Bình Dương khác, trong đó có Việt Nam, trao đổi mua bán với nhau và gạt hẳn Trung Hoa ra ngoài!

Điểm quan trọng của thỏa ước mậu dịch TPP này là Hoa Kỳ đã nhắm vào Việt Nam. Lý do là trong 12 quốc gia hợp thành tổ chức mậu dịch này, quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất về mậu dịch và đầu tư là Việt Nam.

Và Hoa Kỳ đã dùng việc thông qua thoả ước mậu dịch TPP, hy vọng sẽ hoàn tất vào năm đến để tách rời Việt Nam ra khỏi quĩ đạo của Trung Hoa và thành đồng minh của Hoa Kỳ. Lý do để Hoa Kỳ mong muốn và tìm đủ cách để kéo Việt Nam từ bỏ chuyện đi hàng đôi và trở thành đồng minh với Hoa Kỳ nằm trong hai chữ: Cam Ranh!

Trong chiến lược kiềm tỏa Trung Hoa về mặt quân sự, vị thế đặc biệt của Cam Ranh nắm giữ tầm quan trọng bậc nhất với Ngũ Giác Đài. Phi Luật Tân đã mong muốn Hoa Kỳ trở lại Subic Bay tái lập căn cứ quân sự tại đây, nhưng Subic Bay không thể sánh với Cam Ranh về vị thế chiến lược hàng đầu được.

Một căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Cam Ranh sẽ trấn áp được hạm đội tiềm thủy đĩnh nguyên tử của Trung Hoa hiện đang đặt tại đảo Hải Nam. Hải quân Hoa Kỳ ở Cam Ranh sẽ giữ cho biển Đông Hải tự do giao thông, không e dè gì về việc Trung Hoa đang cho xây cất các hòn đảo nhân tạo làm phi đạo và thiết lập các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, kiểm soát toàn thể vùng biển Đông.

Hơn nữa căn cứ Cam Ranh sẽ giúp cho Hoa Kỳ tạo thành vòng đai nguyên tử bao vây Trung Hoa với các phi đạn gắn đầu đạn nguyên tử tầm gần loại Pershing như đã đặt tại Âu Châu thời chiến tranh lạnh, không cần đến hoả tiễn liên lục địa bắn đến Trung Hoa lâu hơn!

Tập Cận Bình đã đi sai một nước cờ khi cho kéo giàn khoan vào hải phận của Việt Nam và tạo nên làn sóng chống Tàu năm ngoái.

Việc Hoa Kỳ cho chiếu các video với đài CNN thu hình chuyện Trung Hoa cho lập đảo nhân tạo và xây phi đạo cho phản lực cơ quân sự gần Hoàng Sa là sự cố ý của chính quyền Obama, trước hết để đánh thức dư luận dân chúng Hoa Kỳ về hiểm họa Trung Hoa, nhưng cũng là để lôi kéo Việt Nam ra khỏi quĩ đạo Tàu và đi hẳn với Hoa Kỳ.

Những diễn biến gần đây tại Việt Nam cho thấy chiến lược này của Hoa Kỳ đang thành hình.

Trước hết một loạt các yếu nhân của Hoa Kỳ đã sang Việt Nam trong vài tháng nay như bộ trưởng quốc phòng Aston Carter, chủ tịch ủy ban quân lực tại Thượng Viện John McCain và gần đây nhất vào lễ quốc khánh Hoa Kỳ 4 tháng 7 là cựu tổng thống Bill Clinton. Clinton có thể là người đại diện cho Obama để thương thảo và đi đến thỏa thuận sau cùng về việc Việt Nam thành đồng minh của Hoa Kỳ và cho thiết lập căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Cam Ranh.

Đồng thời trong tuần này, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam là Nguyễn Phú Trọng sẽ đi với phái đoàn chính phủ hàng 150 người sang Hoa Kỳ và sẽ gặp Obama. Nguyễn Phú Trọng không phải là chủ tịch nước nhưng được tòa Bạch Cung phá lệ để tiếp đón như thủ lĩnh quốc gia.  Điều này cho thấy tay này đã đi theo phe thân Hoa Kỳ và gạt bỏ được Chủ tịch Trương Tấn Sang được coi như phe thân Tàu.

Một nhân vật theo phe thân Tàu là đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng không có tên trong phái đoàn sang Hoa Kỳ vào giờ chót. Tin chính thức của chính phủ cộng sản là Phùng Quang Thanh chữa bệnh tại Pháp, tuy có tin đồn không kiểm chứng được là tay này bị ám sát khi sang đến Pháp?

Tất cả những diễn biến này cho thấy Hoa Kỳ đã thành công trong việc lôi kéo Việt Nam ra khỏi quĩ đạo của Trung Hoa và nhiều phần sẽ được thoả thuận để lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh, có thể sau chuyến Obama sang thăm Việt Nam vào tháng 11 năm nay.

Tuy nhiên điều quan trọng đối với Việt Nam là việc phải thương thảo để Hoa Kỳ ký kết một hiệp ước hỗ tương phòng thủ như Hoa Kỳ đã ký kết các hiệp ước này với Nhật Bản và Phi Luật Tân trước đây.

Thực sự gọi là hỗ tương phòng thủ, nhưng điều đó có nghĩa Hoa Kỳ sẽ nhẩy vào bảo vệ Việt Nam một khi bị Trung Hoa tấn công. Vì phản ứng của Trung Hoa trước thế kiềm tỏa và chiến lược triệt hạ Trung Hoa của Hoa Kỳ sẽ làm cho Việt Nam ở vào thế nguy hiểm dễ dàng bị Trung Hoa tấn công và xâm lăng.

Chỉ một khi có được hiệp ước hỗ tương phòng thủ với Hoa Kỳ và căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Cam Ranh thiết lập xong xuôi, lúc đó Việt Nam mới ở vào thế an toàn trước đe dọa của Trung Hoa được.

Tóm lại, chiến lược triệt hạ Trung Hoa của Hoa Kỳ đã thành hình và đã bắt đầu được thi hành, về phương diện kinh tế cũng như quân sự. Điều tốt nhất cho toàn cầu vẫn là Trung Hoa suy yếu và tan rã một khi dân chúng Tàu bị khó khăn kinh tế và thất nghiệp nổi loạn và thay đổi được chính quyền cộng sản Trung Hoa hiện tại.

Cũng như Việt Nam một khi đi với Hoa Kỳ, sẽ phải chịu điều kiện để đi đến dân chủ hóa, nếu muốn hưởng lợi do thỏa ước mậu dịch TPP và được chiếc dù quân sự của Hoa Kỳ bảo vệ với căn cứ Hoa Kỳ tại Cam Ranh. Các chuyện này tuy còn xa vời nhưng điều gì cũng có thể xảy ra được. Và thời gian sẽ cho chúng ta câu trả lời rõ ràng nhất!

Phân Ưu: Cụ Lê Quang Liêm qua đời

Friday, July 17th, 2015

PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn:

Cụ LÊ QUANG LIÊM, 

Cu Le Quang Liem

Hội Trưởng Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam.

sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.  

Vừa mệnh chung lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia ở Thủ Đô Saigon.

Thượng thọ 96 tuổi.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Chân thành phân ưu cùng Tang Quyến và Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Xin Cầu Nguyện cho Hương Linh Cụ sớm về cõi Niết Bàn.

Trân trọng

TM. CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ

BS Võ Đình Hữu

BS Đỗ Văn Hội

GS Phạm Văn Thanh

Ban Cố Vấn: 

BS Trương Ngọc Tích 

Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn

Ông Trần Xuân Thời 

Ông Nguyễn Văn Tánh

Cùng toàn thể các Cộng Đồng Thành Viên

——————————————–

Tóm Tắt Tiểu Sử Cụ Lê Quang liêm

Cụ Lê Quang Liêm là Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam. Cụ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An , huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cụ tạ thế lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia hưởng thọ 96 tuổi.

Cụ sinh ra và lớn lên trong gia đình đại điền chủ và là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến tháng giêng năm Canh Thìn (1940) Cụ đã quy y với Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Cụ từng là chiến sĩ chống Pháp, sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và là Dân Biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa:

1945-1946: Đoàn Trưởng Bảo An Phật Giáo Hòa Hảo quận Chợ Mới, tỉnh An Giang

1946-1947: Chính Trị Viên Đại Đội I, Chi Đội 30, Bộ Đội Nguyễn Trung Trực

1948-1952: Tham Mưu Trưởng Nghĩa Quân Cách Mạng Dân Xã Đảng do cụ Lê Quang Vinh lãnh đạo.

1953-1955: Sáp nhập vào Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, cấp bậc Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 525

1956-1957: Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 12

1958-1959: Tham Mưu Phó Quân Đoàn II

1960-1962: Trưởng Phòng 4 Bộ Tư Lệnh Hành Quân

1963-1964: Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang

1964-1965: Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang

1966-1967: Chỉ Huy Trưởng Hậu Bị Quân Vùng 4 Chiến Thuật, kiêm Thanh Tra Tòa Đại Biểu Vùng 4

1968-1969: Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến;

1972-1975: Dân Biểu Quốc Hội, Chủ Tịch Ủy Ban Định Chế, Chủ Tịch Ủy Ban Canh Nông;

Sau 1975 cụ bị nhà cầm quyền Cộng sản cầm tù trong nhiều nhà giam khác nhau.

2006 Cụ là thành viên sáng lập và là Cố vấn của Khối 8406.

Về hoạt động giáo sự:

1967-1975: Cố vấn kiêm Đại Diện Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Gíao Hội Phật Gíao Hòa Hảo, Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo.

Từ tháng 02-2000 đến hiện nay: Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo Thuần Túy.

Tháng 12-2000, cụ cùng Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh và Linh mục Chân Tín, viết một bản lên tiếng phản đối chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Cộng sản, đòi hỏi nhà cầm quyền phải “tôn trọng quyền tự do tôn giáo thực sự của các tôn giáo, nhất là các quyền căn bản của các Giáo Hội. Các Giáo Hội phải được hoàn toàn độc lập và tự do trong việc lựa chọn, huấn luyện, chỉ định các chức vụ tôn giáo tùy theo nhu cầu của từng Giáo Hội”.

Tháng 2/2001, tại Huế, cụ Liêm gặp gỡ Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Thượng Tọa Thích Chân Trí, và cùng ba vị lãnh đạo tôn giáo này thành lập Hội Đồng Liên Tôn.

2013-1015 cụ cùng nhiều tu sĩ 5 tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành và Phật giáo Hòa Hảo đồng sáng lập Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Đến tận cuối đời cụ Lê Quang Liêm vẫn một lòng cùng vì nước vì dân theo Thầy giữ trọn Tứ Ân.

Nguyễn Quang Duy – Soạn

Melbourne Úc Đại Lợi

17-7-2015

Press Release: Demonstration to protest Against Vietnamese Communist Party Chief to Visit White House

Wednesday, July 1st, 2015

Organizing Committee

for the Rally Against CPV General Secretary’s Visit

 Press Release

June 30, 2015

Contact us

Dr. The-Binh Nguyen,

binhnguyenmd@gmail.com .

(703) 618-3630

According to the latest information, Mr. Nguyen Phu Trong, General Secretary of the Communist Party of Vietnam and his delegation will visit the United States on July 5th through July 9th, 2015.

A proposed plan to meet with President Obama at the White House has been scheduled for the morning of July 7th, 2015.

The Communist Party of Vietnam has committed many crimes against the people of Vietnam since their establishment in the 1930s.  They impose a totalitarian regime on more than 90 million of Vietnamese citizens.  We call on the US government and the international community to denounce their legitimacy from representing the people of Vietnam on the basis of their past and on-going crimes including depriving all fundamental freedoms of the people, abusing human rights, seizing all private assets, and supporting the Chinese invasion in the East Sea (South China Sea.)

The Vietnamese community overseas will organize a demonstration to protest Mr. Nguyen Phu Trong and his delegation:

From 8 am to 12 pm on Tuesday, July 7th, 2015

At the Lafayette Park (in front of the White House), Washington DC.

 

Nguyễn Phú Trọng đi thăm Hoa Kỳ nói lên điều gì?

Thursday, June 25th, 2015

Lê Dủ Chân (Danlambao)  Theo tin của BBC thì Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm Hoa Kỳ từ ngày 7 đến ngày 9 tháng Bảy năm 2015. Trong chuyến đi này ông Trọng sẽ hội đàm với Tổng Thống Barack Obama tại Nhà Trắng. Hai bên dự kiến sẽ có tuyên bố chung về tầm nhìn của quan hệ đối tác toàn diện và sâu rộng giữa hai nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và tầm nhìn chung Việt-Mỹ về quan hệ quốc phòng, định hướng hợp tác quốc phòng thời gian tới.
Tại Washington DC, ông Trọng dự kiến cũng sẽ dự chiêu đãi do Ngoại Trưởng John Kerry chủ trì, gặp Đại diện Thương mại Michael Froman hoặc Bộ trưởng Thương mại Penny Pritzker, Bộ trưởng Nông nghiệp Tom Vilsack cũng như các cựu chiến binh, chức sắc tôn giáo và nhân sỹ, trí thức Mỹ. Tiếp xúc với các nghị sĩ đảng Dân Chủ và Cộng Hòa tại Thượng Viện và Hạ Viện Mỹ, gặp thượng nghị sĩ John McCain, gặp gỡ đại diện doanh nghiệp Mỹ.
Tại New York, ông Trọng sẽ gặp lãnh đạo đảng cộng sản và bạn bè cánh tả Mỹ, vợ chồng cựu Tổng Thống Bill Clinton, gặp đại diện Việt kiều và đại diện du học sinh Việt Nam. Ngoài ra ông Trọng sẽ gặp Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và tiếp xúc với nhóm trí thức quan tâm tới Việt Nam của trường đại học Harvard.
Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam tới Hoa Kỳ, chắc hẳn các đảng viên đảng cộng sản Việt Nam chưa bao giờ nghĩ đến có một ngày Tổng Bí Thư của mình đi thăm nước Mỹ. Qua chuyến đi này của ông Nguyễn Phú Trọng nhân dân Việt Nam trong đó có mấy triệu đảng viên đảng cộng sản thấy được gì?
1- Chủ nghĩa cộng sản đã phá sản trong tư tưởng của ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam ngày nay.
Thật vậy, nếu như đảng cộng sản Việt Nam còn kiên trì tư tưởng Mác Lê thì nước Mỹ, hang ổ của tên đế quốc tư bản sừng sỏ nhất thế giới, là nơi để ông Nguyễn Phú Trọng, đảng trưởng đảng cọng sản Việt Nam, đem bom đạn, lưỡi lê giáo mác và tư tưởng đấu tranh giai cấp đến để giải phóng chứ dứt khoát không phải là nơi để ông ta đến để cầu xin hợp tác và học hỏi như những gì đã diễn ra hôm nay.
2- Ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam hôm nay dù không nói ra nhưng đã mặc nhiên công nhận đường lối, chính sánh chống Mỹ cứu nước của đảng trong quá khứ là sai lầm.
Đảng cộng sản Việt Nam phải trả lời sao đây với nhân dân miền Nam Việt Nam trước tháng 4/1975 và nhân dân trên cả nước sau tháng 4/1975 với chủ trương“đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào, đánh đến người việt cuối cùng cũng đánh” của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản trong 70 năm qua, trước sự kiện ông Nguyễn Phú Trọng tổng bí thư của đảng ta qua thăm nước Mỹ với mục đích hoàn toàn không khác gì các vị lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm trong quá khứ.
3- Ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam hôm nay nhận ra được rằng con đường bán nước cho Tàu không cứu vãn được chế độ, ngược lại nó sẽ làm cho chế độ sụp đổ nhanh hơn. 
Nhân dân Việt Nam chắc chắn sẽ vùng lên lật đổ chế độ Việt gian để bảo vệ tổ quốc của mình trước nguy cơ mất nước, mất chủ quyền về tay Tàu cộng. Muốn cứu chế độ, con đường duy nhất đảng cộng sản phải đi là hợp tác với Mỹ để một mặt ngăn chặn lòng tham vô đáy của Trung cộng và mặt khác xoa dịu sự phẫn nộ càng ngày càng cao trong quần chúng nhân dân.
4- Sự tranh chấp quyền lực giữa hai phe ngả về Mỹ hoặc đi theo Tàu trong nội bộ đảng đã nhất thời ngã ngũ và mẫu số chung của hai phe là kéo dài quyền lãnh đạo của đảng bất kể dưới chế độ nào.
Đảng cộng sản Việt Nam giờ đây đang như một người đánh mất nhân thân của mình. Lý tưởng cộng sản cũng như quốc gia, dân tộc họ không còn tâm trí để lo đến nữa, mọi nỗ lực của họ hôm nay là bằng mọi giá phải duy trì cho được quyền lực mà họ đã giành được trong 70 năm nay dù phải hy sinh quốc gia, dân tộc hay lý tưởng của mình.
Hiện nay có ba thế lực có ảnh hưởng quyết định trên sự tồn tại của đảng cộng sản Việt Nam, đó là nhân dân Việt Nam, Tàu và Mỹ. Đối với Tàu và Mỹ dù ngả về bên nào thì đảng cộng sản cũng có nguy cơ bị thế lực còn lại là nhân dân lật đổ. Theo Tàu bị lật đổ vì tội bán nước, ngả Mỹ thì bị lật đổ vì tự do, dân chủ và nhân quyền, chỉ khác nhau ở chổ nhanh hay chậm, hòa bình hay bạo động, an toàn hay không an toàn.
Chuyến đi thăm Mỹ lần này của Nguyễn Phú Trọng cho thấy lãnh đạo cấp cao của đảng cộng sản Việt Nam đã thấy được vấn đề này và mục đích của nó là tạo sự quân bình giữa ba thế lực nêu trên để kéo dài tuổi thọ của đảng thêm được ngày nào hay ngày ấy.
 
5- Lời nói của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” hôm nay đã được chứng minh một cách rỏ ràng và cụ thể qua chuyến thăm nước Mỹ lần này của Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Tháng Tư chửi Mỹ hà rầm
Tháng Bảy đi Mỹ nâng tầm bang giao
Bắt thang lên hỏi trời cao
Tin người cộng sản được bao nhiêu phần?
Phú Trọng đi Mỹ vì dân?
Thưa không! Vì đảng, vì thân, vì Tàu.
 
23/06/2015

Về Trung Quốc Sử & Hoàng Sa Trường Sa—Ls. Nguyễn Hữu Thống

Thursday, June 25th, 2015

Ls. Nguyễn Hữu Thống

BÌNH GIẢI VỚI TẬP CẬN BÌNH VỀ TRUNG QUỐC SỬ LIÊN QUAN ĐẾN HOÀNG SA TRƯỜNG SA

Theo cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, trong bài “Nghiên Cứu về Lịch Sử và Địa Lý” học giả Hsieh Chiao-Min nhận định về cuộc Thám Hiểm của Trung Hoa tại Đại Dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Thản hoặc nhà cầm quyền Trung Quốc cũng gửi những đoàn thám hiểm đại dương đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ 3 và thứ 2 Trước Công Nguyên, cũng như tại Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu trong thế kỷ 15. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Quốc” suốt chiều dài lịch sử (từ nhà Tần thế kỷ thứ 3 Trước C. N. đến nhà Thanh từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20). Chiao-Min Hsieh. Chinese History Middle Ages: China Academy, Taipei, 1978, p. 287).

Dưới đời nhà Tần, cuốn Tần Chí tường thuật rằng năm 211 Trước C.N. Tần Thủy Hoàng sai một phái bộ gồm hàng ngàn đồng nam đồng nữ (trai gái tân) đi kiếm những dược phẩm có tác dụng đem lại trường sinh bất tử cho nhà vua tại đảo Đại Châu Bất Tử trong Đông Trung Quốc Hải. Mặc dầu vậy, Tần Thủy Hoàng không bất tử mà đã chết một năm sau đó. Và chế độ quân phiệt nhà Tần đã cáo chung sau 15 năm thống trị (221-206 Trước C.N).

Trong thời Đế Quốc Thứ Nhất đời Tần Hán (First Empire), những cuộc thám hiểm đại dương tại Đông Trung Quốc Hải và Biển Nhật Bản không phải để chinh phục vùng Biển Nam Hoa nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đặc biệt trong thế kỷ 15, từ đời Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc), Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa đã 7 lần thám hiểm Tây Dương (Ấn Độ Dương). Và trong 28 năm, từ 1405 đến 1433, đã viếng thăm 37 quốc gia duyên hải đến Ba Tư, Biển Hồng Hải phía tây bắc, Đông Phi Châu phía cực tây và Đài Loan phía cực đông. Những cuộc thám hiểm này chỉ đi ngang qua Biển Nam Hoa nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Lịch sử Trung Quốc cũng phê phán những cuộc thám hiểm đại dương đời nhà Minh vì đã làm kiệt quệ kinh tế đất nước. (The large exploring expeditions that were to cross the South China Sea and explore the Indian Ocean were criticized by the court as poor to (an impoverishment of) the country. Chiao-Min Hsieh, Ibid, p. 290-291).

Những tài liệu lịch sử nêu trên đã được phổ biến tại Đại Hội Quốc Tế về Sử Địa Trung Quốc Kỳ I tại Đài Bắc năm 1968 và đã được đăng trong cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ năm 1978.

Như vậy theo chính sử Trung Quốc suốt từ thế kỷ thứ 3 Trước C.N. đến thế kỷ 15, dưới 3 triều đại Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ không có tài liệu nào cho biết có các lực lượng hải quân Trung Quốc đi tuần thám để hành sử và công bố chủ quyền tại Biển Đông Hải, Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á.

Đối chiếu lịch sử Việt Nam và Trung Quốc, sử sách ghi chép rằng năm 214 Trước C.N., sau khi thống nhất Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem quân thôn tính các nước Bách Việt để chia thành 3 quận: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bắc và Trung Việt). (Nước Việt ta thời đó có nhiều voi: Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi khởi nghĩa đánh nhà Hán, nhà Ngô; Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên, Quang Trung đuổi quân Thanh cũng ngồi trên mình voi đánh giặc).

Tuy nhiên các dân tộc Bách Việt không chịu ách đô hộ tàn bạo của nhà Tần. Họ trốn vào rừng chiến đấu và giết được Đồ Thư.

Năm 207 Trước C. N. Triệu Đà đánh thắng An Dương Vương, rồi sát nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải để thành lập một quốc gia độc lập đóng đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu) lấy quốc hiệu là Nam Việt (207-111 Trước C.N.). Qua năm sau Lưu Bang cũng đánh thắng Hạng Võ và thành lập nhà Hán.

Chữ “hải” trong quận Nam Hải không có nghĩa là biển mà là vùng đất xa xôi (hải biểu là vùng đất cực xa). Và quận Nam Hải là vùng đất phía cực Nam Trung Quốc (far-south). Từ nguyên thủy, Biển Nam Hải có tên là Trướng Hải là vùng biển của tỉnh Quảng Đông, cách huyện Hải Phong 50 dậm ta (lý) về phía nam (khoảng 25km).

Theo Tân Từ Điển Thực Dụng Hán Anh xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 “Biển Nam Hải là vùng biển ven bờ chạy từ Eo Biển Đài Loan tới Quảng Đông” (The Southern Sea stretches from the Taiwan Strait to Kwantung. A New Practical Chinese-English Dictionary, Hongkong 1971, p. 121)

Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948 thì “Biển Nam Hoa thuộc chủ quyền chung của 5 quốc gia là Trung Hoa, Pháp (Việt Nam), Anh (Mã Lai), Mỹ (Phi Luật Tân) và Nhật ( Đài Loan). Do đó Biển Nam Hải (Southern Sea) không phải là Biển Nam Hoa (South China Sea).

Sau này Trung Quốc lợi dụng danh xưng để mạo nhận rằng Biển Nam Hải của tỉnh Quảng Đông chính là Biển Nam Hoa của Trung Quốc.

Từ thế kỷ 15, các nhà thám hiểm đại dương và các nhà doanh thương Âu, Á như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp, Ả Rập khi vượt Đại Tây Dương đến vùng biển tiếp giáp Ấn Độ, muốn cho tiện họ gọi vùng biển này là Ấn Độ Dương. Và khi qua Eo Biển Mã Lai đến vùng biển tiếp giáp Trung Hoa họ cũng tiện thể gọi vùng biển này là Biển Nam Hoa (ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).

Sự trùng điệp danh xưng này của các nhà địa lý Tây Phương chỉ là sự ghi nhận một tập quán về ngôn ngữ hàng hải. Như vậy tên Biển Nam Hoa cũng như Ấn Độ Dương không có tác dụng công nhận chủ quyền của Trung Hoa và Ấn Độ tại các vùng biển này. Nó chỉ ghi nhận vị trí của Ấn Độ Dương là vùng tiếp giáp Ấn Độ, cũng như Biển Nam Hoa là vùng tiếp giáp miền Nam Trung Hoa. Vả lại, về diện tích, Biển Nam Hải (hay Biển Nam) chỉ rộng chừng 25km, trong khi Biển Nam Hoa chạy từ bờ biển Quảng Đông tới bờ biển Nam Dương và rộng tới 2000 km.

Trong những chuyến hải hành Trịnh Hòa chỉ dừng chân tại hải cảng Chaban (Trà Bàn hay Đồ Bàn) thủ phủ Chiêm Thành. Theo Giáo Sư John King Fairbank tại Đại Học Harvard, mục đích những chuyến công du này không phải để cướp bóc hay thôn tính lãnh thổ mà chỉ nhằm thiết lập bang giao với hàng chục quốc gia duyên hải tại Ấn Độ Dương. (The Chinese expeditions were diplomatic not commercial, much less piratical or colonizing ventures. John King Fairbank, China, a New History, Harvard University Press 1992, p. 138).

Như vậy, theo chính sử Trung Quốc, từ các đời Tần Hán,Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy Đường, Ngũ Đại, Tống Nguyên, Minh Thanh, sử sách không ghi chép việc hải quân Trung Quốc đi tuần thám Biển Đông Hải để chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đồng thời công bố và hành sử chủ quyền tại các quần đảo này.

Suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc trong hơn 20 thế kỷ về đời các Đế Quốc Tần Hán, Tùy Đường, Tống Nguyên, Minh Thanh cũng như trong các thời Đại Phân Hóa như đời Lưỡng Tấn, trở ngại chính yếu cho việc ổn định chính trị và phát triển kinh tế là hiểm họa Hung Nô.

Danh xưng Hung Nô tự nó đã hàm chứa ý nghĩa nhục mạ và phỉ báng, man di mọi rợ, dã man hung dữ chỉ đáng làm nô lệ cho Hán tộc.

Không phải bao giờ Hán binh cũng thắng thế. Vì các kỵ binh Hung Nô là những thiện xạ có tài bắn cun từ trên lưng ngựa huyết hãn mã (mồ hôi đỏ như máu).

Đời nhà Hán hiểm họa Hung Nô là mối lo gan ruột của Hán Vũ Đế 5 lần mang quân đi chinh chiến tại các mặt trận tây bắc. Các phong hỏa đài dọc theo Vạn Lý Trường Thành là những trại tiếp liên báo động tại quan ải:

Gió lửa động sa mạc
Chiếu rực mây Cam Tuyền
Vua Hán chống kiếm dậy
Lại vời Lý Tướng Quân.
(Lý Bạch, Tái Hạ Khúc)

Lý Tướng Quân ở đây là Lý Quảng, vị tướng lãnh nổi tiếng nhất trong Chiến Tranh Hung Hán. Nhưng không phải bao giờ ông cũng đem lại chiến thắng cho Hán Vũ Đế (140-87 Trước C.N.). Năm 119 Trước C. N. Lý Quảng ở tuổi lục tuần, vì trái quân lệnh đã thất trận và phải tự sát để khỏi bị xử trảm với nhục hình. Như vậy tướng quân họ Lý không đem lại vinh quang cho nhà Hán.

Năm 100 Trước C. N. Hán Vũ Đế sai sứ giả Tô Vũ qua Hung Nô để can thiệp vào chính sự một nước lân bang phía bắc. Cơ mưu bại lộ, Tô Vũ bị bắt giam và quản thúc trong 19 năm, phải chịu nhục đi chăn dê tại vùng sa mạc nóng cháy và miền núi tuyết giá băng.

Và năm 33 Trước C. N., Hán Nguyên Đế phải đem Chiêu Quân cống Hồ, dầu rằng Vương Tường là một trong bốn đại mỹ nhân Trung Quốc, cùng với Tây Thi, Hằng Nga và Dương Quý Phi. Trong năm này Hán Nguyên Đế đã từ trần vài tháng sau khi Chiêu Quân xuất giá.

Đến đời Nhà Tấn (265-420) có loạn Nhung Địch từ phía tây bắc lũ lượt nổi lên chiếm giữ cả vùng Bắc Trường Giang để xưng vương, xưng đế tại 16 nước gọi là loạn Ngũ Hồ. Sau 50 năm trị vì tại miền tây bắc, nhà Tấn phải lui về phía đông nam để dựng nghiệp Đông Tấn tại Nam Kinh.

Kế tiếp là đời Đế Quốc Tùy Đường. Đây là thời thịnh trị cả về kinh doanh thương mại lẫn văn học nghệ thuật. Tuy nhiên trong giai đoạn thoái trào vào thế kỷ thứ 8 có loạn An Lộc Sơn với các binh sĩ Ngũ Hồ từ miền bắc xâm chiếm thủ đô Tràng An. Trên đường rút quân về Tây Thục, dưới áp lực của các tướng sĩ, Đường Minh Hoàng phải bức tử Dương Quý Phi tại Mã Ngôi.

Sau đời Đế Quốc Tùy Đường là Đế Quốc Lưỡng Tống kéo dài hơn 300 năm từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 13 (960-1280). Qua thế kỷ 12 nhà Tống bị bao vây bởi Bắc Liêu (Mông Cổ) về phía bắc và Tây Hạ (Mãn Châu) về phía tây. Từ đầu thế kỷ 11 vua nhà Tống phải hàng năm triều cống Bắc Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa. Tới đầu thế kỷ 12 (năm 1127) nước Kim (Mãn Châu) lấn chiếm toàn cõi Bắc Trung Hoa khiến Vua Tống phải bỏ miền Bắc dời đô về Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Đây là một thời đại suy vi với sự phân hóa lãnh thổ, suy thoái kinh tế và thất bại quân sự (Nhà Tống bị Việt Nam đánh bại 3 lần trong những năm 981, 1075 và 1076).

Cũng vì vậy trong hai thế kỷ 13 và 14, Trung Quốc bị Hung Nô Mông Cổ thôn tính trong gần 90 năm (1280-1368). Đó là kỷ nguyên của Đế Quốc Đại Nguyên hay Đế Quốc Nguyên Mông.

Và để kết thúc giai đoạn lịch sử Trung Quốc thời Trung Cổ, trong ba thế kỷ từ 17 đến 20 (1644-1911) đời Đế Quốc Đại Thanh, Hung Nô Mãn Châu làm chủ Trung Quốc.

Để có cái nhìn khách quan trung thực, chúng ta hãy kiểm điểm khái quát những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị của các triều đại Trung Hoa từ đời nhà Tần đến đời nhà Thanh. Từ đó chúng ta có thể nhận định rằng Trung Quốc không có điều kiện khách quan và chủ quan để thôn tính Biển Đông Hải và giành giật chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ Đế Quốc Tần Hán đến Đế Quốc Đại Thanh

Năm 221 Trước C.N., Nhà Tần thống nhất đất nước, tập trung quyền lực trong chế độ độc tài quân phiệt, bãi bỏ chính sách phân chia ruộng đất (tỉnh điền) và chế độ tư tưởng phóng khoáng thời Bách Gia Chư Tử. Mặt khác huy động toàn dân vào việc xây đắp trường thành chống Hung Nô và xây dựng cung điện nguy nga như Cung A Phòng với những hy sinh khủng khiếp: 1 triệu viên đá xây thành là 1 triệu người dân hy sinh thân sống. Lịch sử Trung Hoa kết án Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa đã từ bỏ quan niệm hòa bình nhân ái của Khổng Mạnh lấy dân làm trọng, và coi nhẹ chính quyền (dân vi quý, quân vi khinh). Vì quá lao tâm lao lực, Tần Thủy Hoàng chỉ trị vì được 11 năm. Từ đó với những âm mưu tranh giành quyền lực, cà thái tử lẫn tể tướng đã phải hoặc tự sát, hoặc bị giết. Vua Tần Nhị Thế cũng bị một viên quan hoạn giết sau 4 năm trị vì. Dân 6 nước bị nhà Tần sát hại thời Chiến Quốc cùng những dân công khổ sai đã vùng đứng lên tiêu diệt chế độ nhà Tần năm 206 Trước C.N.

Lúc này tại miền Hoa Nam, hải quân Trung Quốc không lai vãng đến vùng Biển Đông Hải.

Kế nghiệp Nhà Tần là Nhà Hán kéo dài hơn 4 thế kỷ (từ 206 trước C. N. đến 220 Tây Lịch) trong đó có 14 năm Vương Mãng tiếm vị.

Trong cuộc Hán Sở tranh hùng, Hán Vương Lưu Bang thắng Sở Vương Hạng Võ. Họ Lưu khởi nghiệp từ miền Hán Giang (một chi nhánh của Dương Tử Giang) đã trừ được nhà Tần, diệt được nhà Sở và thống nhất Trung Hoa lên ngôi lấy hiệu là Hán Cao Tổ (206-195 trước C. N).

Trước đó một năm, năm 207 Trước C. N., Triệu Đà cũng đã lên ngôi hiệu là Triệu Vũ Vương sau khi đánh thắng An Dương Vương và sát nhập Âu Lạc với quận Nam Hải để thành lập nước Nam Việt độc lập, đặt thủ đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu).

Trong khi tại miền Bắc Hán Cao Tổ chỉ trị vì được 11 năm, thì tại miền Nam Triệu Vũ Vương đã chấn chỉnh và mở rộng bờ cõi trong suốt 70 năm (207-137 Trước C. N.). Năm 196 Trước C. N. Hán Cao Tổ sai Lục Giả sang phong tước cho Triệu Vũ Vương.

Sau khi Hán Cao Tổ mất bà Lữ Hậu lâm triều lộng hành không cho người Việt mua các đồ sắt, điền khí và trâu bò nái. Triệu Vũ Vương xưng là Nam Việt Hoàng Đế (Triệu Vũ Đế) rồi cử binh đánh bại quân nhà Hán tại Trường Sa (Hồ Nam). Sau khi Lữ Hậu mất Hán Văn Đế lại sai Lục Giả sang thương thuyết, yêu cầu Triệu Vũ Đế bỏ đế hiệu. Hán Văn Đế cam kết rằng: “Tại miền Hồ Quảng, từ phía nam Ngũ Lĩnh và Động Đình Hồ, Triệu Vũ Vương được toàn quyền cai trị”.

Đến năm 111 Trước C. N., khai thác mâu thuẫn giữa ba nước Mân Việt, Đông Việt và Nam Việt, Hán Vũ Đế đã thôn tính Nam Việt trái với lời cam kết của các tổ phụ và tiên vương Hán Cao Tổ và Hán Văn Đế.

Tuy nhiên, sau cái chết của Hán Vũ Đế (năm 87 Trước C.N.), Nhà Hán bắt đầu suy thoái. Trong đời Hán Nguyên Đế (48-33 Trước C.N.), quân Nhà Hán đã phải rút khỏi Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam) cho đến cuối thế kỷ thứ 6 đời Lương, Tùy mới đặt lại nền cai trị. Nếu nhà Hán đã bỏ đảo Hải Nam thì cũng không lý vấn đến các đảo Hoàng Sa Trường Sa tại Đông Hải. (Hải Nam cách Hoàng Sa 150 hải lý hay 275 km)

Tiếp theo thời Đế Quốc Tần Hán là Thời Đại Phân Hóa Thứ Nhất (First Partition) với các đời Tam Quốc, Lưỡng Tấn và Nam Bắc Triều.

Thời Đại Phân Hóa Thứ Nhất

Trong đời Tam Quốc (220-265), với thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô, không nước nào dám mạo hiểm và có thực lực đi thôn tính biển Đông Hải. Thời Hán mạt Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đem 10 vạn quân (phóng đại là 80 vạn) đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong trận Xích Bích năm 207.

Đến đời Nhà Tấn (265-420) có loạn Nhung Địch từ phía tây bắc lũ lượt nổi lên chiếm giữ cả vùng Bắc Trường Giang để xưng vương, xưng đế tại cả thảy 16 nước gọi là loạn Ngũ Hồ. Sau 50 năm trị vì tại miền tây bắc, nhà Tấn đã phải lui về phía đông nam để dựng nghiệp Đông Tấn tại Nam Kinh.

Sau khi nhà Tấn mất ngôi có nạn phân hóa Nam Bắc Triều với 7 nước là Ngụy, Tề, Chu phía bắc và Tống, Tề, Lương, Trần phía nam.

Do sự phân hóa này Trung Quốc không còn sinh khí. Đến đời nhà Lương, tại Giao Châu, Lý Bôn phất cờ khởi nghĩa xưng là Lý Nam Đế lấy quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau đó Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử kế nghiệp Nhà Tiền Lý trong gần 60 năm (từ năm 544 đến 602).

Thời Đế Quốc Tùy Đường

Kế tiếp đời Nam Bắc Triều, Nhà Tùy trị vì được 30 năm, và cùng với Nhà Đường khởi sự Thời Đế Quốc Thứ II (Second Empire). Đây là thời thịnh trị cả về kinh doanh thương mại lẫn văn học nghệ thuật. Đường Minh Hoàng làm thơ ca tụng Khổng Tử. Các đại sư Huyền Trang và Nghĩa Tĩnh sang Ấn Độ thỉnh kinh Phật. Các thi sĩ nổi tiếng đời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của các tư tưởng Lão Trang, Khổng Mạnh và Phật Giáo.

Tuy nhiên trong giai đoạn thoái trào vào thế kỷ thứ 8 có loạn An Lộc Sơn với các binh sĩ Ngũ Hồ từ miền bắc xâm chiếm thủ đô Tràng An.

Sự suy đồi của Nhà Đường dẫn tới đời Ngũ Đại kéo dài hơn 50 năm với 5 triều đại đã có từ trước như các nhà Hậu Đường, Hậu Lương, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Vận dụng cơ hội lịch sử này Ngô Quyền kết tập binh mã phá tan quân Nam Hán năm 938 trong trận hải chiến Bạch Đằng Giang. Do đó, từ năm 939, Việt Nam được giải phóng khỏi nạn Bắc Thuộc một ngàn năm, mở đường cho kỷ nguyên độc lập với các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê và Nguyễn, từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 19.

Thời Đế Quốc Lưỡng Tống

Trong thế kỷ thứ 10 quân Nhà Tống kéo sang xâm chiếm nước Nam. Để chống ngoại xâm các tướng sĩ tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên làm vua. Và năm 981 Lê Đại Hành đánh thắng lục quân nhà Tống với Hầu Nhân Bảo và thủy quân với Lưu Trừng tại Bạch Đằng Giang.

Năm 1075, dưới đời vua Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân vượt biên vây đánh Châu Khâm, Châu Liêm tại Quảng Đông và Châu Ung tại Quảng Tây. Qua năm sau nhà Tống đem quân sang báo thù. Nhưng một lần nữa lại bị Lý Thường Kiệt đánh bại trên sông Như Nguyệt hay Sông Cầu (Bắc Ninh).

Sau 3 lần dụng võ thất bại, do trình tấu của Hoàng Thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông phải theo chính sách “Trọng Võ Ái Nhân” (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng), và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

Nhà Tống kéo dài từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 13 (960-1280). Qua thế kỷ 12 nhà Tống bị bao vây bởi Bắc Liêu và Tây Hạ. Ngay từ đầu thế kỷ 11 vua nhà Tống đã phải hàng năm triều cống Bắc Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa. Tới đầu thế kỷ 12 (năm 1127) nước Kim lấn chiếm toàn cõi phía bắc Trung Hoa khiến Vua Tống phải bỏ miền bắc thiên đô về Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Đây là một thời đại suy vi kéo dài 150 năm. Với sự phân hóa lãnh thổ, suy thoái kinh tế, và nhất là sau 3 lần thất trận tại Việt Nam, Nhà Tống không còn dòm ngó đến Biển Đông Hải với Hoàng Sa và Trường Sa.

Thời Đế Quốc Nguyên Mông

Qua thế kỷ 13 Trung Quốc bị Mông Cổ thôn tính trong gần 90 năm (1280-1368). Trước đó trong chiến dịch Tây Tiến, Thành Cát Tư Hãn đã chiếm giữ vùng Trung Á 6 ngàn dặm đến Hung Gia Lợi và nước Nga tại Bắc Âu và Ba Tư tại Nam Á. Rồi quay về chiếm nước Tây Hạ, nước Kim và Triều Tiên. Trước đó, năm 1257 quân Mông Cổ đánh Vân Nam và tràn sang Việt Nam. Tuy nhiên, với quân dân một lòng, nhà Trần đã đánh tan quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu. Đây là chiến thắng đầu tiên của Việt Nam đối với nhà Nguyên.

27 năm sau, năm 1284, con Nguyên Chủ Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan kéo 50 vạn quân sang báo thù.

Trong Hội Nghị Diên Hồng các bô lão đồng thanh xin đánh. Dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12-1284 đến tháng 6-1285, quân Đại Việt đã đánh đuổi quân Nguyên ra ngoài bờ cõi. Toa Đô bị bắn chết, Ô Mã Nhi bị đuổi quá gấp phải một mình lẻn xuống thuyền con chạy trốn, và Thoát Hoan phải chui ống đồng lên xe chạy thoát về Tầu.

Thời gian này Hốt Tất Liệt đã có kế hoạch thôn tính Quần Đảo Phù Tang. Nay quân Thoát Hoan đại bại kéo về, Nguyên Chủ phải đình chỉ kế hoạch Đông Tiến. Và hai năm sau, đầu năm 1287, Thoát Hoan lại tập trung lực lượng kéo 30 vạn quân sang Đại Việt để báo thù lần thứ hai.

Tuy nhiên, cũng như lần trước, chỉ trong vòng một năm quân Mông Cổ đã mua lấy thất bại. Ô Mã Nhi lần này bị bắt sống tại Bạch Đằng Giang. Sau đó quân Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên khiến Thoát Hoan phải thu tàn binh tháo chạy về Yên Kinh. Và tại Thăng Long, vua Trần Nhân Tông đem các tướng nhà Nguyên bị bắt như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm lễ hiến phù tại Chiêu Lăng. Đây là một vinh dự cho Đại Việt đã 3 lần đơn độc phá vỡ kế hoạch Nam Tiến (tại Việt Nam), đồng thời ngăn cản cuộc Đông Tiến (tại Nhật Bản) của đoàn quân mệnh danh là “bách chiến bách thắng” từ đời Thành Cát Tư Hãn.

Và sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó đến Việt Nam cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận. Trong cuốn “Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa” Marwyn S. Samuels cũng xác nhận rằng: “Trong suốt thế kỷ 14, các đội hải thuyền hùng mạnh của Nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và

cũng không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (Marwyn S. Samuels: Contest for the South China Sea, Methuen, London, 1982).

Như đã trình bày, trong bài “Thám Hiểm Đại Dương”, học giả Hsieh Chiao-Min nhận định rằng: “Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương”. Thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần, Vạn Lý Trường Thành không chỉ là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ, đảo Hải Nam là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ. Trong giả thuyết “Cổ Tẩu sát nhân” của Mạnh Tử (thế kỷ thứ IV Trước C.N.), vua Thuấn vào ngục thất cứu cha là Cổ Tẩu (phạm tội cố sát) rồi cõng cha chạy trốn về vùng bờ biển để mai danh ẩn tích đến trọn đời. Sau khi chôn sống 460 nho sĩ tại Hàm Dương, Tần Thủy Hoàng lưu đầy tất cả các nho sĩ đối kháng tại miền bờ biển. Trung Hoa là một đại lục bao la, cả miền Tây và miền Bắc đất rộng mênh mông còn chưa khai phá. Vậy mà từ đời nhà Tần, Trung Hoa đã tự cô lập từ trong đất liền đến ngoài đại dương. Cho đến đời nhà Thanh vào thế kỷ 19, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.

Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân nhà Hán đi khai phá các tiểu đảo san hô tại Đông Hải. Rất có thể, như đã trình bầy, đó là 10 vạn thủy quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong trận Xích Bích.

“Trung Hoa không bao giờ là một cường quốc đại dương. Dân tộc Trung Hoa trong 4 ngàn năm chỉ sống về ruộng đất với những tập tục và quan niệm sống của nhà nông” (James Fairgrieve, Geography and World Power, London, 1921).

“Với các đặc tính của một dân tộc lục địa, Trung Hoa không phải là một cường quốc đại dương. Chú tâm của họ hướng về đất liền tại miền Trung Á hơn là ra hải ngoại. Do đó các kiến thức của họ về biển cả và duyên hải thật quá thô sơ”. (E. B. Elridge, The Background of Eastern Sea Power, Melbourne, 1948).

Đời Nhà Minh

Trong cuốn “Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ” ghi trên, học giả Hsieh Chiao-Min ghi nhận rằng, theo chính sử, từ các thế kỷ thứ 3 và thứ 2 Trước C. N., người Trung Hoa chỉ đi tới Biển Nhật Bản và Đông Trung Quốc Hải. Họ không nghĩ có đất liền bên kia Thái Bình Dương. Do đó mọi cuộc thám hiểm đều hướng về Tây Dương.

Mãi đến thế kỷ 15 dưới đời Minh Thành Tổ (1403-1424) mới có những vụ thám hiểm đại dương từ Đông Nam Á đến Ấn Độ và Đông Phi .

Đồng thời với 5 cuộc Bắc Chinh chống Hung Nô, Minh Thành Tổ cử Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những cuộc hành trình tại Ấn Độ Dương mệnh danh là “Thất Hạ Tây Dương” (Tây hay Tây Trúc chỉ Ấn Độ và Tây Dương là Ấn Độ Dương).

Điều đáng lưu ý là về 7 chuyến công du tại trên 30 quốc gia trong 28 năm (từ 1405 đến 1433), chính sử Trung Hoa cũng ghi rõ phái bộ Trịnh Hòa chỉ đi qua Biển Nam Hoa nhằm thám hiểm Ấn Độ Dương. Như vậy không có chuyện phái bộ Trịnh Hòa đến các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chiếm hữu và hành sử chủ quyền.

Theo chính sử do các sử gia Trung Quốc trên thế giới hội nghị tại Đài Bắc năm 1968 và biên soạn năm 1978 thì trong các đời Tần Hán, Tùy Đường, Tống Nguyên và Minh Thanh, không thấy một dòng chữ nào đề cập việc Trung Quốc đem quân chiếm cứ các hải đảo tại Biển Đông Hải. Các chuyến hải hành chỉ vụ vào việc bành trướng thế lực ngoại giao và phát triển giao thương giữa Trung Hoa với các quốc gia Á Phi tại Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập.

Tuy nhiên những chuyến hải hành chỉ nhằm phô trương thanh thế cho Minh Thành Tổ chứ không thực sự đem lại kết quả cụ thể nào về mặt ngoại giao. Do đó dư luận trong nước đã phê phán những chuyến đi phô trương nặng phần trình diễn làm hao mòn công quỹ khiến kinh tế quốc gia bị suy thoái.

Riêng tại Đại Việt, Giáo Sư J.K. Fairbank cũng nói về cuộc xâm lăng khởi sự năm 1407 và kết thúc năm 1427. Kết cuộc, với những tổn thất đáng kể, nhà Minh phải trả chủ quyền độc lập cho Việt Nam năm 1428.

Hoàng Sa Trường Sa theo Trung Quốc Sử

Trong Trung Quốc sử có rất nhiều tài liệu lịch sử do nhà cầm quyền phổ biến và nhiều tác phẩm của các học giả Trung Hoa thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa.

Dưới đời Nhà Thanh, trong ba thế kỷ từ 17 đến 20:

a) Theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ năm 1894 đời vua Quang Tự thì đến cuối thế kỷ 19 “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết” (Hải Nam cách Hoàng Sa 150 hải lý (275 km) về phía đông nam).

b) Qua thế kỷ 20 sự kiện này được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 (cũng đời vua Quang Tự) với đoạn như sau: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″.

c) Trong bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do Chính Phủ ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, và không thấy ghi các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa.

d) Trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là giải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy có sự nhìn nhận rằng quần đảo này là biên thùy hải phận của Việt Nam.

e) Theo học giả Marwyn S. Samuels trong cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa nói ở trên”không có bằng chứng nào cho thấy nhà Thanh đã chiếm hữu và sát nhập Hoàng Sa Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc”.

f) Trong tập Địa Dư Chí Tỉnh Quảng Đông được vua Ung Chính duyệt phê năm 1731, không thấy ghi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc.

g) Trong bộ “Đại Thanh Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán Trung Hoa biên soạn năm 1842 với lời tựa của vua Đạo Quang không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa) thuộc hải phận tỉnh Quảng Đông.

h) Đặc biệt là trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (năm 1744), vùng hải phận của Việt Nam tại Biển Đông Hải được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương.

i) Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự của Hòa Thượng Thích Đại Sán xuất bản năm 1695 đời Khang Hi cũng ghi nhận Đại Việt đã chiếm hữu, và khai thác Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa.

Đời nhà Minh

a) Bản Đồ Mao Khôn trong cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi vùng biển Việt Nam là Giao Chỉ Dương.

b) Trên các bản đồ Trịnh Hòa Hạ Tây Dương và Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ không thấy ghi các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa với các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc trong các lộ trình của Trịnh Hòa 7 lần đi ngang qua Biển Nam Hoa để khai phá Ấn Độ Dương.

c) Trong hai thế kỷ 14 và 15 có sự giao chiến trường kỳ 100 năm

giữa Việt Nam và Chiêm Thành: Với Chế Bồng Nga đời vua Trần Nghệ Tông (năm 1370), và với hai anh em Trà Toàn, Trà Toại đời vua Lê Thánh Tông (năm 1470). Nếu quả thật nhà Minh đã chiếm đất Chiêm Thành trong chuyến đi thứ tư của Trịnh Hòa năm 1413, thì lẽ tất nhiên sử sách của Trung Hoa, Chiêm Thành và Việt Nam đã phải ghi chép việc đó.

Mà nếu Trịnh Hòa đã chiếm Chiêm Thành năm 1413 thì lẽ tất nhiên Nhà Minh đã phải đem quân chống lại vua Lê Thánh Tông là người đã phát động Chiến Dịch Nam Tiến năm 1470 để mở rộng lãnh thổ đến Bình Định Phú Yên.

d) Theo sách Dư Địa Chí đời Hồng Đức lưu trữ tại Đông Dương Văn Khố Tokyo, tới hậu bán thế kỷ 15 dưới triều vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức nguyên niên (1470), Chiêm Thành đã là lãnh thổ của Đại Việt gồm có lục địa, hải phận và các hải đảo.

e) Về việc này cuốn Minh Sử ghi chép như sau: “Sứ thần Chiêm Thành nói: Cổ lai đất nước Chiêm có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nay vua An Nam lấy đi chỉ còn 5 xứ, từ Bang Đô Lang đến Chân Lạp”. Lúc này vua Nhà Minh yêu cầu vua Lê Thánh Tông trả đất cho Chiêm Thành nhưng Ngài không chịu. Lý do là vì Minh Chủ không chịu trả đất Nam Việt thời Triệu Vũ Đế cho Đại Việt. Tài liệu lịch sử này cho biết từ thế kỷ 15, vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ Đại Việt.

Đời nhà Nguyên

a) Trong thế kỷ 13 Mông Cổ bị Đại Việt 3 lần đánh bại trong 3 thập niên,vào những năm 1257, 1285 và 1287. Sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó Việt Nam từ trên lục địa đến ngoài hải phận. Và trong các thế kỷ 13 và 14, theo chính sử, quân Mông Cổ không xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

b) Theo cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa của Marwyn Samuels “trong thế kỷ 14 các đội hải thuyền hùng mạnh của nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (sách đã dẫn, trang 20).

c) Cũng như các sách sử địa đời Nhà Thanh, cuốn Nguyên Sử Địa Lý Chí đã viết như sau: “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.

Đời Nhà Tống

a) Như trong thế kỷ 13 đời Nhà Nguyên, trong hai thế kỷ thứ 10 và 11 Việt Nam cũng đã 3 lần đánh thắng Nhà Tống trong những năm 981, 1075 và 1076.

b) Sau 3 phen thất trận, theo trình tấu của Hoàng Thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông đã phải theo chính sách Trọng Võ Ái Nhân (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng). Và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

c) Sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát nhìn nhận rằng quần đảo Hoàng Sa mà tác giả gọi là Thiên Lý Trường Sa (Bãi Cát Dài Ngàn Dặm) là đất của nước phiên thuộc An Nam,

d) Trong đời Nam Tống cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”.

Đời Nhà Đường

a) Sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập đến cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu trong đó tác giả tường thuật những việc kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Như tại Thất Châu Dương (Nhóm An Vĩnh, Hoàng Sa) là nơi có nhiêu từ thạch hay đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt không đi qua được. Đây có sự thừa nhận các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam.

b) Ngoài ra sách Tứ Di Lộ Trình của Giã Đàm đời Đường có vẽ hải đạo Hồng Kông-Tân Gia Ba nhưng không ghi các hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay các danh xưng Tây Sa, Nam Sa.

Đời Nhà Hán

a) Trong cuốn Chư Phiên Chí, sử gia Triệu Nhữ Quát đời Nhà Tống đã xác nhận sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ như sau: Năm 111 Trước C. N., sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ nhất Trước C.N. Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam, mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy vào cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7 mới đặt lại quyền cai trị”.

b) Như đã trình bày, đến cuối đời Nhà Thanh vào đầu thế kỷ 20, biên cương của Trung Quốc về phía Nam chỉ chạy tới đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18.

Tổng kết lại, về mặt chính sử, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Hán thế kỷ thứ 3 Trước C.N. đến thế kỷ 20 đời Nhà Thanh, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu nào ghi rằng Biển Đông Hải với Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

Mãi tới năm 1951 nhân kỳ Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951, lần đầu tiên Chính Phủ Bắc Kinh mới đưa ra Công Bố ngày 1-9-1951 đòi chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa theo đó “đảo Nam Uy cùng toàn thể các quần đảo Nam Sa và Tây Sa đều là lãnh thổ của Trung Quốc, các tài liệu lịch sử liên quan đến các quần đảo này có từ đời nhà Tống”.

Tuy nhiên lịch sử Trung Quốc đã không xác nhận như vậy. Cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi đời Nhà Tống gọi vùng biển Hoàng Sa Trường Sa là Giao Chỉ Dương

Qua năm 1956 khi Phi Luật Tân đòi chủ quyền các hải đảo Thái Bình (Itu Aba) và Trường Sa (Spratly), ngày 29-5-1956 Chính Phủ Đài Bắc cũnglên tiếng phản kháng, chủ trương rằng các hải đảo này đã thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc từ đời nhà Minh.

Dầu sao, cũng như Bản Công Bố Chủ Quyền của Bắc Kinh năm 1951, Bản Phản Kháng Phi Luật Tân của Đài Bắc năm 1956 không viện dẫn được bằng chứng cụ thể nào về pháp lý, địa lý hay lịch sử để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hai Chính Phủ Quốc Cộng Trung Hoa chỉ quả quyết suông rằng Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ các đời Tống Thần Tông hay Minh Thành Tổ. Đây chỉ là sách lược của Bắc Kinh nhằm phục hồi Đế Quốc Đại Hán do Mao Trạch Đông phát động từ thập niên 1950. Để thi đua tranh thủ nhân tâm, Đài Loan cũng đã phải phụ họa.

Ngày nay, với “tứ hiện đại hóa”, Trung Quốc đã biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng cả về kinh tế lẫn chủ quyền lãnh thổ. Quân đội Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh để hy vọng có ngày đủ phương tiện nhằm lọai trừ hay phòng ngừa sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Á Châu Thái Bình Dương. Sau đó, theo truyền thống và tự hào lịch sử, họ sẽ bước vào giai đoạn đối đầu với phe Dân Chủ Tây Phương. Họ kỳ vọng rằng với quyết tâm và phát triển kinh tế, hệ thống Trung Quốc sẽ nổi bật trên thế giới khiến các quốc gia khác phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lãnh thổ và hải đảo tại Á Châu Thái Bình Dương.

Những nhận định của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Hoa Kỳ cũng là nhận định của Tiến Sĩ Lỗ Chi-Kin từ Hồng Kông trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986. Theo Mao Trạch Đông “những lãnh thổ phụ dung trước kia đã được Trung Quốc chinh phục và khai hóa, nay phải trả lại (Trung Quốc) văn minh chứ không thể thuộc về phe (Đế Quốc) dã man”. (Chi-Kin Lo, Doctor of Laws Thesis London 1986)

Từ sau Chiến Tranh Biên Giới Hoa-Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lược Sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao Trạch Đông: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.

Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế Quốc Ngai Rồng phát hiện từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thánh Tông, Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955.

Nếu quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị xâm chiếm do chiến tranh võ trang, thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 Trước C. N. (gồm vùng trung nguyên Trung Quốc với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Bắc Việt Nam). Tuy nhiên năm 111 Trước C. N. Hán Vũ Đế đã đem quân thôn tính Nam Việt nhằm Hán hóa vùng lãnh thổ này, mặc dầu Nam Việt có nền văn hóa đặc thù khác với các dân tộc du mục Miền Bắc. Đó cũng là nhận định của Giáo Sư C. P. Fitzgerald tại Đại Học Oxford: “Trong trường hợp nước Nam Việt giữ vững chủ quyền độc lập với nền văn hóa đặc thù của Miền Nam, thì dầu nhà Hán có chiếm được miền Quảng Châu và Vân Nam, họ cũng sẽ không thành công trong việc thiết lập ảnh hưởng tại vùng châu thổ Sông Tây Giang phía đông nam Trung Quốc”. (C. P. Fitzgerald, China, A Short Cultural History, p 184).

Theo quan niệm truyền thống của Đạo Nho văn hóa nông nghiệp Phương Nam tôn trọng hòa bình, bao dung và nhân ái, trong khi các sắc dân du mục Phương Bắc đặt nặng vấn đề đấu tranh sống chết, một mất một còn. Diễn giải quan niệm về Sức Mạnh trong bài “Tử Lộ Vấn Cường” (Trung Dung), Khổng Tử đối chiếu tác phong hiếu chiến tại Phương Bắc với quan niệm hiếu hòa tại Phương Nam:

“Lấy khoan nhân nhu hòa mà giáo hóa, không chủ trương báo thù kẻ vô đạo, đó là Sức Mạnh của Phương Nam, và cũng là nơi người quân tử cư ngụ”. (Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, Nam Phương chi Cường, quân tử khả cư).

“Ngồi trên lưng ngựa, mặc áo giáp, đeo gươm giáo, xông pha nơi chiến địa, trước cái chết không sờn lòng, đó là Sức Mạnh của Phương Bắc và cũng là nơi người hiếu chiến cư ngụ”.

Trở lại chính sách bá quyền, Trung Quốc vẫn giữ thái độ tiền hậu bất nhất trong những vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại Biển Nam Hoa. Vì một mặt Bắc Kinh vẫn mạnh miệng quả quyết nắm chắc phần thắng trong tay, nhưng mặt khác, họ vẫn không dám đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo và hải phận tại Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế.

Ngày nay, cùng với người Việt trong và ngoài nước, chúng ta thách thức Bắc Kinh công khai đưa vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải, Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan tài phán, trọng tài hay tham vấn theo thủ tục quốc tế. (Judicial litigation, arbitration or consultation)

Tại vùng Biển Đông Nam Á, rập theo tham vọng của Đế Quốc La Mã hồi thế kỷ thứ nhất coi Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử La Mã, Bắc Kinh cũng đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà dân gian gọi là Lưỡi Bò). Họ coi đó là mục tiêu chiến lược từ sau 1951. Nhất là từ 1982 khi Trung Quốc ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Tuy nhiên thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã lỗi thời. Nó đi trái Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đi trái Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague.

Trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ đến giữa thế kỷ 20 (năm 1951), Trung Quốc không bao giờ lên tiếng yêu sách đòi chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa). Họ khẳng định đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Để tránh né mọi cuộc tranh luận công khai trước các cơ quan tham vấn, trọng tài hay tố tụng. Lý do là vì họ không đưa ra được quan điểm pháp lý hay một bằng chứng lịch sử khả tín nào cho thấy họ có chủ quyền tại các quần đảo này.

Năm 1982, sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay”. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để xác định chủ trương này.

Tuy nhiên về mặt Công Pháp Quốc Tế, chiếu án lệ của Tòa Án Quốc Tế The Hague, muốn có Biển Lịch Sử phải hội đủ 3 điều kiện:

1. Phải có sự hành sử chủ quyền;

2. Một cách liên tục và trường kỳ; và

3. Được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải, đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện.

Dầu sao Tòa Án Quốc Tế đã định nghĩa “biển lịch sử là nội hải”.

Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định trong Điều 8 như sau:

“Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo [như Phi Luật Tân hay Nhật Bản] Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền, về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ. The International Court of Justice has defined historic waters as “internal waters”; “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State” (Art. 8 UNCLOS 1982).

Thủ Đắc do Chiếm Cứ

Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:

a) Chiếm cứ hòa bình.

Không có sự chối cãi rằng trong năm 1956 hải quân Trung Quốc đã chiếm cứ võ trang 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh phía đông bắc.

Năm 1974 Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm phía tây nam.

Năm 1988, lần đầu tiên hải quân Trung Quốc tấn công võ trang các đảo Trường Sa, và đã chiếm Đá Chữ Thập và Đá Gaven cùng một số đá chìm và bãi ngầm.

Năm 1992, Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm Bãi Vạn An trên Thềm Lục Địa Việt Nam phía đông nam các bãi dầu khí Thanh Long và Tứ Chính.

Những vụ chiếm cứ này không có tính hòa bình mà do xâm lăng võ trang nên không được luật pháp và tòa án bảo vệ. Vì nó đi trái Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Cũng như thời Thế Chiến II, Nhật Bản đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.

2) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ

Cho đến ngày 1-9-1951 Trung Quốc mới lên tiếng đòi “chủ quyền lịch sử ” tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, theo cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 đời vua Quang Tự Nhà Thanh “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″.

Theo Minh Sử, đời vua Lê Thánh Tông từ thế kỷ 15 (năm 1470), các đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt.

Theo Nguyên Sử “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.

Lịch sử Trung Quốc không mang lại bằng chứng khách quan vô tư nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ, công bố và hành sự chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa từ các đời Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ hay Quang Tự. Nếu chỉ có một số ngư dân lẻ tẻ từ đảo Hải Nam đến đánh cá theo mùa thì cũng không có sự công bố và hành sử chủ quyền của Quốc Gia.

3) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được sự thừa nhận của các quốc gia liên hệ.

Đầu tháng 9, 1951, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị Hòa Bình Cựu Kim Sơn để ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản, trong đó Nhật Bản từ bỏ quyền đòi Hoàng Sa Trường Sa nhưng không nói để trả cho nước nào. Ngoại Trưởng Liên Sô Gromyko nạp tu chính án yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trao Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Sau đó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hửu lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa và không gặp sự phản kháng nào.

4) Sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có ý nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải đối diện và tiếp cận. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay trong tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

5) Điều đáng lưu ý là, cho đến những năm 1956, 1974, 1988 và 1992 các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã do Việt Nam chiếm cứ công khai, hòa bình, trường kỳ và liên tục nên không thể coi đó là đất vô chủ. (terra nullius)

Do đó, về công pháp quốc tế, thuyết Biển Lịch Sử không còn là một vấn đề tranh nghị tại các Tòa Án Trọng Tài hay các Tòa Án Luật Biển. Vì thuyết này đi trái với Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague, và đã bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8.

Vì biết rõ điều đó nên Trung Quốc không dám đưa vụ tranh chấp hải phận và các hải đảo tại Biển Đông Nam Á ra trước Tòa Án Quốc Tế, Tòa Án Luật Biển hay Tòa Án Trọng Tài Liên Hiệp Quốc.

BÀI ĐỌC THÊM

HAI CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG CỦA BẮC KINH:
TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421
VÀ CHIẾM CỨ HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413

Khám phá Mỹ Châu là nói cho vui; thôn tính Biển Đông là mục tiêu chiến lược.

Mới đây Trung Quốc phát động hai chiến dịch phô trương, tuyên truyền rằng:

1. Năm 1421, trong Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422) của Chiến Dịch Thất Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu, trước Christopher Columbus 71 năm (năm 1492). So với Vasco Da Gama là người đã khám phá Mũi Hảo Vọng và đi xuyên 3 đại dương, từ Đại Tây Dương qua Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương (năm 1498), Trịnh Hòa đã thực hiện cuộc hành trình xuyên dương 77 năm về trước.

2. Và trong Chuyền Đi Thứ Tư (1413-1415) Trịnh Hòa đã chiếm cứ Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đây là hai chiến dịch truyền thông, mạo nhận thành tích để phô trương thanh thế và bóp méo sự thật.

Dầu sao sự mạo nhận này đã bị lịch sử phủ nhận.

TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421?

Trước hết, theo chính sử Trung Quốc, suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Thản hoặc, trong các thế kỷ thứ ba và thứ hai Trước Công Nguyên (thời Đế Quốc Tần Hán), Trung Hoa đã gửi những đoàn thám hiểm đến Biển Nhật Bản. Và trong thế kỷ 15, Minh Thành Tổ đã cử những phái đoàn thám hiểm Tây Dương đến Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu và đã viếng thăm 37 quốc gia duyên hải tại Ấn Độ Dương. Đó là những chuyến đi về ngoại giao và thương mại (tribute and trade). Những sự kiện này đã được ghi chép trong 3 loại tài liệu lịch sử:

a. Cuốn Minh Sử là chính sử.

b. Các bia kỷ niệm và các đồ bản tuyên dương thành thích được tồn trữ tại Phúc Kiến là địa điểm xuất phát Chiến Dịch.

c. Các sách sử địa trước tác bởi các thành viên tham gia Chiến Dịch như Doanh Nhai Thắng Lãm của Mã Hoan và Tinh Tra Thắng Lãm của Phi Tín. Trong Chuyến Đi Thứ Tư (1413-1415) Trịnh Hòa đi quá Ấn Độ, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải đến đông Phi Châu phía cực tây Ấn Độ Dương.

Về Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422) Bắc Kinh đại ngôn rằng Trịnh Hòa đã đi xuyên qua Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương để khám phá Mỹ Châu năm 1421.

Tuy nhiên, theo chính sử, Chuyến Đi Thứ Sáu của Trịnh Hòa là chuyến đi ngắn nhất chỉ kéo dài 7 tháng, từ tháng 2-1421 đến tháng 9-1421. Trong chuyền đi này Trịnh Hòa chỉ đi từ Phúc Kiến đến Sumatra (Nam Dương). Kế tiếp, hai sĩ quan tùy viên Yang Ching và Hung Pao đã điều khiển cuộc hải trình. (Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ (1978), trang 290-292).

Trong 7 chuyến công du, Trịnh Hòa không đến Đại Tây Dương, mà chỉ đi qua Biển Nam Hoa đến Ấn Độ Dương. Và như vậy không có việc, trong thế kỷ 15, Trịnh Hòa đã đi xuyên qua 3 đại dương là Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, và qua 3 châu Á, Phi và Âu để khám phá Mỹ Châu năm 1421.

Trong cuốn Trung Hoa Thao Túng Đại Dương học giả Louise Levathes, bỉnh bút tờ Nữu Ước Thời Báo và là giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Nam Kinh, cũng xác nhận điều đó: “Trong thời gian từ 1405-1433 các đoàn bảo thuyền (treasure ships) do Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy đã thực hiện 7 cuộc hành trình vượt qua Biển Nam Hoa đến Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư và bờ biển Đông Phi [chứ không sang Đại Tây Dương]. Trong những cuộc tiếp xúc với các thương gia Ả Rập người Trung Hoa cũng nghe nói về Âu Châu. Tuy nhiên họ đã không đến miền “cực tây” đó, vì Âu Châu chỉ sản xuất len dạ và rượu vang là những sản phẩm không được thị trường Trung Quốc ưa chuộng”. (Louise Levathes: When China Ruled the Seas, Simon & Schuster, New York, 1994, p. 20).

Mục đích những chuyến công du là thiết lập quan hệ ngoại giao và giao lưu thương mại. Nếu quả thật hồi đó Trịnh Hòa đến Đại Tây Dương thì lẽ tất nhiên đã phải ghé đến các cường quốc Âu Châu hồi thế kỷ 15 như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hòa Lan trước khi đi xuống Mỹ Châu là vùng đất hoang vu với các sắc dân da đỏ bán khai không thành quốc gia mà cũng không có những tài nguyên hay thổ sản để giao lưu thương mại với Trung Quốc.

Và chiến dịch truyền thông của Đế Quốc Đại Hán chỉ là chuyện bịa đặt vụng về, bất khả tín.

Như vậy, theo các sử liệu của Trung Quốc và trên thế giới, Trịnh Hòa không lai vãng đến Đại Tây Dương và cũng không khám phá Mỹ Châu. Đây chỉ là một chiến dịch tuyên truyền, bịa đặt thành tích để phô trương thanh thế. Tuyên truyền dối trá là võ khí chiến lược số 1 của Cộng Sản.

Trung thành với sách lược này, Bắc Kinh còn dựng đứng câu chuyện, từ thế kỷ 15 Trịnh Hòa đã chiếm cứ Chiêm Thành với Hoàng Sa Trường Sa.

TRỊNH HÒA CHIẾM HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413?

Sau vụ đảo chánh cướp ngôi của cháu ruột Minh Huệ Đế năm 1402, để làm lạc hướng dư luận, về mặt quốc tế, năm 1405 Minh Thành Tổ phát động chiến dịch Thất Hạ Tây Dương. Về mặt quốc nội, huy động hàng trăm học giả Trung Quốc soạn thảo cuốn Vĩnh Lạc Đại Toàn để đề cao cá nhân Minh Thành Tổ. Điều mỉa mai là, viện cớ khôi phục nhà Trần, Minh Thành Tổ, kẻ soán đoạt ngôi vua Nhà Minh, đã đem quân trừng phạt Hồ Quí Ly là kẻ soán đoạt ngôi vua Nhà Trần. Trương Phụ, Mộc Thạnh truyền hịch loan báo quân Tầu chỉ sang Việt Nam để tái lập ngôi vua nhà Trần, một triều đại vinh quang được toàn dân quý mến sau 3 trận đại thắng quân Mông Cổ. Với chiêu bài “cứu dân phạt tội” nhằm thu phục nhân tâm, quân nhà Minh đánh đâu được đó, quân nhà Hồ phần giã ngũ, phần qui hàng. Chủ yếu Minh Thành Tổ đã lợi dụng thời cơ để đem quân thôn tính Đại Việt trong suốt 20 năm (1407-1427).

Về Chiến Dịch Thất Hạ Tây Dương, trong Chuyến Đi Thứ Nhất (1405-1407), với một hạm đội hùng mạnh trên 27 ngàn sĩ tốt và hơn 300 hải thuyền, trong đó có 62 bảo thuyền lớn (large treasure ships), Trịnh Hòa đã không đổ bộ Việt Nam, chỉ ghé bến Đồ Bàn hay Trà Bàn (Chaban). Lúc này, nếu quả thật có kế hoạch thôn tính Chiêm Thành, Minh Thành Tổ chỉ cần điều động đội thủy binh hùng mạnh của Trịnh Hòa trong Chuyến Đi Thứ Nhất, chứ không cần phải đợi đến Chuyến Đi Thứ Tư (năm 1413) mới dùng thủ đoạn đồng minh giả hiệu để xâm chiếm Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận.

Vả lại, theo chính sử, về Chuyến Đi Thứ Tư (1413- 1415), Minh Sử chỉ ghi Trịnh Hòa có đến Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải và Đông Phi Châu, chứ không ghi việc Trịnh Hòa đã chiếm Chiêm Thành với Hoàng Sa Trường Sa. Đặc biệt Trịnh Hòa đã ra huấn thị cho các đội hải thuyền: “phải tránh xa các vùng đá ngầm và các đảo nguy hiểm tại Biển Nam Hoa” [Thất Châu Dương phía tây bắc Hoàng Sa]. Trong những chuyến đi sau này, nhiều bảo thuyền đã bị mất tích vì bão tố.(Louise Levathes: When China Ruled the Seas, p. 93).

Điều đáng lưu ý là, lập luận của Chính Phủ Bắc Kinh cho rằng Trịnh Hòa đã chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Minh (thế kỷ 15) hoàn toàn mâu thuẫn với lập trường của chính họ trong Bản Chú Giải về các Đảo Nam Uy (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) ngày 1-9-1951, theo đó Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Tống (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 13). (Notes on the Nanwei and Sisha Islands of 9-1-1951: People’s China Foreign Language Press) (1*).

Đây chỉ là những quyết đoán hồ đồ và những khẩu thuyết vô bằng.

Vì nếu Bắc Kinh dám tuyên bố Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu năm 1421, thì họ cũng không ngần ngại bịa đặt rằng Trịnh Hòa đã thôn tính Hoàng Sa Trường Sa năm 1413.

Nói tóm lại, về hai chiến dịch truyền thông cho rằng Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu năm 1421, và đã chiếm cứ Hoàng Sa Trường Sa năm 1413, chúng ta chỉ có thể kết luận: Phải là người Đại Hán đảm lược (to gan lớn mật) mới dám lấy những chuyện hoang đường võng tưởng làm sự thật lịch sử.

Trên đây là những sự thật lịch sử do các học giả Trung Quốc biên soạn. Đó cũng là những lời bình giải mà ngýời viết chuyển ðến ông Tập Cận Bình nhân chuyến công du mới đây của ông tại Hoa Kỳ.

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Chủ Tịch Ủy Ban Luật Gia
Bảo Vệ Dân Quyền

(1*) Đọc lại lịch sử Chiêm Thành chúng ta không thấy điều khoản nào ghi rằng trong thế kỷ 15 đời Minh Thành Tổ, Trung Quốc đã chiếm cứ nước Chiêm gồm cả lục địa và hải phận trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo cuốn Bách Khoa Toàn Thư Anh Quốc (Encyclopedia Britannica 1973, Champa trang 723), Chiêm Thành là một quốc gia phân hóa thành bốn tiểu bang hay “phủ” là: Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình Định), Kauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Bình Thuận hay Phan Rang). Tới thế kỷ thứ 6 Chiêm Thành thoát khỏi sự thống trị của Trung Quốc để trở thành một nước độc lập đặt thủ đô tại Amaravati (Quảng Nam). Trong thế kỷ thứ 9 quân Chiêm tấn công tại mấy tỉnh Giao Châu về phía bắc đồng thời đẩy lui Chân Lạp về phía tây.

Đến thế kỷ thứ 10 Việt Nam giành được độc lập. Và trong thế kỷ 11 khi vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt (năm 1054) phát động cuộc Nam Chinh trừng phạt Chiêm Thành, Chế Củ đã dâng ba châu thuộc địa phận Quảng Bình Quảng Trị để chuộc tội (năm 1069).

Qua thế kỷ 14, sau khi 3 lần đại thắng quân Mông Cổ, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông trong cuộc thắng cảnh Chiêm Thành hứa sẽ gả Công Chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Với vinh dự được làm rể Đại Việt, Chế Mân dâng hai châu thuộc địa phận Thuận Hóa để làm lễ cưới (năm 1306). Cuộc hôn nhân chưa được một năm thì Chế Mân chết, và theo tục lệ Chiêm Thành, Hoàng Hâu Huyền Trân phải hỏa thiêu để chết theo. Mặc dầu vậy vua Nhà Trần đã tìm cách giải thoát cho Công Chúa. Cũng vì mâu thuẫn này mà các vua Chiêm Thành từ Chế Chỉ và Chế Bồng Nga đã lấy cớ đem quân tàn phá Đại Việt trong 30 năm. Và sau này cuộc chiến tranh kéo dài trong suốt một thế kỷ từ đời vua Trần Nghệ Tông (1370) đến vua Lê Thánh Tông (1470). Kết cuộc năm 1471 dưới triều Hồng Đức Nguyên Niên, trong Chiến Dịch Bình Định, Đại Việt đã thôn tính lãnh thổ Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận trong đó tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuốn “Early Civilizations of Southeast Asia” của Sử Gia Dougald JW O’Reilly (Altamira Press U.S.A., 2007, trang 139) cũng xác nhận điều đó: “The Cham polity finally collapsed in 1471 with the capture of the capital Vijaya by the Viet”.

THÔNG CÁO BÁO CHÍ Về kết quả cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc tại New York ngày 20/6/2015 

Tuesday, June 23rd, 2015

BTC 15_Logo

New York, 20/6/2015 – Vào ngày thứ Bảy 20/6/2015, cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 30 do Cơ Quan Quốc Tế Di Dân tổ chức đã diễn ra rất tốt đẹp tại thành phố New York, Hoa Kỳ dưới bầu trời trong sáng đầy nắng ấm, mặc dù buổi sáng sớm có mưa lâm râm. Đây là lần thứ 16 Cộng Đồng người Việt tỵ nạn tham dự.

Banner va comm small

Đoàn diễn hành trải dài trên đại  lộ số 6 (6th Ave) – một đại lộ nổi tiếng của thành phố New York với nhiều cao ốc, còn được gọi là Đại Lộ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (Avenue of America) – từ đường 44 đến đường 56, tức 12 bloc đường phố. Từ 9 giờ sáng, các đội hình của đoàn Việt Nam đã bắt đầu tập họp trên đường 43, giữa đại lộ 5 và 6. Đúng 12 giờ trưa, các đội hình bắt đầu di chuyển.

Có nhiều quốc gia tham dự cuộc diễn hành quốc tế hàng năm này, năm nay có Tibet, Abania và Việt Nam. Nhưng có lẽ đoàn Việt Nam được xem là đông nhất, nhiều màu sắc nhất, nhiều ý nghĩa và có nhiều giải thưởng nhất trong những năm có chấm điểm.

Cac chu tich cd

Mặc dù gặp khó khăn về nơi tạm trú do khách sạn của nhà Mạnh Thường Quân quá cố Trần Đình Trường nay đã thuộc chủ nhân mới, số đồng hương Việt Nam tham dự năm nay khá đông (khoảng 600). Nhiều phái đoàn đến từ nơi xa xôi như Cộng Đồng  Houston (Texas) với tân Chủ Tịch Trần Quốc Anh lái xe hơn 30 giờ; phái đoàn tử Georgia đi 20 tiếng bẳng xe bus với trên 120 thành viên; Cộng Đồng DC, Maryland và Virginia với hơn 50 thành viên dong ruổi 6 giờ suốt đêm trên xe bus; Boston, Mass 50 thành viên cùng võ đường Tây Sơn với 7 giờ lái xe. Phái đoàn từ Louisiana, Kansas, phái đoàn từ Weschester, NY với võ đường Ocean Dragon Martial Art. Phái đoàn Florida gồm Ông chủ tịch Lưu Văn Tươi và phu nhân; Bà Đồng Thanh cựu chủ tịch đã trên 80 tuổi vẫn hiện diện cùng Hoa Hậu Phu Nhân 2015 Xuân Trà. Từ thành phố Pomona, Cali, BS Võ Đình Hữu, chủ tịch Hội Đồng Đại Biểu, CĐNVQGLBHK đáp máy bay suốt đêm về cho kịp giờ khai mạc. Tại địa phương New York, ngoài các vị trong Ban Tổ Chức (LS Nguyển Thanh Phong, Ông Nguyễn Văn Tánh, Cô Tara Thu, Ông Nguyễn Sơn Hà, Ông Lê Thanh Diệu…), còn có nhiều đồng hương tham dự trong đoàn diễn hành hoặc với tư cách khán giả hai bên đại lộ. Ngoài ra còn có phái đoàn tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo v.v.., phái đoàn Nhà Bảo Tồn Văn Hóa từ Canada.

xe hoa 2

Cộng Đồng Việt Nam năm nay tham dự với xe hoa chủ đề “Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh” trang trí lộng lẫy nhằm nói lên tinh thần bất khuất, từng đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ gìn bờ cõi, và đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn đất nước hiện đang lâm nguy trước họa xâm lược của Tàu Cộng từ phương Bắc. Phái đoàn diễn hành Việt Nam rất dài gồm đủ mọi thành phần tuổi tác, trẻ già, nam phụ lão ấu, nhất là giới trẻ, màu sắc rực sỡ, có cả các cụ già 80-90, có cụ dùng lăn hoặc walker để đi diễn hành. Cờ Quốc Gia màu vàng ba sọc đỏ tung bay trong gió, gương mặt mọi người rạng rỡ.

Đặc biệt phái đoàn từ Nam California với các văn nghệ sĩ như  MC Nam Lộc, Diễm Liên, Thế Sơn. Bắc Cali có Bà Chung Ngọc Nhi hướng dẫn với MC Thái Hà, Hoa Hậu Asian American Jenny Chung. Hoa Hậu từ Georgia, Hoa Hậu Phu Nhân 2015 từ Florida v.v.di dau

cam co lon med

dienhanh

Hầu hết các vị Chủ Tịch cộng đồng Đông Bắc Hoa Kỳ đều có mặt cùng các thành viên: CĐ New Hampshire (Ông Cao Xuân Khải và phái đoàn); CĐ Mass (Ô. Nguyễn Thanh Bình và phái đoàn), Cộng Đồng Connecticut với Ông Trần Văn Giỏi, Cộng Đồng New Yersey (với Chủ tịch Lê Ánh Nguyệt), Nam New Jersey (Ông bà Trần Quán Niệm và Hội Phụ Nữ), Cộng Đồng Philadelphia (Ông Vũ Trực), CĐ Pennsylvania (DS Nguyễn Đức Nhiệm), CĐ Hoa Thịnh Đốn (Ông Thomas Phạm, Ông Nguyễn Văn Đặng và các thành viên), Cộng Đồng Georgia (Ô Trần Mãn), Đoàn Phụ Nữ Cờ Vàng với áo dài màu cờ đến tử nhiều nơi như DC, New Jersey, Massachusetts v.v.. Trước giờ diễn hành, các vị chủ tịch CĐ, đoàn thể, tôn giáo cũng như các anh chị em Văn Nghệ Sĩ đã phát biểu cảm tưởng trước các cơ quan truyền thông như SBTN, VNA-TV 57.3 (Ông Du Miên và chuyên viên), OVM4TV (với Ông Nguyễn Đình Toàn), SBTN Boston với Ô. giám đốc Hà Văn Tải, đài Việt Nam Hải Ngoại New Jersey (với ông Nguyễn Tường Thược), báo Người Đẹp (Ô. Lưu Nguyễn), báo Việt Mỹ, TV Atlanta và nhiều nơi khác.

Vào tối thứ Bảy, một tiệc kỷ niệm 30 năm Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế và 40 năm viễn xứ, được tổ chức có văn nghệ giúp vui với ca sĩ Diễm Liên, Thế Sơn, MC Thái Hà và Nam Lộc, các ca sĩ địa phương tại hội trường nhà thờ Most Precious Blood Church rất hào hứng, quy tụ trên 200 thực khách.

Tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế năm nay Cộng Đồng người Việt tỵ nạn chứng tỏ sự kiên trì quyết tâm giữ gìn văn hóa ở hải ngoại và ngọn cờ chính nghĩa Tự Do vẫn tung bay trên nền trời thành phố New York. Ban Tổ Chức đã tốn nhiều công sức tạo nên kết quả hôm nay với sự tham dự đông đảo và sự nhiệt tình ủng hộ của các đồng hương, cộng đồng và mạnh thường quân khắp nơi về tinh thần lẫn vật chất. Người Việt tỵ nạn hải ngoại nhất quyết giữ vững truyền thống ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm không để cho CSVN có cơ hội chen vào.

Ban tổ chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế chân thành tri ơn tất cả các cộng đồng, các tổ chức đoàn thể, các mạnh thường quân, các văn nghệ sĩ và đồng thương đã hỗ trợ tài chánh, yểm trợ tinh thần và tham dự ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế 2015 năm nay. (BTC tổng hợp từ TQN) 

BAN TỔ CHỨC

Cố Vấn và Bảo Trợ: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

Trưởng Ban Tổ Chức: LS Nguyễn Thanh Phong Chủ Tịch CĐNVQY/NY.

Điều Hợp Tổng Quát: Ô. Nguyễn Văn Tánh Cựu Chủ Tịch CĐNVQG/HK.

Đồng Trưởng Ban Tổ Chức:

– Ô. Đoàn Hữu Định:  Chủ Tịch Cộng Đồng MD & VA và DC

– Ô. Cao Xuân Khải: Chủ Tịch Cộng Đồng New Hampshire

– Ô. Nguyễn Thanh Bình: Chủ Tịch Cộng Đồng Massachusetts

– Ông Trần Văn Giỏi: Chủ Tịch Cộng Đồng Connecticut

– DS Nguyễn Đức Nhiệm: Chủ Tịch Cộng Đồng Pennsylvania

– Ông Lưu Văn Tươi: Chủ Tịch Cộng Đồng TB/Florida

– Ô. Trần Quán Niệm: Chủ Tịch Cộng Đồng Nam New Jersey

– Ô. Vũ Trực: Chủ Tịch Cộng Đồng Philadelphia, PA

– Cô Lê Ánh Nguyệt: Chủ Tịch CĐ Việt Nam Tự Do New Jersey

 

Thành Viên Ban Điều Hợp:

Đặc Trách Truyền Thông:   Ô. Nguyễn Đình Toàn – Phó Ban Điều Hành: Cô Tara Thu &

Ô. Lê Thanh Diệu – Thủ Qũy:  Ô. Nguyễn Sơn Hà.

Tin Tức ngày 24/5/2015

Sunday, May 24th, 2015

Mỹ cân nhắc tiến vào vùng 12 hải lý quanh các đảo tranh chấp ở Biển Đông

 Ảnh chiến trường đưa người Mỹ trở lại Chiến tranh VN

Trung Quốc: Mỹ có thể gây tai nạn ở biển Đông

Mỹ cáo buộc giáo sư vật lý đưa công nghệ nhạy cảm cho Trung Quốc

Chỉ huy hàng đầu của phiến quân Ukraine thân Nga thiệt mạng

‘Tổng thư ký LHQ phải thúc đẩy nhân quyền Việt Nam’

Mỹ: Muốn vào TPP, Việt Nam phải cải thiện nhân quyền trước

Báo Việt Nam rút bài từ bỏ hội nhà văn?

Việt Nam học hỏi kinh nghiệm đổ bộ từ Mỹ

Thượng đỉnh Riga : Châu Âu và 6 nước Liên Xô cũ tránh căng thẳng với Nga

Thái Lan : Luật về tội khi quân trờ thành vũ khí đàn áp

Mỹ-Nga hạ nhiệt xung khắc vì tình hình thế giới nóng bỏng

Đối đầu Mỹ – Trung trên không phận Biển Đông

Công nghiệp buôn người tại Đông Nam Á

Tập trận Nga-Trung ở Địa Trung Hải thể hiện tham vọng trên biển của Bắc Kinh

Washington không để Bắc Kinh thao túng tại Biển Đông

Một bài văn hay 30-4 của nữ sinh lớp 12

Thursday, May 14th, 2015
Sent: Thursday, May 14, 2015 8:57 AM
Lê Trần Thu Nguyệt – Lớp 12/A4 – Trường THCS III – Quận… TP/HCM
Môn Văn Học – Đề bài: “Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới của xã hội đất nước, có thứ nào đôi khi có thể sẽ tốt hơn, nếu: (theo suy nghĩ của bạn)…?” 
Bài Làm 
Sáng ngày 30 tháng 4 – Trôi theo dòng người tấp nập Tôi ngược lên cầu Thị Nghè rẽ trái đường Nguyễn Bỉnh Khiêm định vào đại lộ Lê Duẩn xem lễ duyệt binh chào mừng “Đại Thắng”, nhưng đến trước thảo cầm viên là cảnh sát công an ách lại kiểm ra, chỉ có giấy mời mới vào được khu vực trung tâm hành lễ.
Lỡ đi rồi biết làm sao, đứng bên lề đường trưa nắng như thiêu đốt, một chiếc xe bus quân đội đời mới dừng lại mở cửa hơi lạnh từ trong xe hắt ra mát rượi nhiều người đứng tuổi trên xe bước xuống, quân phục “Giải Phóng Quân” mới tinh một màu xanh lá với huân, huy chương lủng lẳng đầy ngực xếp hàng đủng đỉnh oai vệ đi sau người cầm cờ hướng vào khán đài.
Khát nước, bước qua bên kia đường mua ly nước mía, mắt tôi chợt dừng lại dưới đất cách vài bước chân ngồi bên cột đèn đường hứng cái nắng chói chang gay gắt là một bóng người lớn tuổi đen đúa cụt cả đôi chân cái nón vải sùm sụp trên đầu và chiếc áo rằn ri lá cây rừng bạc màu nắng gió trước mặt là cái lon sắt cũ kỹ đựng tiền lẽ.
Cầm ly nước mía tự nhiên đôi chân tôi bước lại, ngồi xuống 2 tay bê ly nước tôi ngỏ lời: Thưa, cho cháu mời bác ly nước và cũng không quên bỏ vào cái lon sắt tờ bạc mười ngàn đồng, ngạc nhiên bên trong cái lon sắt nằm chèo queo là cái huy chương bằng kim loại cũ mèm, tôi cầm lên ngắm nghía hỏi khẽ: bác là thương binh? Bác ấy cười móm mém: Thưa cô, tôi là phế binh chế độ cũ QL/VNCH, cái huy chương đó là “Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu” kỷ niệm trận ĐăkTô, Tân Cảnh.
Đứng ở đây xa quá không xem được gì nhiều. Tôi mua vé vào Thảo Cầm Viên kề bên, ngồi trên thảm cỏ xanh dưới bóng cây trốn cái nắng mang theo trong lòng một thứ gì đó nằng nặng, không dưng tự nhiên bỗng thấy vương vấn một thoáng ngậm ngùi…
Rồi tự hỏi: Sao cũng là người Việt Nam cũng chiến binh như nhau nhưng ngày “đại thắng” thống nhất non sông, dân tộc chứng kiến 2 số phận “Vinh Nhục” đôi đường tương phản đến não lòng như vậy?.
Rồi như tự trả lời cho chính mình: Nếu ngày xưa sau khi bị chia đôi 2 miền đất nước vào năm 1954 sao Miền Bắc, Bác Hồ không làm như miền Nam là “tuyên chiến” nhưng tuyên chiến với đói nghèo lạc hậu với nhược tiểu của một quốc gia vừa thoát tròng 100 năm nô lệ, 2 miền Bắc Nam cùng thi đua nhau, Sài Gòn ông Ngô Đình Diệm thì dựa vào viện trợ của Mỹ và các nước tư bản để phát triển cùng nhịp điệu với các quốc gia Đông Nam Á. Hà Nội thì ông Hồ Chí Minh dựa vào Liên Xô, Trung Quốc và khối Đông Âu viện trợ xây dựng lại miền Bắc sau cơn đói tang thương Ất Dậu, chưa cần thiết phải tuyên chiến đánh nhau và với vị trí đắc địa nhìn ra Biển Đông trên “đại lộ” hàng hải quốc tế thì sau hơn 60 năm (kể từ 1954) nếu sáng suốt và khôn khéo thì hôm nay chí ít 2 miền Bắc Nam đã như là Hàn Quốc – Đài Loan hay Singapore, kinh tế phát triển bao nhiêu thì xã hội kiến thức văn minh con người cũng cao theo chừng ấy và lúc này sau bao nhiêu năm, là lúc người dân 2 miền sẽ biết phải làm như thế nào để tương thích với tầm cao trí tuệ, để nhân danh nhân quyền nhất trí bằng một cuộc biểu quyết thống nhất trong êm đềm văn minh như Đông và Tây Đức trước kia và sẽ bầu tổng thống và Quốc Hội mà nhân sự là tổng hợp nhân tài trộn lẫn của cả 3 miền Trung Nam Bắc trong công bằng quang minh chính trực.
Và như vậy là hoàn toàn không có mấy triệu người, một thế hệ thanh niên rường cột quốc gia nằm xuống, không có biết bao cảnh tang thương đoạn trường do khói lửa chiến tranh bom đạn từ nước ngoài mang vào gây ra và quan trọng là đôi khi qua cuộc bầu cử thống nhất bởi trí tuệ văn minh nhân quyền đích thực của toàn dân phát triển qua 60 năm không bị chiên tranh hôm nay có thể Việt Nam không phải là một nước CS/XHCN mà được toàn dân chọn lựa là một quốc gia đa nguyên tự do dân chủ như đa phần các quốc gia trong LHQ hiện nay và vì vậy chắc chắn không có hình ảnh ngày lễ “Thống Nhất” duyệt binh mà có Bác thương binh QL/VNCH miền Nam ngồi bên vệ đường nắng bụi cùng cái huy “Anh Dũng Bội Tinh” và nhất là sẽ có gần trăm triệu người cùng chung vui chứ chẳng có triêu người nào buồn…
Tóm lại có rất nhiều thứ, nhưng một thứ lớn nhất “có thể sẽ làm cho xã hội tốt hơn rất nhiều so với ngày nay, nếu không có cuộc chiến tranh phát xuất từ miền Bắc vào miền Nam” gây ra.
Con gái tôi dưới nhà đi lên hỏi: Ba thấy bài viết con ra sao mà Thầy con nói “rất muốn cho em điểm 9 bài văn này, nhưng không thể”? mà con thì không thể nào hiểu nổi?
Tôi im lặng chỉ cười buồn nhìn con mình cắp cặp lên lầu chuẩn bị làm lại bài mới dù muốn nói với con: Hơn ba triệu đảng viên CSVN trong đó hàng chục ngàn Thạc Sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư mà họ còn không muốn hiểu thì một học sinh 17 tuổi như con thì làm sao hiểu được… Một mai không còn chủ nghĩa CS trên đất nước mình ắt con sẽ hiểu mà không cần đến ai để giải thích.
14/05/2015

 

Hoàn Cảnh Lịch Sử Dẫn Đến Tranh Chấp Chủ Quyền Của Việt Nam Tại Quần Đảo HOÀNG SA & TRƯỜNG SA – Nguyễn Nhã

Friday, March 27th, 2015

BÀI THAM LUẬN CỦA TIẾN SĨ NGUYỄN NHÃ

Bài đăng ngày 02/02/2009 Cập nhật lần cuối ngày  03/02/2009 08:46 TU

 Hăn Nguyên Nguyễn Nhă

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC CHÍNH QUYỀN TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG HOA) KHẢO SÁT TRÁI PHÉP QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀO NĂM 1909 VÀ TIẾP TỤC LÚN SÂU VÀO VIỆC XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở HOÀNG SA CHO ĐẾN NĂM 1930 KHI CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP THAY ĐỔI QUAN ĐIỂM

Việt Nam bị Pháp xâm lược năm 1858, mất hết chủ quyền tự chủ ngoại giao theo Hiệp ước cuối cùng ký với Pháp năm 1884, không bảo vệ được chủ quyền của mình tại Hoàng Sa khi bị các nước khác xâm phạm .

Chính trong thời Pháp thuộc đă xảy ra sự kiện chính quyền Quảng Đông (Trung Hoa) do Tổng Đốc Trương Nhân Tuấn đứng đầu vào tháng 6 năm 1909 như báo chí Quảng Châu hồi bấy giờ đưa tin, lần đầu tiên đă cử một hạm đội nhỏ của Nhà Thanh đă đi khảo sát trái phép quần đảo Paracels, vốn của Việt Nam từ lâu, tên chữ là Hoàng Sa hay tên nôm gọi là Cát Vàng hay Cồn Vàng.

Tên Tây Sa mà chính quyền Quảng Đông mới đặt ra sau sự kiện tháng 10 năm 1907, chính quyền Nhà Thanh đuổi được nhóm thương gia người Nhật Nishizawa Yoshiksugu chiếm giữ đảo Pratas trong 3 tháng (từ 2 tháng 7 năm 1907). Cũng bắt đầu từ khi này, chính quyền Quảng Đông đă đặt tên Pratas là Đông Sa vốn là tên một đảo ở ngoài khơi tỉnh Quảng Đông, đă được ghi rất rõ trên bản đồ “Duyên Hải Toàn Đồ” trong sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1730).

Không phải chính quyền thực dân Pháp không biết sự kiện khảo sát trái phép này. Chính bức thư của lãnh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu gửi Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp ngày 4 tháng 5 -1909 đã nêu ý đồ của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam khi viết: “Như tôi đã trình bày với ông khi kết thúc bản báo cáo gần đây của tôi (số 86 ngày 1 tháng 5 năm 1909) về vấn đề các đảo Đông Sa (Pratas), vấn đề này khiến chính phủ Trung Hoa chú ý đến các nhóm đảo khác nằm dọc bờ biển của Thiên Triều và tới một mức độ nhất định có thể được coi như một bộ phận của Thiên triều, trong đó có quần đảo Paracels”.[Monique,Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys, Paris, L’Harmattan,1996,p.206]. Cũng cần lưu ý bức thư trên đă viết khi chính quyền Quảng Châu c̣òn đang chuẩn bị thực hiện chuyến khảo sát . Cuộc khảo sát diễn ra sau đó, có mặt cả người Đức, đă rời Hồng Kông vào ngày 21-5-1909 và về Quảng Châu vào ngày 9-6-1909.

Cũng trong thư trên đề ngày 4 tháng 5 năm 1909, lãnh sự Pháp ở Quảng Châu gửi cho Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp có một số nội dung đáng lưu ý sau đây:

Do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm luôn quần đảo Paracels gần Hải Nam.

Cuộc khảo sát trái phép đầu tiên là của Ngô Kính Vinh đã cho thấy ở mỗi đảo Hoàng Sa đều có một ngôi miếu nhỏ xây kiểu nhà đá (tất cả tường mái là đá san hô và vỏ sò). [Monique,Chemillier-Gendreau, sđd, Paris, L’Harmattan,1996,p.207]

Các ngư dân Việt Nam mang cả vợ con đến sống ở Hoàng Sa, bị đối xử tàn tệ, vợ con bị bắt đến Hải Nam.[Monique,Chemillier-Gendreau, sđd, Paris, L’Harmattan, 1996,p. 210]

Như thế chính phủ Pháp ngay tại chính quốc đă rõ ý đồ của chính quyền Trung Hoa dù chỉ là chính quyền địa phương xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại Paracels hay Hoàng Sa của Việt Nam. Sở dĩ Chính quyền Pháp không ngăn chặn hành động khảo sát trên vì nhiều lý do:

Một là khi ấy, Pháp chưa quan tâm đến vấn đề bảo vệ sở hữu quần đảo của nước “An Nam” mà Pháp bảo hộ theo Hiệp ước Patenôtre 1884. Vấn đề ngăn chặn ý đồ của Trung Hoa ngay từ năm 1909 mà Lănh sự Pháp ở Quảng Châu là Beauvais đă báo cáo, bị chính quyền Pháp ở mẫu quốc bỏ qua.

Điều này cũng dễ hiểu, nếu như các đảo ấy vốn thuộc sở hữu của nước Pháp hoặc thuộc đất Nam Kỳ , nhượng địa hay thuộc địa chứ không phải đất bảo hộ, thì chắc chắn chính phủ Pháp sẽ có hành động ngăn chặn ngay và sẽ không thể xảy ra tranh chấp lâu dài về sau. Nếu không chính phủ Pháp sẽ bị kết tội hay sẽ bị lên án do chính người Pháp hoặc giới chính trị hoặc những công dân yêu nước của Pháp.

Hai là chính quyền thực dân Pháp ngại sự ngăn chặn có thể làm phát sinh trong ḷòng dân chúng Trung Hoa một phong trào “sô vanh’ có hại cho quyền lợi Pháp ở Trung Quốc.

Điều này cũng đă được Ông Beauvais nêu ra trong chính văn thư báo cáo ngày 4-5-1909 gửi Ông Bộ trưởng Ngoại Giao Pháp và đă được chính phủ Pháp cân nhắc làm theo: “ Như vậy , thưa Ông Bộ Trưởng, nếu ta còn lợi ích trong việc ngăn không cho Chính phủ Trung Hoa nắm lấy nhóm các đá ngầm này, có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng nghiên cứu, tìm ra các lập luận chứng minh rõ ràng quyền của chúng ta và những bằng chứng không thể bác bỏ về quyền đó. Nhưng nếu việc đó không đáng làm, sau khi đă suy nghĩ chín chắn, có lẽ nên nhắm mắt làm ngơ. Một cuộc can thiệp của chúng ta sẽ có khả năng làm xuất hiện một phong trào sô vanh mới làm cho chúng ta bị thiệt hại nhiều hơn lợi ích mà việc sở hữu được thừa nhận đối với quần đảo Hoàng Sa đem lại( Cf. Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, L’Harmattan, 1996, p.211-212).

Trong văn thư đề ngày 14 Janvier 1921 của Ông Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn của Bộ Ngoại giao Pháp (Le Président du Conseil , Ministre des Affaires Etrangères) gửi Bộ Trưởng Bộ Hải Quân Pháp cũng đă khẳng định Bộ ngoại Giao Pháp đă nghe theo ý kiến của Beauvais (Cf. Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 205).

Ba là các quan chức thực dân Pháp từ Phủ Toàn quyền đến Bộ Thuộc Địa hay Bộ Ngoại giao Pháp không biết rõ hoặc rất mơ hồ về sở hữu từ lâu thuộc về Việt Nam.

Có rất nhiều bằng chứng như chính Ông Beauvais trong bản báo cáo trên cũng không chắc chắn mà chỉ nói: “có lẽ sẽ dễ dàng nghiên cứu…”. …

Cho đến ngày 6 tháng 5 năm 1921, có nghĩa sau hơn 1 tháng ngày 30-3-1921, lệnh mang số 831 của Ban Đốc Chính chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa sau phiên họp ngày 11-3-1921 đă quyết định sáp nhập về mặt hành chính các đảo Hoàng Sa vào huyện Yai Hien (Châu Nhai, đảo Hải Nam),Vụ Các Vấn đề chính trị và Bản Xứ thuộc Phủ Toàn Quyền Đông Dương đă có văn bản ghi chú( Note) ghi rất nhiều điều liên quan đến quần đảo Hoàng Sa lấy từ Hồ sơ hiện có ở Phủ Toàn Quyền Đông Dương, cho biết đã tìm trong kho tư liệu của hải quân Sàig̣òn, lưu trữ của Thống đốc Nam kỳ , của Phủ Toàn quyền không thấy có tư liệu nào có tính chất làm rõ quốc tịch của các đảo Hoàng Sa. Chính lúc Toàn Quyền Đông Dương ra chỉ thị điều tra về vấn đề quốc tịch của Hoàng Sa cũng là lúc nhận được bức thư của Tổng lănh sự Beauvais ở Quảng Châu báo tin có sự kiện chính quyền quân sự Nam Trung Hoa quyết định sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Đông.

Rõ ràng sự kiện Chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa ra tuyên bố sáp nhập Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam vào huyện Châu Nhai, đảo Hải Nam thuộc tỉnh Quảng Đông ngày 30 tháng 1 năm 1921 cũng đă xảy ra vào thời Pháp thuộc, khi Việt Nam đă hoàn toàn mất chủ quyền.

Khi c̣òn mơ hồ về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Ḥoàng Sa, trong khi ấy thực chất quyền lực nhà nước là do chính quyền thực dân Pháp nắm, nên chính quyền thực dân Pháp không tích cực ngăn chặn sự vi phạm chủ quyền của chính quyền Qủang Đông tại quần đảo Hoàng Sa là chuyện đương nhiên. Chắc chắn khi Việt Nam có c̣òn chủ quyền, được độc lập tự chủ hay Hoàng Sa vốn thuộc chủ quyền của Pháp thì chính quyền nào cũng phải lấy nhiệm vụ tối thượng là bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ của nước mình. Vì thế chung qui không có sự ngăn chặn kịp thời sự xâm phạm chủ quyền của chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa vào năm 1921 cũng như của chính quyền Quảng Đông năm 1909 chính là do Việt Nam bị Pháp đô hộ, không c̣òn chủ quyền để bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ của mình.

Vậy về phía Việt Nam nguyên nhân sâu xa hay khách quan dẫn đến sự tranh chấp không đáng có chính là Việt Nam bị Pháp đô hộ , mất hết chủ quyền để có thể bảo vệ lănh thổ của mình khi bị xâm phạm.

Về phía Trung Hoa , nguyên nhân khách quan là do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm luôn quần đảo Paracels gần Hải Nam để tránh xảy ra sự kiện bất cứ nước nào nhất là các cường quốc hồi bấy giờ phỗng tay trên, chiếm cứ những đảo ở Nam Hải mà Trung Hoa coi là vô chủ.

Về phía chính quyền thực dân Pháp, nguyên nhân chủ quan chính là do quyền lợi riêng của Chính quyền thực dân Pháp đă khiến Pháp không phản ứng kịp thời để Trung Hoa cho là đất vô chủ và đi sấu vào hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở Ḥoàng Sa và sự thiếu hiểu biết do hạn chế của người đi đô hộ, không hiểu quan điểm của Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Song sau đó chính quyền thực dân Pháp lại bắt đầu quan tâm đến hành động trái phép của chính quyền Quảng Đông với quấn đảo Hoàng Sa. Vậy thì nguyên nhân nào khiến chính quyền thực dân Pháp bắt đầu quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa trong thời gian từ năm 1921 đến 1930, Pháp bắt đầu thay đổi quan điểm. Đó chính là tầm quan trọng của vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa đối với an toàn quyền lực của Chính quyền thực dân Pháp về sự hiểu biết lập trường của Việt Nam (Theo Thượng thư Bộ binh Thân Trọng Huề giải thích).

Trước hết chính vì vị trí chiến lược quan trọng của quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa cũng như Biển Đông đối với lănh thổ Pháp đang cai trị, nên thực dân Pháp ở Đông Dương phải cân nhắc lợi hại, đă quyết định đối mặt với những ý đồ tranh chấp chủ quyền của các nước khác trong đó có Trung Quốc.

Lúc ban đầu, trong bản báo cáo ngày 04 tháng 5 năm 1909, của Tổng lănh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu đă đề cập tới tầm quan trọng vị trí của quần đảo Hoàng Sa, song lại chưa sát sườn với lợi ích của chính quyền thực dân, dù có hệ trong đến hàng hải hay sự đe dọa đối với ngư dân Việt nam như sau:

“Về vấn đề này, nhân viên của chúng tôi nhận xét rằng các đảo Hoàng Sa đối với chúng ta có một tầm quan trọng nhất định: vì nằm giữa tuyến đường đi từ Sàig̣òn đến Hồng Kông, các đảo đó là một mối nguy hiểm lớn đối với hàng hải và việc chiếu sáng ở đó có thể là cần thiết. Ngoài ra, các đảo đó thường có ngư dân An Nam và Trung Quốc qua lại: họ đến đó trong quá trình đánh cá để sơ chế sản phẩm. Đă xảy ra những cuộc đổ máu giữa ngư dân hai nước trong dịp đó (Cf. Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, L’Harmattan, 1996, p.197).

Trong văn thư của Khâm Sứ Trung Kỳ Le Fol gửi Toàn Quyền Đông Dương vào ngày 22 tháng 1 năm 1929 đă nhấn mạnh về vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa:

“Trong tình hình hiện nay, không ai có quyền phủ nhận tầm quan trọng chiến lược rất lớn của các đảo Hoàng Sa. Trong trường hợp có xung đột, việc nước ngoài chiếm đóng chúng sẽ là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất có thể có đối với việc phòng thủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang [Đông Dương]. “Thực vậy, các đảo nói trên là sự kéo dài tự nhiên của Hải Nam. Một đối phương có thể thấy ở đó một căn cứ hải quân hùng mạnh nhờ những vụng và nhiều nơi tầu đậu tuyệt vời, và do tính chất của chúng thực tế là không thể đánh bật. Một đội tầu ngầm dựa vào căn cứ đó sẽ có thể, không những phong tỏa cảng Đà Nẵng là cảng quan trọng nhất của Trung Kỳ, mà còn cô lập Bắc Kỳ bằng cách ngăn cản việc đi đến Bắc Kỳ bằng đường biển. Lúc đó để liên lạc giữa giữa Nam Kỳ với Bắc Kỳ ta phải dùng đường sắt hiện có, một con đường rất dễ bị đánh v́ chạy dọc theo bờ biển, pháo hải quân đặt trên các chiến hạm có thể mặc sức phá hủy.” “Đồng thời, mọi con đường thông thương giữa Đông Dương- Viễn Đông- Thái Bình Dương sẽ bị cắt đứt: hải lộ Sàig̣òn-Hồng Kông đi gần quần đảo Paracels , do đó nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của căn cứu trên các đảo”.(Cf. Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, L’Harmattan, 1996, p.174).

Mặc dù có những báo cáo rất rõ về tầm quan trọng của Hoàng Sa đối với việc bảo vệ lănh thổ thuộc địa Đông Dương của Pháp, song phải có sức ép của dư luận báo của người Pháp ở Đông Dương mới làm cho chính quyền thực dân Pháp có những hành động cụ thể để bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa của nước được Pháp bảo hộ.

Đầu tiên với loạt bài trong các số 606, 622, 623, 627 (tháng 1, 5, 6 năm 1929), nhà báo Henri Cucherousset đă lược qua về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa với những dẫn chứng hết sức cụ thể như: 1/Jean Baptiste Chaigneau viết năm 1820 dưới nhan đề : Notice sur la Cochinchine cho biết Năm 1816 vua Gia Long thực sự chiếm đảo Hoàng Sa.2/ Giám mục Jean Louis Taberd viết trong Journal of the Asiatic Society of Bengal, tậpVI, măm 1837, tr.737 và những trang kế tiếp, tập VII, năm 1838, tr.317 và những trang kế tiếp đề cập đến quần đảo Hoàng Sa trong mục Géographie de la Cochinchine. 3/ Dubois de Jaucigny viết trong L’Univers – Histoire et Description de tous les peuples de leurs religions. Moeurs, coutumes;Japon, Indochine,Ceylan xuất bản năm 1850 tại Paris, F. Didot xuất bản, có đoạn viết: “ …từ 34 năm về trước quần đảo Hoàng Sa( mà người Annam gọi là Cát Vàng đă được chiếm cứ bởi các người xứ Nam Kỳ”. Cucherousset còn viết những chi tiết về quần đảo Hoàng Sa trong Nam Việt Địa Dư [ Hoàng Việt Địa Dư?] , Minh Mạng năm thứ 14; Đại Nam Nhất Thống Chí, in thời Duy Tân, tập 6, tờ 18b, 19a cùng việc tàu De Lanessan thám sát Hoàng Sa năm 1925.” Theo tác giả, quần đảo Hoàng Sa quan trọng do 5 đặc tính sau đây:1/ Trạm cho thủy phi cơ Sàig̣òn – Hồng Kông; Tourane- Philippines. 2/ Điểm tựa chiến lược cho tầu ngầm khi có chiến trảnh.3/ Trạm thông báo khí tượng. 4/ Nơi tranh gió băo cho tàu đánh cá. 5/ Giàu phốt phát. Lý do tác giả viết loạt bài vì nhân một đại úy người Anh muốn nhân danh Anh Hoàng đặt chủ quyền Anh lên đảo Sein đồng thời tác giả cực lực phản đối việc hải quân trung tá Rémy ở Sàig̣òn trả lời cho 1 công ty hàng hải Nhật rằng không biết quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của ai và việc ông Monguillot đă viết cho ông Gravereaud nói rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa.

Theo tác giả, chánh quyền bảo hộ Pháp phải chấp hữu chủ quyền trên quần đảo Ḥoàng Sa bằng các hành động:1/Vẽ bản đồ tổng quát Hoàng Sa tỉ lệ 1/200.000, vẽ bản đồ chi tiết 1/25.000, vẽ bản đố hải quân và bản đồ địa chất.2/ Đặt đài hải đăng.3/ Đạt trạm quan sát và thông báo khí tưỡng.4/ Lập đội trú phòng trú đóng tại Hoàng Sa.

Tác giả còn luôn luôn trách cứ chánh quyền Pháp đă quá lơ là trong việc xác nhận và bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa. Sau đó chính bức thư của Toàn quyền Pasquier gửi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa ngày 18-10-1930 đă chấm dứt thái độ do dự của chính quyền Pháp đối với hành động xâm phạm trái phép của chính quyền Trung Hoa đối với chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa. Trong bức thư trên, Toàn quyền Pasquier đă gửi tập tư liệu về quần đảo Hoàng Sa bao gồm :

  1. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Đại Nam Nhất Thống Chí , quyển 6 hay biên niên sử của chính phủ An Nam.
  2. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Nam Việt Địa Dư, tập 2 hay Địa dư thời Minh Mạng [ Chú thêm của tác giả : tức Hoàng Việt Địa Dư Chí ].
  3. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Đại Nam Nhất Thống Chí hay địa dư thời Duy Tân.

Cùng kèm theo bốn thư phụ lục và bốn bản đồ, Toàn Quyền Pasquier viết: “ Chắc hẳn Ngài cũng đánh giá như tôi rằng chúng ta đă đủ để xác định không thể tranh căi rằng An Nam đă thực sự nắm sở hữu quần đảo và làm như vậy trước năm 1909 nhiều.” (Cf. Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, L’Harmattan, 1996, p.233).

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA VÀ PHÁP TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA HOÀNG SA & TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945 , THỜI GIAN PHÁP CÒN ĐÔ HỘ VIỆT NAM

Từ 1931 đến 1933, Cucherousset lại tiếp tục viết 7 bài viết cũng trên báo L’Éveil Économique de L’Indochine trong các số 685 ( 10-5-1931), 688 (31-5-1931), 743(26-6-1932), 744( 03-7-1932), 746( 17-7-1932), 777( 26-02-1933) 790(28-5-1933). Trong loạt bài báo kể trên, không thấy nhắc đến lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam nữa mà chỉ tập trung vào thái độ của Toàn quyền Pasquier về việc xử lý việc bảo vệ chủ quyền ấy.Tác gia chỉ trích một lá thư của Toàn quyền Pasquier khi Ông này viết: “Chủ quyền của xứ Annam trên quần đảo Hoàng Sa là điều không thể chối căi được nhưng lúc này chưa phải cơ hội để xác nhận chủ quyền ấy .”Tác giả gay gắt chất vấn Ông Toàn Quyền: “Tại sao nay không phải là cơ hội?Trở lực nào đă ngăn cản xứ “Annam” nhìn nhận chủ quyền trên đảo Hoàng Sa mà họ đă chấp hữu từ trăm năm trước? Có phải chăng đợi đến lúc người Nhật khai thác đến tấn phốt phát cuối cùng?Có phải người Nhật đă trả thù lao một phần cho ai chăng?

Vì những bài báo lập luận vững chắc và chỉ trích nặng lời toàn quyền Pasquier, Ṭòa Soạn báo E.E.I bị ông Dự thẩm Bartet ra lệnh khám xét ban đêm buộc nhà báo phải nộp hồ sơ liên quan đến vụ Hoàng Sa. Trong số báo 743, Cucherousset cực lực phản đối và nhất quyết không giao nộp, nếu muốn nghiên cứu thì chỉ cho đọc tại chỗ.Trong số báo 746, Cucherousset viết nếu không có loạt bài của E.E.I thì có lẽ chính quyền Pháp làm ngơ vụ Trung Hoa chiếm hữu Hoàng Sa.

Trong số báo 777, Cucherousset đă trình bày tại sao ông phản đối Toàn quyền Pasquier nhún nhường trước hành động của Tổng Đốc Quảng Đông: 1/Chính quyền tỉnh Quảng Đông không hề bao giờ được nước Pháp thừa nhận là một chính quyền tự trị. 2/Chính phủ Trung Hoa ở Bắc Kinh lúc trước , ở Nam Kinh bây giờ, không hề bao giờ lên tiếng tranh giành quần đảo này và không thừa nhận chủ quyền Quảng Đông. 3/ Ngược lại từ hơn 100 năm nay rồi, nước Nam đă chấp hữu chủ quyền trên Hoàng Sa và sự việc này có ghi rõ trong văn khố của triều đình Huế. Hơn nữa chính quyền Quảng Châu không thể dựa vào lý do ngư phủ Trung Hoa thường xuyên ghé đảo để bắt rùa , phơi lưới để bảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa bởi ngư phủ Pháp cũng thường làm như vậy tại bờ biển Terre Neuve nhưng Terre Neuve vẫn thuộc nước Anh. Trong khi ấy trong 1 phiên họp của Hội Đồng Tư Vấn Đông Dương, để trả lời vị đại diện của xứ Annnam là ông Piguax, Toàn Quyền Pasquier cho biết vụ Hoàng Sa đă có tiếng vang tại Pháp và vị Tổng trưởng Bộ Thuộc Địa đă quyết định đưa nội vụ ra Ṭòa án quốc tế La Haye.

Ngoài tờ báo Eveil Economique, c̣òn nhiều báo của người Pháp ở Đông Dương và cả ở Pháp cũng đăng những bài về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa như Revue Indochinoise Illustrée, số 38, 1929 ( Sàig̣òn), tr.605-616 , P.A. La Picque đă dẫn nhiều tài liệu về chủ quyền của Viêt Nam; việc chính quyền Quảng Đông trả lời không chịu trách nhiệm về việc dân Hải Nam cướp trên các tầu bị đắm Le Bellona năm 1895 và Imezi Maru 1896 vì Hoàng Sa không thuộc chủ quyền Trung Quốc; dịch lại bài báo đăng trên Quảng Châu Báo ngày 10-7-1909 kể chuyện chuyến đi khảo sát Hoàng Sa của hải quân tỉnh Quảng Đông. Mémoire No 3 du Service Océanographique de L’Indochine( Saigon), 1930, 24 tr. do J. de Lacour & Jabouillé kể chuyến đi khảo sát Hoàng Sa 21-7-1926 theo lời mời của M.A.Krempf . Avenir du Tonkin, số 10495( 17-04-1931),tr2 khẳng định năm 1816, vua Gia Long long trọng cho dựng cờ trên đảo vì thế cho nên dù năm 1909, Trung Hoa có muốn dành chủ quyền, chánh phủ Pháp phải lên tiếng xác nhận quyền bảo vệ các đảo ấy. Trong hoàn cảnh hiện nay, không ai có thể phủ nhận sự quan trọng có tính cách chiến lược của Hoàng Sa.

Nature ( Paris), số 2916,01-11-1933, tr.385-387 do Sauvaire-Jourdan viết trên tờ Công báo ngày 19-7-1933 đăng một thông tư về việc hải quân Pháp chiếm cứ một vài đảo ở Phía nam Biển Đông, điểm qua lịch sử chiếm hữu, vua Gia Long cho hải đội đổ bộ và dựng cờ trên đảo năm 1816 rồi đến sự kiện năm 1909 được bài báo ở Quảng Châu ngày 20-6-1909 mà tác giả cho là khôi hài cùng những đề nghị không nên bỏ rơi quyền sở hữu các đảo ấy. La Géographie, bộ LX ( tháng 11-12-1933), tr.232-243, A. Olivier Saix đưa ra những luận cứ theo đó chánh quyền bảo hộ của Pháp tại Việt Nam phải bảo vệ và duy tŕ chủ quyền cho Việt Nam vì: 1/ Hoàng Sa có vị trí rát cần thiết lập hải đăng.2/ Là vị trí thiết lập đài quan sát khí tượng và trạm vô tuyến kịp thời bào thời tiết băo cho tàu bè.3/ Hoàng Sa nhiều nguồn lợi kinh tế:phốt phát, cá , rùa..4/ lợi ích quân sự từ Hoàng Sa phong tỏa Vịnh Bắc Việt , cảng Đà Nẵng, hải lộ quốc tế 5/ Lịch sử xác lập chủ quyền: Vua Gia Long đă cho hải đội Hoàng Sa đổ bộ lên đảo dựng cờ, lập cứ điểm, Thượng thư Bộ binh Thân Trọng Huề ngày 3-3-1925 nói rằng : “Các đảo đó bao giờ cũng là sở hữu của nước Annam, không có gì tranh căi trong vấn đề này”.

Rõ ràng với sức ép dư luận trên, chính quyền thực dân Pháp đă phải hành động, trước hết khoảng 1930 đến 1933, Pháp đă thiết lập chủ quyền tượng trưng tại Trường Sa cũng như Hoàng Sa.. Với Hoàng Sa thuộc về Trung Kỳ , đất bảo hộ của Pháp, nên không cần phải hành động xác lập chủ quyền mà chỉ cần những hành động thực thi chủ quyền, tiếp theo những hành động khảo sát Hoảng Sa đầu tiên năm 1925 của Viện Hải Dương Học Nha Trang là những hoạt động thể theo đề nghị của dư luận báo chí thời ấy . Ngày 1 5 – 6 – 1932 , chính quyền Pháp ra nghị định số 156- SC ấn định việc thiết lập một đơn vị hành chánh gọi là quận Hoàng Sa tại quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1937, kỹ sư trưởng công chánh Gauthier nghiên cứu khả năng xây dựng một hải đăng trên đảo Pattle ( Hoàng Sa); năm 1938 Pháp bắt đầu phái các đơn vị bảo an tới các đảo và xây dựng môt hải đăng, môt trạm khí tượng (OMM đăng kư số 48860) đặt ở đảo Pattle ( Hoàng Sa) và số 48859 ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée), một trạm vô tuyến TSF trên đảo Pattle. Tháng 3-1938, Hoàng đế Bảo Đại ký Dụ số 10 sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên thay vì Nam Ngăi như các triều trước. Tháng 6 năm 1938, một đơn vị bảo an lính Việt Nam tới trấn đóng Hoàng Sa. Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Pattle với dòng chữ: “République Francaise- Royaume d’Annam- Archipels des Paracels 1816-Ile de Pattle 1938”.

Còn với quần đảo Trường Sa phía Nam thuộc địa giới Nam Kỳ lại là đất thuộc địa của Pháp, nên Pháp có hành động xác lập chủ quyền cho nước Pháp. Song để ngăn chặn nước thứ ba cũng như đối phó với pháp lý quốc tế, Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại Giao Pháp đă viết trong Bản Ghi Chú cho Vụ Châu Á Đại dương ngạy-5-1950 rằng”Việc chiếm hữu quần đảo Spratleys do Pháp tiến hành năm 1931-1932 là nhân danh Hoàng Đế “ Annam”.”Ngày 13 tháng 4 năm 1933 ,một hạm đội nhỏ do trung tá hải quân De Lattre chỉ huy từ Sàigòn đến đảo Trường Sa ( Spratley) gồm thông báo hạm La Malicieuse, pháo thuyền Alerte, các tàu thủy văn Astrobale và De Lanessan. Sư chiếm hữu tiến hành theo nghi thức cổ truyền của Phương Tây. Một văn bản được thảo ra và các thuyền trưởng ký thành 11 bản. Mỗi đảo nhận 1 bản, được đóng kín trong 1 chai rồi được gắn trong 1 trụ xi măng xây trên mỗi đảo tại một địa điểm ấn định và cố định trên mặt đất. Người ta kéo cờ Tam tài và thổi kèn trên từng ḥòn đảo…

Ngày 26 tháng 7 năm 1933, Bộ Ngoại Giao Pháp đă có một thông tin đăng trên Công báo Pháp, ghi rõ 6 nhóm hải đảo và tiểu đảo từ nay đă thuộc chủ quyền Pháp quốc, trong đó gồm nhóm Spratley ( 8o39’ B-111 o 55Đ) và các tiểu đảo nhỏ xung quanh được chiếm hữu sớm nhất từ ngày 13-4-1930 và đảo Thị Tứ được chiếm cuối cùng vào ngày 12-4-1933.. Ngày 21 -12-1933, thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký nghị định số 4762 sát nhập các nhóm hải đảo thuộc quần đảo Pratleys ( Trường Sa ) vào tỉnh Bà Rịa. Năm 1938 Pháp cũng thiết lập một bia chủ quyền, một hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm vô tuyến tại đảo Itu – Aba ( Ba Bình)..

Tất cả những hành động thực thi chủ quyền của Pháp nhân danh “Annam” trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa diễn ra một cách suông sẻ, dù muộn màn, không gặp bất cứ ngăn cản nào, bởi chỉ duy có chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông có ý đồ, có dự án khai thác Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, và muốn chiếm hữu Hoàng Sa khi cho là đất vô chủ, song các dự án của chính quyền địa phương mới chỉ trên giấy tờ, chính quyền trung ương Trung Quốc chưa mặn mà. Tuy vậy Nhật Bản lại dấu mặt về ý đồ chiếm giữ Hoàng Sa và Trường Sa, đă lên tiếng phản đối sự chiếm giữ của Pháp trong thông báo cho chính phủ Pháp vào ngày 24 -7-1933 . Ngày 31 tháng 3 năm 1939, Bô Ngoại giao Nhật Bản ra tuyên bố gửi tới Đại sứ Pháp ở Nhật Bản khẳng định Nhật Bản là người đầu khám phá Trường Sa vào năm 1917 và tuyên bố Nhật kiểm soát Trường Sa. Nhật đă nhanh chóng chiếm đảo Phú Lâm ( Ile Boisée ) của Hoàng Sa và đảo Itu-Aba ( Ba Bình ) của Trường Sa vào năm 1938 , song măi đến ngày 9-3-1945 , Nhật mới bắt làm tù binh những lính Pháp đóng ở các đảo Hoàng Sa cũng như đất liền của Việt Nam.

Luật pháp quốc tế thời đó sau Định ước Berlin năm 1885 được hiểu là:

– Việc thụ đắc lãnh thổ là hành động của quốc gia, chính quyền địa phương (tỉnh Quảng Đông) không đủ danh nghĩa đại diện cho quốc gia.

– Cũng theo Định ước này, hành động của phía Trung Quốc (năm 1909) không đủ mang lại danh nghĩa chủ quyền cho Trung Quốc vì chưa thỏa mãn các tiêu chí về thụ đắc lãnh thổ thời đó. Do vậy, sự im lặng của chính quyền Pháp ở Đông Dương không có nghĩa là sự thừa nhận chủ quyền của phía Trung Quốc và không tạo ra estopel. Nhật bản đă bại trận và đă đàu hàng vô điều kiện Đồng Minh 16 tháng 8 năm 1945 và đă rút khỏi Hoàng Sa &Trường Sa .

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA, PHÁP TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA & TRƯỜNG SA TỪ THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN THÁNG 4 NĂM 1956, KHI PHÁP XÂM CHIẾM TRỞ LẠI

Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Cách Mạng Tháng Tám thành công, ngày 2 thang 9 năm 1945 Nước Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥoà ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ở Quảng Trường Ba Đình, chấm dứt chế độ đô hộ của Pháp.

Sau khi Nhật bại trận, Pháp trở lại đô hộ Việt Nam, Quân Tưởng Giới Thạch tiếp quản nơi quân đội Nhật chiếm đóng từ phía Bắc vĩ tuyến 16, cả hai nước Pháp và Trung Hoa đều tiếp tục tranh chấp Hoàng Sa & Trường Sa của Viêt Nam., vẫn tiếp tục coi trọng vị trí chiến lược Hoàng Sa & Trường Sa. Việt Nam bận lo kháng chiến chống Pháp trong khi quân Pháp làm chủ Biển Đông.

Quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa vào năm 1946, Pháp trở lại Việt Nam làm chủ Biển Đông, lập tức cử một phân đội bộ binh Pháp đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza đến thay thế quân đội Nhật từ tháng 5 năm 1946, nhưng đơn vị này chỉ ở đó trong vài tháng. Trong thời gian từ 20 đến 27 tháng 5 năm 1946, đô đốc D’Argenlieu, cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm L’Escarmouche ra nắm tình hình đảo Hoàng Sa (Pattle ) thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì ngày 26 tháng 10 năm 1946, lợi dụng thời cơ, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội độc lập về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của quân thủy đánh bộ) xuất phát từ cảng Ngô Tùng ngày 9 tháng 10. Ngày 29 tháng 11 năm 1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc còn gọi là Đoàn Sa chưa phải mang tên Nam Sa (tác giả nhấn mạnh)

Trong phiên họp ngày 11 tháng 10 năm 1946, Uy Ban Liên Bộ về Đông Dương thuộc Chính phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định quyền của Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa và thể hiện việc tái chiếm bằng việc xây dựng một đài khí tượng. Theo ý kiến của đại tướng Juin cho rằng “lợi ích cao nhất” của nước Pháp là phòng ngừa mọi ý đồ của một cường quốc nào muốn chiếm lại các đảo đó là những đảo kiểm soát việc ra vào căn cứ tương lai Cam Ranh, con đường hàng hải Cam Ranh – Quảng Châu – Thượng Hải (Thư số 199/DN/S. col ngày 7 tháng 10 năm 1946 của Đại tướng Juin, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Pháp tại Paris). Mãi đến năm 1935, Trung Quốc mới chú ý đến Trường Sa, gọi là Đoàn Sa sau thời điểm năm 1933.

Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp trên của Trung Hoa Dân Quớc và ngày 17 tháng 10 năm 1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Phú Lâm nhưng họ không rút. Pháp gửi một phân đội lính trong đó có cả quân lính “Quốc gia Việt Nam” đến đóng một đồn ở đảo Pattle ( Hoàng Sa ). Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1947 tại Paris. Tại đây, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối không chấp nhận việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề xuất. Ngày 1 tháng 12 năm 1947, Bộ Nội Vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch công bố tên Trung Hoa cho hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Hoa.

Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào hiệp định Patenôtre (1884) với Pháp song Pháp vẫn cho rằng theo hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà còn nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính quyền Pháp bổ sung quân sự bằng cách đóng quân và thực hiện quản lý trên hai quần đảo. Điều này chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đã được củng cố vững chắc từ thời Pháp thuộc.

Do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà kháng chiến chống Pháp và hải quân Pháp làm chủ Biển Đông , nên với hiệp định ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp gây dựng được chính quyền thân Pháp còn gọi là quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, đối đầu với Chính quyền Cách Mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên thực tế, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đang làm chủ Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thay mặt nhà nước Việt Nam.

Tháng 4 năm 1949, Đổng lý văn phòng của quốc trưởng Bảo Đại là hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sàigòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã từ lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa.

Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa được thành lập ở lục địa Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã rút lui ra Đài Loan. Tháng 4 năm 1950, đồn lính Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) thuộc quần đảo Hoàng Sa đã rút lui. Còn đồn lính của Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn còn duy trì. Đến năm 1954, Pháp đã chính thức trao lại quyền quản lý cho Chính phủ Việt Nam.

Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.

Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 8 tháng 9 năm 1951, ký kết hoà ước với Nhật. Ngày 5 tháng 9 năm 1951, họp khoáng đại, ngoại trưởng Gromyko đề nghị 13 khoản tu chính. Khoản tu chính liên quan đến việc Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam. Khoản tu chính này đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Như vậy, cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc té bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ một Hội nghị quốc tế.

Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam : “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam » Không một đại biểu nào trong hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.

Kết thúc hội nghị là ký kết hoà ước với Nhật ngày 8 tháng 9 năm 1951. Trong hoà ước này có điều 2, đoạn 7 ghi rõ:

Nguyên văn là “Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracels và Spratly”. Song đến đây, tình hình chính trị thế giới đă bắt đầu biến chuyển, chiến tranh lạnh giữa hai khối Tư bản chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu và khối Xă hội Chủ nghĩa do Liên Sô đứng đầu đă bắt đầu tác động đến Việt Nam trong đó có chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa lại tăng lên sự tranh chấp, càng ngày càng phức tạp khiến sự bảo vệ chủ quyền trở nên hết sức khó khăn với nhiều danh nghĩa khác nhau với nhiều thế lực quốc tế can thiệp.

Ngày 24 tháng 8 năm 1951, lần đầu tiên Tân Hoa Xã lên tiếng tranh cãi về quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines , thân Mỹ và kiên quyết khẳng định quyền của Trung Quốc.

Khi ra thông báo về bản dự thảo Hiệp Ước với Nhật ở San Francisco, ngày 15 tháng 8 năm 1951, Bộ Trưởng Ngoại Giao nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Chu An Lai ra bản tuyên bố công khai khẳng định cái gọi là « tính lâu đời » của các quyền của Trung Quốc đối với quần đảo, trong khi Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc không tham dự hội nghị này.

Cũng lợi dụng cục diện chiến tranh lạnh đang xảy ra, sự giành giật thế lực ở một nơi trong đó có Biển Đông, phái đoàn Liên Sô đề xuất giao cho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã không được Hội Nghị chuẩn nhận, song cũng là cái cớ để Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa lên tiếng. Dù sao, sau năm 1950, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không còn quân nước ngoài chiếm đóng ngoài lực lượng trú phòng Việt Nam của Chính quyền Bảo Đại.

Hiệp định Genève ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam. Điều 1 qui định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Đường ranh tạm thời này cũng được kéo dài ra trong hai phần bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi theo điều 4 của Hiệp định. Cũng theo điều 14 của bản Hiệp định, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại sự thống nhất cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thoả hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành chánh trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chánh của phía chính quyền quản lý miền Nam vĩ tuyến 17.

Như thế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới sự quản lý hành chánh của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, lúc ấy hai quần đảo này chưa có sự chiếm đóng của bất cứ quân đội nước nào ngoài quân đội Pháp. Chính quyền ở Phía Nam vĩ tuyến 17 phải chịu trách nhiệm quản lý hai quần đảo trên ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam dưới vĩ tuyến 17. Tháng 4 năm 1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Miền Nam Việt Nam, Philippines nêu vấn đề chủ quyền.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC , PHÁP, VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA & TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1956 ĐẾN 1975.

Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, khiến tháng 4- 1956 quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông khiến các nước trong khu vực trong đó có Cộng Ḥòa Nhân Dân Trung Hoa , Trung Hoa Dân Quốc ( Đài Loan ) và Philippines cho là cơ hội tốt chiếm đóng trái phép Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam.

Khi ấy, quân đội Quốc Gia Việt Nam sau gọi là Việt Nam Cộng Hoà đã chiếm đóng các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle). Ngày 1 tháng 6 năm 1956, Ngoại Trưởng Chính Quyền Việt Nam Cộng Hoà Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài ngày hôm sau, Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết những quyền hạn mà Pháp đã có đối với hai quần đảo trên từ năm 1933.

Ngày 22 tháng 8 năm 1956, lục hải quân Việt Nam Cộng Hoà đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, ngày 22 tháng 8 năm 1956, lực lượng hải quân của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ.

Tháng 10 năm 1956, hải quân Đài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba). Ngày 22 tháng 10 năm 1956, sắc lệnh số 143 – NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại « Nam Việt » (Nam Bộ). Trong danh sách các đơn vị hành chánh « Nam Việt » (Nam Bộ) đính kèm theo sắc lệnh có những thay đổi tên mới, trong đó có tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nay được gọi là tỉnh Phước Tuy và đảo Spratly thuộc tỉnh Phước Tuy được gọi là Hoàng Sa cùng tên với quần đảo phía Bắc là Paracels.

Trong khi ấy, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng đă nhanh chóng chiếm giữ đảo Phú Lâm( Ile Boisée) , đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa , song hành với việc Đài Loan chiếm giữ đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Một tình hình hết sức phức tạp, đen tối cho chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa & Trường Sa. Song từ sau Hiệp định Genève mà Trung Quốc đă ký, chính quyền phía Nam mới có trách nhiệm quản lý chủ quyền Ḥoàng Sa & Trường Sa vì hai quần đảo này nằm phía dưới vĩ tuyến 17. Vụ việc công hàm của Thủ tướng Phạm văn Đồng năm 1958 chỉ ủng hộ Tuyên bố 12 hải lý về lănh hải của Trung Quốc cũng như những biểu hiện khác thuộc chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà vào thời gian này cũng không có giá trị pháp lý quốc tế về sự từ bỏ chủ quyền mà Chính quyền Trung Quốc tố cáo là lật lọc là không đúng sự thực và thực chất về chủ quyền ở Hoàng Sa. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, đối đầu của hai khối chính trị mà Cộng Ḥoà Nhân Dân Trun g Hoa đang là đồng minh chí cốt của Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà và cùng thù địch với Mỹ lại là đồng minh của Đài Loan và Việt Nam Cộng Hòa, nên tất cả những hành động đối đầu cũng chỉ là đối sách chính trị thù địch nhất thời.

Ngày 13 tháng 7 năm 1961, sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.

Trong sắc lệnh trên, ghi rằng: “Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam (điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang. Xã Định Hải dưới quyền một phái viên hành chính ( điều 2). Tháng 2 năm 1959, nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng trên phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa , nhưng không thành công, bị hải quân Việt Nam Cộng Hoà bắt và hoàn trả lại Trung Quốc.

Ngày 13 tháng 7 năm 1971, Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà, ông Trần Văn Lắm có mặt ở Manila đã lên tiếng nhắc lời yêu sách của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ sở cho những yêu sách đó trên quần đảo Trường Sa.

Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đã sửa đổi việc quản lý hành chính của Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy mà trước đây vào năm 1956 , thời chính quyền Ngô Đình Diệm đã có sắc lệnh gọi quần đảo Spratly là quần đảo Hoàng Sa

Trong bối cảnh sau Thông Cáo Chung Thượng Hải năm 1972 giữa Mỹ và Trung Quốc, tạo sự nứt rạn không thể hàn gắn giữa Liên Sô và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, trong khi Chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn gần kết thúc, cuộc diện chính trị thế giới biến đổi đă ảnh hưởng đến Việt Nam kể cả về sự bảo vệ chú quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa & Trường Sa. Ngày 11 tháng 1 năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tuyên bố việc sáp nhập các đảo của quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy của Việt Nam Cộng Hoà là sự lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 12 tháng 1 năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà tuyên bố bác bỏ yêu sách của Trung Quốc. Ngày 15 tháng 1 năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa bắt đầu triển khai một lực lượng hải quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh cá và có phi cơ yểm trợ. Mặt khác, Bộ Tư Lệnh hải quân Việt Nam Cộng Hoà đã điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đến Hoàng Sa để tuần phòng và canh chừng.

Sau khi phát hiện sự có mặt của quân đội Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tại vùng Hoàng Sa với cờ dựng trên các đảo Quang Anh (Money), Hữu Nhật (Robert), lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tăng cường với khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần dương hạm Trần Bình Trọng, hộ tống hạm Nhật Tảo. Lực lượng tăng cường của Việt Nam Cộng Hoà có các toán biệt hải được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ của quân đội Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Vài vụ xô xát đã xảy ra, súng đã nổ trên đảo Quang Hoà (Duncan) và một đảo khác.

Tiếp ngày 16 tháng 1 năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã ra tuyên cáo bác bỏ luận cứ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và đưa ra những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà trên hai quần đảo này. Hai bên bắt đầu phối trí toàn bộ lực lượng, các chiến hạm hai bên cách nhau chừng 200m. Sau đó hai bên bỗng tách rời nhau để chuẩn bị, cuộc hải chiến bắt đầu diễn ra vào lúc 10 giờ 25 phút ngày 19 tháng 1 năm 1974. Một chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa bị bốc cháy.. Các chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mang số 281, 182 dồn sức đánh trả khiến chiến hạm Nhật Tảo bị trúng đạn trên đài chỉ huy và hầm máy chính, hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh . Sau hơn 1 giờ giao tranh, 2 chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa chìm, 2 chiếc khác bị bắn cháy. Bên lực lượng Việt Nam Cộng Hoà ngoài hộ tống hạm Nhật Tảo bị chìm, còn có một số chiến hạm bị thương tổn, trong đó có một số binh sĩ bị bắt và mất tích. Một người Mỹ tên Gerald Kosh, một nhân viên dân sự thuộc văn phòng tùy viên quốc phòng toà đại sứ Mỹ ở Sàigòn, được biệt phái làm liên lạc viên cạnh bộ chỉ huy hải quân Quân Khu I Việt Nam Cộng Hoà cũng bị bắt (theo Nhật báo Chính Luận, số 2982, ngày 31 tháng 1 năm 1974). Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày 31 tháng 1 năm 1974. Ngày 17 tháng 2 năm 1974, chính quyền Bắc Kinh trả tự do cho 43 quân nhân và nhân viên của Việt Nam Cộng Hoà tại Tân Giới ( Hồng Kông).

Lầu Năm Góc được chính quyền Sài Gòn yêu cầu can thiệp, quyết định đứng ngoài cuộc xung đột. Trợ lý Bộ Trưởng Ngoại giao Mỹ, Arthur Hummel cho chính quyền Sài Gòn biết Mỹ không quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.

Qua thông điệp ngoại giao được gởi đến tất cả các nước ký Hiệp Định Paris (1973), chính quyền Việt Nam Cộng Hoà nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, yêu cầu Hội Đồng Bảo An họp một phiên họp đặc biệt.

Ngày 1 tháng 2 năm 1974, chính quyền Sàigòn quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở quần đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua đại sứ ở Manila, chính quyền Sàigòn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Ngày 1 tháng 2 năm 1974, đoàn đại biểu của Việt Nam Cộng Hoà ra tuyên bố tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về luật Biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo, tố cáo Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa . Ngày 30 tháng 3 năm1974, đại biểu chính quyền VNCH khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội Đồng Kinh Tài Viễn Đông họp tại Colombia. Ngày 14 tháng 2 năm 1975, Bộ Ngoại giao chính quyền VNCH công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.

Tóm lại, Pháp xâm chiếm trở lại Việt Nam, dẫn đến cuộc kháng chiến chống Pháp ( 1945-1954), Pháp vẫn làm chủ Biển Đông và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Hiệp định Genève năm 1954 qui định từ vĩ tuyến 17 trở xuống thuộc chính quyền phía Nam quản lý. Khi Pháp rút quân tháng 4/1956, xảy ra chiến tranh lạnh giữa Liên Xô đứng đấu phe Xă Hội Chủ Nghĩa và Mỹ đứng đầu phe Tư bản Chủ Nghĩa, Việt Nam bị chia cắt khiến hai chính quyền bị cuốn hút vào sự đối đầu, không có điều kiện bảo vệ toàn vẹn được chủ quyền để cho Trung Quốc chiếm từng phần rồi toàn thể Hoàng Sa và Việt Nam Cộng Ḥoà chỉ trấn giữ quần đảo Trường Sa song lại để cho Đài Loan chiêm đảo Ba Bình, lớn nhất của quần đảo Trường Sa cùng Philippines chiếm một số đảo, đá trong đó có Song Tử Đông ở Trường Sa.

Chính vì vậy, chúng ta có thể nói rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các nước trong khu vực tranh chấp chủ quyền của Việt Nam cũng như Trung Quốc chiếm giữ trái phép hoàn toàn Hoàng Sa và Trường Sa trong thời kỳ này chính là những biến động chính trị ở Việt Nam cũng như trên thế giới, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam , không còn bảo vệ đồng minh Việt Nam Cộng Ḥoà, để cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC, VIỆT NAM THỐNG NHẤT CÙNG CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY

– Từ 1975 đến 1990, Việt Nam hợp tác toàn diện với Liên Xô, Trung Quốc đã ký với Mỹ Thông cáo chung ở Thượng Hải năm 1972, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô không giảm; Việt Nam và Trung Quốc xảy ra chiến tranh năm 1979 khiến tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trở nên gay gắt.

Chính Quyền Việt Nam thống nhất tiếp tục khẳng định chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vẫn chịu những dư âm tác động đối đầu của các thế lực quốc tế trước đây chưa chấm dứt được sự tranh chấp chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa .

Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, thời cơ chiến lược giải phóng Miền Nam đã đến. Bộ chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong mùa khô 1975 bao gồm các đảo và các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc…

Ngày 5 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Hải Quân chủ trương chuẩn bị chiến đấu giải phóng quần đảo Trường Sa. Lực lượng tham gia giải phóng gồm có các tàu của đoàn vận tải quân sự 125, đoàn 126 đặc công, tiểu đoàn 471, đặc công quân khu 5 và tiểu đoàn 407 cùng lực lượng đặc công tỉnh Khánh Hoà. Bộ Tư Lệnh Hải Quân chủ trương nhanh chóng đánh đảo Song Tử Tây trước để làm bàn đạp và rút kinh nghiệm đánh tiếp các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, An Bang, Trường Sa và các đảo còn lại của quần đảo.

Ngày 9 tháng 9 năm 1975, đại biểu chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam tại hội nghị khí tượng thế giới tiếp tục đăng ký đài khí tượng Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 10 tháng 9 năm 1975, Bắc Kinh gửi công hàm cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa).

Ngày 24 tháng 9 năm 1975, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Đảng và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Tổng Bí Thư Lê Duẩn dẫn đầu, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố sau này hai bên sẽ bàn bạc về vấn đề Tây Sa và Nam Sa.

Ngày 12 tháng 5 năm 1977, chính phủ Việt Nam tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.

Tháng 9 năm 1977, khi thăm Philippines và tháng 10 năm 1977 khi đi thăm Malaysia, thủ tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với tổng thống Ferdinand Marcos và thủ tướng Hussein On rằng hai bên sẽ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng thương lượng hoà bình.

Tháng 3 năm1978, Hội nghị hành chính thế giới về thông tin vô tuyến điện thông qua một nghị quyết cho phép Trung Quốc sử dụng một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa.

Ngày 30 tháng 12 năm 1978, người phát ngôn Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong tuyên bố ngày 29 tháng 2 năm 1978 của người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất bình bằng thương lượng hoà bình.

Ngày 30 tháng 7 năm 1979, Trung Quốc đã công bố tại Bắc Kinh tài liệu để chứng minh rằng Việt Nam đã “thừa nhận” chủ quyền Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 7 tháng 8 năm 1979, Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc trong việc công bố một số tài liệu củaViệt Nam liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này, nhắc lại lập trường của Việt Nam về việc giải quyết sự tranh chấp về 2 quần đảo giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.

Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ ngoại giao Việt Nam công bố một số tài liệu về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ ngoại giao Việt Nam bác bỏ việc Philippines tuyên bố sát nhập hầu hết lãnh thổ Trường Sa vào lãnh thổ Philippines.

Ngày 30 tháng 1 năm 1980, Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện về Tây Sa và Nam Sa. Ngày 5 tháng 2 năm 1980, Bộ ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30 tháng 1 năm 1980.

Ngày 29 tháng 4 năm 1980, Bộ ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Malaysia phản đối việc Malaysia công bố bản đồ Malaysia lấn vào vùng biển và thềm lục địa Việt Nam tại vùng Trường Sa.

Ngày 8 tháng 5 năm 1980, nhân chuyến viếng thăm và hội đàm với Malaysia, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã khẳng định đảo An Bang là của Việt Nam.

Tháng 6 năm 1980, tại Hội nghị Khí Tượng Khu Vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm như cũ.

Ngày 13 tháng 6 năm 1980, Việt Nam yêu cầu OMM đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng lưới OMM.

Tháng 12 năm 1981, Tổng cục Bưu Điện Việt Nam điện cho Chủ Tịch Ủy Ban đăng ký tần số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Tháng 12 năm 1981, Bộ Ngoại Giao Việt Nam công bố sách trắng: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa , lãnh thổ Việt Nam”.

Tháng 6 năm 1982, Tân Hoa Xã loan tin là một hải cảng lớn được xây dựng tại Hoàng Sa.

Tháng 10, tại Hội Nghị Toàn Quyền của UIT, đại biểu Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève.

Ngày 12 tháng 11 năm 1982, chính phủ Việt Nam công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải .

Ngày 4 tháng 2 năm 1982, chính phủ Việt Nam thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

Ngày 9 tháng 12 năm 1982, chính phủ Việt Nam lập huyện Trường Sa. Đến ngày 28 tháng 12 năm 1982, chính phủ Việt Nam quyết định huyện Trường Sa được nhập vào tỉnh Phú Khánh.

Tháng 1 năm 1983, Hội Nghị Hành Chính Thế Giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị sắp tới.

Cũng tháng 01 năm 1983, Hội Nghị Hàng Không Khu Vực Châu Á Thái Bình Dương họp ở Singapore. Trung Quốc muốn mở rộng FIR Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nộivà FIR TP Hồ Chí Minh, nhưng Hội Nghị quyết định duy trì nguyên trạng.

Từ ngày 4 đến 16 tháng 4 năm 1984, đoàn đại biểu Quốc Hội Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đoàn đại biểu tỉnh Phú Khánh thăm huyện Trường Sa. Thứ trưởng Bộ Thủy Sản Việt Nam Vũ Văn Trác đi khảo sát nghề cá tại huyện Trường Sa.

Ngày 25 tháng 4 năm 1984, Uy Ban Địa Danh Trung Quốc công bố tên mới cho các đảo, bãi, đá trong Biển Đông trong đó có đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Ngày 6 tháng 5 năm 1984, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối việc đặt tên của Trung Quốc.

Tại Hội Nghị Tổ Chức Thông Tin Vũ Trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc.

Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối Malaysia chiếm đóng đảo Hoa Lau trong quần đảo Trường Sa. Việt Nam phản đối việc ngày 1 tháng 6 năm 1984 Quốc hội Trung Quốc tuyên bố việc thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa, Nam Sa.

Vào đầu năm 1985, Đại Tướng Văn Tiến Dũng, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.

Sang năm 1986, ông Hồ Diệu Bang, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc cùng Lưu Hoa Thanh, Trương Trọng Tiến đi thị sát Hoàng Sa.

Tháng 5 năm 1987, đô đốc Giáp Văn Cường, Tư lệnh hải quân Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.

Từ 16 tháng 5 đến 6 tháng 6 năm 1987, hải quân Trung Quốc tập trận tại vùng biển Trường Sa.

Tháng 10 năm 1987, hải quân Trung Quốc diễn tập quân sự tại Tây Thái Bình Dương và Nam Biển Đông.

Ngày 10 tháng 11 năm 1987, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên đá Louisa (Nandong Jiao) (113 0 – 6 0 8).

Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến, có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa, đi từ đảo Hải Nam xuống phía Nam, trong đó có bốn chiếc được phái đến khu vực quần đảo Trường Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động của hai tàu vận tải Việt Nam trong khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên là hai bãi san hô còn đang lập lờ mặt nước. Quân lính Trung Quốc cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời cho tàu chiến thường xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải của Việt Nam đang tiến hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các đảo do quân đội Việt Nam bảo vệ. Trong đợt hoạt động trên, Trung Quốc đã thành lập một bộ tư lệnh đặc biệt, sử dụng lực lượng của hạm đội Nam Hải, được tăng cường một bộ phận của hạm đội Đông Hải và họ thường xuyên dùng trên 20 tàu các loại ở khu vực quần đảo Trường Sa.

Về sự kiện xảy ra ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc nói rằng: “Trung Quốc buộc phải phản kích để tự vệ”. Theo cách nói đó, có nghĩa là hải quân Việt Nam là kẻ tấn công (bằng hai tàu vận tải!), còn hải quân Trung Quốc là kẻ phòng thủ tự vệ. Trung Quốc sử dụng một biên đội tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang bị tên lửa và pháo cỡ 100mm, vô cớ tiến công bắn chìm ba tàu vận tải Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Lan Đao, Cô Lin, Gac Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Ngày 14 tháng 3 năm 1988, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nổ ra cuộc chiến đấu trên biển Nam Trung Quốc. Cuộc chiến đấu này mặc dù chỉ diễn ra trong thời gian 28 phút nhưng nó đã làm cả thế giới quan tâm theo dõi. Tàu vận tải số 64 của hải quân Việt Nam chở đầy binh lính bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ số 505 và một tàu vận tải khác số 605 bị bắn trọng thương, kéo theo đám cháy và cột khói đen ngòm. Tàu đổ bộ số 505 bị chìm trên đường về, còn tàu đổ bộ số 605 thì bị mắc cạn. Cuộc chiến đấu không cân sức trên giữa các tầu vận tải của Việt Nam vời các tầu chiến của Trung Quốc, vẻn vẹn chỉ diễn ra có 28 phút đã kết thúc với kết quả phía Việt Nam có một tàu bị chìm tại chỗ, hai tàu bị thương, chết và bị thương 20 người, mất tích 74 người. Còn phía Trung Quốc chỉ có một số nhân viên khảo sát và nhân viên khác trên đảo bị thương , ngoài ra không bị tổn thất gì, đây là một trận chiến đấu trên biển mà phía Trung Quốc cho là « đánh gọn và đẹp mắt» (sic!). Sau các va chạm trên, hải quân Trung Quốc tiếp tục ngăn cản các hoạt động tiếp tế do tàu Việt Nam thực hiện.

Tính đến ngày 6 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã chiếm đóng: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi.

Ngày 3 tháng 1 năm 1989, Trung Quốc đặt bia chủ quyền trên các bãi họ chiếm được trong năm 1988 : Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa,Đá Gạc Ma, Đá Subi.

Năm 1988, Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các công hàm ngày 16,17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ ngoại giao Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (nghị quyết ngày 13 tháng 4 năm 1988 thành lập tỉnh Hải Nam).

Tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố Sách Trắng “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế”.

Ngày 14 tháng 8 năm 1989, chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh Tế Khoa Học Dịch Vụ trên vùng bãi ngầm Tứ Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam có toạ độ 7 – 803B , 109 – 112 020 Đ .

Ngày 2 tháng 10 năm1989, người phát ngôn Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu trong bản tuyên bố của Trung Quốc ngày 28 tháng 4 năm 1989. Người phát ngôn bộ ngoại giao Trung Quốc đã lên án Việt Nam xâm phạm trái phép một số đảo và cù lao tại bãi Vạn An và Bãi Vạn Nhã thuộc “quần đảo Nam Sa” .

Ngày 9 tháng 3 năm 1990, Trung Quốc kết thúc đợt khảo sát khoa học ở quần đảo Trường Sa bắt đầu từ ba năm trước.

Ngày 18 tháng 3 năm 1990, nhiều tàu đánh cá từ Quảng Châu đến đánh cá ở Trường Sa. Ngày 16 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự , tàu khảo sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.

Ngày 28 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa.

– Từ năm 1990 đến nay, khối Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam đổi mới, làm bạn với tất cả các nước kể cả Trung Quốc và Mỹ, sự tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa giữa Trung Quốc và Việt Nam không còn gay gắt như trước, song số dự trữ dầu lửa lớn ở Biển Đông khiến Trung Quốc vẫn chưa chịu trả Hoàng Sa cho Việt Nam và các nước khu vực và Trung Quốc vẫn tiếp tục tranh chấp với Việt Nam ở Trường Sa.

Tháng 8 năm 1990, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đề nghị tiến hành khai thác chung khu vực quần đảo Trường Sa.

Ngày 1 tháng 12 năm 1990 trong cuộc đi thăm Philippines, Thủ tướng Lý Bằng nói : “Chúng ta có thể tìm ra một giải pháp thích hợp đối với vấn đề Trường Sa với các bên hữu quan vào lúc thích hợp, nếu không phải là vào lúc này, tôi nghĩ chúng ta có thể gác lại vấn đề này và không để nó gây trở ngại trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng hữu quan”.

Ngày 1 tháng 2 năm 1991, Trung Quốc xây dựng nhiều hải đăng trên các bãi đá ngầm mới chiếm được trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 25 tháng 5 năm 1991, Trung Quốc công bố kết quả 8 năm khảo sát khoa học ở Trường Sa kể từ năm 1984. Ngày 4 tháng 7 năm 1991 tại KuaLa Lumpur tổ chức một hội thảo không chính thức về giải quyết các tranh chấp trên vùng Biển Đông, Trung Quốc có cử đoàn cán bộ tham gia, người phát ngôn Bắc Kinh tuyên bố việc tham gia như thế không phải là Trung Quốc đã thay đổi lập trường và nói: “Trung Quốc chủ trương giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình, Trung Quốc sẵn sàng cùng các nước liên quan thảo luận con đường và phương pháp cùng khai thác” .

Từ ngày 15 đến 18 tháng 7 năm 1991, do sáng kiến của Indonésia, một hội nghị quốc tế đã được tổ chức giữa các quốc gia trong khu vực về vấn đề quần đảo Trường Sa. Bản thông cáo cuối cùng khuyến khích đối thoại và đàm phán.

Ngày 10 tháng 11 năm 1991, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký tại Bắc Kinh thông báo chung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.

Ngày 25 tháng 2 năm 1992, quốc hội Trung Quốc công bố luật lãnh hải và vùng tiếp giáp Trung Quốc, quy định lãnh hải rộng 12 hải lý và lãnh thổ Trung Quốc giữa bốn quần đảo Đông, Tây, Nam, Trung Sa và đảo Điếu Ngư. Việt Nam đã lên tiếng công khai phản đối sự kiện này. Năm 1994, Việt Nam phản đối Trung Quốc đã xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc ký với công ty Crestones ( Mỹ) cho phép thăm dò khai thác dầu mà Trung Quốc gọi là hợp đồng Vạn An Bắc 21. Ngày 18 tháng 4 năm 1994, ông R.C. Thompson, chủ tịch công ty Năng Lượng Crestones (Mỹ) ra thông báo với báo chí, nói rằng họ đang tiến hành khảo sát địa chấn và chuẩn bị thăm đảo để đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực, gọi là hợp đồng “Vạn An Bắc 21”. Thông báo nói rằng: “Việc nghiên cứu khoa học và kế hoạch khai thác thương mại trong tương lai là những bước phát triển mới nhất của lịch sử nghiên cứu khoa học và thăm dò ở Biển Nam Trung Hoa và Khu vực vạn An Bắc của Trung Quốc, bắt đầu từ những báo cáo năm 200 trươc Công Nguyên vào thời Hán Vũ Đế!

Trước năm 1957, đã có nhiều công ty nước ngoài khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò ở thềm lục địa Nam Việt Nam, trong đó có hai giếng đã phát hiện dầu thương mại. Vào cuối những năm 1970, có nhiều công ty như AGIP (Ý), DIMINEX (CHLB Đức), BOW VALLEY (Canada) đã thăm dò 5 lô dầu ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam. Sau đó đến 1979, các công ty trên chấm dứt hoạt động. Tháng 9/1975, Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí. Thềm lục địa Việt Nam rộng chừng 1,3 triệu km2, được chia thành 171 lô với diện tích trung bình mỗi lô khoảng 8000 km2. Trong đó có 31 lô có độ sâu mực nước biển dưới 50m, 35 lô từ 50 -100m, 10 lô từ 100 – 250m, 38 lô từ 200-2000m và 57 lô là có mực nước sâu trên 2000m.Trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam có nhiều bồn trầm tích đệ tam có triền vọng chứa dầu khí.Cho đến cuối những năm 80, trên toàn thềm lục địa Việt Nam, chủ yếu ở phía Nam, đã khảo sát trên 100.000 km tuyến địa vật lý, khoan hàng chục giếng tìm kiếm thăm dò và đã phát hiện được ba mỏ dầu khí (Bach Hổ, Rồng và Đại Hùng). Từ năm 1986, mỏ Bạch Hổ bắt đầu được khai thác. Sản lượng năm 1986: 0,04 triệu tấn, 1988: 0,68 triệu tấn, 1989: 1,5 triệu tấn, 1990: 2,7 triệu tấn, 1991: 3,96 triệu tấn… (PTS Nguyễn Hiệp, Phó Tổng Giám Đốc Công Ty Dầu Khí Việt Nam, ” Thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam”, Khoa học và Tổ Quốc, (số 93), 1992, tr5).

Việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam trên khiến người ta thấy tiềm năng vùng Biển Đông có nhiều triển vọng về dầu khí. Các tài liệu của Cộng Ḥoà Nhân Dân Trung Hoa cho con số trữ lượng từ 23 đến 30 tỷ tấn dầu tại vùng Nam Biển Đông.Chính số lượng dự trữ dầu lớn như vậy đã khiến cho sự tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa chưa dễ gì chấm dứt.

SỰ THỰC VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA , TRƯỜNG SA & GIẢI PHÁP BỀN VỮNG CHO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA & BIỂN ĐÔNG.

Như trên đã trình bày, Trung Hoa khi bắt đầu khảo sát Tây Sa vào năm 1909 cho rằng Tây Sa là vô chủ . Hồi năm 1898 , Chính quyền Quảng Châu, Trung Hoa đă trả lời các khiếu nại của công sứ Anh ở Bắc Kinh về công ty Bảo hiểm người Anh bảo hiểm các tàu Bellona của Đức ( bị đắm năm 1895) và tàu Humeji- Maru của Nhật (bị đắm năm 1896) đă bị những người Trung Hoa ở Hải Nam cướp phá rằng: “quần đảo Tây Sa là những ḥòn đảo bị bỏ rơi, chúng không phải sở hữu của cả Trung Hoa lẫn An Nam, cũng không sáp nhập về hành chánh vào bất kỳ quận nào của Hải Nam và không có nhà chức trách nào chịu trách nhiệm về cảnh sát của chúng”( Monique Chemillier- Gendreau, sđd,p.158).

Đến khi Pháp bắt đầu đưa ra những bằng chứng lịch sử sự chiếm hữu của Việt Nam, Trung Hoa hồi đó và Trung Quốc bây giờ lại luôn luôn nói rằng Tây Sa ( tức Hoàng Sa ) và Nam Sa ( tức Trường Sa) đã thuộc về Trung Quốc từ lâu, bất khả tranh nghị, khi thì nói từ đời Minh, khi thì nói từ đời Tống. Sự thực thế nào?

Sự thực là quần đảo Hoàng Sa không hề là vô chủ như luận điểm của chính quyền Trung Hoa hồi năm 1909: Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, không ít ỏi như thư của Toàn Quyền Pasquier gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa ngày 18-10-1930, mà đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.

Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ, trong Hồng Đức Bản Đồ năm 1686 và Phủ Biên Tạp Lục năm 1776 của Lê Quý Đôn.

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tư liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

– Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.

– Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. – Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

– Tài liệu rất quí gía, châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc… Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hõan kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.

– Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản…

Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hòang Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.

Đặc biệt nhất sự kiện năm 1836 Vua Minh Mạng sai suất đội thủy binh Phạm Hữu Nhật , người gốc đảo Lý Sơn chỉ huy thủy quân đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, sau đó thành lệ hàng năm. Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua hàng năm cử người ra Hòang Sa ngòai việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia. .Châu bản, Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi thuyền vãng thám Hòang Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc”. Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ :

“Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mỗt bài khắc những chữ: “ Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hòang Sa tương đồ chí thử hữu chí đẳngû tư, (tôø 25b)”.

( Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hòang Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).

Vì sự kiện trên đã thành lệ hàng năm, nên Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ( 1851), quyển 207 , tờ 25b-26a và quyển 221 đã chép lại việc dựng miếu, dựng bia đá , cắm cột mốc năm 1836 và lệ hàng năm phái biền binh thủy quân đi vãng thám, vẽ bản đồ…

Về những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy:

– Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.

– Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc.

Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc.

Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.

Về những tư liệu Phương Tây cũng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

+ Nhật Ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam. ü “Le Mémoire sur la Cochinchine” của Jean Baptiste Chaigneau (1769 – 1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.

+ “Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes” của giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816.

+ An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838, phụ bản của cuốn từ điển La tinh- Annam, ghi rõ « Paracels seu Cát Vàng » với tọa độ rõ ràng như hiện nay chứ không phải như Trung Quốc cho là ven bờ biển.( « Seu » tiếng la tinh có nghĩa « hay là », Cát Vàng :chữ nôm, Hoàng Sa : chữ Hán )..

+ The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels) .

+ “The Journal of the Geographycal Society of London” (năm 1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels… ….

Về sau Trung Hoa đưa ra những bằng chứng ngụy tạo nói ngược lại luận điệu ban đầu, từng cho là đất vô chủ hồi 1909, cho rằng Tây Sa đã thuộc Trung Quốc từ lâu. Ngay tên Tây Sa và Nam Sa cũng mới đặt từ sau năm 1907 và Nam Sa lại bất nhất khi chỉ Trung Sa , khi chỉ Nam Sa ở vị trí hiện nay ( Spratleys). Có chăng thời Minh hay thời Hán thì cả nước Nam đã bị Trung Hoa đô hộ, Thời Tống Đại Việt cũng bị xâm lược, song đã giành được độc lập rồi!

Sự thực chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa đă rõ ràng như trên. Khi bị Trung Hoa xâm phạm, vào thời điểm ban đầu, với tư cách là người đến xâm chiếm thuộc địa, người Pháp chưa hiểu hết lịch sử chủ quyền lãnh thổ Việt Nam nên có lúc đã không lên tiếng bảo vệ kịp thời. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Chính quyền thực dân Pháp đã có đủ thông tin và thay đổi quan điểm, bảo vệ chủ quyền cho Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Sự thực là bất cứ chính quyền nào kể cả chính quyền thuộc địa chịu trách nhiệm về quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Và nguyên nhân chủ yếu khiến cho Trung Quốc tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa chính là Việt Nam đă bị Pháp đô hộ và chịu ảnh hưởng những biến động chính trị quốc tế cũng như quốc nội, nhất là từ thời chiến tranh lạnh và sau này và tham vọng bành trướng mở rộng yêu sách lãnh thổ bằng vũ lực.

Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đã quá rõ ràng như thế thì khi Việt Nam không còn bị Pháp đô hộ và tình hình thế giới và Việt Nam đã biến chuyển, khác trước thì giải pháp phải là “cái gì của césar phải trả lại cho césar”.

Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào dù khác chính kiến đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch sử cho biết dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường , bất khuất, khi có thời cơ, sẽ đấu tranh thành công. Đối với các nước Asean trên cơ sở Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, sẽ tương nhượng trong tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong khối càng ngày càng chặt chẽ , đôi bên đều có lợi.

Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi , sông liền sông, đă có những bài học lịch sử quí giá. Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm luôn kiên quyết bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình, song luôn luôn tôn trọng nước đàn anh Trung Quốc, luôn theo truyền thống làm “phên dậu của Trung Quốc”, không bao giờ làm hại đến quyền lợi Trung Quốc.

Bất cứ giải pháp nào dựa vào sức mạnh như người Nhật đánh chiếm bằng vũ lực Hoàng Sa, Trường Sa năm 1938, 1939 cũng như Trung Quốc dùng võ lực năm 1974 chỉ mang tính nhất thời, không có giá trị pháp lý. Có đế quốc nào mạnh như đế quốc La Mă thời Cổ đại hay đế quốc Mông Cổ thời Trung đại hay đế quốc Anh, Pháp thời cận đại, rồi có ngày cũng suy yếu, phải bỏ những lănh thổ chiếm giữ bằng võ lực.

Bất cứ giải pháp nào muốn vững bền phải dựa trên sự thực lịch sử nhà nước Việt Nam đă chiếm hữu thật sự trước tiên tại Hòang Sa và Trường Sa, chưa có ai tranh chấp và phải dựa vào trật tự thế giới hiện hành khi có Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945 và những Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc sau đó và Công ước quốc tế về luật biển năm 1982.

Mọi người kể cả người Trung Quốc phải thấy rõ sự thật lịch sử trên!

Việt Nam phải luôn luôn nhắc đi nhắc lại cho cả thế giới được biết rằng vụ Trung Quốc dùng võ lực chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 là trái phép hoàn toàn, trái với Hiến Chương và các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc. Không thể để cho Trung Quốc coi vụ chiếm đóng Hoàng Sa như đã xong. Khi nội lực Việt Nam chưa đủ mạnh thì dứt khoát không ký kết bất cứ một hiệp định nào gây sự thiệt hại cho Việt Nam.

Việc cần làm ngay là làm rõ, quảng bá lịch sử nhà nước Việt Nam đă từ lâu chiếm hữu thật sự Hoàng Sa & Trường Sa và xây dựng nội lực Việt Nam vững mạnh, đoàn kết hùng cường.

Sự đấu tranh đòi lại Hoàng Sa cho Việt Nam cũng như sự bảo toàn quần đảo Trường Sa là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhứt định sẽ thành công cũng như Việt Nam đã từng bị Phong kiến Phương Bắc đô hộ hơn một ngàn năm, khi có thời cơ, sẽ giành được độc lập tự chủ./.

Kiến nghị phản đối chuyến thăm HK của TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng

Tuesday, March 10th, 2015

KIẾN NGHỊ KÍNH GỬI QUỐC HỘI VÀ TỔNG THỐNG HOA KỲ 

V/v Chính phủ Hoa Kỳ chính thức mời Ông Nguyễn Phú Trọng,

Tổng Bí Thư đảng CSVN viếng thăm Hoa Kỳ

Theo tin từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, chúng tôi được biết Chính phủ Hoa Kỳ sẽ chính thức mời ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam đến thăm Hoa Thịnh Đốn trong năm 2015.

XÉT RẰNG:

  • Đảng CSVN đã phạm nhiều tội ác đối với dân tộc Việt Nam kể từ 1945 cho đến nay.
  • Chính quyền và quốc hội tại Việt Nam hiện nay do đảng CSVN thành lập, mà không do người dân bầu cử một cách dân chủ, vì thế đảng CSVN không đại diện cho nhân dân Việt Nam.
  • Chế độ tại Việt Nam hiện là một chế độ độc tài toàn trị, tước bỏ mọi quyền tự do của người dân trong đó có tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do bầu cử, tự do lập hội v.v.. Gần đây, nhà cầm quyền đã gia tăng đàn áp, bắt bớ, giam cầm, tù đày.. những nhà tranh đấu ôn hòa cho nhân quyền và tự do dân chủ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các tổ chức Quốc Tế Nhân Quyền đã thường xuyên phúc trình những vi phạm trầm trọng nhân quyền của CSVN.
  • Ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam – không đại diện cho người dân tại Việt Nam nên không có tư cách gì để được chính phủ Hoa Kỳ tiếp đón như một quốc khách hay khách đặc biệt.

BỞI VẬY: Chúng tôi, những người Mỹ gốc Việt trân trọng thỉnh cầu Tổng Thống và Quốc Hội Hoa Kỳ:

  • Cứu xét và hủy bỏ việc mời Ông Nguyễn Phú Trọng đến thăm Hoa Kỳ cho dù với bất cứ tư cách nào.
  • Trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Hoa Kỳ cần giữ tư thế của một quốc gia đứng đầu thế giới về tự do dân chủ và tôn trọng nhân quyền, do đó nhân quyền phải được xem là điều kiện quan trọng.

Chúng tôi sẽ tổ chức những cuộc biểu tình phản đối khi ông Nguyễn Phú Trọng đến thăm viếng Hoa Kỳ với bất cứ với lý do nào.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 10 tháng 3, năm 2015

Ký tên

Vào góc trên bên phải để ký kiến nghị: 

Cám ơn quý vị.

========================

English Version

PETITION TO THE PRESIDENT AND THE NATIONAL CONGRESS OF THE UNITED STATES OF AMERICA

Re: The United States’ official invitation to Mr. Nguyen Phu Trong, General Secretary of the Vietnamese Communist Party to visit the USA this year

According to the US State Department, we learned that the United State has formally invited . Mr. Nguyen Phu Trong, General Secretary of the Vietnamese Communist Party to visit the United State in 2015.

WHEREAS:

1. The Vietnamese Communist Party has been committed many crimes against the people of Vietnam from 1945 to the present.
2. The government and parliament in Vietnam are currently established by the Vietnamese Communist Party, not from the people election in a democratic manner, thus the Vietnamese Communist Party does not represent the people of Vietnam.
3. The regime in Vietnam is a totalitarian one; it stripped all the rights and freedoms of citizens, including freedom of religion, freedom of speech, freedom of the press, freedom of election, freedom of association, and so on. Recently, the government has increased repression, arrest, detention, imprisonment.. of peaceful activists for human rights and democracy. The U.S. State Department and International Human Rights organizations have frequently reported the serious human rights violations by the Vietnamese Government.
4. Mr. Nguyen Phu Trong as a General Secretary of the Vietnamese Communist Party does not deserve US national or special guest .

Therefore: We, the Vietnamese American community in the USA respectfully request the President and the Congress:

1. Review and cancel the invitation to Mr. Nguyen Phu Trong to visit the United States whether with any position.
2. Regarding the relationship between the United States and the Republic of Socialist Vietnam, the United States should hold a position as the world leader on democracy and human rights, therefore the human rights issue must be considered as an important condition.

We will organize protests against Nguyen Phu Trong’s visit to the United States.

Thank you for your consideration,
United States on March 10, 2015
Sign

Please use the upper right box to sign

Thank You

———————

Kính thưa quý vị, 

Theo tin từ bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, NT John Kerry đã ngỏ lời mời TBT đảng CSVN là Nguyễn Phú Trọng chính thức thăm Hoa Kỳ, thời gian chưa rõ, có thể vào tháng 09/2015. 

http://news.yahoo.com/vietnam-party-chief-u-trip-still-odds-over-084045187.html 

Đảng CSVN là một đảng tội ác đối với dân tộc Việt Nam, người Việt tại Hoa Kỳ cũng như trên thế giới không thể chấp nhận việc chính phủ Hoa Kỳ mời một nhân vật đầu sỏ của một đảng tội ác chính thức đến Hoa Kỳ như một quốc khách hoặc với loại khách đặc biệt. 

Để phản đối chuyến thăm này, mời quý vị  ký tên, yêu cầu chính phủ và quốc hội Hoa Kỳ hủy bỏ cuộc mời này. Trên góc phải của trang nhà này có khung ký tên xin bấm vào sign now, quý vị sẽ thấy bản kiến nghị bên trái, và chi tiết ký tên bên tay phải. 

cdlbhk.org

Xin quý vi vui lòng ký tên thật đông đảo để nói lên nguyện vọng của người Việt tỵ nạn CS của chúng ta. Hãy vận động bạn bè, bà con cùng ký vào bản kiến nghị này. 

Kính mời quý vị hãy hành động ngay.

Trân trọng 

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Trang Kiến Nghị

Monday, March 9th, 2015

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi sẽ mở trang ký kiến nghị, phản kháng, tuyên cáo về những vấn để liên quan đến đất nước Việt Nam. Hiện chúng tôi đang chuẩn bị, xin quý vị trở lại ký sau.

Trân trọng

Góc bên phải kiến nghị yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ không mời TBT CSVN là Nguyễn Phú Trọng sang thăm Hoa Kỳ

Đọc bản kiến nghị

 

 

Đau lòng cho đất nước: Xuân Ơi! Đảo Đã Đi Rồi

Friday, February 20th, 2015

Xuân Ơi! Đảo Đã Đi Rồi
Thuyền Neo Cửa Biển Dân Ngồi Bến Câu

(Nguồn: Diễn Đàn Cấp Tiến)

Thế hệ Nối Tiếp chuyển.

Ông James Hardy, Chủ Bút đặc trách Châu Á Thái Bình Duơng của Tuần Báo Quốc Phòng IHS Jane’s Defence, hôm 15/2/2015 nói về việc Trung Quốc ồ ạt xây dựng trên 4 đảo họ chiếm của Việt Nam năm 1988: Tư Nghĩa, Gaven, Gạc Ma và Chữ Thập.

“Chúng ta có thể thấy rằng đây là cả một chiến dịch bài bản, được lên kế hoạch kỹ lưỡng, nhằm tạo ra một chuỗi pháo đài phòng thủ trên không và trên biển xuyên qua phần trung tâm của quần đảo Trường Sa”.

Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef) nguyên thủy 380m2, TQ đã đắp thành đảo nhân tạo rộng 75.000m2 hay bằng 14 sân chơi football.

Ảnh chụp ngày 30/3/2014 vẫn là một bãi đá ngầm bé li ti.

Khoảng 4 tháng sau, ảnh chụp ngày 7/8/2014 thì đã trở thành một hòn đảo nhân tạo lớn.

Khoảng 5 tháng sau nữa, ảnh ngày 30/1/2015 cho thấy có 2 cầu tàu, 1 nhà mái cement, 1 bãi đáp trực thăng, phi đạo, và các tòa nhà.

Đá Gaven, Đá Gạc Ma (Johnson South Reef), Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef, đã xây phi đạo) đều được TQ xây dựng tấp nập để hình thành một hàng rào quân sự hùng mạnh mà không ai có thể thách thức, để khống chế Biển Đông.

Đó là lý do tại sao TQ ngay bây giờ đã từ chối đưa vấn đề Biển Đông vào chương trình nghị sự cho tháng Mười Một năm nay tại Mã Lai của Hội Nghị Các Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN Mở Rộng ADMM+ gồm Bộ trưởng Quốc phòng 10 nước ASEAN và 8 đối tác gồm Mỹ, Nga, Ấn, Nhật, Nam Hàn, Trung Quốc, Úc và Tân Tây Lan – Rõ là một điều nực cười, quốc phòng mà không được nói an ninh.

TQ chỉ câu giờ đẩy đưa chuyện COC/Quy Tắc Ứng Xử để giảm áp lực, chứ TQ không muốn bị ràng buộc và không muốn đa phương.

Tuy có bờ biển dài, nhưng Việt Nam đang dần trở thành một quốc gia lăn lóc (landlocked).

image1.jpeg

image2.jpeg

image3.jpeg

image4.jpeg

image5.jpeg

image6.jpeg

image7.jpeg

image8.jpeg

image9.jpeg

image10.jpeg

image11.jpeg

image12.jpeg

image13.jpeg


Like · ·

www.goo.gl/AaOejy
www.goo.gl/TS3mjU

Tuyên Cáo Nhân Tưởng Niệm 41 năm Hải Chiến Hoàng Sa

Monday, January 19th, 2015

TUYÊN CÁO

Của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại

Nhân Tưởng Niệm 41 Năm Hải Chiến Hoàng Sa
 

============================

 

  1. Cách đây 41 năm vào ngày 19-1-1974, Trung Cộng đã xua hải quân chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa; 74 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Hoàng sa rơi vào tay Tàu Cộng trước sự im lặng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt;
  1. Gần đây, nhà cầm quyền Bắc Kinh công khai bành trướng lãnh hải, áp đặt đường “lưỡi bò” bất hợp pháp, tự nhận chủ quyền 80% biển Đông, đơn phương thành lập vùng “nhận dạng phòng không”, xây các đảo nổi và phi trường, cản trở tự do hàng hải, đe doạ an ninh, hoà bình và thịnh vượng của toàn thể khu vực Đông Nam Á;
  2. Các tài liệu lịch sử và pháp lý độc lập chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu đời. Ngoài ra, mưu đồ bành trướng  lãnh  thổ, tóm thu lân bang làm chư hầu đã được chứng minh qua lịch sử của Trung Hoa;
  3. Tại Việt Nam, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội chẳng những nhu nhược trước hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Cộng mà còn đàn áp thô bạo thanh niên, sinh viên và đồng bào yêu nước chống xâm lăng Bắc Kinh;
  4. Chỉ có một chế độ dân chủ tự do thật sự tại Việt Nam mới tạo được thế đoàn kết dân tộc để chống ngoại xâm, vận động sự hợp tác quốc tế bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ lãnh hải của Việt Nam và vùng Đông Nam Á.

 

Bởi thế, CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA TẠI HẢI NGOẠI long trọng tuyên cáo:

  1. Kính cẩn nghiêng mình trước sự hy sinh của các chiến sĩ đã chiến đấu bảo vệ lãnh hải Việt Nam;
  2. Hoan nghinh giới trẻ và đồng bào quốc nội đã can đảm bày tỏ ý chí chống ngoại xâm bất kể sự hăm doạ, bắt bớ, giam cầm của nhà cầm quyền;
  3. Cực lực tố cáo hành động bành trướng của nhà cầm quyền Trung Cộng;
  4. Phản đối đảng cộng sản Việt Nam đã tiếp tay cho Tàu Cộng xâm lấn chủ quyền của  đất nước;
  5. Đòi nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phải chấp nhận một chế độ dân chủ tự do, trao  trả chính quyền lại cho toàn dân; lập tức thả tất cả tù nhân chính trị, lương tâm, tôn giáo và những người biểu tình bày tỏ lòng yêu nước;
  6. Kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước đoàn kết một lòng giải thể chế độ cộng sản độc tài tại Việt Nam; thường xuyên tổ chức, tham gia biểu tình, tẩy chay hàng hóa và không du lịch đến Trung Cộng;
  7. Thỉnh cầu Liên Hiệp Quốc và các nước tự do trên thế giới vì nền hoà bình thịnh vượng chung, cương quyết ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng tại Biển Đông cũng như nhiều nơi trên thế giới.

 

Làm tại Hải Ngoại ngày 19 tháng 1 năm 2015

 

Ký tên: Danh sách một số cộng đồng, hội đòan…

 

Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại CHLB Đức.

Hội Người Việt Quốc Gia Lausanne, Thụy Sĩ

Cộng Đồng Người Việt Quồc Gia tại Pháp

Cộng Đồng Việt Nam tại Hòa Lan

Cộng Đồng Việt Nam Liège, Belgium,

Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu

Liên Hội Người Việt Canada

Cộng Đồng Việt Nam tại Norway

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

Cộng Đồng Việt Nam Hoa Thịnh Đốn, Maryland và Virginia. Hoa Kỳ

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Fort Smith, Arkansas.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Arizona, AZ.

Cộng Đồng Việt Nam Nam California, CA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, CA

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pomona, CA.

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Northern California.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Sacramento, CA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Stockton, CA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Colorado, CO.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Connecticut, CT.

Cộng Đồng Việt Nam Georgia, GA.

Cộng Đồng Việt Nam Florida, FL.

Cộng Đồng Việt Nam Trung Tâm FLorida.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Tampa Bay, FL

Cộng Đồng Người Việt Jacksonville, FL.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia NamFlorida, FL.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pensacola, FL

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Louisiana, LA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Massachusetts, MA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Minnesota, MN.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia St Louis, MO.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico, NM.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Hampshire, NH.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia South New Jersey, NJ.

Cộng Đồng Người Việt Tự Do New Jersey, NJ.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York City, NY.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Oklahoma City, OK.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Allentown, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Philadelphia, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pennsylvania, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pittsburgh, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Lancaster, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Northeast Pennsylvania, PA .

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia TP Reading, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia  TP Lebanon, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia TP York, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia TP Easton/Bethlehem, PA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia S. Carolina.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nashville, TN. USA.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Middle Tennessee, TN.

Cộng Đồng Người Việt Tự Do West Tennessee.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston, TX

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas, TX.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Utah.

Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam

Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận.

Hội Phụ Nữ Cờ Vàng New England, Hoa Kỳ

Hội Phụ Nữ Miền Đông Bắc Hoa Kỳ, NJ

Hội Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt (VVA), DC

Hội Ái Hữu Hải Quân VNCH Nam Cali

Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Hải Ngoại

Ủy Ban Nhân Quyền Helsinki-ViệtNam

Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ

Tổng Hội Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

Hội Chuyên Gia Đức Quốc, Germany

Florida Việt Báo

Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Tiểu Bang New Jersey

 

CẬP NHẬT

Liên Hội Người Việt Canada

Hội Sử Học Việt Nam

 

(còn tiếp)

 

Xin xem: cdlbhk.org

 

THÔNG CÁO BÁO CHÍ về ngày Vận Động Nhân Quyền và Vẹn Toàn Lãnh Thổ cho Viêt Nam tại New

Tuesday, December 16th, 2014

BAN TỔ CHỨC NGÀY VẬN ĐỘNG NHÂN QUYỀN, TỰ DO DÂN CHỦ

VÀ VẸN TOÀN LÃNH THỔ CHO VIỆT NAM

1809 Paulding Ave, Bronx, NY 10462.

347-481-8283, tanhnguyen1947@yahoo.com –          407-234-3596, hoivando@gmail.com

 

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

 

Nhân kỷ niệm 66 năm ngày công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã tổ chức ngày Vận Động Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ và Vẹn Toàn Lãnh Thổ Cho Việt Nam trong hai ngày 12 và 13 tháng 12, 2014 tại thành phố New York Hoa Kỳ  kết quả sơ lược  như sau:

Gặp Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

lhq2

 

Lúc 10 giờ sáng thứ Sáu 12 tháng 12, 2014, một phái đoàn người Việt hải ngoại đã găp ông Stephano Sensi, Human Rights Officer, đại diện Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền tại văn phòng Liên Hiệp Quốc thành phố New York.

Phái đoàn gồm có: đại diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ (BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội), Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu (LS Võ Trí Dũng), Tổ chức Nhân Quyền Cho Việt Nam.PAC (BS Nguyễn Thể Bình), đại diện các tôn giáo: Ông Bùi Văn Y (Cao Đài từ New Orleans, LA), MS Ngô Đức Lủy, MS Nguyễn Thanh Nhàn (Giáo hội Mennonite); Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Việt Nam (Ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải), đài SBTN Boston. Một số vị khác không đến được vào giờ chót do sức khỏe hoặc thời tiết khắc nghiệt như: Hòa Thượng Thích Vân Đàm và Thích Trí Lãng, Ông Huỳnh Văn Hiệp (Hòa Hảo), LM Phạm Văn Chính… (Chúng tôi không được phép phổ biến hình có ông đại diện văn phòng Cao Ủy NQ/LHQ).

Phái đoàn lần lượt trình bày những vi phạm nhân quyền có hệ thống của nhà cầm quyền CSVN trên mọi lãnh vực từ tôn giáo đến tự do ngôn luận, báo chí, tệ nạn bạo hành của công an, các điều luật bất công do đảng cộng sản tự đặt nhằm khống chế và đàn áp người dân Việt Nam, về các tù nhân chính trị tại Việt Nam.

Phái đoàn đã trao cho vỉ đại diện Cao Ủy Nhân Quyền tập hồ sơ bao gồm: Hồ sơ về  đáp trả của CSVN những khuyến cáo của HĐNQ LHQ (UPR); Hồ sơ vi phạm nhân quyền mới nhất của CSVN; Hồ sơ bạo hành và tra tấn của công an đối với những người tranh đấu cho nhân quyền (do Hội Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam cung cấp); Kiến nghị của cộng đồng người Việt hải ngoại đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam; Kiến Nghị của Hội Đồng Liên Tôn về đàn áp tôn giáo tại Việt Nam; Kiến nghị của các Tổ Chức Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam về bạo hành và tra tấn của công an; Hồ sơ đàn áp tôn giáo Cao Đài tại Việt Nam (do dại diện Cao Đài trao); Tường trình của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do tại Việt Nam (do ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trình bày). Phái đoàn đã trao đổi với vị đại diện nhiều vấn đề quan trong về nhân quyền dưới chế độ CSVN.

Buổi gặp gỡ đã kết thúc vào lúc 12 giờ trưa cùng ngày.

Gặp các Tòa Đại Sứ tại Liên Hiệp Quốc

Một số phái đoàn đã vào gặp các tòa đại sứ tại Liên Hiệp Quốc để tố cáo nhưng vi phạm nhân quyền của nhà cấm quyền CSVN và trao hồ sơ tương tư như tại văn phòng đại diện Cao Ủy NQ.

Gặp tòa đại sứ Canada lúc 2:00 chiều. Phái đoàn gồm có BS Phạm Hữu Trác, ông Trần Việt Hùng từ Canada hướng dẫn cùng với các vị mục sư Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài.

Gặp tòa đại sứ Hoa Kỳ lúc 3:00 chiều. Phái đoàn gồm Ông Lưu Văn Tươi, chủ tịch CĐVN Florida hướng dẫn cùng với phái đoàn từ Massachusetts. Ông  Larry M. Dinger Đại Sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc và Bà Peggy Kerry phụ tá đã tiếp rất niềm nở.

 

Gặp tòa đại sứ Úc Châu lúc 4:30 pm.  Phái đoàn gồm LS Võ Trí Dũng, chủ tịch CĐ Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu, LS Võ Minh Cương, cựu chủ tịch hướng dẫn. cùng với phái đoàn Tổng Hội Cưu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam.

 

Biểu tình ngày Quốc Tế Nhân Quyền trước trụ sở LHQ

Lúc 1 giờ trưa ngày 12/12/2014 dưới thời tiết lạnh giá trên dưới 30 độ F (0 độ C). một cuộc biểu tình đã diễn ra trước tòa nhà Liên Hiệp Quốc tại New York nhằm tố cáo những vi phạm nhân quyền và đàn áp người dân của nhà cầm quyền CSVN cũng như phản đối nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh lấn chiếm đất đai và biển Đông.

Tham dự gồm đại diện cộng đồng, tôn giáo, đoàn thể và đồng hương từ Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu cùng với cộng đồng Phi Luật Tân, Trung Hoa Tự Do (Pháp Luân Công), Tây Tạng, truyền thông báo chí như SBTN Boston, DC, Việt TV, Việt Nam Hải Ngoại, đài truyền hình NDTV của Trung Hoa Tự Do vân vân

Cuộc biểu tình kết thúc vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày sau cuộc họp báo ngắn

 

Hội thảo tình hình Việt Nam, Biển Đông và Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều thứ Bày 13/12/2014 tại khách sạn Hampton Inn JFK.

Tham dự gồm các đại diện cộng đồng, tôn giáo, đoàn thể Việt Nam từ Hoa Kỳ, Úc Châu, Canada.

Sau phần khai mạc, Linh mục Phan Văn Lợi đại diện Hội Đồng Liên Tôn từ Huế qua skype  gửi lời chào mừng và nói lên hiện tình tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam. Anh Đặng Chí Hùng, người từng công bố hồ sơ sự thật của đảng CSVN và Hồ Chí Mình, và từng bị công an CSVN truy sát vừa thoát khỏi Việt Nam, lên tiếng chào mừng và hứa hợp tác để giải thể chế độ CSVN. Ông Nguyễn Văn Hải, tức Điếu Cày, đại diện cho Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do tại Việt Nam (một tổ chức không được phép của nhà cầm quyền), trình bày những sự kiện anh đã tường trình trong văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiêp Quốc.

Các diễn giả gồm: nhà Báo Phạm Trần, trình bày tình hình mới nhất của Biển Đông nơi Trung Cộng đang công khai lấn chiếm hầu hết vùng biển này với sự xây dựng các căn cứ, các đảo nối, sân bay nhằm khống chế toàn vùng Đông Nam Á. Ông cũng dẫn chứng cụ thể về sự tiếp tay của đảng CSVN với đảng cộng sản Trung Cộng. BS Đỗ Văn Hội trình bày vai trò quan trọng của cộng đồng Người Việt tại hải ngoại đối với dất nước như các cộng đồng hải ngoại trên thế giới đối với chính quốc như Trung Hoa, Do Thái, các nước Đông Âu và Nga, Tây Tạng.. . Giáo sư BS Nguyễn Quyền Tài đề nghị thành hình cơ chế tiếng nói chung của người Việt Nam tại hải ngoại. BS Võ Đình Hữu trình bày sự thành hình của công đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ trên 20 năm qua. LS Võ Trí Dũng trình bày lịch sử trên 30 năm thành hình Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu. Ông Nguyễn Văn Tánh, cựu chủ tịch CĐNVQGHK nêu lên phương thức phối hợp các hoạt động của người Việt trên khắp thế giới.

Sau thuyết trình là phần thảo luận sôi nồi. Các tham dự viên đều đồng ý nên thành hình một cơ cấu chung cho cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại nhằm tạo tiếng nói chung về các vấn đề liên quan đến Viêt Nam, tạo niềm tin của các đồng hương tại hải ngoại và sự hỗ trợ của họ, vận động quốc tế cho các vấn đề Việt Nam và Biển Đông..

Hội nghị cũng công bố bản Tuyên Cáo lên án nhà cầm quyền CSVN không tôn trọng quyền lảm người của nhân dân Việt Nam, đồng thời tố cáo tham vọng bành trướng tại Biển Đông và Đông Nam á.

Buổi hội thảo kết thúc vào lúc 4 giờ sau phần xổ số gây quỹ sinh hoạt cho Cộng Đồng Liên Bang Hoa Kỳ.

New York ngày 14 tháng 12, 2014

Ban Báo Chí

Ghi chú: Đây chỉ là bản tường trình tổng quát, bản tường trình chi tiết sẽ được phổ biến sau.

———————————————-

 

Ban Tổ Chức ngày Vận Động Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ và Toàn Vẹn Lãnh Thổ cho Việt Nam gồm có:

 

Trưởng ban tổ chức: LS Nguyễn Thanh Phong, chủ tịch CĐNVQG New York, Trưởng ban điều hợp: ông Nguyễn Văn Tánh. Các đồng trưởng ban tổ chức là quý Ông: Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch CĐVN Washington DC, MD & VA; Ông Nguyễn Thanh Bình, CT CĐNVQG Massachusetts; Ông Cao Xuân Khải, CT CĐNVQG New Hampshire;  Ông Trần Văn Giỏi, CT CĐNVQG Connecticut; Ông Trần Quán Niệm, CT CĐNVQG Nam New Jersey; Ông Lưu Văn Tươi, CT CĐVN Florida; DS Nguyễn Đức Nhiệm, CT CĐNVQG Pennsylvania; Ông Vũ Trực, CT CĐNVQG Philadelphia; Bà Lê Ánh Nguyệt, CT CĐVN New Jersey.

 

Cố vấn và hỗ trợ: Tập Thể Chiến Sĩ VNCH tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá GS Nguyễn Xuân Vinh; Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quý. Cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di. Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.Tập Hợp vì Dân Chủ: BS Nguyễn Quốc Quân. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu; BS Đỗ Văn Hội. Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc Châu; Đại diện các tôn giáo; Với sự hợp tác của đài SBTN cũng như các cơ quan truyền thông khác.

Bài giảng tại quốc nội: cộng sản là dối trá, lừa gạt… Đừng để bị lừa gạt

Thursday, December 4th, 2014
Bài giảng của Linh mục Giu-se Nguyễn văn Toản tại Saigon
Bài giảng tại quốc nội: cộng sản là dối trá, lừa gạt…
Đừng để bị lừa gạt. Kính chuyển để theo dõi và nhận định. 

Xin bấm vào để nghe
 
Lm_ToanSG04.png 
Bài giảng của Linh mục Giu-se Nguyễn văn Toản tại Saigon , ngày 1 tháng 12 năm 2014 trong 
thánh lễ cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình
 
Lm_ToanSG01.png
Cám ơn cha Nguyễn văn Toản đã vượt qua sợ hãi,  công khai vạch trần sự dối trá của nhà cầm quyền CS VN, Chúa sẽ phù hộ, che chở cho cha – Cha Toản chỉ nói sự thật cho 500 người nghe tại nhà thờ ở Saigon, còn chúng ta, dù bất cứ tôn giáo nào, yêu chuộng sự thật cũng sẽ tiếp tay với cha phổ biến (Share) rông rãi cho mọi người khắp thế giới cùng nghe sự thật.
Lm_ToanSG03.png
Tiếng nói bất khuất từ Sài Gòn: Người dân đang sống trong dối trá và bị chế độ lừa gạt
 
VRNs (01.12.2014) – Sài Gòn – Tin Mừng: Mc 13, 33-37
Kính chào ông bà và anh chị em, cách riêng, kính chào ông bà và anh chị em không phải là người Công Giáo đang tham dự Thánh Lễ cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình hôm nay.
Đoạn Tin Mừng theo Thánh Máccô chúng ta vừa nghe đọc trong Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, có tới 5 cụm từ “phải tỉnh thức”, “phải canh thức” được lặp đi lặp lại trong lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Và đó cũng là cụm từ chìa khóa cho bài Tin Mừng hôm nay. Đó là sứ điệp chính mà Chúa Giêsu gửi tới, không chỉ cho các môn đệ của Ngài, không chỉ cho mỗi người chúng ta, nhưng còn cho mọi người, như chính lời Chúa Giêsu nói: “Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là ‘phải canh thức’.” 
Phải canh thức! Vâng, kính thưa ông bà và anh chị em. Đức Giêsu nhắc nhở mọi người phải canh thức, bởi vì: Anh em không biết giờ Con Người đến. Anh em phải canh thức, vì anh em không biết thời tận cùng của thế giới thụ tạo này. Anh em phải canh thức, phải tỉnh thức vì anh em không biết thời tận cùng của đời anh em – ngày anh em sẽ trút hơi thở cuối cùng, bỏ lại mọi thứ để ra đi với hai bàn tay trắng. Do đó, anh em phải canh thức! Anh em phải tỉnh thức!
 

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Toản, Dòng Chúa Cứu Thế
Đức Giêsu đang nhắc nhở mọi người về thực tại của thế giới thụ tạo này, trong đó, thân phận con người cũng như thế giới này thật hữu hạn. Thế giới này, trong đó có con người chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Chỉ có Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa, Ngài mới là vĩnh cửu và chỉ có Ngài mới là chủ của vạn vật lịch sử. Con người chỉ là phàm nhân trước mặt Thiên Chúa, như lời tác giả sách Thánh Vịnh thưa lên:
“Nào phàm nhân sống mãi được sao?
Mà chẳng phải đến ngày tận số?
Kìa họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,
Nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,
Nơi họ ở muôn đời muôn kiếp” (Tv 49).

Vâng, kính thưa ông bà và anh chị em, những lời ấy cho ta cảm tưởng, tác giả sách Thánh Vịnh đang quá bi quan về thân phận con người. Nhưng không! Hôm nay, Đức Giêsu Ngài đã nhắc nhở và cho ta biết về thân phận thật của thụ tạo, của mỗi người chúng ta: Con người, như người đầy tớ chờ đợi ông chủ trở về. Ông chủ ấy chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa, Ngài sẽ đến gặp chúng ta trong ngày tận cùng của thế giới này, trong ngày tận cùng của đời ta. Con người, bất kể họ là ai, họ sẽ phải đối diện với cái chết. Khi ấy là lúc mà ông chủ là Thiên Chúa trở về – lúc ấy, ngày ấy thật bất ngờ, không ai biết trước được. Do đó, chúng ta được mời gọi: Hãy canh thức! Hãy tỉnh thức!
Canh thức, tỉnh thức thế nào đây. Có nghĩa là đừng có ngủ, đừng có ngủ mê! Nhưng chắc chắn Đức Giêsu không nói tới cái thức, cái ngủ về thể lý. Vậy, Đức Giêsu nhắc nhở phải canh thức điều gì, phải tỉnh thức ra sao? Thưa ông bà và anh chị em!
Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe đọc hôm nay, nằm trong trình thuật Đức Giêsu đang ở thành Giêrusalem và Ngài nói về ngày sụp đổ của thành, cũng như Ngài nói về ngày tận thế – ngày tận cùng của thế giới này.
Khi nhắc mọi người phải canh thức, phải tỉnh thức, trước đó, Đức Giêsu đã nhắc:“Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính Ta đây! và họ sẽ lừa gạt được nhiều người.” Sau đó, Ngài cảnh báo: “Trước khi ngày tận cùng đến, người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng; tại các hội đường, anh em sẽ bị đánh đòn, anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết”. Ngài nói tiếp: “Anh em đừng sợ, đừng lo phải nói gì”. Cũng trong trình thuật này, Tin Mừng thánh Luca còn viết thêm: khi điều đó xảy đến, “Anh em hãy ngẩng đầu và đứng vững”.
Vâng, kính thưa cộng đoàn, thái độ canh thức, tỉnh thức trước tiên mà Chúa Giêsu mời gọi mọi người là: “hãy coi chừng, kẻo bị người ta lừa gạt”. Chúa Giêsu cho biết: Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Ngài nói với tổng trấn Philatô, Ngài đến để làm chứng cho sự thật: “Chính vì lẽ này mà tôi đã sinh ra, và chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho sự thật. Phàm ai thuộc về sự thật, thì nghe được tiếng tôi”. Do đó, phủ nhận sự thật, bóp méo sự thật để đi trong sự giả trá, để lừa gạt là chống lại Thiên Chúa, chống lại Đấng Tạo Hóa.
Trong môi trường chúng ta đang sống, trong xã hội của chúng ta đã và sẽ có những người, những nhóm người nhân danh Tin Mừng để lừa gạt người khác. Đã và đang có nhóm người dùng mọi chiêu bài để bóp méo lịch sử, lừa gạt người dân, lừa gạt nhiều thế hệ, kéo cả một dân tộc đi vào con đường sai lầm.
Chúng ta đang sống trong một xã hội lấy chủ thuyết cộng sản – chủ thuyết đặt trên nền tảng của gian dối, lừa gạt:
Sau một thời gian đã biết thế nào là xã hội chủ nghĩa, thế nào là cộng sản: Mikhail Gorbachyov, nguyên Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Bang Sô Viết nói: “Tôi đã bỏ một lửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà nói rằng, đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.
Đã có kinh nghiệm sống trong xã hội cộng sản Đông Đức, Thủ tướng Đức đương thời, bà Angela Merkel nói: “Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối”.
Tổng Thống Nga đương nhiệm, ông Putin nói: “Ai tin Cộng Sản, là không có cái đầu. Ai làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.”
Kính thưa ông bà và anh chị em, những con người sống trong xã hội được coi là khai sinh ra chủ nghĩa cộng sản, họ đã phải tuyên bố về nó như thế. Dân tộc của họ đã từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, cho nó vào quá khứ để đi con đường văn minh, chân thật hơn.
VIỆT NAM
Tại Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản đã thống trị hơn một nửa thế kỷ tại Miền Bắc và gần 40 năm tại Miền Nam này. Người dân đã và vẫn đang bị lừa gạt, bao thế hệ đã và đang sống trong sự dối trá.
Vâng, nếu tôi và bao bao bạn trẻ, tôi tin rằng, có nhiều nhiều bạn đang ngồi trong ngôi nhà thờ này không được tiếp xúc với sự thật lịch sử từ các trang mạng internet; nếu thế hệ trẻ không được đọc những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Nhật Kỳ một Thằng Hèn của nhạc sĩ Tô Hải; Bên Thắng Cuộc của nhà báo Huy Đức, Đèn Cù của Trần Đĩnh; Và nếu thế hệ trẻ ngày nay không được các thế hệ cha ông mình kể lại, không lắng nghe những người trong cuộc nói cho biết, thì bản thân tôi, bao người trẻ đã và vẫn còn bị lừa gạt nhiều điều.
Chúng tôi bị lừa gạt về cái gọi là thắng lợi 30-4-1975. Nếu không biết đâu là sự thật thì người ta vẫn tin rằng: Đồng bào Miền Nam đói khổ, bị chính quyền bù nhìn câu kết với Đế Quốc Mỹ đàn áp, bóc lột người dân tới tận xương tủy. Đồng bào Miền Bắc hãy làm cuộc giải phóng cho đồng bào Miền Nam…
Nếu người dân không được tiếp xúc với những nguồn tin lề trái, mà chỉ đọc, chỉ nghe, chỉ nhìn những gì đảng cho đọc, đảng cho nghe, đảng cho thấy thì cứ tưởng rằng, Hoàng Sa, Trường Sa vẫn nguyên vẹn thuộc quyền sử dụng của Việt Nam. Sự thật là người ta đã để cho Trung Cộng chiếm gần hết. Người ta cứ tin rằng, Đất nước ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Sự thật là Ải Nam Quan nay không còn. Hàng km đất biên giới phía Bắc đã cho Trung Cộng thuê với thời hạn cả 50 năm trở lên.
Và nếu ta không chịu tìm hiểu, không phóng tầm mắt ra các nước xung quanh, các nước Phương Tây, nhiều người vẫn còn bị lừa gạt rằng: Chủ nghĩa Tư Bản đang giãy chết. Chủ nghĩa Tư bản độc ác. Các ông chủ Tư bản bóc lột người lao động như vắt chanh bỏ vỏ; còn chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao trí tuệ của loài người… Chủ nghĩa xã hội là khoa học, là tiến bộ…
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Có thể tôi và nhiều anh chị em chúng ta ngồi đây, đã biết, đã không bị lừa gạt bởi những gì chủ nghĩa cộng sản tuyên truyền. Có thể tôi và anh chị em không là nạn nhân, nhưng rất, rất có thể chúng ta lại trở thành người đã để cho sự giả dối, lừa gạt đi vào trong suy nghĩ, hành động của mình. Sống trong một xã hội lấy chủ nghĩa giả dối, lừa gạt làm nền tảng thì có thể chúng ta đã bị ảnh hưởng bởi điều đó. Chúng ta thấy tình trạng học giả lấy bằng thật, làm giả lấy công thật, làm hàng giả, bán hàng giả… trong lãnh vực nào cũng có cái giả.
Một xã hội đặt trên nền tảng của sự lừa lọc, giả dối để rồi cả xã hội ấy người người làm giả, nói dối. Nói như nhạc sĩ Tô Hải viết trong cuốn Nhật Ký Thằng Hèn của ông: “tao, mày, nó, chúng tôi, các anh, chúng nó… đều làm dối, nói dối, khen nhau dối, và từ trên xuống dưới đều dối nhau là “Đừng có nói… đó là… nói dối!” Hay như đại tá, nhà văn Nguyễn Khải thú nhận trong tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”:“Người Cộng Sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm. Nói dối không hề biết xấu hổ, không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng phải nói dối theo.”
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Chúa Giêsu Ngài là sự thật, Ngài đến làm chứng cho sự thật và phàm ai thuộc về sự thật, thì nghe được tiếng Ngài”. Hôm nay, Chúa Giêsu cảnh báo mọi người:“Anh em hãy coi chừng, kẻo bị người ta lừa gạt.”
Đừng để cho người ta lừa gạt để rồi phải sống trong sự giả dối. Đừng để sự giả dối đi vào trong suy nghĩ, hành động của mình mà trở thành kẻ lừa gạt người khác. Đó là thái độ sống tỉnh thức trước tiên Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hôm nay.
Thái độ sống tỉnh thức kế tiếp Chúa Giêsu mời gọi ta, đó là: “Đừng sợ!”
Đức Giêsu cảnh báo: “Phần anh em, anh em hãy coi chừng! Người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng; tại các hội đường, anh em sẽ bị đánh đòn; anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết”. Nhưng “anh em đừng sợ đừng lo phải nói gì”.
Có nhiều nỗi sợ hãi trong cuộc đời ta, nhưng có nỗi sợ đến từ sự đe dọa, bắt bở, đàn áp, bỏ tù của những kẻ mạnh, của những người có chức có quyền, có vũ lực trong tay.
Một trong cách thức mà chế độ Cộng Sản ở đâu cũng áp dụng, đó là làm cho người dân luôn sống trong nỗi sợ hãi. Nhà cầm quyền đã dùng người dân để theo dõi nhau, người này theo dõi người kia, nhà này theo dõi nhà nọ. Dẫn đến mất niềm tin, nghi ngờ nhau, mang đến nỗi sợ hãi để rồi chỉ còn làm cách lén lút, dù điều đó là điều tốt.
Chính quyền dùng bạo lực, dùng nhà tù để tạo nên nỗi sợ hãi cho người dân. Để rồi người dân chỉ còn biết nghe theo, làm theo; dù lương tâm cho biết, đó là điều trái với đạo lý, trái đức tin của mình.
Điều này không chỉ xảy ra trong xã hội chúng ta trước đây, mà ngày nay, hiện tại vẫn đang xảy ra: Nhà cầm quyền dùng người dân theo dõi người dân. Dùng những người ăn không ngồi rồi, theo dõi người bất đồng chính kiến… Dùng nhiều cách thức khác nhau để mang đến nỗi sợ hãi: triệt hạ kinh tế, sách nhiễu gia đình, khủng bố tinh thần, thể xác; giả dạng côn đồ đánh đập, bắt bớ bỏ tù… Tạo ra nỗi sợ hãi cho những người bất đồng chính kiến, những người bằng đường lối ôn hòa, muốn dấn thân thúc đẩy tự do, dân chủ, công bằng, đa nguyên đa đảng cho Việt Nam.
Nhà cầm quyền làm cho người dân sợ hãi đến nỗi có người không dám nói tới hai từ “chính trị”, không dám bàn tới chính trị. Những cụm từ: dân chủ, quyền con người, đa nguyên đa đảng… trở thành những cụm từ kỵ. Kỵ không phải vì điều gì khác mà kỵ vì quá sợ, vì sợ hãi.
Sợ hãi trước sự thật đang xảy ra cho dân tộc, sợ hãi không còn dám liên đới, lên tiếng cho những con người nghèo khổ đang bị gạt ra bên lề xã hội, đang chịu bao cảnh nỗi oan khiên. Điển hình là những vụ việc xảy ra được nêu lên trước thánh lễ mà Cha Thoại đã nêu lên: vụ việc của nhà báo Trương Minh Đức, giảng viên Phạm Minh Hoàng, người ta hành hung, đe dọa; đến cả ông Tổng lãnh sự Pháp người ta còn kẹp cổ ông… nhằm đe dọa ông.
Vụ án nhiều mờ ám của anh Hồ Duy Hải, và phiên tòa sắp tới ngày 12.12 xử bà Bùi Minh Hằng, hay việc lên tiếng cho tình trạng bị tù oan sai của anh Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, của luật sư Lê Quốc Quân, chị Tạ Phong Tần, ông Trần Huỳnh Duy Thức… và nhiều vụ việc khác nữa.
Vâng, nhiều người dân biết đó, biết họ chỉ lên tiếng những vấn đề của đất nước, lên tiếng cách ôn hòa nhằm thúc đẩy tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy những điều tốt đẹp cho Việt Nam nhưng đã bị nhà cầm quyền xử cả chục năm tù giam. Biết đó, nhưng sợ! Sợ nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền làm cho người dân sợ hãi đến nỗi không dám lên tiếng, không dám nói tiếng nói của lương tâm,  của lương tri, không dám lên tiếng, không dám liên đới với anh chị em của mình.
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Trong ngày Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, Chúa Giêsu trấn an ta: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục.” Và Ngài cũng nói với chúng ta, nói cho những ai thành tâm thiện chí: “Phúc cho những ai chịu bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ”.
Chúng ta cám ơn Chúa, vì đã và đang ngày càng có nhiều người vượt qua nỗi sợ hãi để có thể bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình cách công khai về các vấn đề trong xã hội Việt Nam. Họ đã và sẵn sàng chịu sự sách nhiễu, hành hung, trấn áp, ngồi tù bởi nhà cầm quyền, để có thể nói điều lương tâm, lương tri mách bảo.
Cám ơn Chúa, vì đã có bao thế hệ cha ông chúng ta là các thánh tử đạo Việt Nam đã trung kiên với đức tin mình lãnh nhận, dù các ngài có gặp gian nan khốn khó; dù các ngài có bị bắt bở, chịu bỏ tù, dù có phải hy sinh mạng sống mình, các ngài đã vượt lên nỗi sợ hãi để sống đức tin, làm chứng cho đức tin – đức tin chân thật mà các ngài đã lãnh nhận.
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Hôm nay là ngày cuối cùng trong tháng mà Hội thánh mời gọi con cái mình nhớ tới các bậc tiền nhân đã qua đời, để cầu nguyện cho các ngài. Lúc này đây, tôi nhớ tới hình ảnh của cha Giuse Vũ Ngọc Bích và thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn trong Nhà Dòng chúng tôi. Năm 1954, khi người dân Miền Bắc ồ ạt chạy vào Nam để trốn chế độ cộng sản, thì cha Giuse Vũ Ngọc Bích và Thầy Marcel Văn đã can đảm tình nguyện từ Nam trở ra Bắc.
Cha Giuse Vũ Ngọc Bích đã âm thầm, chịu bao đau khổ để giữ đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cơ sở của DCCT, nhờ vậy mà DCCT còn có cơ sở tại Hà Nội như ngày hôm nay.
Đối với thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn. Sau khi vừa ra Hà Nội, trong một lần ra ngoài phố, tình cờ thầy nghe vài người đang nói những điều sai sự thật về xã hội Miền Nam. Thầy Văn đã tiến lại nói với họ: Điều các ông vừa nói không đúng sự thật. Tôi sống trong đó, mới từ trong đó ra nên tôi biết rõ Miền Nam. Thầy Marcel Văn không phải không biết sự nguy hiểm khi nói những điều ấy, nhưng thầy đã vượt qua nỗi sợ hãi để làm chứng cho sự thật. Thầy Macen Văn đã bị bắt đem đi và chết trong nhà lao Yên Bình thuộc tỉnh Yên Bái vào năm 1959.
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, ngày chúng ta cầu nguyện cho Công Lý Hòa Bình trên quê hương đất nước chúng ta, Lời Chúa nhắc nhở mọi người: Phải canh thức, phải tỉnh thức! Phải canh thức, tỉnh thức bởi sự hữu hạn của thế giới thụ tạo; bởi mỗi người chúng ta sẽ có ngày gặp lại ông chủ của mình là Thiên Chúa.
Và thái độ canh thức, tỉnh thức mà hôm nay Chúa Giêsu mời gọi đó chính là hãy cẩn thận, đừng để bị lừa gạt: đừng để rơi vào tình trạng biến cái xấu thành tốt, cái giả thành thật, cái sai thành đúng! Thiên Chúa, Ngài là Đấng chân thật và Ngài mời gọi ta đi trong đường lối chân thật.
Ta được mời gọi “đừng sợ”. Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn ta. Hãy đứng vững và ngẩng đầu lên, bởi sự sống, sự chết của chúng ta nằm trong tay Thiên Chúa. Thiên Chúa mới là người xét xử ta. Hãy can đảm sống Đức Tin, sống những giá trị của Tin Mừng. Đừng để cho nỗi sợ biến chúng ta thành những người thờ ơ trước nỗi đau khổ của anh chị em mình, trước vận mạng của dân tộc. Đừng để nỗi sợ hãi biến chúng ta thành những người đánh mất lương tri mà Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa đã ban cho chúng ta.
Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng đã nhắc nhở ta phải canh thức, phải tỉnh thức; xin Ngài ban cho ta ơn khôn ngoan, lòng can đảm, vượt qua nỗi sợ hãi để ta có thể sống trong sự thật và biết làm chứng cho sự thật giữa xã hội mà ta đang sống hôm nay. Amen!
Lm. Giuse Nguyễn Văn Toản, DCCT
Attachments area
Preview YouTube video Bài giảng của Linh mục Giu-se Nguyễn văn Toản tại Saigon

Bài giảng của Linh mục Giu-se Nguyễn văn Toản tại Saigon

THƯ MỜI THAM DỰ Ngày “Vận Động Nhân Quyền, và Vẹn Toàn Lãnh Thổ Cho Việt Nam”

Tuesday, November 4th, 2014

THƯ MI

Ngày “Vận Động Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ và Vẹn Toàn Lãnh Thổ Cho Việt Nam”

Nhân Kỷ Niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền năm 2014 tại New York, Hoa Kỳ

Trân trọng kính mời QUÝ VỊ ĐỒNG HƯƠNG

Tham dự ngày “Vận Động Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ và Vẹn Toàn Lãnh Thổ Cho Quê Hương Việt Nam” do Cộng Đồng Người Việt Tại Hải Ngoại sẽ tổ chức nhân kỷ niệm 66 năm ngày công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12, 1948, trong hai ngày 12 và 13 tháng 12, 2014 tại New York, nhằm nói lên nguyện vọng của người dân Việt Nam trong và ngoài nước:

  • Tố cáo các vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trước dư luận quốc tế;
  • Đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho 90 triệu người dân Việt Nam;
  • Tố cáo mưu đồ bành trướng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh tại Biển Đông và Đông Á;
  • Hội thảo tìm giải pháp cho vấn đề Việt nam và vai trò của Cộng Đồng Người Việt tại hải ngoại đối với đất nước.

Chương trình tổng quát như sau:

Thứ Sáu 12 tháng 12, 2014:

Từ 10 am – 12:30 pm:

  1. Gặp Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (phái đoàn Cộng Đồng Hải Ngoại)
  2. Gặp tòa đại sứ các nước quan trọng tại Liên hiệp quốc như: Mỹ, Pháp, Anh, Úc, Canada, Đức.. (phái đoàn từ các quốc gia liên hệ)

Từ 1 giờ đến 3 giờ 30 chiều: Biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc Góc đường 1st Ave và 42nd E. Street, New York.

7:00 pm – 10:00 pm: Cơm thân mật hội ngộ – Xổ số gây quỹ hoạt động CĐ/LBHK

Thứ Bảy 13 tháng 12, 2014:

  • 10:00 am – 4:00 pm:
    1. Hội thảo tình hình Việt Nam.
    2. Vai trò của Cộng Đồng Việt Nam tại Hải Ngoại đối với đất nước.

Địa điểm: Hampton Inn JFK Airport: 144-10 135th Avenue, Jamaica, New York 11436

718-322-7500 Ghi chú: Vì số phòng có giới hạn với giá hạ với tên nhóm: Vietnamese American Communities (160MK kể cả thuế) xin vui lòng gọi Hotel để dành phòng, sau đó xin thông báo cùng chúng tôi. Lấy phòng online xin đề code VAC.

Khách sạn Hampton JFK, New York

Trân trọng kính mời.

Ngày 4 tháng 11, năm 2014

– Trưởng Ban Tổ Chức: LS Nguyễn Thanh Phong, Chủ Tịch CĐNVQG New York,

– Trưởng Ban Điều Hợp: Ông Nguyễn Văn Tánh, Cựu Chủ Tịch CĐNVQG Hoa Kỳ

 Xin vui lòng liên lạc:

  • Ô. Nguyễn Văn Tánh: 347-481-8283; tanhnguyen1947@yahoo.com ((tổng quát; ghi danh tham dự, khách sạn)
  • Đỗ Văn Hội: 407-234-3596; hoivando@gmail.com (ghi danh vào Cao Ủy NQ/LHQ; hội thảo)
  • Cô Bội Ngọc: 407-463-4327;   Boingoc@bellsouth.net  (ghi danh khách sạn; vé số gây quỹ)
  • Cô Tara Thu: 917-862-9969; Tarathu@gmail.com (tổng quát; khách sạn)
  • Website: CDLBHK.org, rồi bấm: Nhân Quyền, Ngày vân động NQVN

Yểm trợ tài chánh xin đề: NY-VACA và gửi về 1809 Paulding Ave, Bronx, NY 10462.

Memo: Quốc Tế Nhân Quyền 2014.

Xin bấm vào đây để xem chi tiết:

CHI TIẾT NGÀY VẬN ĐỘNG ĐỘNG NHÂN QUYẾN CHO VIỆT NAM

 

Điếu Cày: Tôi sẽ tranh đấu cho ngày trở về

Wednesday, October 22nd, 2014

Video: Lý Tri Anh
CTV Danlambao – Trên 200 đồng hương người Việt đã có mặt tại sân bay để chào đón blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, một tù nhân lương tâm nổi tiếng vừa bị chế độ CSVN cưỡng bức trục xuất khỏi Việt Nam.

Mặc dù thông tin Điếu Cày đến Mỹ chỉ được loan báo trước đó không lâu, nhưng đông đảo người dân và các cơ quan truyền thông đã có mặt từ sớm khiến phi trường Los Angeles đông một cách bất thường.
Chị Lý Tri Anh, một gương mặt hoạt động tích cực trong cộng đồng cho biết: Tất mọi người đến đây vì yêu mến và cảm phục tinh thần của blogger Điếu Cày – một người đấu tranh tiên phong trong phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.
Điếu Cày và nụ cười chiến thắng.
Ảnh: Lý Tri Anh

Một tấm biểu ngữ lớn nền vàng, chữ đỏ có nội dung “Cộng đồng Việt Nam Nam – Cali welcome blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải” đã được chuẩn bị sẵn.

Sau hơn 6 năm 6 tháng tù đày, hình ảnh Điếu Cày xuất hiện lần đầu tiên trong chiếc áo thun đơn sơ, chân vẫn còn mang dép nhựa, khuôn mặt thì xanh xao gầy gò khiến nhiều người không khỏi xúc động.
Trước sự đón tiếp nồng nhiệt của đông đảo đồng bào, Điếu Cày tỏ ra rất cảm động. Trong lời phát biểu đầu tiên, anh dõng dạc nói:
“Đây là thắng lợi của giá trị tự do, dân chủ. Đây là kết quả những nỗ lực không ngừng nghỉ của anh em chúng ta suốt bao năm qua… để chúng tôi có được tự do như ngày hôm nay”.
 
“Đây cũng là thông điệp hiệu quả nhất để gửi đến những anh em tù nhân còn đang nằm trong nhà tù cộng sản”. 

Hãy tin tưởng rằng anh em không đơn độc, bên ngoài vẫn có các chính phủ, các tổ chức và bạn bè quốc tế luôn luôn quan tâm, ủng hộ và bảo vệ. Anh em hãy mạnh mẽ và cố gắng lên.

“Tôi sang đây là để đấu tranh ngày trở về, và không chỉ đấu tranh cho tôi mà cho tất cả đồng bào ở đây”.

Điếu Cày bị ‘vây hãm’ bởi giới truyền thông 
và đồng bào khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ
Sau thời gian ngắn ngủi tiếp xúc với đồng bào, do sức khỏe suy yếu vì phải đi một chặng đường dài, Điếu Cày được hai nhân viên ngoại giao đưa lên xe về khách sạn để nghỉ ngơi.
Trong nhiều năm trở lại đây, hiếm có sự kiện nào diễn ra một cách nồng nhiệt và sôi nổi như buổi chào đón blogger Điếu Cày tối nay. Trên các mạng xã hội tràn ngập những lời chúc và niềm hứng khởi chào đón cuộc hành trình trong chiến thắng của Điếu Cày.

 

Tường Trình cuộc Hội Thảo Tình Hình Việt Nam và Biển Đông ngày 22/6/2014 tại New York

Tuesday, July 8th, 2014

Tường Trình Hội Thảo Tình Hình Việt nam và Biển Đông (PDF)

 

TƯỜNG TRÌNH CUỘC HỘI THẢO

“TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC VÀ BIỂN ĐÔNG”

NGÀY 22/6/2014 TẠI NEW YORK

Thư mời chỉ được phổ biến trước 1 tuần lễ (thư đề ngày 16/6/2014) vì tình hình quá cấp bách. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York và Liên Bang Hoa Kỳ đã tổ chức cuộc hội thảo với chủ đề “Tình Hình Đất  Nước và Biển Đông” từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa Chủ Nhật 22 tháng 6 năm 2014 tại khách sạn Holiday Inn, Lafayette Street, Manhattan, New York nhân dịp Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 29 và Đại Hội bán nhiễm kỳ của CĐNVQG/LBHK. Bốn đề tài đã được trình bày:

– Tình hình tại Biển Đông trước sự xâm lấn của TC và tương quan giữa các quốc gia trong vùng: Nhà báo, nhà bình luận PHẠM TRẦN.

– Chính sách của Hoa kỳ tại Biển Đông và Á Châu Thái Bình Dương: GS Phạm Văn Thanh.

– UNCLOS là gì? Tại sao quan trọng cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông: Bà Nguyễn Thị Ngọc Giao.

– Giải pháp cho Vấn Đề Việt Nam và Biển Đông: BS Đỗ Văn Hội.

– Sau đó là phần thảo luận.

Chào quốc kỳ

Hội trường đã không còn chỗ ngồi với quan khách và đồng hương đến từ nhiều nơi, hầu hết là đại diện các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia trên khắp tiểu bang Hoa Kỳ. Trên bàn điều hợp có BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội, GS Phạm Văn Thanh, Ô. Nguyễn Văn Tánh (cựu chủ tịch CĐNVQG/HK, cố vấn CĐNVQG New York và LBHK), LS Nguyễn Thanh Phong và nhà báo Phạm Trần (diễn giả). Ông Nguyễn Thanh Thụy, TTK Cộng Đồng NVQG Liên Bang Hoa Kỳ điều khiển chương trình.

Sau phần nghi lễ khai mạc, LS Nguyễn Thanh Phong, chủ tịch CĐNVQG New York và BS Võ Đình Hữu, chủ tịch CĐNVQG Liên Bang Hoa kỳ đã chào mừng và nói lý do cuộc hội thảo nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của tình thế cần đề nghị một giải pháp cho Việt Nam và Biển Đông của người Việt tại hải ngoại.

Ký Giả Phạm TrầnNhà báo kỳ cựu Phạm Trần với đề tài “Tình hình  Biển Đông và Việt Nam trước sự xâm lấn của TC và thái độ của các quốc gia Á Châu và Thái Bình Dương  trước hiểm họa bá quyền  Bắc Kinh” trình bày những sự kiện đã và đang xảy ra tại Biển Đông và Việt Nam cho thấy mối nguy hại của TC ngày càng gia tăng; đảng CSVN phụ thuộc vào đảng cộng sản Trung Hoa. Đã có những mật ước được ký kết giữa hai đảng Cộng Sản “anh em”, đặc biệt là Hội Nghị Thành Đô năm 1990 với nhiều bí mật vẫn chưa được công bố (xin xem phần Video 1).GS Phạm Văn Thanh

Kế đến, GS Phạm Văn Thanh, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát CĐ/LBHK trình bày tóm lược Chính sách  Hoa Kỳ tại Biển Đông và Á Châu Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam. Hoa Kỳ đang chuyển trục về Á Châu, rất gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương (xem video phần 2).

Bà Nguyễn Thị Ngọc GiaoBà Nguyễn T. Ngọc Giao, chủ tịch Hội Voice of Vietnamese Americans từ Hoa Thịnh Đốn trình bày tóm lược Công ước Quốc Tế UNCLOS về luật biển được công bố năm 1982 rất quan trọng cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Trung Cộng, CSVN và nhiều nước đã ký. Hiện nay Thượng Viện Hoa Kỳ vẫn chưa chuẩn nhận. Bà Giao đề nghị chúng ta nên vận động ThượngViện HK đồng ý với công ước này để làm vũ khí giải quyết việc TC lấn chiếm bất hợp pháp Biển Đông. (Xem tài liệu đính kèm và video phần 2)

BS DoVanHoi

Kế tiếp là đề tài: Giải Pháp Cho Việt Nam và Biển Đông do BS Đỗ Văn Hội , Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành CĐNVQG/LBHK trình bày, đề nghị giải pháp thiết thực, khả thi cho vấn đề VN và BĐ (Xem video 3 và tài liệu đính kèm)

Sau cùng là phần thảo luận, các tham dự viên đã lần lượt đóng góp ý kiến rất sôi nổi. Mặc dù thời gian eo hẹp, ban tổ chức đã khéo léo điều hợp cuối cùng buổi hội thảo đã đạt thành công mỹ mãn, đúc kết thành những điểm chính về tình hình và giải pháp được tóm lược như sau:

1-      Sự bành trướng của TC tại Biển Đông, Á Châu Thái Bình Dương đã quá rõ ràng, thực tế, không còn mơ hồ, gây ảnh hưởng tai hại cho các quốc gia trong vùng, kể cả Hoa Kỳ, Úc Châu.. và toàn thế giới. Việt Nam là nạn nhân trực tiếp, hậu quả sẽ rất trầm trọng.

2-      Hoa Kỳ đang chuyển trục về Á Châu; HK ngày càng gần với ASEAN, sẵn sàng hỗ trợ các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam; HK đứng sau các hoạt động liên kết giữa các nước trong vùng Á Châu Thái Bình Dương, cam kết bảo vệ các quốc gia đồng minh Nhật, Phi Luật Tân, Đại Hàn.

3-      Đoàn kết dân tộc là yếu tố chính tạo sức mạnh cứu nguy và xây dựng đất nước.

4-      Đảng CSVN trói buộc đất nước Việt Nam bằng chính sách toàn trị và chủ nghĩa Cộng Sản lỗi thời, phản lại ước muốn của người dân. Chính quyền CSVN không do dân bầu, mà do đảng CS áp đặt, không đại diện cho dân tộc Việt Nam; đảng CSVN phụ thuộc vào đảng CS Trung Quốc (TC), do đó cần phải được giải thể, và thay thế bằng một chính quyền bởi dân, do dân, và vì dân mới có thể giải quyết tận gốc mọi vấn đề.

5-      Người Việt Nam phải tháo gỡ được sợi dây trói buộc khỏi bàn tay TC bằng cách loại bỏ sự cai trị của CSVN. Nếu còn đảng CSVN, đất nước vẫn không thể thoát khỏi sợi dây trói của TC.

6-      Việc giải thể chế độ CSVN phải do chính người dân trong nước thực hiện với sự hỗ trợ của Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn hải ngoại và của quốc tế.

–          Không thể ôn hòa bằng cách thương lượng, hòa hợp hòa giải vì CS không bao giờ từ bỏ quyền bính, không chấp nhận chia xẻ quyền lực với bất cứ ai ngoài người của đảng.

–          Một số nhân vật hoặc một số bộ phận đang cầm quyền thức tỉnh, muốn cải cách, muốn thay đổi, đưa đến tiến trình dân chủ hóa như Gorbachev ở Liên Xô trước đây. Hiện nay chưa thấy có nhân vật nào tương tự xuất hiện.

–          Hoặc do người dân trong nước với sự thức tỉnh của lực lượng quân đội, công an, cán bộ đảng viên đòi hỏi nhà cầm quyền phải nhượng bộ, chấp nhận tổ chức bầu cử tự do, có thể có đổ máu, ít nhiều  tùy theo mức độ ngoan cố của đảng cầm quyền như Đông Âu hoặc Ukraina mới đây.

–          Phương thức: Vận động – Áp lực – Phản kháng

  1. Vận động sự thức tỉnh của quân đội, công an, cán bộ, đảng viên hãy đứng về phía người dân, không bảo vệ đảng CSVN. Vận động quốc tế áp lực nhân quyền, tự do dân chủ lên Việt Nam.
  2. Vận động tạo đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước;
  3. Áp lực chính trị, ngoại giao bên trong, bên ngoài;
  4. Áp lực kinh tế, thương mại (điều kiện để được hưởng quy chế đặc biệt)
  5. Thúc đẩy người dân can đảm, không còn sợ đảng CSVN, đứng lên phản kháng. Phát triển và tham gia các tổ chức xã hội dân sự, đòi  hỏi các quyền căn bản của con người.

–          Tiến trình giải thể: Giải thể chế độ CSVN và chống TC phải tiến hành song song.

7-      Giải pháp cho Biển Đông:

–          Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong vùng, không thể tách rời khỏi chiến lược an ninh Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương. Việt Nam phải trở thành một nước dân chủ, tự do, mở rộng bang giao, tôn trọng luật  pháp quốc tế; tôn trọng nhân quyền; liên minh với các nước trong vùng và các cường quốc tự do.

–          Các quốc gia Đông Nam Á/Á Châu Thái Bình Dương cần đoàn kết, hợp lực qua các Liên Minh an ninh hỗ tương; Hoa  Kỳ có trách nhiệm quan trọng trong vùng, đứng sau các Liên Minh này.

–          Áp dụng luật pháp quốc tế về biển, các định chế quốc tế như Tòa án quốc tế, Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Bảo An LHQ, UNCLOS (Công Ước Quốc Tế về Luật Biển 1982) rất ích lợi trong vụ tranh chấp ở Biển Đông; VN & TC đã ký; Hoa Kỳ chưa thông qua; chúng ta cần vận động Thượng Viện HK chuẩn nhận Công Ước Quốc Tế này.

–          Cần đưa TC ra tòa án quốc tế như Philippine đã làm.

HẢI NGOẠI CẦN LÀM GÌ?

  1. Cộng Đồng Việt Nam tại Hải Ngoại góp phần không nhỏ cho giải pháp Biển Đông và Việt Nam.
  2. Tạo sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng từ địa phương đến tiểu bang, liên bang, quốc gia, đến các châu lục. Cần bỏ qua những dị biệt để cùng bắt tay xây dựng CĐ.
  3. Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn hải ngoại cần thành hình cơ cấu đại diện chung để xúc tiến những công tác vận động quốc tế và hỗ trợ quốc nội.
  4. Tạo sức mạnh qua lá phiếu bầu cử nơi định cư, tham gia các sinh hoạt chính trị.
  5. Xây dựng giới trẻ, khuyến khích giới trẻ tham gia dòng chính của quốc gia cư trú.
  6. Bảo vệ chính nghĩa quốc gia, chống sự xâm nhập của cộng sản và tay sai nằm vùng chia rẽ  tôn giáo, đoàn thể, cộng đồng…
  7. Vận động quốc tế cho vấn đề Việt Nam và Biển Đông:
    1. Vận động nhân quyền cho Việt Nam; thả tất cả tù chính trị, tôn giáo; tự do ngôn luận, tự do bầu cử… Vận động các vị dân cử các cấp.
    2. Áp lực buộc CSVN phải chấp nhận chế độ dân chủ (như ở Đông Âu, Miến Điện)
    3. Chỉ bán vũ khí sát thương nếu Việt Nam chấp nhận đi đến dân chủ.
    4. Vận động kinh tế: hạn chế gửi tiền về Việt Nam, đặt điều kiện để VN vào TPP.
    5. Vận động chống sự bành trướng của Bắc Kinh kể cả cấm vận kinh tế (như cấm vận Nga ở Ukrania), vì TC xâm chiếm Biển Đông bất hợp pháp bằng vũ lực.
    6. Hợp tác với các dân tộc bị TC áp bức để chống lại Trung Cộng.
  8. Hỗ trợ tài chánh cho các phong trào đấu tranh dân chủ tại QN.
  9. Đẩy mạnh công tác thông tin, báo chí để phổ biến các sinh hoạt cộng đồng đến các đồng hương. Chuyển thông tin vào trong nước, phá vỡ thông tin độc quyền của CSVN.
  10. Chống Trung Cộng: cần có kế hoạch cụ thể, khả thi, áp dụng đồng loạt trong cộng đồng: bumper stickers, tẩy chay hàng hóa, vận động quốc tế, vận động các sắc dân khác cùng tham gia. Cộng đồng người Việt trên thế giới cần thành hình Ủy Ban chống Trung Cộng, có kế hoạch phối hợp chặt chẽ.

(Xem bài thuyết trình chi tiết đính kèm)

Nói tóm lại, giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Biển Đông đòi hỏi sự hợp lực của toàn dân trong và ngoài nước với sự cộng tác của quốc tế trong khu vực và toàn vùng Á Châu Thái Bình Dương. Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn sẽ đóng góp phần không nhỏ trong giải pháp cứu nước khỏi bàn tay cai trị của đảng CSVN và sự xâm lăng của Trung Cộng.

Cuộc hội thảo kết thúc và lúc 12 giờ, sau đó là phần cơm trưa thân mật do Ban Tổ Chức khoản đãi. Mọi người đều mong đợi một giải pháp chung cho vấn đề Biển Đông và Việt Nam trước sự ngang ngược của nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Kinh với sự tiếp tay của đảng CSVN, đang dần dần thôn tính Biển Đông, biển Hoa Đông và Á Châu Thái Bình Dương. Nếu không có giải pháp thỏa đáng, Việt Nam sẽ đánh mất nền độc lập để trở thành một tỉnh của Trung Cộng.

Ban Báo Chí

CĐNVQG.LBHK

Đính kèm:

–          Bài UNCLOS là gì? của Bà Nguyễn Thị Ngọc Giao (dạng PowerPoint)

–          Bài “Giải Pháp cho Biển Đông và Việt Nam” BS Đỗ Văn Hội (dạng DOC và PDF)

–          Video (You Tube):

o   Phần 1: Nhà báo Phạm Trần trình bày tình hình Biển Đông và Việt Nam

o   Phần 2: GS Phạm Văn Thanh về Chính Sách Hoa Kỳ tại Biển Đông và Việt Nam; Bà Nguyễn Thị Ngọc Giao: UNCLOS là gì?

o   Phần 3: BS Đỗ Văn Hội trình bày Giải Pháp Cho Biển Đông và Việt Nam

o   Phần 4: Thảo luận và đóng góp ý kiến của các hội thảo viên.

Hình ảnh Hội Thảo (bấm đồng thời Ctrl và link dưới đây để mở)

https://plus.google.com/photos/105960541409740901755/albums/6028834398084778801?authkey=CJDl3PurjbKmKQ

Xem Phóng sự hội thảo:
http://www.youtube.com/watch?v=PcpANBjjHmw&sns=em

 

VIDEO:

Trình bày các đề tài Hội Thảo:

Phần 1: Tình hình Biển Đông và Việt Nam 
Nhà báo Phạm Trần trình bày đề tài: “Tình hình  Biển Đông và Việt Nam trước sự xâm lấn của TC và thái độ của các quốc gia Á Châu và Thái Bình Dương trước hiểm họa bá quyền  Bắc Kinh”

Phần 2: Chính sách Hoa Kỳ – UNCLOS là gì?

GS Phạm Văn Thanh và Bà Nguyễn Thị Ngọc Giao:
Phần 3: Giải pháp cho Việt Nam và Biển Đông
BS Đỗ Văn Hội, CT CĐNVQG/LBHK
Phần 4: Thảo Luận giải pháp cho Việt Nam và Biển Đông
——————————————
TÀI LIỆU:

Website: cdlbhk.org, bấm vào Hội Thảo Việt Nam và Biển Đông trong phần tin tức để biết thêm chi tiết.

 

Đề tài 4: GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM VÀ BIỂN ĐÔNG

Tuesday, July 8th, 2014

HỘI THẢO TÌNH HÌNH VIỆT NAM & BIỂN ĐÔNG

Ngày 22/6/2014 tại New York, Hoa Kỳ

Do CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ & CĐNVQG New York tổ chức

__________ooo__________

Đề tài 4:

GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM VÀ BIỂN ĐÔNG  

(Trình bày và đúc kết trong cuộc Hội Thảo)

(Quý vị có toàn quyền xử dụng, chỉ xin nêu xuất xứ)

 

MỐI NGUY HẠI CỦA TC TẠI BIỂN ĐÔNG VÀ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Sự bành trướng của TC tại Biển Đông, Á Châu Thái Bình Dương đã quá rõ ràng, thực tế, không còn mơ hồ hoặc tưởng tượng. Ảnh hưởng của sự bành trướng này rất tai hại cho các quốc gia trong vùng, kể cả Hoa Kỳ, Úc Châu và toàn thế giới. Nếu không có giải pháp, con đường hải lưu huyết mạch và toàn vùng Biển Đông sẽ bị TC khống chế. Bàn cờ Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương sẽ thay đổi dưới ảnh hưởng của TC.

Hiện nay đang thành hình trục NGA – TRUNG CỘNG; thế giới hiện đang tiến về thế lưỡng cực đối đầu, đe dọa cho nền an ninh và tự do của thế giới. Một quốc gia muốn bảo đảm an ninh và phát triển không thể đứng giữa.

Riêng Việt Nam, hậu quả sẽ rất trầm trọng. Có thể sẽ mất nước về tay Trung Cộng trong một ngày rất gần nếu không có giải pháp thích đáng.

CHÍNH SÁCH HOA KỲ TẠI BIỂN ĐÔNG (tóm lược)

Hoa Kỳ đang chuyển trục về Á Châu với 60% lực lượng hải quân sẽ đóng tại đây. Trước kia Hoa Kỳ luôn luôn tuyên bố đứng ngoài các tranh chấp tại Biển Đông, nhưng gần đây đã thay đổi, ngày càng gần lại với ASEAN và Việt Nam. Hoa Kỳ sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam với điều kiện về nhân quyền.

Hoa Kỳ đứng sau các hoạt động liên kết giữa các nước Á Châu Thái Bình Dương, cam kết bảo vệ các quốc gia đồng minh (Nhật, Phi Luật Tân, Đại Hàn…). Vì ngân sách hạn chế, lấy kinh nghiệm trong quá khứ, Hoa Kỳ không muốn trực tiếp sa lầy vào các cuộc chiến tranh, mà chỉ giúp các quốc gia tự bảo vệ (Nam Hàn, Nhật, Phi, Tân Gia Ba…).

NHỮNG NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CHO GIẢI PHÁP VIỆT NAM

1- Đoàn Kết Dân Tộc: Chỉ có đoàn kết Dân Tộc mới có thể cứu nguy và xây dựng đất nước. Đảng CSVN không thể tạo được sự đoàn kết toàn dân, họ chỉ đoàn kết cho đảng CS mà thôi.

2- Người Việt Nam phải tháo gỡ được sợi dây trói khỏi bàn tay TC. Nếu còn đảng CSVN, đất nước vẫn không thể thoát khỏi sợi dây trói này của TC, lý do:

a. Đảng CSVN lệ thuộc vào TC do quá khứ lịch sử (nợ viện trợ, những lời hứa hẹn, cam kết, những hiệp ước mật giữa hai đảng Cộng Sản). Như vậy, đảng CSVN đã bị trói buộc vào TC.

b. Vì đảng CSVN muốn tồn tại nên phải dựa vào TC, một nước cùng chủ nghĩa (như Bắc Hàn) – Nhưng nước đàn anh TC lại chiếm hữu tài sản đất đai, biển, đảo, của đàn em CSVN, thật sự là tài sản của dân tộc Việt Nam.

c. TC có ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam (sát biên giới, nợ cũ, các mật ước). TC muốn Việt Nam  phải là lá chắn, tức chư hầu của TC như Bắc Hàn (tương tự Nga muốn Ukraina làm chư hầu)

d. Đảng CSVN cai trị Việt Nam bằng chính sách toàn trị – chính quyền CSVN không do dân bầu, mà do “đảng cử – dân ‘bị bắt buộc phải’ bầu”, không đại diện cho dất nước và dân tộc Việt Nam, nên người Việt Nam nếu muốn thoát khỏi ách TC (thoát Trung), thì phải thoát khỏi ách cai trị của CSVN (thoát Cộng).

e. Việc giải thể chế độ CSVN phải do chính người dân trong nước thực hiện với sự hỗ trợ của Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn hải ngoại và của quốc tế.

3- Phương pháp giải thể: Có một số ý kiến

  1. Ôn hòa: một số người chủ trương ôn hòa, hoàn toàn không đổ máu bằng cách thương lượng, hợp tác, hòa giải… Giải pháp này không thể thành công, vì CS không bao giờ chịu từ bỏ quyền bính, không muốn chia xẻ quyền lực với bất cứ ai ngoài người của đảng. “Cộng sản không bao giờ thay đổi mà phải bị giải thể”, nhiều cựu đảng viên CS nổi tiếng đã tuyên bố như vậy.
  2. Một số nhân vật hoặc một số bộ phận đang cầm quyền thức tỉnh, muốn cải cách, muốn thay đổi, do áp lực từ bên trong hoặc bên ngoài đưa đến tiến trình dân chủ hóa như Gorbachev ở Liên Xô trước đây. Hiện nay tại Việt Nam chưa thấy có ai, hoặc có mà chưa lộ diện.
  3. Hoặc do người dân trong nước cùng với sự thức tỉnh của lực lượng quân đội, công an, cán bộ đảng viên đòi hỏi nhà cầm quyền phải nhượng bộ, tổ chức bầu cử tự do. Trong tiến trình này, đôi khi có đổ máu, ít nhiều  tùy theo mức độ ngoan cố của đảng cầm quyền như đã xảy ra tại các nước Đông Âu thập niên 80-90, hoặc Ukraina mới đây.

4-      Phương thức giải thể: Vận động – Áp lực – Phản kháng

  1. Áp lực chính trị, ngoại giao, xã hội, môi trường từ bên trong, bên ngoài.
  2. Áp lực kinh tế, trao đổi thương mại (điều kiện để được hưởng các quy chế)
  3. Thúc đẩy người dân can đảm không còn sợ đảng CSVN; phát triển và tham gia các tổ chức xã hội dân sự.
  4. Vận động sự thức tỉnh của quân đội, công an, cán bộ, đảng viên hãy đứng về phía người dân, không bảo vệ đảng CSVN (quan trọng).
  5. Vận động quốc tế áp lực về nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam.
  6. Vận động đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước:

i.      Tại hải ngoại: tạo sự đoàn kết cộng đồng từ dưới lên trên (từ thành phố, đến tiểu bang, đến liên bang, đến quốc gia, đến toàn hải ngoại)

ii.      Tại quốc nội: Liên kết các tổ chức xã hội dân sự đòi hỏi những quyền lợi thiết thực từ nhỏ đến lớn (theo nấc thang) như công bằng xã hội, cơm ăn áo mặc, chống bất công…

iii.      Lấy mục tiêu: “Lòng yêu nước chống ngoại xâm – nhân quyền cho mọi người – công bằng xã hội – công lý – cơm no áo mặc..” làm mẫu số chung trong đấu tranh.

5-      Tiến trình giải thể: Giải thể chế độ CSVN và chống TC, cái nào trước, cái nào sau? 

Phải làm song song. Một mặt chống sự bành trướng của TC, mặt khác thúc đẩy dân chủ hóa Việt Nam. Nếu TC chiếm VN lúc này, về sau rất khó lấy lại (ít ra là trong tương lai gần). Cần cấp tốc đưa TC ra tòa án quốc tế, ra LHQ, Hội Đồng Bảo An (do chính quyền hiện tại thực hiện).

GIẢI PHÁP CHO BIỂN ĐÔNG

1-      TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆT NAM

–          Việt Nam không thể tách rời khỏi mắt xích chiến lược ở Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương. Nếu Việt Nam mất vào tay TC, không có thế lực nào có thể ngăn cản được sự bành trướng của TC tại vùng này. Vì vậy, các quốc gia trong khu vực cần giúp đỡ, liên kết với Việt Nam (dĩ nhiên với một Việt Nam dân chủ, tự do).

–          Để góp phần trong chiến lược an ninh Á Châu Thái Bình Dương, Việt Nam phải trở thành một nước dân chủ, tự do, mở rộng bang giao quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng luật  pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng nhân quyền, liên minh với các nước trong vùng và các thế lực tự do dân chủ có ảnh hưởng lớn, như thế mới có thể ngăn chặn được sự bành trướng của TC và lấy lại  những gì đã mất.

2-      KẾT HỢP CÁC QUỐC GIA TRONG VÙNG ĐÔNG NAM Á & TBD

Sự đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam là then chốt để giải quyết vấn đề Biển Đông.

Thiết lập các LIÊN MINH AN NINH HỖ TƯƠNG trong khu vực để bảo vệ lẫn nhau: Hiện đã có Liên Minh Mỹ-Nhật, Mỹ-Phi, Nhật-Úc… Liên minh Úc-Nhật-Ấn Độ đang thành hình. Việt Nam chưa có liên minh với bất cứ nước nào (ngoại trừ phụ thuộc vào TC), vì VN vẫn còn là một nước độc tài, cộng sản, hiện đang bị cô lập, TC lấn lướt.

3-      LUẬT PHÁP QUỐC TẾ 

Luật pháp quốc tế là vũ khí hòa bình để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Áp dụng luật pháp quốc tế về biển, các định chế quốc tế: Tòa án quốc tế, Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Bảo An LHQ, UNCLOS (Công Ước Quốc Tế về Luật Biển 1982, có hiệu lực kể từ 1994) rất ích lợi trong vụ tranh chấp ở Biển Đông; VN & TC đã ký; Hoa Kỳ chưa thông qua. Chúng ta cần vận động Thượng Viện HK chuẩn nhận Công Ước này.

HẢI NGOẠI CẦN LÀM GÌ?

Người Việt tại hải ngoại sẽ giúp ích rất nhiều cho giải pháp Biển Đông và Việt Nam.

  1. Tạo sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng từ địa phương đến cấp cao hơn (thành phố, tiểu bang, liên bang, quốc gia và thế giới) để hỗ trợ các giải pháp. Cộng đồng bao gồm các tôn giáo, tổ chức, hội đoàn, đoàn thể, tổ chức chính trị… tất cả cùng bắt tay nhau xây dựng cộng đồng vững mạnh, có chính danh, có uy tín với đồng hương và tư thế với quốc tế.
  2. Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn tại Hải Ngoại cần thành hình cơ cấu đại diện chung, có tiếng nói mạnh, chính danh, hợp pháp để xúc tiến công tác vận động quốc tế và hỗ trợ quốc nội.
  3. Tạo sức mạnh qua lá phiếu bầu cử nơi định cư, tham gia vào các sinh hoạt chính trị của địa phương cũng như trung ương của quốc gia cư ngụ.
  4. Xây dựng giới trẻ tiếp nối những công tác đấu tranh của bậc cha anh đi trước. Khuyến khích giới trẻ đi vào dòng chính của quốc gia cư trú.
  5. Cần bảo vệ chính nghĩa quốc gia chống lại sự xâm nhập của cộng sản và tay sai nằm vùng trong cộng đồng, trên mạng ảo toàn cầu tạo chia rẽ giữa các tôn giáo, đoàn thể, đánh phá các vị lãnh đạo cộng đồng…
  6. Vận động quốc tế cho Việt Nam và Biển Đông:
    1. Vận động nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam nơi các quốc gia mình cư ngụ qua các cơ quan dân cử hành pháp, lập pháp…
    2. Áp lực buộc CSVN phải chấp nhận chế độ dân chủ (như Đông Âu và Miến Điện)
    3. Chỉ bán vũ khí sát thương nếu Việt Nam chấp nhận đi đến dân chủ.
    4. Vận động kinh tế: hạn chế gửi tiền về Việt Nam, đặt điều kiện để VN vào TPP (Trans-Pacific Partnership = Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương)
    5. Vận động quốc tế chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh kể cả cấm vận kinh tế như tại Ukraina, vì TC xâm chiếm Biển Đông bất hợp pháp bằng võ lực.
    6. Hợp tác với các dân tộc bị TC áp bức để chống lại Trung Cộng.
  7. Vận động tài chánh cho các sinh hoạt của cộng đồng.
  8. Hỗ trợ tài chánh các phong trào đấu tranh dân chủ tại Quốc Nội.
  9. Đẩy mạnh công tác thông tin, báo chí để phổ biến các sinh hoạt cộng đồng đến các đồng hương.
  10. Chuyển thông tin vào trong nước, phá vỡ thông tin độc quyền của CSVN.
  11. Chống Trung Cộng: cần có kế hoạch cụ thể, khả thi, áp dụng đồng loạt trong các cộng đồng; vận động các sắc dân khác cùng tham gia: làm bumper stickers, tẩy chay hàng hóa, vận động quốc tế…. Cộng đồng khắp nơi cần thành hình Ủy Ban chống Trung Cộng, có kế hoạch, có phối hợp chặt chẽ.

Nói tóm lại, giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Biển Đông đòi hỏi sự hợp lực của toàn dân trong và ngoài nước với sự cộng tác của quốc tế trong khu vực và toàn vùng Á Châu Thái Bình Dương. Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn sẽ góp phần không nhỏ trong giải pháp cứu nước khỏi bàn tay cai trị của đảng CSVN và sự xâm lăng của Trung Cộng.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York tổ chức.

Cdnvqg.lbhk@gmail.com

Website: CDLBHK.ORG

(*) Xin chú ý: đây chỉ là phần tổng quát giải pháp cho Việt Nam và Biển Đông. Giải pháp này cần được khai triển thành kế hoạch chi tiết trong những buổi hội thảo riêng biệt. Riêng về các mặt lý thuyết như tư tưởng, chủ trương, đường lối, không phải là mục tiêu của bài trình bày này. Một chủ trương căn bản và quan trọng của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia là không chấp nhận chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản bất cứ dưới hình thức nào.

—————————————————————

 

Danh sách các tham dự viên đóng góp ý kiến (Xin xem video 4):

 

–          Ô. Lương Phúc Thọ, PCT CĐNVQG New York

–          Ô. Châu Ngọc An CT CĐVN Trung Tâm Florida

–          Ô. Lưu Văn Tươi: CT CĐVN tiểu bang Florida

–          Ông Trần Văn Giỏi, CT CĐNVQG Connecticut

–          Ông Lương Thông, CT CĐVN New Mexico

–          Ông Nguyễn Đình Cương, CĐNVQG Tucson, AZ

–          LS Trần Sơn Hà, PCT CĐNVQG Nam Cali

–          Nhà báo Phạm Trần, Hoa Thịnh Đốn

–          Bà Lê Thị Nga, Chủ Tịch Nhà Việt Nam, Tampa, FL

–          Bà Tuyết Nga, Orlando, Florida

–          LS Kim Thành, Nam California

Vì thì giờ giới hạn, nên nhiều vị không thể phát biểu trong cuộc Hội thảo, xin quý vị vui lòng gửi email về chúng tôi, chúng tôi rất cám ơn.

Cdnvqg.lbhk@gmail.com

 

Một vài Website về chính sách Hoa Kỳ tại Biển Đông và Việt Nam.

State Dept. on South China Sea

Maritime Disputes in East Asia

State’s Russel on ASEAN Senior Officials Meeting

Why the United States Needs to Join the Law of the Sea Convention Now

Background Briefing En Route Ho Chi Minh City, Vietnam

Kerry, Japanese Foreign Minister Kishida After Meeting

07 February 2014

U.S. DEPARTMENT OF STATE, Office of the Spokesperson – February 7, 2014 REMARKS

 

Hình ảnh, video Diễn Hành Văn Hoá Quốc Tế 2014 – Biểu Tình, Hôi Thảo tại New York

Thursday, July 3rd, 2014

Xem hình ảnh diễn hành Văn Hóa quốc tế ngày 21/6/2014 tại NY (Đặng Nguyễn)

Xem Video Bản Tin về Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 29 tại New York (Nguyễn Đình Toàn)

Xem Video chi tiết về cuộc Diễn Hành Văn Hóa QT lần 29 (Nguyễn Đình Toàn, OVM4TV) – 1:25′

Bản Tin Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế 2014 tại New York – Biểu Tình, Hội Thảo

Video biểu tình chống TC trước Liên Hiệp Quốc ngày 20/6/2014:

Video Biểu tình trước Tổng Lãnh Sự Trung Cộng tại New York ngày 21/6/2014

Hình ảnh ngày Hội Thảo Tình Hình Đất Nước và Đại Hôi bán nhiệm kỳ của CĐNVQG/LBHK

Video Hội Thảo Tình Hình Đất Nước (SBTN Hoa Thịnh Đốn)

Video: nhà báo Phạm Trần trình bày đề tài:  

“Tình hình  Biển Đông và Việt Nam trước sự xâm lấn của TC và thái độ của các quốc gia Á Châu và Thái Bình Dương trước hiểm họa bá quyền  Bắc Kinh”
Video GS Phạm Văn Thanh trình bày: Chính Sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam và Biển Đông, và Bà Nguyễn Thị Ngọc Giao trình bày đề tài: UNCLOS là gì? Tại sao UNCLOS quan trọng trong giải pháp cho Biển Động (sẽ post sau)

Hội Thảo Tình Hình Đất Nước và Biển Đông-1

Thursday, July 3rd, 2014
Xin chuyển đến quý vị Video cuộc hội thảo Tình Hình Đất Nước và Biển Đông do Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York và Liên Bang Hoa Kỳ tổ chức sáng ngày 22/6/2014 tại khách sạn Holiday Inn New York nhân dịp Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 29.
 
Video này trình bày đề tài của nhà báo Phạm Trần: 
 
“Tình hình  Biển Đông và Việt Nam trước sự xâm lấn của TC và thái độ của các quốc gia Á Châu và Thái Bình Dương trước hiểm họa bá quyền  Bắc Kinh”
 
 
Những phần kế tiếp sẽ được phổ biến sau:
 
– BS Võ Đình Hữu chào mừng và nói lý do buổi Hội Thảo
– Chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam và Biển Đông: GS Phạm Văn Thanh.
– UNCLOS  là gì? Tại sao cần có UNCLOS trong giải pháp Biển Đông : Bà Nguyễn Ngọc Giao
– Giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Biển Đông: BS Đỗ Văn Hội và những ý kiến của các hội thảo viên.
 
Xin đón xem các video You Tube khác.

Tiểu Sử Chiến Sĩ Hoàng Thu

Monday, June 30th, 2014

Hoang Thu 1Yahung_hayrut khoi vn
Chiến Sĩ Hoàng Thu

Pháp danh Minh Quốc

Tự thiêu ngày 20 tháng 6, 2014 tại Bradenton, Florida

Mất ngày 23 tháng 6, 2014 tại Tampa Hospital

 

 

 

Hôm nay mọi người kính cẩn nghiêng mình trước linh cữu người quá cố. Người đó là ai?

Ông tên là Hoàng Thu, sinh ngày 16-11-1942 ở Huế, Việt Nam.

Thưở thiếu thời, ông sống tại Phước Tích, một làng thuộc ngoại thành Huế, nay là “di tích lịch sử quốc gia”. Nhà nghèo không thể học cao, nửa chừng nhập ngũ ngành Pháo Bình Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Sư Đoàn 3, đóng tại Đà Nẵng.

Sau 1975, miền Nam rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Cùng với hệ  lụy của toàn dân, gia đình ông về vùng kinh tế mới Đồng Xoài, cuộc sống ngày càng vất vả. Năm năm sau, ông vào Sàigon mong được khá hơn. Nhưng Trời vẫn không chiều lòng người, ông không được cấp hộ khẩu vì là “lính ngụy”, ông lại phải khăn gói ra đi lập nghiệp ở kinh tế mới Củ Chi, cuộc đời ông luôn luôn cơ cực.

1998 – Người con gái đầu lòng được chồng bảo lãnh sang Mỹ, có cơ hội làm ăn khá hơn, thường xuyên gửi quà giúp đỡ gia đình, đời ông bớt khổ.

2008 – Từ Hoa Kỳ, cô con gái bảo lãnh, gia đình ông ổn định, cuộc sống đỡ vất vả. Mẹ tiếp sức con gái, ngày ngày ông chăm sóc khu vườn nhỏ sau nhà, thỉnh thoảng lái xe thăm gặp người quen, đời sống thoải mái, ông thường theo dõi tin tức qua các đài truyền hình tiếng Việt và trên internet, ngày đêm thao thức, trăn trở vì quê hương, trong thiếu tự do, ngoài giặc uy hiếp.

2 tháng 5, 2014 – Giặc phương Bắc cắm giàn khoan 981 trong vùng biển Việt Nam, ngang ngược thao túng, lòng ông đau xót, nỗi căm giận ngày càng dâng cao, tức một nỗi “tay không – thế cô”, nên đành thúc thủ. Sáng sớm 23/5/2014, một ngọn thân đuốc của bà Lê Thị Tuyết Mai thắp sáng trước cổng dinh Độc Lập Sài Gòn (nay được gọi là dinh Thống Nhất), càng làm ông xót xa, đau lòng cho quê hương: nển độc lập bị xâm phạm, ách nô lệ đang gần kề, nhân quyền bị chà đạp.

Lòng căm phẫn đến cực độ, ông chuẩn bị cho cuộc hành trình, một cuộc hành trình chiến đấu không súng đạn, không tiếng hô, mà bằng chính thân xác của mình, như người thanh niên Mohamed Bouazizi xứ Tunisi nguyện làm ngọn đuốc thiêu rụi chế độ độc tài, tạo làn gió dân chủ thổi ngang Bắc Phi và Trung Đông.

20-6-2014 – Vào buổi sáng, trong lúc con gái và chồng về Việt Nam, bà vợ đang làm việc, bỗng Bà được điện thoại của ông:

–         Bà ơi, tôi sẽ đi xa, tôi không muốn ở đây – Giọng ông nhẹ nhàng ở đầu giây.

–         Ông ơi, ông nói gì vậy? Người vợ  hốt hoảng.

–         Tôi muốn đi xa, tôi chia tay bà, bà nhớ giữ gìn sức khỏe, bà nhớ lo cho con, chào bà, tôi đi đây…

Tiếng ông chợt tắt. Bà gọi lại nhiều lần, nhưng không nghe gì nữa. Trong lòng bất an, Bà gọi cho người quen trong xóm nhờ ghé đến nhà xem sao. Không ai trả lời.

Lúc 11 giờ 15 sáng cùng ngày, tin động trời, một người đàn ông tưới xăng tự thiêu trước khu gia cư Silver Lake, thành phố Bradenton, tiểu bang Florida. Người qua đường cố dập tắt lửa nhưng không kịp, nạn nhân luôn luôn nói “Tôi muốn chết, hãy để tôi chết”. Trực thăng cấp cứu đưa ngay vào bệnh viện Tampa cứu chữa với độ phỏng quá nặng.

Cảnh sát tìm thấy bình xăng, một số vật dụng quần áo, 2 mảnh giấy viết bằng tiếng Việt, một mảnh ghi “Hai Yang 981 phải rời khỏi hải phận V-N” và “Anh hùng tử chí hùng nào tử“, dưới ký tên “thu hùng”, nét chữ sắc sảo. Hai Yang âm tiếng Việt là “Hải Dương”, tên giàn khoan mả Trung Cộng đã cài đặt trong vùng hải phận Việt Nam ngày 2 tháng 5, 2014.

Người con gái ​tên Oanh ​từ Việt Nam được bạn gọi báo hung tin. Cô gọi má, gọi tiệm, gọi cảnh sát, cảnh sát đến gặp bà đưa tin xấu về chồng bà. ​Oanh ​và chồng khẩn cấp bay về Hoa Kỳ.

Tin sét đánh đến với bà. Bà bàng hoàng. Bà không thể tin. Nhưng lời từ giã của chồng vẫn còn văng vẳng: Chào bà, tôi đi đây.. Bà đã hiểu vì sao. Giờ đây, chồng bà đã đi xa, xa lắm.

23-6-2014 – Sáng sớm, bà và con gái đứng bên cạnh giường, ông thoi thóp rồi từ từ ra đi, để lại người vợ góa, con gái và rể, đứa cháu ngoại thân yêu mà ông thường gần gũi trước khi ra đi. Người con trai kế hiện vẫn còn sống ở Việt Nam với vợ, hai con.

Cô Hoàng Thục Oanh tâm sự: “Cháu rất buồn, cháu không nghĩ là ba đã mất. Ba không buồn gì cả. Ba không thiếu thốn gì cả. Cháu đã lấy vé cho ba má về Việt Nam thăm quê. Vé còn đây. Thỉnh thoảng ba bực tức khi thấy má làm ăn cực khổ”.

Vậy là Ông đã ra đi, để lại di ngôn:

​”​Hải Dương 981 phải rời khỏi hải phận Việt Nam​“​ và “Anh Hùng Tử, Chí Hùng nào tử”.

Đó là mệnh lệnh của ông, mệnh lệnh thiêng liêng mà ông đã dùng thân xác để gióng lên. Mệnh lệnh đó không chỉ đòi rút giàn khoan, mà còn đòi giặc phải trả tất cả lãnh thổ​, lãnh hải, và những gì mà họ đã cướp của đất nước ông. Đó là tiếng kêu đanh thép của người dân Việt: “Tàu khựa, hãy cút khỏi Việt Nam, hãy cút khỏi biển Đông” mà người dân trong nước, nhất là giới trẻ đang kêu gào. Nhưng nguyên nhân nào đã tạo nên tình trạng này. Nguyên nhân nào đã để Trung Cộng thao túng đất nước Việt Nam? Chúng tôi biết ý nguyện của ông.

Cầu chúc ông ra đi bình an. Nguyện cầu hương linh ông sớm tiêu diêu miền Cực Lạc.​

Chúng tôi ở lại, nguyện thực hiện lời trăn trối của ông.

Tường Thuật Tang Lễ của Chiến sĩ Hoàng Thu tự thiêu vì đất nước

Monday, June 30th, 2014

Ngày 28/6/2014, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tampa Bay, được sự hỗ trợ của CĐVN tiểu bang Florida và CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ đã tổ chức Tang Lễ trọng thể cho chiến hữu Hoàng Thu, một người đã quả cảm tự thiêu ngày 20/6/2014 trước khu gia cư Silver Lake để phản đối giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Cộng, qua đời sáng thứ Hai 23/6/2014 trong bệnh viện vì phỏng quá nặng.

Trên vách chính giữa hội trường được trang trí tấm biểu ngữ: Cộng Đồng Việt Nam Tampa Bay thành kính phân ưu, Chiến sĨ Hoàng Thu, dưới có hàng chữ: Anh Hùng Tử, Chí Hùng Nào Tử, hai bên có hình Ông và bản phóng lớn tờ di ngôn viết tay.

 

Hình Tang Lễ Chiến Sĩ Hoàng Thu

Hình ảnhTang Lễ Chiến Sĩ Hoàng Thu

LinhCuu

Bang poster

Lúc 9 giờ sáng, nghi lễ tôn giáo được Chùa Phật Pháp, Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang, và Hội Thánh Cao Đài tiểu bang Florida lần lượt cử hành theo nghi thức tôn giáo mình, được sự tham dự rất đông tín đồ, sự kiện chưa từng thấy bất cứ trong đám tang nào.

12 giờ trưa, Lễ chào quốc kỳ Việt Mỹ được cử hành tại sân tiền đình Nhà Quàn Manasota Memorial ParK, nơi quàn linh thể của chiến sĩ Hoàng Thu. Nhiệt độ bên ngoài lên đến 95 độ F, nhưng tất cả mọi người kể cả tang quyến đều hiện diện. Nhiều cựu quân nhân trong sắc phục binh chủng; các bà các cô mặc áo dài truyền thống, các ông với quần áo veston tề chỉnh. Có cả thanh niên, thiếu nữ,và  trẻ em.

    Cho doi chao co          to bulletin

 

Nghi le ton giao  giao xu cau nguyen

Nghi lễ Phật Giáo                                                             Nghi lễ Công Giáo

Tham vieng3  tiep tan

Nghi lễ Cao Đài                                                  Tiếp tân

Lúc 9 giờ sáng, nghi lễ tôn giáo được Chùa Phật Pháp, Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang, và Hội Thánh Cao Đài tiểu bang Florida lần lượt cử hành theo nghi thức tôn giáo mình, được sự tham dự rất đông tín đồ, sự kiện chưa từng thấy bất cứ trong đám tang nào.

12 giờ trưa, Lễ chào quốc kỳ Việt Mỹ được cử hành tại sân tiền đình Nhà Quàn Manasota Memorial ParK, nơi quàn linh thể của chiến sĩ Hoàng Thu. Nhiệt độ bên ngoài lên đến 95 độ F, nhưng tất cả mọi người kể cả tang quyến đều hiện diện. Nhiều cựu quân nhân trong sắc phục binh chủng; các bà các cô mặc áo dài truyền thống, các ông với quần áo veston tề chỉnh. Có cả thanh niên, thiếu nữ,và  trẻ em.

 tiendinh coru  chuanbichaoco

Tiền đình: cờ Hoa Kỳ treo rũ                                         Chuẩn bị chào cờ

Chao Co ngoai troi_Tang Le Chien Huu Hoang Thu  chaoco3

Chào cờ

chaoco 1

Trước khi khai mạc, trên cột cờ chính giữa sân, cờ Hoa Kỳ được kéo xuống vị trí cờ rũ để tỏ lòng thương tiếc và kính mến người anh hùng đã tự thiêu. Phải nói đây cũng là một sự kiện khác thường chưa từng thấy trong bất cứ đám tang nào của người Việt tại đất nước này.

 Quan khach 1 quankhach1

Quan khách

Tang quyen Tang quyen va co

Tang quyến

Sau nghi lễ chào cờ và phút mặc niệm tiền nhân đã hy sinh gìn giữ đất nước và bảo vệ quê hương, các linh hồn tử sĩ chết vì chính nghĩa tự do dân tộc và đồng bào vượt biển tìm tự do, mọi người đi vào hội trường tham dự lễ phủ cờ và vinh danh một chiến sĩ đã có hành động can đảm vì Tổ Quốc. Khoảng 200 quan khách hiện diện được xem là một đám tang lớn nhất của người Việt ở một thành phố nhỏ, xa xôi của tiểu bang Florida. Họ đến từ nhiều vùng khác nhau như Miami, Fort Lauderdale, West Palm Beach, Orlando, Tampa, St Petersburg, Jacksonville, Gainesville v.v… và nhiều nơi xa hơn nữa như Utah và các tiểu bang Hoa Kỳ. Hội trường chính đã chật người, một số quý vị khác phải đứng ở hội trường bên cạnh theo dõi màn ảnh truyền hình trực tiếp do ban tổ chức thiết lập. Một số quan khách Mỹ, truyền thông báo chí Việt ngữ làm phóng sự trực tiếp đều có mặt.

Sau phần giới thiệu quan khách, Ông Trần Công Thức chào mừng và nói lên ý nghĩa của tang lễ hôm nay. Đây không phải một tang lễ bình thường mà là cơ hội để mọi người vinh danh một chiến sĩ đã hy sinh thân mình cho mục đích cao cả là giữ gìn đất nước, kiến tạo hạnh phúc cho đồng bào. Bài tiểu sử ngắn đã được tuyên đọc trong sự lắng nghe chăm chú, ngậm ngùi, và đầy cảm phục của mọi người.

Kế đến là lễ phủ cờ do các anh em cựu quân nhân Nhảy Dù Florida phụ trách rất trang trọng, trong lúc mọi người nghiêm chỉnh vinh danh một chiến sĩ đã nằm xuống.

 Le phu co phuco1 phuco2

Lễ phủ cờ

 

Đại diện các tôn giáo, cộng đồng, đoàn thể, hội đoàn lần lượt phát biểu chân thành phân ưu cùng tang quyến và ca ngợi cái chết của người Chiến Sĩ Pháo Binh Hoàng Thu. Rất nhiều điện thư từ Việt Nam và khắp nơi trên thế giới gửi về vinh danh người chiến sĩ Hoàng Thu đã hiến thân mình vì tổ quốc và phân ưu cùng tang quyến đã được tuyên đọc. Trong những điện thư này, người ta thấy có nhiều thư từ trong nước gửi ra như các Thượng Tọa, Linh Mục, Mục Sư, Hội Ái Hữu Cựu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo tại Việt Nam v.v…; những nhà văn nhà báo, nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền. Ngoài ra hầu hết các cộng đồng và các hội đoàn Việt nam tại Hoa Kỳ và thế giới đều gủi thư phân ưu và ngưỡng mộ.

Chu Tich CDVN Tampa Bay Truong Ban to chuc Ô. Trần Công Thức, trưởng ban tổ chức

BS Do Van Hoi
BS Đỗ Văn Hội, CT/HĐCH/CĐNVQG/LBHK, Cố Vấn

LM Pham van Chinh Ong Luu Van tuoi
LM Phạm Văn Chính                                          Ô. Lê Văn Tươi, CT/CĐVN/Florida, Cố Vấn

(Xin xem thêm hình ảnh quan khách phát biểu ở cuối bài)

Sau phần lễ phủ cờ và vinh danh, mọi người lần lượt viếng thăm linh cữu được đậy kín vì thân thể bị cháy quá nặng không thuận tiện để sự chiêm ngắm. Ban tổ chức cũng mời quan khách, bà con ăn trưa nhẹ trong phòng ăn, thức ăn và nước uống đều do các manh thường quân thân tặng.

Dai dien tang quyen cam on

Đại diện tang quyến cám ơn

camta1

Tang quyến cám ơn

traocoThuy  Tham vieng2

Trao cờ cho tang quyến                                 Thăm viếng linh cữu

Lễ hỏa táng sẽ diễn ra vào sáng thứ Hai, 30/6/2014 cũng cùng địa điểm nhà quàn vào lúc 10 giờ sáng là nghi lễ, 12 giờ trưa là lễ hỏa thiêu.

hien truong

Nơi Ông tự thiêu

 binh xang

Thùng xăng

 Yahung_hayrut khoi vn

Di ngôn để lại

Theo lời kể của các nhân chứng, người ta thấy cuộc tự thiêu đã được Ông Hoàng Thu chuẩn bị chu đáo, và do chính Ông thực hiện, nói lên sự quyết tâm cao của Ông, một người ngày đêm thao thức về tình hình đất nước, về sự xâm lăng của giặc phương Bắc, về sự nhu nhược hèn yếu độc tài của chế độ cai trị hiện nay, khiến Ông phải dùng chính thân xác mình để gióng lên thông điệp linh thiêng: hãy đứng lên bảo vệ đất nước, tổ quốc đang lâm nguy; hãy giải quyết tận gốc nguyên nhân tạo ra tình cảnh này.

Anh Minh, một cư dân sống trong khu gia cư thuật lại là sáng sớm hôm đó thấy Ông Thu đứng phía trước cổng, bèn dừng xe hỏi: Bác làm gì ở đây sớm quá vậy, bác có cần cháu giúp gì không? Ông Thu xua tay: tôi không cần gì cả, anh cứ đi đi. Anh Minh ngạc nhiên, nhưng thấy Ông không cần sự giúp đỡ nên tiếp tục lái xe đi làm. Có lẽ đây là người Việt gặp Ông lần chót trước khi Ông tự thiêu và ra đi vĩnh viễn.

Một việc liên quan đến ban tổ chức tang lễ cũng cần được nêu ra ở đây là ngay sau xảy ra tai nạn, gia đình vì lý do đơn chiếc, đã chính thức ủy nhiên cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tampa Bay mà Ông Trần Công thức là chủ tịch đứng ra tổ chức tang lễ, với sự hỗ trợ của CĐVN Florida và Liên Bang Hoa Kỳ như đã nói ở trên với giấy ủy nhiệm. Thời gian chưa đầy 1 tuần, Ban tổ chức gồm những anh chị em tình nguyện như anh Nguyễn Trung Nhan, chị Xuân Dân, anh Minh Khoa, anh Vũ Quang Minh, chị Thủy Nguyễn, anh Nguyễn Thanh Thụy, anh Trần Công Lai và nhiều bạn hữu khác đã cùng bắt tay nhau quyết tâm thực hiện thành công tang lễ. Ban Tổ Chức cũng không quên cám ơn sự giúp đỡ tận tình của nhà quàn Manasota Memorial Park Funeral Home.

Ban tổ chức xin gửi lời chân thành cám ơn tất cả Cộng Đồng, Tổ Chức, Đoàn Thể, Cá nhân trong và ngoài nước đã tham dự, yểm trợ, giúp đỡ, gửi lời chia buồn cùng tang quyến và vinh danh người Chiến Sĩ Hoàng Thu và cũng xin thông báo ngưng việc gây quỹ yểm trợ tài chánh kể từ ngày hôm nay, vì ngân khoản nhận được đã tạm đủ cho Tang Lễ. Ban Tổ Chức sẽ đúc kết và tường trình đến quý vị sau.

Phóng viên BTC thực hiện.

BAN TỔ CHỨC: Trưởng Ban: Trần Công Thức: Tel: 727-403-4080; Email: TTran33@tampabay.rr.com – Ô. Nguyễn Trung Nhan; Ô. Vũ Quang Minh; Son Ho; Trương Xuân Dân; Thuy Le ; Nguyễn Thanh Thụy;- Cố vấn: – Ô. Lưu Văn Tươi: 407-491-4299Tuoiluu4905@gmail.com – BS Đỗ Văn Hội: 407-234-3596. Email: hoivando@gmail.com

 Vietnamese Community of Tampa Bay: 7132 49TH Street North, Pinellas Park, FL 33781 – Ông Trần Công Thức, điện thoại 727-403-4080, email: TTran33@tampabay.rr.com

 

 QUAN KHÁCH PHÁT BIỂU Ý KIẾN TRONG TANG LỄ

    cao dai phat bieu  Cuu dai ta

Đại diện Hội Thánh Cao Đài Florida                   Cựu Đại Tá Lê Văn Hưởng (Tampa)

BS Ma Xai

BS Mã Xái, chủ tịch Đảng Tân Đại Việt

O Le thanh LiemÔ. Lê Thanh Liêm, CT HĐĐB/CĐVN/Florida

dai dien ton giao  Dongthanh

Đại Diện Giáo Đoàn Công Giáo Sarasota            Bà Đồng Thanh, Cựu CT CĐVN Fl, đại diện Tượng Đài CS Việt Mỹ

Hinh luu niem 1 Hinh Luu Niem 2

Chụp hình lưu niệm

Hinh Luu niem HuynhthanhNhong

                 Chụp hình lưu niệm                                Ô. Huỳnh Thành Nhơn (Hội Ái Hữu Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức

Le Ba Tam Lephuoclam2

          Ông Lê Bá Tâm, CT CĐVN Nam Florida                 Ô. Lê Phước Lâm (đảng Việt Tân, Báo Gia Đình)

Minh Khang Mot quan khach

Anh Minh Khang, Nguyễn Trung Nhan, Nguyễn Thanh Thụy (MC)    Ông Nguyễn Văn Thành (CĐVNQD Utah)

O Nguyen Lam Vien

Ô. Nguyễn Lâm Viên (Nha Kỹ Thuật)

O Nguyen Tuan Cuu chu tich Van But QT

   Ô. Nguyễn Tuấn (cựu CT Văn Bút ĐN)

O Nguyen Van thuyet

Ông Nguyễn Văn Thuyết CT/Liên Hội CQN TT/FL

Ong Khanh

 Ô. Huỳnh Công Khanh (CT/Hội Cao Niên/HO Tampa

Vu Quang Minh

Ô. Vũ Quang Minh (PCT Văn BútHN/ ĐN/ HK

XNV thuy

Ô. Nguyễn Thanh Thụy (TTK/HĐCH/LBHK

 Ong Nguyen Trung Chau

Ô. Nguyễn Trung Châu, đại diện Tộng Hội CTNCTVN

Ong Nguyen Kim Son

    Ô. Nguyễn Kim Sơn, CT Hội Đồng Đại Biểu CDVN/Nam Florida 

 Tham vieng2

Viếng linh cữu

  tieptan2

Tiếp tân

cao dai lam le

Cao Đài Florida thăm viếng

Xem tất cả hình ảnh tang lễ: View 

 

CẢ NƯỚC XUỐNG ĐƯỜNG CHỐNG GIẶC TÀU XÂM LƯỢC NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 2014

Sunday, May 11th, 2014

TƯỜNG THUẬT TRỰC TIẾP KHÍ THẾ SÔI SỤC, CẢ NƯỚC XUỐNG ĐƯỜNG CHỐNG GIẶC TÀU XÂM LƯỢC NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 2014


Tại cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Sài Gòn, nhiều biểu ngữ đòi trả tự do cho người yêu nước công khai xuất hiện cùng với những tiếng hô vang dội ‘Tự do cho người yêu nước’ – ‘Tự do’
Cập nhật lúc 10:30 phút:
Hà Nội: Đoàn người đang tiến về bờ hồ Hoàn Kiếm.

 




 

 

 

 

 

 

Ảnh CTV DLB

Cập nhật lúc 10:15 phút:
Hà Nội: Đoàn biểu tình đang tuần hành tiến về khu vực Nhà Hát Lớn, vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu yêu nước.
Sài Gòn: Đoàn biểu tình đang tiếp tục tuần hành qua nhiều ngả đường tại khu vực trung tâm thành phố. Vào lúc cao điểm, số lượng người tham gia biểu tình lên đến hơn 2000 người.
 Lúc 09:30 phút sáng: Tại Sài Gòn, sau khi bị hàng rào an ninh dày đặc ngăn chặn tiếp cận tòa Tổng lãnh sự quán Trung Quốc, đoàn biểu tình đã quay ngược lại tuần hành hướng về khu vực nhà văn hóa Thanh Niên. Nhiều khẩu hiệu và tiếng hô ‘Tự do cho người yêu nước’ vang lên trong cuộc biểu tình.
 Không khí biểu tình sục sôi lòng yêu nước tại Sài Gòn (Video: CTV Danlambao)

 

Blogger Paulo Thành Nguyễn với biểu ngữ Tự do cho người yêu nước (CTV DLB)



Blogger Mẹ Nấm (áo nâu giữa) từ Nha Trang đã đến với Sài Gòn (CTV DLB)


Blogger Trịnh Kim Tiến bị an ninh chặn ở nhà

 

Đà Nẵng: Đặc biệt, trong không khí cả nước sục sôi lòng yêu nước, người dân Đà Nẵng cũng đã bất ngờ xuống đường tham gia một cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược.
 
Người dân Đà Nẵng tuần hành phản đối TQ xâm lược 
trong sự giám sát chặt chẽ của công an (Ảnh: FB Lê Hùng)
Các bạn trẻ tại Đà Nẵng biểu tình chống TQ trong ngày 11.5.2014 (Clip CTV Danlambao)

Tại Hà Nội, không khí biểu tình đang hết sức sôi động.

 

Biểu tình Hà Nội. Ảnh: CTV Danlambao

 Nhà giáo Nguyễn Thượng Long (ThuyngaHanam FB)
Tin cập nhật lúc 09 giờ 00 sáng: Cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Quốc xâm lược đã bùng nổ tại hai đầu cầu Hà Nội và Sài Gòn.
Tại Hà Nội: Ước tính có khoảng 1000 người đã tập trung hô khẩu hiệu trước đại sứ quán Trung Quốc.
Biểu tình tại Hà Nội (Ảnh: FB Lê Anh Hùng)
Sài Gòn: Khoảng 500 người dân đã cùng nhau tuần hành, vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc xâm lược.

 

Đoàn biểu tình tại Sài Gòn tuần hành qua nhiều ngả đường
Cảnh sát cơ động dàn quân tại khu vực ngã tư Nguyễn Đình Chiểu – Hai Bà Trương 
ngăn không cho đoàn biểu tình tiến về tòa tổng lãnh sự quán Trung Quốc

 

Tòa tổng lãnh sự quán Trung Quốc được bảo vệ 
bởi 2 lớp hàng rào an ninh (Ảnh: CTV Danlambao)


Tin cập nhật lúc 08 giờ sáng:

Hà Nội: Nhiều biểu ngữ với nội dung phản đối Trung Quốc xâm lược đã được giơ cao. Không khí tại khu vức trước Đại sứ quán Trung Quốc hiện đang rất nóng bỏng.


Sài Gòn: Chị Trần Ngọc Anh, dân oan Bà Rịa – Vũng Tàu đã bị công an bắt cóc khi đang trên đường đến địa điểm biểu tình.

Những người biểu tình tập trung trước khu vực Nhà văn hóa Thanh Niên (CTV DLB)

 

Tin cập nhật lúc 07 giờ sáng:
Sài Gòn: Theo tin từ CTV Của Chúng Tôi thì hầu hết các ngã tư và giao lộ dẫn đến địa điểm biểu tình là Nhà văn hóa Thanh Niên đều có sẵn công an sắc phục chốt chặn. Nhiều hàng rào thép cũng đã được chuẩn bị sẵn tại góc đường.

 

 

Khu vực trước cổng nhà văn hóa Thanh Niên (Số 4 Phạm Ngọc Thạch) 
và nhiều hàng rào thép đã được dựng sẵn tại góc đường 
Alexandre de Rhodes và Phạm Ngọc Thạch. Photo – Danlambao

 

Tại điểm nóng Nhà văn hóa Thanh Niên, lực lượng an ninh đủ thành phần cũng xuất hiện rải rác. Theo quan sát, phía đối diện là tòa nhà của Đoàn thành niên Cộng Sản Hồ Chí Minh nhiều khả năng sẽ là nơi công an đặt đầu não chỉ huy.

 

Sát khu vực nhà văn hóa Thanh Niên, tại ngã tư Phạm Ngọc Thạch – Nguyễn Thị Minh Khai, xuất hiện khoảng 20 người mặc áo thanh niên xung phong và trật tự đô thị đứng ngồi la liệt
Cách đó không xa, khu vực tòa Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc được dựng sẵn nhiều lớp hàng rào sắt, kẽm gai. Đây là một hình ảnh hết sức phản cảm ngay trước mặt tiền của tòa nhà có lối kiến trúc quái dị giữa Sài Gòn.
Hà Nội:
An ninh quanh khu vực đại sứ quán Trung Quốc cũng đã được thắt chặt. Tuy nhiên, đông đảo những người biểu tình yêu nước đã bắt đầu xuất hiện.
Hàng rào dựng sẵn gần khu vực đại sứ quán TQ

 

5h00 sáng 11.5.2014
Quá nửa khuya, blogger Nguyễn Hoàng Vi gửi lời nhắn ngắn đến anh em: “em đã thoát được! em muốn ngủ sớm nhưng cứ nôn nao không ngủ được”.
Trên FB Trần Ngọc Anh cho biết an ninh và công an giả dạng côn đồ bám sát theo dõi đường đi nước bước của từng thành viên Phong Trào Liên Đới Dân Oan Tranh Đấu. Tối qua, các dân oan đã phân tán đi nhiều nơi Sài Gòn tìm chỗ nghỉ qua đêm chờ sáng mai xuống đường.
Blogger Hồ Nhật Thành đang trên đường “lẫn trốn” đã tâm tình cùng bạn bè: “Tôi biết những người yêu nước không theo định hướng XHCN như tôi sẽ bị ngăn cản đến cuộc biểu tình vào ngày mai. Tôi biết dù có thể thoát được vòng vây an ninh thì vẫn có khả năng bị đàn áp tại điểm biểu tình. Chúng tôi biết có thể sẽ bị bắt, bị đánh, bị sỉ nhục nhưng chúng tôi không lùi bước, bởi một Đất nước không thể có tự do khi không có những con người dám trả giá cho điều đó. Trung Quốc xem thường chúng ta không phải vì chúng ta là nước nhỏ mà vì sự im lặng bao lâu nay của chúng ta khiến họ nghĩ chúng ta ươn hèn!”
Từ Nha Trang, blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, SeaFree Phạm Văn Hải cũng đã lặn và các “anh” đang xôn xao đi tìm. Peter Lâm Bùi và Bạch Hồng Quyền cũng đã tạm thời tự do đâu đó trong đêm Sài Gòn. Từ Hà Nội, blogger Gió Lang Thang cũng đã biến từ mấy ngày trước và đang tiến về Sài Gòn.
Tin cho biết Ls Lê Công Định và Nguyễn Tiến Trung đã bị “mời” và khuyến cáo không được tham gia biểu tình.

Blogger Miu Mạnh Mẽ cũng được các anh “ưu ái” đến chơi trò hèn và Miu rất là Mạnh Mẽ gửi ngay thông điệp trên FB của Miu:
“GỬI MẤY ANH AN NINH CHƠI TRÒ HÈN
Không biết các anh các chú có cha mẹ hay không nhưng các anh có vẻ rất thích kích động và hù dọa đối với gia đình người khác. Trời nhân quả có mắt hết đó các anh, các anh làm gia đình người khác xào xáo, gia đình gây gỗ cãi nhau, làm mẹ của tôi và bạn tôi lo lắng khóc vì con thì sau này gia đình các anh cũng sẽ lãnh hậu quả tương tự thôi. Muốn tôi không đi đâu ngày mai thì làm ơn gọi đt nói chuyện trực tiếp với tôi. Tôi cũng có số đt mà, tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm việc tôi làm, cha mẹ tôi hoàn toàn không liên quan dính líu đến việc làm cá nhân tôi nên đừng có lợi dụng tình thương của họ. Các anh đang vi phạm trắng trợn đến quyền tự do đi lại và quyền riêng tư cá nhân của tôi. Tôi nguyền rủa tên công an nào gọi đt hăm dọa mẹ tôi để mẹ tôi lo lắng và khóc trước mặt tôi hôm nay, tên đó sẽ nhận lại nỗi đau đớn gấp 100 lần mà tôi đang cảm nhận này.”
Một số bạn khác chưa “thoát” được và thông báo an ninh vẫn còn ngồi trước cửa nhà suốt đêm như đã mấy ngày qua. Một số thành viên trong MLBVN bị bao vây.
Blogger Trịnh Kim Tiến hiện đang bị cầm tù lòng yêu nước. 4 giờ sáng nằm trằn trọc biết mình đang khó thoát ra để biểu tình được đã gửi lời nhắn với bạn bè: “mình bị canh từ hôm qua tới nay á!”. Người ta dựng barrier bằng người trước nhà để ngăn chận người thiếu nữ yêu nước đãnói lên những điều này vài giờ trước đó:
“Chúng tôi biểu tình để khẳng định lại quyền công dân của mình, để tìm lại danh dự một Quốc gia đang bị chà đạp, khẳng định với cả thế giới này, người dân Việt Nam không yếu hèn, chúng tôi yêu nước Việt… Chỉ khi chúng ta dám mở miệng lên tiếng bảo vệ đất nước mình thì thế giới mới có thể nghe thấy đứng về phía chúng ta. Khi nhà bạn bị cướp, bạn không lên tiếng thì đừng mong có thằng hàng xóm nào nhảy vào bắt cướp phụ. Chúng tôi không chống lại các anh, chúng tôi cũng không chống lại Nhà nước này nếu nó chịu yêu nước một cách chân chính. Chúng tôi chống Trung Quốc và chúng tôi muốn yêu cầu những người lãnh đạo phải có trách nhiệm với nhân dân, với đất nước.
Nhắn với mấy anh an ninh đang phải làm những nhiệm vụ quái gở dưới nhà tôi và nhà các bạn tôi.
Cậu mình là bộ đội cũ, hôm qua ghé thăm thấy mình được mấy anh an ninh “bảo vệ” cả ngày ở dưới, ổng chửi đổng “an ninh đéo ra biển Đông mà canh giữ, ở đó canh con đàn bà làm gì!”. Mình thì thấy tội nhiều hơn, cả ngày nắng nôi, tối đến không được về nhà ăn cơm với gia đình, chơi với con cái mà phải ngồi đó canh chừng mình. Các anh không thể từ bỏ công việc “lý tưởng” để yêu nước một cách tự do như mình và mình cũng không thể vì các anh mà yêu nước một cách có định hướng…”

Blogger Hoàng Dũng CĐVN cũng bị 4 công an ngăn chận, không cho ra khỏi nhà. Bên cạnh đó là blogger Châu Văn Thi, nhạc sỹ Tuấn Khanh bị mấy tên “mặt lạ như quân Thanh” canh gác kỹ càng.
Nói chung tại Sài Gòn, nơi hang ổ của trùm mafia Lê Thanh Hải, yêu nước thật lòng xem ra “bị khó” hơn ở Hà Nội.
Từ Hải Phòng, blogger Phạm Thanh Nghiên cho biết nhà nước đã phải huy động thêm một dàn an ninh mật vụ, lưu manh côn đồ bao vây tư gia của chị từ hai ngày trước. “Các anh đã không đủ tự tin trong việc dùng luật cộng sản bỏ tù tôi. Cụ thể là dùng án quản chế để biến tư thất của tôi thành lao thất. Vì thế, phải huy động thêm một dàn an ninh mật vụ, lưu manh côn đồ bao vây tư gia của tôi hai ngày trước khi có cuộc biểu tình vào sáng 11.5.” Tuy nhiên, cũng theo Phạm Thanh Nghiên người ta chỉ có thể giam cầm được thân xác, không ai có thể bỏ tù được lòng yêu nước. Và Nghiên đã chứng minh bằng hành động. Trước cổng nhà, hàng chữ này được viết lên như lời ngỏ của một người tù đang bị quản chế được đồng hành yêu nước với mọi người:
Photo – Danlambao
Một bạn trẻ khác, một nữ thành viên trẻ tuổi của Chúng Tôi, khuya hôm qua đã bắt đầu chuẩn bị “đồ nghề ” rất “teen” nhưng đầy đủ những thông điệp:
Photo – Danlambao
Trước đó, vào lúc 19h00 thứ Bảy tại nhà thờ Thái Hà, các thành viên No-U Hà Nội đã cùng với hàng ngàn giáo dân tham dự thánh lễ và cầu nguyện cho sự an nguy của tổ quốc. Trong bài giảng, Lm Nguyễn Ngọc Nam Phong đã nói rằng “bảo vệ Tổ quốc là ơn gọi và là trách nhiệm của mỗi người giáo dân chúng ta” và ngài đã cầu nguyện “cho các vị lãnh đạo sớm nhận ra những điều đúng đắn để dìu dắt đất nước đến sự vinh quang của tự do”, đồng thời kêu gọi mọi người “không quên anh Ba Sàm, anh Điếu Cày và nhiều người khác đã lên tiếng trước sự bành trướng của Bắc Kinh”.
Bài hát “Triệu con tim một tiếng nói” được cất lên. Hàng nghìn ngọn nến được thắp sáng. Và lời hô “Hoàng  Sa – Trường Sa – Việt Nam” và “Đả đảo Trung Quốc xâm lược” vang dội khắp thánh đường.
Photo – Danlambao
Photo – Danlambao

 

Vào lúc 22h15 tối thứ bảy Sài Gòn, anh Nguyễn Ngọc Già, một ngòi bút thường xuyên của các trang  Lề Dân nhắn tin barrier đã được dựng lên ở số 4 Duy Tân, đối diện là Thành đoàn HCM, ngã tư Hai Bà Trưng – Điện Biên Phủ, lãnh sự quán mới lẫn cũ của Trung cộng, Diamond Plaza.
Hai giờ sáng, một phóng viên trong nguồn tiết lộ cho biết đã có chỉ thị chính thức CẤM báo chí đưa tin về biểu tình ngoài luồng ngày 11/5/2014.
9h sáng chủ nhật, 11/5/2014 tại Hà Nội, tại Sài Gòn, ở số 46 Hoàng Diệu, ở Số 4 Phạm Ngọc Thạch lòng yêu nước và tiếng nói bảo vệ chủ quyền sẽ trỗi lên, khát vọng đòi tự do cho những người yêu nước sẽ được cất cao, và trách nhiệm của nhà nước sẽ được đòi hỏi.
Cho dù những barrier bằng sắt và những barrier bằng thịt đã được dựng lên trong bóng tối đêm khuya.

N

Bí ẩn chuyến bay Malaysia Airlines MH370

Tuesday, March 11th, 2014

Thật là đau buồn nếu chuyến bay Malaysia MH370 gặp bất cứ loại tai nạn nào: kỹ thuật hoặc khủng bố khiến cho 237 mạng sống con người không biết ra sao.

Có điều đây là một sự bí ẩn mà cho đến nay chưa ai giải thích được kể cả với những thiết bị tìm kiếm tối tân nhất hiện nay và đối với loại máy bay được xem là “an toàn nhất trên không trung” Boeing 777.
View image on Twitter
View image on Twitter
Hình của báo Mirror, Anh quốc
Chúng ta cầu mong mọi việc được sớm sáng tỏ và hy vọng có một phép lạ nào đó che chở cho các hành khách đươc bình yên.
Tuy nhiên, vụ này cũng cho phép người ta nghĩ đến một giả thuyết: Có thể đây là kết quả của hành vi tàn độc của chế độ Trung Cộng đối với các dân tộc thiểu số đang bị TC đày đọa, nhất là người Uy Ngô Nhĩ, đến nỗi họ phải gây ra thảm cảnh để trả thù (trên 150 hành khách người Tàu, có thể có các viên chức cao cấp….). Với 4 hành khách trên chuyến bay dùng passport giả, người ta có quyền đặt ra nhiều giả thuyết. Ước mong không phải là sự thật.
Một số  hình ảnh người mất tích:
facebook

Ông bà Catherine and Robert Lawton từ Brsibane Úc Châu 

 

Hai người Canada trong danh sách hành khách:  Montreal resident Muktesh Mukherjee, 42, and his wife, Xiaomo Bai, 37. (Facebook)

View image on Twitter

Anh Luigi Maraldi, một người Ý hiện đang bình yên vô sự ở Thái Lan. Một kẻ lạ mặt đã lấy cắp thông hành của anh ta và đáp chuyến máy bay định mệnh MH370.

Một chuyện tếu khác là những thông tin do CSVN đưa ra đều là tin vịt, khiến toàn thế giới hy vọng hụt, có lẽ chẳng ai còn tin vào những gì CSVN nói nữa (hơi muộn).

=====================

2014-03-10 14:02 GMT-04:00 Chinh Tran <chinhirving@yahoo.com>: 

Thưa qúi vị
Dưới đất có những xa lộ , trên không có những Không lộ, tất cả phi cơ nhất là những chuyến bay “Quốc Tế” , lại càng phải tuân theo quy luật Hàng Không Quốc Tế rất là nghiêm ngặt .
Những chiếc phi cơ đang bay trên bầu trời , nhất là bay theo quy chế “IFR”, có thiết lập
“Flight Plan” hành trình bay , thì  nó luôn được theo dõi và “tiếp chuyện” với những  “con mắt trần gian” ở dưới đất cho dù đang ở phương trời nào ! Và ở bất cứ thời gian nào !
Vụ chiếc Boeing 777-200 của hãng Hàng Không Malaysia biến mất trên màn hình Radar
của hai Trung tâm Kiểm sóat không lưu đường trường Việt Nam và Malaysia  (ARTCC) đến nay sau ba ngày tìm kiếm của hàng cục phi cơ và tàu biển vẫn còn mịt mờ ! Một mảnh phi cơ cũng bặt tăm !
Cho dù chiếc Boeing có bị tai nạn khủng khiếp thế nào chăng nữa, hay chiếc phi cơ có bị
trục trặc kỹ thuật  kinh hòang thế nào đi nữa thì  phi công vẫn  còn thì giờ dù chỉ 5-10 giây
đồng hồ để báo động và vẫn có thể “bay là là , bay lướt- Glide ” trong vòng 20-30 phút !
khi đang ở cao độ bay lý tưởng 35 ngàn bộ . Nhưng chuyến bay MH370 thật là một bí ẩn !
Theo thiển nghĩ , chuyến bay  MH370  sẽ không có một hành khách nào thiệt mạng, tất cả
239 hành khách và phi hành đòan đều bình an và chiếc Boeing  đang nằm  êm ả tắm nắng đâu đó  qua lớp “lưới ngụy trang”, chờ vài bữa nữa ,  Tập Cận Bình sẽ nhận được tin thôi !
Cầu mong bình an đến với hành khách chuyến bay MH370 !
ChinhIrving

Ngoại Trường Hoa Kỳ tại Bắc Kinh: Ca Ngợi và Cảnh Cáo Bắc Kinh Nhân Ngày Lễ Tình Yêu

Friday, February 14th, 2014

Người đứng đầu ngành Ngoại Giao Hoa Kỳ báo hiệu ”một sự lạc quan sâu xa”

Hannah Beech / Bắc Kinh ngày 14 Tháng Hai, 2014

Theo @ TIMEWorld

Ngoại trưởng HK John Kerry đã tới Bắc Kinh ngày thứ Sáu, thời điểm có vẻ tốt đẹp nhân dịp hai ngày đặc biệt: Valentine và Lễ Hội Đèn Lồng, dấu sự kết thúc năm mới âm lịch.

“Đây là thời gian thú vị của sự đổi mới”, ông Kerry lên tiếng tại thủ đô của Trung Quốc với cuộc bắn pháo bông suốt tối thứ sáu, trong chuyến viếng thăm bốn quốc gia Châu Á. Kerry mô tả ”một ý nghĩa sâu xa của lạc quan như chúng ta đã nghe qua các diễn từ của các nhà lãnh đạo TQ suốt cả ngày.”

NT. Kerry, người đã gặp Chủ tịch TQ Tập Cận Bình và các nhà lãnh đạo hàng đầu khác, cho thấy nhiều lĩnh vực hợp tác giữa hai quốc gia mà ông gọi là “hai cường quốc” – cam kết để đạt một Bắc Triều Tiên phi hạt nhân và Iran; sự quan tâm về thảm họa nhân đạo ở Syria; và những nỗ lực chung ngăn chặn cuộc khủng hoảng tiếp tục ở Nam Sudan và Afghanistan.

Tuy nhiên, NT. Kerry trong khi đang thực hiện chuyến thăm thứ năm của ông đến châu Á kể từ khi nhậm chức năm ngoái, cũng đã nêu lên sự bất đồng sâu sắc giữa hai quốc gia, như mối quan tâm của Mỹ về hồ sơ nhân quyền của Trung Quốc, chiến dịch đàn áp các nhà hoạt động gắn liền với xã hội dân sự và sự đối xử với các dân tộc thiểu số như Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ dưới thời Chủ Tịch Tập CB.

Ông tuyên bố vào tối thứ sáu (giờ Bắc Kinh):”Chúng tôi đã thảo luận thẳng thắn một số thách thức nhân quyền, vai trò của luật pháp và tự do thông tin trong một xã hội dân sự,” NT Kerry nói tiếp. “Theo sự đánh giá của chúng tôi, các vụ bắt giữ những nhà ủng hộ cải cách ôn hòa gần đây, đã đi ngược lại những nỗ lực tốt đẹp của chúng ta và ngăn cản khả năng thực hiện sự tiến bộ về lâu dài.”

Nhưng sự khác biệt lớn nhất giữa hai quốc gia xuất phát từ quan điểm về môi trường an ninh đang xấu đi ở khu vực Đông Á. Sự căng thẳng địa lý / chính trị đã tăng nhanh trong những tháng gần đây, như vụ tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng – nhất là ở biển Đông Á đặc biệt là Nhật Bản và Philippines – làm gia tăng bối cảnh về ngôn từ dân tộc chủ nghĩa từ mọi phía.

Ông Kerry đã nêu ra sự quan tâm về việc Trung Quốc hình thành khu vực “xác định phòng không” (ADIZ ) trong năm rồi bao gồm không phận mà Nhật Bản cũng tuyên bố chủ quyền, (Nhật một đồng minh khu vực lâu năm của Mỹ). Vùng phòng không gây tranh cãi trên Biển Đông Á bao trùm vùng đảo đang được quản lý bởi Nhật Bản nhưng Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền theo lịch sử. Việc Bắc Kinh công bố vùng ADIZ một cách đột ngột, Mỹ và Nhật Bản chỉ được thông báo thời gian rất ngắn trước đó. NT Kerry nói “Chúng tôi đã khẳng định rõ ràng rằng một việc làm đơn phương, không báo trước, không có tiến trình chuẩn bị tương tự sẽ gây rất khó khăn cho nhiều dân tộc trong vùng và do đó tạo bất ổn trong khu vực.”

Trước chuyến đi Châu Á của Kerry, một quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao đã cảnh báo một cách nghiêm trọng hơn, rằng Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm với “cách thức mà Trung Quốc đã thực hiện trong những tháng gần đây trong nỗ lực thiết lập kiểm soát các lãnh thổ còn đang tranh chấp và làm xói mòn sự kiểm soát hành chính của các lãnh thổ khác.”

Về phần mình, Bắc Kinh kêu gọi Mỹ sử dụng đòn bẩy chính trị ở Nhật Bản buộc Thủ tướng “hiếu chiến” Shinzo Abe không dùng giọng điệu “dân tộc chủ nghĩa” chống Trung Quốc. Cuối tháng mười hai, TT Nhật Abe đã tạo bất bình cho các nhà cầm quyền Trung Quốc, nhưng không đề cập đến Hoa Kỳ, khi ông ta đến thăm đền Yasukuni gây tranh cãi ở Tokyo, nơi thờ những tử sĩ Nhật Bản trong chiến tranh bao gồm cả những “tội phạm chiến tranh” bị kết án vì vai trò “đế quốc” của Nhật Bản ở châu Á trước đây. Mặc dù Abe cho biết cuộc hành hương của ông là chuyến đi hòa bình, nhưng quan hệ băng giá giữa Nhật Bản và Trung Quốc ngày càng thêm giá lạnh.

Một bài bình luận được phổ biến trên Tân Hoa Xã, cơ quan ngôn luận chính thức của Trung Quốc vào ngày thứ Sáu đã cảnh cáo: “Hoa Kỳ nên biết rằng, trong khi Bắc Kinh luôn luôn cố gắng giải quyết tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng bằng phương pháp hòa bình, nhưng sẽ không ngần ngại thực hiện các biện pháp để bảo đảm lợi ích an ninh quốc gia quan trọng về chủ quyền của Trung Quốc.”

Bài xã luận tiếp tục cảnh báo Washington về những hậu quả thảm khốc của sự thiếu hành động. “Nếu Mỹ không thắt chặt các vòng xung quanh những bàn tay của chính trị gia cực hữu ở Nhật Bản, và vẫn ngồi yên trong khi các tay hiếu chiến giành lại quyền lực qua hiến pháp để tiến hành chiến tranh, không ai có thể đảm bảo rằng các cuộc tấn công đẫm máu tương tự như ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) hơn 70 năm trước đây sẽ không được lặp lại.”

Nhưng tại Seoul, Nam Hàn, trạm dừng chân đầu tiên của NT Kerry trước khi đến Bắc Kinh, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đã né tránh những vấn đề của quá khứ mà nhiều người Trung Quốc cảm thấy Nhật Bản đã không chuộc lỗi đầy đủ, ông nói. “Chúng tôi  đã thảo luận những vần đề lớn hiện nay liên quan mối quan tâm cấp bách đối phó với nền an ninh liên quan đến hiện tại mà không phải là trong lịch sử.”

VAB phỏng dịch

 

Kerry Woos and Warns Beijing On Valentine’s Day

Top U.S. diplomat heralds ‘a profound sense of optimism’

By Hannah Beech/Beijing Feb. 14, 2014Add a Comment

inShare

Read Later Email Print Share  Comment

Follow @TIMEWorld

U.S. Secretary of State John Kerry arrived in Beijing on Friday, a doubly auspicious date that marked both Valentine’s Day and the Lantern Festival in which Chinese celebrate the end of the lunar new year period.

“[This] is an exciting time of renewal,” he said in the firework-shrouded Chinese capital on Friday evening, part of a four-nation swing through Asia. Kerry described “a profound sense of optimism, as we heard from the [Chinese] leadership throughout the day.”

Kerry, who met with China’s President Xi Jinping and other top leaders, pointed out multiple areas in which he saw common cause between what he termed “two great powers”—a commitment to achieving a non-nuclear North Korea and Iran, concern over the mounting humanitarian disaster in Syria, and joint and largely unheralded efforts to avert further crises in places like South Sudan and Afghanistan.

But Kerry, who is making his fifth visit to Asia since taking office last year, also pointed out areas of profound disagreement between the two nations, such as U.S. concern over China’s human rights record. He singled out a mounting crackdown on civil society activists and the treatment of ethnic minorities like Tibetans and Uighurs under President Xi.

“We did [have] a frank discussion of some human rights challenges, the role of rule of law and the free flow of information in a robust civil society,” Kerry said on Friday evening. “The recent arrests of peaceful advocates of reform run counter, in our judgment, to all of our best efforts and the ability to make long term progress.”

But perhaps the greatest point of divergence between the two nations comes from how they parse the deteriorating security environment in East Asia. Geopolitical tensions have proliferated in recent months, as territorial disputes between China and its maritime neighbors—most notably Japan and the Philippines—have intensified amid nationalist rhetoric from all sides.

Kerry was pointed when it came to China’s formation last year of an air-defense identification zone (ADIZ) that included air space also claimed by Japan, a longtime regional ally to the U.S. The controversial airspace over the East China Sea extends over islets administered by Japan but to which China maintains historic claims. Beijing’s announcement of its ADIZ came suddenly, with the U.S. and Japan only given minutes of advance notice. “We’ve made it very clear,” Kerry said, “that a unilateral, unannounced, unprocessed initiative like that can be very challenging to certain people in the region and therefore to regional stability.”

Prior to Kerry’s Asia trip, a senior State Department official sounded an even more cautionary note, saying that the U.S. was particularly concerned with the “the incremental steps that China has taken in recent months in an attempt to establish its effective control over disputed territories and to undermine the administrative control of other territories.”

For its part, Beijing has called for the U.S. to use its political leverage in Japan to push hawkish Prime Minister Shinzo Abe away from ramping up patriotic rhetoric against China. Last December, Abe upset Chinese officials, not to mention Americans, when he visited the controversial Yasukuni Shrine in Tokyo. Japan’s war dead are memorialized at the Shinto place of worship, including war criminals convicted for their roles in orchestrating Japan’s imperial rampage across Asia. Although Abe said his pilgrimage was a peaceful one, frosty relations between Japan and China chilled further.

A commentary published by Xinhua, China’s official mouthpiece, warned on Friday: “The United States has to know that, while Beijing has always been trying to address territorial brawls with some neighboring countries through peaceful means, it will not hesitate to take steps to secure its key national security interests according to China’s sovereign rights.”

The op-ed went on to warn Washington of the potentially dire consequences of inaction. “If the United States fails to tighten the loops around the hands of the far-right politicians in Japan, and sits idly by while the ex-warmonger regains the constitutional power to wage war, no one could guarantee that similar bloody attacks such as the one on the Pearl Harbor over 70 years ago would not be repeated.”

But in Seoul, South Korea, Kerry’s first stop before arriving in Beijing, the Secretary of State sidestepped matters of the past, for which many Chinese feel Japan has not adequately atoned. “We also have, frankly, issues of enormous current pressing concern that deal with security,” he said, “and that are relevant in terms of today, not in terms of history.”

Read more: Valentine’s Day 2014: John Kerry Woos and Warns China | TIME.com http://world.time.com/2014/02/14/valentines-day-2014-john-kerry-china/#ixzz2tJEZyxrp

Điểm Tin ngày 22/1/2014

Wednesday, January 22nd, 2014

Bão tuyết tại Đông Bắc Hoa Kỳ: Snow swirls up East Coast, leaving a bitter trail 

(Dân Làm Báo: nhận định của người dân trong nước)

Kiến Nghị Yêu Cầu Không Nhập Thịt Gà TC vào Nhà Trường và Siêu Thị Hoa Kỳ

Wednesday, January 22nd, 2014
Xin quý vị vui lòng ký vào bản kiến nghị yêu cầu Quốc Hội và Chính Quyền TT Obama ngăn cản việc nhập thịt gà không an toàn vào trường học và siêu thị của Hoa Kỳ. Đây cũng nằm trong chiến dịch tẩy chay hàng hóa của Tàu Cộng cướp nước Việt Nam.
Xin vận động người khác cùng ký kiến nghị kể cả người Mỹ.
Cho đến nay đã có trên 152,000 người ký.
Xin vui lòng phổ biến.
Dưới đây là bản lược dịch của Kiến Nghị:

Kiến Nghị Yêu Cầu Quốc Hội HK:

NGĂN CẢN THỊT GÀ CỦA TRUNG CỘNG NHẬP VÀO NHÀ TRƯỜNG VÀ SIÊU THỊ CỦA HOA KỲ !

Bettina Siegel, Nancy Huehnergarth và Barbara Kowalcyk

Chúng tôi được biết rằng Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) sẽ cho phép bốn công ty Trung Quốc (TQ)  được phép nuôi và làm thịt gia cầm tại Hoa Kỳ, Canada, hoặc Chile, sau đó nhập khẩu sản phẩm nấu chín vào Hoa Kỳ cho người tiêu thụ.

TQ có thành tích xấu về an toàn thực phẩm. Nhiều trường hợp cụ thể: mức thủy ngân cao nguy hiểm được tìm thấy trong sữa bột trẻ em TQ; hơn 16.000 xác heo bệnh được quăng xuống một con sông sình thối; hơn 1.000.000$ trị giá thịt chuột và thịt động vật nhỏ khác được giả làm thịt cừu và bán cho người tiêu dùng ở TQ; hơn 300.000 trẻ em TQ bị nhiễm độc, một số đã tử vong từ sữa bột nhiễm chất độc melamine v.v…

Năm ngoái, tin tức cho biết một công ty TQ cung cấp thịt gia cầm cho nhà hàng Kentucky Fried Chicken tại TQ với thịt gà được nuôi với thức ăn có chứa lượng lớn thuốc bất hợp pháp. Và ở Mỹ, Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm (FDA ) mới đây đã cảnh báo các nhà chăn nuôi không được nuôi súc vật với thịt gân từ TQ. Từ năm 2007, khoảng 600 con chó và mèo ở Mỹ đã chết bí ẩn; 3.600 con khác đã mắc bệnh do thức ăn từ TQ, bao gồm cả những loại có chứa thịt gà hoặc vịt .

………………..

Vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi thịt gà do TQ chế biến có thể được sử dụng trong “Chương trình ăn trưa” tại các trường học và các chương trình “dinh dưỡng liên bang” cho trẻ em, mặc dù trẻ em đặc biệt dễ mắc bệnh do thực phẩm và hóa chất nguy hiểm gây ra.

Đáng báo động hơn nữa là gà nuôi và giết mổ tại TQ cuối cùng có thể được nhập khẩu trực tiếp vào Hoa Kỳ, mặc dù thực tế là cơ quan kiểm toán Nông Nghiệp (USDA) tháng 12 năm 2013 đã tìm thấy hệ thống giết mổ gia cầm của TQ chưa hội đủ tiêu chuẩn tương đương với Hoa Kỳ về an toàn thực phẩm.

Với sự kiểm soát và luật lệ kém cõi về an toàn thực phẩm, thịt gia cầm do TQ chế biến và giết mổ có thể đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe công cộng tại Hoa Kỳ. Quốc hội và Tổng thống cần phải hành động ngay lập tức.

Bằng kiến nghị này , chúng tôi kêu gọi Quốc hội Mỹ, Tổng thống Obama và chính quyền của ông cần ngăn chặn gà từ TQ hoặc chề biến từ TQ nhập vào các siêu thị HK và các bữa ăn tại các trường học cho học sinh bằng cách :

(1) Bảo đảm rằng thịt gà TQ được chế biến không bao gồm trong chương trình ăn trưa của trường học, ăn sáng của trẻ em, Chương trình chăm sóc trẻ em và người lớn và Chương trình dịch vụ ăn uống mùa hè,

(2) Ngăn chặn các ngân khoản được sử dụng để thực hiện bất kỳ luật lệ nào cho phép gia cầm nuôi hoặc giết mổ tại TQ xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Mười bốn thành viên Quốc hội đã công khai ủng hộ trong bức thư ngỏ gửi đến Ủy Ban Phân Bổ bộ Nông nghiệp HK.

Chúng tôi, Bettina Siegel, Nancy Huehnergarth, và Barbara Kowalcyk , là bậc phụ huynh hằng quan tâm về thực phẩm và an toàn thực phẩm. Quý vị hãy tham gia với chúng tôi và các nhà lập pháp để trình bày cùng Quốc hội, Tổng thống Obama và chính quyền của ông rằng người tiêu dùng Mỹ quan tâm về an toàn thực phẩm cho bản thân và gia đình của họ. Cảm ơn quý vị! 

Xem nguyên văn và ký kiến nghị:

Ký kiến nghị

hoặc bấm vào link:

Hội Luận ngày 19/1/2014 từ 12 giờ trưa đến 3 giờ 15

Tuesday, January 21st, 2014

DIỄN ĐÀN

“Tiếng nói tự do của người dân Việt Nam”

Hội Luận  ngày 19/1/2014 từ 12 giờ trưa  đến 3 giờ 15

(edited) 

PHẦN  I.  

Linh Mục Phạm sơn Hà, ở Đức giới thiệu 

Kính chào  Quí vị và các anh chị trên Diễn Đàn.

Hiện nay  ở trong nước, từ trí thức  đến thường dân gồm cả truyền thông của Đảng đang nêu ra một cách sôi nổi là trận chiến Hoàng Sa  ngày 19 tháng 1 năm 1974 của Hải quân VNCH chống trả  lại  hải quân Trung cộng tiến chiếm Hoàng Sa. Trung cộng tung ra một hạm đội hùng hậu gồm 11 tàu chiến và khoảng 30 tầu, thuyền hỗ trợ  trong cuộc xâm lăng  quần đảo.  Hải quân VNCH chỉ có 4 chiến hạm được điều động tới bảo vệ. Trong cuốn Hồ Sơ Hoàng Sa Trường Sa và Chủ Quyên Dân Tộc, in  lần 3 , tháng 4 năm 2010, trang 69, Giáo sư  Nguyễn văn Canh  viết Ngay trong những phút  giao chiến đầu tiên, lực lượng hải quân VNCH đã bắn chìm soái hạm 274 của TC . Toàn thể Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch dưới quyền điều động của Đô Đốc Phương quang Kính, tư lện phó Hạm Đội Nam Hải, kiêm Tư Lệnh Mặt Trận, cùng với 4 Đại tá, 6 Trung tá trong số này có 4 hạm trưởng, 2 thiếu tá, 7 sỹ quan cấp uý và một số thuyền viên trên tàu tử trận. Hộ tống hạm 271 của TC, và 2 trục lôi hạm 389 và 396 bị hư hại nặng về sau bị phế thải, 4 ngư thuyền bị đánh chìm… 74 anh hùng Hải quân VNCH bị tử thương trong đó có Hạm Trưởng, chiến hạm Nhật Tảo, HQ 10, Thiếu tá Nguỵ văn Thà và Hạm phó Đại uý Nguyễn thành Trí.  42 người bị bắt làm tù binh. Chiếc HQ 10  bị trúng đạn, rút ra ngoài vòng chiến, rồi bị chìm. Hạm trưởng Nguỵ văn Thà quyết định từ chối xuống thuyền  bỏ chạy  dù bị thương và đã chết theo tàu…

Gương hi sinh anh dũng cũa chiến sĩ Hải quân Việt nam Cộng Hoà trong sứ mệnh bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ  phải được  đề cao và ghi nhận đời đời trong lòng dân tộc. Liệu có ai không hãnh diện về các hi sinh cao quí của các anh hùng Nguỵ văn Thà, Nguyễn thành Trí và 72  chiến sĩ hải quân VNCH ấy? Chỉ có lãnh đạo Việt cộng từ đó đến nay hoặc ngấm ngầm ngăn cản làn sóng ghi ơn này của con dân nước Việt , hoặc giữ thái độ im lặng để được an toàn với quan Thày Trung Cộng. Lòng can trường và quyết chí hi sinh mạng sống của các tử sĩ VNCH nói trên quả là tấm gương sáng cho mọi người. Điều này trái ngược hẳn với thái độ và hành vi ươn hèn, và còn nối giáo cho giặc ngoại xâm của các lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt nam, và  của cái gọi là Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân của Hồ chí Minh. Ngay cả đến suốt thời gian TC xua quân xâm lăng, Cộng Sản Bắc Việt cũng  giữ thái độ im lặng. Một điều nực cười là trong suốt thời giam cuộc chiến xảy ra, một quan thày khác của Đảng Cộng Sản Việt nam là Liên Bang Sô Viết đã cho Đài phát thanh  Mạc Tư Khoa lên án cuộc xâm lăng ấy. Và tập đoàn lãnh đạo đàn em của Hồ không nắm bắt lấy cơ hội nhờ lãnh đạo Liên Bang Sô Viết giúp đỡ để bảo vệ lãnh thổ.

Hôm nay, 19 tháng 1 năm  2014  là ngày kỷ niệm 40 năm ngày Hoàng Sa mất vào tay Trung Cộng, sau  một cuộc chiến đấu anh dũng ấy của Hải quân VNCH. Để vinh danh các chiến sỹ anh hùng, đã xả thân bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ mà ông cha chúng ta đã đổ bao xương máu bảo vệ và để lại giải sang sơn gấm vóc này cho đến ngày nay.

Vì  đã có nhiều đoàn thể nói lại về trận chiến oai hùng này, nên chúng tôi đề nghị sẽ  nói  tới  một số vấn đề khác nhưng có liên hệ, góp phần cắt nghĩa tấm gương sáng của  các chiến sĩ ấy để nói lên ý nghĩa đích thực của sự hi sinh này. Đó là

Chủ đề I: Vài vấn đề liên quan đến Biển Đông trong đó có Hoàng Sa Trường Sa;  Đó là Công Hàm Phạn văn Đồng với  Tình trạng Biển Đông hiện nay.

Chủ đề II: Dự tính của Hoa Kỳ là gì giúp ngăn chặn các âm mưu bành trướng của Trung Cộng hiện nay.. Đó là Hoa Kỳ và An Ninh Á Châu.

 

Hôm nay, Diễn Đàn một lẫn nữa hân hoan chào đón GS Nguyễn văn Canh trong buổi Hội Luận này.

Chúng tôi có vài lời giới thiệu về GS Nguyễn văn  Canh.

Cho đến năm 1975, GS Canh  là Giaó sư Ban Công Pháp, Đại Học Luật Khoa, Sàigon. Ông cũng là thuyết trình viên các trường Cao Đẳng Quốc Phòng, và trường Chỉ Huy và Tham Mưu Quân Lực Việt nam Cộng Hoà.

Tại Hoa Kỳ, Giáo sư  nguyên là Học giả Viện Nghiên Cứu Hoover về Chiến Tranh, Cách Mạng và Hoà Bình, Đại Học Stanford, tiểu bang California và nay là Chủ  Tịch Uỷ Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ .

Trước khi đi vào nội dung buổi thảo luận, xin Giáo sư  nói qua về Uỷ Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ  mà Giáo sư là Chủ Tịch. Cách đây 3 năm, vào dịp tháng 1, Giáo sư phát động ngày Hoàng Sa Toàn Cầu để vinh danh các chiến sĩ Hải Quân Việt nam Cộng Hoà nhân dịp Hoàng Sa mất vào tay Trung  Cộng . Tại Đức, chúng tôi hưởng ứng lời kêu gọi của Giáo sư, và nhân dịp tôi có hân hạnh được biết Giáo sư. Tôi rất khâm phục về kiến thức của Giáo sư và thấy Uỷ Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ có một vai trò rất lớn và đã có đóng góp quan trọng cho dân tộc.

Trước khi đi vào đề tài, chúng tôi yêu cầu Giáo sư nói qua về Uỷ Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thỏ.

GS Nguyễn văn Canh:

Vào khoảng tháng 4 năm 1994, Cố Giáo sư Nguyễn khắc Kham ở San Jose, CA điện thoại cho tôi, nói rằng “ tôi có một bài báo viết nằng tiến Tàu, nói về một Hội nghị tại Đài Loan, trong đó có 10 học giả từ Hoa Lục sang và khoảng 100 học giả địa phương. Họ họp 2 ngày và cuối cùng họ lên tiếng tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là của Hoa Lục. Họ kêu gọi Hoa Kiều trên khắp thế giới giúp đỡ họ tìm kiếm bằng chứng để chứng minh chủ quyền của người Tàu trên vùng này.”  Giáo sư Kham nói thêm rằng “ lúc nào rảnh Giáo sư xuống gặp tôi về việc này”

Cố Giáo sư Kham là thầy tôi. Vì vậy, tôi ghé thăm Giáo sư để xem Giáo sư nói gì. Giáo sư Kham nói “ Chính quyền Cộng sản Việt nam là kẻ bán đất, nên họ lặng yên. Trí thức trong nước phải có một thái độ về việc này. Họ cũng im luôn. Bọn Tàu, Quốc Cộng Trung Hoa chúng chống nhau, nhưng chúng lại hợp tác với nhau về vấn đề này. Ở hải ngoại. Mình không thể ngồi yên.”  Giáo sư nói rằng tôi phải lên tiếng về việc này. Tôi đề nghị Giáo sư Kham lãnh đạo và tôi sẽ theo. Giáo sư Kham nói rằng người phải làm là tôi.

Theo khuyến áo của GS Kham,, tôi triệu tập khoảng 30 trí thức đến họp vào ngày 22 tháng 6 năm 1994 tại một phòng họp thuộc Viện Nghiên Cứu Hoover Về Chiến Tranh Cách Mạng và Hoà Bình tại Đại Học Stanford, nơi tôi làm việc. Nhóm này được mệnh danh là Nhóm trí Thức Hải Ngoai lên tiếng phản bác Tuyên Cáo của các học giả người Tàu vê chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa, xác nhận chủ quyền của Việt nam về phương diện lích sử và pháp lý.

Ít lâu sau, thỉnh thoảng tôi được tin qua báo chí Tàu cho biết có một học giả nọ tìm thấy một mảnh bát ở trên một đảo của Trường Sa, rồi một học giả  khác thấy một mảnh lọ vỡ năm trên một đảo khác. Vì thế tôi nghĩa tới có một tổ chức thường trực để đối phó với bấn đề này. Do đó một năm sau, Uỷ Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ ra đời. Uỷ Ban này gốm GS Vũ quốc Thúc, GS Nguyễn cao Hách, LS Vũ ngoc Tuyên, LS Võ văn Quan và tôi.

Một cánh tay đắc lực của Uỷ Ban là Center For Vietnam Studies, được lập từ 1987 để tiếp sức cho tôi  làm việc nghiên cứu, tồn trữ rài liệu, nay được giao thêm nhiệm vụ về Hoàng Sa- Trường Sa ( hay Biển Đông). Đến năm 2007, khi Trung cộng lập huyện Tam Sa để quản trị 2 quấn đảo này của Việt nam, Uỷ Ban Lãnh Thổ lấp thêm Uỷ Ban Hoàng Sa.

Mục đích của Uỷ Ban Lãnh Thổ là  sưu tầm,  đánh giá, phân tích, tổng hợp, giải đoán  các tài liệu liên hệ, phổ biến và lưu trữ tại nhiều nơi, nhất là một số Trung Tâm Nghiên Cứu để cho bất cứ ai cần có thể sử dụng trong hiện tại, kể cả trong tương lai xa, như 100 năm tới. Về phổ biến, Uỷ Ban  cung cấp tài liệu cho các giới chức trong chính quyển Hoa Kỳ để họ biết ( thường viết bằng Anh Ngữ). Uỷ Ban có 8 đường giấy chuyển tin bằng các phương tiên khác nhau, kể cả điện tử vào trong nước. Uỷ Ban biết rằng nhiều nơi nhận được an toàn. Các giới trong nước cần được thông tin đầy đủ, được cung cấp các bản nghiên cứu đứng đắn, như thế việc đâu tranh hữu hiệu hơn.

-Đã phổ biến 2 cuốn

1)      Hồ Sơ Hoàng Sa Trường Sa và Chủ Quyền  Dân Tộc,

2) Chủ Quyền Lãnh Thổ và Bành Trướng Bắc Kinh. Có  hơn 30 bản đồ, và phần lớn là cổ, vẽ từ thế kỷ thứ 16, chứng minh chủ quyền Việt nam trên vùng biển này, với hơn 100 bức hình  chụp  cơ sở quân sự , đồ sộ được xây cất trên quần đảo  Hoàng Sa và độ 40 hình  chụp các căn cứ  quân sự kiên cố xây trên các bãi đá ngầm, mọc sừng sững trên biển, trong số 16 đảo trong vùng quần đảo Trường Sa mà TC chiếm đoạt từ 1988.

-Cũng đã phổ biến cuốn Bạch Thư về  Âm Mưu Bành Trướng  của Bắc Kinh với sự  Đồng Loã của Đảng Cộng Sản VN. Một bản tài liệu nghiên cứu liên hệ khác như bản Phản Đối  Chủ Nghĩa Bá Quyền Trung Cộng có sự tiếp tay của  CSVN với các Bản Đồ  về bành trướng bao coi tất cả Á Châu (ngoại trừ Nhật Bản) là lãnh thổ của chúng , và bản đồ phòng thủ trên Thái Bình Dương. Các tài liệu này đã được  gửi cho các nhà lãnh đạo tối cao Liên Hiệp Quốc. ….

-Từ 1994, khoảng 60 bản tiếng về các vấn đề liên hệ đến Chủ Quyền Việt Nam trên Biển Đông  và trên đất liền cũng đã được công bố…. 

 LM Sơn Hà: Tiếp theo đây, Xin Gíao sư Canh đi vầ đề tài. 

GS Canh: 

CHỦ ĐỀ I: CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG VÀ HIỆN TRẠNG BIỂN ĐÔNG

I. CÔNG HÀM CỦA PHẠM VĂN ĐỒNG VỀ HOÀNG SA-TRƯỜNG SA:
Bằng chứng quan trọng và duy nhất mà Trung Cộng (TC) dựa vào đó để biện minh rằng chúng có chủ quyền là văn thư của Phạm văn Đồng chuyển nhượng Hoàng Sa và Trường Sa cho TC. Nó chính là nguồn gốc của mọi vấn đề tại Biển Đông hiện nay. Biện minh này của TC được công khai nhắc đi nhắc lại để công chúng và quốc tế hiểu. Một thí dụ điển hình trong tuần lễ bắt đầu ngày 14 tháng 9 năm 2008, Toà Đại Sứ Trung Cộng tổ chức một buổi lễ long trọng ngay tại Hà nội để kỷ niệm 50 năm ngày ký công hàm ấy, nhắc nhở nhà cầm quyền Hà nội và dân chúng Việt nam nhớ lại sự việc này.
NỘI DUNG CÔNG HÀM
Chúng ta biết rằng, với tư cách Thủ Tướng của Chính Phủ Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng  gửi  một công hàm cho Chu ân Lai đề ngày 14 tháng 9 năm 1958 công nhận quyết định của Trung Cộng mà  10 ngày trước đó TC tuyên bố về chủ quyền của chúng trên các quần đảo này.

Trước hết, tôi nhắc lại Công hàm của Phạm văn Đồng:                                   

Thủ Tuớng Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà 

Thưa Đồng chí Tổng lý, 

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: 

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà  ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn  trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung  hoa trên mặt bể. 

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.

Ngày 14 tháng 9 năm 1958.

Văn thư này được Phạm văn Đồng tự nguyện viết để trả lời Bản Tuyên Bố đơn phương của Chu ân Lai.

Bản tuyên bố của Chu ân Lai đề ngày 4 tháng 9 nói gì?  Bản Tuyên bố này gồm 4 điều khoản và điều khoản I được viết như sau:

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải  

(1)               Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý.  Ðiều khoản này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan…. và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

……………….

 Tóm lại, nhân dịp xác nhận giới hạn lãnh hải mà mỗi quốc gia hải cận thường làm, Trung cộng qua Bản Tuyên cáo này lại đơn phương công khai tự nhận chúng có chủ quyền trên Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) của Viẽt nam. Đáp ứng lời tuyên bố đơn phương ấy, Thủ tướng  của Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Phạm Văn Đồng gởi văn thư ấy đến Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai, nhấn mạnh rằng “Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định này”.

Như vậy, VC  nhìn nhận Trung Cộng có chủ quyền trên 2 quần đảo ấy. 

NGUYÊN NHÂN NÀO ĐƯA TỚI SỰ CHUYỂN NHƯỢNG CHỦ QUYỀN CHO TRUNG CỘNG

Đây rõ ràng là hành vi bán nước. Tại sao Lãnh đạo VC có hành vi như vậy?

Ngay từ 1979, theo Tạp Chí Kinh tế Viễn Đông số ra ngày 16/3/1979, vì công luận ngạc nhiên  về sự công nhận cho Trung cộng chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa, Phạm văn Đồng đã biện minh rằng Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy”.  Biện minh đó lại gây thêm thắc mắc, vì lẽ trong khu vực này vào thời kỳ ấy, không có một cuộc chiến tranh nào xảy ra.

Rồi phải tới năm 1992, trước sức ép của công luận về hành vi này, Nguyễn mạnh Cầm, với tư cách Bộ trưởng Ngọai Giao của Việt nam Dân Chủ Cộng Hoà khai triển thêm lời phát biểu về ‘cuộc chiến tranh’của Đồng trong cuộc họp báo vào ngày 2 tháng 12 năm 1992, do hãng Thông Tấn VN  tường thuật  ngày 3 tháng 12, như sau:

Bản Tuyên bố trước đây của lãnh đạo chúng tôi được công bố trong hoàn cảnh sau đây: Với Hiệp Định Genève vào năm 1954, phần lãnh thổ phía Nam Vĩ Tuyến 17, gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản trị của chính quyền Miền Nam. Hơn nữa, Việt nam phải tập trung mọi lực lương  cho mục tiêu cao nhất để chống cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ngõ hầu bảo vệ độc lập quốc gia, cần có hậu thuẫn của các bạn bè khắp thế giới. Trong khi đó, các mối quan hệ Việt Trung rất thắm thiết và hai quốc gia tin cậy lẫn nhau. Trung Hoa đã thuận cung cấp cho Việtnam một yểm trợ đồ sộ và viện trợ vô giá. Trong bối cảnh đó và bắt nguồn từ nhu cầu cấp bách kể trên, việc lãnh đạo của chúng tôi công nhận chủ quyền  trên Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Hoa  đòi hỏi  là điều cần thiết để ngăn ngừa đế quốc Mỹ dùng các hải đảo tấn công chúng tôi, vì nó phục vụ trực tiếp cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập và tự do của tổ quốc.

Sự công nhận ấy không có dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.”

Như vậy, Nguyễn mạnh Cầm đã khai triển rõ hơn vềc cuộc  “chiến tranh” mà Phạm văn Đồng nêu ra. Đó là cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Nhằm vào cái mà gọi là bảo vệ độc lập quốc gia, Hồ đã phải nhượng bộ theo đòi hỏi của Mao là cho  Phạm văn Đồng chuyển nhượng 2 quần đảo ấy cho Mao  với danh nghĩa là ngăn ngừa đế quốc Mỹ dùng hai quần đảo ấy tấn công Việt nam.

Tập San Kinh Tế Viễn Đông số ra ngày 16 tháng 3 năm 1979 kể trên nhận xét về vấn đề này:  “Những gì xảy ra ngày nay có liên hệ đến 2 quần đảo chỉ là những hậu quả của sự dàn xếp mờ ám của hai người cộng sản anh em trong qúa khứ.  Không một ai trong cộng đồng thế giới muốn bước vào để dàn xếp sự bất đồng giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Lý do rất rõ ràng: cái công hàm ngoại giao và sự nhìn nhận của Cộng sản Việt Nam không thể nào xoá bỏ được bởi một nước nhỏ như Việt Nam, kẻ đã dùng một ‘tiểu xảo’ để lừa dối Trung Quốc.  Hơn nữa, Cộng sản Việt Nam không thể nào thoát được khỏi bàn tay của Trung Quốc, trong khi họ lại phải theo cách ‘đổi mới’ của Trung Quốc để tiến lên chủ nghĩa xã hội.”

“Do sự hồ hởi  muốn tạo ra một cuộc chiến thê thảm cho cả hai miền Bắc và Nam, và góp phần vào phong trào quốc tế cộng sản, ông Hồ Chí Minh đã hứa, mà không có sự tự trọng, nhượng một phần đất “tương lai sẽ có” để cho Trung Quốc, dù  biết không chắc gì có thể nào sẽ nuốt được miền Nam Việt Nam.

 “ Vậy thì ai đã tạo ra cuộc chiến Việt Nam và sẵn sàng làm tất cả mọi sự có thể làm được để chiếm miền Nam Việt Nam, ngay cả việc bán đất?  Bán đất trong thời chiến và khi cuộc chiến đã chấm dứt, Phạm Văn Đồng lại chối bỏ điều đó bằng cách bịa đặt ra việc đổ thừa cho chiến tranh”.

Frank Ching  trong Tạp Chí này trong số  ra ngày 10, 1994 kết luận: 

Rõ ràng là Hồ chí Minh qua tay của Phạm văn Đồng đã dâng hiếncho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa một cái “ bánh ngọt to lớn” (món quà quá hậu hĩ) vì lúc đó Họ Hồ đang chuẩn bị xâm lăng Miền Nam. Hồ cần viện trợ to lớn và đã nhắm mắt chấp nhận mọi điều kiện Bắc Kinh đưa ra.   Thật là rất dễ cho Hồ chỉ bán trên giấy hai quần đảo ấy vì vào lúc đó thuộc Miền Nam.”

Tóm lại, riêng về hai quần đảo này, thì một tay đại gian hùng như Hồ chí Minh, dù rất khôn ngoan, thành thạo dùng tiểu xảo trong mọi trường hợp, nay gặp phải Trung cộng là bậc Thày thâm độc lừa lại vì lẽ TC biết rằng Hồ đâu có làm chủ 2 quần đảo ấy vào lúc đó. Hơn nữa, Trung Cộng theo truyền thống bành trướng của của Hàn Tộc nên có thể “mai phục tường kỳ” dù mất 100 năm chờ cơ hội thuận tiện đánh chiếm  “vật” ấy.  Vì trí đoản, Hồ chỉ biết và  quen dùng mưu thuật nhằm đạt chiến thắng nhất thời, như chỉ tìm kiếm ít lợi lộc trước mắt, nên đã bị mắc kẹt trong vụ này. Về sau, việc biện hộ rằng vì bị chiến tranh, vì cần phải bảo vệ tổ quốc chống đế quốc Mỹ xâm lăng, nên đã “tôn trọng quyết định” ấy của Mao  là một sự chạy tội, phản ảnh trạng thái trí tuệ u mê của họ Hồ. Không có bóng ma chiến tranh nào, cũng chẳng có đế quốc Mỹ nào hiện diện, hay dình dập để thực hiện âm mưu xâm lăng vào lúc đó.

Tuy nhiên, với “yểm trợ đồ sộ và viện trợ vô giá” cho Hồ, Mao đã đạt được cả 2 mục tiêu:

a)      Thụ đắc được 2 quần đảo này một cách hoà bình.  Mao không mất một giọt máu để được làm chủ. Ngược lại, Hồ và đồng bọn tỏ ra rất hồ hởi vì hưởng được món viện trợ lớn, mà không thấy mất mát gì.

b)       Đánh chiếm Miền Nam, Việt nam. Thay vì phải tự mang quân xuống đánh chiếm Nam Việt Nam, Mao  không làm nổi và đã dùng Hồ và đồng bọ làm lính tiền phong cho công tác này.

Thực vậy, những lời giải thích của Phạm văn Đồng và Nguyễn mạnh Cầm cho thấy điều đó. Sau khi chiếm được Miền Bắc vào năm 1954, Hồ đã lập một dự án bành trướng thế lực cộng sản trên bán đảo Đông Dương trước khi tiến xa hơn.  Hồ chia vùng này làm 4 chiến trường : A, Bắc Việt; B, Nam Việt; C, Miên Lào; và D, Thái Lan và Hồ lãnh nhiệm vụ tiền phong thực hiện cuộc chiến tranh này. Đây là một nghĩa vụ cao cả của người Cộng Sản quốc tế.

Trong kế hoạch này, B là Nam Việt nam, là mục tiêu đâu tiên. Hồ cần Mao gấp  rút “yểm trợ đồ sộ  (cần hậu thuẫn của các bạn bè khắp thế giới) và viện trợ vô giá ( tiền bạc, súng ống và các quân dụng khác…) , vì đó là “nhu cầu cấp bách.”

Mao  biết rằng  Nam Việt Nam là bàn đạp để  Mao diến xa hơn trong chủ nghĩa bá quyền. Các lực lượng dân tộc Việt, đối kháng với bá quyền Bắc Kinh   còn lại nằm ở Nam Việt nam. Mao biết rằng kẻ ngoai xâm như Mao không làm nổi. Hơn 1000 Bắc thuộc đã là những bài học tủi nhục. Cách hay nhất là dùng người bản xứ làm công việc này. Mao đã quá khôn ngoan biến Hồ và các thế hệ tay em trở thành lính đánh thuê, mà các kẻ này không ý thức được vai trò của chúng.  Chính những kẻ này gây ra cuộc chiến tranh tương tàn khủng khiếp giúp Mao tận diệt các thế lực dân tộc Việt thù địch ấy. Trong cuộc chiến này, Hồ và đồng bọn đã không nương tay chém giết tàn bạo đồng bào của họ, tiêu huỷ các giá trị nền tảng của chủ nghĩa dân tộc và các sức mạnh khác chống lại Mao để bảo vệ độc lập và tự chủ của dân tộc. Nếu xét về mọi phương diện như văn hoá, xã hội, lãnh thổ, kinh tế, chính trị…., những gì đã và đang xảy ra trên tòan cõi Việt nam  từ thập niên 1950  đến nay,  ta có thể thấy âm mưu thực hiện mục tiêu này đã lộ rõ.

Hồ và đàn em chiếm được Nam Việt nam vào tháng 4, 1975 và cho đến nay chúng vẫn còn đang nỗ lực làm tròn sứ mạng hoặc đặt ách thống trị trên lãnh thổ  như xưa kia hay biến Việt nam thành một phần lãnh thổ của Hoa Lục. Liệu nhưng kẻ nội thù nảy có đạt được mục tiêu này hay không? 

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CÔNG HÀM

 Liệu Công Hàm Phạm văn Đồng có giá trị pháp lý để giúp cho TC căn cứ vào đó nhìn nhận chủ quyền trên HS & TS một cách hợp pháp?

A. Về nội dung, ‘chuyển nhượng’ trong Công Hàm phải dựa trên tinh thần tự do, trong sáng, minh bạch, bình đẳng, ngay thẳng, …., ngay cả đến động lực của sự công nhận này cũng phải có tính cách chính đáng. Nếu không, hành vi này sẽ bị  coi là có hà tì và sẽ trở thành  vô giá trị. 

a) Không ai có thể chuyển nhượng cho một đệ tam nhân cái gì mà mình không có.  Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa này lúc đó thuộc quyền sở hữu của Việt Nam Cộng Hòa. Vì không là chủ tài sản, VC không có quyền nhượng cho TC. Hành vi này có thể giải thích là một sự lừa đảo; Hồ có ý định đành lừa TC để được hưởng viện trợ. Ngược lại, Trung cộng biết sự lừa đảo này,  nhưng đòi VC phải công khai công nhận sự chuyển nhượng. Mặt khác, đây có thể còn là một sự lạm quyền, một hành vi bất hợp pháp, vì chủ nhân ông tài sản là Việt nam Cộng Hoà, không ban cấp cho Hồ và đồng bọn quyền ấy.

b). Hồ và đồng bọn ký công nhận này trong trạng thái tinh thần u mê, không sáng suốt. Phạm v