Posts Tagged ‘Hoa Thịnh Đốn’


Tổng Thống Ngô Đình Diệm dưới cái nhìn của các nhà lãnh đạo thế giới

Thursday, November 2nd, 2017

 

Trong sưốt 40 năm hải ngoại, tôi có dịp nghe rất nhiều người nói về TT Ngô Ðình Diệm. Những người thù ghét ông, lên án ông là con người độc tài, gia đình trị, Công giáo trị và kỳ thị Phật giáo. Ngược lại những người thương tiếc và tôn sùng ông thì ca ngợi khơi khơi ông đủ điều.

Con người thật của nhân vật Ngô Ðình Diệm, và Cuộc Cách Mạng Dân Chủ Mà Ông Thực Hiện Suốt 9 Năm (!954-1963) để xây nên Hòn Ngọc Viễn Ðông cho Miền Nam Việt Nam (MNVN) thì không mấy ai biết đến nơi đến chốn.

Nguyễn Anh Tuấn  –  Political Scientist

Diem4

Bấm để xem tiếp…

Trung Quốc: Cái chết của Lưu Hiểu Ba nói lên tầm mức của sự áp bức

Thursday, July 13th, 2017

Washington – ngày 13 tháng 7 năm 2017 – Phản ứng trước cái chết của Ông Lưu Hiểu Ba, 61 tuổi, khôi nguyên giải Nobel hòa bình năm 2010 trong lúc bị nhà cầm quyền Trung Quốc cầm tù và cưỡng bức vì cổ xúy chế độ dân chủ, Freedom House đưa ra tuyên bố như sau:

Ông Michael J. Abramowitz, chủ tịch Freedom House, nói: “Cái chết của ông Lưu thể hiện mức tồi tệ  mới trong chính sách đàn áp của chính quyền Trung Quốc và hoàn toàn không để ý đến sức khoẻ và tính mạng của các tù nhân chính trị và tôn giáo ở Trung Quốc. “Nhà chức trách đã cưỡng bức Ông ta trong nhà tù, từ chối những yêu cầu khẩn cấp cần được chăm sóc y tế, tiếp tục giam giữ  vợ của ông trong tù, đó là những dấu hiệu của một nhà nước độc tài toàn trị, không tôn trọng quyền của công dân và không khoan nhượng đối với những bất đồng quan điểm chính trị. Chính phủ Trung Quốc làm đủ mọi cách không thương tiếc bịt miệng ông Lưu, nhưng họ không thể ngăn được hàng triệu người Trung Quốc khác tiếp tục hành động để bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người “.

Trung Cộng được đánh giá là một nước “không tự do” trong “báo cáo về tự do thế giới năm 2017”, “không có tự do” trong báo cáo tự do báo chí năm 2017 và không tự do trên mạng năm 2016.​

 FOR IMMEDIATE RELEASE

​​

 China: Death of Liu Shows Reach of Repression 

​​

Washington  –  July 13, 2017 —  In response to the death of 61-year old Liu Xiaobo, awarded the Nobel Peace Prize in 2010 while he was imprisoned and silenced by the Chinese government for his advocacy of democracy, Freedom House issued the following statement:

“The death of Liu represents a new low in the Chinese government’s repression and utter disregard for the health and life of political and religious prisoners in China,” said Michael J. Abramowitz, president of Freedom House. “Authorities silenced him in prison, denied him urgently needed medical care, and continue to hold his wife prisoner, all hallmarks of an authoritarian state with no respect for the rights of citizens and with intolerance of political dissent. China’s government worked without pity to silence Liu but it cannot stop millions of Chinese people who continue to take action towards securing fundamental human freedoms.”

China is rated Not Free in Freedom in the World 2017, Not Free in Freedom of the Press 2017, and Not Free in Freedom on the Net 2016.

Freedom House is an independent watchdog organization that supports democratic change, monitors the status of freedom around the world, and advocates for democracy and human rights.

Join us on Facebook and Twitter (freedomhousedc). Stay up to date with Freedom House’s latest news and events by signing up for our newsletter

Bản tin đài VOA 4/7/2017

Tuesday, July 4th, 2017
Bản tin VOA Tiếng Việt hằng ngày
BẢN TIN VOA TIẾNG VIỆT HẰNG NGÀY 
04.07.2017

Nếu không đọc được bản tin, xin quí vị dùng đường dẫn sau đây https://vn3000.com

 

Việt Kiều trẻ về Việt Nam tìm cơ hội kiếm tiềnViệt Kiều trẻ về Việt Nam tìm cơ hội kiếm tiền 
Bất chấp những vết sẹo gây ra bởi cuộc chiến Việt Nam vẫn còn ám ảnh cha mẹ mình, những người Việt Kiều trẻ đang tìm cách về Việt Nam đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận. Với họ, Việt Nam là cơ hội kiếm tiền, không hơn không kém. Xem thêm

IS bị dồn vào đường cùng ở Mosul, Iraq chuẩn bị mừng chiến thắngIS bị dồn vào đường cùng ở Mosul, Iraq chuẩn bị mừng chiến thắng 
Các chiến binh Nhà nước Hồi giáo đang chiến đấu để bám víu vào những đường phố cuối cùng còn nằm dưới quyền kiểm soát của họ ở khu Phố Cổ của Mosul hôm thứ Hai, là nỗ lực cuối cùng trước khi sắp sửa bị quân đội Iraq đánh bật khỏi nơi từng là cứ địa của họ. Xem thêm 

Macron hứa đem lại ‘thay đổi sâu sắc’ trong nền chính trị PhápMacron hứa đem lại ‘thay đổi sâu sắc’ trong nền chính trị Pháp 
Trong một phiên họp chung của Quốc hội Pháp, Tổng thống Emmanuel Macron loan báo những hội nghị công cộng toàn Châu Âu vào một thời điểm sau đó trong năm nay nhằm tiếp thêm sinh lực cho EU. Xem thêm 

Mỹ không còn là ‘bạn’ trong chương trình tranh cử của Thủ tướng ĐứcMỹ không còn là ‘bạn’ trong chương trình tranh cử của Thủ tướng Đức 
Các từ “bạn” và “tình bạn” đã biến mất khỏi chương trình bầu cử mới nhất của đảng do Thủ tướng Đức Angela Merkel lãnh đạo, thay vào đó Mỹ được nhắc tới như là “đối tác quan trọng nhất” của Đức ngoài Châu Âu. Xem thêm 

Quan chức Mỹ: Trump không có kế hoạch thăm Anh trong tương lai gầnQuan chức Mỹ: Trump không có kế hoạch thăm Anh trong tương lai gần 
Một quan chức cao cấp của chính phủ Mỹ cũng nói thêm rằng nhà lãnh đạo Mỹ luôn có thể bất chợt thay đổi ý định của mình. Xem thêm 

Cảnh sát: Xe tông 10 người bị thương gần sân bay BostonCảnh sát: Xe tông 10 người bị thương gần sân bay Boston 
hát ngôn viên cảnh sát cấp bang David Procopio nói 10 người bị thương và rằng dựa trên điều tra sơ bộ, “không có thông tin cho thấy vụ tai nạn là cố ý.” Xem thêm 

Cảnh sát Mỹ dùng drone giữ an ninh trong Lễ Độc LậpCảnh sát Mỹ dùng drone giữ an ninh trong Lễ Độc Lập 
Giới công lực địa phương sẽ phối hợp với FBI sử dụng drone (máy bay không người lái) để theo dõi an ninh ở các đám đông và các hoạt động trong chương trình bắn pháo hoa Xem thêm 

Tập Cận Bình: Hy vọng Mỹ giải quyết Đài Loan hợp lýTập Cận Bình: Hy vọng Mỹ giải quyết Đài Loan hợp lý 
Chủ tịch Tập Cận Bình nói với Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 3/7 rằng Trung Quốc hy vọng Hoa Kỳ có thể giải quyết vấn đề Đài Loan một cách hợp lý, phù hợp với nguyên tắc “Một Trung Quốc” Xem thêm 

Trump điện đàm với đồng minh châu Âu trước thượng đỉnh G20Trump điện đàm với đồng minh châu Âu trước thượng đỉnh G20 
Tổng thống Donald Trump cho biết ông sẽ nói chuyện với lãnh đạo của ba nước đồng minh Đức, Pháp và Ý, trước chuyến công du tới hội nghị thượng đỉnh G20 Xem thêm 

Các nước Ả Rập gia hạn 48 giờ cho Qatar Các nước Ả Rập gia hạn 48 giờ cho Qatar 
Ả Rập Xê-út và các đồng minh trong cuộc tranh chấp ngoại giao kéo dài với Qatar cho biết họ gia hạn thêm 48 giờ để Qatar đáp ứng các yêu cầu Xem thêm 

Công An Hà Nội bắt thêm một người ‘phạm vào Điều 88’Công An Hà Nội bắt thêm một người ‘phạm vào Điều 88’ 
Trần Hoàng Phúc, thành viên YSEALI – nhóm Sáng Kiến Lãnh Đạo Đông Nam Á do tổng thống Barack Obama thành lập – đồng thời là người tham gia vào các hoạt động dân chủ, nhân quyền, vừa bị bắt tại Việt Nam. Xem thêm 

Ủy ban đảng đề xuất kỷ luật nữ thứ trưởng công thươngỦy ban đảng đề xuất kỷ luật nữ thứ trưởng công thương 
Một ủy ban đảng khẳng định hôm 3/7 rằng Thứ trưởng Công thương Hồ Thị Kim Thoa vi phạm nghiêm trọng khi cổ phần hóa một công ty nhà nước, cũng như kê khai tài sản, thu nhập không đúng. Xem thêm 

Lẵng hoa Mừng Quốc khánh Mỹ từ chốn lao tù Việt NamLẵng hoa Mừng Quốc khánh Mỹ từ chốn lao tù Việt Nam 
Mỗi năm cứ đến ngày Độc lập Hoa Kỳ 4 tháng 7, các nhà tranh đấu cho nhân quyền Việt Nam gửi đến các cơ quan ngoại giao Mỹ những lẵng hoa tôn vinh giá trị tự do, dân chủ, và nhân quyền. Trong đó có những lẵng hoa từ chốn lao tù Việt Nam gởi đến Xem thêm 

Nhiều người quyên góp tiền hỗ trợ con của Mẹ NấmNhiều người quyên góp tiền hỗ trợ con của Mẹ Nấm 
Sau khi nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh nhận bản án nặng vì ‘tuyên truyền chống nhà nước’, nhiều người góp quỹ gần 300 triệu đồng để giúp các con của nữ blogger. Xem thêm 

Trực thăng cứu nạn Indonesia rớt trên đường đi giúp sơ tánTrực thăng cứu nạn Indonesia rớt trên đường đi giúp sơ tán 
Các giới chức Indonesia ngày 3/7 cho hay một chiếc trực thăng, chở 4 nhân viên cứu hộ và 4 sĩ quan hải quân, đã rơi trên đường đi giúp sơ tán người dân khỏi khu vực có núi lửa hoạt động Xem thêm 

Tập: Nga, Trung cùng phản đối Mỹ về THAADTập: Nga, Trung cùng phản đối Mỹ về THAAD 
Chủ tịch Trung Quốc nói ‘Bắc Kinh và Moscow đều phản đối không ngừng việc triển khai THAAD và nghiêm túc đề nghị các quốc gia liên quan hãy dừng lại và hủy bỏ việc lắp đặt’ Xem thêm 

Biển Bình Thuận đang bị đầu độc như thế nào?Biển Bình Thuận đang bị đầu độc như thế nào? 
Xem ra, giống như Vũng Áng, số phận một vùng biển quan trọng và nhạy cảm cả về môi trường lẫn an ninh quốc phòng của Việt Nam lại được người ta đặt vào tay Trung Quốc một cách rất vô tư. Xem thêm 

Trách nhiệm của Quân Ủy và Bộ Quốc PhòngTrách nhiệm của Quân Ủy và Bộ Quốc Phòng 
Lẽ ra, khi chiến tranh kết thúc, đất Quốc phòng phải được trả lại cho nhân dân để phục vụ cho phục hồi và phát triển kinh tế. Nhưng việc này bị hoặc cố ý hoặc vô tình sao nhãng, gây thiệt hại to lớn. Xem thêm 

Bộ Quốc phòng Trung Quốc: Mỹ phá hoại ổn định Biển ĐôngBộ Quốc phòng Trung Quốc: Mỹ phá hoại ổn định Biển Đông 
Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói Hoa Kỳ gây tổn hại nghiêm trọng đến hòa bình và ổn định ở Biển Đông khi cho tàu chiến di chuyển gần một đảo tranh chấp trong vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền Xem thêm 

Đức: Tai nạn xe buýt, 18 người chết, 30 bị thươngĐức: Tai nạn xe buýt, 18 người chết, 30 bị thương 
18 người chết, 30 người bị thương khi một xe buýt du lịch bốc cháy sau khi đụng vào một chiếc xe tải trên một xa lộ ở bang Bavaria, Đức, ngày 3/7 Xem thêm 

Nếu bạn có thắc mắc về bản tin này, hãy gởi email tới: vietnamese@voanews.com 


Voice of America
330 Independence Ave. SW room 2700
Washington, D.C. 20237 USA

Bản tin ngày 2/7/2017

Saturday, July 1st, 2017

Tin tức ngày 2 tháng 7, 2017 (LH, VOA)

Bấm để xem…

Thông cáo báo chí Về “Hội Chợ Mùa Xuân 2017” tại Houston.

Thursday, March 23rd, 2017

Theo tờ quảng cáo (đính kèm), Giáo xứ Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Houston, Texas sẽ tổ chức “Hội Chợ Mùa Xuân 2017” trong 3 ngày 28, 29, 30 tháng 4 năm 2017.

Nhiều tổ chức, cá nhân đã lên tiếng phản bác về việc tổ chức hội chợ xuân trùng vào dịp 30/4 là ngày quốc hận của người Việt ​tỵ nạn ​chúng ta. LM Chánh xứ cũng đã lên tiếng trả lời (đính kèm) nhưng hầu hết dư luận đã không đồng ý.

Trước sự kiện này, CĐNVQG/Liên Bang Hoa Kỳ đã liên lạc với Cộng Đồng NVQG Houston và Phụ Cận để yêu cầu tìm cách giải quyết thỏa đáng (như yêu cầu GX hủy bỏ hoặc dời ngày tổ chức Hội chợ). Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ sẽ bày tỏ thái độ sau khi có kết quả.

Riêng lập trường của CĐNVQG/LBHK, ngày 30/4 hàng năm được xem là ngày QUỐC HẬN của toàn dân Việt Nam (ngoại trừ cộng sản thì ăn mừng), vì thế bất cứ việc tổ chức vui chơi, ăn mừng, ca hát…​ ngoài công cộng dù với lý do gì đều được xem là không thích hợp và không thể chấp nhận được.

CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ sẽ chính thức lên tiếng sau khi có kết quả ​từ Cộng đồng địa phương tại Houston liên lạc với LM quản nhiệm Giuse Vũ Thành của Giáo Xứ.

Chúng tôi hy vọng mọi việc sẽ được giải quyết tốt đẹp trong tinh thần hiểu biết, đoàn kết của người Việt quốc gia không cộng sản, ​luôn luôn ​tôn trọng nỗi đau đớn của toàn dân Việt Nam trong quá khứ và hiện tại đất nước đang còn nằm dưới ách độc tài ​toàn trị ​cùa cộng sản Việt Nam và nguy cơ rơi vào tay Tàu Cộng không xa.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 22 tháng 3, 2017

TM. Ban Báo Chí

Vũ Minh Tâm

cdnvqg.lbhk@gmail.com

 

Đính kèm:

  • Quảng cáo của Giáo Xứ TTĐ tại Houston
  • Thông báo của Ban Tổ Chức Hội Mừng Xuân 2017

quang cao Houston

 

letter_thongBaoGXCTTDVNMar_21_17

On Tuesday, March 21, 2017 6:53 PM,

​​joseph vu <vnmartyrs@live.com> wrote:

 

Rất cám ơn ông đã bỏ thời giờ viết thư cho tôi.
Tôi xin gửi ông kính tường thông báo của Ban Tổ Chức Spring Crawfish Festival.
Mong ông hiểu, thông cảm và giúp chúng tôi giải thích cho đồng hương.
Trân trọng
Lm Giuse Vũ Thành

Mời tham gia ban tổ chức chống Tập Cận Bình và Tàu Công

Tuesday, March 21st, 2017

THƯ MỜI

Tham gia Ban Tổ Chức

Chống Tập Cận Bình và Trung Cộng

nhân Họp Thượng Đỉnh Hoa Kỳ – Trung Cộng 2017

Kính gửi:

  • Quý vị lãnh đạo Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam
  • Quý vị lãnh đạo Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc
  • Quý vị lãnh đạo các Cộng Đồng, Hiệp Hội Người Việt tại Âu Châu
  • Quý vị lãnh đạo Liên Hội Người Việt tại Canada
  • Quý vị lãnh đạo các Tổ Chức, Đoàn Thể đấu tranh, Nhân Sĩ tại hải ngoại

Kính thưa quý vị,

Tin tức báo chí sau chuyến công du của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Tillerson tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Cộng cho thấy sẽ có cuộc họp thượng đỉnh giữa TT Donald Trump và Tập Cận Bình, ngày giờ và địa điểm tuy chưa được chính thức xác nhận, những nguồn tin bán chính thức cho biết rất có thể cuộc họp sẽ diễn ra trong hai ngày 6 và 7 tháng 4, 2017 tại Mar-a-Lago Resort, Palm Beach, Florida.

Chương trình nghị sự cuộc gặp thượng đỉnh này bao gồm:

  • Vấn đề Bắc Hàn sở hữu vũ khí hạt nhân và thái độ khiêu khích của Kim Jung Un.
  • Thương mại mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng mà T.T. Trump trước đây từng lên án TC dùng mánh lới bất chính làm giàu gây thiệt hại cho nhân dân Hoa Kỳ.
  • Hành động lấn chiếm và thái độ bất chấp luật pháp quốc tế của Trung cộng tại Biển Đông.
  • An ninh tại Á châu Thái Bình Dương và nhiều vấn đề quan trọng khác trên thế giới.

Trước sự kiện quan trọng này và trước tham vọng bành trướng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh tại Biển Đông cũng như đối với Việt Nam, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ sẽ phối hợp cùng cộng đồng địa phương, các cộng đồng người Việt khắp nơi tại Hoa Kỳ và trên thế giới cũng như đồng bào tại quốc nội để bày tỏ lập trường qua nhiều hình thức như sau:

  • Tổ chức biểu tình tại địa điểm họp thượng đỉnh (chúng ta cần chờ tin chính thức).
  • Biểu tình chống Tàu Cộng tại Việt Nam (đồng bào quốc nội tổ chức).
  • Công bố Tuyên Cáo lên án nhà cầm quyền CS Bắc Kinh với chữ ký của các cộng đồng, tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nước (có thể thực hiện ngay).
  • Đăng OPEN LETTER trên một tờ báo lớn tại Hoa Kỳ như Washington Times, Washington Post, hoặc New York Times…. Chi phí cho nguyên trang lớn khoảng từ 5,000 MK đến 100,000 MK. Thư ngỏ sẽ tạo ảnh hưởng quốc tế rất lớn. Công tác này có thể thực hiện ngay nếu có tài chánh và phải làm gấp ít nhất 1 tuần trước ngày đăng.

Một ban tổ chức sẽ được thành lập bao gồm đại diện các cộng đồng người Việt trên khắp thế giới và các tổ chức đấu tranh có uy tín. Chúng tôi kính mời các vị lãnh đạo Cộng Đồng Úc Châu, Âu Châu, Canada và các tổ chức đấu tranh và đoàn thể chính trị cùng tham gia.

Kính thưa quý vị,

Trung Cộng đã chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974, chiếm Trường Sa (đảo Gạc Ma) của Việt Nam năm 1988, lấn chiếm hầu hết vùng Biển Đông mà họ áp đăt chủ quyền theo đường lưỡi bò bất hợp pháp, thiết lập các căn cứ quân sự tạo ra mối nguy hại to lớn cho nền an ninh của Á Châu Thái Bình Dương. Ngoài ra, TC hiện đang chiếm dần lãnh thổ Việt Nam dưới nhiều hình thức như tầm ăn dâu với sự tiếp tay của đảng CSVN, chắc chắn sẽ hoàn toàn khống chế Việt Nam trong một ngày rất gần nếu toàn dân không có hành động mau chóng.

Đây là nỗi uất hận chung của toàn thể dân tộc Việt Nam, của tất cả những ai còn lòng yêu nước, còn quan tâm đến nền độc lập, tự do, dân chủ và sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước. Vì thế, chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam khắp nơi hãy trực tiếp hay gián tiếp tham gia chiến dịch chống Tập Cận Bình và Tàu Cộng này. Để có thể thực hiện các công tác nói trên chúng ta cần có phương tiện tài chánh xin quý vị và đồng bào vui lòng yểm trợ.

Chúng tôi kính mời quý vị lãnh đạo tôn giáo, cộng đồng, tổ chức, đoàn thể, nhân sĩ vui lòng tham gia thành lập ban tổ chức để cùng nhau thực hiện các công tác nêu trên. Xin quý vị vui lòng khẩn liên lạc với chúng tôi để bàn chi tiết.

Trong lúc chờ đợi, mọi yểm trợ xin gửi về: Dr. My Hanh Tran, PO BOX 262066, Tampa, FL 33685. Check xin đề: Fed.vac-USA. Tài chánh này chỉ được dùng cho công tác chống Tàu Cộng hiện tại cũng như trong tương lai.

Về chi tiết cuộc biểu tình chống Tập Cận Bình, Ban tổ chức sẽ thông báo nơi cư ngụ, phi trường và các chi tiết khác sau khi có tin chính thức.

Trân trọng​,

​Hoa Kỳ ngày 21/3/2017

  1. CĐNVQG/LBHK

 

BS Võ Đình Hữu        BS Đỗ Văn Hội          Ông Lưu Văn Tươi     Ô. Nguyễn Văn Tánh

CT HĐĐB                  CT HĐCH                  CT HĐGS                   Cố Vấn

 

Xin liên lạc: drhvo@yahoo.com  714-928-3038; hoivando@gmail.com  407-234-3596; Tuoiluu4905@gmail.com  407-491-9299; tanhnguyen1947@yahoo.com   347-481-8283

19-3-2017: Hơn 6000 nạn nhân Formosa diễn hành sau thánh lễ cầu an

Sunday, March 19th, 2017

Giáo phận Vinh: Hơn 6000 nạn nhân Formosa cầu nguyện cho quốc thái dân an và diễu hành

Đăng ngày
 (Tin mừng cho người nghèo)

GNsP (19.03.2017) – Vào sáng ngày 19.03.2017, tại Giáo phận Vinh, hơn 6000 bà con giáo dân đến từ các giáo xứ: Phú Yên, Mành Sơn, Cẩm Trường đến giáo xứ Song Ngọc hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho các nạn nhân chịu thảm họa hủy diệt môi trường do Formosa xả thải.

Từ sáng sớm, bà con giáo dân ở ba giáo xứ Mành Sơn, Phú Yên và Cẩm Trường quy tụ tại sân nhà thờ của mỗi giáo xứ trên tay cầm cờ ngũ sắc, khởi hành từ giáo xứ và diễu hành đến giáo xứ Song Ngọc bằng các xe gắn máy đi trong trật tự và ôn hòa.

Vào lúc 7 giờ 30, hơn 5000 bà con giáo dân quy tụ tại sân nhà thờ giáo xứ Song Ngọc. Tại đây, bà con cầm các băng rôn khẩu hiệu với thông điệp: “Formosa cút khỏi VN”, “Trả lại biển xanh cho chúng tôi”…

Thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình bắt đầu vào lúc 8 giờ cùng ngày tại giáo xứ Song Ngọc do cha Fx. Phan Đình Giáo, Quản xứ giáo xứ Cẩm Trường chủ tế, cha Antôn Đặng Hữu Nam, Quản xứ giáo xứ Phú Yên giảng thuyết và cùng đồng tế có cha JB Nguyễn Đình Thục, Quản xứ giáo xứ Song Ngọc.

Bài chia sẻ Lời Chúa của cha Antôn Đặng Hữu Nam được soi sáng bởi bài Tin Mừng (Ga 4, 5-42). “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Trong bài chia sẻ, cha Quản xứ giáo xứ Phú Yên thông tin cho cộng đoàn một vài vấn đề thời sự đang nhức nhối trong xã hội Việt Nam như: nạn bạo lực học đường; nhà trường không còn là nơi an toàn cho trẻ nhỏ khi nhiều trẻ em bị xâm hại và lạm dụng tình dục trong chính trường học. Cha nhấn mạnh xã hội việt nam hiện nay nhiều anh hùng nhưng vắng bóng tình yêu, một xã hội đầy rẫy những bất công, gian dối và lừa lọc. Cha Antôn cũng kêu gọi, bà con giáo dân hãy mạnh mẽ đứng lên bảo vệ lãnh thổ quê hương Việt Nam trước nạn nội xâm và giặc ngoại xâm, hãy bảo vệ giống nòi Việt Nam, hãy đấu tranh cho Công Lý, Công bằng trong tinh thần ôn hòa, văn minh và đạo đức của người Kitô giáo… Người Công giáo không bao giờ mất hy vọng, bởi vì nếu chúng ta có chối bỏ Thiên Chúa thì Ngài luôn chờ đợi chúng ta.

H1H2H3H4H5H13H14H6H7H9

Trước khi kết thúc thánh lễ, cha Thục gửi lời cám ơn cha Quản xứ giáo xứ Cẩm Trường, giáo xứ Mành Sơn và giáo xứ Phú Yên đã thấu hiểu, đồng hành và hiệp thông với nỗi đau không chỉ riêng bà con giáo xứ Song Ngọc mà cho tất cả các nạn nhân Formosa đang gánh chịu thảm họa.

Cha JB Nguyễn Đình Thục kêu gọi cộng đoàn hãy mạnh mẽ đấu tranh cho Công lý và Hòa bình trong tình yêu thương, tha thứ cho những người đã ra tay hành hung đánh đập, chà đạp lên luật pháp để tước đoạt quyền khiếu kiện/khiếu nại của bà con ngư dân. Chỉ có tình yêu thương, lời cầu nguyện mới giúp con người gắn kết với nhau, đoàn kết với nhau đấu tranh cho quê hương Việ Nam không còn bị cai trị bởi những con người độc ác, gian tà và vô trách nhiệm.

Sau khi kết thúc thánh lễ, cha JB Nguyễn Đình Thục cùng với bà con xứ Song Ngọc tiễn cộng đoàn ngay khu vực Ủy ban Nhân dân xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và chia tay tại đây.

Trước cổng Ủy Ban nhân dân xã Quỳnh Ngọc, bà con giáo dân cả bốn giáo xứ Mành Sơn, Phú Yên, Cẩm Trường và Song Ngọc đã biểu tình, hô to các khẩu hiệu với thông điệp “cướp” lại quyền sống, “cướp” lại quyền được làm người, “cướp” lại nhân quyền, “cướp” lại tất cả những gì nhà cầm quyền cộng sản đã cướp và tước đoạt từ tay người dân trong suốt nhiều năm qua.
H15H12H10H11

Trong các thánh lễ hiệp ý cầu nguyện cho các nạn nhân Formosa, bà con giáo dân đã được tiếp thêm sức mạnh, sự can đảm để tiếp tục dấn thân trong hành trình kiếm tìm công lý, sự thật trong một xã hội đầy rẫy oan khiên, oan sai, chà đạp nhân phẩm và xem thường mạng sống.

Pv.GNsP

Biểu tình tại Sacramento chống chủ tịch Thượng Viện Calif. bóp nghẹt tự do ngôn luận

Wednesday, March 8th, 2017
 Sacramento: Hình ảnh đồng hương biểu tình phản đối Thượng Viện California vi phạm quyền tự do ngôn luận của TNS Janet Nguyễn
Kính thưa quý đồng hương,

Hôm nay ngày 6/3/2017, đông đảo đồng hương California đến trước Thượng Nghị Viện để phản đối họ chà đạp quyền tự do ngôn luận của TNS Janet Nguyễn khi bà phát ngôn phản đối vinh danh tên Tom Hayden khi tên phản chiến nầy ra Hà Nội nịnh hót tụi VC.

Ðồng hương mang nhiều biểu ngữ binh vực TNS Janet và phản đối, y/c Thượng Viện phải quét sạch rác rửi, những tên tội phạm ẩn nấp trong Thượng Viện . Ðồng hương cũng vào trong TV và phân phối thư phản đối của cộng đồng đến từng văn phòng Thượng Viện và Hạ Viện . Vì đây là xứ tự do cho nên cái gì người dân không đồng ý là phải lên tiếng phản đối trong tinh thần thượng tôn luật pháp . Tiếng nói người dân luôn được lắng nghe và không hề bị đàn áp, bắt bớ gì cả.

TNS Janet Nguyễn đã xuất hiện và rất cảm động trước sự hỗ trợ, thương mến của đồng bào . Janet đã phát biểu cám ơn đồng hương. Janet nói bà là con là cháu của cộng đồng và đồng hương đến đây không chỉ bênh vực riêng Janet Nguyễn mà đến đây để bênh vực lẽ phải, quyền tự đo ngôn luận … Nhiều TNS khác cũng đi theo và phát biểu ủng hộ TNS Janet Nguyễn .


Xin gởi đến quý vị một số hình ảnh ghi nhận được,

Vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
Vietlist.us

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia chống hành động bóp nghẹt tự do ngôn luận của chủ tịch Thượng Viện California.

Wednesday, March 8th, 2017
Xin bấm vào link dưới đây để theo dõi.
————————————————————
 
Video vSBTN Phóng sự Biểu Tình trước mặt trụ sở Quốc Hội California tại Sacramento
Thứ Hai ngày 6/3, rất đông người ủng hộ Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn từ khắp nơi đã tụ hội về trước mặt trụ sở Quốc Hội California tại Sacramento để phản đối hành động của Thượng Viện California đối với TNS Janet Nguyễn.
   1 / Trên  trang nhà của SBTN  

 2/  Trên youtube  của SBTN 

Chính Phủ “Không Giống Ai” Trong Lịch Sử Hoa Kỳ – Hà Nhân Văn

Wednesday, January 25th, 2017

 Là một ngôi sao lớn ở Hollywood, tỷ phú D. Trump mở đầu với “kịch bản” lạ lùng! Nội các của ông “không giống ai” trong 240 năm lịch sử lập quốc Hoa kỳ (1776-2016), ông là đại kịch sĩ đã đành mà còn lành nghề chơi phé, nhà poker số 1! Khó kiếm được ai như D. Trump, mùa tranh cử vừa qua có lúc gần cháy túi (vụ chộp vào chỗ kín của người đẹp), Trump vẫn thản nhiên “cạn láng” rồi (về chính trị), tẩy sất rồi, ông vẫn lao tới tố! Chưa có một nội các nào tập trung tả, hữu, tiền, hậu, 4 ông đại tướng 4 sao thứ dữ TQLC với nền nếp cố hữu chỉ có công không được lùi, lội từ biển lên bờ như “Mad Dog” J. Mattis. Lại thêm một hải cẩu “Seal Zinke”, Biệt đội 4 trên sa mạc A Phú Hãn, Iraq, kể cả Syria! Ông Hải cẩu này chắc hẳn giữ chắc “tay hòm chìa khóa” của chìm của nổi vô tận của Uncle Sam từ núi đồi Montana đến Wyoming, N. S. Dakota, Nebraska, Arizona. Thật là trời định, chủ tịch UB Tham mưu liên quân QL Mỹ lại do một Đại tướng TQLC do TT Obama bổ nhiệm! Một tướng 4 sao giám đốc cục an ninh quốc gia cũng do TT Obama bổ nhiệm.
Như chúng ta đã biết, TQLC Mỹ như là một chuỗi dài truyền kỳ (legendary) và huyền thoại (myth) của quân lực Mỹ, lại thêm LLĐB Alpha và các “thần linh” biển cả, sa mạc The Seal! Ối chà! Đương kim chỉ huy trưởng TT huấn luyện Seal, trung tâm huấn luyện duy nhất là một chàng Đại tá Mỹ gốc VN! Bất ngờ khác, trong cảnh quang mùa Giáng Sinh, ông D. Trump bồi thêm một “cú” trực quyền vào mặt thương trường TH Đỏ. Bất ngờ ông Trump lập Hội đồng thương mại quốc gia Mỹ! Bất ngờ có thể nói làm Bắc Kinh choáng váng! Tân TT Trump bổ nhiệm tác giả “Death by China” làm Chủ tịch, giáo sư kinh tế ĐH Irvine, Nam Cali., nổi tiếng quốc tế lên án tội ác thương mại của Trung Cộng trên toàn cầu!

QUÝ CHÚC TÂN NIÊN
Nhân dịp Tân niên 2017, bản báo và Hà Nhân Văn trân trọng quí chúc độc giả đồng hương, một năm mới an khang, toàn gia mạnh khỏe. Quí cụ ông, quí cụ bà thân tâm an lạc trong tuổi vàng. Một văn hào Pháp nói: “Cuộc đời chẳng ra cái quái gì. Nhưng cũng chẳng có gì giá trị cho bằng cuộc đời” (La vie ne vaut rien, mais rien ne vaut la vie). Ở vào tuổi cao niên mới cảm thấy rõ rệt không gì quý cho bằng cuộc đời mà cuộc đời về già chỉ có sức khỏe là đáng quí hơn tất cả.



Ai dám ngờ, quí cụ ta sống vào ngày tháng này lại được nghe tân Tổng thống Donald Trump hướng về Bắc Kinh “chửi” ông Ba Đỏ là “ăn cắp”! Ông Ba Đỏ cho phát ngôn viên dọa “sau ngày 20-1-2017 này, D. Trump sẽ biết tay ta”! Năm 2017 này là năm đối đầu Mỹ Trung chăng? Trong hơn 20 năm qua, từ China Daily đến The Global Times và phát ngôn viên Hồng Lỗi, Hoa Xuân Oánh, rỉ rả chửi Mỹ với nhiều thậm từ hơn nhiều. Vậy ông D. Trump trả miếng là đồ ăn cắp thì cũng là “ông mất của nọ bà chìa của kia”! Chiếc “tàu ngầm tí hon” không người lái nổi lên ở hải phận quốc tế, tàu khảo cứu của hải quân Hoa Kỳ chưa kịp vớt lên thì chiến hạm TC đã chộp ngay, cách Subic Bay 50 dặm.

Hãy nghĩ lại, thượng đỉnh Hàng Châu G20, bộ Ngoại Giao Bắc Kinh làm nhục ông Obama như thế nào. Đón rước và tiếp đãi 20 phái đoàn nguyên thủ quốc gia G20 là bổn phận của nước chủ nhà “đăng cai“ luân phiên. Bắc Kinh chơi luật rừng thô bạo, không đưa cầu thang lớn bắc lên cửa lớn để khách bước xuống đã là thiếu lịch sự. TT Obama và phái đoàn phải đi cửa sau, báo chí Hoa ngữ gọi là “Hậu Môn”, cửa sau. Bộ Ngoại Giao Mỹ thiếu gì người đọc được Hoa ngữ, vậy báo Hoa ngữ Bắc Kinh dùng chữ “hậu môn” còn “đểu cáng thô tục hơn” là 2 chữ ăn cắp mà ông Trump nổi giận sử dụng.


GIÁN ĐIỆP VÀ ĂN CẮP



Các nước Đông Tây gián điệp lẫn nhau là việc thường tình. Nhưng TC tổ chức gián điệp khác với KGB Liên Xô và phản gián Nga hiện nay. Theo sự mô tả cuả báo chí Hồng Kông vừa qua (Dec 17, 2016), TC không tổ chức gián điệp qui mô như Nga và các nước Tây Âu. Từ thời Giang Trạch Dân, TC đơn giản hóa ngành gián điệp ở ngoại quốc: chính yếu là Tân Gia Ba, Đài Loan, Thái Lan và ngay tại Hoa Kỳ: mỹ nhân kế và bỏ đô la mua tài liệu khoa học và siêu kỹ thuật của Mỹ, hơn 30 năm qua đã rất hiệu quả! Họ bỏ công, không quản ngại dài lâu và tốn phí đi tìm các kỹ sư, cao học, nhất là cao học (Master) và tiến sĩ người Hoa làm tại các đại công ty kỹ nghệ Hoa Kỳ, họ móc nối mua chuộc, nhất là mỹ nhân kế (phụ người Hoa xinh đẹp đã được huấn luyện về nghiệp vụ tình báo và mỹ nhân kế). Họ dụ dỗ mua chuộc, thu lượm các tài liệu mật về khoa học và kỹ thuật, nhất là những phát minh mới của các đại công ty.

Tân Gia Ba và Đài Loan là 2 mục tiêu chính. Thí dụ, họ đã dùng mỹ nhân kế lôi kéo được một Thiếu tướng Quân đội Đài Loan. Thiếu tướng này là một chuyên gia thượng thặng về siêu điện toán và mã số. Nhờ vậy, qua mỹ nhân kế, gián điệp Bắc Kinh thâu tóm được các tài liệu tối mật của Mỹ rồi TC dựa vào đó chế tạo theo. Thí dụ, Đài Loan mua F.16 của Mỹ, họ dùng mỹ nhân kế quyến rũ được một tướng lãnh trẻ 2 sao và đã đánh cắp được toàn bộ hình đồ của máy móc F.16 rồi dựa vào F.16 của Mỹ, họ chế tạo phản lực cơ J.20 v.v…

Tài liệu của The Economist trước đây cho biết, thí dụ về radar cực kỳ tối tân của Hoa Kỳ và phản lực cơ tàng hình. Cuối cùng, một cách kỳ công, họ vẫn đánh cắp được qua các kỹ sư và chuyên gia thượng thặng người Hoa làm cho các đại công ty kỹ nghệ tiền tiến Hoa Kỳ, nên vào năm 2015 chẳng hạn, Hoa Kỳ có thứ gì kỹ thuật cao thì TC cũng có thứ đấy. Thí dụ, hội chợ quốc tế Nam Ninh tháng 8, 2016 vừa qua, Bắc Kinh cho một số máy bay tàng hình biểu diễn, kể cả loại “drones” của Hoa Kỳ. Đó là lý do họ theo dõi và bám sát chiếc tàu ngầm “tí hon” không người lái cũng gọi là drone, tàu khảo cứu của hải quân Mỹ thả xuống đáy biển thuộc hải phận quốc tế.

Khi chiếc drone này vừa nổi thì khu trục hạm của TC lao tới ngay và chộp liền vào trưa thứ năm, ngày Nov. 16, cách Subic Bay 57 dặm theo phát ngôn viên HQ Hoa Kỳ. Nhà phân tích quân sự ĐH Khoa học chính trị và luật Thượng Hải Ne Lixing, đây là một thử thách giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Cộng; và đây cũng là dấu chỉ thách đố giữa Mỹ, Nhật và TC, Ne Lixing nói: “Đây là quyền lợi cốt lõi của TQ” (China’s core interests). Đó cũng là dấu chỉ rõ, Bắc Kinh trắc nghiệm phản ứng của Hoa Kỳ. Bộ Tổng tư lệnh TBD lên tiếng ngay nhưng nhẹ nhàng, lịch sự yêu cầu chiến hạm TC trả lại ngay chiếc drone của Mỹ. Bất ngờ, rất bất ngờ, TT đắc cử D. Trump mạnh mẽ lên tiếng trên twister của ông lại cáo buộc “TC ăn cắp”. Bộ NG Trung Cộng trả lời lịch sự lắm. TC sẽ hoàn trả ngay. Nhưng Tổng quân ủy của QĐND TC (gọi là Giải phóng quân) qua phát ngôn viên Hua Chunyung (Hoa Xuân Oánh) lại nói thêm rằng, đây là chủ quyền của họ! Dù vậy, Bắc Kinh giải quyết ổn thỏa và hiểu rằng, không thể giỡn với tân TT D. Trump” (xem: Drone seizure of latest times with Beijing – The Washington Times, Dec. 20, 2016). Đã có nhiều dấu hiệu ông Trump “tougher times with China”. Do đó, lái buôn quốc tế H. Kissinger lên đài NBC lớn tiếng khuyên tân tổng thống nên hòa hoãn và hợp tác với Bắc Kinh! Xin chờ xem.

TRUMP VÀ DÂN CHỦ MỸ

Bầu cử Tổng thống ngày 8-11 vừa qua, bà Clinton thắng đối thủ Trump 2 triệu 800,000 phiếu (tính số chẳn) nhưng bà thua ông Trump đến 36 phiếu cử tri. Như vậy ông Trump đã thắng lớn. Nền dân chủ Mỹ khác khá nhiều so với Tây phương, Nhật Bản và Úc.

Bởi đây là một liên bang gồm 50 nhà nước. Ta dịch “state” là tiểu bang chỉ là dịch theo ý. The State là một nhà nước, tiếng Pháp là l’État. Chính phủ quốc gia VN ra đời ngày 8-3-1949 do cựu Hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng, quốc hiệu là État du VN hay State of VN. Phải nói là, Hoa Kỳ có 51 chính quyền, một liên bang và 50 bang lớn hay nhỏ đều bình đẳng như nhau, chỉ khác là số dân biểu hạ nghị viện nhiều hay ít, tùy theo dân số, gọi là “Representative” hay Congressman. Mỗi bang lớn hay nhỏ đều được bầu 2 nghị sĩ (nhiệm kỳ 6 năm, không giới hạn). Tiểu bang Delaware chỉ bằng 1 quận (county) của tiểu bang Penny., dân số Delaware chỉ đủ bầu một dân biểu với 2 thượng nghị sĩ y như tiểu bang Montana, Wyoming, Idaho v.v… Từ thời lập quốc cách nay 240 năm mới chỉ có 13 tiểu bang. Để các tiểu bang lớn như New York, Pennsy… không thể trùm lấp lên các tiểu bang nhỏ như Vermont, Delaware … Cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ căn cứ theo số phiếu cử tri đoàn của các tiểu bang. Duy trì cho đến nay, tiểu bang Cali. lớn nhất, cử tri đoàn tính theo số dân biểu liên bang cộng 2 nghị sĩ. Cư tri đoàn Cali là 55, trong khi tiểu bang Montana, Delaware chỉ có một dân biểu cộng 2 TNS nên cử tri đoàn chỉ có 3 thành viên. Ứng cử viên nào thắng số phiếu tiểu bang thì cũng thắng luôn cử tri đoàn.



Thời lập quốc, các quốc phụ sợ rằng bầu cử Tổng thống có thể dân chúng bị lầm, bị tuyên truyền, có thể “tay sai ngoại bang len lén vào” hoặc mắc trọng tội mà che giấu hay những điều không xứng khác (unfit to be US President) nên hiến pháp định rằng, sau tổng tuyển cử, ngày 19 tháng 12 cùng năm, đại cử tri đoàn các tiểu bang bầu lại một lần nữa, bầu bất cứ ai mà thành viên Đại cử tri đoàn lựa chọn. Có thể bầu một người ngoài 2 ứng cử viên đã bầu (một thắng một bại). Ngày 19-12, các thành viên Đại cử tri đoàn lên thủ phủ tiểu bang của mình và bỏ phiếu. Thí dụ tiểu bang Texas thì lên Austin, N. Virginia thì xuống thủ phủ Richmond.

Đây mới là lần bầu cử chính thức. Đúng 50 tiểu bang tiến hành bầu cử đồng loạt ngày 19-12. Kết quả bầu cử đại cử tri đoàn ngày 19-12 vừa qua: ông D. Trump được 304 phiếu, mất 2 phiếu so với ngày 8-11, bà Clinton mất 5 phiếu, bầu cử ngày 8-11, bà Clinton được 332 phiếu (thua ông Trump 74 phiếu, không phải là nhỏ). Có thể nói ông Trump đã đại thắng. Kỳ này, 19-12, bà Clinton mất 5 phiếu, chỉ còn 327 phiếu. Ngày 6-1-2017 tới đây, quốc hội liên bang họp khoáng đại do Phó TT Biden và CT Hạ viện Paul Rayan đồng chủ tọa. Phó TT Biden tuyên đọc kết quả bầu cử đại cử tri đoàn 19-12, quốc hội bỏ phiếu thông qua. Bấy giờ ứng cử viên D. Trump mới chính thức đắc cử tổng thống Hoa Kỳ thứ 45 (tổng thống chín nút). Giả dụ cuộc bỏ phiếu của Đại cử tri đoàn ngày 19-12 không ứng cử viên nào được 270 phiếu hiến pháp qui định, quốc hội tiến hành bầu: hạ nghị viện bầu tổng thống, thượng nghị viện bầu phó tổng thống.

TỐI CAO PHÁP VIỆN CAN THIỆP
Đúng 12 giờ trưa ngày 20-1, tân tổng thống và phó tổng thống tuyên thệ nhập chức ngày đăng quang do Chính Nhật (the Chief Justice) Chủ tọa, tân TT phải để tay trên cuốn kinh Thánh và thề. Trường hợp TT John Kennedy bị ám sát ở Dallas năm 1960, Phó TT Lyndon Johnson cấp tốc bay xuống ngay Dallas tháp tùng thi hài cố TT và Đệ Nhất phu nhân Jacqueline bay về thủ đô. Ngôi tổng thống không thể để bỏ trống dù là một thời gian rất ngắn vì ông còn là Tổng tư lệnh quân lực Hoa Kỳ (bao gồm cả Vệ binh quốc gia – National Guard và Tuần duyên – Coast Guard, trực thuộc bộ giao thông vận tải).

Phó TT Johnson mời một bà Chánh án liên bang (bạn ông) lên máy bay, chủ tọa lễ tuyên thệ. Đệ nhất phu nhân áo còn vấy máu ông chồng. Trên phi cơ Air Force One không có cuốn kinh thánh nào, may mắn, phòng của TT còn để trên bàn sách Thánh mà TT thường đọc. Phó TT Johnson đặt tay trên cuốn sách Thánh, do bà chánh án ở Allas chủ tọa lễ tuyên thệ. Phó TT Johnson lên ngôi TT Hoa Kỳ trên máy bay!

Chánh Nhất, Tối cao pháp viện ngồi ghế chánh thẩm xử án TT. Thí dụ, TT Clinton bị quốc hội bãi nhiệm (impeach) qua vụ án bê bối tình dục ở phòng Bầu dục tòa Bạch ốc. Thượng nghị viện họp khoáng đại, Chánh Nhất Tối cao pháp viện chủ tọa phiên xử. Thượng viện Mỹ im lặng như tờ, rất trang nghiêm. Chánh Nhất Remquist bước lên ghế Chánh thẩm, cả thượng viện đồng loạt đứng lên chào. Im lặng một chút, ông Tối cao Remquist tuyên án một câu, phiên xử đã xong. Ông Tối cao Remquist đứng dậy rời phòng. Tất cả các TNS lặng lẽ cùng rời phòng. TT Clinton được tha bổng!
Trường hợp Phó TT Al Gore, cựu Đại úy TQLC từng chiến đấu ở VN, làm phó 8 năm cho ông Clinton. Ông ra tranh cử với ông Bush trẻ, thắng ông Bush trẻ trên nửa triệu phiếu phổ thông, ông Bush trẻ thắng phiếu cử tri đoàn, chỉ được 271 phiếu nhờ phiếu cử tri đoàn Florida, nơi em ruột ông đang làm thống đốc. Đòi đếm lại lần thứ 2, Tối cao pháp viện can thiệp: ngưng đếm lại phiếu. Nhờ vậy ông Bush trẻ đắc cử với 271 phiếu cử tri đoàn, ông cũng thắng cử như vậy trong cuộc bầu cử Đại cử tri đoàn. Do vậy, dư luận gọi ông Bush trẻ đắc cử là do Tối cao pháp viện!

LIÊN BANG HOA KỲ
Liên bang Hoa Kỳ khác khá nhiều liên tỉnh bang Canada, liên bang Đức quốc và liên bang Cộng hòa Nga Sô hiện nay.
Chỉ có 50 tiểu bang mới được bầu Tổng thống, Phó TT, Thượng nghị viện và Hạ nghị viện liên bang. Các lãnh thổ hải ngoại không bầu TT, Phó TT và lưỡng viện quốc hội liên bang, ngoại trừ những ai là công dân Mỹ (citizen). Thí dụ như Puerto Rico, Guam, US Virgin, US East Samor. Dân lãnh thổ hải ngoại cũng là dân Mỹ (nationality) nhưng không phải là công dân, tự bầu Thống đốc, Phó TĐ và quốc hội của lãnh thổ (territories) trực thuộc bộ nội vụ liên bang.

CHẶN ĐỨNG TC Ở TBD
Không mấy ai quan tâm đến cuộc bổ nhiệm dân biểu Montana làm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Hoa Kỳ. Thường thường dư luận và kể cả báo chí không mấy quan tâm đến Bộ Nội Vụ, chỉ như một tổng cục điền địa, hầm mỏ và tài sản chìm của liên bang. Thí dụ như N and S Dakota, Montana, Wyming, sa mạc Arizona, Nebraska, W. Virginia, Pennsy … Liên bang làm chủ có thể nói mênh mông, bất tận! Lấy Alaska làm thí dụ. Tổng thống Johnson có con mắt viễn kiến tuyệt vời, ông lấy ngân sách ra 150,000 đô la vàng mua lãnh thổ Alaska của Hoàng đế Nga Tsar với diện tích rộng nhất so với các tiểu bang khác như Pennsy, New York, với 586,400 dặm vuông. Quốc hội nổi giận, các tiểu bang nổi giận lên án Johnson “điên” xài phí ngân sách quá lớn để mua miền đất hoang vô dụng, tuyết đá phủ kín … Tổng thống bị đưa ra quốc hội luận tội để cách chức. May mắn ông được chánh án TCPV và 4 Tối cao phụ thẩm công lý (Associate Justices) tha bổng! Do vụ mua Alaska, TT Johnson bị thất cử nhiệm kỳ 2. Sau đệ II Thế chiến, nhất là sau cách mạng CS Bôn Sơ Vích Nga tháng 10-1917 và sự thành lập Liên bang Sô Viết và Đệ Tam quốc tế CS, Hoa Kỳ bừng tỉnh, “hú vía” với Alaska trong tay Mỹ! Alaska trở thành tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ ngày 31-1-1959. Tài nguyên của Alaska vô giá, mênh mông dưới lòng đất, ngoài các giếng dầu và hơi đốt, Alaska còn nhiều nguồn mỏ quí và hải sản! Các hoàng đế Alaska là nhất hạng trên thế giới. Tài sản của Alaska cũng như các tiểu bang chia làm 2 phần, một của tiểu bang và một của liên bang do Bộ Nội Vụ quản trị. Nhiều tiểu bang phải thuê đất của liên bang.

 

Hơn 2 thập niên qua, TC đổ tràn vốn vào các tiểu bang, đầu tiên với danh nghĩa đầu tư hợp tác phát triển, các công ty TC thuê đất cuả các quận, thành phố và tiểu bang để xây nhà, dạng cao ốc, họ mua các bệnh viện, trường học, nhà thờ, có nghĩa là phải thuê đất mà các cơ sở trên tọa lạc. Nhưng theo luật liên bang chỉ thuê với đất liên bang. Thậm chí họ mua lại các công ty kỹ nghệ của Mỹ, thí dụ công ty chế tạo loại phi cơ nhỏ Cessna ở Minnesota! Nhờ vậy, kỹ nghệ cao của TC học được kỹ thuật cao của Hoa Kỳ, ngoại trừ kỹ nghệ quốc phòng vào loại tối mật. Hoa Kỳ có thứ kỹ thuật nào, Hoa Lục có thứ ấy. Thí dụ tủ lạnh và điện toán. Nhưng liên bang Mỹ phát hoảng, nhiều công ty TC lại thuê đất của quận, thành phố (vốn sở hữu của liên bang).



Cứ đà này, không bao lâu nữa, như tằm ăn dâu, TC sẽ làm chủ một phần lớn đất đai, sông suối của Hoa Kỳ. Bất giác, liên bang khám phá ra, đại gia TC đang lùng kiếm thuê đất đai mà dưới lòng đất là tài nguyên vô giá. Họ mua nhà thờ Mỹ đâu phải để thờ phụng Thiên Chúa mà là kinh doanh “buôn thần bán thánh”, nhà thờ là nơi trốn thuế, là chốn cộng đồng, họp bạn đồng hương làm ăn! Một đại công ty TC có tổng trụ sở ở Thẩm Quyến dự trù bỏ ra cả trăm tỷ $US đầu tư xây một con đường xe lửa liên bang cao tốc từ SFC chạy ngang các tiểu bang đến nhà ga trung ương, thủ đô Washington DC! Tốc độ từ 700 đến 900 km giờ. Xe lửa cao tốc này sẽ cạnh tranh với kỹ nghệ hàng không Mỹ.

Đường xe lửa cao tốc này sẽ đè bẹp một số hãng hàng không trên lộ trình từ Tây qua Đông. TC kẹt to! Đường cao tốc này họ rất khôn ngoan quỷ quyệt hợp tác chung với tư bản Hoa Kỳ. Đường này phải đi qua lãnh thổ của các tiểu bang, tiểu bang không cho thuê là vô phương! Đường cao tốc qua đất đai, cầu đường của liên bang phải do Bộ Nội Vụ gật đầu. Chưa đủ, còn phải do quốc hội liên bang OK! Hoa Kỳ lo ngại rằng tư bản TC sẽ nhảy vào Cali, Alaska và các đảo của Mỹ ở TBD nhưng là vùng biển bao la Micronesia mà số trước tôi đã đề cập! Quần đảo Madras Islands như hòn đảo thần tiên. Saipan và Guam, Nhật Bản chiếm đóng từ năm 1941-1944.

Trong thời chiến tranh lạnh, đây là căn cứ chiến lược tối mật của Hoa Kỳ. Vài thập niên nay, lợi dụng các đảo Micronesia được độc lập trở thành một Liên Bang Cộng Hòa Dân Chủ do Bộ Nội Vụ Hoa Kỳ bảo trợ, TC đổ vốn vào đây, mua chuộc, đầu tư, thuê đất, lập cơ sở, càng ngày càng lộ liễu công khai. Hãy tưởng tượng ai về đảo thần tiên Saipan, thủ đô của Micronesia, đâu đâu ta nghe thấy tiếng chó sủa (miền Bắc VN gọi là chó cắn ma, chó sủa bóng ma) sáng sáng nghe tiếng gà gáy! Nhà cư dân không cần cửa đóng then cài, lác đác mấy ông cảnh sát không đeo súng. Nhưng toàn vùng Micronesia lại là vùng đại chiến lược của Hoa Kỳ ở Á Đông – TBD. HNV tôi rất khâm phục ai đó, cố vấn cho TT D. Trump cử ngay một ông Seal đang là dân biểu nhiệm kỳ thứ 2, từ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ. Ông Seal Biệt đội 6 này sẽ ổn định Alaska, sẽ nắm lại trong tay Micronesa và US East Samoa, chặn TC không thể tiếp tục bành trướng dưới danh nghĩa hợp tác, đầu tư, phát triển, thuê đất đai, bán hàng hóa cho dân bản xứ “mua một cho 2, 3” …

BẤT NGỜ VÀ BẤT NGỜ

Thời vận động tranh cử, tỷ phú D. Trump nói với các ký giả: Không ai tiên đoán nổi những gì tôi sẽ làm đâu (unpredictable). Có trời đoán: Trump không lừa ai mà tập đoàn Tập Cận Bình bị lừa to, bẽ mặt trong khi long trọng, “cực kỳ” long trọng đón tiếp lái buôn quốc tế H. Kissinger, họ Tập tưởng rằng, tỷ phú Trump, tân TT Mỹ phải gửi sứ giả qua “báo cáo” với họ Tập về bang giao Trung – Mỹ! Ai ngờ, họ Kít chỉ là đại diện ông chủ lớn (big boss) của đế quốc Trump trên nước Tàu! Trump đốt cháy cựu ứng cử viên CH Donnelly thành một đống tro tàn sặc mùi hôi khi ông tha thiết mời ông Donnelly đến lầu 5 Trump Tower chơi, tay bắt mặt mừng, dùng cơm chiều với nhau, Trump ăn thịt bò, Donnelly ăn thịt ếch. Thật là điềm gỡ từ tiên liệu. Cóc hay ếch bỏ vào đĩa cũng thế thôi, ông Trump yêu cầu ông Donnelly chính thức lên tiếng xin lỗi ông do Donnelly đã chửi Trump có thể rất tàn tệ, bất nhẫn. Donnelly lắc đầu. Giấc mộng làm ngoại trưởng cho ông Trump tan ra mây khói, để lại tiếng xấu muôn đời! Chửi người ta tồi tệ đến thế mà còn nham nhở cười vác mặt đến diện kiến và thần phục, trong khi tân tổng thống đã có sẵn ứng viên, trên “cơ” và giá trị hơn Donnelly cả trăm lần!



Không ai ngờ chủ tịch TGĐ đại công ty Exxon Mobil sẽ là Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ. Và có lẽ không ai ngờ, 2 nhân vật lừng danh ở Mỹ và quốc tế, bà cựu Ngoại trưởng Condi Rice (da đen, hiện là giáo sư ĐH Stanford, Dòng Tên, Bắc Cali) và Trùm CIA Robert Gate, Cộng Hòa, gần 40 năm trong nghề trung ương tình báo, GĐ CIA thời TT Obama và Bộ trưởng quốc phòng của TT Obama, giới thiệu CT-TGĐ Rex Tillerson đã quá đủ! Cơ hội vàng ngọc cho TT Trump! Exxon Mobil là một “đại đế quốc” toàn cầu, với 50 chi nhánh trên thế giới.

Mặc cho Bắc Kinh la lối phản đối, Exxon Mobil vẫn tìm kiếm cho VN mỏ dầu và khí đốt ở vùng biển Côn Sơn và vịnh Thái Lan, thập niên 2010, Exxon Mobil đã rất thành công đào được các giếng mỏ hơi đốt lớn nhất, tốt nhất ngoài khơi Rạch Giá, Cà Mau, Côn Sơn, nhưng rồi lắp đi “tình hình chính trị chưa cho phép”. Bây giờ, Exxon Mobil sẽ mở các giếng dầu khí lớn nhất ĐNA thuộc chủ quyền VN! Xin chờ!

CHÍNH PHỦ TỶ PHÚ
Chính phủ D. Trump giàu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ xưa nay. Bốn Bộ trưởng có tài sản 11 tỷ đô la hay là 11,000 triệu! Thêm ông Bộ trưởng Lục quân, tài sản cả trăm triệu, có nhiệm vụ tăng quân số Lục quân lên 45,000 quân bộ chiến. Bản thân ông cũng xuất hiện từ trường Võ bị West Point.

TT D. Trump bổ nhiệm tác giả Death by China, báo chí Bắc Kinh nhất là tờ báo Đảng The Global Times la ó, chửi rủa ầm ỉ! Bản thân tác giả Death by China đã là một nhà kinh tế lên án nặng nề nền thương mại môi trường ô nhiễm, đập thủy điện Tàu Đỏ tàn bạo, gian trá như thế nào. Xin lập lại, Á Đông – TBD là “quê hương thứ hai” của những “mad dogs” TQLC Mỹ từ cuối thế kỷ 19 đến nay. Tháng này, Ngũ giác đài trả lại Okinawa 400 mẫu doanh trại. TQLC Mỹ vẫn tiếp tục cắm chiếc cờ tổng hành dinh Bắc Á tại Okinawa!

HÀ NHÂN VĂN

CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ Tham Dự Lễ Nhậm Chức của TT. Donald Trump

Monday, January 23rd, 2017

Tường trình:

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA LIÊN BANG HOA KỲ

THAM DỰ LỄ TUYÊN THỆ NHẬM CHỨC CỦA TT DONALD TRUMP

HTĐ 21/1/2017 – Như tin đã loan, BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ đã chính thức tham dự lễ Tuyên Thệ nhậm chức (còn được gọi là lể đăng quang) của Tân Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump vào ngày 20 tháng 1, 2017. Đây cũng là lễ tuyên thệ nhậm chức lần thứ 58 được diễn ra kể từ ngày lập quốc.

Ông Donald Trump, một nhà tỉ phú bất động sản đã đắc cử tổng thống Hoa Kỳ ngày 8 tháng 11, 2016 vừa qua với số phiếu Đại Cử Tri Đoàn 306 / 232 hơn bà Clinton, cựu Đệ Nhất Phu Nhân, cựu Thượng Nghị Sĩ, cựu Bộ Trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ. Ông sẽ là tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ sau khi tuyên thệ trung thành với đất nước và làm tròn nhiệm vụ của một tổng thống.

Vì đây là buổi lễ lịch sử cứ 4 năm một lần, ngoài ra còn là một cuộc bầu cử hết sức đặc biệt gây nhiều tranh cãi nên thủ đô Hoa Thịnh Đốn rất bận rộn, đông đúc, náo nhiệt, đường sá bị chận nhiều nơi vì an ninh, đồng thời có những nhóm người biểu tình chống đối. Phương tiện di chuyển, ăn ở hết sức khó khăn và đắt đỏ cho những người từ xa về.

Sáng sớm ngày 19/1/2017, BS Võ Đình Hữu đã đáp máy bay từ Cali lên D.C. dự lễ. Ngay chiều cùng ngày vào lúc 5 giờ, Ông đã dự tiệc tiếp tân của Dân Biểu Ed Royce, Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện tại House Congress Rayburn Building.

ed royce bs huumed

BS Võ Đình Hữu và Dân Biểu Ed Royce

Qua văn phòng DB Ed Royce, CĐNVQG/LBHK có thêm một vé mời và đã dành riêng cho Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn, Maryland và Virginia. Vì bận việc bất ngờ, Chủ Tịch CĐVN tại Hoa Thịnh Đồn Ô. Đinh Hùng Cường cử Ông Thomas Phạm, Cố Vấn, đại diện tham dự.

dan dung cho xem md

Hàng ngàn người đang chờ đợi

with thomassmall

Ô. Thomas Phạm và BS Võ Đình Hữu

truoc gio khai mac med    Trước giờ khai mạc 

Từ 6 giờ sáng, hàng trăm ngàn người đã đổ về địa điểm hành lễ dưới dự kiểm soát an ninh hết sức nghiêm ngặt. Những ai có vé mời sẽ đi lối dành riêng dẫn vào nơi ấn định. Những người còn lại không có vé được hướng dẫn đến những địa điểm xa hơn trên quảng trường độc lập đứng quan sát. Có rất nhiều phụ nữ, trẻ em, đủ mọi sắc dân, tuổi tác đều hiện diện với gương mặt rạng rỡ, đầu đội nón đỏ với hàng chữ “Make America Great Again” (hãy làm nước Mỹ mạnh trở lại), ước lượng có khoảng 900 ngàn người tham dự trực tiếp không kể hàng triệu người theo dõi qua hệ thống truyền hình trên khắp thế giới. Thời tiết năm nay được xem là ấm nhất trong lịch sử lễ tuyên thệ tổng thống Hoa Kỳ, ban ngày khoảng 50 độ. May mắn là trời chỉ mưa nhẹ.

quang truong 2

tuyen theTuyên thệ 

 

quang truong 2

Quang cảnh trước Quốc Hội

Khách tham dự đặc biệt gồm các cựu Tổng Thống Jimmy Carter, Ô.B. George W Bush, Ô. B. Bill Clinton và đương kim tổng thống, Ô. B. TT Obama và Ô. B. Phó TT Joe Biden (cựu TT George H Bush phải nhập viện), các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện, các Thượng Nghị Sĩ và Dân Biểu, các Bộ trưởng và phái đoàn đại diện của nhiều Quốc Gia.

Sau phần tuyên bố khai mạc và nghi lễ tôn giáo là lễ tuyên thệ nhậm chức của TT Hoa Kỳ thứ 45 do chánh án tối cao pháp viện Roberts chủ trì. Ngay sau đó là 21 phát súng đại bác chào mừng.

Tân Tổng Thống Trump đã đọc bài diễn văn ứng khẩu dài khoảng 20 phút, kêu gọi sự đoàn kết, lược qua những chính sách mà ông từng tuyên bố trong lúc tranh cử, chủ yếu nhấn mạnh chủ trương “Làm Nước Mỹ Mạnh hơn, thế giới an toàn hơn”.

Sau đó lần lượt đại diện tôn giáo đã lên cầu nguyện cho tân tổng thống được bình an và điều hành nước Mỹ thành công.

Tiếp theo là phần Chào Quốc Kỳ khởi đầu cho một giai đoạn mới của chính phủ mà Tổng Thống Trump vừa tuyên thệ. Ca sĩ trẻ Jackie Evancho mới 16 tuổi, xinh xắn với giọng ca hết sức tình cảm hát quốc ca làm mọi người xúc động rưng rưng nước mắt.

 

jackie Evancho

Ca sĩ Jackie Evancho hát quốc ca Hoa Kỳ

WASHINGTON, DC - JANUARY 20: President Barack Obama (R) and Michelle Obama (L) pose with President-elect Donald Trump and wife Melania at the White House before the inauguration on January 20, 2017 in Washington, D.C. Trump becomes the 45th President of the United States. (Photo by Kevin Dietsch-Pool/Getty Images)

Cựu và Tân Tổng Thống 

obama leaving

Cựu TT Obama từ giã lần chót   

Tân tổng thống đã bắt tay thân mật các quan khách tham dự, đặc biệt là Ô. Bà cựu TT. Obama, Ô. Bà cựu TT Clinton. Những hình ảnh cho thấy sự thân mật giữa các đối thủ chính trị hy vọng có thể tạo sự đoàn kết quốc gia. Sau đó Ô. Trump đã tiễn cựu TT Obama ra máy bay từ giã.

Sau buổi lễ tuyên thệ là cuộc diễn hành trên đại lộ Independence (Đại Lộ Độc Lập).

dien hanh tt trump

Diễn hành

                                       trumo family med    Dạ tiệc đăng quang 

ball medium

BS Võ Đình Hữu dự Freedom Ball

Buổi tối có tổ chức nhiều Dạ Tiệc Đăng Quang (Inaugural ball),  BS Võ Đình Hữu đã tham dự Freedom Ball diễn ra tại Walter E. washington Convention Center, với sự hiện diện của TT Trump và phu nhân Melanie, PTT Spence và Phu Nhân và gia đình.

Sau lễ nhậm chức, nước Mỹ đã có một tổng thống mới cho dù có người đồng ý hay không. Chúng ta hy vọng tân tổng thống và chính phủ của Ông sẽ giúp nước Mỹ cường thịnh và an toàn, từ đó sẽ tạo cho thế giới một vận hội mới, tận diệt được khủng bố ISIS mà ông cho là mục tiêu chính, đồng thời chận đứng tham vọng bành trướng của Trung Cộng tại Biển Đông như những gì Ông và Ngoại Trưởng tương lai Tillerson từng tuyên bố.

Nhân dịp này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia khắp nơi sẽ có cơ hội hợp tác với chính phủ của Tổng Thống D. Trump và Lập Pháp Hoa Kỳ để tạo lợi ích chung cho người Việt tại Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung, đồng thời vận động để niềm mơ ước đất nước Việt Nam được dân chủ tự do và thanh bình sớm thành tựu.

PV LBHK (21/1/2017)

Video chính thức của tòa Bạch Ốc về lễ nhậm chức:

https://youtu.be/4GNWldTc8VU

Video toàn cảnh lễ nhậm chức của TT Donald Trump (dài 5 tiếng với nhiều chi tiết)

https://youtu.be/LpIKE3zohEM

Video toàn văn diễn văn (bằng Anh ngữ) của TT Trump.

https://youtu.be/sRBsJNdK1t0

Xem Toàn văn diễn văn bằng Việt Ngữ

https://www.cdnvqglbhk.org/tin-tuc-quoc-te/toan-van-bai-phat-bieu-nham-chuc-cua-tt-donald-trump/

Nghe hát quốc ca Hoa Kỳ

https://youtu.be/iYS3KBPDY0g

 

Thư Phản Đối Về Việc Ca Sĩ Mai Khôi Từ Chối Hát Dưới Lá Cờ Quốc Gia và Không Có Nghi Lễ Chào Cờ Khai Mạc

Monday, January 16th, 2017

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA LIÊN BANG HOA KỲ

​​THƯ PHẢN ĐỐI

Thu phan doi Mai Khoi (PDF)

VỀ VIỆC CÔ MAI KHÔI TỪ CHỐI HÁT DƯỚI LÁ CỜ QUỐC GIA, VÀ KHÔNG CÓ NGHI LỄ CHẢO QUỐC KỲ TRONG BUỔI TỔ CHỨC NHẠC THÍNH PHÒNG TẠI HOA THỊNH ĐỐN VỪA QUA 

Kính thưa toàn thể đồng bào,

Vào ngày 8 tháng 1, năm 2017 vừa qua, một sự kiện đã xảy ra tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn Hoa Kỳ làm nhiều người Việt tị nạn cộng sản khắp nơi tức giận và lên tiếng phản đối do việc cô Mai Khôi từ Việt Nam qua đã từ chối không chịu hát dưới lá cờ Quốc Gia và cờ Hoa Kỳ. Ngoài ra cũng không có nghi lễ chào cờ như thường lệ trong một buổi trình diễn thính phòng nơi công cộng, cuối cùng hai lá cờ đã phải để ở sau lưng, người tham dự vẫn ngồi nghe mà không có phản ứng nào.

Sự kiện nêu trên không thể chấp nhận được vì nhiều lý do:

1-    Lá cờ Quốc Gia và cờ Hoa Kỳ là tượng trưng cho những gì linh thiêng nhất của mỗi quốc gia (Hồn  Thiêng Sông Núi, Anh Linh Tử Sĩ…), phải được để nơi trang nghiêm, không thể bất kính như vậy.

2-    Cờ Quốc Gia là biểu tượng cho chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam yêu chuộng tự do không cộng sản, nếu không chấp nhận thì chấp nhận lá cờ nào?

3-    Đây là một buổi trình diễn có tính chính trị trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Theo tinh thần “nhập gia tùy tục”, bất cứ ai đến với cộng đồng Người Việt Quốc Gia đều phải tuân giữ những nghi lễ tối thiểu là chào cờ vàng 3 sọc đỏ (còn được gọi là cờ Quốc Gia), và cờ quốc gia nơi cư ngụ, và phút mặc niệm.

4-    Ban tổ chức và người tham dự nếu còn tự nhận là người Quốc Gia chống cộng sản, tại sao không phản ứng cấp thời bằng cách yêu cầu phải có nghi lễ chào quốc kỳ, nếu không, cần phải tẩy chay hoặc phản đối bỏ ra về.

5-    Lý do cô Mai Khôi đưa ra sợ rằng khi trở về Việt Nam sẽ bị làm khó dễ là không thuyết phục vì cô đã dễ dàng ra khỏi Việt Nam để trình diễn nhạc chống chế độ (nếu cho là như vậy), phải chăng đã có sự đồng ý của CSVN, mọi người có quyền đặt vấn đề đối với cô.

6-    Nếu cho rằng mọi người đều có quyền tự do chọn lá cờ mình ưa thích, người Việt tị nạn đã phải liều chết ra đi vì không muốn sống dưới chế độ cộng sản độc tài, vô nhân, họ có quyền tẩy chay và phản đối bất cứ ai tỏ ra bất kính đối với biểu tượng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ hoặc đi ngược với ý nguyện của họ.

Vì thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ trân trọng tuyên bố:

–       Hoàn toàn phản đối những việc đã xảy ra tại buổi trình diễn ngày 8-1-2017 nói trên và trong bất cứ các buổi tổ chức tương tự nào khác nếu có.

–       Yêu cầu tất cả những ai có trách nhiệm tổ chức phải lên tiếng xin lỗi đồng bào tị nạn cộng sản khắp nơi,

–       Đề nghị các cộng đồng người Việt tị nạn hãy phản đối dưới nhiều hình thức nếu xảy ra những sự việc tương tự tại địa phương mình.

Đây cũng là bài học để cộng đồng Người Việt Quốc Gia đề cao cảnh giác, không thể vô tâm vô cảm trước những sự việc tương tự có thể làm mất chính nghĩa đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ của chúng ta.

Trân trọng,

Ngày 14 tháng 1, năm 2017.

BS Võ Đình Hữu                 BS Đỗ Văn Hội                     Ông Lưu Văn Tươi

CT HĐĐB                              CT HĐCH                              CT HĐGS

(Đã ký)                                   (Đã ký)                                   (Đã ký)

Dân biểu Dana Rohrabacher: Cuộc điện đàm giữa ​TT ​ Đài Loan và Ông Trump là cảnh báo với Trung Cộng Hoa Kỳ không còn là ‘kẻ dễ bị bắt nạt’

Sunday, December 4th, 2016

đặc biệt

 

​​The Associated Press

NEIL W. MCCABE

Tháng Mười Hai 2016 Capitol Hill

Dân biểu Cộng hòa miền Nam California được xem như một ứng viên Bộ trưởng Ngoại giao đã nói với Breitbart News rằng Tổng thống đắc cử Donald J. Trump đã gửi đúng thông điệp khi ông chấp nhận cuộc điện đàm chúc mừng từ Tổng Thống Thái Anh Văn của Đài Loan hôm thứ sáu, bất chấp sự phản ứng từ Trung Cộng và phe cánh tả của Mỹ.

“Trung Cộng đang được cảnh báo rằng họ không nên nghĩ Hoa Kỳ như là một kẻ dễ bị bắt nạt nữa,” Dân Biểu Dana Rohrabacher, thành viên Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện và là Chủ tịch Tiểu ban châu Âu, Âu Á và mối đe dọa đang nổi tuyên bố như vậy.

Từng là một nhà hoạt động trong khuôn viên đại học, một ca sĩ dân ca, một nhà viết thoại kịch nói “Trung Quốc có quyền quan tâm về những hành động và chính sách đặc biệt liên quan đến các thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về Đài Loan.”

Ông cho biết có thể cải thiện mối quan hệ (của Hoa Kỳ) với Đài Loan trong bối cảnh của Đạo luật Quan hệ Đài Loan mà Tổng thống James E. “Jimmy” Carter đã ký thay thế hiệp ước phòng thủ chung giữa Đài Loan và Mỹ, và để thiết lập một thể thức duy trì quan hệ với Đài Loan, trong khi vẫn xem nước CHND Trung Cộng là một chính phủ của nước Trung Hoa trong đó Đài Loan là một tỉnh trên pháp lý (dejure), nhưng lại là một nhà nước độc lập trên thực tế (defacto).

“Chúng ta có thể hiện đại hóa và mở rộng mối quan hệ với Đài Loan mà không vi phạm thỏa thuận,” ông nói. “Nói chuyện với họ (ĐL) và đối xử một cách tôn trọng họ hơn không phải là vi phạm Đạo luật Quan hệ Đài Loan.”

Rohrabacher, người viết diễn văn cho Tổng thống Ronald W. Reagan, cho biết người TT Reagan tửng ủng hộ mạnh mẽ Đài Loan và ông mừng khi ông Trump đã cảnh báo với lãnh đạo nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng).

“TT. Ronald Reagan biết rất rõ điều này,” vị dân biểu quốc hội nói.

Ông tiếp, “Các tổng thống Hoa Kỳ đã quá lo lắng có thể làm mất lòng Bắc Kinh. Cuộc điện đàm đã làm sáng tỏ rằng người Mỹ không còn phải sợ hãi vì Trung Cộng bất bình về cuộc nói chuyện với Đài Loan”.

Nhà Dân Biểu cho biết ông không ngạc nhiên về những đợt sóng thần chỉ trích vị tổng thống đắc cử từ các phương tiện truyền thông cánh tả.

“Có những kẻ sẵn sàng cúi đầu trước sự đe dọa của bạo chúa về mối quan hệ tồi tệ hơn với Hoa Kỳ, trong khi bạn đứng thẳng người lên nhìn thẳng vào mắt bạo chúa và bạn có những tiến bộ, bạn sẽ có nhiều cơ hội cho hòa bình về lâu dài, “ông nói.

Nhà dân biểu cho biết có hai mối đe dọa lớn đối với Mỹ là khủng bố Hồi giáo và tư thế hung hăng của Trung Cộng trên sân khấu thế giới. Ông đề xuất nước Mỹ nên thành hình một bộ tứ về kinh tế – ngoại giao với Nhật Bản, Ấn Độ, và Nga, nó sẽ đảm bảo hoà bình và thịnh vượng trên thế giới.

Quan hệ với Nga là việc rất quan trọng liên quan với Trung Quốc, ông nói.

DB Rohrabacher phát biểu với Breitbart News rằng nếu Ông Trump yêu cầu ông giữ Bộ trưởng Ngoại giao, ông sẽ từ nhiệm công việc quốc hội để tham gia nội các chính phủ mới.

Vị Dân Biểu cho biết các thành viên toán chuyển tiếp của Tổng thống đắc cử đang liên lạc với ông. “Họ cho biết những gì đang xảy ra và tôi vẫn đang được cứu xét, nhưng tôi chắc chắn không phải là người đứng đầu danh sách.”

​Nguồn

http://www.breitbart.com/big-government/2016/12/03/exclusive-rep-dana-rohrabacher-trumps-taiwan-call-alerts-chinese-u-s-no-longer-a-pushover/

Tường tình Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31 tại New York (lần thứ 17 với phái đoàn Việt Nam)

Thursday, July 7th, 2016

Năm nay ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31 năm 2016 đã được tổ chức vào 11 giờ sáng thứ bảy 18  tháng 6, năm 2016 trên đại lộ 6th Avenue (Avenue Of Americas). Chủ đề cho Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế năm nay được chọn là “Nữ Anh Thư Triệu Thị Trinh”..

Mời xem tiếp…

Phái Đoàn Người Việt Gặp Gỡ Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc tại New York

Thursday, July 7th, 2016

Tin New York – Nhân dịp tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31, vào lúc 11 giờ sáng Ngày thứ sáu 17 tháng 6 năm 2016, một phái đoàn người Việt Hải ngoại đã họp với văn phòng Cao Uỷ Nhân Quyền LHQ tại New York. Phái đoàn đã tiếp xúc với bà Nicole Bijerler, phụ tá đặc biệt Tổng Thư Ký LHQ (Assistant General Secretary  for Human Rights) về vấn đề Nhân Quyền.

Mời xem tiếp…

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM THÔNG BÁO KHẨN Số 2 (6-2016)

Tuesday, June 21st, 2016

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM

THÔNG BÁO KHẨN

Số 2 (6-2016)

V/v: Chùa Liên Trì sắp bị cưỡng chế giải tỏa vào ngày 23/6/2016.

 

Theo một nguồn tin đáng tin cậy được Hoà Thượng Thích Không Tánh xác nhận, Uỷ Ban Nhân Dân quận 2, Phường An Khánh Sài gòn đã họp nhiều lần và ra quyết định sẽ tiến hành cưỡng chế giải toả, xóa bỏ chùa Liên Trì tọa lạc tại 153 Lương Đình Của, Phường An Khánh, Quận 2, Sài gòn vào ngày 23/6/2016.

 

Hiện nay, sức khỏe của Hòa Thượng Thích Không Tánh không được tốt. Các tăng ni chỉ biết cầu nguyện trước hành động phá chùa cướp đất này của bạo quyền Cộng sản.

 

Việc giải tỏa Chùa Liên Trì của nhà cầm quyền đã có dự tính từ lâu nhằm triệt hạ những cơ sở tôn giáo độc lập không chịu nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Tuy nhiên, do áp lực của công luận của quốc tế, họ đã tạm thời chưa thực hiện chờ cơ hội thuận tiện.

 

Nay Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam xin trân trọng thông báo khẩn đến Quý Chức Sắc tôn giáo khắp nơi, quý vị thành viên Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, quý tổ chức dân sự, cộng đồng và đồng bào trong và ngoài nước biết trong tinh thần hiệp thông, đoàn kết bảo vệ tự do tôn giáo, bảo vệ nhân quyền có mặt trước chùa Liên Trì trong ngày 22 và 23-6-2016 để phản đối, ngăn chặn việc phá chùa cướp đất nói trên.

 

Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam trân trọng kêu gọi:

 

– Đồng bào trong và ngoài nước đồng loạt lên tiếng tạo dư luận để ngăn chận hành động đàn áp tôn giáo, triệt hạ cơ sở tôn giáo độc lập của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

– Các cơ quan quốc tế nhân quyền, các chính phủ tự do dân chủ trên thế giới khẩn thiết lên tiếng và hành động nhằm ngăn chận việc giải tỏa một cơ sở tôn giáo độc lập cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hiện nay.

Nguyện Cầu Hồn Thiêng sông núi phù trợ cho chúng ta.

 

Việt Nam ngày 21 tháng 6, 2016

 

TM Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam

Đồng Chủ Tịch:

 

–       Hòa Thượng Thích Không Tánh

–       Linh Mục Phan Văn Lợi

–       Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa

–       Chánh Trị Sự Hứa Phi

–       Đạo Huynh Lê Văn Sóc

 

Tổng Thư Ký: Lê Quang Hiển

Đính kèm: danh sách các chức sắc trong Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam đồng ký tên.

 

          Cao Đài:

– Chánh trị sự Hứa Phi (điện thoại: 0163.3273.240)

– Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (điện thoại: 0988.971.117)

– Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (điện thoại: 0988.477.719)

          Công Giáo:

– Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi (điện thoại: 0984.236.371)

– Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại (điện thoại: 0935.569.205)

– Linh mục An-tôn Lê Ngọc Thanh (điện thoại: 0993.598.820)

– Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc (điện thoại: 0122.596.9335)

– Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình (điện thoại: 01692498463)

          Phật Giáo:

– Hòa thượng Thích Không Tánh (điện thoại: 0165.6789.881)

– Thượng tọa Thích Viên Hỷ (điện thoại: 0937.777.312)

– Thượng tọa Thích Đồng Minh (điện thoại: 0933.738.591)

          Phật Giáo Hoà Hảo:

– Ông Nguyễn Văn Điền (điện thoại: 0122.870.7160)

– Ông Lê Quang Hiển (điện thoại: 0167.292.1234)

– Ông Lê Văn Sóc (điện thoại: 096.4199.039)

– Ông Phan Tấn Hòa (điện thoại: 0162.6301.082)

– Ông Tống Văn Chính (điện thoại: 0163.574.5430)

– Ông Bùi Văn Luốc (điện thoại: 0169.612.9094)

– Ông Hà Văn Duy Hồ (điện thoại 012.33.77.29.29).

 Ông Trần Văn Quang (điện thoại 0169.303.22.77)

          Tin Lành:

– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (điện thoại: 0121.9460.045)

– Mục sư Đinh Uỷ (điện thoại: 0163.5847.464)

– Mục sư Đinh Thanh Trường (điện thoại: 0120.2352.348)

– Mục sư Nguyễn Trung Tôn (điện thoại: 0162.838.7716)

– Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (điện thoại: 0906.342.908)

– Mục sư Lê Quang Du (điện thoại: 0121.2002.001)

​Xin bấm nghe video HT Thích Không Tánh lên tiếng.

https://youtu.be/uXkxKjD3ths

Tuyên bố chung: giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

Tuesday, May 24th, 2016

Nhận lời mời của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Đại Quang, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam để chào mừng sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và thúc đẩy tầm nhìn chung của họ cho tương lai. Nhân dịp chuyến thăm vào ngày 23 tháng năm năm 2016 trong cuộc họp giữa hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Việt Nam đã thông qua bản Tuyên bố chung này.

Hai bên hài lòng ghi nhận sự tăng trưởng nhanh chóng, có thực chất, và toàn diện của quan hệ Mỹ-Việt Nam trong năm qua, được mang đến bởi các đối tác toàn diện Mỹ-Việt Nam năm 2013 và Tuyên bố chung Tầm nhìn công bố trong chuyến thăm lịch sử tới Mỹ của Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2015.

Các lợi ích chung của Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp tục mở rộng thông qua tăng cường trao đổi các phái đoàn ở các cấp và duy trì cơ chế đối thoại; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ vào quan hệ thương mại và tăng cường đầu tư; tăng cường hợp tác trong giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, an ninh, quốc phòng, quan hệ giữa người với người, nhân quyền, nhân đạo, và các vấn đề di sản chiến tranh. Quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam ngày càng gia tăng đã góp phần tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và tôn trọng luật pháp quốc tế trong khu vực, xây dựng một khu vực dựa trên luật pháp. Cùng nhau, chúng ta đang giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, y tế toàn cầu, không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, gìn giữ hòa bình, và buôn bán động vật hoang dã.

Hướng tới mục tiêu đó, hai nước đã tái khẳng định nghĩa vụ của mình để tuân thủ các điều lệ của Liên Hợp Quốc, cam kết tôn trọng luật pháp quốc tế, hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của họ. Hoa Kỳ và Việt Nam cũng cam kết tăng cường và phát triển cộng đồng ASEAN, hợp tác với cộng đồng quốc tế để đối phó với những thách thức toàn cầu. Cả hai bên cam kết sẽ làm việc với nhau nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện trong các lĩnh vực sau:

Tăng cường Quan hệ chính trị và ngoại giao

Hai bên cam kết tiếp tục trao đổi phái đoàn các cấp, đặc biệt là ở cấp cao, tăng cường đối thoại giữa các cơ quan của Chính phủ hai nước. Hai bên có ý định mở rộng đối thoại cấp cao thường niên giữa hai Bộ Ngoại giao để thảo luận biện pháp tăng cường quan hệ đối tác toàn diện và thảo luận các vấn đề khác mà hai bên cùng quan tâm. Hai bên đồng ý rằng việc tăng cường tin cậy lẫn nhau đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho tình thân hữu bền vững, lành mạnh và lâu dài và hợp tác.

Thúc đẩy Quan hệ kinh tế

Hai quốc gia tập trung thúc đẩy hợp tác kinh tế, bao gồm thương mại, đầu tư, khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, và sự thay đổi khí hậu. Hai bên khẳng định rằng quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là lĩnh vực kinh tế và chiến lược quan trọng, sẽ thúc đẩy thương mại và đầu tư với nhau, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện, tạo công ăn việc làm. Hai bên khẳng định cam kết của mình để sớm phê chuẩn và thực hiện đầy đủ các thỏa thuận tiêu chuẩn cao cấp này, bao gồm các cam kết về đầu tư, tạo thuận lợi cho kinh doanh và phát triển, sở hữu trí tuệ, dệt may, dịch vụ, lao động và môi trường. Mỹ cam kết hỗ trợ Việt Nam thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực mạnh mẽ để thực hiện và đáp ứng các tiêu chuẩn cao của TPP có hiệu quả. Hai bên cũng khẳng định lại cam kết của họ để đảm bảo rằng tăng trưởng kinh tế toàn diện và tạo cơ hội cho tất cả, được đẩy mạnh bằng cách thúc đẩy sự đổi mới, doanh nghiệp và phát triển kinh tế bền vững. Hai bên nhấn mạnh rằng hợp tác phát triển tiếp tục là một động lực trong mối quan hệ song phương. Cả hai nước cam kết thúc đẩy thương mại song phương và đầu tư, sẽ tiếp tục làm việc theo hướng truy cập các mặt hàng công nghiệp, nông nghiệp, và thuỷ sản. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết sẽ tham khảo ý kiến ​​thông qua nhóm hành động song phương tăng cường một cách hợp tác và toàn diện về mong muốn của Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường. Cả hai nước đều hoan nghênh việc ký kết các hợp đồng thương mại lớn nhân dịp chuyến thăm viếng, như công ty VietJet mua 100 máy bay Boeing và động cơ Pratt & Whitney, cũng như một biên bản ghi nhớ về năng lượng gió giữa GE và chính phủ Việt Nam.

Tăng cường hợp tác giữa người và người.

Hai bên khẳng định ủng hộ việc tăng cường quan hệ giữa người với người để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, hợp tác và hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Hoa Kỳ hoan nghênh chính phủ Việt Nam chấp nhận cơ quan Peace Corps đến dạy tiếng Anh ở Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam hoan nghênh việc thành lập Trường Đại học Fulbright Việt Nam, đó sẽ là đại học Việt Nam có đẳng cấp thế giới. Cả hai bên hoan nghênh các thỏa thuận song phương cấp thị thực nhập cảnh một năm và nhiều lần cho du khách kinh doanh và du lịch ngắn hạn của hai nước. Cả hai bên đánh giá cao và ghi nhận sự thành công của cộng đồng người Mỹ gốc Việt và những đóng góp của họ vào việc thúc đẩy quan hệ song phương.

Tăng cường an ninh và Hợp tác Quốc phòng

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết của họ để tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước như đã nêu trong Bản ghi nhớ về Thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương năm 2011 và Tuyên bố Tầm nhìn chung Mỹ-Việt Nam về quan hệ quốc phòng ký kết năm 2015, ưu tiên hợp tác nhân đạo , di sản chiến tranh, an ninh hàng hải, gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Cả hai bên khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh, chống tội phạm xuyên quốc gia, và an ninh mạng. Việt Nam hoan nghênh quyết định của chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Việt Nam hoan nghênh Hoa Kỳ hỗ trợ an ninh hàng hải – kể cả thông qua Sáng kiến ​​An ninh Hàng hải (MSI), các chương trình giảm mối đe dọa, hợp tác và tài trợ quân sự nước ngoài – và mong muốn hợp tác với Hoa Kỳ để tăng cường khả năng hàng hải của Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký một thư ghi nhớ về ý định thành lập một nhóm hành động hợp tác nhân đạo và sáng kiến lưu trữ y tế (CHAMSI), sẽ thúc đẩy hợp tác về hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Mỹ tái khẳng định ủng hộ vai trò gìn giữ hòa bình của Việt Nam lần đầu tiên bằng cách hỗ trợ Việt Nam trong lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc vào năm 2017.

Cả hai nước đều bày tỏ sự hài lòng về nỗ lực chung của họ để thúc đẩy giải quyết các vấn đề di sản nhân đạo và chiến tranh. Đặc biệt, Hoa Kỳ đánh giá cao sự hợp tác tích cực của Việt Nam hỗ trợ sứ mệnh nhân đạo bằng cách cung cấp đầy đủ tin tức có thể về các quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh. Cả hai bên cam kết tiếp tục hợp tác loại bỏ các phế liệu chất nổ. Việt Nam hoan nghênh sự hợp tác dẫn đến kết thúc thành công giai đoạn đầu tiên việc xử lý chất dioxin tại sân bay quốc tế Đà Nẵng, với giai đoạn cuối cùng đã được tiến hành. Hoa Kỳ cam kết hợp tác với Việt Nam để thực hiện đóng góp đáng kể làm sạch ô nhiễm dioxin ở căn cứ không quân Biên Hòa.

Cổ vũ nhân quyền và cải cách pháp luật

Cả hai nước cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người phù hợp với hiến pháp riêng của họ và với cam kết quốc tế tương ứng. Hai nước hoan nghênh những kết quả của cuộc đối thoại tích cực, thẳng thắn và xây dựng về quyền con người, đặc biệt là vòng thứ 20 của Đối thoại Nhân quyền giữa Hoa Kỳ-Việt Nam vào tháng Tư năm 2016, để thu hẹp sự khác biệt và tiếp tục xây dựng lòng tin. Hoa Kỳ hoan nghênh những nỗ lực liên tục của Việt Nam trong việc cải thiện hệ thống pháp luật và thực hiện các cải cách pháp luật nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người theo Hiến pháp năm 2013. Việt Nam đã thông báo với Mỹ về kế hoạch điều chỉnh, sửa đổi, và dự thảo luật mới, trong đó có Luật về Tôn giáo và Tín ngưỡng, Luật về Lập Hội, Luật sửa đổi bổ sung trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi bổ sung hồ sơ pháp lý, Luật Ban hành Quyết định hành chính. Cả hai bên đều công nhận những đóng góp mà các tổ chức xã hội và tôn giáo tiếp tục thực hiện trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, và các dịch vụ xã hội ở cả hai nước. Cả hai bên khuyến khích hợp tác hơn nữa để đảm bảo rằng tất cả mọi người – không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, và khuynh hướng tình dục, và bao gồm cả người khuyết tật – được hưởng đầy đủ các quyền con người của họ. Hoa Kỳ và Việt Nam đã đón nhận một thư thỏa thuận về thực thi pháp luật và hỗ trợ tư pháp.

Tuyên bố về thách thức khu vực và toàn cầu

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết chia sẻ của họ để giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và hàng hải, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình ngoại giao và pháp lý, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS). Cả hai nước nhấn mạnh cam kết của các bên tranh chấp để tránh những hành động làm trầm trọng  thêm hoặc mở rộng tranh chấp, và xác nhận tầm quan trọng của việc thực hiện nghiêm chỉnh “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên” (DOC),  hành động để đẩy nhanh sự đàm phán với những kết quả thực tế để sớm kết thúc Quy tắc ứng xử (COC). Về vấn đề này, cả hai nước bày tỏ quan ngại nghiêm trọng về diễn biến gần đây ở Biển Đông đã gây ra những căng thẳng, lòng tin bị xói mòn và đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định. Cả hai nước đều công nhận sự cấp thiết của việc ủng hộ tự do hàng hải và hàng không và thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông, kêu gọi cam kết phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong việc giải quyết các tranh chấp, tái khẳng định sự chia sẻ Tuyên bố Sunnylands, và cam kết hợp tác chặt chẽ với các đối tác khác của ASEAN trong việc thực hiện Tuyên bố đó.

Mỹ tái khẳng định cam kết của mình để chủ động phối hợp và hỗ trợ Việt Nam trong việc tổ chức thành công APEC 2017.

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và thực hiện Hiệp định (khí hậu) Paris. Họ mong muốn giai đoạn đầu của Hiệp định được thực hiện, và cả hai đều cam kết sẽ chính thức gia nhập Hiệp định vào năm 2016. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết thực hiện một số hành động thiết thực để thúc đẩy làm dịu và thích ứng về khí hậu, cũng như tăng cường tính minh bạch và xây dựng khả năng trong quan hệ đối tác khí hậu giữa Mỹ-Việt Nam, bao gồm cả ở đồng bằng sông Cửu Long. Công việc sắp tới sẽ xây dựng trên các kết quả của sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong việc thực hiện chương trình Sáng kiến ​​Hạ lưu sông Mekong. Hoa Kỳ cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam ứng phó với nạn hạn hán tồi tệ nhất vừa qua trong hơn 90 năm và xâm nhập nước mặn, và trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong lưu vực sông Mekong. Là một đối tác phát triển của Ủy hội sông Mekong (MRC), Hoa Kỳ bày tỏ cam kết của mình để hỗ trợ hợp tác giữa các thành viên MRC và giữa các thành viên Ủy hội và các cơ chế khác trong khu vực trong việc sử dụng, quản lý và phát triển nguồn nước xuyên biên giới một cách hiệu quả và bền vững.

Hai nước đã bày tỏ sự ủng hộ cho một sự hợp tác hạt nhân dân sự mở rộng như tìm cách giảm thiểu phế thải từ ngành năng lượng toàn cầu, việc ký kết Thỏa thuận hành chính theo Hiệp định Mỹ-Việt về hợp tác trong hòa bình việc Sử dụng năng lượng hạt nhân (Hiệp ước “123”), và các tiêu chuẩn cao nhất về an toàn, an ninh và không phổ biến hạt nhân. Cả hai nước hoan nghênh kết quả thành công của năm 2016 Hội nghị thượng đỉnh an ninh hạt nhân và cam kết sẽ tiếp tục làm việc với nhau để tăng cường cấu trúc an ninh hạt nhân toàn cầu. Hai bên có ý định thành lập Uỷ ban hỗn hợp Hoa Kỳ-Việt Nam về hợp tác hạt nhân dân sự để tạo điều kiện cho việc thực hiện các Hiệp định 123.

Hai nước cam kết sẽ duy trì sự thành công trong hợp tác và lãnh đạo dưới Chương trình nghị sự An ninh y tế toàn cầu (GHSA), đặc biệt đối với sự hợp tác của các trung tâm hoạt động khẩn cấp và phát hiện ổ dịch và phản ứng ở người và động vật với, cũng như thực hiện một lộ trình quốc gia để đạt được từng mục tiêu GHSA. Mỹ cam kết hỗ trợ nâng cao năng lực của Việt Nam trong y học ven biển. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết sẽ làm việc cùng nhau trong khu vực và trên toàn cầu để ngăn chặn, phát hiện và ứng phó với các mối đe dọa đại dịch, cả hai nước khẳng định sẽ thực hiện sự đánh giá chung về những nỗ lực trong năm 2016.

Cả hai quốc gia cũng khẳng định lại cam kết cùng hành động chống buôn bán động vật hoang dã và bảo vệ đa dạng sinh học dưới sự hợp tác mới của Hoa Kỳ và Việt Nam để phòng chống buôn bán động vật hoang dã.

Làm sâu đậm thêm quan hệ đối tác dài hạn

Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện giữa Hoa Kỳ-Việt Nam, làm cho nó sâu đậm hơn, thực chất hơn, và hiệu quả hơn để phục vụ tốt hơn cho lợi ích của nhân dân hai nước vì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới.

BT lược dịch

Nguồn:

https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2016/05/23/joint-statement-between-united-states-america-and-socialist-republic

Tuyên bố của các tổ chức xã hội dân sự độc lập về thảm họa quốc gia

Friday, May 6th, 2016

TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỘC LẬP

VỀ THẢM HỌA QUỐC GIA TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG

29-04-2016

          A- Xét rằng:                 

          1- Bắt đầu từ ngày 6-4-2016, trên địa bàn các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế và một phần Quảng Nam đã xảy ra hiện tượng nhiều loài cá sống ở tầng đáy và vùng duyên hải (có cả cá voi) chết hàng loạt trôi vào bờ. Cá, ngao nuôi trong đầm gần biển và lồng bè trên biển cũng đồng số phận, gây ô nhiễm môi trường chưa từng thấy và hết sức nghiêm trọng. Song song đó, một thợ lặn thi công xây dựng đê chắn sóng ở cảng Sơn Dương (Hà Tĩnh) đã qua đời hôm 24-04. Ngày 26-04, 5 thợ lặn khác tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã phải vào bệnh viện sau khi lặn từ khu vực biển Vũng Áng lên. Ít nhất đã có hơn 20 trường hợp cấp cứu ở huyện Phúc Trạch (Quảng Bình) vì ăn các loại hải sản nghi nhiễm độc. Cũng khoảng 200 thực khách dự tiệc khai trương một nhà hàng tại huyện Quảng Trạch bị trúng độc sau khi thưởng thức các món cá biển.

          Từ cả tháng nay, hàng vạn ngư dân phải đưa thuyền lên bờ phơi nắng và nhịn đói, đời sống họ hoàn toàn bị đảo lộn; các đầm và bè cá bị mất hàng chục tỷ đồng. Trong khi chưa có thống kê chính thức về tổng mức thiệt hại, ước tính sơ khởi của Hà Tĩnh cho biết đã có 37 ngàn cá giống, 90 vạn tôm giống, 20 vạn ngao giống bị nhiễm độc mà chết, trị giá khoảng 4,7 tỷ đồng.

          Công luận cho rằng nguyên ủy của tất cả vụ việc chính là nhà máy gang thép Hưng Nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) do Đài Loan và Trung Quốc đầu tư dưới danh nghĩa tập đoàn Formosa. Nơi đây, hôm 04-04, một ngư dân đã phát hiện một đường ống xả thải khổng lồ chôn ngầm dưới biển đang phun rất mạnh một thứ nước màu vàng đục, có mùi hôi thối, ngửi vào thấy ngạt thở. Tập đoàn Formosa sau đó đã thừa nhận rằng hàng ngày họ xả 12.000m3 nước thải ra biển và gần đây, để cọ rửa hệ thống dẫn nước này, họ đã sử dụng 300 tấn hoá chất mà theo một số chuyên gia là có nhiều loại cực độc (Tuổi Trẻ 24-04-2016).

          2- Đang khi ấy thì nhà cầm quyền Cộng sản lại phản ứng hết sức khó hiểu. Nhiều quan chức trung ương lẫn địa phương hoặc đã đưa ra những cảnh báo muộn màng (ngày 20-04, thứ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường mới yêu cầu các địa phương có cá chết phải tuyên truyền rộng rãi để người dân không sử dụng chúng làm thực phẩm hay thức ăn gia súc); hoặc những trấn an giả dối (ngày 23-04, thứ trưởng Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn bảo rằng cá bị nhiễm độc đều đã chết và đã được chôn nên bây giờ bắt được cá sống thì có thể ăn, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cho biết nhiều loại thủy sản vẫn sinh trưởng bình thường trong các lồng bè ở Vũng Áng và người dân có thể yên tâm tắm ở vùng biển này); hoặc những tuyên bố mâu thuẫn (Thứ trưởng Bộ TN-MT khẳng định đường ống xả thải ra biển của Formosa đã được cấp phép, đang khi  Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường của bộ cho hay nhà máy này chưa được phép xả thải. Thanh Niên 23-4-2016).

          Dù thảm họa xảy ra từ hôm 06-04, nhưng đến ngày 26-04, đoàn công tác của Bộ Công thương mới đến kiểm tra công ty Hưng Nghiệp sau khi đã báo cho họ trước 4 ngày (RFA 23-04-2016). Còn Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn thì cho biết khu công nghiệp Vũng Áng có yếu tố nước ngoài nên đoàn công tác không vào kiểm tra được !?! Riêng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì ngày 22-04 mới đến Vũng Áng nhưng chỉ để đôn đốc dự án xây cảng Sơn Dương và còn khen Hà Tĩnh đi đúng hướng, chứ tuyệt không có một lời nào về tình trạng cá biển chết thảm chất đầy bờ bãi và tiếng kêu của dân chúng đang cất lên ngút trời. Còn tân chính phủ thì trong cuộc thị sát ở tỉnh Hà Tĩnh hôm 24-04, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng mới cam kết sẽ ‘xử lý nghiêm’ thủ phạm, và hôm sau, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mới chỉ thị các địa phương phải hỗ trợ ngư dân bị thiệt hại và nhanh chóng đưa ra kết luận để có biện pháp thích đáng. Tối 27-04, Bộ TN-MT đã tổ chức 1 cuộc gặp gỡ báo chí trong 10’ để chỉ đọc một thông cáo chính thức cho hay rằng vụ cá chết ở các tỉnh miền Trung chưa có bằng chứng liên can đến Formosa!

          3- Nhưng chính Formosa hiện bị xem là nghi can số một. Tập đoàn này, cuối năm 2012, đã được nhà cầm quyền giao cho 2000 ha đất tại Vũng Áng để xây nhà máy gang thép Hưng Nghiệp và 1,200 ha mặt nước để làm cảng Sơn Dương. Dự án đã khiến cho 3,000 gia đình bị thu hồi đất, giải tỏa nhà, ảnh hưởng đến cuộc sống của khoảng 20,000 người. Chưa hết, Formosa còn được dành nhiều ưu đãi: thuê đất 70 năm nhưng từ năm thứ 16 mới phải trả (80 đồng/m2); miễn nộp thuế thu nhập trong 4 năm và 9 năm sau đó giảm một nửa, được đem cả hàng chục ngàn nhân công từ Trung Quốc sang làm việc, được hoạt động như một đặc khu mà các cơ quan chức năng của Việt Nam không dễ vào để kiểm tra an toàn môi trường cũng như mọi hoạt động của nó. Đang khi đó, Vũng Áng cũng là một yếu huyệt về an ninh quốc phòng!

          Thế nhưng tập đoàn Formosa từng có những thành tích bất hảo. Năm 1998 họ đã đưa khoảng 5000 tấn chất thải độc hại kể cả thủy ngân vào thị trấn Sihanoukville – Campuchia, gây nên cuộc khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng ảnh hưởng đến hơn 1000 cư dân bản địa. Hồi tháng 09-2009, chính quyền Hoa Kỳ tại hai bang Texas và Louisiana đã buộc Formosa Plastics chi hơn 10 triệu đôla để xử lý vi phạm thải chất độc ra không khí và nguồn nước tại hai nhà máy của họ. Nên cũng trong năm này, tập đoàn bị trao giải “Hành tinh đen” do Ethecon, một cơ quan bảo vệ sinh thái ở Đức dành cho những cá nhân/tổ chức đã có những hành động phá hủy môi trường.

           Chính vì não trạng đó mà hôm 25-4, khi bị chất vấn vì sao từ khi nhà máy hoạt động, vùng nước quanh đường ống xả thải ngầm ra biển chẳng còn tôm cá hay sinh vật, ông Chu Xuân Phàm – giám đốc đối ngoại của Formosa – đã có những phát biểu đầy thách thức ngang nhiên và thừa nhận trắng trợn: Muốn bắt cá bắt tôm hay muốn xây dựng một ngành thép hiện đại, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được. Hồi xưa, khi giải phóng mặt bằng đã tính phương án hỗ trợ ngư dân chuyển sang nghề khác, sao cứ phải đánh bắt cá quanh vùng biển này?”.

          B- Từ những vụ việc trên, các tổ chức xã hội dân sự độc lập nhận định:

          1- Đây là một khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng, vì nó ảnh hưởng hết sức tai hại đến hiện tại cuộc sống của người dân và tương lai phát triển của đất nước:

          Việc ô nhiễm nước biển (mà rồi đây sẽ lan tới vịnh Hạ Long và mũi Cà Mau do dòng hải lưu chảy hai chiều theo mùa) đã và sẽ hủy diệt mọi sinh vật trong lòng Đông hải chưa biết đến bao lâu mới phục hồi, nó cũng giết chết ngành chăn nuôi hải sản của cư dân ven biển. Đang khi đó thì việc đánh bắt xa bờ từ lâu đã trở thành bất khả do sự hoành hành của Trung Quốc. Điều ấy khiến Việt Nam mất đi nguồn thực phẩm đã nuôi sống dân tộc từ hàng ngàn năm qua, và cũng mất luôn nguồn thủy sản xuất khẩu!

          Việc ô nhiễm nước biển cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất muối và nước mắm lẫn chất lượng của hai sản phẩm này, hai thứ gia vị quan trọng mà 90 triệu đồng bào phải sử dụng thường nhật. Điều này tạo nên một hiểm họa lớn lao cho sức khỏe của giống nòi dân Việt. Việc ô nhiễm nước biển ngoài ra còn phương hại đến ngành du lịch, vì dọc bờ biển miền Trung có rất nhiều khu nghỉ dưỡng. Và rồi đây, có người dân nào còn dám đi tắm biển?

          2- Đây là một thảm họa quốc gia lớn lao, vì từ nay buộc phải lên bờ sinh sống một giới đông đảo mà nhà cầm quyền từng gọi là cột mốc di động của chủ quyền quốc gia trên biển. Đông hải sẽ dễ dàng trở thành nơi Trung Quốc mặc sức tung hoành để cuối cùng chiếm trọn như mưu đồ từ lâu của họ. Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia ven biển với một kẻ thù trong biển và một kẻ thù ngoài biển.

          3- Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bảo bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo.

          4- Đây là một cơ hội để tái khẳng định: Mọi người sinh ra đều có quyền được sống trong một môi trường sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái. Quyền đó là một phần không thể thiếu trong tổng thể quyền con người, bao gồm quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được cung cấp thực phẩm, quyền có nước sạch và quyền được bảo đảm an toàn vệ sinh. Không có môi trường lành mạnh, con người không thể sinh tồn để thực hiện các quyền tự do và khát vọng của mình.

          Ngoài ra, môi trường là điều kiện tiên quyết để thụ hưởng quyền con người. Trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ nhân quyền, nhà nước phải bảo đảm mức độ an toàn cần thiết về môi trường để người dân sinh sống. Đây là bổn phận không thể tránh né của nhà cầm quyền. Thứ đến, trong các quyền con người, quyền được tiếp cận thông tin, quyền tham gia vào tiến trình ra quyết định và quyền tìm kiếm công lý khi xảy ra sự tàn phá môi trường là những quyền cơ bản để người dân xây dựng môi trường lành mạnh cho cuộc sống của mình. Đây là quyền bất khả xâm phạm của công dân.

          C- Do đó, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tuyên bố như sau:

  1. Tập đoàn Formosa phải chấm dứt ngay lập tức các hành động gây nên sự tàn phá môi trường; phải thực hiện mọi biện pháp tái lập môi sinh trong sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái cho con người lẫn các loài sinh vật tại các vùng biển bị tác hại; phải bồi thường mọi thiệt hại về môi trường cũng như sinh mạng và đời sống vật chất của người dân tại các vùng biển bị tác hại.
  2. Nhà cầm quyền cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ, cứng rắn, không vì lợi ích nhóm mà nhu nhơ với Formosa, không để Formosa thi hành việc xả thải gây ô nhiễm từ từ thay vì gây độc cấp tính như vừa qua, bởi lẽ hậu quả của biện pháp đối phó này sẽ là cá, người và biển chết chầm chậm; phải sẵn sàng xoá bỏ dự án Formosa, nếu những nguy hiểm tiềm tàng mà dự án gây ra không thể triệt tiêu được; kỷ luật các quan chức trung ương và địa phương vô trách nhiệm và có thể có tham nhũng, tiêu cực trong việc chấp thuận dự án Formosa và trong việc xử lý vụ đầu độc biển. Trước mắt, nhà cầm quyền phải ban bố tình trạng khẩn cấp về môi trường, nhanh chóng xác định nguyên nhân và thủ phạm gây ra hiểm họa, khởi tố hình sự vụ án đặc biệt nghiêm trọng này, công bố chính xác thiệt hại do vụ ô nhiễm gây ra, mời các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm trong việc điều tra ô nhiễm môi trường để có những đánh giá độc lập.
  3. Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, các tổ chức xã hội và chính trị độc lập, các cộng đồng tôn giáo, các nhà báo tự do, xin hãy tham gia bày tỏ thái độ bất khoan nhượng đối với những hành động gây tác hại môi trường sống lúc này cũng như trong tương lai (kể cả dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, dự án nhà máy điện nguyên tử và dự án các đập thủy điện…). Xin hãy tham gia cách ôn hòa nhưng quyết liệt vào mọi hình thức: viết bài, lên tiếng, hội luận, chụp hình với khẩu hiệu, nhất là biểu tình vào ngày 01-05 tới.

          Dân Việt chúng ta quyết không chọn con đường tăng trưởng kinh tế với cái giá hi sinh môi trường đất nước, quyền lợi dân nghèo, chủ quyền quốc gia. Dân Việt chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cầm quyền ngu dốt, tham lam, bán rẻ dân tộc vì tham vọng cá nhân, lợi lộc và phe đảng. Dân Việt chúng ta quyết không chịu chết thảm như những con cá nhiễm độc ở biển Đông lúc này!

          Việt Nam, ngày 29 tháng 4 năm 2016.

          Các tổ chức xã hội dân sự độc lập đồng ký tên

01- Bach Dang Giang Foundation. Đại diện: Ths Phạm Bá Hải.

02- Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: Giáo sư Phạm Xuân Yêm.

03- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Ts Nguyễn Quang A

04- Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ. Đại diện: Ms Nguyễn Hoàng Hoa

05- Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần tuý. Đại diện: Ông Lê Quang Hiển

06- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Ms Nguyễn Trung Tôn

07- Hội bảo vệ Quyền tự do Tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân

08- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng

09- Hội Cựu tù nhân Lương tâm. Đại diện: Bs Nguyễn Đan Quế, Lm Phan Văn Lợi.

10- Hội Dân oan đòi quyền sống. Đại diện: Bà Hồ Thị Bích Khương.

11- Hội Giáo chức Việt Nam. Đại diện: Nhà giáo Vũ Mạnh Hùng

12- Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam. Đại diện: Ts Phạm Chí Dũng

13- Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Đại Diện:  Bà Huỳnh Thị Xuân Mai

14- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Ks Đỗ Nam Hải. Nv Nguyễn Xuân Nghĩa.

15- Mạng lưới Blogger Việt Nam. Đại diện: Cô Phạm Thanh Nghiên.

16- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Lm Nguyễn Hữu Giải.

17- Nhóm Người Bảo vệ Nhân quyền. Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ

18- Phong trào Liên đới dân oan Việt Nam. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh

19- Tăng đoàn Giáo hội PGVNTN. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh.

20- Tổ chức Bảo vệ Tôn giáo và Sắc tộc. Đại diện: Ông Huỳnh Trọng Hiếu

          Cá nhân ký tên:

01- Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội.

02- Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, Đà Lạt.

03- Nhà báo tự do Nguyễn Minh Cần, Nga.

04- Nhà báo Kha Lương Ngãi, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn.

05- Nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu.

Tuyên Cáo của CĐNVQG/LBHK về thảm họa môi trường

Friday, May 6th, 2016

TUYÊN CÁO

VỀ THẢM HỌA MÔI TRƯỜNG, THẢM HỌA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM 

Trong những ngày gần đây đã xảy ra một đại hoạ chưa từng thấy trong lịch sử đất nước Việt Nam:

  • Từ đầu tháng 4/2016, nhiều tấn tôm cá đủ loại đã hàng loạt chết dọc theo bờ biển các tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, đến Quảng Nam. Hiện tượng này đang lan dần xuống phía Nam. Nhiều người đã trúng độc, và có người đã tử vong, do tiếp xúc với môi trường ô nhiễm. Hằng chục ngàn ngư dân thất nghiệp và đang chạm trán với nạn đói. Nhiều dấu hiệu cho thấy nguyên nhân là do hóa chất thải ra từ nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, Vũng Áng (Hà Tĩnh) của công ty Formosa Đài Loan với vốn đầu tư của Tàu Cộng. Hậu quả sẽ rất nghiêm trọng cho nền kinh tế, du lịch và an ninh của đất nước, nhất là cho sức khoẻ của dân tộc Việt Nam trong hiện tại và lâu dài trong tương lai .
  • Nhà cầm quyền CSVN đã phản ứng hết sức chậm chạp, lúng túng, không đưa ra được một giải pháp nào, bộc lộ hẳn tinh thần vô trách nhiệm, bao che tham nhũng, tùng phục ngoại bang, không màng đến quyền lợi của người dân. Thảm họa này chỉ là mặt nổi của nhiều thảm họa tiềm ẩn khác đến từ các dự án nhượng đất, nhượng biển, nhượng rừng, ban đặc quyền đặc lợi cho các công ty ngoại quốc thiếu trách nhiệm, đặc biệt là từ Tàu Cộng với phương châm nô lệ và bán nước “16 chữ vàng và 4 tốt”.
  • Đồng bào trong nước đã cấp tốc phản ứng bày tỏ sự quan tâm và bất mãn cùng độ trước đại hoạ ô nhiễm, nhưng đã bị nhà cầm quyền CSVN ngăn cấm, bắt bớ, đánh đập dã man.

Thảm họa ô nhiễm tại Vũng Áng và những tai hoạ ô nhiễm khác sẽ xảy ra trong tương lai rất gần đều là hậu quả tất yếu của chế độ CSVN độc tài, toàn trị và tham nhũng. Người dân không được quyền lên tiếng, quyền quản lý đất nước, quyền thay đổi chính thể bằng lá phiếu bầu cử tự do.

Trước những sự kiện này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ long trọng tuyên cáo:

  • Đòi nhà cầm quyền đảng CSVN phải (1) tức khắc chấm dứt hoạt động của nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, tại Vũng Áng, của tập đoàn Formosa, và (2) chấm dứt hoạt động của tất cả các cơ sở khác trên toàn quốc gây ô nhiễm trầm trọng cho môi sinh tác hại đến sức khoẻ và an ninh của dân tộc trong hiện tại và tương lai.
  • Đòi nhà cầm quyền phải (1) nhanh chóng làm sạch môi trường để trả lại sinh kế cho ngư dân, và (2) bắt buộc tập đoàn Formosa bồi thường mọi thiệt hại cho các nạn nhân hành nghề cá.
  • Triệt để ủng hộ đồng bào trong nước đang đồng loạt đứng lên đòi quyền hưởng môi trường trong lành, an cư lạc nghiệp, và quyền giải quyết tận gốc rễ chế độ hiện nay để có cuộc sống tự do và dân chủ.
  • Kêu gọi tất cả cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, đảng phái, và đồng bào mọi giới tại hải ngoại phản ứng nhanh chóng và thích đáng để cùng nhau liên kết tạo sức mạnh yểm trợ đồng bào trong nước sớm đạt được các mục tiêu nói trên.
  • Thỉnh cầu Cơ Quan Liên Hiệp Quốc, các quốc gia dân chủ trên thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, khẩn cấp can thiệp để bảo vệ sức khỏe của dân và phục hồi quyền làm người cho dân tộc Việt Nam.

Ngày 5 tháng 5 năm 2016

                        BS Võ Đình Hữu                   BS Đỗ Văn Hội          Ô. Lưu Văn Tươi

                        Chủ Tịch HĐĐB                    Chủ Tịch HĐCH        Chủ Tịch HĐGS 

Và các Cộng Đồng Thành Viên

Nhân kỷ niệm 25 năm sụp đổ bức tường ô nhục Bá Linh.

Thursday, April 28th, 2016

Bối cảnh lịch sử của nước Đức sau Đệ Nhị Thế Chiến :

Cuối Đệ Nhị Thế Chiến vào ngày 8.5.1945 nước Đức sau khi đầu hàng   bị chia ra làm 4 phần  do 4 Đồng minh quản lý: Hoa Kỳ , Anh , Pháp và Nga . Berlin là  Thủ Đô nước Đức nên cũng bi chia ra làm 4 như trên , Nga trấn giữ vùng Đông Bá Linh .

Đến ngày 30.6.1946 Nga quyết định vạch ra đường ranh giới giữa Đông và Tây Đức và từ ngày 29.10.1946 người  ra vào vùng Nga chiếm đóng phải có giấy Thông Hành Liên Vực (Interzonenpass ) mới được di chuyển  và chỉ có giá trị 30 ngày .

Từ đó xảy ra liên tục những va chạm giữa Nga và ba Đồng Minh còn lại.

Vào ngày 20.6.1948 Đồng Minh Hoa Kỳ Anh Pháp cho đổi Reichmark thành D-Mark ở toàn vùng của mình . Để trả đũa lại Nga cũng cho đổi Reichmark thành tiền Deutsche Mark vào ngày 23.6.1948 và muốn toàn Bá Linh phải sử dụng tiền này . Vì Đồng Minh Hoa Kỳ Anh Pháp không đồng ý ,  nên Nga trở mặt ra lệnh phong tỏa Berlin vào ngày hôm sau  24.6.1948 . Tất cả đường bộ ra vào Berlin đều bị cấm không cho qua lại khiến cho Đồng Minh HoaKỳ Anh Pháp phải lập cầu không vận cho Berlin ngay hôm  25.6.1948 . Cầu Không vận này kéo dài hơn  một năm , khi Nga dỡ bỏ lệnh phong tỏa Berlin  vào ngày 12.5.1949 thì cầu Không vận vẫn tiếp tục tiếp tế cho Berlin tới ngày 30.9.1949 mới chấm dứt nhiệm vụ.

Trong khi đó 65 Nhân Sĩ trong một  cơ quan gọi là Parlamentarischer Rat  dưới sự lãnh đạo của Konrad Adenauer soạn thảo từ 1.9.1948 bộ Luật gốc ( das Grundgesetz ) làm căn bản cho Hiến pháp nước Đức  . Cho tới ngày 24.5.1949 bộ Luật gốc được trình duyệt và thông qua , đánh dấu cho ngày hình thành  nước Cộng Hòa Liên Bang Đức . Trước đó vào tháng 4.1949 toàn bộ Quân Đội Đồng Minh vùng phía Tây Hoa Kỳ Anh Pháp đã rút đi để nhường quyền cho chính phủ Đức. Ngày 12.9.1949 Quốc Hội Cộng Hòa Liên Bang Đức đã bầu chọn  Theodor Heuss làm Tổng Thống ( Bundespresident ) và ba ngày sau đó 15.9.1949  Konrad Adenauer được bầu chọn làm  Thủ Tướng ( Bundeskanzler )  đầu tiên của CHLB Đức .

Ngày 7 10.1949 nước Cộng Hòa Nhân Dân Đức cũng được hình thành và Wilhelm Pieck là Tổng Thống  đầu tiên ( President ) của nước này. Ngày 26.5.1952 phía Đông Đức quyết định đóng cửa ranh giới Đông Tây , chỉ ở Berlin người ta vẫn còn được phép qua lại ranh giới  .

Vào ngày 17.6.1953 xảy ra cuộc nhân dân tổng nổi dậy ( Volksaufstand ) tại Berlin và các vùng có nhiều Công Nhân như Halle ,Magdeburg , Dresden , Leipzig  để chống lại chính quyền Cộng Sản . Số người tham dự được ước đoán khỏang 400.000 tới 1,5 triệu người.  Quân đội Nga và Đông Đức đã dùng xe tăng đàn áp thẳng tay khiến cho số người bị bắn chết  lên đến  34 người , ngoài ra còn có 40 người bị xử tử tại chỗ và cả trăm người bị đày  khổ sai ở Siberien. Tới tháng 1.1954 lại có 1.526 người đem ra xử trước Tòa án Đông Đức , có 2 người bị xử tử vả 3 người bị tù chung thân , phần còn lại đều bị kết án tù. Sự tàn ác với dân chúng của chế độ Cộng Sản Đông Đức và  Nga đã dể lại một vết nhơ trong lịch sử nước Đức. Ngày nay ở Berlin  vẫn còn tên Đại Lộ 17.6 là một con đường lớn chạy thẳng đến Brandenburger Tor, nơi  mà hầu như quốc khách nào của  Berlin đều phải chạy qua khi muốn đến tiếp xúc với Tổng Thống Thủ Tướng hay Quốc Hội. Chính Nguyễn Tấn Dũng , Hồ Cẩm  Đào, Tập Cận Bình   ..cũng đã được đưa đi trên con đường này  .

Sau đó chính quyền nước Cộng Hòa Nhân Dân Đức đã tìm mọi càch ngăn cản người dân Đông Đức đi qua phía Tây Đức. Tới một lúc thì chẳng đặng đừng chính quyền Đông Đức ra lệnh đóng cửa  biên giới và bắt đầu xây bức tường ô nhục Bá Linh vào ngày 13.8.1961. Người  ra lệnh xây bức tường nêu lý do là để ngăn chận  những kẻ phát xít phương Tây vào Đông Đức  , nhưng sụ thật là họ chỉ muốn trói dân ở lại với chế độ Cộng Sản .

Trong thời gian Chiến Tranh Lạnh sau này  đã có hai Tổng Thống Hoa Kỳ đến viếng bức tường Bá Linh , người đầu tiên là John F Kennerdy dứng trước Brandenburger Tor ngày 26.6.1963 với câu nói bất hủ “ich bin ein Berliner „ và  24 năm sau là Ronald Reagan ngày 12.6.1987  với câu „ Herr Gorbatschow , tear down the Wall „

Nói chung bức tường Bá linh tồn tại 28 năm từ 13.8.1961 đến 9.11.1989  , có chiều dài  tổng cộng 167,8km mà phần chia Đông Tây Bá Linh chiếm khoảng 43km  , có cả thảy 13 cổng qua lai nhưng bị đóng kín và canh gác cẩn thận bởi các lính Đông Đức. Họ được phép bắn vào người cố ý lại gần bức tường.

Sống ở Tây Berlin tuy vẫn thoải mái như mọi nơi trên  đất nước CHLB Đức , hồi đó lại còn được hưởng Berliner Zulage là tiền phụ cấp khó khăn nên tiền lương thường cao hơn bên Tây Đức ,  nhưng mỗi lần phải đi ra khỏi Berlin là cả một sự khó khăn  vì bị  bắt buộc phải đi qua con đường Xa Lộ xuyên qua Đông Đức. Vào Xa lộ này là phải  đi thẳng không được dừng tùy tiện và chỉ được đổ xăng hay vào nghỉ  tại những trạm đã được quy định.  Có một  xa lộ chính đi thẳng ra Helmsted , Hannover. Quãng đường chỉ dài  khoảng 200km , nhưng sự kiểm soát lúc vào và ra khỏi Xa lộ thì rất phiền toái vì phải xếp hàng chờ đợi rất lâu và vì  sự hống hách trì hoãn của Cảnh sát Đông Đức . Ngưới ta phải làm thủ tục  để nhận Transitvisum ( giấy thông hành trên xa lộ xuyên Đông Đức) khi  ra khỏi thì phải trả Transitvisum lại. Các lính Cảnh Sát kiểm soát rất gắt gao và khó chịu   ; khi thấy một bộ mặt nào không ưa là họ cho mời xe tách  ra khỏi hàng  và cho đứng  đó cho tới khi họ muốn thì  cho đi lại . Đứng mà không kêu ca được gì cả . Họ làm quyền thế cứ  y như là các cán bộ  công an cảnh sát  ở  Việt Nam bây giờ . Bề gì thì cũng là một lò với nhau. 

Nguyên nhân làm sập đổ bức tường Bá Linh 

Trong thế giới này chỉ tiếc là đời sống con người quá ngắn ngủi nên chúng ta không được nhìn thấy được hết cái đinh luật thiên nhiên chi phối vào đời sống con người. Bức tường ô nhục Bá Linh đã sập đổ cũng do định luật thiên nhiên đó. Nguyên nhân của cái phút giây lịch sử đó đã bắt nguồn từ nhiều sự kiện  cùng xảy ra một lúc : từ sự tự hủy của vật chất theo tháng năm , từ sự sinh lão bệnh tử của con người , từ tấm lòng biết  hướng về lẽ phải , từ sự kiên trì  tranh đấu của toàn dân , từ  những sự kiện tầm thường đến đáng buồn cười .. đã xảy ra như một xâu chuỗi liên tục để tạo ra lịch sử.

1.-Nguyên nhân xa nhưng lại là then chốt của vấn đề:

Giữa Hungary và Áo  có một ranh giới tiếp cận dài 270km  mà hàng rào ranh giới đã bị hư hỏng mục nát từ năm 1987 . Tuy có gắn chuông báo động nhưng thường lại là báo động sai , trong khi hàng năm vẫn có tới 2.000 người Đông Đức vượt hàng rào này thành công qua Áo. Vì vậy chính phủ Hungary đã ký một sắc lệnh vào tháng 2.1989 là sẽ dỡ bỏ hàng rào ranh giới này. Lúc đó chính phủ Đông Đức vẫn yên chí đó chỉ là một quyết định suông để ve vãn phương tây , nhưng không ngờ đến ngày 11.9.1989 hàng rào này thực sự được dỡ bỏ hẳn. Trong vòng 3 tuần sau khi dỡ hàng rào biên giới có tới 25ngàn người Đông Đức chạy trốn qua Áo . Dân Hungary thì không có nhu cầu vượt biên vì họ đã có sẵn một Thông Hành QuốcTế do chính phủ cấp , muốn đi đâu cũng được.

2.- Nguyên nhân từ trong Đông Đức : Montagdemo( Biểu tình vào mỗi thứ Hai )  

Song song với sự kiện trên là vào ngày thứ Hai  4.9.1989 sau khi làm lễ ở nhà thờ Nikolai Kirche ở Leipzig có khoảng 1.000 người giương biểu ngữ “ für ein offenes Land mit freien Menschen= cho môt đất nước thông thoáng với những con người tự  do “ và “ Wir wollen  raus=Chúng tôi muốn đi ra” sau đó bị cảnh sát chìm bao vây họ đổi thành khẩu hiệu “ Stasi raus= Công an cút đi”, và từ đó cứ mỗi thứ Hai là họ lại tụ tập trước nhà thờ ở Leipzig để biểu tình , sau đó lan rộng qua các thành phố Đông Đừc khác. Tới ngày 2.10.1989 con số ngưới biểu tình ở Leipzig lên đến 15.000 người  .

Ngày 7.10.1989  là  ngày lễ lớn kỷ niệm 40 năm thành lập Đông Đức  với duyệt binh và biểu diễn lực lượng võ trang với  xe tăng , súng máy , máy bay …  bên cạnh buổi lễ trang trọng đó vẫn có xảy ra  “ lộn xộn “ gần bên khán đài nơi Honecker và Gorbatschow , có nhưng tiếng kêu trong đám đông  “ Gorbatschow , cứu chúng tôi”. Công an cảnh sát đã được lệnh đàn áp thẳng cánh những người biểu tình này.

Sau đó hai  ngày , ngày 9.10.1989 , số người đi biểu tính ở Leipzig lên đến 70.000 người. Lúc đó ở bên Tây Đức ai cũng hồi hộp hướng về Leipzig vì liên tưởng đến ngày 17.6.1953 người dân Đông Đức đã bị đổ máu dưới  sự đàn áp dã man  của xe tăng Nga Nhưng may thay điều đó đả không xảy ra , vì Gorbatchow, với mục tiêu giảm bớt chiến tranh lạnh với phương tây trong chủ trương Glasnow=mở cửa và Perestroika = đổi mới ,  đã ra lệnh cho lính Nga không được can thiệp vào nội bô Đông Đức.

Đến ngày 4.11.1989  có một triệu  người biểu tình ở Alexander Platz  Berlin với khí thế rất mạnh  , từ khẩu hiệu “ Wir sind das Volk = chúng ta là  nhân dân  “đã trở thành “wir sind ein Volk= chúng ta là một dân tộc ”  .

Ngày 6.11.1989 có dấu hiệu hoảng sợ trong bộ chính trị Đông Đức , một số hồ sơ mật đã bị  cho hủy. Ngày 8.11.1989 bộ chính trị trung ương từ chức và dự định bầu lại bộ chính trị mới.

3.-Sự kiện  trong toà Đại sứ CHLB Đức tại Tiệp khắc:

Số người ùn ùn bỏ Đông Đức  ra đi theo hướng Đông ngày càng nhiều , một số  leo tường rào vào trú ngụ tại toà Đại sứ CHLB Đức . Đến 30.9.1989 có tới 4000-5500 người ở trong Đại sứ quán . Điều kiên ăn ở  và vệ sinh rất khó khăn , cho nên Genscher , bộ trưởng bộ ngoại giao CHLB Đức đã đến và từ Balkon toà Đại sứ  ông đã tuyên bố một câu đã đi vào lịch sử nước Đức “ toàn thể mọi người được nhập cảnh  vào CHLB Đức “ , mọi người đã ôm chầm nhau nhảy múa vui mừng .

Ngày 3.10.1989 CHLB Đức đã đem một đoàn xe lửa chở tất cả mọi người trong tòa Đại sứ ở Prag về Tây đức. Cái khó khăn là  xe lửa phải đi qua một đoạn đường Đông Đức ở Dresden . Tại đây một số dân chúng địa phương được biết đoàn tàu đi qua nên đã tụ tập đòi trèo lên xe lửa đi theo qua Tây Đức , Cảnh sát Đông Đức đã ra tay đàn áp mạnh , nhưng dân chúng cũng lấy gạch đá chống chọi lại. Cuối cùng thì đoàn tàu cũng thoát ra khỏi cuộc  hỗn chiến và đưa mọi người  từ Prag bình an tới Tây Đức,

4.- Nguyên nhân từ sức khỏe của thủ lãnh Honecker:

Honecker sanh năm 1912 , xuát thân  từ  gia đình nông dân , bỏ học sớm  ,  10 tuổi đã tham gia vào đoàn thiếu nhi Cộng Sản. Có một thời gian Honecker xin đi học nghề lợp mái nhà ở người bà con . Học nghề chưa xong Honecker xin gia nhập đoàn thanh niên Cộng Sản vào  lúc 14 tuổi .   Tới 16 tuổi được cử đi học ở trường Lenin bên Nga . Tháng 5.1971 Honecker được bầu làm Đệ  Nhất Bí Thư sau khi  Ullbrich từ nhiệm , 1976 Honecker trở thành Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản.

Ngày 7.7.1989 Honecker  bất ngờ bị Gallenkolik ( đau bụng cấp tính do sạn mật ) và được chở qua Bệnh viện ở Rumanie để điều trị cấp cứu , sau khi ổn định được đưa về bệnh Viện Buch để mổ Túi Mật  .  Trong khi mổ Bác Sĩ đã nghi ngờ là có thể có dấu hiệu ung thư Thận phải., nhưng không can thiệp.  Trong suốt tháng 9 .1989 Honecker không xuất hiện làm việc , Mielke và Mittag đứng ra điều khiển hành chính trung ương .

Trong ngày biểu dương lực lượng kỷ niệm 40 năm thành lập nước Đông Đức Honecker đã  tái xuất hiện  bên cạnh Gorbatschow là khách mời danh dự  , mặc dù trong bụng Honecker chẳng ưa gì chủ trương  Glasnow và Perestroika của Gorbatschow.

Trước sức ép của quần chúng và vì lý do sức khỏe Honecker đã từ chức vào ngày 17.10.1989 .

Giữa tháng11.1989 Hội Đồng Nhân Dân DDR đã họp và tố cáo Honecker về tội tham nhũng và lạm dụng  ngân quỹ quốc gia.

Ngày 3.1.1990 Honecker và vợ bị bắt buộc phải rời  chỗ ở xa hoa tại Wandlitz , ngày 6.1.1990  lại nhập viện và đươc xác định bị ung thư thận.

Ngày 29.1.1990 Honecker bị  bắt nhưng hôm sau 30.1.1990 được thả ra  ngay vì bị bệnh nặng. Khi được thả ra thì Honecker và vợ không còn nhà cửa nữa . Trong một cuốn phim tài liệu  mà phóng viên đã theo sát Honecker trong chuyến đi lang thang tìm nơi trú ẩn này cho thấy sự bất mãn của dân chúng Đông Đức đối với ông Tổng Bí Thư tới mức nào . Có người lấy  nắm tay đấm lên xe , lên cửa kính xe hơi hăm he  .Chưa  bao giờ tính mạng Honecker bị đe dọa dữ dội như lúc này. Cuối cùng  Pastor Uwe Holme, chính Pastor đã từng bị Honecker bỏ tù trước đây ,  đã cho vợ chồng Honecker tạm trú tại nhà thờ Bernau  . Honecker đã ở đây tớỉ 4.1990 vì lý do an toàn  và sau đó dọn qua Quân Y Viện Nga ở Beelitz .

Ngày 30.11.1990 Tòa án CHLB Đức  kết tội Honecker vì đả cho lệnh bắn người vùng biên giới Đông Tây Đức.

Ngày 13.1.1991 Honecker và vợ bay qua Moskau do sự can thiệp của Nga  . Tới tháng 2.1992 thì Honecker đã bị di căn qua Gan.

29.7.1992 Honecker bay từ Moskau về tới  nhà tù Moabit Berlin , còn Margot Honecker bay thẳng qua Santiago / Chile đến nhà con gái Sonja tại đó.

13.1.1993 , sau 169 ngày nằm khám Moabit,  Honecker được thả ra và được đưa qua Santiago với vợ con. Tại đây ông mất ngày 29.5.1994.

Bà Margot Honecker bây giờ 87 tuổi  vẫn cò sống tại Santiago , hưởng mỗi tháng 1.700 Euro tiền luơng hưu của CHLB Đức , có nhà riêng và có người hầu hạ.

 5.-Nguyên nhân kinh tế :

Mặc dù nhận được tiền tiếp viện mỗi năm hàng trăm triệu Đức mã  từ Tây Đức để xây dựng và tu bổ con đưòng xa lộ và đường sắt nối Berlin sang Tây Đức xuyên qua Đông Đức,  cũng như được tiếp hơi đến hàng tỷ Đức Mã  trong thời gian 1983-1984;   và mặc dù đời sống của người dân Đông Đức còn khá hơn đời sống của dân Ba Lan và Rumanie  , nhưng  nền kinh tế của Đông Đức đã dần dần kiệt quệ . Gerhard Schürer là chủ tịch Hội Đồng  Staatliche Plankommission thời đó đã tuyên bố  :  tới 1989 Đông Đức nợ 49 Tỳ Valuta Mark và  mỗi tháng tăng lên 500 triệu Valuta Mark  ; cứ theo đà đó  thì đến năm 1991 Đông Đức sẽ phá sản hoàn toàn.

Trong khi đó thì Gorbatschow đã từ chối không viện trợ kinh tế  cho Đông Đức nữa.

6.-Nguyên nhân gần và rất tầm  thường nhưng lại là yếu tố quyết định tối hậu  :

Lúc 18:53 giờ ngày 9.11.1989 Günter Schabowski , phát ngôn viên DDR tuyên bố trong một cuộc họp báo  có trực tiếp truyền hình  là Công Dân Đông Đức có thể sẽ được qua  Tây Đức thăm viếng người thân . Khi  một phóng viên  hỏi „ lệnh này bắt đầu từ bao giờ“ thì Schabowski chợt trở nên lúng túng  và nói lắp bắp :  „ ab sofort , unverzüglich = ngay lập tức , không trì  hoãn „ , từ đó tin loan ra như cơn bão . Người Đông Đức từ mọi nơi mọi phía dồn về tất cả  cổng thành của bức tường ô nhục và làm áp lực với lính canh gác tại đó. Tới 22:30giờ một cổng ở phiá bắc Berlin , cổng Bornholm , mở ra đầu tiên và sau đó thì tất cả cổng đều được mở ra hết , trừ cổng Brandenburger Tor thì  tới 22.12.1989 mới  được mở. Tại cổng Bornholm chính bà Đương Kim Thủ Tướng Merkel cũng đã lần đầu đi qua đây để đến Tây Berlin.

                                             xx                                       xx

                                                                 xx

Luận bàn:

Qua các yếu tố lịch sử đã được nêu trên đây cho thấy sự sụp đổ bức tường ô nhục Bá Linh là kết quả của một xâu chuỗi sự kiện  theo chiều hướng thiên thời địa lợi nhân hòa khiến sự sụp đổ bức tường  là  đoạn kết  hợp lý của một ván  cờ chót .

Là người Việt Nam có ai không ao ước   có  một ngày nào đó  Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng sẽ bị vướng vào một vòng xoáy khủng hoảng đến nỗi phải tự động rút lui   nhường chỗ cho một thể chế đa nguyên dân chủ  hợp hiến và hợp pháp  .

Trước tình hình trong nước hiện tại nếu chúng ta quan sát kỹ thì cũng có thể nhận ra những dấu hiệu thoái hóa của chế độ Cộng Sản. Chỉ cần tới một thời điểm chín mùi thì quả sẽ rụng mà không cần tới bạo lực.

Những yếu tố bất lợi  của chế độ Cộng Sản Việt Nam là:

1.- Sự khiếm khuyết  của luật pháp trong chế độ Cộng Sản Việt Nam:

Ngày 2.9.1945  là ngày Việt Minh đã cướp công kháng chiến  chống Pháp của toàn dân và cướp chính quyền hợp pháp của Thủ Tướng Trần Trọng Kim để khai sinh ra  chế độ Cộng Sản man rợ đưới cái tên VNDCCH . Tuy rằng họ đã cho ra đời một cái Hiến Pháp   vào ngày 9.11.1946 , nhưng đó chỉ là những sáo ngữ và hệ thống Luật Pháp Hành Pháp và Tư Pháp không được hình thành  , nền Dân chủ không được thực hiện. Thể chế Cộng Sản đã áp đặt lên đầu người dân bằng cách nắm lấy miếng ăn như nuôi một bầy súc vật . Trong chế độ bao cấp con người chỉ còn là những cái Hộ Khẩu . Nói một cách mộc mạc như nhà văn  Tiểu Tử ,  giá trị  một con người với cả một khối óc lương tri chỉ còn là một cái miệng ăn ( không phải là miệng nói )  trong chế độ Cộng Sản. Bảy giờ trước trào lưu tiến hóa của xã hội , trong thời đại Internet bao phủ toàn cầu , trong thời đại suy thoái của Cộng Sản Đông Âu , Cộng Sản Việt Nam phải xoay sở để tồn tại . Ngoài cái Hội Nghị Thành Đô bán nước giữ Đảng , Cộng Sản Việt Nam đã lộ chân tướng của một chế độ vô luật pháp hỗn loạn. Từ cái chiêu bài trị dân theo lối côn đồ , cho công an cảnh sát tay sai  mặc thường phục hành hung  dân chúng hoặc ném đồ dơ bẩn vào nhà dân… thì cái thói côn đồ ấy lại trở nên hoành hành từ trong nội bộ  cơ quan điạ phương khiến trung ương không còn kiểm soát được địa phương nữa. Đó là  định luật   nhân quả .

2.- Chủ thuyết hồng hơn chuyênnhất cùng nhị bạch để  trị dân của Cộng Sản Việt Nam  :

  1. a) Trăm năm trồng người: để củng cố chế độ , Cộng Sản hô hào kế hoạch trăm năm trồng người . Họ trồng một giống người theo kiểu mẫu Mao-it , vô gia đình vô tổ quốc  vô thần và cả vô học nữa . Cộng Sản  muốn con người là công cụ của nhà nước hoàn toàn  , muốn xóa bỏ đạo lý gia đình , xóa biên giới lãnh thổ , xóa lòng tự hào người con đất Việt , xóa sạch  sự hiểu biết của tầng lớp  trí thức  , xóa luôn cả niềm tin vào đấng thiêng liêng. Kết quả của kế hoạch này là một tập đoàn lãnh đạo Cộng sản cuồng chiến nhưng không có khả năng điều hành một đất nước   , một xã hội hỗn loạn : con người trở nên dốt nát  hung dữ , không tin vào lẽ phải điều hay mà lại trở thành  mê tín dị đoan , đạo đức luân lý trong gia đình và xã hội không còn tồn tại.
  2. b) Dân trí:Trong trường học lịch sử bị bóp méo , những lập luận “lưỡi gỗ” nhàm chán không còn thuyết phục được ai nữa . Nhưng môn chính trị kinh điển  về Cộng Sản vẫn là phần chánh trong chương trình đào tạo chuyên môn  . Điều này khiến cho chương trình đào tạo chuyên nghiệp bị thu hẹp lại ,  kết quả là chuyên môn bị kìm hãm , nhân tài bị bóp nghẹt và tài năng cá biệt không được phát triển .
  3. c) Xã hội:.  Chúng ta phải khẳng định là  quốc nạn trộm cắp vặt được nảy sinh từ chế độ bao cấp. Dĩ  nhiên trộm cắp là một bản năng tồn tại của loài  người khi đói  ăn thiếu mặc  . Do  sự cung cấp nhỏ giọt  thời bao cấp nên của cải vật chất trở nên quý hiếm. Từ cái lốp xe đạp , thước vải cũng đổi ra được miếng ăn cái mặc  nên bất cứ vật dụng gì cũng được trưng dụng. Bác Sĩ “ăn” thuốc men , y tá “ăn” kim chích  chăn  mền, thư ký “ăn” giấy bút , nhân viên bưu điện “ăn “ bưu phẩm , thư quà.. Với thói quen “ăn” trong cơ quan như vậy cho nên khi đã bị tiêm nhiễm nặng người ta không còn phân biệt được phải trái , thấy của cải vật chất  là cứ “ chôm “mà không sợ luật pháp  , nên mới xảy ra những vụ người Việt trộm cắp bên Nhật bên Anh nổi tiếng thế giới.

3.- Giai cấp Đảng viên  và tham nhũng :

Trong cuốn “ chuyện thời bao cấp “ của nhà  xuất bản Thông Tấn / Hà Nội  in năm 2007  trang 31”.. Cứ ngỡ rằng thời bao cấp mọi khó khăn được chia đều trong xã hội nhưng khi nghiền ngẫm cơ chế phân phối thời bao cấp với cửa hàng lương thực , hệ thống tem phiếu và quầy hàng tết ở cuộc trưng bày , mới hay rằng nhân dân có tiêu chuẩn riêng và ở mức thấp nhất, tiêu chuẩn của cán bộ , công nhân, viên chức tùy thuộc vào vị trí công tác và đặc thù nghề nghiệp của mỗi người. Cán  bộ cao cấp có cửa hàng phục vụ riêng tại phố Tôn Đản ;  trung cấp tại phố Nhà Thờ , Vân Hồ , Đặng Dung và Kim Liên ; còn cán bộ , công nhân viên chức bình thường mua ở các cửa hàng rải rác trong thành phố.. “như vậy cái ảo tưởng xóa bỏ giai cấp của Cộng Sản chỉ là một cái bánh vẽ để chiêu dụ những kẻ nông nỗi nhất là giới thanh niên sinh viên học sinh tại các vùng đất tự do . Khi vào rọ rồi thì cái giấc mơ “ công bằng bác ái” trong môi trường Cộng Sản trong thực tế chỉ là  những hạt kim cương khi nhìn từ xa   nhưng khi đến gần mới biết đó là những giọt nước mắt.

Khi chế độ bao cấp đã từ từ tự  triệt tiêu vì cái quy chế phản tự nhiên của nó và nhất là sau khi khối Cộng Sản Đông Âu sập đổ, các nguồn viện trợ trao đổi hàng hóa bị cắt đứt  thì Cộng Sản Việt Nam phải biến thái để tồn tại dưới mô hình “ kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”  với những ưu tiên độc đoán trong thị trường cho cán bộ đảng viên cao cấp  để  bóp nghẹt thị trường kinh tế tự do  và tạo sự dung túng lộng hành quyền lực cho  nhóm Đảng Viên và tay chân.

Tham nhũng được hình thành và nuôi dưỡng từ trong  môi trường  độc quyền  đặc lợi , một xã hội hỗn loạn vô luật pháp công minh  tạo ra một nền kinh tế èo uột  tồn tại trên những  ký sinh trùng bòn rút của công làm của riêng , mua quan bán chức…

                                                    xx                                    xx

                                                                      xx

Tóm lại thời   tự hủy diệt chế độ Cộng Sản  Việt Nam đã điểm  ,  thế nước lòng dân  đã và đang tiềm ẩn trong mọi thành phần dân chúng . Khi nào thời và thế đồng nhất hội tụ thì đó chỉ là một câu hỏi về thời gian.

Ngày nay trước sự tiến triển của công nghệ thông tin thì sự độc qưyền chuyển  tải tin tức một chiều từ hệ thống truyền thông của Cộng Sản Việt Nam không còn quan trọng nữa . Những người có khát vọng tìm hiểu về tình hình quốc tế và quốc nội đều có thể cập nhật tin tức hằng ngày trên Internet  mặc dầu có sự cản ngăn của   cả một tập đoàn Công An Mạng . Nhưng những người trẻ tuổi hôm nay đã có đủ khả năng ứng phó và vượt qua những khó khăn này.

Trong không khí đầu năm 2015 chúng ta hãy cầu nguyện cho một nước Việt Nam tự do  , dân chủ và có pháp quyền . Khi  nào mỗi người dân đứng trước luật pháp đếu có quyền lợi và bổn phận ngang nhau  và nhân quyền được tôn trọng tuyệt đối thì ngày đó dân tộc Việt Nam mới có thể ngẩng đầu  so vai với thế giới.

Berlin ngày 01.01.2015

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm

Công Bố Thành Lập Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam

Saturday, April 23rd, 2016

BẢN CÔNG BỐ THÀNH LẬP

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

*** 

NHẬN ĐỊNH RẰNG:

  1.  Sau khi vi phạm Hiệp định Paris để xâm chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn thể dân tộc Việt với một chế độ độc tài toàn trị bạo ngược, tước bỏ mọi quyền tự do căn bản của người dân được long trọng quy định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10-12-1948.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tự cho mình là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước, biến hành pháp, lập pháp, tư pháp, quân đội, công an, báo chí thành công cụ tuyên truyền, khủng bố trấn áp thô bạo những ai tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nhân quyền và dân quyền và cho sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Hậu quả là Việt Nam chẳng có uy tín trên chính trường quốc tế và bị quốc tế thường xuyên lên án về thành tích vi phạm nhân quyền.
  1.   Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương kinh tế quốc doanh là chủ đạo, các công ty nhà nước là ưu tiên, mọi tài nguyên đất đai là sở hữu của nhà nước. Nền kinh tế ngày càng lụn bại, tài chánh ngày càng kiệt quệ, nợ công ngày càng dâng cao, cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Hàng triệu công nhân bị bóc lột sức lao động, hàng chục triệu nông dân bị cướp ruộng cướp đất, hàng triệu thị dân bị cướp nhà cướp cửa. Thực lực kinh tế quốc gia và điều kiện sinh sống của công dân đứng hàng gần chót thế giới.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương khống chế tinh thần của toàn thể xã hội, độc quyền thông tin, độc quyền giáo dục, khuynh loát mọi hình thức văn hóa và các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt trong lĩnh vực tâm linh, đảng cộng sản Việt Nam đã và đang tiêu diệt các tôn giáo chân truyền, thành lập các tổ chức tôn giáo quốc doanh nhằm phục vụ chế độ vô thần, đi ngược với truyền thống của dân tộc. Các tôn giáo không đóng được vai trò lương tâm và giáo dục cho xã hội. Vì thế, dối trá tràn lan, bạo lực tung hoành, văn hóa nghệ thuật và khoa học kỹ thuật chẳng có mấy thành tựu, thế hệ trẻ lớn lên trở thành công dân mất tự do và vô trách nhiệm, không có trí tuệ và đạo đức.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Namtự cho là người chủ tuyệt đối của đất nước, các cán bộ đảng viên biến mình thành những lãnh chúa ra sức bạo hành và tham nhũng. Lực lượng công an là công cụ bạo lực của đảng, ức hiếp và cướp bóc nhân dân, giết người vô tội, xã hội tràn đầy trộm cướp và lừa gạt, môi trường tràn đầy ô nhiễm và độc hại, nhân dân sống lo âu sợ hãi khắp nơi.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngày càng lệ thuộc Trung Cộng về ý thức hệ và chính trị, về kinh tế và tài chánh, về thương mại và kỹ thuật, khiến Trung Cộng chiếm nhiều phần lãnh thổ và lãnh hải, nhiều tài nguyên trên đất và trên biển, nhiều dự án kinh tế và thương mại. Ngoài ra, nhà cầm quyền liên tục đàn áp những công dân biểu tình chống quân xâm lược, bênh vực sự vẹn toàn lãnh thổ, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ chốngTàu và những công dân cảnh báo tai họa từ kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, nguy cơ mất nước quả thật gần kề.

Trước hiện tình bi thảm và nguy ngập đó của đất nước với bao thảm trạng và tệ nạn ấy của quốc gia, để thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn dân trong và ngoài nước, trong phiên họp ngày 28-1-2016 giữa nhiều lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, nhiều đại diện các tổ chức trong và ngoài nước, Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam được thành lập để đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của lịch sử: “Tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền –  chống đế quốc mới Trung Cộng xâm lược để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. 

NAY, HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

long trọng công bố trước quốc dân và công luận quốc tế:

  1. Hội đồng Liên kết Quốc nội và Hải ngoại Việt Nam là một tập hợp của đồng bào trong nước và cộng đồng Người Việt ngoài nước nhằm mục đích:
  • Tranh đấu khôi phục Nhân quyền và Dân quyền tại Việt Nam, thực thi đúng lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và hai Công ước Liên Hiệp Quốc về các quyền Chính trị, Dân sự, Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966.
  • Bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc và sự trường tồn của Dân tộc.
  1. Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại quyết tâm thực hiện các mục tiêu:
  • Góp phần tích cực, tạo sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong công cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho đồng bào và vẹn toàn lãnh thổ của đất nước.
  • Tạo được niềm tin cho các Hội Đoàn, Đoàn Thể, các tổ chức Xã Hội Dân Sự, các phong trào Dân Oan, Công Nhân và Tín Đồ trong nước, khiến họ sẽ tranh đấu tích cực hơn nhờ được Hội đồng Liên kết nói riêng và đồng bào hải ngoại nói chung quan tâm và hỗ trợ.
  • Đáp ứng nguyện vọng của toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước, đang mong muốn một phong trào vì dân chủ và nhân quyền dâng cao và thành tựu tương tự như Liên minh vì Dân chủ của Miến Điện đã thành công gần đây.
  • Vận động Liên Hiệp quốc, chính phủ các nước tự do và các tổ chức nhân quyền quốc tế yểm trợ, làm áp lực chặn đứng những hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền, can thiệp kịp thời cho bất cứ người dân Việt Nam nào bị sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ, giam cầm, xử án bất công.

Kính thưa toàn thể Đồng bào, 

Hơn bốn mươi năm qua, Cộng sản Việt Nam đã rước voi “Mác Lê” giầy mả Tổ, cõng rắn độc “Trung Cộng” cắn gà nhà Dân Tộc, khiến đất nước  trải qua một thời kỳ bi thảm ô nhục nhất trong lịch sử.

Toàn dân Việt Nam phải sống dưới ách thống trị bạo tàn của chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân, phản dân tộc, thế sự đảo điên, xã hội bần cùng, lòng người ly tán, nhân tâm uất hận. Đã thế, tập đoàn cầm quyền lại cam tâm khuyển mã ươn hèn tủi nhục, cúi đầu thần phục, xin làm chư hầu cho phương Bắc, đem lại “Đại Họa” cho Dân Tộc.

Tiền nhân đã viết lên những trang sử oanh liệt hào hùng bằng xương máu của biết bao thế hệ Việt Nam yêu nước. Một Lý Thường Kiệt đã đánh tan tành quân Tống năm 1075, Lê Đại Hành Phá Tống Bình Chiêm, Vua tôi nhà Trần 3 lần chiến thắng đạo quân Mông Nguyên hung hãn nhất trong lịch sử, Quang Trung Đại Đế đã “Đánh cho được để đen răng, Đánh cho được để dài tóc, Đánh cho xe giặc tan tành, Đánh cho quân thù tơi tả… Đánh cho Sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ…”. Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo: “Chỉ Nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền Văn hiến ngàn năm… Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng hào kiệt đời nào cũng có..”. Tập đoàn cầm quyền Cộng sản hèn với giặc ác với dân nhưng toàn dân Việt khí thế hào hùng bất khuất sẽ đứng lên đáp lời sông núi diệt kẻ nội thù, chống quân xâm lược.

Trước tình trạng Tổ Quốc Lâm Nguy Sơn Hà Nguy Biến, toàn thể nhân dân Việt nam trong và ngoài nước, không phân biệt nam nữ, sắc tộc, tôn giáo, địa phương, đảng phái, chính kiến, đoàn kết một lòng, quyết tâm thể hiện lòng yêu nước bảo vệ giang sơn gấm vóc.

Thanh niên sinh viên, Đồng bào dân Oan, Công nhân bị bóc lột đồng loạt đứng lên tranh đấu để giành lại tự do, đòi quyền sống, quyền làm chủ đất nước.

Kính Thưa toàn thể đồng bào,

Là con dân đất Việt lẽ nào chúng ta cam chịu cúi đầu khuất phục chấp nhận thân phận nô lệ, sống kiếp ngựa trâu, để tập đoàn Việt gian phản quốc ngang nhiên dâng hiến đất đai của Tổ Quốc, Dân Tộc bị tiêu diệt, Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới, thế hệ hôm nay sẽ đắc tội với Tổ Tông, với con cháu muôn đời sau.

– Không còn khốn khó thương đau nào hơn thống khổ hôm nay khi 90 triệu đồng bào sống trong ngục tù Cộng Sản!

– Không còn nhục nhã hờn căm nào bằng ô nhục căm hờn hôm nay khi giặc Tàu – Cộng ngang nhiên chiếm đoạt đất đai, biển đảo của chúng ta!

– Toàn dân hãy đứng lên giành quyền làm chủ của nhân dân, để chuyển đổi lịch sử, đón mừng mùa xuân dân tộc trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Toàn dân Việt phải tự quyết định số phận của chính mình và vận mệnh của đất nước chúng ta.

Đại Nghĩa Tất Thắng Hung Tàn

Chí Nhân Phải thay Cường Bạo

Nguyện cầu Hồn Thiêng Sông Núi

Phù trì Dân Tộc Việt Nam

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt.

Việt Nam Ngày 16-4-2016 

Nhằm ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương 10-3 Âm Lịch

Đồng Chủ Tịch:

– HT Thích Không Tánh, Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– LM Phan Văn Lợi, Đồng ChủTịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– CTS Hứa Phi (Cao Đài Chơn Truyền), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– Nhân sĩ Lê Văn Sóc (PGHHTT), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN).

– MS Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành) Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch HĐĐB Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– BS Đỗ văn Hội, Chủ Tịch HĐCH Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Lưu văn Tươi, Chủ Tịch HĐGS Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh, Chủ Tịch UB Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, Cố Vấn CĐNVQGLB

Hoa Kỳ.

– Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh, CT Phong Trào Diên Hồng Thời Đại.

– Phó TS Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây

Ninh Hải Ngoại.

– Nhân sĩ Cao Xuân Khải, PCT Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Tôn Giáo Việt Nam.

– Nhân sĩ Trần văn Đông, TTK Liên Hội Người Việt Canada.

– Nhân sĩ Trần Văn Bính, Hội Người Việt Tự Do Vancouver Canada, Ban Yểm trợ Truyền

Thông Khối 8406.

– BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, CT Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức.

***

Liên lạc:

Email: LienlacQnHn@gmail.com

Website: www.LienketQnHn.org

Thông Báo về “Vietnam War Summit”

Thursday, April 21st, 2016

THÔNG BÁO

Về “Vietnam War Summit”

(Hội Thảo Thượng Đỉnh Chiến Tranh Việt Nam)

tại Thư Viện LBJ, Austin, Texas

Kính thưa:

  • Quý vị Lãnh Đạo các Tôn Giáo, Cộng Đồng, Đoàn Thể,
  • Quý Thân Hào Nhân Sĩ, Truyền Thông Báo Chí và
  • Toàn thể Đồng bào tại Hoa Kỳ, hải ngoại.

Ngày 5 tháng 4, 2016, Thư Viện Lyndon Baines Johnson (LBJ) ở Austin, Texas thông cáo sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam được mệnh danh “Vietnam War Summit” (tạm dịch “hội thảo thượng đỉnh chiến tranh Việt Nam”) từ 26 đến 28 tháng 4, 2016, được Đại Học University of Texas bảo trợ nhằm đưa ra một “cái nhìn thật sự và rõ ràng về chiến tranh Việt Nam”.

Trong buổi hội thảo còn có sự hiện diện của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry với tư cách diễn giả chính. Ông sẽ trình bày sự quan hệ giữa chính phủ Hoa Kỳ và CS Việt Nam, về sự thay đổi kinh tế và xã hội của Việt Nam so với thời kỳ Ông phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ. Buổi hội thảo được tổ chức nhân dịp ngày 30-4 sắp tới và 1 tháng trước khi TT Obama đến thăm Việt Nam.

Ngoài ra, còn có các diễn giả khác như TS Henry Kissinger, cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ thời TT Nixon; Ô. Phạm Quang Vinh, đương kim đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ và Ô. Ken Burns, một nhà làm phim sẽ thực hiện bộ phim tài liệu gồm 10 phần về cuộc chiến tại Việt Nam.

Theo Ông giám đốc thư viện Mark K. Updegrove, mục đích buổi hội thảo nhằm vinh danh các nam nữ chiến binh Hoa Kỳ đã chiến đấu anh dũng tại Việt Nam đồng thời nghiên cứu sự phức tạp của cuộc chiến, để “soi ánh sáng vào cuộc chiến tranh Việt Nam, bài học và di sản của nó” (“Our goal is to shed definitive light on the Vietnam War, its lessons and legacy.”)

Đặc biệt trong danh sách những nhân vật tham dự, còn có một số cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, một số nhân vật  phản chiến nổi tiếng như Tom Hayden (chồng cũ của Jane Fonda cũng là một người phản chiến), ông Peter Arnett, một ký giả phản chiến.

Điều đáng ngạc nhiên là một cuộc hội thảo quan trọng về cuộc chiến tại Việt Nam lại không có một người Việt nào được mời tham dự để góp tiếng nói về vận mệnh của đất nước mình, ngoại trừ Dân Biểu Texas Hubert Vo, một người Việt Nam còn trẻ không trực tiếp tham gia cuộc chiến, như thế, đây có thể là một môi trường thông tin một chiều, thiếu trung thực, để các thành phần phản chiến và thân cộng có cơ hội tuyên truyền cho đảng CSVN hiện nay.

Để đáp ứng sự kiện này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ đề nghị:

1-       Người Việt tỵ nạn chúng ta cần có tiếng nói trong dịp này dưới nhiều hình thức, nêu rõ lập trường, lý do và những nguyên nhân đưa đến cuộc chiến tại Việt Nam. Ai đã gây ra cuộc chiến kéo dài 30 năm (1945-1975), làm thiệt mạng gần 4 triệu người dân Việt Nam, để cuối cùng một chế độ cộng sản vô thần tàn bạo ngự trị đất nước Việt Nam trên 40 năm qua.

2-       Chúng ta không chống cuộc hội thảo nhằm tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam, mà chỉ chống luận điệu một chiều, xuyên tạc của các tên phản chiến, thân cộng và những kẻ bán đứng miền Nam Việt Nam, và đại sứ CSVN tại Hoa kỳ đại diện cho một chính quyền không do dân bầu, hiện đang tiếp tục đàn áp và khống chế dân tộc Việt Nam bằng một chế độ độc tài toàn trị, đưa đất nước đến bờ vực thẳm.

3-       Chúng ta sẽ phải lên tiếng trước công luận đòi hỏi nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam, đòi thả tất cả các tù nhân chính trị hiện đang bị cộng sản giam cầm.

Để đạt muc tiêu này, chúng tôi đề nghị:

1-    Cùng ký vào bản lên tiếng của cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ và trên thế giới dưới hình thức tuyên cáo đăng  trên website, phổ biến trên báo chí và gửi cho ban tổ chức và Ngoại Trưởng John Kerry.

2-    Tổ chức và tham gia biểu tình trước thư viện LBJ trong những ngày có hội thảo.

– Đề nghị cộng đồng tại Austin đứng ra tổ chức và làm phối trí viên.

– Các cộng đồng Việt Nam tại Texas, các tiểu bang lân cận cùng hợp tác và tham dự.

– Đồng bào Việt Nam khắp nơi hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất.

Cộng Đồng Người Viêt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác cùng tất cả cộng đồng, đoàn thể, tổ chức, nhân sĩ và đồng bào tại Hoa Kỳ và hải ngoại nhằm phản bác bất cứ sự kiện phản chiến và thân cộng nào.

Trân trọng.

Hoa Kỳ ngày 15 tháng 4 năm 2016

BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu, 714-928-3038

BS Đỗ Văn Hội, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành , 407-234-3596

Ông Lưu Văn Tươi, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát, 407-491-9299

Xin bấm vào đường dẫn đến bản Tuyên Bố về vấn đề này và ký tên.

Tuyên bố về “họp thượng đỉnh chiến tranh VN”

 

Đính kèm chi tiết về cuộc hội thảo.

http://www.vietnamwarsummit.org

http://www.lbjlibrary.org/events/the-vietnam-war-summit

Ký Tên: Bản Tuyên Bố về”Gặp Mặt Thượng Đỉnh Chiến tranh Việt Nam”

DÂN TỘC VN SẼ CAM LÒNG SỐNG TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT như dân Tây Tạng như thế nầy sao???

Thursday, March 10th, 2016

NẾU CHÚNG TA IM LẶNG ĐỂ BỌN LÊ CHIÊU THỐNG VÀ TRẦN ÍCH TẮC Ở “LĂNG BA ĐÌNH” TIẾP TỤC LÀM TAY SAI CHO TÀU CỘNG THÌ ĐÂY LÀ SỐ PHẬN CỦA CHÚNG TA VÀ CON CHÁU CHÚNG TA..
.
 
MUỐN CHỐNG GIẶC NGOÀI PHẢI DIỆT THÙ TRONG LÀ TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC CS Ở BẮC BỘ PHỦ…
 
 
 
Bọn Chệt Cọng dùng quân dội đàn áp nhân dân Tây Tạng
 


On Wednesday, March 9, 2016 5:35 PM, ‘Mike Duong’ via 1 DĐKT <usaelection@googlegroups.com> wrote:



Thảm cảnh sắp tới của chế độ Putin và nước Nga

Tuesday, February 23rd, 2016
 
Trường Sơn chuyển ngữ
Alexander J. Motyl
Đã từng có thời Tổng thống Nga Vladimir Putin gần như bất khả chiến bại. Tuy nhiên, Putin và chính quyền của ông giờ đây đã kiệt sức, bối rối, và tuyệt vọng. Càng ngày, giới bình luận của cả Nga và phương Tây càng tin rằng nước Nga đang đến gần bờ vực suy thoái sâu, nếu không muốn nói là viễn cảnh sụp đổ hoàn toàn khả thi.

Tổng thống Nga Vladimir Putin chụp ảnh selfie với các thành viên của tổ chức thanh niên quân đội yêu nước “Vympel” (The Pennant), ngày 4 tháng 11 năm 2015. Ảnh: Natalia Kolesnikova

Tổng thống Nga Vladimir Putin chụp ảnh selfie với các thành viên của tổ chức thanh niên quân đội yêu nước “Vympel” (The Pennant), ngày 4 tháng 11 năm 2015. Ảnh: Natalia Kolesnikova
Chuyển biến về quan điểm này hoàn toàn không đáng ngạc nhiên. Năm ngoái, bản chất của chính quyền Nga hiện tại đã hiện rõ qua cách họ cướp vùng Crimea, cũng như lập trường đối đầu của họ trong chính biến Donbas. Khi ấy, nền kinh tế của quốc gia này vẫn duy trì được sự ổn định vốn còn trong giai đoạn trì trệ. Putin đã tìm được cách qua mặt cả giới hoạch định chính sách phương Tây và dư luận nước Nga. Tiếng tăm của ông đã đạt đến đỉnh cao. Bây giờ chỉ có thứ danh tiếng ấy còn gượng được; mọi phương diện khác của nước Nga đã tệ hơn trước rất nhiều. Những biến cố ở Crimea và Donbas đã trở thành gánh nặng với nền kinh tế và tạo nên sự hao hụt không nhỏ về tài nguyên của nước Nga. Cuộc nội chiến ở Ukraine giờ đã đi vào bế tắc. Giá năng lượng đang tới hồi sụp đổ, còn nền kinh tế Nga thì chìm trong suy thoái. Những biện pháp trừng phạt mà Putin khởi xướng để chống lại Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ, và phương Tây giờ chỉ tiếp tục làm tổn hại đến nền kinh tế Nga. Trong khi đó, cách chính quyền Nga can thiệp vào Syria khiến họ càng thêm sa lầy.
Thực tế của nước Nga đương đại có lẽ còn tồi tệ hơn nhiều so với những thông tin trong bài viết sơ sài này về những ngày ảm đạm của xứ sở bạch dương. Đất nước này đang kẹt giữa gọng kìm của ba cuộc khủng hoảng tạo ra bởi những chính sách mang tính đối đầu của Putin, và cách nước Nga giải quyết vấn đề ở Ukraine và Syria chỉ càng làm tình hình thêm trầm trọng.
Cuộc khủng hoảng thứ nhất là cuộc khủng hoảng của nền kinh tế Nga đang rơi tự do. Việc giá xăng dầu không còn khả năng tăng trở lại trong một sớm một chiều đã quá đủ tồi tệ với nước Nga rồi. Nhưng màn sương giữa ban ngày chưa dừng lại ở đó, nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào tài nguyên năng lượng của Nga giờ đã hoàn toàn lạc hậu, không mang tính cạnh tranh, và còn chưa được hiện đại hóa, và điều bi thảm nhất là nền kinh tế này vẫn sẽ ở nguyên tình trạng như vậy chừng nào nó còn là công cụ đắc lực cho giới chóp bu chính trị ở Nga.
Cuộc khủng hoảng thứ hai là cuộc khủng hoảng của chính quyền Putin đang tới ngày tan rã. Hình ảnh của chính quyền độc tài kiểu Putin được hy vọng là có thể tạo ra một trật tự “quyền lực theo chiều dọc” có khả năng duy trì trật tự cho bộ máy hành chính của nước Nga, cũng như loại trừ tham nhũng và tập hợp giới tinh hoa của những vùng thuộc Nga và không thuộc Nga dưới ý chí của Moscow. Tuy nhiên, thực tế là chế độ tập trung quyền lực đã hoàn toàn tạo ra tác dụng ngược, nó đã phân mảnh bộ máy hành chính, khuyến khích giới quan chức theo đuổi lợi ích riêng của họ, và tạo điều kiện cho giới tinh hoa của từng vùng ngày càng trở nên ngỗ nghịch, trường hợp Ramzan Kadyrov, quân tốt của Putin ở Chechnya, là một ví dụ điển hình.
Cuộc khủng hoảng thứ ba là cuộc khủng hoảng của chính Putin, với tư cách là trụ cột của trật tự nước Nga, rõ ràng ông đã không còn giữ được quyền kiểm soát tối thượng. Kể từ sau thời khắc ông quyết định ngăn chính quyền Ukraine ký Hiệp định Liên kết với Liên minh châu Âu năm 2013, ông đã phạm từ sai lầm chiến lược này đến sai lầm chiến lược khác. Hình ảnh nam tính có vẻ hấp dẫn mà ông dày công xây dựng giờ chẳng còn nhiều tác dụng nữa, và nỗ lực động viên những người hâm mộ bằng việc xuất bản sách về những tuyên ngôn của ông, cũng như một bộ lịch Putin trông thật nực cười và tuyệt vọng.
Vấn đề chủ yếu của Putin, cũng như của nước Nga – là vấn đề của một hệ thống kinh tế–chính trị không chịu thay đổi. Một nền kinh tế chỉ có thể chìm trong bất ổn lâu dài như vậy khi bị thao túng bởi một bộ máy quan liêu hành động vì chính nó và đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích của đất nước. Theo đó, một hệ thống độc tài tham nhũng cần phải có nhà độc tài trung tâm của nó, nghĩa là một người điều phối và cân bằng lợi ích và tham vọng của những tầng lớp thượng lưu. Điểm khác biệt của Putin so với những nhà độc tài ngày trước là đã biến mình thành một nhân vật trung tâm có tính hợp pháp bởi sức trẻ và xung năng tưởng chừng vô hạn của ông. Tuy nhiên, sau cùng, mọi kẻ lãnh đạo như vậy đều trở thành nạn nhân của cái tôi của chính họ, cũng như Stalin, Hitler, Mao, và Mussolini, những kẻ chưa bao giờ tự nguyện từ nhiệm. Do đó, nước Nga đang bị kẹt trong tình thế tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, cái vỏ dưa của một hệ thống lỗi thời và cái vỏ dừa của một hệ thống trì trệ. Trong tình cảnh như vậy, ông Putin sẽ ngày càng trở thành cái cớ hợp pháp cho chủ nghĩa Sô vanh, chủ nghĩa đế quốc, cũng như chủ nghĩa chủng tộc của người Nga.
Bởi vì không một vấn đề nào trong mớ hỗn độn này có thể được giải quyết sớm, nước Nga càng lúc càng có vẻ sẽ chìm vào một “thời điểm khó khăn” kéo dài, một quá trình suy thoái có thể chuyển biến từ bất ổn xã hội thành thay đổi chế độ và thậm chí là sự sụp đổ của nhà nước. Dĩ nhiên, mọi nỗ lực dự đoán về tương lai nước Nga đều liều lĩnh, nhưng rõ ràng ngày nào Putin còn nắm quyền, ngày đó nước Nga còn ảm đạm. Putin, kẻ đã tuyên bố sẽ cứu rỗi nước Nga, giờ đã trở thành kẻ thù tồi tệ nhất của quốc gia này. Hiện tại, Hoa Kỳ, Châu Âu, cũng như các nước láng giềng của Nga đều đã chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.
Những nhân tố của sự bất ổn
Một số nhà phân tích vẫn bác bỏ khả năng xảy ra bất ổn lớn ở Nga bởi sự yếu kém của phe đối lập, giới lãnh đạo của lực lượng này vẫn thiếu sức hút, trong khi uy tín của Putin còn ở đỉnh cao. Thực ra những yếu tố này không quan trọng như vẻ ngoài. Hầu hết các cuộc cách mạng đã xảy ra như kết quả của khủng hoảng ở bề sâu; chỉ có rất ít cuộc cách mạng mang tính tự phát. Chính trong giai đoạn mà mọi người cố gắng ổn định và tái cấu trúc hệ thống như vậy mà các nhà lãnh đạo với sức lôi cuốn đã xuất hiện. Và danh tiếng trên toàn quốc chưa bao giờ giữ vai trò quá quan trọng đối với một phong trào hay một nhà lãnh đạo kiểu như hệ thống điện ở thủ đô, cũng như với giới tinh hoa chính trị và kinh tế.
Hãy tưởng tượng rằng ba cuộc khủng hoảng trên sẽ tiếp tục diễn biến trầm trọng, bởi thực sự có rất nhiều khả năng dẫn đến kịch bản như vậy. Trong trường hợp đó, gần như mọi phương diện của xã hội Nga sẽ càng tiến gần đến viễn cảnh hỗn loạn. Khi tình trạng lạm phát và thất nghiệp ngày càng tăng, trong khi mức sống giảm, sự bất mãn của giới công nhân, cũng như sự bất ổn của xã hội sẽ ngày một gia tăng. Đến lúc này, ngay cả giới tinh hoa chính trị và kinh tế cũng ngày càng không hài lòng khi nước Nga bế tắc trong ba cuộc khủng hoảng. Thân thế và tài sản của họ sẽ ở vào hoàn cảnh dễ bị tổn thương hơn, nghĩa là họ càng có lý do để tán thành lựa chọn thay thế Putin và hệ thống của ông. Tương tự như vậy, giới trí thức thành thị, học sinh, và các chuyên gia sẽ tái khám phá nhu cầu của họ và đóng góp chất xám của họ vào tiến trình tái cấu trúc.
Khi tình trạng hỗn loạn trong hệ thống và tình trạng trì trệ trong tầng lớp tinh hoa tiếp diễn, ngay cả những thành phần Đại Nga trong lực lượng vũ trang (quân đội, dân quân và cảnh sát mật) cũng sẽ phải tìm kiếm lựa chọn thay thế Putin và hệ thống đổ nát do ông cai trị. Như vậy, binh sĩ và lính đánh thuê đang tham chiến ở Ukraine và Syria có thể trở về nhà và thúc đẩy quan điểm cấp tiến trong cả nước. Ở bên ngoài lảnh thổ Nga, 21 nước cộng hòa không thuộc Liên bang Nga cũng có thể khẳng định quyền lực của họ.
Trong 18 năm qua, ông Putin đã có thể xoa dịu mọi sự bất mãn dựa trên ba phương tiện mà những nhà độc tài hay sử dụng để duy trì quyền lực. Ông tạo ra sự ủng hộ thông qua cơ hội trời cho là giá năng lượng tăng cao. Bên cạnh đó, ông củng cố lực lượng cưỡng chế và đàn áp sự bất mãn. Và bằng cách quảng cáo sự nam tính và sức sống, cũng như lời hứa tái sinh nước Nga trong hình ảnh của mình, ông đã tạo ra được động lực của ý thức hệ để hỗ trợ ông và chế độ của ông. Tuy nhiên, bởi những sai lầm của ông và sự phân rã của hệ thống do ông tạo dựng, Putin hiện không còn sở hữu các nguồn tài lực ngày xưa, và hình ảnh của ông giờ đã bị hoen ố rất nhiều. Và vì thực tại của một nước Nga đang ngày càng giống một nhà nước bất hảo không có khả năng đánh bại Ukraine và ngày càng sa lầy vào Trung Đông, ý tưởng về sự vĩ đại của một nước Nga mới đang mất dần sức hấp dẫn của nó. Kết quả là, ông Putin giờ đây gần như dựa hoàn toàn vào lực lượng trấn áp để duy trì quyền lực và duy trì chế độ của ông. Do đó ông phụ thuộc vào sự đồng lòng của họ để đi hết hành trình cai trị này với ông. Và Putin, nhà độc tài của chế độ vừa thông qua luật cho phép cảnh sát mật bắn người biểu tình, hiểu rõ điều đó hơn ai hết.
Vladimir_PUtin_Russia_Guggenheim_museum
Trấn áp lực lượng trấn áp
Việc dựa vào các lực lượng vũ trang hoàn toàn có thể trở thành một canh bạc nguy hiểm. Hoàn toàn có thể xảy ra tình huống họ không muốn sử dụng vũ lực khi phải đối mặt với một đám đông người biểu tình dựa vào nhân dân. Điều này đã xảy ra với hầu hết các chế độ toàn trị, những chế độ đã theo đuổi con đường viền nổi khả năng của cảnh sát và triển khai các nhân viên ở xa quê nhà của họ. Trong điều kiện Putin vẫn còn uy tín lớn như vậy, và việc tổ chức biểu tình ở các tỉnh heo hút của Nga luôn tiềm ẩn nhiều bất trắc, khả năng lớn nhất là biểu tình sẽ được tổ chức ở Moscow, nơi đã xảy ra trường hợp tương tự vào năm 2011–2012, và ở các khu vực cận lãnh thổ Nga như Tatarstan, Bashkortostan, Yakutia, Dagestan và Ingushetia, nơi mà sự đoàn kết dân tộc hoàn toàn có thể áp đảo được nỗ lực cưỡng chế. Nếu phụ nữ và người lao động tham gia vào các cuộc chính biến như vậy, lực lượng cưỡng chế càng ít có khả năng răm rắp tuân theo mệnh lệnh và bắn vào dân chúng.
Hiện nay, một cuộc cách mạng như vậy vẫn chưa thể xảy ra; nhưng vào giữa năm 2004 và giữa năm 2013, không ai hình dung được cuộc Cách mạng Cam hoặc Cách mạng Euromaidan ở Ukraine. Chính Putin cũng hiểu rằng một hình thức cách mạng như vậy không thể lường trước được, bởi vì đó là hoa trái của những cành cây bén rễ từ sự bất mãn, ức chế, tức giận, cực đoan, và hy vọng tiềm tàng. Dẫu cho hệ thống kinh tế–chính trị ở Nga được vận hành bởi một cơ chế khác thường, cũng như sự bất lực trước thay đổi, cơ hội xảy ra kịch bản như vậy luôn tăng theo từng năm. Các cuộc biểu tình có thể được châm ngòi bởi một sự kiện bất ngờ, một khoảnh khắc đột ngột của giọt nước làm tràn ly và đẩy dân chúng xuống đường. Ngòi nổ có thể là bất cứ điều gì, từ một khoảnh khắc sơ hở trên truyền hình của Putin đến một hành động tàn bạo của cảnh sát và thậm chí là một ngọn lửa thảm khốc. Không ai có thể dự đoán những cú sốc như vậy, nhưng khi hệ thống càng rệu rã thì khả năng xảy ra phản ứng dây chuyền càng cao.
Một kịch bản khác là có thể lực lượng trấn áp không thể ngăn chặn lực lượng của tầng lớp tinh hoa chống chế độ âm mưu tiến hành “đảo chính cung đình” (palace coup) hoặc thúc đẩy tiến trình đòi sự độc lập ở khu vực cận lãnh thổ Nga. Mặc dù Tổng thống Putin đã xây dựng một thể chế độc tài với hình thức gần tương tự như chế độ Phát xít của Đức và chế độ Mussolini của Ý, lực lượng trấn áp trong lịch sử Nga hiện đại, ngay cả trong thời Stalin, vẫn không thể là một nhà nước trong nhà nước có khả năng giám sát trọn vẹn tầng lớp giới tinh hoa. Do vậy, sự trung thành hoặc trung lập của giới tinh hoa của Nga chưa bao giờ ổn định. Giới chính trị Nga hoàn toàn hiểu rằng, giống như Mikhail Khodorkovsky, người doanh nhân Nga với khuynh hướng chống đối đã phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Putin và ở trong tù nhiều năm vì tội lừa đảo, họ có thể bị trừng phạt nếu dám quay giáo trở cờ; nhưng họ cũng biết rằng, trong những thời điểm ngặt nghèo nhất, Điện Kremlin cũng cần họ như họ cần điện Kremlin, nếu không muốn nói là còn cần nhiều hơn thế.
Làm thế nào kịch bản đảo chính cung đình hay khu vực ly khai có thể xảy ra? Lịch sử của Liên bang Soviet và nước Nga hiện đại có thể cung cấp đầy đủ dẫn chứng cho kịch bản này. Sau cái chết của Stalin, người kế nhiệm ông đã tự tay thủ tiêu lãnh đạo của toàn bộ lực lượng cảnh sát mật thời Stalin, là Lavrentii Beria, vào năm 1953. Năm 1964, đến lượt Nikita Khrushchev bị lật đổ trong một cuộc đảo chính cung đình. Trong 1998–99, việc ông Putin bước vào chính trường Nga là kết quả của một thỏa thuận sau cuộc đảo chính của giới tinh hoa và sau đó Tổng thống Boris Yeltsin lên nắm quyền.
Đối với các quốc gia và vùng lãnh thổ cận Nga, mỗi nhà nước đã tự tuyên bố chủ quyền trong giai đoạn khủng hoảng của cuộc Cách mạng 1917–1921, cũng như trong thời kỳ chiếm đóng của Đức là giai đoạn 1941–1943, và cũng trong đỉnh điểm của khủng hoảng Perestroikacủa Mikhail Gorbachev vào giai đoạn 1987–1991. Lòng trung thành của tầng lớp tinh hoa Nga phụ thuộc vào khả năng Putin trả lương cho họ. Cũng như chính cái cách giới tinh hoa chính trị và kinh tế đổ xô ủng hộ Putin trong những năm thịnh vượng, nghĩa là từ năm 1998 đến năm 2013, họ sẽ vì chính lý do ấy mà từ bỏ Putin trong những thời khắc bi thảm sắp đến.
Trong khi đó, giới tinh hoa ở những quốc gia và vùng lãnh thổ cận Nga, đặc biệt là vùng Tatarstan giàu dầu mỏ và vùng Yakutia giàu kim cương – có thể là những người đầu tiên muốn nới lỏng mối quan hệ với Moscow, bởi vì họ có thể có tham vọng gắn liền với chủ nghĩa dân tộc, và khoảng cách địa lý giúp họ ít bị đe dọa hơn. Tựu trung, khi tầng lớp tinh hoa thấy rằng họ có thể trực diện công kích chế độ, căng thẳng sẽ đến đỉnh điểm và “hiệu ứng đoàn tàu” (bandwagon effect) chống Putin hoàn toàn có thể xảy ra. Một số thậm chí có thể âm mưu chống Putin và tìm cách loại trừ hoặc thủ tiêu ông.

Tổng thống Nga Vladimir Putin thử tài trượt băng trong một buổi tập của các thành viên tham dự mùa giải Night Ice Hockey League ở Krasnaya Polyana, Sochi, Nga, ngày 6 tháng 1 năm 2016. Ảnh: Aleksey Nikolskyi /Reuters

Tổng thống Nga Vladimir Putin thử tài trượt băng trong một buổi tập của các thành viên tham dự mùa giải Night Ice Hockey League ở Krasnaya Polyana, Sochi, Nga, ngày 6 tháng 1 năm 2016. Ảnh: Aleksey Nikolskyi /Reuters
Kịch bản thứ ba là lực lượng trấn áp hoàn toàn không đủ khả năng dập tắt bất mãn nếu lực lượng chống đối phản đối bạo lực và giới vũ trang quá yếu để đáp ứng. Những quân đội thua trận hoặc trải qua những kinh nghiệm chiến trường bi thảm thường dễ lâm vào tâm trạng yếu thế như vậy. Quân đội Nga hiện đang tham gia hai cuộc chiến tranh, ở Ukraine và Syria. Họ cũng có thể mở mặt trận mới ở các nước vùng Baltic hoặc Trung Á, khi Putin cố gắng gieo mầm hỗn loạn trong NATO và bảo vệ Nga trước Nhà nước Hồi giáo (còn được gọi là ISIS). Mặc dù quân đội Nga sở hữu lợi thế đáng gờm, cuộc chiến tranh gián tiếp giữa Nga và Ukraine đã kết thúc, ít nhất tình hình là như vậy, với việc Nga thôn tính được và giờ phải chịu trách nhiệm cho hai khu vực nghèo khó về kinh tế, Crimea và Đông Donbas, với rất ít hy vọng phục hồi nhanh chóng. Quan trọng hơn, dự án xây dựng nước Nga mới của Moscow, với mục đích sáp nhập tất cả vùng lãnh thổ phía đông nam của Ukraine, đã thất bại. Tóm lại, mặc dù họ đã đạt được một vài chiến thắng về mặt chiến thuật, các lực lượng vũ trang ở Nga đã phải chịu thất bại.
Còn chiến thắng ở Syria thì vẫn rất xa vời, ngay cả với viễn cảnh nước Nga đầu tư thêm lực lượng cho mặt trận này. Sớm hay muộn, những binh sĩ và lính đánh thuê bị làm nhục và đánh bại của nước Nga sẽ trở về nhà, và họ có thể trực tiếp ném cơn thịnh nộ vào chính cái chế độ đã cử họ đi chiến đấu ở xứ người. Lực lượng cảnh sát mật và các lực lượng trấn áp khác không bao giờ nên nghĩ đến việc có thể ra tay với những người lính bất mãn. Bởi lựa chọn làm phức tạp thêm tình hình chỉ càng gieo mầm cho chủ nghĩa khủng bố mới ở Nga. Ngòi nổ ở Chechnya hoàn toàn có thể được mồi lửa nếu Kadyrov bị lật đổ trong một cuộc đảo chính cung đình địa phương hoặc bị ám sát bởi cơ quan mật vụ Nga, cơ quan từ lâu đã không ưa nhân vật này. Còn phần lớn khu vực phía Bắc Caucasus vốn đã ở trong trạng thái nửa hỗn loạn. Cuộc phiêu lưu quân sự của Nga ở Syria, cũng như liên minh mở của họ chống lại người Sunni có thể không chỉ làm trầm trọng thêm căng thẳng với cộng đồng Sunni trong nước Nga, mà còn có thể cho ISIS lý do chính đáng để mở mặt trận ở Nga.
Làm thế nào lực lượng vũ trang hùng hậu của Nga vẫn không đủ để dập tắt phong trào bất mãn? Cuộc chiến Chechnya giai đoạn 1994–1996 cho thấy rằng lực lượng vũ trang Nga vẫn có thể bị đánh bại. Còn cuộc chiến Ukraine chứng tỏ rằng quân đội và lính đánh thuê Nga vẫn có thể bị kìm chân trong một vịnh nhỏ bởi một lực lượng yếu hơn đáng kể. Một loạt các hành động khủng bố xảy ra ở Nga trong những năm đầu ông Putin cầm quyền cho thấy rằng Nga luôn dễ bị tấn công bạo lực. Dĩ nhiên, việc dự đoán thời điểm xảy ra phong trào bạo lực chống chế độ ở Nga là bất khả thi, nhưng khi hệ thống chính trị–kinh tế phân rã ngày quay ngày, cùng với sự rối loạn trong xã hội và các tầng lớp bất mãn ngày càng nhiều, thì kịch bản như vậy càng dễ xảy ra.
Sau cơn bão
Nước Nga đang ở rất gần một cơn bão hoàn hảo, khi mọi yếu tố gây mất ổn định tụ. Trong điều kiện như vậy, kịch bản hỗn loạn toàn diện rất có thể xảy ra. Viễn cảnh cách mạng, đảo chính cung đình, và bạo lực tràn lan càng lúc càng dễ xảy ra. Kết quả hoàn toàn có thể là sự sụp đổ của chế độ hay sự tan rã của nhà nước. Dù kịch bản nào xảy ra đi chăng nữa thì ông Putin rất khó trụ qua cơn bão này.
Vậy thì thế giới phương Tây và các nước láng giềng của Nga có thể làm gì? Họ đã không thể ngăn Putin và họ càng không thể ngăn được ngày tan rã của Nga, cũng như họ đã không thể ngăn chặn ngày cáo chung của Liên bang Soviet. Lựa chọn tốt nhất là giải quyết được hậu quả là sự bất ổn toàn diện của xã hội Nga. Đặc biệt, các nước sẽ phải lo được những dòng người tị nạn, thế lan tỏa của bạo lực, và trách nhiệm bảo quản một lượng rất lớn vũ khí hạt nhân. Các quốc gia và vùng lãnh thổ cận Nga có thể giải quyết được hai vấn đề đầu tiên chỉ bằng cách tăng cường lực lượng tuần tra biên giới, cũng như quân đội, lực lượng cảnh sát, và bộ máy hành chính. Còn thề giới Phương Tây phải xem họ (đặc biệt là Belarus, Ukraine và Kazakhstan) như những đồng minh hoặc các quốc gia khách hàng, ổn định và an ninh ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ này đều rất quan trọng đối với sự ổn định và an ninh của phương Tây. Sau đó, thế giới phương Tây cũng nên hỗ trợ xây dựng một nền dân chủ thân phương Tây ổn định trong thời đại hậu Putin của nước Nga. Giới hoạch định chính sách phương Tây chắc chắn sẽ tìm được nhiều lý do để hỗ trợ các lực lượng vũ trang Nga, đặc biệt là sau khi bất ổn xảy ra hàng loạt. Nhưng thực ra làm vậy chỉ phản tác dụng: về bản chất, việc hỗ trợ các lực lượng từng trấn áp nhân dân Nga chỉ khiến tình trạng giao tranh kéo dài hơn, đổ máu nhiều hơn, và sự bất ổn luôn còn đó, nghĩa là làm gia tăng khả năng vũ khí hạt nhân rơi vào tay kẻ xấu.
Sớm hay muộn, giai đoạn bất ổn của nước Nga sẽ kết thúc. Sau khi cơn địa chấn qua đi, một nước Nga nhỏ và yếu hơn và một tập thể các quốc gia và vùng lãnh thổ cận Nga vừa tuyên bố độc lập có thể giúp thế giới ổn định hơn, ít nhất là bởi vì một nước Nga của Putin, một mối đe dọa lớn cho hòa bình thế giới, sẽ có biến mất và nhân dân Nga cuối cùng có thể từ bỏ giấc mộng nước Nga Sa Hoàng đã giúp Putin nắm quyền.
Dù cơn bão sắp đến có mang lại kết quả gì, chính các nước láng giềng của nước Nga hiện tại có nhiều khả năng nhất để đảm bảo sự ổn định và an ninh khu vực thời hậu Putin, cũng như thời hậu Liên bang Soviet, đặc biệt là Ukraine, Kazakhstan và Belarus. Nếu họ vững mạnh, thiệt hại từ cơn dư chấn sẽ ở trong tầm kiểm soát. Còn nếu họ trở nên yếu đuối, làn sóng dư chấn sẽ lan truyền sang cả phương Tây. Thời điểm tốt nhất để củng cố các nước này chính là bây giờ, trước khi là những ngày ảm đạm dồn dập xuất hiện.
http://phiatruoc.info/tham-canh-sap-toi-cua-che-do-putin-va-nuoc-nga/

Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Thursday, February 18th, 2016

Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại… đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
*
Theo dòng thời gian Sau những tháng năm suy nghĩ, tôi cũng như rất nhiều người đã nghiệm ra rằng: Tình hình Việt Nam sẽ thay đổi, sự thay đổi vô cùng to tát, mát lòng dân, thuận ý Trời đó là sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam. Suy nghĩ này không đơn thuần chỉ là niềm hy vọng thông thường, lại càng không phải là những điều tiên đoán của một kẻ mù sò voi hay của một chiêm tinh gia mà là của một người được tạo hóa ban cho thứ cảm nhận cao cho những gì sắp xảy ra chung quanh cuộc sống. Với tâm nguyện luôn ước mong cho một Quê Hương sớm thoát khỏi ách tròng cộng sản đầy mụ mị trong nghèo đói, với một tâm hồn luôn đau đáu cho một đất nước đã chìm ngập trong mịt mù không tương lai đến các thế hệ kế tiếp của dân tộc thì sự trăn trở luôn thôi thúc bản thân suy nghĩ về vận mạng của đất nước cùng con đường giải cứu đồng bào ruột thịt sớm thoát khỏi ách nạn cộng sản này.
Ngoài nguyên lý bất di bất dịch là trên hành tinh này vạn vật sẽ thay đổi không ngừng. Sự hiện hữu, biến dạng và hủy diệt, đó là nguyên tắc sinh thải. Con người cũng vậy, có sinh phải có tử, triều đại, thể chế cũng không ngoại lệ, có hợp có tan, có trụ có biến.
Người cộng sản với não trạng vô cùng chủ quan và cường điệu cho rằng “CHXHCNVN muôn năm” hoặc “Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… là sai hẳn về phương diện khoa học lẫn các triết dẫn của tôn giáo. Khi những nguyên tắc rường cột cơ bản đã sai ắt mọi ngọn ngành chi nhánh theo đó sẽ sai theo một cách lô-gic. Ví như quỹ đạo bay của phi thuyền bị tính trật thì con tàu sẽ không đến điểm định, một chủ nghĩa sai lầm sẽ đưa xã hội xa mục đích là lẽ đương nhiên mà theo Duy Vật biện chứng thì những chuỗi kết quả sai lệch trong xã hội ấy không thuộc sự “can thiệp” của bất cứ đấng nhiệm mầu nào, hay còn gọi là đấng Tạo hóa mà chỉ đơn thuần theo tính toán của con người dựa trên các cơ sở khoa học.
Hãy đơn cử vài thí dụ để chứng minh cho sự sai lệch đã nêu ra, hỏi có ai ngờ được rằng cái nôi, đồng thời cũng được xem là cái thành trì vững chắc của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Bang Xô Viết sụp đổ khi trước đó nó đã phát triển rất nhanh, rất vững mạnh khiến 5 nước ở Đông Âu phải hướng theo. Cho đến khi khối cộng sản Đông Âu được mở đầu bởi Ba Lan vào năm 1989 và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Romania sau đó.
Sau khi các nước này lần lượt tan rã thì người ta mới dám nảy lên mầm suy nghĩ là rồi Liên Xô cũng sẽ sụp theo. Và cuối cùng đúng như người ta du đoán, cái nôi của chủ nghĩa, thành trì của chủ nghĩa đã sụp đổ vào cuối năm 1991 kèm theo một chuỗi các nước dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khối Liên Xô: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraina và Uzbekistan. Cộng sản đã bị bỏ rơi tại Albania và Nam Tư từ năm 1990 đến 1992, chia thành năm nước kế tục: Slovenia, Croatia, Cộng hòa Macedonia, Bosnia và Herzegovina, và Cộng hòa Liên bang Nam Tư (gồm Serbia, Montenegro và Kosovo). Tác động này cũng được cảm thấy ở hàng chục quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Chế độ Cộng sản đã bị bỏ rơi ở các nước như Campuchia, Ethiopia, Mông Cổ và Nam Yemen. Sự sụp đổ của các nước cộng sản đã dẫn đến tuyên bố kết thúc của Chiến tranh Lạnh. (1)
Ý nghĩa của những sự sụp đổ này nó lớn lao và quan trọng đến độ nhiều nhà nhận định thời cuộc của thế giới đã có cùng một nhận định: “Nhân loại đã đánh dấu sự kiện quan trọng nhất của Thế kỷ 20 là sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản ở đầu thế kỷ và sự chết của nó ở cuối thế kỷ”.
Giờ đây, thế giới chính thức còn lại vỏ vẹn 5 nước: Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn (Triều Tiên) và Lào và Cu Ba, trong đó 2 nước Lào và Cu Ba đang chuyển hướng dần theo khuynh hướng Dân Chủ. Riêng Việt Nam, nếu căn cứ trên thực tế xã hội thì không hẳn còn là một quốc gia theo cộng sản nguyên thủy vì trong kinh tế XHCN không hề có “Kinh tế thị trường”. Nghĩa là Kinh tế tập trung (quốc doanh) thì không có Kinh tế tư nhân. Hai thứ kinh tế này về mặt nguyên tắc thì kinh tế tư bản là đối nghịch toàn bộ với Kinh tế tập trung là Kinh tế CNXH. Các người chịu trách nhiệm về kinh tế nhà nước đã vì sự thua lỗ, mất mát của nền kinh tế này mà nhập nhằng đánh lận triết thuyết căn bản một cách khập khiểng và hy vọng rằng họ sẽ thành công, sẽ qua mắt được các con mắt của các chuyên gia kinh tế có tầm phân tích quán triệt. Người cộng sản đã cố tình lấp liếm một cách gượng ép:“Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” mà chúng ta thường nghe, thường thấy cũng như thường đặt dấu hỏi.
Tuy nhiên, cho dẫu họ có cố gắng bao biện như thế nào thì nhà nước vẫn cố giữ và có chế độ đặc biệt ưu đãi cho các thành phần kinh tế quốc doanh mà cơ bản của nó đã được cung cấp lượng vốn cực kỳ lớn nếu so với các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân. Các thành phần kinh tế quốc doanh này phải lệ thuộc sự chỉ đạo của đảng và do cán bộ của guồng máy quản lý, trong khi ai cũng biết là đảng CSVN đã quá tùy thuộc vào những lãnh đạo đảng bị giới hạn về kiến thức và trình độ kinh tế nên thực tế đã gây ra quá nhiều lỗi lầm trầm trọng bởi sự thiếu kém kiến thức ấy. Bên cạnh sự ưu đãi và từ sự thông đồng cùng nhau chia lợi cho nên nền kinh tế tập trung này luôn bị thua lỗ, thất thoát và lãng phí ghê gớm, đưa đến nợ âm lớn và dần dà sẽ được hợp thức hóa sự mất mát cực kỳ to lớn đó. Ai sẽ chịu trách nhiệm trong những nợ âm cùng những chuỗi mất mát to lớn này?. Khỏi phải cần câu trả lời thì ai cũng biết là người dân qua các khâu nộp thuế.
Ngoài khối dân chúng quốc nội làm việc, kinh doanh, mua sắm, tiêu dùng hàng hóa…phải đóng thuế, nguồn thu này còn có được từ bán rẻ tài nguyên quốc gia và từ những người Việt đi làm công hoặc định cư ở nước ngoài (còn gọi là Việt kiều) gởi về cho chế độ mỗi năm trung bình 10 đến 16 tỉ USD (10.000.000.000 – 16.000.000.000 USD). (2) Xin thưa rằng với số ngoại tệ cho không, không hoàn vốn, không lãi suất, nó tương đương xấp xỉ 1/10 tổng sản lượng quốc gia (GNP), tức tổng sản lượng thu nhập của VN. Số tiền này có thể gần đủ để chi trả cho toàn bộ cán bộ, đảng viên của đảng phái chính trị và guồng máy cầm quyền như Quân đội, Côn an, công nhân viên, quan chức nhà nước hàng năm.
Không có nguồn thu nhập ngoại tệ cực kỳ quan trọng trên thì chế độ hiện hành sẽ không thể đứng vững, nếu không muốn nói là sẽ khánh tận (bankrupcy) hoặc sẽ sụp đổ. Người Việt ở nước ngoài chỉ cần không cung cấp số ngoại tệ 10 đến 16 tỉ USD như nói trong 3 năm thì chế độ sẽ gặp phải khốn đốn, đưa đến nguy cơ bất ổn về mặt chi trả và sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn chính quyền cũng như xã hội. Nguồn huyết mạch trên, nó chiếm vị thế vô cùng quan trọng trong dòng lưu xã hội. Người Việt ở nước ngoài không gởi lượng kiều hối ấy thì chế độ sẽ chết, gia đình sẽ vô cùng khó khăn…Đây là một nan đề mà mãi cho đến hôm nay chúng ta vẫn chưa có bài toán giải quyết như thế nào cho ổn thỏa!. Tuy nhiên, đó không phải là con đường bế tắc cho người Việt ở hải ngoại. Những nhà đấu tranh, những nhân sĩ vận động cho chính trị, chính sách có thể tăng cường phương pháp làm việc của mình bằng cách vận động và lên tiếng cho chính quyền sở tại, nơi quốc gia mình đang cư ngụ để có yêu cầu (hay yêu sách) ĐỀ NGHỊ QUỐC GIA SỞ TẠI GIỚI HẠN hoặc CẤM CHUYỂN GỞI NGOẠI TỆ ĐẾN VN, hay KIỂM SOÁT THẬT GẮT GAO VIỆC GỞI NGOẠI TỆ ra những nước “đặc biệt cần quan tâm” như tham nhũng, độc tài và khủng bố.. Cộng đồng người Việt nên ủng hộ việc làm này của các nhà đấu tranh như các Luật sư, Nghị sĩ, Dân biểu, Nghị viên, Thị trưởng Thành phố v.v…
Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại…đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
Trở lại vấn đề sụp đổ của cộng sản, kẻo không chữ nghĩa, lý luận kinh tế và con số sẽ làm quí vị nhức đầu đi mất. Với nhận thức của người Việt hôm nay, nói chung sự hiểu biết về cộng sản là khá phổ quát. Tuy nhiên, thông tin vẫn còn rất giới hạn cho số dân châm lấm tay bùn, thấp cổ bé họng hoặc cư trú vùng sâu vùng xa. Cho nên người Việt ở quốc nội nên thông truyền cho nhau rộng khắp hơn, cụ thể hơn về đảng CSVN cùng những tiêu cực mà đảng đã làm, cũng như đánh động sự lo sợ về hiểm họa nô lệ Tàu cộng, về việc mất nước. Được như vậy thì vấn đề nội công, ngoại kích mới được kết hợp một cách nhuần nhuyễn.
Với con số hơn 4 triệu rưỡi người Việt ở khắp các quốc gia trên thế giới cùng tài năng về tinh thần lẫn của cải của họ sẽ là những LỰC đáng kể. Ngày nào số lượng người đông đảo này còn thì đảng CSVN vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và bất lợi. Ngày nào đảng cộng sản và guồng máy còn đàn áp với dân chúng trong nước thì đảng cũng sẽ còn gặp phải nhiều phản ứng quyết liệt của người Việt ở nước ngoài.
Dòng thời gian 40 năm, thiết nghĩ đã quá đủ cho một thể chế mụ mị và hung bạo đã tàn phá con người và đất nước một cách khủng khiếp. Để tránh được những tai họa hủy diệt đó cũng như nhằm tránh được hiểm họa nô lệ Tàu cộng, giờ đây người Việt yêu Quê Hương, yêu Tổ Quốc nên thức tỉnh ngay nếu chúng ta không góp phần trách nhiệm của mình cho sự thay đổi của đất nước là chúng ta mang trọng tội với tiền nhân đã dày công dựng nước và giữ nước, với lớp con cháu của các thế hệ nối tiếp. Chúng ta phải thể hiện thái độ dứt khoát không thể để đảng CSVN muốn làm gì thì làm.
Sự chuyển mình của thế giới qua nhận thức Tàu cộng cùng sự nguy hiểm của nó về nhân phẩm nhân sinh, chất độc hại tung ra thế giới, mổ cướp nội tạng dã man, ngang ngược lấn chiếm biển đảo không thuộc chủ quyền của họ, đe dọa an ninh của các quốc gia lân bang. Trật tự cho một Thế giới mới sẽ dấy nên trào lưu BÀI TÀU CỘNG – BOYCOTT CHINA nhằm bảo tồn hành tinh này, đó là quan điểm và hành động của nhân loại văn minh.
Cộng sản Việt Nam rồi cũng sẽ chẳng khá gì hơn khi đảng đã hiện nguyên hình lòi mặt chuột đục phá đất nước chứ chẳng giúp được gì nhiều cho tiến trình phát triển quốc gia mà thế giới đã chửi xéo “Việt Nam là một quốc gia không muốn phát triển!”. Giờ đây, đảng bị xem là kẻ thù của cả dân tộc quốc nội lẫn hải ngoại. Không bạn bè, không đồng minh, không thân hữu ngoài đàn anh Trung cộng nhưng oái ăm thay, người đồng chí duy nhất cũng luôn rình mò, mưu mẹo, toan tính trở mặt và luôn chực hờ cướp giựt và thôn tính.
Cộng sản VN cô đơn và thất thế hơn bao giờ hết, số phận của nó cũng chẳng may mắn gì hơn thằng đàn anh, thằng ông nội Tàu cộng đang bị bao vây, tứ bề thọ địch. Chủ không vững thì tôi tớ cũng lung lay. Người Việt hãy giữ vững chính nghĩa, giữ vững niềm tin xây dựng lại đất nước trong một ngày không xa.

TUYÊN CÁO Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67

Monday, December 14th, 2015

TUYÊN CÁO

Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67

(10-12-1948 / 10-12-2015) 

NHẬN ĐỊNH 

  • Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã du nhập và duy trì chủ nghĩa Cộng Sản bất nhân tại đất nước Việt Nam. Kể từ năm 1954 ở miền Bắc và từ tháng 4, 1975 tại toàn cõi Việt Nam, đảng CSVN áp đặt một chế độ độc tài, toàn trị, khống chế hoàn toàn xã hội Việt Nam; xóa bỏ các quyền tự do căn bản của con người; áp dụng một chế độ bất công, xử dụng các điều khoản của bộ luật Hình Sự nhằm áp chế người dân, nhất là những nhà tranh đấu vì dân chủ, tự do, công lý và vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam;
  • Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam có nhiệm vụ tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khi gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977; đã cam kết thực hiện 14 điểm cải thiện nhân quyền khi ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016. Nhưng cho đến nay, CSVN đã không thực hiện những gì đã hứa hẹn và cam kết, tiếp tục vi phạm nhân quyền trầm trọng, xem thường dư luận quốc tế, bất chấp ước vọng dân chủ tự do của nhân dân Việt Nam.

VÌ CÁC LÝ DO ĐÓ, Chúng tôi, đại diện các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại long trọng tuyên bố:

  • Cực lực lên án và tố cáo nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam về sự ngoan cố và những vi phạm quyền làm người của nhân dân Việt Nam;
  • Đòi hỏi đảng CSVN:
    1. Tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các quyền dân sự khác; tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam;
    2. Thiết lập một hệ thống tư pháp độc lập, xét xử công bằng; Hủy bỏ các điều khoản bất công của Bộ Luật Hình Sự; thực thi những điều cam kết khi gia nhập Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.
    3. Trả tự do tức khắc và vô điều điện tất cả tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm và những công dân hiện đang bị sách nhiễu, tù đày, quản chế tại gia dưới mọi hình thức.
    4. Trao trả quyền cai trị cho nhân dân Việt Nam.
  • Kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước hãy đoàn kết đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam;
  • Yêu cầu Liên Hiệp Quốc giám sát và điều tra tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam; thỉnh cầu các quốc gia dân chủ trên thế giới hỗ trợ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cho một chế độ tự do, dân chủ, và pháp trị.

Làm tại New York, ngày 10 tháng 12, 2015

  • BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội, Ông Lưu Văn Tươi: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ
  • Ông Nguyễn Văn Tánh: Trưởng Ban Điều Hợp.
  • Ông Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada.
  • Ông Trần Viết Hùng: Tổng Thư Ký Liên Hiệp Hội Thánh Em Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại và các thành viên từ Canada
  • Ông Huỳnh Hiệp: Phật Giáo Hòa Hảo, tử Virginia, Hoa Kỳ
  • MS Ngô Đắc Lũy: Hội Thánh Tin Lành Mennonite, đại diện Hội Đồng Liên Tôn Quốc Nội.
  • Mr Joe L Ramos USP4GG Coordinator For New York
  • Mr Bert Aguilera President CEO Filaid Foundation INE
  • Tập Hợp Chiến Sĩ VNCH tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá GS Nguyễn Xuân Vinh.
  • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí.
  • Ô. Nguyễn Trung Châu, cựu Chủ Tịch Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại
  • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.
  • Tập Hợp vì Dân Chủ Việt Nam: BS Nguyễn Quốc Quân.
  • Các Cộng Đồng Việt Nam tại Úc Châu, Âu Châu, Canada, Hoa Kỳ
  • Đài SBTN.
  • Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại
  • Ông Đoàn Hữu Định Chủ Tịch Cộng Đồng DC&MD &VA.
  • DS Nguyễn Đức Nhiệm Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia TB/PA .
  • Trung Tá Trần Quốc Anh Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston .
  • Ông Nguyễn Thanh Bình Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia MA
  • Cô Huỳnh Duyên Trinh, TTK/HDQT/ CDVN/MASS và Chủ tịch CDVN thành Phố Worcester.
  • Ông Trần Văn Giỏi Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Connecticut
  • Bà Lê Ánh Nguyệt Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Tự Do, New Jersey.
  • Ông Vũ Trực Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG thành phố Philadelphia
  • Ông Trần Quán Niệm Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG Nam NJ
  • Ông Nguyễn Đình Toàn, GĐ đài OPM4TV
  • BS Bùi Quang Dũng, PCT Hội Đồng Đại Biểu
  • Đốc Sự Trần Xuân Thời, Cố Vấn
  • Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Cố Vấn
  • Ô. Phạm Thế Vinh, Chủ Tịch CĐVN Arkansas, AR
  • Đặng Thế Khương, Chủ Tịch CĐVN Arizona, AZ
  • Ô. Phạm Hữu Sơn, Chủ Tịch CĐNVQG Bắc California, CA
  • KS Trương Ngải Vinh, Chủ tịch CĐVN Southern California, CA
  • Cô Nguyễn Thu Hương, Chủ Tịch CĐNVQG Charlotte, N. Carolina
  • Ô. Võ Phương, Chủ Tịch CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  
  • Ô. Nghiệp Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG Columbia, SC: CT
  • Ô. Huyền Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG Raleigh, NC: CT
  • Ô. Phạm Thanh Liêm, Chủ Tịch Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA 
  • Ô. Đỗ Thiện Thịnh, Chủ Tịch CĐNVQG Sacramento, CA,
  • Ô. Nguyễn Hữu Hiến, Chủ Tịch CĐNVQG Stockton, CA, 
  • Ô. Nguyễn Trọng Cường, Chủ Tịch CĐNVQG Colorado, CO,  
  • Ô. Lê Thanh Liêm, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu CĐVN Florida, FL
  • Ông Phạm Quốc Hưng, Chủ Tịch CĐVN Central Florida, FL
  • Ô. Châu Ngọc An, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện CĐVN Central Florida, FL
  • Ô. Trần Công Thức, Chủ Tịch CĐVN Tampa Bay, FL \
  • Ô. Eric  Nguyễn, Chủ Tịch CĐVN Jacksonville, FL
  • KTS Nguyễn Đức Huy, Chủ Tịch CĐVN South Florida, FL
  • Ô. Bùi Lý, Chủ Tịch CĐVN Pensacola, FL
  • Bà Đặng T. K. Hạnh, Chủ Tịch CĐVN Georgia, GA
  • Ô. Lưu Toàn Trung, Chủ Tịch CĐNVQG Ilinois, IL,
  • Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn, Chủ Tịch CĐNVQG Massachusetts, MA
  • Ô. Cường Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG St Louis, MO
  • Ô. Lê Hà Dũng, Chủ TịchCĐNVQG New Hampshire, NH
  • Ô. Lương Thông, Chủ Tịch CĐNVQG New Mexico, NM
  • KS Lê Hồng Thanh, Chủ Tịch CĐNVQG Louisiana, LA
  • LS Nguyễn Thanh Phong, Chủ Tịch CĐNVQG New York, NY
  • Ô. Nguyễn Khắc Vinh, Chủ Tịch CĐNVQG Oklahoma City, OK
  • Ô. Ngô Thế Bảo, Chủ Tịch CĐNVQG Allentown, PA
  • Ô. Nguyễn Hoa Chủ Tịch CĐNVQG Pittsburgh, PA
  • Ô. Võ Văn Loan, Chủ Tịch CĐNVQG Lancaster, PA
  • Ô. Nguyễn Văn Thanh, Chủ Tịch CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA
  • CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải
  • Ô. Nguyễn Hải, Chủ Tịch CĐNVQG  TP Lebanon, PA
  • Ô. Vũ Ngọc Hải , Chủ Tịch CĐNVQGTP York, PA
  • Ô. Đỗ Đức Chiến, , Chủ Tịch CĐNVQG TPEaston/Bethlehem, PA
  • Ô. Bùi Văn Kiệt, Chủ Tịch CDNVQG Nashville và MiddleTennessee, TN
  • Ông Đặng Q. Dũng, Chủ Tịch CĐNVTD West Tennessee
  • Phạm Quang Hậu, Chủ Tịch CĐNVQG Dallas, TX

Đính kèm:

Tài liệu vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam 

REFERRENCES:

1. Amnesty International Report 2014/15 | Amnesty International
2. World Report 2015: Vietnam | Human Rights Watch
  1. Special Report: Public Insecurity Deaths in Custody and Police Brutality in Vietnam
4. Vietnam 2014 human rights report – US Department of State
  1. Reports of human rights in Vietnam by Vietnam Human Rights Network

 

“Nhóm Lợi Ích” Đang Tàn Phá Việt Nam (Đại Dương)

Wednesday, December 2nd, 2015

Đại-Dương

Gần 30 năm thực thi chính sách “Đổi Mới”, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang nằm trong số 20 quốc gia có khả năng vỡ nợ lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản công khai tiến hành kế hoạch kỹ-nghệ-hoá quốc gia từ năm 2001 đến 2020 mà bây giờ (năm 2015) thừa nhận không thể đạt tới mục tiêu.

Dĩ nhiên, đất nước lụn bại do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng, giới chuyên gia quốc tế và trong nước đã dí tay vào trán các “nhóm lợi ích” như thủ phạm chính.

Thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” được giới lãnh đạo chóp bu của Việt Nam đề cập từ sau Đại hội XI (năm 2011), nhưng, chỉ nói đến hiện tượng xảy ra trong xã hội mà chưa xác định đích danh của từng “nhóm lợi ích”.

Giới phân tích quốc nội xem xét qua lăng kính triết học, chính trị, kinh tế, xã hội các thủ đoạn thu lợi bất chính của “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích”: (1) Lợi dụng và lạm dụng quyền lực kinh tế, chính trị; (2) Lợi dụng yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản hồi tháng 1-2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm” cũng như Phòng, chống tham nhũng.

Vì không dám chỉ mặt, đặt tên nên đã thất bại trong Hội nghị Trung ương 6 hồi tháng 10-2012 khi tất cả Uỷ viên Trung ương không đồng ý thi hành kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và 1 đồng chí trong Bộ Chính trị như yêu cầu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ai cũng biết đồng chí đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà khi tiếp xúc với cử tri sau Hội nghị, Chủ tịch Trương Tấn Sang chỉ dám gọi “đồng chí X”.

Cuộc chiến chống “lợi ích nhóm” vô vàn khó khăn, không hữu hiệu vì chiến tuyến không rõ rệt nên dẫn tới tình trạng “ta chống ta”.

Bộ Chính trị không dám công khai danh tính nên các “nhóm lợi ích” tiếp tục lộng hành làm cho Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng Việt Nam 31/100 điểm không thay đổi trong giai đoạn 2012-2014.

Việt Nam và cộng đồng quốc tế đều biết rõ khu vực kinh tế nhà nước là gánh nặng quá sức của quốc gia, ổ tham nhũng, lắm đại án, làm ăn thua lỗ. Nhưng, Bộ Chính trị vẫn quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”.

Dù đang ở trong tình trạng bội chi ngân sách, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn bơm 8 tỉ USD cho đầu tư và chắc chắn phần lớn được rót vào các doanh nghiệp Nhà nước.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Quản lý Kinh tế Trung ương chỉ trích Chính phủ “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc như 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới”.

Như thế, các “nhóm lợi ích” đã có ảnh hưởng từ thượng tầng lãnh đạo bất chấp tới quyền lợi tối cao của dân tộc.

Dưới bàn tay thao túng của các “nhóm lợi ích” làm cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái.

Tăng trưởng GDP 8.5% của năm 2007 giảm xuống 5.9% vào năm 2011 và 5.4% của 2013.

Tỷ lệ nợ công trong GDP của Việt Nam tăng với tốc độ khá nhanh, từ mức 52% của năm 2010 lên 60% năm 2014 so với trần 65% do Quốc hội đề ra.

Nhưng, một số chuyên gia quốc tế ước tính nợ công của Việt Nam đã lớn hơn GDP.

Các “nhóm lợi ích” bất chấp nguy cơ vỡ nợ nên vẫn phát hành khối lượng lớn trái phiếu vào giai đoạn 2013-2014 đã khiến nợ công tăng nhanh chóng.

Áp lực trả lãi vay của Chính phủ sẽ gia tăng mạnh kể từ năm 2018, tăng 17% so với năm trước, và tiếp tục lên 20% và 23% vào 2 năm sau.

Nợ của Chính phủ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, vay ODA chiếm 80% bằng 49% GDP, và 20% còn lại do bảo lãnh cho ngân hàng và địa phương, chiếm 11% GDP.

Tất cả các khoản vay trực tiếp, vay ưu đãi (ODA=Viện trợ Phát triển Chính thức), trái phiếu chứng khoán đều tăng lãi suất hơn gấp đôi kể từ năm 2017 trong khi dư nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ ở mức 191 tỉ USD vào năm 2020, gấp đôi năm 2015.

GDP danh nghĩa (nominal) của Việt Nam ước tính chỉ có 204 tỉ USD vào năm 2015 đang đối diện với nguy cơ phá sản rất lớn.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ tụt hậu nên đã phát động chiến dịch chống-tham-nhũng từ năm 1998. Nhưng, tới nay tham nhũng vẫn sống mạnh, sống hùng, lan tràn khắp mọi khía cạnh đời sống.

Tất cả những phát biểu đao to búa lớn, các cuộc hội thảo rầm rộ, nhiều bài tham luận tràng giang đại hải chỉ mang lại vài kết quả rất khiêm nhường trong chiến dịch chống-tham-nhũng.

Thất bại được báo trước này do những “đỉnh cao trí tuệ loài người” quen thói dối người, dối mình, chỉ nói nửa sự thật.

Hùng hổ buộc tội “nhóm lợi ích”, nhưng, chưa chỉ ra được ai và ở đâu để trừng trị.

Hà Phong trên Hà Nội mới Online ngày 31-03-2012 phê bình bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện; (2) Tính minh xác, tính minh định, phạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật.

Thực sự, Bộ máy Nhà nước gồm đảng, chính phủ, đoàn thể vô cùng đồ sộ và phình to vô tội vạ không những ăn hết tiền thuế do dân đóng mà còn giành giật phần lớn thành quả phát triển của toàn dân.

Không ai có quyền và khả năng áp lực để đảng Cộng sản Việt Nam phải tinh giản Bộ máy Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, kể cả các chính phủ ngoại quốc và định chế quốc tế.

Đúng ra, các chính phủ và định chế bên ngoài Việt Nam không có trách nhiệm hốt rác vì đó thuộc về nghĩa vụ của mỗi công dân trên quê hương hình cong như chữ S.

Đảng Cộng sản từ khi thành lập cho tới lúc lên cầm quyền vẫn không thay đổi bản chất độc tài, đảng trị, hành động bất minh nên tất cả vị trí lãnh đạo từ trung ương tới địa phương đều lọt vào tay đảng viên.

Như thế, đảng Cộng sản vốn là một “nhóm siêu lợi ích” sản sinh nuôi dưỡng và bảo kê, bảo vệ cho các “nhóm lợi ích” lớn, nhỏ tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chống các “nhóm lợi ích” sẽ không có hiệu quả nếu đảng Cộng sản còn cầm quyền.

Đại-Dương

Thư ngỏ của Ban Liên Lạc & Phối Hợp Vận Động Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Tuesday, December 1st, 2015

Xem pdf: Thu Ngo LLPH_Final

banLLPH letterhead

THƯ NGỎ

Ngày 28 tháng 10, năm 2015

Kính gởi:

Quí vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo,

Quí vị chủ tịch các tổ chức Cộng Đồng Người Việt,

Quí vị Hội trưởng các Hội đoàn, Tổ chức, các cơ quan Truyền thông,

Quí Nhân Sĩ và toàn thể Đồng Hương tại Hải Ngoại.

 

V/v: Liên lạc và Phối hợp Vận Động Liên Kết người Việt Quốc Gia Hải ngoại

Kính thưa quí vị,

Sau 20 năm cai trị miền Bắc và 40 năm cai trị toàn thể đất nước Việt Nam, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn duy trì chế độ độc tài, toàn trị, vẫn không có một chỉ dấu tiến đến một chế độ Tự Do và Dân Chủ thực sự cho dân tộc Việt Nam.

Trước hiện tình đất nước còn dưới quyền cai trị độc tài bởi đảng Cộng Sản Việt Nam và trước hiểm họa thôn tính đất đai, lãnh hải bởi nhà cầm quyền Trung Cộng, hơn 70 đại diện tôn giáo,  cộng đồng, hội đoàn, cơ quan truyền thông và nhân sĩ người Việt ở hải ngoại (không kể nhiều tổ chức, cộng đồng, nhân sĩ gửi lời thư chào mừng và ủng hộ) đã đáp lời mời đến dự Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại trong hai ngày 11 và 12 tháng 10, năm 2015 tại thành phố Vienna, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ, để thảo luận và tìm phương thức phối hợp các sinh hoạt của người Việt tại hải ngoại hầu gia tăng sự hữu hiệu của những công tác đang được thực hiện riêng rẽ như hiện nay.

Các đại biểu và nhân sĩ tham dự Hội Nghị nhận thấy nhu cầu liên kết người Việt Quốc Gia ở hải ngoại rất quan trọng nhằm hoàn thành mục đích chung trong đó mục tiêu tối hậu là đẩy mạnh cuộc vận động cho một nước Việt Nam Tự Do và Dân chủ.

Hội Nghị đã thành lập Ban Liên Lạc và Phối Hợp nhiệm kỳ 1 năm với nhiệm vụ vận động các cộng đồng, hội đoàn, tổ chức và nhân sĩ người Việt hải ngoại cùng hợp tác tổ chức Hội Nghị Liên Kết kỳ 2 (hay một tên thích hợp) trong vòng 1 năm, mà không có mục đích “đại diện” hay tạo “tiếng nói chung” của người Việt ở hải ngoại.

Thành phần Ban Liên Lạc và Phối hợp gồm có:

  1. Trưởng Ban: Bác sĩ Nguyễn Quyền Tài, giáo sư khoa Giải Phẫu Thần Kinh University of Florida; cựu Chủ Tịch Ban Chấp hành Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do; thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Ban Chấp hành Hội Y Sĩ Việt Nam tại Florida; thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Hội đồng Quản trị Hội Y sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ; thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Jacksonville, Florida; thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Ban Chấp hành Lâm thời Cộng Đồng Việt Nam Florida; thành viên sáng lập Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.
  2. Phó Ban Nội Vụ: Bác Sĩ Đỗ Văn Hội, cựu Sĩ Quan Quân Y QLVNCH, thành viên sáng lập và cựu chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Orlando và Phụ Cận; Nguyên: chủ tịch Hội Y Nha Dược Sĩ Florida, thành viên Hội Đồng Quản Trị Hội Y Sĩ Việt Nam Hoa Kỳ,  chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Trung Tâm Florida, chủ tịch Hội Đồng Đại Biểu Cộng Đồng Việt Nam Florida; đương kim chủ tịch Hội Đồng Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ; Hội viên hội Ân Xá Quốc Tế và Human Rights Watch.
  3. Phó Ban Ngoại Vụ: Bác Sĩ Nguyễn Thể Bình, Cựu Chủ tịch Hội Đồng Cố Vấn Á Châu cho Thống Đốc Tiểu Bang Virginia.
  4. Tổng Thư Ký: Ông Trần Văn Đông, đương kim Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada.
  5. Thủ Quĩ: Cô Phạm Thu Thảo, ủy viên Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Phụ cận.

 

Kính thưa quí vị,

Trong 12 tháng sắp tới, Ban Liên Lạc và Phối Hợp chúng tôi sẽ cố gắng tiếp xúc với đại diện các cộng đồng, tổ chức, hội đoàn, đảng phái, tôn giáo, cựu quân-cán-chính, sinh viên,  cơ quan truyền thông, các nhân sĩ Người Việt Quốc Gia ở hải ngoại để mời tham gia cuộc vận động, cùng nhau thảo luận, hợp tác để tổ chức Hội Nghị Liên Kết kỳ 2 trong vòng 1 năm. Chúng tôi cũng sẽ đề nghị dự án “Phối Hợp Hoạt Độngvới mục tiêu thành hình một cơ cấu vững chắc qua Hội Nghị Liên Kết kỳ 2 theo những qui tắc dân chủ để điều hành và phối hợp các chương trình hoạt động cụ thể mà không có tính cách “đại diện” toàn thể người Việt tại hải ngoại.

Chúng tôi tin rằng, với sự hợp tác của toàn thể quý vị cùng với tinh thần dân chủ và hoàn toàn minh bạch của Ban Liên Lạc Phối Hợp, chúng ta sẽ tổ chức thành công một Hội Nghị Liên Kết được sự tín nhiệm của số đông người Việt hải ngoại hầu hoàn thành những mục tiêu được trao phó.

Chúng tôi trân trọng cám ơn tất cả ý kiến của quý vị về Hội Nghị Liên Kết ngày 11-12 tháng 10, 2015 vừa qua. Xin chân thành cám ơn quý vị đại biểu và nhân sĩ tham dự Hội Nghị đã tín nhiệm và trao trách nhiệm cho Ban Liên Lạc và Phối Hợp chúng tôi. Kính xin quí vị tiếp tục hỗ trợ bằng cách vận động các cộng đồng, đoàn thể và nhân sĩ mà quí vị biết để thực hiện thành công công cuộc liên kết này.

Kính thư,

  1. Ban Liên Lạc và Phối Hợp

Vận Động Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Nguyễn Quyền Tài

Trưởng Ban

_________________________________________

GHI CHÚ:Quý vị nào muốn tham gia vận động liên kết người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, xin vui lòng bấm vào link dưới đây và điền các chi tiết:

http://www.lienkethn.org/phieu-ghi-danh/

 

Xem pdf: Thu Ngo LLPH_Final

 

Tăng Đoàn GHPGVNTN báo động giặc đã vào nhà, vận mệnh Tổ quốc lâm nguy

Wednesday, November 11th, 2015

HT. Thích Viên Định (hàng đứng, thứ 4 từ phải sang)
 
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
Chùa Giác Hoa, 15/7 Nơ Trang Long,
Phường 7, Q. Bình Thạnh,
TP Sài Gòn
Phật lịch 2559
Số: 08/HĐĐH/TB/VT
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
BÁO ĐỘNG
GIẶC ĐÃ VÀO NHÀ, VẬN MỆNH TỔ QUỐC LÂM NGUY
Kính thưa Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,
Toàn dân đều biết Trung cộng đã xâm chiếm 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam, việc bắn giết, giam giữ, đánh phá ghe thuyền, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam vẫn đang tiếp tục xảy ra trên vùng biển thuộc hải phận Việt Nam.
Thế nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã không có một hành động nào để bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự tôn nghiêm quốc thể bằng những công cụ ngoại giao, pháp lý hay quân sự như Philippines đã làm để đòi lại biển đảo cho tổ quốc Việt Nam.
Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối qua loa lấy lệ, và trong nhiều trường hợp còn đưa ra lời đề nghị 2 bên “cùng duy trì nguyên trạng.”, ”cùng hợp tác khai thác…”, có nghĩa là họ coi việc mất chủ quyền quốc gia là “chuyện đã rồi”.
Về mặt ngoại giao, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không có thái độ cương quyết trong các cuộc gặp thượng đỉnh để phản đối mà còn rước giặc vào nhà, đón chào trọng vọng, cờ xí rợp trời. Người dân biểu tình lên tiếng, bày tỏ thái độ tẩy chay kẻ xâm lăng lại bị Nhà cầm quyền cho Công an đàn áp, bắt giam, đánh đập đến đổ máu.
Về quốc phòng, không tạo được một thế liên minh hữu hiệu để cùng các nước có chung lợi ích trên biển Đông đối phó với tham vọng bành trướng của Bắc Kinh, và hiện tại đất nước chúng ta vẫn đơn độc trước kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần.
Về nội bộ, không tạo được sự đoàn kết toàn dân như ông cha ta đã làm trong lịch sử mà Hội nghị Diên Hồng là một điển hình để sẵn sàng đương đầu chống quân xâm lược. Trái lại, Nhà cầm quyền ra sức đàn áp những người yêu nước, làm phân hóa, chia rẽ lòng người, triệt tiêu nội lực quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho quân xâm lược.
Trong thời gian ông Tập Cận Bình, Chủ Tịch nước kiêm Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung quốc đến Việt Nam, các chùa Liên Trì, chùa Giác Hoa và tư gia các nhà tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam bị công an canh gác ngày đêm chặt chẽ.
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không lượng định được dã tâm thật sự trong chuyến công du Việt Nam của ông Tập Cận Bình là để xoa dịu dư luận thế giới, biến hành động xây dựng những căn cứ quân sự bất hợp pháp trên vùng biển đảo Việt Nam thành chuyện “bình thường”.
Phía Trung quốc còn dùng chuyến đi này để ru ngủ, phân hóa nội bộ Cộng sản Việt Nam và dư luận trong nước làm cho nhân dân Việt Nam mất cảnh giác.
Trước và sau khi đến Việt Nam, ông Tập Cận Bình vẫn vô lý khi tuyên bố với thế giới rằng Hoàng sa và Trường sa là lãnh thổ của Trung quốc từ thời xa xưa.
Không thể thương lượng “hòa bình, ổn định” với kẻ ngang ngược, bất chấp công lý, xem thường dư luận, ỷ mạnh, dùng vũ lực đốt nhà, giết người, cướp bóc tài sản, xâm chiếm biển đảo tổ quốc ta được !
Việc trải thảm đỏ đón tiếp lãnh đạo Trung quốc trong tình hình hiện nay của nhà cầm quyền Hà nội là một sai lầm nghiêm trọng vì sẽ đánh mất sự thông hiểu và ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhất là với hai đối tác lớn là Hoa Kỳ và Nhật Bản, càng làm cho đất nước bị cô lập thêm.
Đất nước và Dân tộc chúng ta phải trả giá đắt cho những sai lầm này của đảng Cộng sản Việt Nam.
Tổ quốc thật sự đã lâm nguy!
Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 08 tháng 11 năm 2015.
Thay mặt Hội Đồng Điều Hành
Tăng Đoàn GHPGVNTN
Viện Trưởng
(ấn ký)
Tỳ kheo Thích Viên Định

Tuyên Cáo Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam – Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Monday, November 2nd, 2015

Tuyên Cáo

Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam,

Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Theo tin tức quốc tế, chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình sẽ đến Việt Nam ngày 5 và 6 tháng 11 năm 2015 và sẽ đọc diễn văn trước quốc hội CSVN trong bối cảnh:

  • Trung Cộng vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền ngụy tạo trên Biển Đông và xây dựng các đảo nhân tạo trên các bãi đá ngầm chiếm đoạt của Việt Nam ở Quần Đảo Trường Sa. Để thách thức chủ quyền bất hợp pháp này, Hoa Kỳ đã đưa chiến hạm Lassen tuần tra trong vùng 12 hải lý chung quanh các đảo nói trên, được sự hỗ trợ của các nước đồng minh trong đó có Liên Hiệp Âu Châu.
  • Các quốc gia vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương cùng Hoa kỳ lập liên minh chống sự bành trướng của Bắc Kinh;
  • Tòa án Liên Hiệp Quốc ở La Hayes tuyên bố có thẩm quyền xét xử đơn kiện của Phi Luật Tân về những đòi hỏi chủ quyền bất hợp pháp của Trung Cộng tại Biển Đông;
  • Sắp sửa có họp thượng đỉnh G-20 tại Thổ Nhĩ Kỳ và APEC tại Philippines;
  • Trung Cộng đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chia rẽ nội bô, trong lúc họ vẫn đàn áp những người tranh đấu cho tự do và nhân quyền; gia tăng áp bức các dân tộc Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông…
  • CSVN chuẩn bị tổ chức Đại Hội đàng lần thứ 12 trong tình trạng nội bộ tranh chấp gay go, nhưng chính sách đàn áp nhân quyền, cấm cản người dân Việt Nam bày tỏ lòng yêu nước trước sự lâm nguy của Đất Nước vẫn tiếp tục mạnh bạo.
  • Nhiều chỉ dấu cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đã lệ thuộc quá nhiều vào Trung Cộng qua mưu toan đưa đất nước vào ách thống trị của Bắc Kinh.

Xét rằng:

  • Trung Cộng là kẻ thù số một của nhân dân Việt Nam. Trung Cộng đã chiếm đất đai, biển đảo của Việt nam, dùng võ lực chiếm Hoàng Sa Trường Sa, khống chế Việt Nam bằng mọi hình thức về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường…
  • Trung Cộng chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng, tự tuyên bố chủ quyền hơn 80% vùng Biển Đông; gây hấn tại biển Hoa Đông; xây các đảo nhân tạo trong vùng tranh chấp ở Quần Đảo Trường Sa bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Chính phủ Hoa Kỳ vừa có hành động thích ứng rất đáng ca ngợi khi đưa chiến hạm vào vùng biển xung quanh các đảo nhân tạo do Trung Cộng chiếm giữ ở Trường Sa, cương quyết thực hiện quyền tự do lưu thông hàng hải trên vùng biển quốc tế.
  • Các cuộc tiếp đón trọng thể của lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đối với Tập Cận Bình sẽ mang ý nghĩa chấp nhận sự thống trị của Trung Cộng đối với VN và hợp thức hóa những lời tuyên bố xấc xược của Trung Cộng và đặc biệt là của Tập Cẩn Bình vể chủ quyền trên Biển Đông,

Vì thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ phối hợp cùng các Cộng Đồng trên thế giới, long trọng tuyên cáo:

  • Cực lực phản đối sự có mặt của Tập Cận Bình tại Việt Nam nhằm khống chế đất nước và dân tộc Việt Nam;
  • Lên án đảng CSVN tiếp tay dâng đất dâng biển cho Trung Cộng;
  • Nhiệt liệt ủng hộ những cuộc đối kháng, biểu tình chống Tập Cận Bình, chống Trung Cộng bất cứ hình thức nào tại quốc nội do dân chúng và những người yêu nước khởi xướng.
  • Kêu gọi đồng bào quốc nội hãy mạnh dạn đứng lên phản đối sự hiện diện của Tập Cận Bình; Kêu gọi đồng bào hải ngoại tổ chức, hoặc tham gia những cuộc biểu tình phản đối Tàu Cộng và Việt Cộng; tích cực tẩy chay hàng hóa Trung Cộng;
  • Kêu gọi các quốc gia tự do trên thế giới hãy có thái độ mạnh mẽ chống lại sự bành trướng của nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Kinh và hỗ trợ nhân dân Việt Nam đấu tranh giành Độc Lập Tự Do Dân Chủ cho Quê Hương Việt Nam.

 

Hoa Kỳ ngày 2 tháng 11 năm 2015

BS Võ Đình Hữu                                BS Đỗ Văn Hội                            Ô. Lưu Văn Tươi

CT Hội Đổng Đại Biểu                       CT Hội Đồng Chấp Hành             CT Hội Đồng Giám Sát

 

Hội Đồng Cố Vấn: Bs Trương Ngọc Tích – Đốc Sự Trần Xuân Thời – ĐT Nguyễn Xuân Sơn

Ô. Nguyễn Văn Tánh – GS Phạm Văn Thanh – KS Lê Hồng Thanh

Cố Vấn Hội Đồng Chấp Hành: Ông Nguyễn Trung Châu, Ô. Nguyễn Khắc Vinh, KS Đỗ Như Điện, Ô. Bùi Quang Lâm

Các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia:

CĐVN Arkansas, AR: Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh,

CĐVN Arizona, AZ; Chủ tịch: Ô. Đặng Thế Khương

CĐNVQG Bắc California: Ô. Phạm Hữu Sơn

CĐVN Southern California, CA; Chủ tịch: KS Trương Ngải Vinh

CĐNVQG Nam Cali; Chủ Tịch: NV Bùi Phát

 

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm  

CĐNVQG Sacramento, CA, Chủ tịch: Ô. Đỗ Thiện Thịnh

CĐNVQG Stockton, CA, Chủ Tịch: Ô. Nguyễn Hữu Hiến

CĐNVQG Charlotte, N. Carolina: Chủ Tịch Cô Nguyễn Thu Hương

CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  CT Ô. Võ Phương.

CĐNVQG Columbia, SC: CT Ông. Nghiệp Nguyễn

CĐNVQG Raleigh, NC: CT Ông Huyền Nguyễn

CĐNVQG Colorado, CO, Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Trọng Cường

CĐNVQG Connecticut, Chủ Tịch: Ô. Trần Văn Giỏi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu: Ô. Lê Thanh Liêm

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch: Ông Phạm Quốc Hưng

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch HĐĐD: Ô. Châu Ngọc An

CĐVN Tampa Bay, FL; Chủ tịch: Ô. Trần Công Thức

CĐVN Jacksonville, FL; Chủ tịch: Ô. Eric  Nguyễn

CĐVN South Florida, FL; Chủ tịch: KTS Nguyễn Đức Huy

CĐVN Pensacola, FL; Chủ tịch: Ô. Bùi Lý

CĐVN Georgia, GA, Chủ Tịch: Bà Đặng T. K. Hạnh

CĐNVQG Ilinois, IL, CT Ô. Lưu Toàn Trung

CĐNVQG Massachusetts, MA; Chủ tịch: Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn

CĐNVQG St Louis, MO; Chủ tịch: Ô. Cường Nguyễn

CĐNVQG South New Jersey, NJ; Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm

CĐNVQG New Hampshire, NH; Chủ Tịch: Ô. Lê Hà Dũng

CĐNVQG New Mexico, NM: Ô. Lương Thông,

CDVN New Jersey, NJ: Chủ Tịch: Bà Lê Ánh Nguyệt

CĐNVQG Minnesota, MN; Chủ tịch: Ô. Lê Đình Thăng

CĐNVQG Louisiana, LA; Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh

CĐNVQG New York, NY; Chủ tịch: LS Nguyễn Thanh Phong

CĐNVQG Oklahoma City, OK; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh

CĐNVQG Allentown, PA; Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo

CĐNVQG Philadelphia, PA; Chủ tịch: ô. Vũ Trực

CĐNVQG Pennsylvania, PA; Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm

CĐNVQG Pittsburgh, PA; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Hoa

CĐNVQG Lancaster, PA; Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan

CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA ; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh

CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải

CĐNVQG  TP Lebanon, PA; Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Hải

CĐNVQG TP York, PA ; Chủ tịch: Ô. Vũ Ngọc Hải 

CĐNVQG TP Easton/Bethlehem, PA.  Chủ Tịch: Ô. Đỗ Đức Chiến,

CDNVQG Nashville và Middle Tennessee, TN; Chủ Tich: Ô. Bùi Văn Kiệt

CĐNVTD West Tennessee; Chủ Tịch: Ông Đặng Q. Dũng

CĐNVQG Houston, TX; Chủ tịch: TT Trần Quốc Anh

CĐNVQG Dallas, TX; Chủ tịch: LS. Phạm Quang Hậu

CĐNVQG Utah, UT; Chủ Tịch: Ông Nguyễn Văn Thành

Danh sách các tổ chức và Cộng Đồng ủng hộ tuyên cáo sẽ được phổ biến sau.

Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, CT Đại Tá Nguyễn Văn Quí

Liên Hội Người Việt Canada, TTK: Ô. Trần văn Đông

CĐVN DC/Maryland/Virginia, CT Ông Đoàn Hữu Định, Đồng CT: Ô. Thomas Phạm.

CĐNVQG Lausane, Thụy Sĩ – CT Ô. Trần Xuân Sơn

CĐNVQG Tacoma và Pierce County, Wa, CT: BS Nguyễn Xuân Dũng

Hội Cao Niên Tacoma và Vùng Phụ Cận: Pht Ông Trần Minh

Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Vùng Hoa Thịnh Đốn, CT: Dr. Tạ Cự Hải

Thẳng Tiến Việt Nam: Đại diện: Nguyễn Sơn Hà, Thái Thanh Thuy

CĐ Người Mỹ Gốc Việt Sacramento, CA

Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn CS tại Đức Quốc, CT: BS Hoàng thị Mỹ Lâm.

 

(xin liên lạc với chúng tôi để bổ túc danh sách)

Protest against Xi Jinping. Please have strong actions on Chinese aggression

Tuesday, September 22nd, 2015

Protest against Xi Jinping.
Please have strong actions on Chinese aggression.
Please sign now! Thank you! ===========================> (sign in this box)

VIETNAMESE COMMUNITY OVERSEAS
PO Box 5055 Springfield, VA 22150
____________________________________________________________________

DECLARATION
ON THE CHINESE PRESIDENT XI JINPING’S VISIT TO THE UNITED STATES

Chinese President Xi Jinping will visit to the US from September 22nd to 28th, 2015 and will be hosted by President Obama on September 25th, 2015.

According to the White House Press release, this visit “reciprocates President Obama’s State Visit to China in November 2014. President Xi’s visit will present an opportunity to expand U.S.-China cooperation on a range of global, regional, and bilateral issues of mutual interest, while also enabling President Obama and President Xi to address areas of disagreement constructively. The President and Mrs. Obama will host President Xi and Madame Peng Liyuan at an official State Dinner on the evening of September 25.”

Whereas, The Chinese Administration had implemented erroneous activities as listed below:

1. Serious violation of the Human Rights against the people of China, especially to Falun Gong group, and deprivation of all basic rights from the people;

2. Suppression of Tibetan, the Uighurs at Xinjiang, and the Inner Mongolian etc…

3. Endless expansion with negative effects to the neighbor countries including Vietnam;

4. Self-declaration of sovereignty of 80% of East Seas (South China Sea); illegal invasion of the East Sea islands and waters; construction of artificial islands and three airports regardless international law and condemnation; causing environmental disasters and instability for the Southeast Asia and Asia-Pacific regions;

5. Cyber-attack and stealing business and personal confidential data that causes serious damage to the U.S economy and poses major threat to the U.S. homeland security.

6. Land encroachment of Vietnam with the support of The Vietnamese Communist Party that caused adverse effect in many areas such as land, economy, social, culture, etc…, and threatened the existence of Vietnam as an independent country.

7. The Obama Administration has enforced a weak policy against the aforementioned illegal expansion and China’s threat to the fundamental rights and national security of America and foreign countries.

Therefore, the Vietnamese community overseas solemnly declared:

(1) We, vehemently denounce and condemn to the world the Chinese serious human rights violations and illegal expansion;

(2) We, supplicate President Obama and all democratic countries to take strong actions to protect the freedom, democracy, fundamental rights for Chinese people and safety for the U.S and the other countries.

Washington DC, September 22nd , 2015

Representatives of Communities, Organizations:

  • Vietnamese American Community VAC) of Washington, D.C., Maryland & Virginia: Mr. Dinh Huu Doan, President.
  • Federation of Vietnamese American Communities of the USA, Vo Dinh Huu, MD – Hoi Van Do, MD- Prof. Thanh Van Pham – Tich Ngoc Truong, MD – Mr. Thoi Xuan Tran – Mr. Son Xuan Nguyen – Mr. Tanh Van Nguyen.
  • Former Vietnamese Political Prisoners Association: Fmr Qui Van Tran, President.
  • Vietnam Human Rights Network: Dr. Nguyễn Bá Tùng, President.
  • Movement for Vietnamese Laity in Diaspora: Mr. Pham Hong Lam, Coordinator.
  • Bao Tran, President, the People Force’s To Save Vietnam, Torrance, California, USA
  • Vietnamese Canadian Federation – Dong Van Tran, Secretary General
  • Liem Thanh Nguyen, Cao Đài Tây Ninh Church.
  • Hung Tran, Representative of The Cao Dai High Church Brother Overseas, Canada
  • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, Arkansas.
  • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ,
  • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA,
  • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA
  • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA,
  • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA
  • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California
  • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA
  • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA
  • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CA
  • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC
  • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC
  • Gioi Van Tran, President, VAC of  Connecticut, CT,
  • – Mr. Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL
  • Lien Thanh Le: President, BOD, VAC Florida.
  • – Mr. Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL,
  • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC  Central Florida, FL,
  • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL,
  • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL,
  • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL,
  • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
  • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA
  • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL
  • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA,
  • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA
  • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of  Massachusetts, MA,
  • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN,
  • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO,
  • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM,
  • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH,
  • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ,
  • Paula Hícks-Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ
  • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY,
  • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK,
  • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA
  • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA,
  • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA,
  • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA,
  • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA,
  • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA,
  • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA,
  • – Mr. Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA
  • – Mr. Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg ,PA
  • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA
  • Do duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem
  • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina
  • – Mr. Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
  • – Mr. Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN,??
  • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN
  • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX
  • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX
  • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT
  • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
  • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey
  • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association
  • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community VAC) of Washington, D.C., Maryland & Virginia
  • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany
  • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, ca, United States
  • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia
  • Lam Bui, Phoenix, Arizona, United States
  • Bill Duong, Sterling, Virginia, United States

…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………..

Tuyên Cáo chống Tập Cẩm Bình Đến Hoa Kỳ

Tuesday, September 22nd, 2015

Xin ký tên vào ô bên tay phải ——->

*

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA TẠI HẢI NGOẠI

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

______________________________________________________

TUYÊN CÁO

NHÂN DỊP TẬP CẨM BÌNH VIẾNG THĂM HOA KỲ

Chủ tịch Trung Cộng Tập Cẩm Bình sẽ viếng thăm Hoa Kỳ từ ngày 22 đến 28 tháng 9 năm 2015 và sẽ được Tổng Thống Obama tiếp đón vào ngày 25/9/2015.

Theo thông cáo báo chí từ tòa Bạch Ốc: “cuộc viếng thăm này là đáp lại việc Tổng Thống Obama đến thăm Trung Cộng tháng 11 năm 2014.  Cuộc thăm viếng của Tập Cẩm Bình sẽ tạo cơ hội mở rộng sự hợp tác Mỹ – Trung trên cấp độ toàn cầu, cấp vùng và những vấn đề lợi ích hỗ tương, đồng thời hai vị sẽ nêu lên những bất đồng một cách xây dựng.  Tổng Thống và bà Obama sẽ khoản đãi Tập Cập Bình và phu nhân vào tối 25 tháng 9.”

Xét rằng: Nhà cầm quyền TC đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng như sau:

  • Vi phạm nhân quyền trầm trọng đối với dân tộc Trung Hoa, nhất là giáo phái Pháp Luân Công; tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân;
  • Đàn áp các dân tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Nội Mông…
  • Chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng trong đó có Việt Nam;
  • Tự tuyên bố chủ quyền 80% vùng Biển Đông; xâm lăng bất hợp pháp các đảo và hải phận Biển Đông; xây các đảo nhân tạo và 3 đường bay bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây ra thảm họa môi trường và nguy cơ bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Tấn công và ăn cắp các dữ kiện bí mật thương mại và cá nhân của Hoa Kỳ gây ra tổn thất nghiêm trọng về kinh tế và nền an ninh của Hoa Kỳ;
  • Lấn chiếm đất đai của Việt Nam với sự tiếp tay của đảng Cộng Sản Việt Nam; gây tác hại trên nhiều lãnh vực như kinh tế, môi trường, xã hội, văn hóa… đe dọa sự tồn vong của Việt Nam.
  • Chính phủ của Tổng Thống Obama đã áp dụng một chính sách không đủ mạnh trước nguy cơ bành trướng và mối đe dọa của Trung Cộng đối với quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và các nước khác.

Vì thế, người Việt Nam trên toàn thế giới long trọng:

Tuyên Cáo

  • Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận quốc tế những vi phạm nhân quyền và mưu đồ bành trướng của Trung Cộng;
  • Thỉnh cầu Tổng Thống Obama và các quốc gia tự do cần có thái độ cương quyết để bảo vệ nền dân chủ cho Trung Hoa; quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và toàn thế giới.

Hoa Kỳ ngày 25 thán 9, 2015

Đại Diện các Cộng Đồng, Đoàn Thể, Tổ Chức:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

 

VIETNAMESE COMMUNITY OVERSEAS

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

____________________________________________________________________

 

DECLARATION

ON THE CHINESE PRESIDENT XI JINPING’S VISIT TO THE UNITED STATES

Chinese President Xi Jinping will visit to the US from September 22nd to 28th, 2015 and will be hosted by President Obama on September 25th, 2015.

According to the White House Press release, this visit “reciprocates President Obama’s State Visit to China in November 2014. President Xi’s visit will present an opportunity to expand U.S.-China cooperation on a range of global, regional, and bilateral issues of mutual interest, while also enabling President Obama and President Xi to address areas of disagreement constructively. The President and Mrs. Obama will host President Xi and Madame Peng Liyuan at an official State Dinner on the evening of September 25.”

Whereas, The Chinese Administration had implemented erroneous activities as listed below:

  1. Serious violation of the Human Rights against the people of China, especially to Falun Gong group, and deprivation of all basic rights from the people;
  2. Suppression of Tibetan, the Uighurs at Xinjiang, and he Inner Mongolian etc..
  3. Endless expansion with negative effects to the neighbor countries including Vietnam;
  1. Self-declaration of sovereignty of 80% of East Seas (South China Sea); illegal invasion of the East Sea islands and waters; construction of artificial islands and three airports regardless international law and condemnation; causing environmental disasters and instability for the Southeast Asia and Asia-Pacific regions;
  1. Cyber-attack and stealing business and personal confidential data that causes serious damage to the U.S economy and poses major threat to the U.S. homeland security.
  2. Land encroachment of Vietnam with the support of The Vietnamese Communist Party that caused adverse effect in many areas such as land, economy, social, culture, etc…, and threatened the existence of Vietnam as an independent country.
  3. The Obama Administration has enforced a weak policy against the aforementioned illegal expansion and China’s threat to the fundamental rights and national security of America and foreign countries.

Therefore, the Vietnamese community overseas solemnly declared:

  • We, vehemently denounce and condemn to the world the Chinese  serious human rights violations and illegal expansion;
  • We, supplicate President Obama and all democratic countries to take strong actions to protect the freedom, democracy, fundamental rights for Chinese people and safety for the U.S and the other countries.

 

Washington DC, September 22nd , 2015

Representatives of Communities, Organizations:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    106-Quoi Nguyen, Jacksonville, Florida, USA.

    107- Tri dang, Toronto, ont, Canada.

    108- D.Q. Nguyen, Oklahoma city, OK, USA

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

Trách nhiệm của người cầm bút – Nguyễn Vũ Bình

Thursday, September 17th, 2015

Thu, 09/17/2015 – 10:39 — nguyenvubinh

     Trong bất cứ xã hội nào, người cầm bút luôn là những người được tôn trọng. Với đặc trưng nghề nghiệp, phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, để người dân tham khảo từ đó đưa ra các quyết định phù hợp cho bản thân và gia đình. Ở các xã hội dân chủ, với các định chế tự do ngôn luận và tự do báo chí, việc phản ánh trung thực hiện thực khách quan, sự thật là công việc thường ngày của những người cầm bút. Có thể có lúc này lúc khác, họ phải đối mặt với hiểm nguy, phải cân nhắc sự lợi hại trong việc đưa tin trung thực, hoặc có những quyết định dũng cảm để nói ra sự thật. Tuy nhiên, đó chỉ là những trường hợp cá biệt mà thôi.

Ngược lại, đối với các xã hội độc tài, nhất là độc tài toàn trị cộng sản, những người cầm bút không có may mắn như vậy. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, dưới tác động của những thay đổi lớn từ khi hội nhập nền kinh tế, dưới sức ép của quốc tế, với sự đấu tranh kiên trì của những người  bất đồng chính kiến và quan trọng nhất với sức lan tỏa của hệ thống Internet toàn cầu, của các mạng xã hội, đặc biệt là mạng xã hội Face books, nhà cầm quyền Việt Nam đã phải từng bước thỏa hiệp và nhường lại một phần không gian cho truyền thông phi chính thống. Chúng ta nhận thấy, các báo, tạp chí thậm chí các kênh thông tin bằng âm thanh, hình ảnh của người dân, của phong trào dân chủ đã xuất hiện và đi vào hoạt động (chủ yếu trên Internet) khá đều đặn, ổn định. Không những vậy, với mạng xã hội face books, mỗi người dân lại trở thành những người thông tin, thậm chí viết bài chủ động với các thể loại vô cùng phong phú, đa dạng. Có thể nói, tự do ngôn luận ở Việt Nam đã có bước thay đổi về chất, mặc dù chưa được hoàn toàn chuyển hóa thành tự do báo chí. Chính vì vậy, vấn đề trách nhiệm của người cầm bút cần được đặt ra. Tất nhiên, chúng ta đều hiểu, những người cầm bút chỉ là hình ảnh tượng trưng, bao gồm những người viết bài và những người đưa thông tin bằng âm thanh, hình ảnh, vv…

Có thể nói, trách nhiệm lớn nhất, quan trọng nhất của người cầm bút là phản ánh sự thật, nói lên sự thật hay còn gọi là phản ánh trung thực hiện thực khách quan. Đây là tiêu chí số một, không cần bàn cãi đối với bất cư người cầm bút có lương tri nào. Tuy nhiên, ở các xã hội cộng sản nói chung, và cộng sản Việt Nam nói riêng, ngoài những vấn đề về sinh hoạt, việc hiểu được sự thật không phải là một việc dễ dàng. Bởi vì, tất cả sự thật đã bị bưng bít, bị bóp méo phục vụ cho việc tuyên truyền. Không những thế, mọi hoạt động của con người, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều nằm trong sự kiểm soát và nhào nặn của hệ thống tuyên truyền kéo dài gần một thế kỷ. Chính vì vậy, để giải thích được  sự vận hành của sự thật, ăn khớp với các diễn biến đang diễn ra là một việc cực kỳ khó khăn. Có thể có những ví dụ sinh động, năm 1997, ở tỉnh Thái Bình, có trên 95% đảng bộ (xã) đạt danh hiệu đảng bộ trong sạch vững mạnh. Nhưng cũng năm đó, trên 70% số xã của tỉnh Thái Bình đã tham gia khiếu kiện tập thể về sự tham nhũng của các quan chức, đảng viên các địa phương. Sự kiện này đã gây chấn động cả nước về quy mô và tính chất phản kháng của người dân đối với nhà cầm quyền địa phương trên khắp địa bàn tỉnh Thái Bình. Một ví dụ khác, mới chỉ cách đây hơn một năm, chúng ta còn hân hoan với các con số về tăng trưởng, về số tiền và dự án đầu tư vào Việt Nam, vv… nhưng đùng một cái, các thông tin được tiết lộ, số nợ công của chính phủ và doanh nghiệp nhà nước đã gấp rưỡi, gấp đôi GDP và hoàn toàn không có khả năng thanh toán. Còn một ví dụ giản dị hơn mà người dân rất hay được chứng kiến. Đó là vấn đề tăng giá xăng dầu, chỉ mới tối hoặc ngày hôm trước, có quan chức lên ti vi khẳng định giá xăng dầu sẽ không tăng, thì ngày hôm sau, giá đã tăng ngất ngưởng.

Tóm lại, người cầm bút muốn phản ánh được sự thật thì cần phải có những hiểu biết, những kiến thức và bản lĩnh để tìm ra, phát hiện sự thật bị vùi lấp, bóp méo để đưa đến cho người dân, bạn đọc. Người dân cần những sự thật như thế, để hiểu được tại sao số phận họ và con em họ lại nghiệt ngã, bế tắc và tăm tối như vậy.

Một trách nhiệm quan trọng không kém của người cầm bút là đứng về phía nhân dân, bảo vệ sự thật. Chúng ta đều biết, đối với xã hội độc tài toàn trị cộng sản, nói lên sự thật, phơi bày sự thật là đối kháng lại với nhà cầm quyền hiện nay. Đồng thời, nói lên sự thật cũng đồng nghĩa với việc đứng về phía người dân, những người bị áp bức. Nhưng bất kỳ ai cũng sẽ gặp phải sự xuyên tạc, chụp mũ và đàn áp của nhà cầm quyền khi nói lên sự thật. Vì vậy, cần phải bảo vệ sự thật mà bản thân họ đã phản ánh, và đó là quá trình gian khổ, không hề dễ dàng. Nhận thức được điều này, mới giúp người cầm bút đi tới cùng đến với sự thật, đến với nhân dân.

Gần đây, có một nhà báo của tờ Thanh Niên điện tử đã bị mất chức do việc viết bài trào phúng trên trang face books cá nhân của mình. Đây là việc xử lý hoàn toàn cảm tính, không theo các quy định pháp luật vì việc chia sẻ trên mạng xã hội face book là việc cá nhân, không liên quan tới đơn vị công tác, tới công việc. Vậy nhưng, trên 700 tờ báo chính thống, và hàng chục vạn nhà báo có thẻ ở Việt nam đã không dám đứng lên bênh vực đồng nghiệp. Điều lạ là những nhà báo nhân dân, phi chính thống và cộng đồng mạng lại vạch ra những sai trái trong việc xử lý nhà báo này. Việc bảo vệ nhà báo này, chính là bảo vệ sự thật, đứng về phía người bị áp bức phi lý, đó cũng là trách nhiệm của người cấm bút.

Trong bối cảnh người dân ít nhiều được cất lên tiếng nói như hiện nay, sự hiểu biết, bản lĩnh và nhất là lập trường dứt khoát đứng về phía người dân sẽ giúp cho người cầm bút tạo lập được vị thế và uy tín trong lòng độc giả. Những người có trách nhiệm với ngòi bút của mình, cũng chính là có trách nhiệm với lương tâm, nhân cách của họ và họ xứng đáng được tôn vinh trong giai đoạn bùng nổ truyền thông phi chính thống hiện nay./.

Hà Nội, ngày 16/9/2015

N.V.B

Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Sunday, August 23rd, 2015

ỦY BAN VẬN ĐỘNG

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Email: lienketHN@gmail.com

________________________________________

 THÔNG BÁO 

Về Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại 

Kính gửi:

–          Quý vị Lãnh Đạo Tinh Thần các Tôn Giáo;

–          Quý vị Lãnh Đạo các Cộng Đồng, Tổ Chức Quân, Dân, Cán, Chính VNCH, các Tổ Chức Đảng Phái Chính Trị, Tổ chức dân sự Văn Hóa, Chính Trị, Truyền Thông, Nghề Nghiệp, Thương Mại, Tôn Giáo, Thanh Niên, Ái Hữu;

–          Quý vị Đồng Hương tại Hải Ngoại;

–          Và quý Đồng Bảo tại Quốc Nội (để kính thông báo)

Thưa quý vị,

Năm 2015 đánh dấu 40 năm Cộng Sản miền Bắc chiếm trọn miền Nam Việt Nam, áp đặt một chế độ độc tài toàn trị lên hai miền Nam Bắc. Cho đến ngày hôm nay, hơn 90 triệu đồng bào trong nước vẫn phải sống dưới ách kìm kẹp của đảng Cộng Sản trong khi thế giới đã thay đổi sâu rộng: Làn gió dân chủ lan tràn khắp toàn cầu; chủ nghĩa Cộng Sản đã cáo chung; các chế độ Cộng Sản tan rã khắp nơi chỉ còn tồn tại trong bất ổn định ở bốn Quốc gia trong đó có Việt Nam (Trung Cộng, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam).

Tại Quốc Nội, cuộc đấu tranh của đồng bào đòi tự do dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ ngày càng dâng cao bất chấp thường xuyên bị đàn áp, bắt bớ, giam cầm.

Họa xâm lăng Việt Nam từ phương Bắc đã thành hiện thực, nguy cơ mất nước đã đến gần.

Tại Hải Ngoại, trong 40 năm qua Người Việt tỵ nạn đã có nhiều nỗ lực kết hợp nhưng chưa thành công vì hoàn cảnh chưa thích hợp.  Ai cũng biết Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại cần có tiếng nói chung trước Quốc tế và cần có một tập thể vững mạnh để hỗ trợ hiệu quả cho cuộc đấu tranh của đồng bào quốc nội.

Vì thế nhu cầu kết hợp là cần thiết và cấp bách.

Chúng tôi gồm đại diện các Cộng Đồng, Tổ Chức, Đoàn Thể, Hội Đoàn, Nhân Sĩ trên thế giới đã gặp gỡ, trao đổi, nghiên cứu và vận động suốt một năm qua để tiến đến việc tổ chức một Hội Nghị Liên Kết nhằm thực hiện các mục tiêu nói trên.

MỤC ĐÍCH HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Mục đích của Hội Nghị nhằm kết hợp các Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại thành một cơ cấu Đại diện chính danh cho tiếng nói chung của người Việt tại hải ngoại nhắm hai mục tiêu: Đối phó với tình hình đất nước và; Thực hiện các công tác của người Việt ở nước ngoài.

Thành phần tham dự Hội Nghị bao gồm: các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, Canada, Á Châu v.v… đã được bầu ra hợp pháp và hoạt động bất vụ lợi; các Tổ chức và Đảng phái đấu tranh có lập trường Quốc gia rõ rệt; các Tổ chức cựu Quân nhân, Cảnh sát; các tổ chức dân sự như Tôn giáo, Văn hóa, Truyền thông, Nghề nghiệp, Thanh niên, Ái hữu v.v…

NGUYÊN TẮC LIÊN KẾT:

Để công tác liên kết thành công, chúng tôi xin đề ra những nguyên tắc căn bản như sau:

1-      Cộng Đồng địa phương là đơn vị căn bản trong Hội Nghị, tương tự như các quốc gia hội viên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Ban Đại Diện Cộng Đồng các Châu lục có thể đại diện cho Cộng Đồng địa phương (có giấy ủy quyền) nếu Địa phương không về dự được. Các tổ chức Tôn Giáo, Chính trị và Xã hội có thể cử đại diện tham dự.

2-      Có lập trường Quốc Gia không chấp nhận Chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản bất cứ dưới hình thức nào. Minh bạch không hòa hợp và hòa giải với Cộng Sản.

3-      Kết hợp trong tinh thần “vì quyền lợi tối thượng của Đất Nước, của Cộng Đồng, không vì quyền lợi cá nhân, tổ chức, đảng phái, tôn giáo hay giai tầng xã hội…”

4-      Mọi cá nhân tham dự trong các cơ cấu được thành lập phải phục vụ cho quyền lợi chung không vì quyền lợi riêng của Tổ chức mình đại diện.

5-      Gạt bỏ những tỵ hiềm cá nhân, tổ chức và đảng phái. Hợp tác chân thành, trong tinh thần tương thân tương ái, trao đổi hòa nhã, tôn trọng nguyên tắc dân chủ.

6-      Ứng dụng phương thức khoa học, thường xuyên liên lạc bằng những phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại viễn liên (teleconference calls), skype, paltalk, Webcam…

7-      Trong thời gian lâm thời 1 năm, Ủy Ban Liên Lạc Phối Hợp được Hội Nghị thành lập có nhiệm vụ thực hiện các công tác của Cộng Đồng hải ngoại. Ủy ban này có trách nhiệm tổ chức Đại Hội Liên Kết lần thứ II rộng lớn hơn sau 1 năm để thành lập Cơ cấu Đại diện duy nhất và thống nhất toàn cầu.

8-      Mọi điều đi ngược lại với những nguyên tắc này đều không được cứu xét.

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỀM TỔ CHỨC HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Hội Nghị được tổ chức trong 2 ngày:

11 và 12 tháng 10, 2015 (Chủ Nhật và Thứ Hai)

Tại Khách Sạn Courtyard Marriott – Dunn Loring Fairfax

2722 Gallows Rd, Vienna, VA 22180-7133 (703) 573-9555 

Lý do tổ chức tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ vì nơi đây được công nhận là Trung tâm quyền lực ảnh hưởng của Thế giới. Giá cả khách sạn, sinh hoạt phải chăng, lưu thông dễ dàng.

CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT HỘI NGHỊ:

* Chủ Nhật 11 tháng 10, 2015:

Sáng: 10:00 am – 12:00 pm. Lễ Khai mac

Chiều: Hội thảo các nguyên tắc, văn bản của Hội Nghị

Tối: Cơm thân mật hội ngộ.

* Thứ Hai 12 tháng 10, 2015:

Sáng: tiếp tục Hội Nghị, thành lập Ủy Ban Phối Hợp

Trưa: bế mạc

Cơm trưa – giới thiệu Ủy Ban Phối Hợp và các công tác trong tương lai.

Thư mời và chi tiết tham dự Hội Nghị sẽ được phổ biến và gửi đến quý vị sau.

Rất mong được toàn thể quý vị hưởng hứng, tham dự, góp ý kiến và hỗ trợ cho Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại được thành công.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 22 tháng 8, năm 2015

Thay mặt Ban Vận Động

BS Đỗ Văn Hội,                 Ô. Đoàn Hữu Định.         Ô. Nguyễn Văn Tánh

Chủ Tịch HĐCH                     Chủ Tịch                                 Cựu Chủ Tịch CĐNVQG HKỳ

CĐNVQG/ Liên Bang HKỳ   CĐVN DC. MD. VA.            Trưởng Ban Điều Hợp

Liên lạc:

LienketHN@gmail.com

BS Đỗ Văn Hội:         407-234-3596hoivando@gmail.com

Ô. Đoàn Hữu Định:    703-475-6186CongdongthudoHTD@gmail.com

Ô. Nguyễn Văn Tánh:       347-481-8283Tanhnguyen1947@yahoo.com

Mọi yểm trợ xin đề:

CDVN DC. MD, VA

Memo: Hội Nghị Liên Kết

Và gửi về:

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Declaration On the subject of removing neck strap and not allowing to display the yellow flag with three red stripes

Wednesday, August 12th, 2015

Declaration

On the subject of removing neck strap with yellow flag symbol and not allowing to display the yellow flag with three red stripes when Ambassador Ted Osius meeting with the Vietnamese American Communities.

During the meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese-American Communities in the Southern and Northern California last mid-July, a couple incidents have occurred that made the Vietnamese-Americans and other Vietnamese communities around the world quite discontented with.

Summary of incidents:

  1. In these meetings, the US Ambassador to Vietnam Ted Osius asked not to display the yellow flag with three red stripes in the hall because of “diplomatic reason” and his ambassadorial position. However he always wore on the pin showing 20th anniversary of diplomatic relations between (Communist) Vietnam – US containing Vietnam Communist flag, the flag that the Vietnamese refugees abroad does not recognize and that belongs to the Communist Party and does not represent the country and the people of Vietnam. The current communist authorities in Vietnam were not elected freely by the people. Also, they seriously violated human rights and other rights of their people.

2- In particular at the meeting in San Jose, besides not allowing display of yellow flag with three red stripes, the organizers also requested Miss Do Minh Ngoc to remove her neck strap made of yellow flag with three red stripes and the US flag.

  1. The organizers did not notify in advance that there will be no yellow flag with three red stripes allowed so that the people can decide whether to attend the meeting or not. The Vietnamese community was caught by surprise of such rule, and because of courtesy for the Ambassador, the meeting goers had reluctantly agreed to stay.

Whereas:

1. The town hall meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese Americans, presenting and acquiring opinions from the Vietnamese Americans are useful dialogue and appreciated by our community. However, unfortunately above mentioned incidents had offended the Vietnamese Community.

  1. Wearing a symbolic neck strap is the freedom of expression under the US Constitution and the International Covenant on Political Freedom and Civil Rights of the United Nations. Removing that symbol is an act of violations of human and civil rights and freedom of expression.
  2. The yellow flag with three red stripes symbolizes the “Heritage and Freedom” of the Vietnamese Americans that had been officially recognized by many cities, counties and states in America. Denying this symbol means going against the aspiration of the Vietnamese Community in the United States in particular, and against others in the world in general.
  3. Wearing a pin with the Communist flag when meeting with the Vietnamese people who once fled the Communists is an indelicate act; it could be seen as provocative to them.
  1. If because of diplomatic reasons and the duty that Ambassador must act like that, why his predecessors did not question about the yellow flag with three red stripes when meeting the Vietnamese American Community?
  2. The above incidents really offended the Vietnamese Community in the United States and throughout the world.

Therefore, the Federation of Vietnamese American Communities of the USA:

  1. Oppose the above incidents; withstand the US government if it does not allow its diplomatic officials to be photographed with Vietnamese Community with its traditional yellow flag with three red stripes.
  2. Request the authorities to investigate, publish and have appropriate discipline toward those who have instructed to remove the neck strap of Miss Do Minh Ngoc; and also to offer her a public apology.
  3. Recommend all the Vietnamese Communities should have necessary political attitudes toward any government or individual that:
  4. Advocate and assist the Communist regime and ignore the interest of over 90 million people in Vietnam that need freedom and democracy;
  5. Offend the symbol, the yellow flag with three red stripes, of the Vietnamese refugees abroad.

Executed in the United States on August 11, 2015

Huu Dinh Vo, M.D.: Chairman, Board of Representatives   Huu Dinh Vo
Hoi Van Do, M.D.: Chairman of the Executives                   Hoi Van Do
Thanh Van Pham, M.A: Chairman of Board of Supervisors Thanh Van Pham

Contact:

Dr. Hoi Van Do

Tel. 407-234-3596

Email: Hoivando@gmail.com

Tài liệu Trung Cộng về ý đồ chiếm quần đảo Trường Sa tại Biển Đông  

Tuesday, July 28th, 2015

 

QUẦN ĐẢO NAM SA*

*Gs Vũ Cao Đàm dịch (*theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo *“Trung quốc Binh khí Đại toàn”)*

DHVH13_Xe Hoa_BanDo

(Hình minh họa – Diễn hành Văn Hóa Quốc Tế chủ đề Hoàng Sa Trường Sa của VN)

*Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.*

* Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :*

*1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những  đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm,  khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.*

*2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.*

*3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.*

*4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.*

*5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.*

*6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.*

*7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.*

* 8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.*

*9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.*

 *10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công. Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.*

*Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng.

Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.*

*Trên lĩnh vực quân sự**, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải.*

* Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết.*

* Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng.*

*Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc.*

*Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.*

*Trên lĩnh vực chính trị**, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta.*

*Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh.*

* Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của
nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.*

*Trên lĩnh vực ngoại giao**, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. *

* Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.*

* Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”.*

 *Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm*

* “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipines, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc.*

* Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó. Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt.*

* Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối.*

* Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu tiên thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.*
Gs. Vũ Cao Đàm dịch
Nguồn: VQC

 

Đôi Chân Bằng Đất Sét (của Trung Cộng)

Monday, July 27th, 2015

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

Hí họaTập Cận Bình đả hổ Chu Vĩnh Khang, cựu bộ trưởng bộ công an Trung cộng.
Bài đọc suy gẫm: Nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có “Đôi chân bằng đất sét”, câu nói nổi tiếng của cựu Thủ tướng Chu Dung Cơ, thời Giang Trạch Dân nắm quyền bên tàu.  Blog Mười Sáu thân mời quý độc giả theo dõi bài viết về Tập Cận Bình và chính sách cải cách của ông ta liệu có thành công qua nhận xét của tác gỉa Chu Chi Nam và Vũ văn Lâm.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Bạc Hy Lai (trái), cựu Bí thư thành ủy Trùng Khánh, Từ Tài Hậu (giữa, chết), Phó chủ tịch quân ủy trung ương, và (phải) Chu Vĩnh Khang trước vành móng ngựa với mái tóc bạc trắng.
 
Tập cận Bình và chương trình cải cách.
Tập cận Bình sinh năm 1953, tại Bắc kinh, nhưng quê quán thực của ông ở Thiểm tây, cha là Tập trọng Huấn (1913 – 2002), là một Phó Thủ tướng trước đây. Tập cận Bình là người ít nói, ít phát biểu, có nhiều người còn cho ông là người không có lập trường rõ rệt. Ông từng làm Bí thư thành phố  Thượng Hải, được Giang Trạch Dân chọn lựa và hậu thuẫn để trở thành người kế thừa của Hồ Cẩm Đào với ý định trong tương lai, khi họ Đào không còn quyền, ông lên ngôi, thì họ Giang dễ khống chế ông.
Tập cận Bình từng bước trở thành Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau đó lần lượt vào năm 2010 ông được bầu vào chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, n ăm 2012 tr ở th ành Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực của đảng cộng sàn Tàu.
Có lẽ tất cả những kế hoạch, dự đoán của họ Giang từ ngày họ Tập lên ngôi đều trở nên mây khói ?
Chương trình cải cách của Tập cận Bình.
Tháng 8/2013, họ Tập ra Văn kiện được mang tên là « Văn kiện số 9 «, trong đó có 7 cái « Không «, bắt buộc đảng viên, công chức từ dưới lên trên phải tuân theo. Đó là: Không được tự do phát biểu ý kiến riêng ngoài ý kiến chính thức của đảng, không chấp nhận ảnh hưởng từ nước ngoài, không chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, tính phê bình, và không chấp nhận tư tưởng độc lập.
Thêm vào đó, để ngăn cản sự trốn chạy ra nước ngoài của cán bộ, họ Tập thâu hồi tất cả những hộ chiếu của họ, thành lập ủy ban gồm 3 người, kiểm soát lẫn nhau, nếu có 1 trong 3 người xuất ngoại «  Không chính đáng «, thì 2 người còn lại phải vạ lây. Họ Tập mệnh danh chương trình cải cách này là một chương trình « Trẻ trung hóa vĩ đại «, dựa trên giấc mơ của Trung quốc, niềm tự hào của dân tộc, dựa trên chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cũng từ đó, họ Tập đã tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, từ Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy hội, Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, Chủ tịch Ủy ban thanh lọc Nhà nước v.v…
Họ Tập đã thanh trừng từ trên xuống dưới, bắt đầu phong trào « Giết hổ và đập ruồi « , loại khỏi Đảng, khỏi Nhà nước 182,000 công chức từ thấp đến cao, bắt đầu bằng vụ đưa ra tòa Bạc hy Lai, rồi khai trừ Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội ra khỏi đảng vào ngày 30/06/2014. Ngày 29/7/2014, Đảng cộng sản Trung quốc tuyên bố điều tra Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba, trong đảng.
Đó là sơ qua một vài vụ thanh trừng to lớn.
Hình ảnh những người tự thiêu phản đối chính sách đàn áp, Hán hóa người dân Tây Tạng của chính quyền Bắc Kinh gây chấn động thế giới
Ngoài ra họ Tập còn đàn áp dã man dân Duy ngô nhĩ, dân phần lớn theo đạo Hồi ở vùng tây bắc, trấn áp Tây Tạng, gửi thông điệp cứng rắn đối với Đài loan, dẹp tất cả những hy vọng của dân Hồng kông mong muốn có một cuộc bầu cử tự do trong tương lai, theo kiểu dân cử, dân bầu, chứ không phải là một cuộc bầu cử « Đảng cử, dân bầu «,được áp đặt từ Bắc kinh.
Nhưng thật ra bản chất của cuộc cải cách này là một cuộc cải cách giật lùi hay đúng hơn chỉ là một cuộc tranh quyền, thâu tóm quyền hành vào tay một người, trái lại nguyên tắc lãnh đạo tập thể, để lại từ hồi Đặng tiểu Bình, và tương đối được tuân thủ  và  áp dụng bởi Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào.
Độc tài từ cổ chí kim trên thế giới là một chế độ cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, nhất là với 2 chế độ độc tài phát xít và cộng sản. Cái loa có nghĩa là khai thác tối đa nghệ thuật tuyên truyền. Kiểu nói như Goebel, Bộ trường Tuyên truyền của Hitler: « Một sự việc dù không phải là sự thật, nhưng chúng ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, sau đó không nghi nữa và cuối cùng cho đó là sự thật. » Bưng bít thông tin, chỉ cho dân nghe những thông tin, dù không phải sự thật, nhưng có lợi cho chế độ.
Với Hitler thì khơi dậy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bài trừ Do thái, đưa ra lý thuyết không có một tý gì là khoa học, theo đó « Chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết nhất, tài giỏi nhất. Đó là chủng tộc của dân Đức, xứng đáng để thống trị thế giới «. Cộng sản thì khơi dậy những bản năng xấu xa, ghen tỵ của con người, qua lý thuyết bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ tất cả những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp được truyền thừa hàng ngàn năm lịch sử nơi con người. Thêm vào đó cả 2 chế độ phát xít và cộng sản đều vẽ ra một thiên đàng, một bên là thế giới thiên đàng của giòng giống Aryen, dân tộc Đức. Bên kia là thiên đàng cộng sản.
Cai trị dân với cái còng và cái súng là khủng bố, bỏ tù những thành phần không cùng chính kiến, đường lối với họ, và nếu sự chống đối trở nên có ảnh hưởng mạnh mẽ thì sẽ bị vu khống, thủ tiêu và hãm hại.
Ngày nay, ở một vài nước cộng sản còn lại, vì kinh nghiệm cộng sản đã thất bại ê chề sau hơn 70 năm áp dụng, thì họ trở về chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kiểu phát xít.
Từ đó chúng ta xét bản chất thực của chương trình cải cách Tập cận Bình: Đó là chương trình cải cách giật lùi, trở về thời quân chủ phong kiến, quyền hành tập trung vào tay một người, ngày xưa là ông vua, ngày nay là Tổng bí thư. Hiện nay họ Tập nắm hết trong tay mọi quyền hành.
Vì vậy bản chất thật cuộc cải cách của họ Tập chỉ là một cuộc tranh quyền mà ngày hôm nay người ta thấy rõ là giữa Giang trạch Dân, cựu Tổng bí Thư, được phe nhóm tài phiệt Thượng hải và Hồng kông ủng hộ và phe nhóm Tập cận Bình, được mang nhãn hiệu là chống tham nhũng, trẻ trung hóa và trong sạch hóa chế độ, thực hiện giấc mơ Trung quốc.
Người Tàu có câu châm ngôn « Giết gà để dọa khỉ «, thực chất là họ Tập giết cả gà lẫn khỉ, khi chúng không theo mình, và dung túng cả gà lẫn khỉ, khi chúng theo mình. Hỏi rằng ở nước Tàu hiện nay, trong những người đảng viên, từ cấp dưới lên đến ngay Tập cận Bình, có ai là không tham nhũng. Cũng như họ Tập ra lệnh thâu hồi tất cả những người có hộ chiếu ra nước ngoài, lập ra tổ 3 người trong cơ quan đảng và nhà nước để kiểm sóat lẫn nhau về việc xuất ngọat. Trong khi đó thì chính con gái họ Tập hiện nay đang học ở Hoa kỳ, tại trường đại học Harvard. Việc thanh trừng 182 000 nhân viên đảng và nhà nước đi đến chỗ ai cũng sợ, có những cơ quan nhà nước, người cầm đầu bị thanh trừng, người dưới không dám lên kế vị, vì ai cũng tham nhũng, sợ bị chỉa mũi dùi vào mình.
Họ Tập không những trở về thời quân chủ phong kiến, mà còn trở về thời kỳ xấu xa nhất của chế độ cộng sản Tàu, thời kỳ « Cách mạng Hồng vệ binh «, khơi dậy lòng hận thù của của những giai tầng xã hội, đề cao tinh thần dân tộc cực đoan. Tập cận Bình hiện nay là hình ảnh những tên bạo chúa tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại, như vua Kiệt, Tần thủy Hoàng, Mao trạch Đông của Tàu, như Néron, Staline của thế giới, cho rằng: « Kẻ nào không theo Ta, thì có nghĩa là chống Ta «, « Ta chính là Nhà nước và Pháp luật « .
Ngày xưa vua cho rằng mình thay trời để trị dân, ngày hôm nay họ Tập cho rằng mình có một sứ mạng cao cả, dẫn dắt dân tộc Tàu thực hiện ước mơ của mình, trẻ trung hóa chế độ, mang lại hạnh phúc cho mọi người dân và sự kính nể đối với những nước trên thế giới.
Vẽ ra những ước mơ, cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, đây không phải là riêng của Tập cận Bình, mà là của tất cả giới lãnh đạo cộng sản. Ngày hôm nay Tập cận Bình đang trở về phương pháp này với dân Tàu. Vì vậy thực chất đây là một cuộc cải cách giật lùi.
Chương trình cải cách cuả Tập cận Bình sẽ thành công ?
Một câu hỏi đến với chúng ta là liệu chính sách cải cách của Tập cận Bình sẽ thành công hay không ?
Có nhiều người cho rằng sẽ thành công, viện những lý do: Với sức mạnh kinh tế hiện nay, theo như bản thống kê mới nhất của Quĩ Tiền tệ thế giới, tổng sản lượng kinh tế tính theo khả năng mua sắm, thì Trung cộng hiện nay là 17 632 tỷ $, đã qua mặt Hoa kỳ là 17 416 tỷ, cũng như Ấn độ, với tổng sản lượng là 7 277 tỷ, đã qua mặt Nhật, với 4,788 tỷ. ( Theo Bản Tường trình của FMI – tháng 10/2014). Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ là sản lượng tính theo đầu người hàng năm của Hoa Kỳ và của Nhật là gấp 4 hay 5 lần của Trung cộng. Ngoài ra hiện nay Trung cộng có một dự trữ gần 4,000 tỷ $, hiện là nước có nền thương mại lớn nhất thế giới, hàng hóa Trung cộng có mặt trên khắp 5 châu.
Đây là một điều hay, nhưng cũng có mặt trái của nó, đó là đừng nghĩ với kinh tế, tiền bạc là có thể giải quyết được tất, nhiều khi mang hại vào thân, ngay ở cả mức độ quốc gia, vì mức độ giầu nghèo quá chênh lệch ở Trung cộng, thêm vào đó giới giầu có, quyền lực thì càng ngày càng muốn giầu có thêm, nhiều quyền lực thêm, trước sự đau khổ của dân.
Chúng ta có thể giản tiện hóa vấn đề, ví một quốc gia như một gia đình. Một gia đình giầu có, có nhiều con cái với nhiều thân thuộc, bộ hạ, vấn đề chia gia tài giữa các con, sau khi người cha chết, có thể đưa đến việc các con cấu xé lẫn nhau. Trung cộng hiện nay đang bị “ nạn “ tương tự qua việc chuyển quyền hành. Những đại gia, vừa giầu có, vừa có quyền, đang tìm cách tiêu diệt lẫn nhau như việc Giang trạch Dân, Chu vĩnh Khang, Từ tài Hậu, Bạc hy Lai v.v… tìm cách đảo chính Tập cận Bình, cũng như sau đó tìm cách ám sát nhiều lần, nhưng không thành, theo như nhiều nguồn tin đáng tin cậy.
Điều này chứng tỏ tình hình Trung cộng không ổn như người ta tưởng.
Thêm vào đó, họ Tập lại thâu tóm quyền hành một cách rất mau lẹ. Vừa mới lên ngôi, họ Tập đã gặp Obama vào năm 2013, chính một nhân viên của Phủ Tổng thống Hoa kỳ đã tuyên bố: “ Chúng tôi rất ngạc nhiên là ông Tập cận Bình đã thâu tóm quyền hành mau lẹ như vậy “.
Chương trình cải cách của họ Tập chỉ là một chương trình bế quan tỏa cảng vào cuối thời nhà Minh, nhà Thanh, vì vậy nó sẽ không thành công, mà còn có thể đi đến chỗ làm sụp đổ chế độ cộng sản ?
Có người lại cho rằng sức mạnh của Trung cộng hiện nay chỉ là cái vỏ, chỉ là “ Một con hổ giấy “, nhãn hiệu mà Mao dùng để chỉ Hoa kỳ trước đây. Thật vậy, không nói đâu xa, ngay chính Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng của Trung cộng cũng nói: “ Trung cộng chỉ là anh khổng lồ chân bằng đất sét.”
Lý do đầu tiên và quan trọng trong sự thất bại của Tập cận Bình là ông đã đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại.
Thật vậy, nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: văn minh trẩy hái, văn minh du mục, văn minh định cư nông nghiệp, và văn minh thương mại, rồi tới văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay.
Mỗi một thời văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã. Với hai 2 nền văn minh đầu, đó là chế độ gia tộc và bộ lạc. Với văn minh định cư nông nghiệp, đó là chế độ quân chủ phong kiến; và ngày hôm nay là mô hình tổ chức dân chủ tự do và kinh tế thị trường.
Có người bảo rằng họ Tập muốn trở về thời kỳ cộng sản của Mao. Nhưng chúng ta biết, mô hình tổ chức nhân xã của cộng sản chỉ là mặt trái của mô hình quân chủ phong kiến, cũng là một chế độ cá nhân, độc đảng, độc tài, nó đã dùng khoa học, kỹ thuật và thông tin tuyên truyền để củng cố chế độ.
Lý do thứ nhì của sự thất bại, đó là như Khổng Tử đã nói:
“Để cai trị dân tốt thì phải dựa trên công lý và lòng thành tâm.”
Đằng này họ Tập không dựa trên công lý để chống tham nhũng, nhưng chỉ nhằm vào người nào tham nhũng không theo ông, còn những người theo ông thì dung túng. Họ Tập thâu hồi tất cả những chiếu kháng, hạn chế tối đa sự xuất ngoại, nhưng chính gia đình ông xuất ngoại, con gái ông đang học ở Hoa kỳ.
Lý do thứ ba của sự thất bại đó là ông đã phá hủy tất cả những luật bất thành văn, được để lại bởi Đặng tiểu Bình, nhằm thực hiện những cuộc trao quyền một cách êm thắm, tránh đổ máu. Những luật bất thành văn này đã được thực hiện bởi 2 người trước ông là Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào. Ngày 29/7/2014, họ Tập ra thông cáo điều tra Chu vĩnh Khang, quản thúc ông tại gia, tịch thu tài sản của những người họ hàng thân thích với ông này, lên tới 300 người, với tài sản là 14,5 tỷ $.
Ngày xưa thì có việc chu di tam tộc, quả là ác ôn và đổ máu. Nhưng ngày hôm nay, dù không đổ máu, nhưng tịch thu hết gia sản, rồi hôm nay bị thẩm vấn, ngày mai bị tra hỏi bởi công an, mặc dầu sống nhưng nhiều khi khổ hơn là chết. Chính vì vậy mà có người cho rằng lịch sử Tàu là một chuỗi dài tranh quyền, cướp nước và trả thù.
Những gia đình, gia tộc bị họ Tập thanh trừng, bằng bất cứ giá nào cũng tìm cách trả thù. Phim ảnh không nói lên tất cả, nhưng cũng nói lên một phần nào lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Phim chưởng Tàu là một chuỗi dài những cuộc trả thù thiên thu bất tận.
Chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng
Trở về với ý kiến cho rằng chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng trước đậy.
Thật vậy, nước Tàu có một nền văn minh lớn và rất sớm, nhưng sau đó nước Tàu bị tụt hậu, vì rất nhiều nguyên do, nhưng trong đó có một nguyên do chính, đó là chính sách bế quan tỏa cảng vào cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh và chính sách mở cửa nhập cảng vội vã tư tưởng Marx Lénine của đảng cộng sản, cặn bã của văn hóa, văn minh tây phương mà những nước này đã chối bỏ.
Nước Tàu là một nước lớn, dân tộc Tàu có một nền văn minh rất sớm:
Năm 105, đời nhà  Hán ( 206 trước Tây Lịch – 219 sau Tây Lịch), nước Tàu đã phát minh ra giấy.  Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy ( 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu. Mãi sau này Johannes Gutenberg (1400 – 1468), người Đức dựa vào những phát minh trên đã phát minh ra máy in và có thể nói đây là một trong những nguyên do chính giúp Âu châu phát triển, vì nhờ máy in mà sự hiểu biết, trí thức được lan rộng, lúc đầu là ở trong nhà thờ, in kinh thánh, sau đó được quảng bá ra ngoài.
Năm 1000, đời Bắc Tống (916 – 1125), phát minh ra địa bàn và thuốc súng. ( Theo « La Formidable Histoire de l’Economie mondiale de l’Egypte antique à la Chine de 2014 – báo Capital – hors série – Juin – Juillet 2014 « )
Tuy nhiên văn minh Tàu bị khựng lại vì rất nhiều nguyên do, mà trong đó là chế độ quân chủ, kéo dài quá lâu, từ chế độ quân chủ phong kiến tản quyền sang chế độ quân chủ tập quyền, từ thời nhà Chu ( 1134 – 770 trước Tây Lịch ) cho tới ngày hôm nay với chế độ cộng sản ( 1949 – ?), chỉ là mặt trái của chế độ này. Người ta nói Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình và ngay Tập cận Bình là những ông hoàng đế đỏ, cũng không sai.
« Cải cách giật lùi, đi ngược lại đà tiến bộ của con người, của nhân loại « của Tập cận Bình có thể thành công ngắn hạn, nhờ kích thích tinh thần quốc gia cực đoan, tôn quân, bản tính gió chiều nào theo chiều ấy của người Tàu, như trường hợp điển hình, ông Chu Bân, con của Chu vĩnh Khang, đã đứng về phía họ Tập, tố cáo bố mình. Tuy nhiên nếu thành công cũng chỉ là ngắn hạn; nhưng dài hạn, thật dài, thì có hại cho Tàu, gương cuối đời của 2 triều đại nhà Minh và nhà Thanh còn ngay trước mắt.
Hoàng cung Tử Cấm Thành do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt xây lên. Dưới: Súng thần công (nòng 21-25 cm) và đạn đá thời Hồ Quý Ly được tìm thấy ở vùng Thanh Hóa, Việt Nam.
 
 
Thực ra nói đến chính sách bế quan tỏa cảng của Tàu thì đã có từ lâu, có thể từ thời lập quốc, qua quan niệm nước Tàu là trung tâm của vũ trụ ( Trung hoa), Hán là dân tộc văn minh nhất, còn những dân tộc chung quanh chỉ là man di, mọi rợ. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài này, chúng tôi không thể đi xa, đi sâu, chỉ xin nói sơ về sự thất bại của chính sách bế quan tỏa cảng cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh :
Nhà Minh ( 1368 – 1643), do Chu nguyên Chương lập ra, sau khi đánh đuổi nhà Nguyên ( 1278 – 1368), một chế độ của người Mông cổ mà sử còn gọi là chế độ Nguyên Mông, chế độ ngoại tộc, không phải là Hán tộc. Chính vì vậy mà Chu nguyên Chương và tất cả vua quan sau này của nhà Minh có một chính sách bế quan tỏa cảng, bài ngoại rất cao, rất tàn ác với những dân tộc không phải là Hán. Đây là kinh nghiệm máu xương của dân tộc Việt nam trong vòng 20 năm bị lệ thuộc nhà Minh từ năm 1407 tới 1427. Quân đội của Trương Phụ nhà Minh không những tàn ác với dân Việt, mà còn tìm cách tiêu hủy tất cả những gì có tính chất đặc th ù dân tộc Việt, qua việc đốt sách vở, bắt tất cả những người có đầu óc mang về Tàu. Việc 2 người Việt nam, ông Nguyễn An, một trong những kiến trúc sư chính, xây lên Tử cấm Thành ( thành Bắc Kinh), một người khác, ông Hồ nguyên Trừng, con của Hồ quí Ly, bị bắt qua Tàu, làm đến chức Bộ Công, xây dựng quân cụ thời vua Minh Anh Tông, đã làm ra súng đại bác ( thần công), cũng là từ đó. Theo sử sách thì « Quân Minh khi làm lễ tế súng, đều phải tế Trừng ».
Có người nói thời Minh không có chuyện bế quan tỏa cảng, dẫn sự việc Trịnh Hòa, một hoạn quan thời Minh với lệnh của triều đình, đóng 62 chiếc thuyền, chiều dài cả 100m, chiều ngang 40m, chở 37000 hải quân, đem nhiều vàng, đồ gốm, lụa, đi từ cửa biển Lưu gia cảng, tây bắc Thượng Hải, vào năm 1405, qua Phúc kiến, có thể nói là một cuộc hành trình vòng quanh thế giới vào lúc bấy giờ, vì đã qua cả chục nước, có nhiệm vụ quảng bá sức mạnh của nhà Minh và đồng thời buôn bán, trao đổi hàng hóa. Đấy là bề ngoài của sự việc, bên trong có người cho là Trịnh Hòa còn có nhiệm vụ tìm vua Huệ đế, mà vua Minh Thành Tổ nghi là đã trốn ra nước ngoài, ở những nước chung quanh hoặc các đảo ngoài biển.
Sự  việc là vua Minh thái Tổ, Chu nguyên Chương, lập người con trưởng tên là Tiêu làm thái tử, không dè Tiêu chết sớm, vua bèn lập con của Tiêu, tên là Kiến Văn, lên làm thế tôn. Khi Chu nguyên Chương chết, Kế văn lên làm vua, tức Huệ đế, được 4 năm. Không dè người chú, lúc đó đang trấn thủ ở đất Yên xưa kia, mang quân về đảo chánh, thành công, lên ngôi vua tức Minh thành Tổ. Minh thành Tổ nghi Huệ đế trốn ra nước ngoài nên làm ra đoàn tầu Trịnh Hòa, để đi kiếm. Điều này nói lên sự tranh quyền, giữ quyền ở Tàu rất là khủng khiếp, cũng chẳng khác nào như thời Tập cận Bình hiện nay. Vì nhiều lý do, trong đó có lý do là sau khi Minh thành Tổ chết, việc tìm kiếm Huệ đế không được đặt ra, nên ngân sách cho đoàn tàu Trịnh Hòa dần dần bị cắt giảm.
Ngày hôm nay, giới lãnh đạo cộng sản Tàu, nhắc nhiều đến Trịnh Hòa và đoàn tàu, nhất là trong khuôn khổ tranh chấp biển Đông, muốn nói lên sức mạnh hải quân của Tàu từ xưa, nhưng họ cố ý hay vô tình quên đi sự tranh quyền nội bộ nằm ngay sau lưng.
Triều đại nhà Minh chỉ thịnh lúc ban đầu, nhưng sau đó đi vào suy thoái ( 1436 – 1623), rồi bước sang chỗ diệt vong ( 1623 – 1660).
Đại tài tử Hồng Kông Lưu Đức Hòa thủ vai Khang Hy trong bộ phim Lộc Đỉnh Ký của nhà văn Kim Dung. (Phải) Vua Khang Hy đang uy hiếp Vi Tiểu Bảo do Lương Triều Vỹ đóng.
Trong thời gian suy thoái và diệt vong này, nhà Minh đã chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng cao độ: Hạm đội của Trịnh hòa không còn nữa, đó là về mặt biển, về mặt đất liền thì tăng cường tu bổ Vạn lý trường thành. Bên ngoài thì bế quan tỏa cảng, bên trong thì bài xích những chủng tộc khác qua văn hóa, giáo dục, bắt đầu bằng chủng tộc Mông, triều đại đã cai trị nước Tàu trước đó. Sau này từ  thời Mao thì kỳ thị, coi thường dân tộc Mãn, dân tộc đã đánh bại chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Minh, hay nói đúng hơn là đánh bại nhà Minh, cai trị xứ Tàu sau đó, cũng như tất cả các dân tộc khác như Hồi, Mông, Tạng.
Dân tộc Mãn Thanh là một dân tộc sống ở phía đông bắc nước Tàu.
Hai người được coi là sáng lập nền tảng cho nhà Thanh chính là Nỗ nhĩ cáp Xích, Hoàng thái Cực.
Nỗ nhĩ cáp xích (1559 – 2626), ông sinh ra trong một gia đình quí tộc Mãn châu ở vùng đông bắc nước Tàu. Theo chính sách phên dậu của nhà Minh dùng những bộ tộc làm hàng rào, phên chắn cho triều đình trung ương, gia đình ông được nhà Minh phong cho chức Đô đốc vùng Kiến châu, cha truyền con nối. Ông là người dũng cảm, được viên Tổng trấn vùng đông bắc, nhà Minh, tuyển ông vào đội cận vệ. Từ đó, nhờ can đảm, nhờ những liên hệ gia đình trước đó, cùng những liên hệ mới, ông đã qui tụ những chân tay bộ hạ của bộ tộc mình trước kia, nay bị những bộ tộc khác tiêu diệt, rồi thống nhất 8 bộ lạc Mãn, để lên làm khả hãn, như Thành cát tư Hãn của bộ tộc Mông cổ trước đó. Ông đã lập ra thể chế « Bát Kỳ «, tiêu biểu bằng 8 lá cờ, từ màu vàng, sang màu trắng, màu lam, mà người ta có thể hiểu là 8 bộ tộc, 8 vùng chiến thuật, từ Hoàng kỳ, Bạch Kỳ, Lam Kỳ v.v…Tám Kỳ này lấy những quyết định quan trọng theo cách bỏ phiếu đa số, nhất là việc kế vị ngôi vua.
Nỗ nhĩ cáp xích lên ngôi Hoàng đế năm 1616, dần dần trở  lên lớn mạnh, thống lãnh cả một vùng đông bắc, có lúc lên đến cả sáu bảy vạn quân. Năm 1619, vua Minh sai Binh bộ thị lang Dương Cảo, lãnh 16 vạn quân, thẳng tiến phía đông bắc nhằm tiêu diệt ông, gồm 4 cánh quân : tây lộ, bắc lộ, đông lộ và nam lộ. Bình tĩnh nhận định tình hình, phân tích sự việc, phân tích từng cánh quân của địch, ông đã cho quân Bát kỳ, chỉ có 6 vạn, nhanh chóng chiếm bờ sông Tát nhĩ Hử, chờ cánh quân chủ lực Tây lộ của quân Minh tới. Quả như điều ông tiên đoán, trong trận này ông đã phá tan quân chủ lực của nhà Minh. Những cánh quân tiếp đến, ông tiêu diệt từng cánh một.
Ông chết vào năm 1626, nhưng người ta có thể nói là ông đã gây dựng tất cả những nền móng, để nhà Thanh đánh vào trung nguyên, lập nên nghiệp lớn cho con cháu ông sau này.
Người kế thừa ông là Hoàng thái Cực (1592 – 1643), người con thứ 8 của ông. Ông kế thừa sự nghiệp và chí lớn của cha, chủ trương học hỏi tinh thần dũng mãnh, chiến lược hành quân thần tốc của người Mông cổ, sự uyên bác của người Tàu, nên các vị vua kế nghiệp ông về sau rất thông hiểu văn hóa Trung hoa. Ông cũng nhất quyết đánh xuống trung nguyên, kết thúc chế độ nhà Minh.
Một sự kiện lịch sử nhỏ chứng tỏ sự thất bại của chính sách xây Vạn lý trường thành, bế quan tỏa cảng của triều Minh : Ngày 27/10/1629, Hoàng thái Cực xuất binh, vòng qua thành tuyến Liêu đông, đốt phá Vạn lý trường thành, ở phía tây bắc, vòng đến Hà bắc, tiến vào đốt phá thành Bắc kinh.
Nước Tàu ngày hôm nay, Tập cận Bình có xây bao nhiêu bức tường lửa ( Fire wall) đi chăng nữa, cũng không thể nào cấm được những nguồn thông tin trung thực, những luồng tư tưởng Tự Do, Nhân Bản từ bên ngoài. Sẽ có ngày không xa người dân Tàu sẽ  nổi dậy giành lại quyền sống, lật đổ  chế  độ  cộng sản, như ngày xưa người Mãn đã phá Vạn lý trường thành và lật đổ nhà Minh.
Khang Hy là ông vua thứ nhì đời nhà Thanh, sau khi nhà Thanh chiếm được toàn cõi nước Tàu, được coi là một trong 10 vị Đại Hoàng đế của Tàu. Ông không những tỏ ra thao lược về chính trị và quân sự, mà ông còn giỏi cả về văn hóa, nghệ thuật. Chỉ cần người ta nói đến Tự điển Khang Hy, được làm ra thời ông, bằng Hán văn, gồm 47 035 chữ, hay người ta nói đến đồ gốm Khang hy, vừa đẹp về sắc gốm, vừa đẹp về hình tượng vẽ ở trên, cũng đủ chứng minh ông là một vị hoàng đế lớn.
Tuy nhiên cũng như nhà Minh, chỉ có ba bốn vị vua đầu thì khá, nhưng sau đó thì đi vào thoái trào.
Người ta có thể nói giống như nhà Minh, nhà Thanh đi từ chỗ suy thế (1795 – 1850), rồi tới thế diệt vong ( 1850 – 1911).
Thời nhà Minh, khi quân Minh bị Lê Lợi đánh đuổi về Tàu năm 1427, thì liền sau đó là tới thời suy thoái, bắt đầu vào năm 1436.
Với nhà Thanh, sau khi quân nhà Thanh bị Nguyễn Huệ đánh bại ở Việt Nam, năm 1789, thì nhà Thanh cũng bước vào thời kỳ suy thoái.
Thời kỳ suy thoái của nhà Thanh có thể nói là bắt đầu vào cuối đời vua Càn Long, cầm quyền 60 năm từ năm 1735 đến 1795.
Càn long vào cuối đời, có thể vì một phần già yếu, không lo triều chính như lúc còn trẻ, thêm vào đó, lại tiêu xài hoang phí, qua những cuộc du ngoạn phương nam, rất tốn kém. Bên cạnh là Tể tướng Hòa Thân, một con người tham nhũng khét tiếng; có người nói, tài sản của họ Hòa hơn cả ngân khố quốc gia.
Điều này làm chúng ta liên tưởng đến chế độ cộng sản hiện nay của Tập cận Bình: tham nhũng từ trên xuống dưới, không chỉ thủ tướng mà cả cựu và đương kim tổng bí thư, xuống đến tận hang cùng ngõ hẻm, đến một anh cán bộ đảng tầm thường cấp xã. Vào thời Càn Long, còn có những ông quan liêm khiết, chính trực, vì còn trọng Nho giáo, Khổng giáo, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu.
Ngày hôm nay tại Tàu, sau khi chạy theo lý thuyết Mác – Lê, theo duy vật chủ nghĩa, vứt bỏ mọi giá trị tốt đẹp cổ truyền, lại thực hiện lời dạy của Đặng tiểu Bình: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết. Chỉ cần là mèo biết bắt chuột. », từ dân cho chí quan, chạy theo vật chất, không còn chút liêm sỉ, làm giàu, bằng bất cứ thủ đoạn, phương tiện gì, ngay cả giết người, lừa đảo, dối trá.
Thời kỳ diệt vong của chế độ nhà Thanh bắt đầu từ 1850, khi ông vua Hàm Phong, chồng bà Từ Hy, lên ngôi năm 1850 cho tới cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.
Nguyên sự kiện ông vua này chán nản trước tình hình, vận nước, bị liệt cường xâu xé, như chúng ta lấy sự kiện Hồng kông đang nổi tiếng qua những cuộc biểu tinh của sinh viên học sinh hiện này. Vùng đất này bị nhượng cho nước Anh trước đó 8 năm, 1842, rồi tới chiến tranh Nha Phiến, Liệt cường xâu xé. Ông đã cùng một thái giám, ban đêm thường lẻn ra khỏi thành, chơi bời nơi tửu điếm, lầu xanh đến nỗi bị mắc bệnh giang mai, rồi chết sớm.
Con của ông với bà Từ Hy, lên ngôi tức vua Đồng Trị, do 2 người Thái hậu nhiếp chính, Đông cung tức bà Từ An, Tây cung tức bà Từ Hy. Sau đó Từ Hy tìm cách vu khống Từ An, loại bà này, nắm toàn quyền nhiếp chính. Từ đây, nước Tàu đời nhà Thanh quả đi vào thời kỳ diệt vong : không những ngoại loạn, mà còn nội ưu. Sau vua Đồng Trị là vua Quang Tự, người cháu, con người em gái của bà, nhưng bà Từ Hy vẫn toàn quyền nhiếp chính. Ông vua này đã chống đối bà, chủ trương cải cách mạnh cùng với một số trí thức cải cách lúc bấy giờ, như Khang hữu Vi, Lương khải Siêu, cùng một người thầy của vua Quang Tự, ông Đồng Hòa, quyết định biến pháp, năm 1898 : ban hành hiến pháp và nhiều luật lệ mới, để canh tân nước Tàu theo gương nước Nhật và nước Nga. Tuy nhiên cuộc biến pháp này chỉ kéo dài 100 ngày rồi bà Từ Hy trở lại dẹp tan, mặc dầu vậy vua Quang tự vẫn ngồi vì cho tới khi chết năm 1908, rồi bà chết theo. Vua Phổ Nghi lên, ba năm sau, thì có cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chấm dứt triều đại nhà Thành.
Cuối đời nhà Thanh, với bà Từ Hy và phe Triều đình bảo thủ, cũng cố dựng lên những bức tường để ngăn chặn tư tưởng tự do từ bên ngoài, nhưng phòng tuyến đã bị chọc thủng qua nhân vật vua Quang Tự, ngay trong triều, để đi đến chỗ xụp đổ.
Chúng ta thấy 2 chính sách bế quan tỏa cảng của 2 triều đại cuối, nhà Minh, nhà Thanh đều thất bại, hoặc vì nội loạn ngoại ưu, hay ngoại loạn nội ưu.
Thời suy thoái và thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản Tàu
Trở về với nước Tàu hiện nay có người hỏi đâu là thời suy thoái và đâu là thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản ?
Đây là câu hỏi khó trả lời vì chế độ cộng sản chưa chấm dứt. Tuy nhiên một cách ước đoán, chúng ta có thể nói:
 Biểu tình Thiên An Môn 1989 có lúc lên tới cả triệu người theo Wikipia. (Dưới) Sinh viên thực hiện biểu tượng cho Tự Do – Dân Chủ ngay tại quảng trường.
 
 
Hình ảnh lịch sử nổi bật, quan trọng của thế kỷ 20:  Cảnh 1 sinh viên đứng cản trước xe tăng đang tiến vào Thiên An Môn yêu cầu đoàn xe quay trở lại,  không đàn áp nhân dân với phong trào hợp lý yêu cầu cải cách, dân chủ cho đất nước.  Link: Người biểu tình vô danhWikipidea.
 
Thời kỳ suy thoái của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 1989 tới 2014, với sự đàn áp dân, sinh viên và học sinh bằng xe tăng và súng. Chắc chắn có nhiều người khó chấp nhận  với nhận định này vì nhìn vào bề ngoài và thực tế thì nền kinh tế Tàu trong giai đoạn này đã tăng trưởng một cách dài hạn và vượt bực, đã đưa tổng sản lượng quốc gia của nước Tầu lên hàng nhất nhì thế giới. Nhưng theo như câu nói của Chu Dung Cơ, cựu thủ tướng dưới thời Giang Trạch Dân, thì nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có đôi chân bằng đất sét. Sau biến cố Thiên an môn, những thành tựu ban đầu do chính sách tương đối cởi mở về tư tưởng và chính trị dưới thời Hồ diệu Bang và Triệu tử Dương, nhằm đưa nước Tàu trên con đường phát triển ổn định và quân bình đã bị hủy bỏ và hoàn toàn đi ngược lại. Vì vậy, mặc dù nước Tàu đạt được một số thành quả ngoạn mục về kinh tế qua chính sách « Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa «, nói nôm na dễ hiểu là chính sách kinh tế tư bản rừng rú kiểu mèo trắng mèo đen của Đặng tiểu Bình, kiếm tiền, làm giầu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn và hậu quả. Đằng sau những cao ốc chọc trời, xa lộ thêng thang, xe lửa cao tốc là những bất công chồng chất trong một xã hội bất ổn, vô đạo đức, vô nhân tâm, người người giết nhau như bầy thú chỉ vì chút ít tiền hay tranh giành địa vị. Ngoài ra những vấn nạn: mâu thuẫn chủng tộc, Tạng, Hồi, Mông, Mãn, Hán, ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, thực phẩm độc hại đang giết hại lần mòn hàng tỷ dân Tàu. Đúng như lời ông François Mittérand, Tổng thống Pháp lúc bấy giờ, đã bình luận về vụ đàn áp Thiên an môn 1989:« Một chính quyền dùng súng bắn vào dân, học sinh, sinh viên là một chính quyền dùng súng bắn vào tương lai của mình. » Ngọn lửa Thiên an Môn vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân, trong tâm khảm của hàng triệu thanh thiếu niên, trong lòng của nhửng người mẹ, người cha, chỉ chờ một biến cố nhỏ là có thể bùng cháy kết thúc một chế độ gian xảo, cực ác trong lịch sử nhân loại.
Thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 2014, khi xẩy ra vụ Bạc Hy Lai, bị bắt và bị đưa ra tòa, bề ngoài là vì tham nhũng, nhưng theo tin tức đáng tin cậy, thì là âm mưu đảo chính Tập cận Bình, rồi liền sau đó có những vụ ám sát nhưng không thành, khiến cho Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội, cùng một số tướng lãnh bị khai trừ khỏi Đảng. Rồi Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba trong Đảng, bị tuyên bố điều tra.
Nhưng thời kỳ diệt vong này kéo dài bao lâu, người ta chưa thể biết.
Cần lưu ý một điều là chế độ cộng sản, khác với 2 chế độ vừa kể, không chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng lúc ban đầu từ năm 1949, khi họ cướp được chính quyền, mà phải nói là từ ngày thành lập năm 1921, đảng cộng sản Tàu đã chủ trương mở cửa, đón nhận những tư tưởng nước ngoài. Nhưng có một điều không may mắn, đáng buồn cho dân tộc và nước Tàu, đó là giới lãnh đạo này chưa đủ trình độ trí thức để biết rõ đâu là cái hay cái đở của văn hóa, văn minh đông phương, đâu là cái hay cái dở của văn hóa, văn minh tây phương, vội vứt bỏ toàn bộ văn hóa đông phương, kiểu như Mao trạch Đông tuyên bố: «  Khổng tử là con chó giữ nhà cho bọn phong kiến «, vội nhập cảng lý thuyết Marx, Lenin, cặn bã của văn hóa tây phương.
Giới sĩ phu, trí thức cộng sản Tàu và Việt Nam nên suy ngẫm điều này! (1)
Trở về chính sách cải cách của Tập cận Bình, được che dấu dưới những mỹ từ, nào là chống tham nhũng, lấy lại niềm tin của dân, thực hiện giấc mơ Trung quốc; nhưng bản chất thực là sự đấm đá nội bộ, tranh quyền, trở về chính sách bế quan tỏa cảng, kiểm soát những nhà đối lập mạnh mẽ hơn, cấm dân phát biểu tự do, kiểm sóat dân truy cập Internet v.v…, đây cũng là bắt đầu thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản, như một số người đưa ra giả thuyết này.
Người dân Hồng Kông thắp nến tưởng niệm Thiên An Môn làm Bắc Kinh nhức nhối, khó chịu.
Nhưng đâu là chỉ dấu của sự diệt vong ?
Chỉ dấu đầu là sự thanh trừng nội bộ một sống một còn, khi Tập cận Bình tuyên bố: « Tôi không màng đến sự sống chết, tôi không lưu tâm đến việc tiếng tăm của tôi còn hay mất, tôi quyết tâm chống tham nhũng. »
Chỉ dấu thứ nhì là sự nổi dậy của dân Hồng kông. Tất nhiên Hồng Kông không đòi độc lập, nhưng sớm muộn, dân Hồng Kông sẽ đòi tự do, dân chủ, dân cử và dân bầu, chứ không phải là đảng cử dân bầu. Một khi ước vọng này được thực hiện, thì nó sẽ là một vết dầu loang, loang ra những vùng lân cận, như Tây Tạng, Tân cương, Quảng Đông, Quảng tây và tới ngay cả Bắc Kinh.
Đến lúc đó, chế độ cộng sản còn đứng vững không ? Đảng cộng sản Tàu còn tồn tại không ?
Câu trả lời là chế độ cộng sản rất khó tồn tại và đứng vững. Nhưng đó cũng chỉ là dự đoán tương lai. Chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi.
Paris ngày 14/11/2 014
 Chu chi Nam và Vũ văn Lâm
(1)  Xin xem thêm những bài về Tàu và Tập cận Bình, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Cam Ranh-Yes or No (hay là chiến tranh Trung-Mỹ)

Thursday, July 23rd, 2015
Tác Giả: Nguyễn Đình Phùng
Hoaky- taucong
Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa có thể đã và đang xảy ra, nhanh chóng hơn tất cả những tiên đoán từ trước đến nay!

Những diễn tiến dồn dập xảy đến trong khoảng thời gian gần đây cho thấy Hoa Kỳ đã sửa soạn cho một bối cảnh xung đột với Trung Hoa và có thể đã cho bắt đầu một chiến dịch để triệt hạ quốc gia đối thủ là Trung Hoa, càng ngày càng ra mặt để khiêu khích Hoa Kỳ, bất chấp hậu quả!

Cuộc chiến tranh này không bắt đầu bằng những đụng độ quân sự qui ước như những chiến tranh trước đây trong lịch sử, nhưng khởi sự bằng kinh tế và đặc biệt bằng cyberwarfare, chiến tranh vi tính!

Và những biến chuyển của tuần lễ vừa qua, đặc biệt là sự sụp đổ thị trường chứng khoán của Trung Hoa, đã đưa đến nghi vấn có phải Hoa Kỳ đã bắt đầu chiến lược triệt hạ Trung Hoa về mặt kinh tế bằng cách nhúng tay vào việc sụp đổ thị trường chứng khoán này của Trung Hoa?

Ngày thứ sáu 3 tháng 7 vừa qua, chỉ số về stock của Trung Hoa là Shangai Composite Index mất đi 5.8% đứng ở mức 3687.
So với ngày 12 tháng 6, chỉ số này đứng ở mức 5166, có nghĩa chỉ trong vòng 3 tuần lễ, stock của Trung Hoa đã mất đi 29% giá trị.

Sự sụp đổ nhanh chóng này đã làm mất đi 2.7 trillion tức 2700 tỷ Mỹ Kim giá trị của chứng khoán Trung Hoa.

Và sự mất mát này đã đổ trên đầu của hàng trăm triệu gia đình dân Tàu, mấy năm nay đã đổ xô như điên cuồng vào việc chơi stock để làm giàu nhanh chóng, nay mất hết cơ nghiệp và tài sản vì sự sụp đổ này!

Thị trường chứng khoán Shangai có 112 triệu trương mục, thị trường chứng khoán tại Shenzhen có 142 triệu trương mục. Chỉ trong mùa xuân năm 2015 mỗi thị trường đã có thêm 20 triệu accounts do dân Tàu nhảy vào chơi stock!

Khác với Hoa Kỳ, hiện nay cá nhân ít chơi stock, tại Trung Hoa 4/5 các trương mục trên thị trường chứng khoán hai nơi là của tư nhân, do dân Tàu giới trung lưu có ít tiền vốn để dành nhảy vào chơi stock kiểu đánh bạc, ăn thua đủ!

Nay với stock sụp, cả trăm triệu người mất tiền hay sạt nghiệp. Trường hợp này còn lớn lao hơn thời sụp đổ của Wall Street thập niên 30’s dẫn dắt đến tai họa Great Depression cho Hoa Kỳ và toàn cầu.

Lý do thiệt hại nặng là dân Tàu chơi stock kiểu margin rất nhiều, có nghĩa đi vay để chơi stock, chỉ cần bỏ ra 10 – 20% vốn, phần còn lại đi vay của ngân hàng hay công ty đầu tư. Khi stock lên, chơi kiểu margin này lời lớn.

Nhưng khi stock xuống, sẽ bị trường hợp gọi là margin call, khi giá trị stock xuống nhiều và nhanh, công ty đầu tư sẽ bắt châm thêm tiền vào, nếu không có, sẽ đương nhiên bị bán số stock đang có và tiền vốn bỏ ra lúc đầu sẽ mất sạch!

Như thế, chơi stock kiểu đi vay margin rất nguy hiểm và như tuần lễ vừa qua tại Thượng Hải, khi stock đã mất đi gần 1/3 giá trị, hàng trăm triệu dân Tàu chơi stock kiểu margin này mất hết, tán gia bại sản!

Trong ba tuần lễ qua, Ngân Hàng Trung Ương tại Bắc Kinh đã tìm cách cứu thị trường chứng khoán Tàu bằng cách hạ lãi xuất, giảm bớt luật lệ hạn chế.v.v., nhưng không đi đến đâu.

Các công ty lớn của Trung Hoa cũng tung tiền vào để mua stock nhằm giữ giá trị và Hiệp Hội Chứng Khoán của Trung Hoa, do chính quyền kiểm soát, cũng dự định sẽ tung tiền vào đến mức 120 tỷ nhân dân tệ hay renminbi, tương đương với 19.4 tỷ Mỹ Kim.

Nhưng con số này được coi là quá ít ỏi, khó lòng làm thị trường chứng khoán tại Thượng Hải và tại Shenzhen đứng vững được. Có thể sẽ lên được vài ngày nhưng nhiều phần sẽ tiếp tục đi xuống.

Một trong những lý do stock của Tàu xuống nhiều và nhanh như vậy vì các công ty đầu tư đổ xô vào để bán short – selling, tức vay tiền để bán stock đi. Khi giá xuống nhiều sẽ mua lại để trả cho chủ nhân và kiếm lời bằng tiền sai biệt. Với kiểu bán stock short này, các công đầu tư kiếm lợi nhiều và làm giá xuống còn nhanh hơn!

Chính quyền Tàu hiện đang la hoảng vì short selling này của các công ty đầu tư ngoại quốc, đặc biệt là của Hoa Kỳ. Công ty đầu tư của Wall Street bị vạch mặt chỉ tên là Morgan Stanley, đã dùng phương cách short selling để kiếm lời tối đa.

Nhưng câu hỏi sau hậu trường là các công ty đầu tư của Hoa Kỳ đã có sự khuyến khích hay giúp đỡ nào không của chính quyền Obama để lũng đoạn thị trường chứng khoán Trung Hoa, cũng như làm tình trạng trở nên tồi tệ hơn, gây ra sụp đổ toàn diện cho stock market của Trung Hoa?

Dĩ nhiên tình trạng thị trường chứng khoán của Trung Hoa sụp đổ là chuyện không sớm thì muộn cũng xảy ra.

Lý do là kinh tế Trung Hoa đã chậm đi nhiều, mức tăng trưởng trước kia từ 15 – 20%, nay chỉ còn 7% và năm nay 2015 sẽ còn xuống nhiều hơn. Với quả bóng địa ốc vỡ tan, khi các thành phố xây cất thành thành phố ma, các mall vĩ đại không một bóng người, các building xây cất bỏ không vì không có ai thuê, kinh tế Trung Hoa đang sụp đổ.

Nhưng chỉ vì chính quyền cộng sản tìm đủ cách để ếm nhẹm và bịp bợm các nhà đầu tư ngoại quốc, hậu quả của quả bóng địa ốc vỡ nổ chưa lan rộng lắm. Nhưng kế tiếp cho sự tan vỡ kinh tế của Trung Hoa chính là thị trường chứng khoán như việc sụp đổ trong ba tuần lễ vừa qua, chính quyền Trung Hoa không che dấu nổi!

Có thể nói thời điểm cho thị trường chứng khoán của Trung Hoa tan vỡ đã chín mùi, bắt buộc phải xảy ra kế tiếp cho quả bóng địa ốc vỡ tan.
Và các công ty đầu tư Wall Street đã đánh hơi và tính toán đúng để nhảy vào lũng đoạn và giúp cho thị trường chứng khoán Tàu sụp nhanh hơn bằng kiểu short selling!

Nhưng bàn tay của chính quyền Hoa Kỳ có thể đứng đằng sau giật dây là chuyện nhiều phần đã xảy ra!  Lý do là gần đây chính quyền Obama đã hứa hẹn là sẽ trả đũa Trung Hoa về tội dùng hacking để lấy tài liệu cá nhân của hơn 4 triệu nhân viên làm việc trong chính quyền.

Và tuy không nói ra, chính quyền Obama có thể đã dùng việc hacking vào chính các cơ sở của Trung Hoa và tại thị trường chứng khoán Thượng Hải để giúp cho thị trường stock này của Tàu sụp nhanh hơn?!!

Một khi quả bóng địa ốc vỡ tan và thị trường chứng khoán bị sụp, kinh tế sẽ đi vào suy thoái nặng nề. Trường hợp Nhật Bản thập niên 80’s đã có kinh nghiệm này và mất đến hơn 20 năm vẫn chưa ra khỏi được suy thoái.  Dĩ nhiên các chiến lược gia của Hoa Kỳ cũng hy vọng lịch sử sẽ tái diễn với Trung Hoa đi vào suy thoái nặng và mất đi tiềm năng kinh tế với việc sụp đổ vừa qua.

Trong chiến lược kinh tế tầm xa hơn, chính quyền Obama đã thành công khi cả 2 viện tại Quốc Hội đã thông qua luật để Obama thương thảo nhanh chóng cho thỏa ước mậu dịch Thái Bình Dương TPP, Trans Pacific Partnership.

Đây là đòn để triệt hạ kinh tế Trung Hoa về lâu về dài, với Hoa Kỳ và các nước Thái Bình Dương khác, trong đó có Việt Nam, trao đổi mua bán với nhau và gạt hẳn Trung Hoa ra ngoài!

Điểm quan trọng của thỏa ước mậu dịch TPP này là Hoa Kỳ đã nhắm vào Việt Nam. Lý do là trong 12 quốc gia hợp thành tổ chức mậu dịch này, quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất về mậu dịch và đầu tư là Việt Nam.

Và Hoa Kỳ đã dùng việc thông qua thoả ước mậu dịch TPP, hy vọng sẽ hoàn tất vào năm đến để tách rời Việt Nam ra khỏi quĩ đạo của Trung Hoa và thành đồng minh của Hoa Kỳ. Lý do để Hoa Kỳ mong muốn và tìm đủ cách để kéo Việt Nam từ bỏ chuyện đi hàng đôi và trở thành đồng minh với Hoa Kỳ nằm trong hai chữ: Cam Ranh!

Trong chiến lược kiềm tỏa Trung Hoa về mặt quân sự, vị thế đặc biệt của Cam Ranh nắm giữ tầm quan trọng bậc nhất với Ngũ Giác Đài. Phi Luật Tân đã mong muốn Hoa Kỳ trở lại Subic Bay tái lập căn cứ quân sự tại đây, nhưng Subic Bay không thể sánh với Cam Ranh về vị thế chiến lược hàng đầu được.

Một căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Cam Ranh sẽ trấn áp được hạm đội tiềm thủy đĩnh nguyên tử của Trung Hoa hiện đang đặt tại đảo Hải Nam. Hải quân Hoa Kỳ ở Cam Ranh sẽ giữ cho biển Đông Hải tự do giao thông, không e dè gì về việc Trung Hoa đang cho xây cất các hòn đảo nhân tạo làm phi đạo và thiết lập các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, kiểm soát toàn thể vùng biển Đông.

Hơn nữa căn cứ Cam Ranh sẽ giúp cho Hoa Kỳ tạo thành vòng đai nguyên tử bao vây Trung Hoa với các phi đạn gắn đầu đạn nguyên tử tầm gần loại Pershing như đã đặt tại Âu Châu thời chiến tranh lạnh, không cần đến hoả tiễn liên lục địa bắn đến Trung Hoa lâu hơn!

Tập Cận Bình đã đi sai một nước cờ khi cho kéo giàn khoan vào hải phận của Việt Nam và tạo nên làn sóng chống Tàu năm ngoái.

Việc Hoa Kỳ cho chiếu các video với đài CNN thu hình chuyện Trung Hoa cho lập đảo nhân tạo và xây phi đạo cho phản lực cơ quân sự gần Hoàng Sa là sự cố ý của chính quyền Obama, trước hết để đánh thức dư luận dân chúng Hoa Kỳ về hiểm họa Trung Hoa, nhưng cũng là để lôi kéo Việt Nam ra khỏi quĩ đạo Tàu và đi hẳn với Hoa Kỳ.

Những diễn biến gần đây tại Việt Nam cho thấy chiến lược này của Hoa Kỳ đang thành hình.

Trước hết một loạt các yếu nhân của Hoa Kỳ đã sang Việt Nam trong vài tháng nay như bộ trưởng quốc phòng Aston Carter, chủ tịch ủy ban quân lực tại Thượng Viện John McCain và gần đây nhất vào lễ quốc khánh Hoa Kỳ 4 tháng 7 là cựu tổng thống Bill Clinton. Clinton có thể là người đại diện cho Obama để thương thảo và đi đến thỏa thuận sau cùng về việc Việt Nam thành đồng minh của Hoa Kỳ và cho thiết lập căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Cam Ranh.

Đồng thời trong tuần này, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam là Nguyễn Phú Trọng sẽ đi với phái đoàn chính phủ hàng 150 người sang Hoa Kỳ và sẽ gặp Obama. Nguyễn Phú Trọng không phải là chủ tịch nước nhưng được tòa Bạch Cung phá lệ để tiếp đón như thủ lĩnh quốc gia.  Điều này cho thấy tay này đã đi theo phe thân Hoa Kỳ và gạt bỏ được Chủ tịch Trương Tấn Sang được coi như phe thân Tàu.

Một nhân vật theo phe thân Tàu là đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng không có tên trong phái đoàn sang Hoa Kỳ vào giờ chót. Tin chính thức của chính phủ cộng sản là Phùng Quang Thanh chữa bệnh tại Pháp, tuy có tin đồn không kiểm chứng được là tay này bị ám sát khi sang đến Pháp?

Tất cả những diễn biến này cho thấy Hoa Kỳ đã thành công trong việc lôi kéo Việt Nam ra khỏi quĩ đạo của Trung Hoa và nhiều phần sẽ được thoả thuận để lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh, có thể sau chuyến Obama sang thăm Việt Nam vào tháng 11 năm nay.

Tuy nhiên điều quan trọng đối với Việt Nam là việc phải thương thảo để Hoa Kỳ ký kết một hiệp ước hỗ tương phòng thủ như Hoa Kỳ đã ký kết các hiệp ước này với Nhật Bản và Phi Luật Tân trước đây.

Thực sự gọi là hỗ tương phòng thủ, nhưng điều đó có nghĩa Hoa Kỳ sẽ nhẩy vào bảo vệ Việt Nam một khi bị Trung Hoa tấn công. Vì phản ứng của Trung Hoa trước thế kiềm tỏa và chiến lược triệt hạ Trung Hoa của Hoa Kỳ sẽ làm cho Việt Nam ở vào thế nguy hiểm dễ dàng bị Trung Hoa tấn công và xâm lăng.

Chỉ một khi có được hiệp ước hỗ tương phòng thủ với Hoa Kỳ và căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Cam Ranh thiết lập xong xuôi, lúc đó Việt Nam mới ở vào thế an toàn trước đe dọa của Trung Hoa được.

Tóm lại, chiến lược triệt hạ Trung Hoa của Hoa Kỳ đã thành hình và đã bắt đầu được thi hành, về phương diện kinh tế cũng như quân sự. Điều tốt nhất cho toàn cầu vẫn là Trung Hoa suy yếu và tan rã một khi dân chúng Tàu bị khó khăn kinh tế và thất nghiệp nổi loạn và thay đổi được chính quyền cộng sản Trung Hoa hiện tại.

Cũng như Việt Nam một khi đi với Hoa Kỳ, sẽ phải chịu điều kiện để đi đến dân chủ hóa, nếu muốn hưởng lợi do thỏa ước mậu dịch TPP và được chiếc dù quân sự của Hoa Kỳ bảo vệ với căn cứ Hoa Kỳ tại Cam Ranh. Các chuyện này tuy còn xa vời nhưng điều gì cũng có thể xảy ra được. Và thời gian sẽ cho chúng ta câu trả lời rõ ràng nhất!

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

Saturday, July 18th, 2015

From: VietVungVinh
To: Viet VungVinh
Sent: Thu, Jul 16, 2015 11:29 pm
Subject: Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

 
Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểutình của CĐNV

Một số người căn cứ vào bài báo của Việt cộng đã nhanh nhẩu cho rằng đoàn biểu tình và TNS Janet Nguyễn bị lừa. Nhưng trái lại chính họ mới là người bị Việt Cộng lừa. Cái đau nữa là cũng chính họ lại dẫn lời của TT Thiệu để răn bảo: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lựcbiểu tình của CĐNV

Đông đảo người người Mỹ gốc Việt từ Bắc Cali, Nam Cali và tại địa phương Sacramento đã tập trung biểu tình trước City Hall Sacramento lúc 12 giờ trưa thứ Ba ngày 14 tháng 7 năm 2015, để phản đối việc chính quyền thành phố trong ngày này sẽ có 2 cuộc gặp gỡ và tiếp đón phái đoàn CSVN do Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải dẫn đầu.

Cách đó, 4 ngày tức hôm thứ Sáu ngày 10 tháng 7 năm 2015 tại Văn phòng Cảnh Sát Quận Hạt Sacramento, một số đại diện Hội Đoàn tạiSacramento và đồng hương tham dự cuộc họp do ông Phó Thị Trưởng Allen Warren mở ra. Ông Allen Warren kể về chuyến viếng thăm VN của ông mới đây vào tháng 2 và nghe ông Warren trình bày về dự kiến kết nghĩa chị em giữa Sacramento với thành phố Hồ Chí Minh. Tại buổi bàn thảo này, ông Đỗ Thiện Thịnh Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Người Mỹ Gốc Việt Sacramento) và ông Tido Thạc Hoàng (Chủ tịch Điều Hành Người Mỹ Gốc Việt Sacramento) cùng một số đồng hương lên tiếng phản đối rằng chúng tôi không thể chấp nhận việc kết nghĩa vì CSVN đã vi phạm nhân quyền, không tự do báo chí, đàn áp tôn giáo v.v…

Trở lại cuộc biểu tình, đứng trước đoàn biểu tình tại khuôn viên tòa thị chính Sacramento, TNS Janet Nguyễn phát biểu qua loa cầm tay rằng chúng ta cần có thái độ phản đối mạnh mẽ để tránh sự việc này xảy ra trong tương lai.

Mặc dù là ngày thường, nhưng vẫn có rất đông đồng hương các nơi tề tựu tại đây, không những thế, thông tin cho chúng tôi biết các phái đoàn từ Bắc Cali đang chuẩn bị khởi hành để tiếp ứng cho cuộc biểu tình kéo dài cho đến 7 giờ tối.

Khoảng gần 1 gìờ trưa, TNS Janet Nguyễn đọc Email gởi ra từ một nhân viên của Phó Thị Trưởng Allen Warren thông báo hủy bỏ cả hai buổi họp với phái đoàn CSVN. Cuộc họp thứ nhất bị hủy theo dự trù là lúc 3 giờ 30 phút chiều Ðại diện của Hội Ðồng Kết Nghĩa Quốc Tế Sacramento, và một đại diện của phái đoàn CSVN. Sau đó là phần phát biểu của Phó Thị Trưởng Allen Warren và một phó chủ tịch của Sài Gòn. Cuộc họp thứ hai bị hủy theo dự trù lúc 6g chiều cùng ngày là phần nói về các cơ hội hợp tác giữa hai quốc gia.

Sau khi cuộc biểu tình nói trên diễn ra 24 tiếng, tại Việt Nam các báo đưa tin Giám đốc Sở Ngoại vụ và Giám đốc Văn phòng phụ trách Quan hệ Kết nghĩa Sacramento đã ký bản ghi nhớ nội dung nguyên văn nhưsau: “Bản Ghi nhớ để hai bên cùng tiếp tục bàn thảo phương thức, xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác đầy đủ giữa hai TP trong thời gian tới.” .

Một số người căn cứ vào bài báo VC đã nhanh nhẩu cho rằng đoàn biểutình và TNS Janet Nguyễn bị lừa. Nhưng trái lại chính họ mới là người bị Việt Cộng lừa. Cái đau là cũng chính họ lại dẫn lời của TT Thiệu để răn bảo: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Tin mới nhất 16/7/2015 : Trả lời phóng viên nhật báo Người Việt, ông Shoun Thao, cho biết: “Bản hứa hẹn mà bà Hurley ký không chắc chắn một việc gì cả. Bà Hurley ký với tư cách đại diện tổ chức Sister Cities International tại thành  phố Sacramento, một tổ chức vô vụ lợi do cựu Tổng Thống Dwight D. Eisenhower thành lập từ năm 1956 và chuyên kêu gọi các thành phố kết nghĩa. Ông Warren có mặt vì được mời. Ông Warren và thành phố Sacramento đã không ký bất kỳ thỏa thuận gì với phái đoàn Sài Gòn.”

 

 

Phân Ưu: Cụ Lê Quang Liêm qua đời

Friday, July 17th, 2015

PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn:

Cụ LÊ QUANG LIÊM, 

Cu Le Quang Liem

Hội Trưởng Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam.

sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.  

Vừa mệnh chung lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia ở Thủ Đô Saigon.

Thượng thọ 96 tuổi.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Chân thành phân ưu cùng Tang Quyến và Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Xin Cầu Nguyện cho Hương Linh Cụ sớm về cõi Niết Bàn.

Trân trọng

TM. CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ

BS Võ Đình Hữu

BS Đỗ Văn Hội

GS Phạm Văn Thanh

Ban Cố Vấn: 

BS Trương Ngọc Tích 

Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn

Ông Trần Xuân Thời 

Ông Nguyễn Văn Tánh

Cùng toàn thể các Cộng Đồng Thành Viên

——————————————–

Tóm Tắt Tiểu Sử Cụ Lê Quang liêm

Cụ Lê Quang Liêm là Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam. Cụ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An , huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cụ tạ thế lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia hưởng thọ 96 tuổi.

Cụ sinh ra và lớn lên trong gia đình đại điền chủ và là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến tháng giêng năm Canh Thìn (1940) Cụ đã quy y với Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Cụ từng là chiến sĩ chống Pháp, sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và là Dân Biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa:

1945-1946: Đoàn Trưởng Bảo An Phật Giáo Hòa Hảo quận Chợ Mới, tỉnh An Giang

1946-1947: Chính Trị Viên Đại Đội I, Chi Đội 30, Bộ Đội Nguyễn Trung Trực

1948-1952: Tham Mưu Trưởng Nghĩa Quân Cách Mạng Dân Xã Đảng do cụ Lê Quang Vinh lãnh đạo.

1953-1955: Sáp nhập vào Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, cấp bậc Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 525

1956-1957: Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 12

1958-1959: Tham Mưu Phó Quân Đoàn II

1960-1962: Trưởng Phòng 4 Bộ Tư Lệnh Hành Quân

1963-1964: Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang

1964-1965: Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang

1966-1967: Chỉ Huy Trưởng Hậu Bị Quân Vùng 4 Chiến Thuật, kiêm Thanh Tra Tòa Đại Biểu Vùng 4

1968-1969: Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến;

1972-1975: Dân Biểu Quốc Hội, Chủ Tịch Ủy Ban Định Chế, Chủ Tịch Ủy Ban Canh Nông;

Sau 1975 cụ bị nhà cầm quyền Cộng sản cầm tù trong nhiều nhà giam khác nhau.

2006 Cụ là thành viên sáng lập và là Cố vấn của Khối 8406.

Về hoạt động giáo sự:

1967-1975: Cố vấn kiêm Đại Diện Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Gíao Hội Phật Gíao Hòa Hảo, Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo.

Từ tháng 02-2000 đến hiện nay: Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo Thuần Túy.

Tháng 12-2000, cụ cùng Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh và Linh mục Chân Tín, viết một bản lên tiếng phản đối chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Cộng sản, đòi hỏi nhà cầm quyền phải “tôn trọng quyền tự do tôn giáo thực sự của các tôn giáo, nhất là các quyền căn bản của các Giáo Hội. Các Giáo Hội phải được hoàn toàn độc lập và tự do trong việc lựa chọn, huấn luyện, chỉ định các chức vụ tôn giáo tùy theo nhu cầu của từng Giáo Hội”.

Tháng 2/2001, tại Huế, cụ Liêm gặp gỡ Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Thượng Tọa Thích Chân Trí, và cùng ba vị lãnh đạo tôn giáo này thành lập Hội Đồng Liên Tôn.

2013-1015 cụ cùng nhiều tu sĩ 5 tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành và Phật giáo Hòa Hảo đồng sáng lập Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Đến tận cuối đời cụ Lê Quang Liêm vẫn một lòng cùng vì nước vì dân theo Thầy giữ trọn Tứ Ân.

Nguyễn Quang Duy – Soạn

Melbourne Úc Đại Lợi

17-7-2015

Trang Biểu Tình chống Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ

Saturday, July 11th, 2015

Thông Cáo Kết quả cuộc biểu tình Chống Nguyễn Phú Trọng

Tuyên Cáo về việc Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ

Vỉdeo cuộc biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng (1) (SBTN Hoa Thịnh Đốn)

Video cuộc biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng (2) (SBTN Hoa Thịnh Đốn)

http://youtu.be/8wC_j5LW9lE (Á Châu tự Do)

Biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng 7-7-2015 by bebeliem

http://www.youtube.com/watch?v=2Oy3k5DHAtE  (Vũ Nhân, STBN)

https://www.youtube.com/watch?v=Q9Z-sYyBBsw&feature=youtu.be (Nữ Ký Giả Tuyết Mai)

https://youtu.be/5G9AJMq0eHI (Viet TV DC: THVN-HTD:)

https://www.youtube.com/watch?v=y-n3ljVJ8og (Đài Bọt  Biển)

Trang hình ảnh Nhất Hùng:

Cộng Đồng VN Biểu Tình Chống Nguyển Phú Trọng Tại Hoa Thịnh Đốn 7/7/ 2015

Press Release: Demonstration to protest Against Vietnamese Communist Party Chief to Visit White House on July 7, 2015. 

Thông Cáo về Cuộc Biểu Tình Chống Nguyễn Phú Trọng và Phái Đoàn đến Hoa Kỳ 

Nguyễn Phú Trọng đi thăm Hoa Kỳ nói lên điều gì?

USCIRF Urges President to Designate Vietnam as a CPC in Letter

Sunday, June 28th, 2015

1/21/10: USCIRF Urges President to Designate Vietnam as a CPC in Letter

FOR IMMEDIATE RELEASE
January 21, 2010WASHINGTON, D.C. – The U.S. Commission on International Religious Freedom sent the following letter to President Obama urging him to designate Vietnam as a “Country of Particular Concern.”

*****
January 6, 2010

President Barack Obama
The White House
1600 Pennsylvania Avenue, NW
Washington, D.C. 20500

Dear Mr. President:

We are writing today to respectfully ask your Administration to consider reviewing current policy regarding Vietnam. Human rights conditions in that country continue to deteriorate and the Vietnamese government has taken active steps to repress, intimidate, and imprison free speech, democracy, religious freedom, labor activists, and the lawyers who defend them. We urge the Administration to consider designating Vietnam as a “Country of Particular Concern” (CPC) under the International Religious Freedom Act of 1998 and signaling to Congress its support for quick passage of the Vietnam Human Rights Act (S. 1159/H.R. 1969). We believe these two measures will provide your Administration with the necessary tools, incentives, and funding to effectively advance U.S. interests in freedom and human rights in Vietnam.

In your inaugural address, you eloquently said that those who “cling to power through corruption and deceit and the silencing of dissent…are on the wrong side of history…we will extend a hand if you are willing to unclench your fist.” Though the U.S. and Vietnam share a tragic history, the U.S. has extended substantial trade benefits, development assistance, and humanitarian project funding to Vietnam in recent years. The U.S. granted Vietnam Permanent Normal Trading Relations in December 2006, paving the way for Vietnam to join the World Trade Organization. Over the past three years, however, Vietnam has imprisoned dozens of dissidents and taken steps to silence dissent and ban independent religious and human rights organizations.

The U.S. Commission on International Religious Freedom (USCIRF) and its staff have traveled to Vietnam five times since 2003, most recently in May 2009. Sadly, it is our belief that the human rights situation in Vietnam will deteriorate even more next year in advance of the 11th National Party Congress. Additional political, economic, and political incentives are needed at this time to advance vital U.S. interests and protect human rights.

It is our belief that the CPC designation is a flexible diplomatic tool that, when used previously for Vietnam, brought about some tangible results without hindering advances on other bilateral interests. We believe it can be used now with similar results. Targeted diplomatic action, when coupled with positive political incentives and possible economic sanctions, produced real human rights improvements in Vietnam. The current policy of quiet diplomacy and increased trade has not brought about the same results.

As a senator, you worked closely with USCIRF on Vietnam. In a letter to the previous Administration, you cited numerous cases of religious freedom and human rights abuses and asked that the State Department be a “strong voice on behalf of the human rights of the Vietnamese people.”

Designating Vietnam as a CPC and signaling support for passage of the Vietnam Human Rights Act is the type of strong voice needed at this time. We hope your Administration can establish clear policies and use all available diplomatic tools to support the hopes and aspirations of the Vietnamese people for both greater freedoms and prosperity.

Sincerely yours,

Leonard Leo
Chair

cc: Kurt M. Campbell, Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
Michael H. Posner, Assistant Secretary for Democracy, Human Rights and Labor
Samantha Power, Special Assistant to the President and Senior Director for Multilateral Affairs and Human Rights
Ambassador Jeffrey A. Bader, Special Assistant to the President and Senior Director for East Asian Affairs

Click here to view the pdf version of the letter.

USCIRF is an independent, bipartisan U.S. federal government commission. USCIRF Commissioners are appointed by the President and the leadership of both political parties in the Senate and the House of Representatives. USCIRF’s principal responsibilities are to review the facts and circumstances of violations of religious freedom internationally and to make policy recommendations to the President, the Secretary of State and Congress.

To interview a USCIRF Commissioner, contact Tom Carter, Communications Director at tcarter@uscirf.gov. This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it , or (202) 523-3257.

Source: http://www.uscirf.gov/index.php?option=com_content&task=view&id=2938&Itemid=1

Saturday, January 30, 2010

Nam Bắc Phân Tranh Sau 1975 – Nguyễn Tường Tâm



Thuyền nhân Việt Nam tại trại tị nạn Hồng Kông

Nguyễn Tường Tâm

Không ai có thể xóa bỏ một đoạn đời mà mình kiêu hãnh, vì thế sự ngăn cách của hai thế hệ trưởng thành sau 1954, đã từng, dù không hoàn toàn tự nguyện, tham gia vào cuộc chiến nam bắc phân tranh 1954 -1975 là một điều tự nhiên. 35 năm sau ngày đất nước thống nhất về mặt địa dư, không những sự phân cách trong lòng người vẫn còn mà đôi khi còn tiến tới sự phân tranh không kém mãnh liệt. Chính bởi thế ngay trong tập thể những người Việt bỏ nước ra đi trốn chế độ cộng sản cũng có sự phân tranh mãnh liệt giữa người Việt miền bắc và người Việt miền nam.Trong thời gian tôi ở trại tỵ nạn Màn Dìn ở Hồng Kông (1989), trong trại có xuất bản bản tin hàng tuần. Một hôm ban lãnh đạo hội cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trong trại mà chủ tịch là cựu thiếu tá Hùng, khóa 20 Võ Bị, hiện ở Nam Cali, cho người mời tôi tới họp khẩn. Khi tới nơi anh em cho biết trong số báo sắp ra tuần này có một bài của mấy người miền bắc chửi anh em cựu quân nhân VNCH và hỏi ý kiến tôi xem sẽ phải đối phó ra sao. Suy nghĩ một hồi tôi nói để tôi gặp ông đại diện cao ủy tỵ nạn nói chuyện với ông ta xem sao. Trong văn phòng cao ủy của trại, ngoài ông cao ủy còn thì nhân viên là thuyền nhân, trong đó có cả thuyền nhân miền bắc. Những thuyền nhân làm trên mấy văn phòng của trại hay văn phòng cao ủy đa số là thông dịch viên (interpreter). Thông dịch viên có thể nói là những “viên chức tỵ nạn cao cấp nhất” trong trại, là những người có ảnh hưởng rất lớn tới các chương trình của trại. Bởi thế mấy thông dịch viên người miền bắc mới đưa mấy bài chửi các cựu quân nhân VNCH vào tờ báo. Những thông dịch viên người miền nam không muốn (hay không dám) trực tiếp cá nhân đương đầu với mấy thông dịch viên miền bắc vì sợ đầu gấu miền bắc trả thù nên thông báo tin tức để hội cựu quân nhân có kế hoạch đối phó.

Hôm sau gặp đại diện cao ủy tỵ nạn, một thanh niên khoảng 30 tuổi người Anh, tôi đề cập tới vấn đề tờ báo thì ông cao ủy cho biết rằng Hồng Kông là xứ tự do, ngay cả cộng sản cũng được quyền hoạt động. Đã dự trù luận điểm này từ trước nên tôi lý luận rằng tôi đồng ý với ông là Hồng Kông là xứ tự do, nhưng trại tỵ nạn này là trại của những người tỵ nạn cộng sản và ngân sách của Liên Hiệp Quốc tài trợ cho những nạn nhân cộng sản. Sẽ thực là vô lý khi dùng ngân sách tỵ nạn cộng sản để nuôi cán bộ cộng sản và hỗ trợ các hoạt động của họ. Họ có thể hoạt động và vận động cho cộng sản ở Hồng Kông bên ngoài trại tỵ nạn cộng sản chứ không thể ở bên trong trại tỵ nạn cộng sản này. Ông đại diện cao ủy đuối lý và phải chấp nhận cho xé bài báo đó trước khi cho phát hành. Ngoài ra tôi còn yêu cầu ông phải cho một đại diện của người tỵ nạn miền nam làm phiên dịch trong ủy ban để kiểm soát các ấn loát phẩm trước khi cho phổ biến. Ông ta đồng ý và hội cựu quân nhân đã đưa cho tôi tên một cựu sĩ quan để đưa vào làm (dĩ nhiên có lương như chúng tôi).

Trước đó trong văn phòng cao ủy tỵ nạn vẫn có mấy thông dịch viên người miền nam nhưng họ không tham gia việc biên soạn bản tin của trại. Một yêu cầu thứ ba mà hội cựu quân nhân VNCH đề nghị tôi đòi hỏi là yêu cầu Cao Ủy Tỵ Nạn sa thải hai thông dịch viên người miền bắc đó. Dĩ nhiên đòi hỏi này không được ông cao ủy chấp thuận. Ngay khi nghe yêu cầu của anh em cựu quân nhân tôi đã thấy đòi hỏi này khó được chấp thuận vì vô lý nhưng tôi vẫn đưa ra với đại diện Liên Hiệp Quốc. Sau đó, cũng chiều ý ban đại diện hội Cựu Quân Nhân VHCH, tôi đề nghị đại diện Liên Hiệp Quốc cho di chuyển hai thông dịch viên đó sang khu vực hoàn toàn chỉ có người miền bắc, đối diện với khu vực hỗn hợp nam bắc của chúng tôi. Lý luận của tôi vừa hơi có tính cách đe dọa vừa có vẻ có thiện ý xây dựng là nếu không di chuyển hai thông dịch viên đó thì tôi e rằng sẽ có đổ máu cho hai anh đó và tôi không nghĩ là tôi có thể giúp giảm căng thẳng giữa hai phe trong trại.

Vị đại diện Liên Hiệp Quốc cho biết ông không thể di chuyển hai thông dịch viên đó nhưng ông sẽ cho hai thông dịch viên đó biết nguy cơ để tự quyết định. Mấy hôm sau vị đại diện Liên Hiệp Quốc gặp tôi cho biết ông ta đã thuyết phục nhưng hai thông dịch viên đó không chịu chuyển trại. Tôi hiểu rằng đây là thái độ của hai anh thách thức người miền nam. Và tôi cũng biết ngay rằng người miền nam trong trại không đủ hung dữ để thực hiện ý muốn bằng bạo động. Với thái độ lo ngại bất an trong trại, vị đại diện Liên Hiệp Quốc thuyết phục tôi rằng, “Ông hãy bảo với người miền nam của ông đừng bạo động. Lâu nay người miền nam các ông được tiếng là tốt, có cơ hội đi tỵ nạn. Trong khi như ông biết đấy, người miền bắc đâu có cơ hội tỵ nạn như các ông. Họ là những người xấu”. Nói tới đó tôi thấy đôi mắt ông long lanh như có nước. Tôi đã cộng tác và chứng kiến lòng tốt của nhiều người ngoại quốc trong khi giúp đỡ thuyền nhân Việt Nam tại Hong Kong, nhưng chính thuyền nhân Việt Nam lại chia rẽ, chém giết lẫn nhau. Đôi mắt long lanh như có nước của thanh niên trẻ người Anh này làm tôi xúc động, và hơi xấu hổ. Tôi nói với ông, tôi sẽ cố gắng nhưng tôi không bảo đảm kết quả.

Cách sống của người hai miền cũng cách biệt quá nhiều khiến chính quyền Hông Kông phải có chính sách tách biệt hai nhóm người để bảo vệ các thuyền nhân miền nam. Có lẽ trại tỵ nạn duy nhất ở Hồng Kông có một số nhỏ thuyền nhân miền bắc được cho ở chung với người miền nam trong một khu vực không có ngăn cách là trại Màn Dìn nơi tôi ở.

Trại Màn Dìn là một trại lớn có lẽ đứng thứ nhì sau trại White Head (trại Đầu Bạc). Tôi cũng nên kể thêm rằng sau này sang Mỹ, tôi mới biết trại Màn Dìn chính là trại có đoàn người khá đông từ San Jose, Hoa Kỳ, dẫn đầu bởi nhà báo Đỗ Văn Trọn và ca sĩ Mai Hân, theo bà Thanh Hải, dự định vào thăm các thuyền nhân nhưng không được vào trại nên đã ngồi ở trên đường dẫn vào trại để cầu nguyện cho thuyền nhân. Trại Màn Dìn có hai khu nam bắc riêng biệt với cổng an ninh ngăn cách. Khu miền Nam có 21 căn nhà, mỗi căn chứa khoảng 200 người. Cái khu miền nam này là khu vực duy nhất tại Hồng Kông có gần một nửa là người miền bắc ở chung với người miền nam mà không có hàng rào ngăn cách. Số người miền bắc được cho ở chung này kém về số lượng nên không gây ra đe dọa cho an ninh. Tuy nhiên cũng khiến người miền nam “hơi” lo ngại.

Đầu tiên là sự lo ngại bị thuyền nhân miền bắc cướp bóc, kể cả cướp bóc những giấy tờ quan trọng cho cuộc thanh lọc tỵ nạn. Sự lo ngại của thuyền nhân miền nam sau này cũng tới cực điểm khiến trại phải kêu gọi những ai có giấy tờ hay tài sản gì quý cần đưa trại giữ hộ thì mang nộp, khi nào cần thì lên lấy lại. Tuy hướng dẫn chung như vậy nhưng chủ đích chỉ nhằm bảo vệ thuyền nhân miền nam tránh sự cướp bóc của người miền bắc. Tình hình đe dọa cướp bóc căng thẳng tới độ trại phải cho cảnh sát mang bàn tới đặt tại từng căn nhà, ra lệnh mọi người ở nguyên chỗ ở của mình, rồi những ai có giấy tờ hay tài sản quý giá mang tới bàn nạp cho cảnh sát. Điều buồn cười là tuyệt đối không có thuyền nhân miền bắc nào có giấy tờ hay tài sản gì cần gửi cảnh sát, chỉ có thuyền nhân miền nam. Ngoài tài sản, cái mà thuyền nhân miền bắc muốn cướp của người miền nam là các giấy tờ tuỳ thân và các chứng minh bị cộng sản đàn áp của họ như giấy cựu quân nhân, giấy ra trại cải tạo v…v. Lúc bấy giờ với những giấy tờ chứng minh sự đàn áp đó thuyền nhân miền nam có nhiều hy vọng đi tỵ nạn hơn cho nên thuyền nhân miền bắc vì ganh tỵ, muốn cướp để thủ tiêu các giấy tờ đó để biến cơ hội đi tỵ nạn giữa thuyền nhân hai miền giống nhau.

Chính sách rõ ràng của Hồng Kồng là tách rời các thuyền nhân miền nam ra khỏi thuyền nhân miền bắc, nên tình trạng ở chung này chỉ là tạm thời chờ cho trại Đảo Bò, một hòn đảo hoang trước kia, được xây cất thành một trại khang trang có tên là trại Tai A Châu. Khi trại Tai A Châu được hoàn tất, lập tức Hong Kong cho chuyển người miền nam ra đó. Đó là trại dành riêng cho người miền nam. Vì người miền nam được tiếng có kỷ luật nên trại Tai A Châu cho phép thuyền nhân được ra khỏi trại đi chơi trên đảo hay ra bờ biển bất cứ lúc nào, dù là ban đêm.

Công việc chuyển khoảng bốn ngàn thuyền nhân miền nam từ trại Màn Dìn ra trại Tai A Châu phải từ từ trong khoảng một tuần. Để bảo đảm an toàn, họ khoanh vùng trong trại cho di chuyển từng khu vực nhỏ. Di chuyển theo lối cuốn chiếu, khởi đầu là từ bên trong cùng. Khi được gọi tên mang hành lý đi thì cũng có người được gọi tên trước, người được gọi sau. Khoảng cách nhiều lắm chỉ mấy tiếng đồng hồ thôi, nhưng những ai chậm được gọi cũng rất hoang mang hồi hộp, chỉ sợ bị người miền bắc thừa cơ hội người miền nam còn ít tới trấn lột, cướp bóc.

Cuối cùng cũng có một gia đình người miền Trung bị lọt danh sách. Gia đình này hiện đang ở San Jose. Có lẽ vì văn phòng trại tưởng đó là gia đình miền bắc. Đây là gia đình của một cựu sĩ quan cảnh sát miền nam. Ông ta cũng là một võ sư nổi tiếng ở Huế trước 1975. Khi các thuyền nhân miền Nam khác trong khu vực nhỏ của ông được gọi đi hết rồi, ông ta sợ quá không dám trở về chỗ ở nữa. Trong khi chờ đợi, mấy anh em miền nam đưa ông ta tới chỗ tôi ở để họp về trường hợp của ông. Chúng tôi quyết định một mặt liên lạc với đại diện Liên Hiệp Quốc để cho gia đình ông ấy đi trong cùng đợt với những người đã được gọi tên, một mặt tôi bảo ông ấy cứ ở gần chỗ với tôi thì không đến nỗi nào nguy hiểm bởi vì ít ra là trên cái giường ba tầng của gia đình tôi cũng đã từng tiếp nhiều anh chị em miền bắc.

Một lần, có lẽ vào năm 1991, tất cả anh chị em miền bắc thấy cơ hội đi tỵ nạn của họ có vẻ khó khăn đã quyết định biểu tình. Ban chỉ đạo biểu tình kéo tới chỗ gia đình tôi họp để hỏi ý kiến, vì trong đời họ chưa bao giờ thấy một cuộc biểu tình nào, nên họ không biết làm thế nào để tổ chức một cuộc biểu tình. Tôi cũng nhìn thấy một mối nguy về an ninh cho người miền nam là người miền bắc cảm thấy bực bội với người miền nam vì người miền nam thờ ơ với ý muốn biểu tình của họ. Bà vợ tôi thấy tình hình bắt đầu có vẻ hơi căng thẳng như vậy nên bảo nhỏ với tôi không nên liên hệ với công việc chuẩn bị biểu tình của người miền bắc. Vợ tôi nói, biểu tình thì người miền bắc có đánh gia đình mình đâu mà anh cần tham gia. Tôi bảo vợ tôi đừng sợ. Thứ nhất, nếu tôi không giúp họ thì ai giúp? Thứ nhì, nếu tôi không giúp họ thì thế nào cũng đi tới căng thẳng có thể đổ máu giữa hai nhóm người nam, bắc vì một bên cần biểu tình, một bên không.

Tôi phải giải thích cho người miền bắc: Mục tiêu, đối tượng và phương cách biểu tình cũng như là những việc cụ thể cần làm trước, trong và sau khi biểu tình. Tôi giải thích cho họ về mục tiêu biểu tình là đánh động dư luận qua giới truyền thông, báo chí. Đối tượng là giới truyền thông, báo chí chứ không phải ban chỉ huy trại, như vậy không có gì phải bạo động cả. Dĩ nhiên là giới truyền thông không được vào trại nhưng họ sẽ đứng trên con đường ở đỉnh núi dẫn vào trại và họ trông thấy cuộc biểu tình. Ngoài ra ban chỉ đạo biểu tình phải viết một thỉnh nguyện thư gửi cho đại diện Liên Hiệp Quốc. Thỉnh nguyện thư này cũng sẽ được chuyển ra ngoài cho giới truyền thông. Họ hỏi tôi trong lúc biểu tình thì phải làm gì. Mặc dù đã biết trước là trong đời người miền bắc chưa bao giờ biểu tình nhưng tôi vẫn thấy buồn cười trước câu hỏi này. Tôi phải nói với họ rằng đâu có làm gì ghê gớm đâu, chỉ cần kéo dài thời gian biểu tình và trong suốt thời gian đó đoàn người chỉ hô lớn những đòi hỏi thôi. Tiếp đó họ nêu vấn đề là họ sợ rằng người miền nam trong trại sẽ không tham gia biểu tình với họ. Tôi giải thích cho họ biết rằng, trong xã hội tự do, chỉ những ai có quyền lợi hay quan tâm tới vấn đề họ mới biểu tình thôi. Trong trường hợp này vì người miền nam sẽ được chấp nhận cho đi tỵ nạn hết (đó là chính sách của Liên Hiệp Quốc vào thời điểm đầu của cuộc thanh lọc vào khoảng 1991) cho nên họ không có lý do gì để tham gia thì quý anh chị cũng đừng bận tâm. Nếu không có sự giải thích trước như vậy thì chắc chắn chuyện người miền bắc muốn biểu tình, người miền nam không muốn sẽ đưa tới chém giết đổ máu. Với sự giúp sức của tôi, cuộc biểu tình của anh chị em miền bắc tại trại Màn Dìn diễn ra êm đẹp, không có người miền nam tham dự nhưng không có đổ máu giữa hai bên. Trong khi ở nửa trại bên kia, số thuyền nhân miền bắc đông hơn nhưng không tổ chức biểu tình được vì không có người miền nam giúp sức góp ý. Bây giờ nghĩ lại, tôi không biết đó có phải là cuộc biểu tình đầu tiên của thuyền nhân miền bắc tại Hông Kông hay không?. Trước đó dường như thuyền nhân miền bắc chỉ biết bạo loạn chứ không biết biểu tình.

Ngày đầu tiên, 21 tháng 6-1989, cũng như mọi thuyền tỵ nạn khác, thuyền của tôi được cảnh sát Hông Kông kéo vào đậu trong bãi tỵ nạn có tên là Đảo Bò. Đây là một trong đám đảo nhỏ. Trước kia được chủ nhân dùng để nuôi heo và bò cho nên thuyền nhân chúng tôi gọi là Đảo Bò. Tên thực của đảo là Tai A Châu. Vào tháng 6/1989, đây là trại tiếp nhận đầu tiên trong khi chờ chính quyền sắp xếp đủ chỗ chứa trong đất liền. Vì số người Việt tỵ nạn tới mỗi ngày không dưới 300 người nên trong đất liền Hông Kông không xây kịp chỗ chứa. Những người mới tới thường phải ở đây khoảng 2 tuần lễ. Ngay lúc vừa được cảnh sát đưa mấy người đại diện thuyền lên bờ làm thủ tục nhập trại, tôi đã thấy thuyền cấp cứu chở đi bệnh viện một nạn nhân bị cướp bởi chính thuyền nhân khác. Sợ quá, suy nghĩ một hồi tôi quyết định liều đứng dậy yêu cầu chính quyền trại bảo vệ. Tôi nói với người mà sau này tôi biết là trung sĩ nhất thường vụ quản lý trại rằng: “Tôi là một sĩ quan miền nam, tôi có khả năng tự vệ chống lại cướp, nhưng đây là Hồng Kông, một xứ sở có luật pháp nên tôi phải tôn trọng luật pháp Hồng Kông và tôi yêu cầu được bảo vệ tránh bị cướp như trường hợp vừa rồi”. Ông ta nhìn tôi mặt lạnh như tiền. Tôi thấy “không ăn” rồi. Ngay lập tức tôi quyết định lập lại yêu cầu nhưng cố nhét làm sao để có chữ “Quân đội Hoa Kỳ” (US Army). Tôi nói tiếp, “Tôi là cựu sĩ quan liên lạc của quân đội Hoa Kỳ” và lập lại yêu cầu. Khi nghe tới chữ US Army tôi thấy mắt ông ta nhấp nháy, tôi biết là “ăn tiền”. Ông ta nhìn tôi từ đầu tới chân rồi bảo tôi ở lại trong khi mấy người đại diện của các thuyền kia được đưa trở lại thuyền của họ. Thực sự tôi biết có cái chức “sĩ quan liên lạc” (liason officer) là trước kia trong thời gian ở bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 1, tôi có thời gian ngắn được gửi sang bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn 1/5 Cơ Giới Hoa Kỳ (1/5 Mechanized Division) để làm sĩ quan liên lạc hành quân.Toàn bộ 25 người thuộc ba gia đình trên con thuyền của tôi được đưa vào một khu biệt lập hẳn với mấy ngàn thuyền nhân khác. Khu vực này có những dẫy chuồng heo, và thuyền nhân được cho ở trong mấy cái chuồng heo đó. Cũng giống như ở nhà quê Việt Nam, mỗi chuồng heo vuông vức mỗi cạnh khoảng 4 m. Trong đó còn dấu vết của máng ăn, rãnh nước để rửa chuồng, chỗ hốt phân heo. Cứt heo và cám heo vẫn còn. Chúng tôi phải lấy nước rửa chuồng heo để ở. Thỉnh thoảng vẫn thấy những con dòi bò cạnh chỗ nằm. Nhưng dù sao cũng hơn mấy ngàn thuyền nhân khác là chỗ này còn có mái che là mái chuồng heo. Tới nơi tôi thấy toàn bộ thuyền nhân người Việt gốc Hoa đã ở trong khu vực này. Tất cả những thuyền nhân Việt gốc Hoa đều được cho ở riêng để bảo vệ. Ngay khi vừa rời Việt Nam, giữa người Việt và người Việt gốc Hoa đã có sự chia rẽ rồi, cho dù là họ sinh đẻ đã nhiều đời tại Việt Nam. Thuyền chúng tôi là những người miền nam duy nhất được bảo vệ chung với người Việt gốc Hoa. Một kỷ niệm nho nhỏ. Chỗ chuồng heo đó là chỗ duy nhất các phái đoàn hay phóng viên báo chí tới thăm đảo có thể tới gặp thuyền nhân để làm phóng sự, phỏng vấn. Những chỗ khác toàn là rừng hoang nên các đoàn khách đâu biết đường đi mà tới thăm được. Một hôm có một cô người nhỏ nhắn, xinh xinh, trạc ba mươi tuổi tới phỏng vấn thuyền nhân. Cô ta giới thiệu là làm cho chương trình Việt Ngữ đài BBC. Tôi ngưỡng mộ lắm. Vì từ trong tù cải tạo tôi đã ước mơ được làm cho đài BBC hoặc VOA. Lúc đó chỉ là một ước mơ viển vông thôi. Nhưng đời có ai ngờ nếu mình cứ mơ những giấc mơ “viễn vông” và cố thực hiện nó thì cũng có cơ may thành đạt. Còn hơn là không mơ gì cả. Thế là 10 năm sau, 1989-1999, sau thời gian học đại học Hoa Kỳ, tôi đã trúng tuyển vào ban Việt Ngữ đài VOA và sang thủ đô Washington làm việc trong một toà building lớn có vài ngàn nhân viên ở cạnh trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ.

Trên đảo ngoại trừ vài kiến trúc của chủ đảo mà cảnh sát đang xử dụng để quản lý trại không có một kiến trúc nào khác. Trừ một số nhỏ nằm trong các chuồng heo cũ, tất cả thuyền nhân phải căng lều nằm ngoài trời. Lều do trại phát. Những ngày sau đó tôi chứng kiến 100 phần trăm tất cả những thuyền nhân mới tới đảo đều bị người miền bắc cướp. Cướp khủng khiếp tới độ gần như công khai mà cảnh sát không làm gì được vì nạn nhân không dám khai báo và làm nhân chứng.

Người miền bắc chiếm đa số trong tổng cộng khoảng 6 ngàn người trên đảo. Họ tự động phân chia ra ở từng khu vực riêng rẽ: Khu Hải Phòng, khu Đồ Sơn, khu Hà Nội, khu Quảng Ninh. Dân miền bắc khác địa phương cũng không sống hợp nhất với nhau. Tôi không biết trước khi người cộng sản chiếm miền bắc năm 1954 thì người miền bắc có óc kỳ thị địa phương nặng nề như thế không. Nhóm nào đông thì nhóm đó chế ngự trại. Nhóm Quảng Ninh là đông nhất, có nghĩa là mạnh nhất. Thời gian tôi vừa tới trại thì cũng là lúc còn dư âm của anh chàng Hoa Hùng, một xếp đầu gấu người miền bắc vừa được chuyển vào đất liền. Hoa Hùng đi thì không có tay nào làm trùm của trại mà có nhiều băng nhóm nổi lên theo danh xưng địa phương. Mỗi băng nhóm hùng cứ một khu vực. Người Việt gốc Hoa, vì biết tiếng Hoa để giải thích với trại nên họ được bảo vệ ở một khu vực riêng ngay khi mới tới. Riêng người miền Nam thì không ai bảo vệ và cũng không có nhóm đầu gấu nào để đương đầu với các nhóm đầu gấu miền bắc. Người miền nam hiền quá và trở nên một cộng đồng bơ vơ giữa một xã hội không luật lệ.

Hai tuần lễ sau, khi gia đình tôi và một số người vừa được chuyển tới trại khác thì tại trại Đảo Bò xẩy ra bạo động làm rung động Hồng Kông và xấu mặt người Việt Nam. Cuộc bạo động gây ra bởi người miền bắc. Cuộc bạo động không lý do nhưng mức độ khiến các thuyền nhân người Việt gốc Hoa và miền nam ghê sợ và người Hồng Kông khinh bỉ. Người miền bắc chiếm trại, chiếm các kho thực phẩm. Cảnh sát Hồng Kông phải rút ra khỏi đảo. Kể từ lúc đó người miền bắc hoàn toàn làm chủ trên đảo và họ tự do cướp bóc, hãm hiếp.

Trong bài báo “Vietnam Refugees Riot in Hong Kong” do BARBARA BASLER, viết đặc biệt cho tờ The New York Times xuất bản ngày mùng 3 tháng 9-1989, tác giả đã viết, “HONG KONG, Sept. 2— Chủ nhật tuần trước, 1,000 người Việt nam đã bạo động trên đảo Tai A Châu, và mặc dù đã xử dụng hơi cay, một toán nhỏ cảnh sát tại đó đã không thể phục hồi được an ninh và buộc phải rút ra khỏi đảo. Sau một đêm bị tấn công, cướp bóc và 5 vụ hãm hiếp, hòn đảo, nơi có 5,500 người Việt nam bị tạm giữ, đã được cảnh sát chiếm lại khi các phi cơ trực thăng chuyển hơn 350 cảnh sát chống bạo động tới. Cảnh sát đã bắt 12 người và một người bị truy tố tội hãm hiếp. Đảo không có điện, không chỗ đi tiêu tiểu … Các thuyền nhân phải sống trong những lều tạm, giữa các đống rác và phân người … Các giới chức nói, “Trật tự hoàn toàn bị tan vỡ.”

Bản tin vắn tắt đã thấy rùng mình. Nhưng sẽ rùng mình hơn khi đã từng ở đó và may mắn được ra đi trước đó không lâu rồi được nghe chính những bạn bè, người quen của mình thuật lại ngay sau biến cố đó. Sau này mấy người miền nam kể lại với tôi rằng khi đổ quân vào tái chiếm lại đảo, cảnh sát chống bạo động và đại diện Liên Hiệp Quốc đã tìm cách cứu những người Việt gốc Hoa và người miền nam ra khỏi đảo trước. Cuộc giải cứu như giải cứu con tin bị bắt cóc. Có lẽ người đầu tiên được giải cứu là cựu thiếu tá Sơn, cựu giảng viên trường Võ Bị Đà Lạt. Lý do trại biết tới ông Sơn là vì ông làm phiên dịch cho một cơ quan thiện nguyện và cảnh sát cũng cần những người như ông để phân biệt đâu là người miền nam. Trên đường tiến vào chiếm trại, cảnh sát gọi đích danh để tìm kiếm ông Sơn và những thông dịch viên khác. Người Việt gốc Hoa thì được giải cứu hầu như toàn bộ vì họ nói được tiếng Hoa. Người miền nam thì được giải cứu ít thôi vì cảnh sát không phân biệt được ai là người miền nam, ai là người miền bắc. Chỉ những người được các phiên dịch viên như ông Sơn xác nhận, hay biết tiếng Anh để tự giới thiệu thì mới được cho lên thuyền cấp cứu rời đảo. Người miền bắc tuyệt đối không được cho lên thuyền cấp cứu.

Bản tin cho biết cảnh sát có bắt một số nghi can nhưng tôi biết rồi những người này cũng sẽ được thả ra ngay sau đó bởi vì luật lệ Hồng Kông rất là văn minh, dân chủ, muốn kết tội một người thì phải có đầy đủ bằng chứng, cần rất nhiều thời gian điều tra, với lời khai của rất nhiều nhân chứng. Thì giờ và ngân quỹ đâu mà họ điều tra và nạn nhân nào giám khai báo khi trong trại băng đảng bạn bè và thân quyến của nghi can còn đầy rẫy. Bản tin nói rằng có 5 vụ hãm hiếp. Nhưng bạn bè tôi cho biết những cuộc hãm hiếp nhiều hơn như thế nhiều lần. Họ còn nói rằng phụ nữ Việt gốc Hoa thì bị hãm hiếp gần như 100 phần trăm. Phụ nữ miền nam thì bị hiếp ít hơn. Nhưng tất cả các phụ nữ đều sợ hãi phải làm cho đầu tóc bù xù, bôi đất lấm lem lên mặt cho xấu đi. Người phụ nữ bạn với gia đình tôi trong tấm hình dưới đây đã thuật chị phải bôi mặt cho lem luốc, xấu đi hầu thoát nạn. Chị tên là Đinh Thị Thu Vân, hiện ở Hoa Kỳ.Cuộc chiếm đảo của đầu gấu miền bắc còn man rợ hơn nữa khi mấy ngày sau cảnh sát Hồng Kông phát hiện ra sự kiện là người miền bắc còn đi “ị” cả vào mấy bồn chứa nước ăn cung cấp cho chính thuyền nhân.

Những hành động và cung cách sống như vậy khiến các người ngoại quốc cũng như viên chức Hồng Kông hoạt động trong trại đánh giá thuyền nhân miền bắc thấp hơn thuyền nhân miền nam thật nhiều.

Sau hai tuần ở Đảo Bò, gia đình tôi cùng với 1,600 người khác được chuyển tới trại Thuyền Châu. Trại này cũng vẫn là tạm thời để chờ trong đất liền xây xong trại mới. Trại Thuyền Châu gồm bốn cái phà nhỏ, mỗi cái chứa được 400 người. Vì thế thuyền nhân gọi đây là trại Phao Nổi. Diện tích dành cho mỗi gia đình thật hẹp. Gia đình tôi 6 người được một diện tích bằng một chiếc chiếu nhỏ. Chỉ đủ chỗ cho vợ chồng tôi nằm ôm thùng quần áo. 4 đứa con và cháu phải mắc võng nằm ngay sát trên mặt vợ chồng tôi. Chúng tôi sống như thế trong bốn tháng.

Các phao này được để cặp bờ một đảo rất nhỏ cách đất liền Hồng Kông một eo biển hẹp có thể bơi qua dễ dàng. Eo biển này là đường lưu thông nườm nượp của các chiếc tầu cao tốc nối liền Hông Kông và Macau. Nhưng mỗi buổi tối, đều có những toán thanh niên miền bắc bơi vào đất liền đi ăn cắp đồ ở Hồng Kông. Liên Hiệp Quốc và cảnh sát Hồng Kông biết nhưng họ khuyên răn thiếu điều muốn năn nỉ rằng: “Xin quý vị đừng bơi như thế, rất là nguy hiểm cho mạng sống của quý vị”. Thế nhưng các đầu gấu với sự hỗ trợ của chính gia đình họ đã hàng đêm thực hiện những phi vụ phạm pháp như vậy. Những vụ trấn lột diễn ra hàng ngày nhưng cảnh sát không làm gì được vì nạn nhân không dám khai báo. Đầu gấu trừng phạt nhau mỗi đêm. Chúng để đối phương đứng ở giữa, chúng đứng vòng tròn xung quanh. Kẻ thù bị đánh, đá văng từ bên này sang bên kia. Chúng không cho ai đứng xem. Nạn nhân bị đánh gần chết được trực thăng chở đi cấp cứu trong đất liền mà khi trở về trại không ai dám chỉ hung phạm.

Trong hoàn cảnh ghê gớm đó người miền nam chỉ biết im lặng chịu đựng. Ngay gia đình tôi có một thùng bìa nhỏ, trước là thùng đựng cơm hộp do trại phát, nay gia đình tôi dùng để đựng quần áo vớ vẩn (thuyền nhân còn có gì hơn ngoài mấy bộ áo quần trại tiếp tế) nhưng bọn đầu gấu tưởng gia đình tôi có vàng nên một đêm vợ tôi ngủ say chúng cũng lấy được. Nếu thức giấc mà thấy chúng ăn cắp đồ của mình thì cũng chỉ cười trừ thôi chứ la lên thì cũng chẳng có ai tiếp cứu mà không khéo chúng lại đập cho vỡ sọ.

Tình hình phân chia nam bắc trong các trại tỵ nạn ở Hông Kông trầm trọng tới độ họ đối xử với nhau như hai dân tộc khác nhau. Người miền bắc hiếp đáp người miền nam. Người miền nam khiếp sợ người miền bắc. Sau khoảng hai tháng ở trại phao nổi, trong đất liền có một số chỗ, trại xắp xếp đưa số người miền nam tách rời khỏi số miền bắc. Nhưng họ phải làm kín đáo để người miền bắc đừng bạo động. Sáng hôm chuyển trại, họ bảo tất cả các thuyền nhân mang hết đồ đạc tập trung trên sân để nghe đọc danh sách chuyển trại vào đất liền. Nghe thấy vậy ai cũng vui mừng. Trại làm rất dân chủ. Khi được gọi tên họ hỏi thuyền nhân có muốn chuyển trại không? Ai mà không muốn sớm được vào một trại nào đó trong đất liền để có cuộc sống ổn định hơn. Đến khi gọi được nửa số người rồi thì người miền bắc đã biết ngay đó là kế hoạch trại cho di chuyển người miền nam đi trại khác tách biệt với người miền bắc. Họ ngồi buồn so trong khi những người miền nam có tên được gọi đi thì tay xách nách mang khuôn mặt hí hửng.

Gia đình tôi được gọi lên sau cùng. Họ cũng hỏi tôi có muốn chuyển trại không. Tôi trả lời “Không!”. Ngay sau đó gia đình tôi mang hành trang trở lại ngồi với nhóm miền bắc để ở lại phao nổi. Nhìn thấy gia đình tôi mang đồ trở lại ngồi với toán người miền bắc, tất cả các cặp mắt đều đổ dồn về gia đình tôi. Người miền nam không hiểu tại sao gia đình tôi lại chọn ở lại. Người miền bắc thì thấy vui mừng. Ít ra họ cũng thấy đỡ cô đơn vì còn có một gia đình miền nam ở lại với họ.

Sáng hôm sau, trong chuyến tầu đầu tiên đưa nhân viên từ đất liền ra làm việc, anh cán sự xã hội Hùng trông thấy tôi còn ở trại tròn mắt ngạc nhiên. Nhưng anh không dám hỏi tôi vấn đề đó giữa lúc tôi đang đứng với đông người miền bắc, anh bèn mời tôi vào văn phòng của anh đặt trong một thùng sắt chuyển hàng (container). Hùng là cựu trung úy Thủy Quân Lục Chiến Trần Như Hùng của VNCH, định cư tại Úc, tình nguyện sang phục vụ giúp dân tỵ nạn Hồng Kông. Một lần tôi hỏi Hùng tại sao lại sang tình nguyện công tác tại Hồng Kông thì Hùng làm tôi cảm động và kính trọng, “Ông hỏi thế thì coi thường tôi quá!”. Vào văn phòng, anh cẩn thận đóng kín cửa rồi hỏi tôi: “Sao ông còn ở lại?”. Tôi cho biết, tôi mà đi nữa thì số gần một ngàn rưởi thuyền nhân miền bắc này ai giúp đỡ họ, họ không nói được tiếng Anh thì trại làm sao làm việc với họ. Hùng hỏi tiếp, “Thế ông không sợ họ sao?”. Tôi trả lời, “Tôi ở lại giúp họ thì làm sao họ lại hại tôi?”. Ngày nay Hùng lấy bút hiệu Quốc Việt đang làm trưởng ban Việt Ngữ của đài phát thanh SBS Radio của chính phủ Autralia tại Melbourne. Có một lần Hùng chụp cho tôi một tấm hình tôi ngồi giữa đám thanh niên đầu gấu miền bắc. Tôi cười nói đùa, đây là tấm hình đặc biệt lắm đó nghe. Mới đây, Hùng liên lạc được với tôi và nói sẽ cố tìm lại tấm hình đó gửi cho tôi nhưng cuối cùng anh tìm không ra.

Như tôi đã trình bày, vì muốn bảo vệ người miền nam nên Hồng Kông có chính sách tách rời thuyền nhân miền nam khỏi người miền bắc. Nhưng tình hình đặc biệt thiếu người phiên dịch tại trại Thuyền Châu khiến trại phải hội ý với tôi. Thực sự ra nếu chỉ cần một người phiên dịch thì trại có thể thuê ở ngoài vào một cách dễ dàng. Nhưng qua thời gian giúp trại một cách thiện nguyện, trại biết tôi là người có thể giúp họ liên lạc với thuyền nhân miền bắc một cách hữu hiệu nên trại muốn tôi ở lại. Nhưng họ không thể bảo vệ an ninh cho tôi nên họ không giám trực tiếp yêu cầu tôi ở lại vì lỡ có chuyện gì xảy ra cho tôi thì ai chịu trách nhiệm. Trại chỉ mật bàn hỏi tôi làm cách nào để chuyển người miền nam ra đi một cách an toàn, không sợ người miền bắc có cảm tưởng bị bỏ rơi mà nổi loạn.

Đồng thời họ cho tôi biết là nếu người miền nam đi hết thì không có ai phiên dịch cho người miền bắc, họ sẽ rất khó điều hành trại. Trước tình hình đó tôi cho họ biết tôi sẵn sàng ở lại để giúp trại điều hành. Tôi nói với trại rằng người miền bắc cũng là đồng bào của tôi, tôi phải giúp họ nếu cần thiết. Cho nên toàn bộ kế hoạch di chuyển số người miền nam hôm đó hoàn toàn do tôi đề nghị. Cái kế hoạch chuyển trại mau lẹ và an toàn đó tôi học được trong nhà tù cải tạo. Mỗi lần người cộng sản di chuyển tách rời một số tù cải tạo chúng tôi đi trại khác thì họ không cho biết ai đi ai ở, và sẽ đi đâu. Họ cứ kêu tất cả mang hết hành trang lên sân ngồi chờ. Rồi ai được gọi tên thì người đó ôm hành trang đứng sang khu vực khác.

Tại trại Phao Nổi (Thuyền Châu), công việc chính thức thiện nguyện của tôi là phiên dịch bệnh xá dưới quyền của một bác sĩ trẻ người Anh. Mỗi ngày ông ấy từ trong Hồng Kông ra khám bệnh cho thuyền nhân. Bệnh xá do tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới của Âu châu phụ trách (Medecins Sans Frontières). Các thuốc men rất tốt và đầy đủ và mỗi ngày có một chuyến tầu đưa thuyền nhân có bệnh nặng vào bệnh viện tối tân của Hồng Kông điều trị. Khi cấp cứu sẽ có tầu cao tốc hoặc trực thăng chở bệnh nhân tới bệnh viện trong đất liền. Thuyền nhân được chữa trị tại bệnh viện y hệt như mọi người Hồng Kông giầu có nhất. Có thể nói, trên mọi lãnh vực, Hồng Kông là thiên đường của người Việt tỵ nạn. Nhưng vấn đề này sẽ được đề cập tới trong một loạt bài khác. Một điều đáng xấu hổ là tất cả các trường hợp cấp cứu bằng tầu cao tốc hay trực thăng trong thời gian tôi công tác toàn là nạn nhân của những vụ đâm chém, cướp bóc của đầu gấu miền bắc.

Người miền bắc dường như cũng không quen tôn trọng luật pháp và kỷ luật. Ngày nào cũng có một đoàn dài người xếp hàng chờ khám bệnh xin thuốc, mà chỉ xin thuốc trụ sinh thôi, trong khi họ không có bệnh gì cả. Mặc dù bác sĩ đã giải thích, kêu gọi mọi người không cần xin thuốc dự trữ vì ở bệnh xá luôn luôn đủ thuốc tốt và khi cần sẽ đưa đi cấp cứu trong bệnh viện trong đất liền. Nhưng lời giải đáp, kêu gọi hàng ngày đó vẫn không hữu hiệu. Mỗi ngày hàng đoàn người vừa xếp hàng, vừa chen lấn, xô cả cửa của phòng khám khiến ngay vị bác sĩ cũng phải lúc thì đứng chèn cửa, ngăn không cho đoàn người tràn vào, lúc thì ngồi xuống khám bệnh. Tôi nói với bác sĩ là tôi không giúp gì được ông ta trong việc giữ cửa ngăn chặn sự chen lấn bạo động của thuyền nhân vì họ sẽ đánh cả tôi. Một thời gian sau, quá sức mệt mỏi bởi tình trạng vô kỷ luật của thuyền nhân miền bắc tôi phải xin bác sĩ cho tôi nghỉ việc. Mấy ngày đầu ông ấy tới làm việc vẫn kêu tôi lên giúp vì không có phiên dịch. Sau đó tôi sợ quá phải viết cho ông ấy miếng giấy như van xin, ““Please! Please!” đừng gọi tôi lên nữa vì tôi sợ quá không thể tiếp tục giúp ông được”. Sau đó ông ta phải thuê phiên dịch từ ngoài Hông Kông vào mỗi ngày.

Từ ngày cặp thuyền vào trại hoang dã là Đảo Bò cho tới khi rời khỏi trại tỵ nạn ở Bataan, Phi luật Tân, tổng cộng 3 năm 8 tháng, trong số những người hoạt động thiện nguyện lúc đầu, sau đó được Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc trả trợ cấp 180 đô Hồng Kông, tương đương 25 đô Mỹ một tháng, có thể nói tôi là người miền nam duy nhất có quan hệ thân thiết với người miền bắc. Hầu như tất cả mọi người miền nam đều tránh né người miền bắc. Có giao thiệp thì cũng chỉ là bề mặt, xã giao, thiếu cái thân tình. Riêng duy nhất tôi thì không. Tại sao vậy ? Thứ nhất, trong tận cùng suy nghĩ, tôi luôn luôn thấy rằng sự quảng giao là tấm áo giáp bảo vệ mình trong mọi tình huống. Thứ nhì, tôi là người bản chất khá cởi mở, không thành kiến. Tôi có thể và thích giao du với người của mọi miền, mọi giới khác nhau, từ dân sự tới quân đội, từ người trí thức tới những tay anh chị. Thêm nữa, tôi gốc người Hà Nội 1954 nên dễ tiếp cận với người miền bắc.

Chính nhờ lúc nào tôi cũng có mối quan hệ thân thiện với người miền bắc, được họ thương mến, kính trọng, tin tưởng, mà trong tất cả những trại tôi ở có thể nói tôi là người duy nhất giúp tránh được các xô xát có thể đưa tới đổ máu tập thể như đã từng xảy ra rất nhiều lần ở những trại khác. Đó là một đóng góp âm thầm mà không ai biết trừ bà vợ tôi. Chưa đổ máu thì làm sao mà biết ai là người đã giúp ngăn chặn những chuyện đó từ trong trứng nước. Đóng góp đó quan trọng cho một tập thể có khi tới bẩy ngàn người. Và thành thực mà nói, đóng góp đó quan trọng cho cả chính gia đình tôi. Đôi khi nghĩ lại tôi thấy cũng vui và cũng nhớ khá nhiều những anh chị em miền bắc có gắn bó tình cảm với tôi, kể cả bảo vệ tôi. Không kể những lần điện thoại thăm hỏi, tôi và vợ tôi đã một lần tới Canada thăm một gia đình miền bắc và họ còn hẹn kỳ tới trước khi sang chúng tôi nên báo trước để họ liên lạc rủ các anh chị em khác tới gặp vợ chồng tôi cho vui.

Như là một quy luật, để giải quyết những mâu thuẫn xã hội, điều hữu hiệu nhất là giải quyết sau hậu trường, dựa vào sự thân thiết cá nhân trước khi mâu thuẫn bùng nổ. Ngay cả trong chính trường quốc gia hay quốc tế, cá tính của người lãnh đạo và cảm tình họ dành được đối với quần chúng cũng làm giảm căng thẳng chính trị quốc nội và quốc tế. Mầu da và cách cư xử của tổng thống Obama đã giúp giảm căng thẳng và gia tăng thân thiện giữa Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Phi châu và nam Mỹ đã là một ví dụ sinh động. Một khi mâu thuẫn đã nổ ra rồi thì nắm lại tình hình rất khó và chắc chắn sẽ có nhiều tổn thất. Tại trại tị nạn Bataan ở Philipines, một buổi tối một đầu gấu miền bắc gặp tôi nói rằng nghe nói tối hôm trước anh em cựu quân nhân miền nam có cuộc họp định tấn công anh em miền bắc, em muốn hỏi anh xem có đúng không. Nếu đúng như vậy thì bọn em sẽ tấn công trước. Đây là một câu hỏi nhưng cũng là một đe dọa họ mượn tôi chuyển tới anh em miền nam. Dĩ nhiên câu hỏi đó được tôi giải toả dễ dàng.

Người miền bắc dường như có thói quen hành động không theo kỷ luật. Một lần tại trại Phao Nổi, không biết làm sao mà ban chỉ huy trại mang cơm từ trong đất liền ra chậm. Gần như tất cả hơn một ngàn người miền bắc lên biểu tình ngay tức khắc. Không có người miền nam. Nhưng họ không biết cách biểu tình, mà cũng chẳng ai trong số đó biết tiếng Anh để tiếp xúc thảo luận với trại. Họ chỉ còn một cách là dàn hàng ngang ném đá tấn công ban chỉ huy trại. Ban chỉ huy trại là những người dân sự có lẽ thuộc sở xã hội. Họ không hiểu tại sao mà thuyền nhân lại dữ tợn như vậy và họ sợ quá cố thủ trong khu vực ban chỉ huy có hàng rào kẽm gai. Thấy nguy cấp tôi đi lên yêu cầu đồng bào miền bắc dừng ném đá để tôi vào thương thuyết với trại. Khi vừa thấy tôi, mấy người trong ban chỉ huy trại nói ngay: Tôi chờ ông từ nẫy tới giờ. Tôi cho ban chỉ huy trại biết là thuyền nhân họ muốn được phát cơm ngay không chậm trễ và ban chỉ huy trại đồng ý sẽ gọi máy vào đất liền yêu cầu chuyện đó. Chuyện thật đơn giản.

Không quen thuộc với pháp luật và luật lệ của trại nhưng người miền bắc quen thuộc với kỷ luật của đầu gấu, của mafia.

Trong các trại cấm (closed camp) ở Hồng Kông, trại Whitehead (Đầu Bạc) là trại lớn nhất chứa gần 30,000 người, trong đó đại đa số là thuyền nhân miền bắc. Dĩ nhiên thuyền nhân hai miền được cho ở riêng có hàng rào và các con đường ngăn cách xa nhau. Trong khu miền nam tôi không nghe nói có đầu gấu hay du đãng, ăn cướp.

Tình hình ở khu vực thuyền nhân miền bắc thì trái lại: các đầu gấu hoàn toàn cai trị. Đây là một nét rất đặc thù của cộng đồng thuyền nhân miền bắc. Chính bởi thế, tôi nghe nói, trong trại miền bắc rất là ngăn nắp, kỷ luật và sạch sẽ, cái ngăn nắp, kỷ luật của một chế độ độc tài. Trong khi trại miền nam thì rất là vô tổ chức và rác rến vứt bừa, bản chất của chế độ dân chủ. Trại có trả một trợ cấp nhỏ cho một số thuyền nhân làm lao công dọn vệ sinh hàng ngày. Nói về kỷ luật và sạch sẽ thì cảnh sát rất thích trại miền bắc. Tại những trại đó thuyền nhân không nghe lệnh đầu gấu thì nhừ đòn.

Các người miền bắc đi làm việc cho trại như thông dịch, giáo viên, vệ sinh viên v…v. đều phải đóng góp cho ban lãnh đạo thuyền nhân là các đầu gấu. Các thuyền nhân buôn bán trong trại cũng phải nạp “thuế” cho đầu gấu. Tại trại của người miền nam thì tuyệt đối không có tình trạng đầu gấu cai trị và thu thuế như thế. Đối với người miền bắc họ thấy việc điều hành trại như thế là bình thường. Một chú em đầu gấu miền bắc thuật với tôi như vậy và nói rằng, “Em hỏi anh nếu không thu tiền như thế thì làm sao trả lương cho những thằng trật tự trong trại.” Trái lại trại miền nam không cần có “trật tự viên”. Vì là đầu gấu điều hành trại nên mọi sinh hoạt đều phải theo lệnh họ. Một khi họ hô biểu tình là tất cả phải tham gia. Nhưng đã là đầu gấu cai trị thì dĩ nhiên có tình trạng bạo động tranh dành quyền lực. Tình hình đầu gấu và bạo động tràn lan trong khu vực của thuyền nhân miền bắc được mô tả trong hai bản tin dưới đây:

Trong bản tin Cảnh sát Hông Kông bố ráp trại tị nạn (Hong Kong Police Raid Refugee Camp) đăng trên tờ The Washington Post ngày 30 /12/1989, “phát ngôn viên chính phủ Timithy Li cho hay cảnh sát đã bắn hơi cay sau khi thuyền nhân Việt nam nổi lửa đốt các chăn mền và ném đá để ngăn cản không cho lục soát các vũ khí tự chế. Cảnh sát cho hay 27 thuyền nhân bị bắt cùng với hơn 700 vũ khí bị tịch thu”. Một cộng đồng biết thượng tôn luật pháp sẽ không ngăn cản cảnh sát trong hoạt động ngăn ngừa tội phạm như trong bản tin.

Bản tin ngày 20 /2/1990 cũng của tờ The Washington Post loan tải, “truyền hình chiếu cảnh cảnh sát trang bị mũ bảo hiểm và khiên, bắn hơi cay và người ta có thể thấy khói bốc lên từ những đám cháy quanh trại. (www.korchinatnc.com/HongKong) Khi đêm xuống, …. Các nhóm băng đảng thuyền nhân người Việt thù địch nhau, nhiều người từng trải qua nhiều năm chiến đấu trong quân đội, tập trung tại những khu vực riêng. Quanh trại vang lên tiếng mài bén các thanh kim loại thành các thanh kiếm và xà mâu (spears) dài, kiểu thời trung cổ. Ngày càng có bạo động hàng đêm.” Đọc bản tin thì không thấy nói gì tới người miền bắc hay miền nam mà chỉ đề cập tới người Việt nói chung. Nhưng những ai đã ở trong trại tỵ nạn Hồng Kông trong thời gian đó khi đọc bản tin này đều biết ngay đây là những trại của người miền bắc.

Trong một lần một phái đoàn khoảng hơn một chục cô thầy giáo người miền bắc từ trại tỵ nạn Whitehead sang thăm (giao lưu) có ở qua đêm tại trại Tai A Châu của người miền nam chúng tôi, các cô thầy miền bắc được đi lại thoải mái trong trại, kể cả ban đêm ra bãi biển mà không sợ hãi điều gì. Các cô thầy ngạc nhiên thích quá buột miệng, “Các anh chị ở trại này thích quá. Ở trại của chúng em không thể an ninh như thế này!”

Trong một lần khác đi cùng với phái đoàn giáo chức miền nam ở trại miền nam Tai A Châu sang thăm trại White Head của người miền bắc. Khi vừa tới trại, đoàn được dự một cuộc thuyết trình ngắn cho biết tình hình an ninh ở trại đó không được bảo đảm. Đoàn được ban quản trị trại dặn dò cẩn thận là không được lang thang vào trong trại dù là có gặp người quen. Lang thang vào trong trại có thể gặp nguy hiểm bởi đầu gấu. Đoàn chỉ được ở quanh quẩn nơi phòng dưỡng bệnh của bệnh xá thôi. Nghe vậy mọi giáo chức trong đoàn đều ớn lạnh. Khi vào phòng ở trong khu bệnh xá, tôi thấy có một thanh niên duy nhất và được bệnh xá giới thiệu là người trông nom khu vực này.

Tôi chợt nghĩ ngay tay này cũng phải là một đầu gấu có hạng đây. Anh ta sống sung túc. Có đầy đủ máy hát, loa, đài, những cái vào thời đó và nhất là trong trại tỵ nạn là thứ rất xa xỉ. Như vậy anh ta phải kiếm được khá nhiều bổng lộc với tư cách một trong các đầu gấu có hạng. Buổi tối, ngồi quây quần trên giường anh ta nói chuyện. Tôi vờ hỏi anh ta ở đây một mình không sợ đầu gấu sao thì anh ta liền nhấc tấm nệm ngay dưới chỗ anh ta ngồi để khoe hai thanh kiếm nhọn, lưỡi cong, dài khoảng 1 mét, anh ta nói, “Em phải có cái này đấy chứ!”. Sau đó anh ta vừa vấn điếu thuốc vừa hỏi chúng tôi có dùng không. Các cô thầy giáo trong đoàn sợ quá. Tôi vội chồm lên với tay lấy điếu thuốc đưa lên miệng rít một hơi. Ém khói hẳn hoi. Xong rồi từ từ nhả khói ra. Tỏ vẻ đê mê. Thực ra đây là lần đầu tiên tôi thử sì ke nên chẳng thấy hương vị gì cả: Không phê mà cũng không một chút khó chịu. Nhưng tôi giả là một tay chơi, gật gù nói với anh ta,“Đã quá! Lâu lắm mới có cái này đây!”. Các cô thầy giáo trong đoàn nhìn cách cư xử giang hồ của tôi phục lắm.

Một hôm tôi và mấy người bạn ngượng muốn độn thổ khi một thiện nguyện viên người Âu châu tới làm việc ở trại thuật với chúng tôi rằng hôm trước cô ta tới làm thiện nguyện ở trại miền bắc, mấy thuyền nhân cũng quấn quít lấy cô ấy rồi bất chợt có một thuyền nhân giựt sợi giây chuyền vàng của cô ta đeo ở cổ chân. Đứng quanh cô ấy rất đông người mà không một ai can thiệp. Tội phạm ở trại của người miền bắc có tính cách tập thể như vậy.

Trại của người miền bắc hoàn toàn khác trại của người miền nam.

So sánh với trại miền nam, trại miền bắc có sự khác biệt lớn:

– Trại miền bắc hoàn toàn do đầu gấu cai trị và dĩ nhiên bằng luật giang hồ: Đã tường thuật ở trên.

– Thuyền nhân miền bắc có thể ẩu đả chém giết nhau một cách tập thể chỉ vì một quyền lợi rất nhỏ. Tình trạng bạo động tập thể của những trại miền bắc đã được một số báo tiếng Anh mô tả. Bài báo “Vietnam Refugees Riot in Hong Kong”viết bởi BARBARA BASLER, đặc biệt cho tờ The New York Times xuất bản ngày mùng 3 tháng 9-1989, viết: “HONG KONG, Sept. 2— Trong cuộc bạo động quan trọng lần thứ nhì trong một tuần lễ, một người Việt nam bị giết ngày hôm nay và 11 người khác bị thương, khởi đầu bởi một cuộc cãi nhau về một món nợ đánh bạc … Cảnh sát tin rằng cuộc bạo loạn ngày hôm nay bắt đầu từ một cuộc cãi vả giữa những người Việt đánh cá kết quả một trận bóng chuyền trong trại. Không ai đứng ra xác nhận danh tánh người bị giết trong cuộc bạo động.” (bài báo này được in trên trang 13 ấn bản ngày mùng 3 tháng 9-1989 của bộ The New York edition)

– Người từng ở trong trại đọc tới câu cuối của bản tin vừa nêu hiểu ngay rằng không ai dám đứng ra xác nhận danh tánh người bị giết vì sợ đầu gấu. Luật của đầu gấu, của mafia mọi nơi là “im lặng tuyệt đối, nếu không thì sẽ bị xử theo luật giang hồ”.

– Trong trại ỵị nạn của người miền bắc đầy rẫy tội phạm đủ loại.

Trên tờ The Seattle Times xuất bản ngày Chủ Nhật 15 tháng 12-1996, bài “Hong Kong Camp For Viet Refugees Is Land Of Lives In Limbo” viết bởi Kristin Huckshorn thuộc “Knight-Ridder Newspapers” viết rằng, “HONG KONG

– Một trại tỵ nạn được điều hành bởi Liên Hiệp Quốc và đông kẻ nghiện hút, tội phạm, kết hôn giả (mail-order brides) và các trẻ em bị bỏ mặc (neglected children) đã trở thành một di sản xấu xa (an ugly legacy) của truyện dài (saga) thuyền nhân người Việt … Đó là trại the Pillar Point. Bài báo viết tiếp: “Thực ra, những người tỵ nạn, hầu hết là người miền bắc, đã liên tục bị từ chối cho đi định cư trong 8 năm qua, hầu hết vì án phạt nghiện hút hay tội phạm hình sự từ tội trộm cắp nhỏ cho tới sát nhân. Liên Hiệp Quốc và các quốc gia khác thường ngăn cấm chấp nhận cho đi định cư những thành phần này … Hơn 90 phần trăm những người tỵ nạn đàn ông nghiện hút, hầu hết là những người dùng heroin. Những người khác là thành viên băng đảng và buôn ma túy. Hầu hết những người này được hưởng quy chế tỵ nạn trước giữa năm 1988, khi mà tất cả các thuyền nhân Việt Nam khi tới nơi thì tự động được quy chế tỵ nạn … Thực sự ra trại này (Sek Kong) đầy bạo động và tội phạm. Nhân viên an ninh đi tuần suốt ngày, liên lạc với nhau qua máy bộ đàm cá nhân. Cảnh sát Hồng Kông thỉnh thoảng bố ráp các căn nhà với lệnh toà để tìm ma túy.

– Trại miền nam cũng có du đãng, nhưng du đãng miền nam khác đầu gấu miền bắc rõ ràng nhất ở điểm họ không được gia đình, bà con hay lối xóm hỗ trợ, vì vậy họ ít hơn, yếu hơn, bị tách rời khỏi cộng đồng và không có khả năng cai trị cộng đồng, do đó không gây được tội phạm tập thể như đầu gấu miền bắc. Trong bản tin của tờ The Washington Post ngày 30 /12/1989 trích dẫn ở trên, “… cảnh sát đã bắn hơi cay sau khi thuyền nhân Việt nam nổi lửa đốt các chăn mền và ném đá để ngăn cản không cho lục soát các vũ khí tự chế”. Nội dung này cho thấy gia đình và cộng đồng miền bắc đã hỗ trợ, và bảo vệ các đầu gấu qua hành động phi pháp là ngăn cản cảnh sát trong công tác truy lùng vũ khí để phòng ngừa tội phạm. Tình trạng này không thể có được ở cộng đồng thuyền nhân miền nam.

– Điểm khác biệt nữa giữa hai cộng đồng là trong cộng đồng người miền nam có một tập thể tương đối trí thức, so với các thành phần khác, được cộng đồng tương đối kính trọng, chấp nhận vai trò hướng dẫn cộng đồng, đó là tập thể các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Dưới sự lãnh đạo của thành phần này thì du đãng không thể tự tung tự tác như các đầu gấu trong trại miền bắc.

– Và một điểm khác biệt quan trọng là người miền nam tương đối quen sống với tinh thần thượng tôn luật pháp hơn. Luật pháp xã hội chủ nghĩahoàn toàn khác với luật pháp phương tây đã được áp dụng tại miền nam cho nên người miền bắc không có tinh thần thượng tôn luật pháp. Người miền bắc hành động theo cảm tính nhiều hơn, điều gì thấy có lợi cho bản thân là họ làm, bất kể cái hại cho cộng đồng.

Tình trạng tội phạm ở trại của người miền nam.

Bạo động, tội phạm v…v. là một hiện tượng xã hội ở mọi nơi, mọi thời, mọi sắc tộc. Nhưng tuỳ từng nền văn hoá mà hiện tượng đó có hình thái và mức độ khác nhau. Trại miền nam cũng có du đãng (miền bắc gọi là đầu gấu), nhưng hoạt động của du đãng miền nam có mức độ hạn hẹp hơn đầu gấu miền bắc rất nhiều.

Vụ hành hung người lớn nhất ở trại miền nam mà tôi biết là vụ xảy ra ở trại Tai A Châu một cựu đại úy hiệu trưởng trường trung học của trại bị du đãng đánh trọng thương và sau đó được đưa đi trại khác để bảo vệ an ninh.

Cũng có vụ xung đột giữa thanh niên người Việt gốc Hoa và thanh niên miền nam, và một vụ xung đột với cảnh sát bị cảnh sát bắn lựu đạn cay khoảng 15 phút. Tất cả tình trạng bạo động trong trại miền nam chỉ ở mức độ như vậy chứ không lan rộng sang bạo động tập thể, kéo dài hay không có trấn lột, cướp bóc, hãm hiếp và nhất là không có giết người.

Tham gia giải quyết những bạo động nhỏ và có tính cách cá nhân như thế để ngăn ngừa các bạo động tập thể trầm trọng có sự đóng góp của những người thuộc thành phần thuyền nhân lãnh đạo trại, trong đó cũng có khi có sự đóng góp của tác giả bài viết này.

Xin kể sơ hai ví dụ. Trước khi gia đình tôi được chuyển trở lại trại Tai A Châu sau khi trại này được xây cất xong, một số thanh niên miền nam và thanh niên Việt gốc Hoa ra ở trước đã xung đột với nhau khiến một tu sĩ trẻ phật giáo người miền nam bị gẫy tay. Khi gia đình tôi được chuyển ra đó, thì ngay buổi tối, một nhóm thanh niên miền trung (miền nam) khoảng 20 người, người lớn nhất khoảng trên 30 tuổi (nay tôi quên tên rồi), mời tôi sang khu họ ở là Khu D, trên tầng 3 của một trong các dẫy nhà ghép bằng sắt. Họ trình bày tình hình trong thời gian trước khi tôi tới và nói rằng “Chúng em có nghe anh sẽ qua nên chúng em chờ anh đây!” Người thanh niên ngoài 30 tuổi trưởng toán nói thêm, vũ khí chúng em đã chuẩn bị sẵn rồi. Họ muốn tôi đồng ý và lãnh đạo (?) một trận “quyết đấu” với thanh niên Việt gốc Hoa.

Tôi hơi ngạc nhiên tại sao họ lại trông chờ tôi để quyết định một chuyện thế này. Tôi chưa bao giờ chỉ huy bạo động trong trại. Tôi cũng chưa bao giờ xúi ai hay nhóm nào bạo động. Nhưng lực lượng của nhóm thanh niên miền trung này tôi biết hết nên không có gì phải lo ngại. Tôi phải giải thích với nhóm thanh niên là “chúng mình là người miền nam đi tị nạn chính trị. Nếu chúng mình đâm chém nhau thì đều mang hình ảnh xấu hết và sẽ không ai cho mình đi tỵ nạn chính trị nữa. Mọi chuyện đối với thanh niên Việt gốc Hoa anh em hãy để tôi xử trí. Chuyện xích mích giữa hai bên phải chấm dứt”. Sau đó tôi gặp mấy thanh niên có uy tín của người Việt gốc Hoa bảo họ ngăn chặn không cho thanh niên Việt gốc Hoa chặn đường đánh thanh niên miền nam là xong. Trường hợp tương tự nếu xảy ra trong trại miền bắc thì chắc chắn sẽ có quyết đấu một mất một còn ngay.

Khi hoạt động cộng đồng, có những lúc vì cộng đồng mình phải kìm hãm tự ái cá nhân để nhịn nhục, tạo dĩ hoà vi quý. Trong trại có chương trình giáo dục phổ thông và cơ sở trường học khang trang từ lớp 1 tới lớp 12 do thuyền nhân điều hành, Liên Hiệp Quốc tài trợ. Liên Hiệp Quốc cũng tài trợ một chương trình dậy tiếng Anh cho người lớn.

Tôi và anh bạn trung úy Nguyễn Cửu Hùng, hiện ở Nam Cali là hai người xây dựng nên chương trình với sự yểm trợ và chỉ đạo của một ủy viên giáo dục người Mỹ tên là Paul thuộc cơ quan tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Chương trình có tới 700 học viên và gần 15 giáo viên thuyền nhân do hai chúng tôi tuyển chọn. Lúc lập chương trình thì không ai biết cách lập, nhưng khi chương trình chạy xuông sẻ thì lập tức có kẻ tới tranh dành. Chuyện thường tình ở mọi nơi, mọi thời. Một hôm tôi, anh Hùng và ông Paul đang họp thì một người tỵ nạn Việt gốc Hoa, nghe nói trước kia là cựu thông dịch viên của lực lượng đặc biệt Mỹ tự động tới ngồi cùng bàn. Lại nghe nói anh ta giỏi võ nữa chứ.

Trong trại thì ai cũng biết nhau nên chuyện đó không có gì là lạ. Trong lúc chúng tôi vừa dừng bàn thảo thì anh bạn thông dịch viên gốc Hoa này xin phát biểu ý kiến. Anh ta nói rằng, “Chúng tôi là người Việt gốc Hoa, ở trong trại cũng đông, chúng tôi không muốn chịu sự chỉ huy của người Việt trong chương trình này”. Nghe vậy, ba người chúng tôi chưng hửng. Ông “xếp” Paul của chúng tôi mặt hơi xanh nhìn anh thông dịch viên như không hiểu anh ta nói gì. Anh trung úy Hùng bạn tôi, nhị đẳng thái cực đạo, cũng ngạc nhiên nhìn anh bạn người Hoa sững sờ luôn. Riêng tôi, sau khoảng 15 giây ngạc nhiên, tôi ôm chầm lấy vai anh người Hoa và bảo với “xếp” Paul, “Anh này là bạn thân của tôi. Anh ta giỏi lắm. Tôi nghĩ ông nên trao chương trình này cho anh ta”. Đến lượt Paul lại không hiểu tôi muốn nói gì. Nhưng 5 giây sau có lẽ Paul hiểu nên bảo anh ta là ông ấy sẽ mời anh ta gặp ông ấy tại văn phòng vào tuần tới. Mọi chuyện vui vẻ. Anh người Hoa ra về.

Cuộc họp kết thúc. Hơn tuần sau gặp lại anh người Hoa, tôi hỏi anh ấy đã gặp ông Paul chưa thì anh ấy cho biết không hiểu sao chưa thấy ông Paul gọi. Tôi nghĩ thầm, “Paul là tôi đây này chứ Paul nào! Chẳng bao giờ anh được gọi đâu!”.Hôm họp, sau khi anh người Hoa đi, Paul hỏi tôi sẽ đối xử với anh ta ra sao thì tôi nói gọn, “Ông hãy quên anh ta đi! Anh ta sẽ chẳng bao giờ dám lên văn phòng đòi gặp ông để yêu sách nữa đâu”. Nếu tình huống này xảy ra tại trại miền bắc thì diễn biến và kết thúc sẽ hoàn toàn khác, không êm thắm như thế này.

Tại Hồng Kông còn có một trại mở là trại Pillar Point. Trại này chứa những thuyền nhân tới trước tháng 6/1988 là thời gian thuyền nhân Việt Nam đương nhiên được tư cách tỵ nạn. Sau thời gian này tất cả những thuyền nhân tới Hồng Kông đều bị nhốt vào trại cấm (closed camps) để chờ thủ tục thanh lọc xác định tư cách tỵ nạn tùy từng trường hợp.

Ngoài một số thuyền nhân mới được thanh lọc chấp nhận qui chế tỵ nạn đang chờ đi nước thứ ba, đại đa số thuyền nhân trong trại này là người miền bắc đã tới Hồng Kông từ trước tháng 6/1988 nhưng vẫn chưa được nước nào nhận vì là thành phần có án tù. Là một trại mở (open camp), các thuyền nhân trong trại Pillar Point được tự do ra vào. Trong trại này hầu hết là thành phần nghiện hút và tội phạm. Tôi đã một lần vào đó tìm người quen giữa ban trưa mà nhìn những thuyền nhân miền bắc trong đó cũng cảm thấy rờn rợn, không biết mình có thể bị trấn lột lúc nào. Sau đó tôi không dám bén mảng vào trong trại đó nữa.

Tình hình an ninh trong trại này được mô tả theo bản tin của AFP ngày 14/6/1999, (Riot at Vietnamese refugee camp in Hong Kong; 17 injured- http://www.catholic.org.tw/) như sau: “Bạo động trong một trại tỵ nạn người Việt tại Hồng Kông; 17 người bị thương”. Theo bản tin, cảnh sát Hồng Kông đã dùng lựu đạn cay để dẹp một cuộc bạo động trong một trại tị nạn khiến ít nhất 17 người bị thương. Khoảng 200 thuyền nhân Việt Nam đang tìm sự bảo vệ tại một đồn cảnh sát gần trại tị nạn Pillar Point cho hay họ sợ bị các thuyền nhân khác tấn công. Cảnh sát trang bị chống bạo động đã chiến đấu trong hơn một tiếng đồng hồ để dập tắt một cuộc đánh nhau giữa hàng trăm người tỵ nạn trong trại vào ngày hôm trước, Chủ Nhật 13/6/99. Cảnh sát cho hay có bốn thuyền nhận bị bắt và 17 vũ khí tự chế bị tịch thu. 11 trong 17 người bị thương được cho nhập bệnh viện trong đó có một em bé 9 tháng tuổi. Các người trong trại cho hay trại Pillar Point đã bị các nhóm băng đảng chiếm giữ. Đó là thành phần tạo ra những rối loạn. Một thuyền nhân cho biết các người trong trại bị buộc phải nạp cho các thuyền nhân đã ở trước tới 300 đô la Hông Kông, tương đương 39 đô la Mỹ để trả tiền bảo vệ.

Báo chí cũng cho hay các thuyền nhân trong trại đổ lỗi cho những phần tử nghiện hút trong trại tạo ra những bất an. Họ nói rằng các nhóm băng đảng kiểm soát đĩ điếm, cờ bạc và nghiện hút. Đồng thời từ lâu vẫn có sự thù địch giữa các thuyền nhân miền nam và miền bắc trong trại.” Bản tin không nói ai là thuyền nhân miền bắc, ai là thuyền nhân miền nam, nhưng những ai đã ở tại Hồng Kông thì đều biết nạn nhân là các thuyền nhân miền nam hay Việt gốc Hoa miền nam, còn thủ phạm là các thuyền nhân miền bắc. Chính đầu gấu miền bắc đã thu 39 đô la Mỹ tiền bảo vệ như trong bản tin.Tại một trại chuyển tiếp khác dành để tạm thời chứa những thuyền nhân đã được cấp quy chế tỵ nạn chờ được đưa đi Phi luật tân để được các quốc gia đệ tam phỏng vấn tuyển chọn, những người miền bắc cũng trấn lột những thuyền nhân miền nam. Những người ở trại này chỉ ở tạm thời 2 tuần lễ thôi cho nên người miền nam họ nín thở qua sông để chờ ngày ra đi, không dám phản ứng gì. Thậm chí không dám kể với ai. Khi tôi hỏi thăm thì mới vỡ lẽ ra là 100 phần trăm đều bị người miền bắc trấn lột.

Không những trấn lột người tỵ nạn miền nam, người miền bắc còn ra Hồng Kông ăn cắp của người Hồng Kông, thường là của các siêu thị. Một hôm một cô gái trẻ đẹp miền bắc hỏi vợ chồng tôi, “Cô chú không đi chợ à?”. Chúng tôi thành thật trả lời là không có tiền thì cô ta giọng thản nhiên, “Đi chợ đâu cần tiền cô chú!”. Tôi ngạc nhiên giả bộ muốn đi, hỏi tiếp, thế đi chợ làm sao. Cô ta thản nhiên cho biết, “Đi ăn cắp trong các siêu thị đó mà chú!”. Cô ta còn hướng dẫn, đi thành một toán 3 , 4 người. Vào siêu thị giả bộ hỏi mua đồ lung tung. Tốt nhất là hỏi xem các tấm vải để bọn nó (người bán) phải giăng rộng tấm vải ra, như thế tấm vải sẽ che mắt nó (người Hồng Kông). Những đứa khác tha hồ mà ăn cắp.

Sau đó, mỗi khi gia đình chúng tôi đi siêu thị, tôi thấy nhân viên siêu thị đi theo bén gót. Tôi thấy nhục nhưng thông cảm với họ. Là người Việt ở Hồng Kông mình bị nhục vì hành vi ăn cắp, quậy phá của những người miền bắc trong suốt gần hai chục năm trời (tính theo thời điểm cuối năm 1992 là năm gia đình tôi được cấp quy chế tỵ nạn và ra ở trại chuyển tiếp ở Hồng Kông) kể từ khi người miền bắc ăn theo người người miền nam đặt chân “tỵ nạn” tới Hồng Kông.

Không phải khi đã tới nơi an toàn là Hồng Kông người miền bắc mới quậy phá. Trên đường vượt biên, một lần tôi dừng thuyền tại một thị xã nhỏ của Trung Quốc. Năm 1989, Trung Quốc còn nghèo lắm. Nhiều nơi còn nghèo hơn Việt Nam cộng sản nữa. Lên bờ đi vào thị xã, tôi thấy một toán thuyền nhân miền bắc hơn một chục nam, nữ, lớn bé. Có cả mấy tay thanh niên mặc quần đùi, cởi trần một cách rất là “mất dạy”, xâm trổ khắp thân mình, lang thang trong phố xá của người ta. Trong khi mình là người đang đi tỵ nạn, cần được người ta thương và giúp đỡ. Trông thấy trong một quán tạp hóa nhỏ có toán thuyền nhân người Việt nên chúng tôi cũng bước vào. Quán thì nhỏ, hàng thì ít, họ tới trước nên chúng tôi đứng chờ họ mua. Tôi thấy họ mở hết lọ này tới lọ kia hỏi chủ quán lung tung. Rồi tôi thấy bà chủ quán tiếp họ mà mặt không vui, cứ nhìn tôi lắc đầu hoài. Tới khi toán người miền bắc đi ra, không mua gì, tôi thấy bà chủ quán tiếp toán của tôi rất bình thường. Bà ấy không nói được tiếng Anh, và chúng tôi thì không nói được tiếng Tầu nhiều. Nhưng nhìn cử chỉ tôi biết là bà chủ quán như cảm thấy vừa thoát nạn khi toán người miền bắc ấy đi ra.

Người miền bắc đi vượt biên quá dễ dàng. Nếu bị bắt họ không bị tù vì tội vượt biên như người miền nam. Đường đi lại ngắn, không nguy hiểm. Nhiều khi họ lấy nguyên chiếc tầu sắt của nhà nước để chở cả trăm người trong một chuyến đi với đầy đủ thức ăn nước uống. Họ đi một cách rất an toàn. Nhiều người miền bắc kể với tôi, “Đi vượt biên mà xếp hàng như đi hành quân ấy”. Vì thế họ đến Hồng Kông rất đông. Theo trang web “Vietnamese people in Hong Kong – Wikipedia, the free encyclopedia” cao điểm vào năm 1989 có tới khỏang 300 người đổ tới Hồng Kông một ngày. Bởi vì họ đi quá dễ dàng nên tại những trại tị nạn ở Hồng Kông họ chiếm đa số. Vì thế trong suốt những năm dài có trại tị nạn ở Hồng Kông, với số đông áp đảo, tính tình hung hãn và dường như kết quả của nền giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa (?), người miền bắc luôn luôn làm chủ tình hình, bắt nạt, cướp bóc, trấn lột người miền nam và người Việt gốc Hoa. Đối với nội bộ địa phương với nhau thì họ cũng chia rẽ, chém giết nhau để tranh dành quyền lực. Và phe nào thắng thế trong trại cũng đều “cai trị” rất là độc đoán, áp dụng luật mafia chứ không áp dụng luật bình thường văn minh của Hồng Kông. Một lần tôi hỏi một chú em người miền bắc, được người nhà bảo lãnh đi Mỹ, “Anh thấy em hiền như thế này lúc ở trong trại thì gia đình em sống làm sao?”. Chú ấy hiền lành trả lời, “Trong trại thì em cũng phải “gấu” chứ, nếu không thì chúng nó bắt nạt chết!”

Nhưng cũng có một lần người miền nam quá uất ức phản công. Đó là lần duy nhất người miền nam thắng thế nhưng đó lại là lần gây tử vong nhiều nhất trong lịch sử tỵ nạn Hồng Kông khiến dư luận Hồng Kông cũng như những người ngoại quốc thiện nguyện làm việc trong các trại tỵ nạn bàng hoàng và ghê sợ người Việt nam nói chung. Nội vụ được mô tả trong bản tin “18 người Việt thiệt mạng vì bạo động trong trại tỵ nạn” (18 Vietnamese Die in Violence at Refugee Camp-By BARBARA BASLER,-Published: Tuesday, February 4, 1992) Theo bản tin của Barbara Basler, ngày Thứ Ba, mùng 4/2/1992, nhà chức trách cho hay, mười tám thuyền nhân Việt Nam đã thiệt mạng và 128 thuyền nhân khác bị thương trong một trại tỵ nạn ở Hồng Kông vào tối thứ Hai khi các phần tử bạo động đã nổi lửa đốt một căn nhà lớn (Hut) trong một cuộc đụng độ bắt đầu từ việc tranh nhau nước nóng.

Bộ trưởng an ninh Alistair Asprey cho hay, hoả hoạn đã được gây ra bởi những người Việt nam nhét những tấm mền đang cháy qua các cửa sổ vào trong một căn nhà. Đây là cuộc tấn công cố tình nhắm vào một nhóm người trong căn nhà đó.

Nhà chức trách cho hay các người thiệt mạng trong đó có ít nhất một em nhỏ, là những thuyền nhân đã tự nguyện hồi hương và đang chờ thủ tục. Nội vụ là một thương vong lớn nhất từ trước tới nay tại trại tỵ nạn Hồng Kông, khởi đầu lúc 11 giờ trưa tại một khu vực nằm cạnh khu vực các người tự nguyện hồi hương tại trại Sek Kong. Nhà chức trách cho hay 17 trong các nạn nhân bị đốt chết cháy và một người khác bị chết sau đó tại bệnh viện. Trong số 55 người được điều trị tại bệnh viện, 7 người ở tình trạng trầm trọng. Nhà chức trách tin rằng số tử vong sẽ còn thêm. Nhà chức trách nói rằng nhiều trăm thuyền nhân tham gia trong cuộc đánh nhau giữa các băng đảng miền bắc và miền nam. Họ đánh nhau bằng các vũ khí dao kiếm tự chế. Những người thiệt mạng là người miền bắc. Ông Asprey nói rằng cuộc tranh cãi về nước nóng trong lúc xếp hàng chờ được xử dụng đã được cảnh sát ngăn chặn nhưng lại bộc phát sau đó vào buổi tối. Khi cảnh sát cố ngăn chặn vụ đánh nhau thì hàng trăm người Việt Nam từ khu vực kế cận phá hàng rào ngăn cách tham gia ẩu đả khiến cảnh sát phải rút ra ngoài và gọi tăng viện.

Sau đó có khoảng 400 cảnh sát được gọi tới giúp chấm dứt bạo động bằng cách bắn 33 quả lựu đạn cay vào trại. Lính cứu hỏa phải mất tới 90 phút mới dập tắt được ngọn lửa. Thống đốc Hồng Kông ông David Wilson, và các viên chức an ninh hàng đầu đã tới trại bằng trực thăng vào sáng hôm sau … Thống đốc đã ra lệnh tách rời số thuyền nhân hai miền nam, bắc Việt nam này ra hai địa điểm khác nhau. Có khoảng 2000 (hai ngàn) thuyền nhân miền bắc sẽ được di chuyển sang trại khác. Hầu hết các thuyền nhân ở Hồng Kông tới từ miền bắc Việt Nam.”

Ỷ số đông, người miền bắc hiếp đáp người miền nam như thường lệ. Nhưng lần này những người bị hiếp đáp đã phản công. Những người miền trung (nam) ở trong khu vòng rào đã xô ngã hàng rào để tràn sang khu người miền bắc. Họ bao vây bên ngoài căn nhà chứa khoảng 200 người (căn nhà nào cũng chứa số người như thế), đồng thời họ lấy mền (rất nhiều, do trại phát) tẩm dầu (trong trại có dầu hôi để nấu ăn), tung vào căn nhà để đốt. Những ai từ trong nhà chạy ra đều bị họ đánh, chém hung bạo. Kết quả tử vong như bản tin đã loan. Thống đốc Hồng Kông đã chỉ thị tách rời 2,000 thuyền nhân miền bắc đi chỗ khác chính là để tránh một sự trả thù của người miền bắc.

Hôm sau, nhân viên ngoại quốc làm thiện nguyện trong trại kể chuyện đó với chúng tôi và họ kết luận, lâu nay họ tưởng người miền nam hiền và tốt, nhưng chuyện đó cho thấy người miền nam cũng như người miền bắc. Chúng tôi nghe mà không nói nổi một lời! Vợ một người bạn gốc miền trung, nên theo dõi chi tiết nội vụ, sau đó cho tôi hay trong nội vụ những người miền trung cũng tàn nhẫn quá. Số người chết và bị thương đa số là đàn bà con nít, không chạy ra được. Còn những tên đầu gấu thực sự thì hầu như chạy thoát được cả. Chị này cũng cho biết tiếp, trong thời gian sau đó, hàng ngày được chở ra bệnh viện Hồng Kông khám bệnh, những người miền trung không dám lên tiếng sợ bị nhận giọng là người miền trung sẽ bị đầu gấu miền bắc trả thù.

Vào cuối chương trình tỵ nạn, 1992, Hồng Kông chỉ chấp nhận cho những thuyền nhân được công nhận tỵ nạn tạm trú trong 2 tuần lễ để làm thủ tục đi nước thứ ba thôi. Thời gian đó chỉ đủ để cao uỷ tỵ nạn chuyển số thuyền nhân đó sang trại Bataan ở Phi luật tân trong ít nhất là 6 tháng để họ học cách sống để hội nhập vào các quốc gia phương tây, đồng thời xin quốc gia thứ ba phỏng vấn để thu nhận họ.

Tại trại Bataan lúc đó có 12 vùng, trong đó chỉ có 1 vùng là có người tỵ nạn miền bắc. Mặc dù số lượng ít ỏi như vậy nhưng họ rất đoàn kết chặt chẽ cho nên họ áp đảo được du đãng miền nam. Một lần cảnh sát Phi luật tân trong trại cùng với ông đại diện cao ủy tỵ nạn đi lùng khắp trại để tìm một người bị bắt cóc. Suốt một ngày trời tìm đôn tìm đáo, tới mãi xế chiều nhà chức trách mới giải cứu được thanh niên bị bắt cóc khỏi một căn nhà ở ngay gần văn phòng trại. Thanh niên này là một du đãng miền nam. Tối hôm trước cậu ta trấn lột chiếc đồng hồ của một thanh niên miền bắc. Thế là hôm sau đầu gấu miền bắc tập trung kéo tới tận nơi cư trú của cậu du đãng miền nam này bắt trói thúc ké, cho khoác bên ngoài một cái áo măng tô rồi hai bên có hai đầu gấu cặp cổ đi kèm cứ như là ba người bạn thân đi ngoài đường. Cuộc bắt cóc như thế vượt qua được các trạm kiểm soát từ vùng nọ sang vùng kia để rồi đem nhốt đối thủ vào trong nhà đánh cho một trận nhừ tử tới chiều mới thả. Nếu ở ngoài đời thì cậu du đãng miền nam này có thể đã bị thủ tiêu rồi.

Phương cách hoạt động của đầu gấu miền bắc cho thấy họ được gia đình hỗ trợ (bởi thế họ đông hơn), đoàn kết hơn, hành động tập thể hơn và liều mạng hơn. Gia đình miền nam không hỗ trợ khi con em họ trở thành du đãng nên số lượng du đãng miền nam không nhiều bằng miền bắc nếu hai bên có số dân cư tương tự. Hôm sau viên sĩ quan cảnh sát trưởng vùng tôi ở gặp tôi cho biết tin về vụ bắt cóc hôm trước và nói với tôi rằng, “Ông biết bắt cóc ở Phi luật tân là một tội nặng lắm. Đã vậy bọn chúng lại cả gan nhốt kẻ bị bắt cóc ở ngay gần trụ sở cảnh sát chúng tôi. Tôi thắc mắc là không biết mạng lưới của bọn chúng sâu rộng cỡ nào và bọn chúng muốn thách thức cảnh sát chúng tôi hay sao?” Tôi nói với vị cảnh sát đó rằng đó là vụ thanh toán nhau giữa hai băng ăn cướp thôi, chứ chúng không định thách thức các ông đâu. Và bọn chúng cũng không nhiều đâu. Sau đó khi ông ta hỏi tôi về phương cách đối phó, tôi đề nghị để mặc kệ cho hai nhóm thanh toán nhau, không điều tra vụ bắt cóc. Như vậy là dẹp yên được một phe. Sau đó gọi bên thắng tới nói cho biết “danh sách và mọi hoạt động đã bị cảnh sát ghi nhận rồi. Nếu muốn yên thì không được quậy phá. Nếu quậy phá thì sẽ bị bắt hết”. Giải pháp đó mang lại yên bình cho trại tỵ nạn Bataan trong thời gian 6 tháng gia đình tôi ở trại đó, trước khi đi Mỹ.

Hầu hết các thuyền nhân miền bắc không được vào Mỹ.Theo chính sách tiếp nhận những người được quy chế tỵ nạn, tất cả những ai có thân nhân bảo lãnh đều phải được phỏng vấn trước tiên bởi quốc gia của người thân nhân nạp đơn xin bảo lãnh. Ví dụ tôi có mẹ ở Pháp đã nạp đơn bảo lãnh thì sau khi đậu thanh lọc, tôi phải được phỏng vấn trước tiên bởi nước Pháp. Và khi nước Pháp nhận thì tôi phải đi Pháp chứ không có quyền chọn lựa nước khác.

Nguyên tắc thứ nhì là tất cả những cựu quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa sau khi đậu thanh lọc đều phải được Mỹ phỏng vấn trước tiên. Khi nào Mỹ từ chối thì mới được đi phỏng vấn với các nước khác.

Nguyên tắc kế tiếp là tất cả những thuyền nhân miền bắc đều không được Mỹ nhận cho phỏng vấn, tức là Mỹ từ chối không nhận người miền bắc (dĩ nhiên trừ một số ít có thân nhân ruột thịt như cha mẹ anh chị em tại Mỹ bảo lãnh).

Đó là lý do các thuyền nhân miền bắc quy tụ đông đảo tại các nước Canada, Úc và Anh. Đặc biệt lúc đó Hồng Kông còn là thuộc địa của Anh cho nên tất cả những thuyền nhân miền bắc phạm tội tại Hồng Kông nếu bị các quốc gia khác từ chối thì Anh quốc phải nhận hết trước khi trao trả Hồng Kông lại cho Trung Quốc. Đó là lý do Anh quốc nhận nhiều thuyền nhân miền bắc có tiền sử tội phạm nhất.

Cách sống, tức là văn hóa, khó có thể thay đổi. Một cộng đồng dân chúng khi di cư (immigrate) mang theo họ tất cả nền văn hóa mà từ đó họ trưởng thành. Người miền bắc trưởng thành trong nền văn hóa xã hội chủ nghĩa khi di cư sang các quốc gia đông âu, qua diện lao động hay du sinh, hoặc tới Hồng Kông dưới dạng thuyền nhân, lẽ dĩ nhiên mang theo họ tất cả tính chất giả trá, lừa lọc, tham lam, bạo động, và tàn bạo của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Rồi từ các “căn cứ địa” đó, họ du nhập nền “văn hóa đầu gấu” tới các quốc gia thâu nhận họ như Tây Đức, Anh, Pháp, Canada và Úc. Mới đây trong thượng tuần tháng 1/2010, một bản tin của đài BBC cho biết một chiếc xe hơi đã mang bỏ bên đường xác chết của một thanh niên khiến cảnh sát Anh phải yêu cầu ai biết danh tánh của thanh niên nạn nhân hãy cung cấp cho cảnh sát. Bản tin này làm người ta nhớ lại một tin trong bài “Nam Bắc Phân Tranh sau 1975 bài số # 3” trong đó một nạn nhân thiệt mạng trong một cuộc giao tranh giữa hai nhóm đầu gấu miền bắc trong trại tị nạn khiến cảnh sát Hồng Kông cũng phải yêu cầu ai biết danh tánh nạn nhân thì cung cấp cho cảnh sát. Nhưng cũng như bản tin ở Anh Quốc, không ai dám làm điều đó. Vì quy luật chung của đầu gấu là “im lặng tuyệt đối.” Ai vi phạm sẽ bị xử theo luật giang hồ.

Ngay khi còn ở trại tỵ nạn, với nguyên tắc nhận người tỵ nạn như thế, tôi đã thấy trước là ba nước nhận nhiều thuyền nhân miền bắc nhất là Canada, Úc và Anh, nhất là Anh quốc, sẽ gặp rất nhiều khó khăn về mặt tội phạm.

Canada và Mỹ gần nhau, những thuyền nhân từng ở cùng trại với nhau nay phải chia đôi Mỹ và Canada thường hay giữ liên lạc với nhau. Khoảng một năm sau khi tới Mỹ, tạm ổn định cuộc sống, tôi tìm cách bắt liên lạc với cô học trò tiếng Anh của tôi hồi ở trong trại, khi hỏi về cuộc sống thì đã được cô nói tiếng lóng cho biết là đi làm công hái cần sa rồi. Những năm sau đó theo dõi báo chí, thấy đã có mấy vụ người Việt tại Úc bị bắt vì chuyển lậu cần sa về Việt Nam. Tin tức về người Việt tại Anh quốc cũng có mức độ tội phạm tương tự.

Tại mấy nước cựu cộng sản đông Âu và Nga, những năm trước không có nạn trồng và bán cần sa nhưng có nạn buôn lậu, đặc biệt tại đông Đức là buôn lậu thuốc lá và băng đảng thanh toán nhau vì tranh dành thị trường. Sự thanh toán tàn bạo tới độ có vụ nạn nhân bị bắt cóc mang đi giết rồi chặt nhỏ thi hài ra thủ tiêu. Tất cả tình trạng tội phạm và phương cách phạm tội của người Việt tại Canada, Úc, Anh và các nước đông Âu qua tin tức báo chí làm tôi nhớ lại “văn hóa đầu gấu” của người miền bắc trong trại tị nạn Hồng Kông. Nền văn hóa đầu gấu của miền bắc có năm biểu hiện: Kiếm tiền bất hợp pháp bằng mọi giá, cướp bóc, thanh toán nhau, tàn bạo và chế ngự cộng đồng bằng luật giang hồ (tranh dành quyền lực). Năm biểu hiện này dường như quyện chặt lấy nhau từ trong nước ra tới hải ngoại.

Sự khác biệt văn hóa bắc nam thể hiện rõ nét qua hiện tượng ở hải ngoại, người miền bắc đi vào con đường kiếm ăn bất hợp pháp một cách tập thể, một điều không thấy trong cộng đồng người miền nam. Dĩ nhiên tội phạm thì ở đâu cũng có nhưng tội phạm tập thể, rủ nhau kéo đàn kéo lũ từ trong nước ra để làm ăn phi pháp thì chỉ có cộng đồng người miền bắc. Người miền nam vượt biên ra hải ngoại, nói chung là đông hơn người miền bắc nhiều, nhưng họ đi làm để nuôi con cái ăn học, và bản thân họ đa số cũng cắp sách trở lại trường học, cho dù khi đặt chân được tới nước ngoài, đa số tuổi khá cao, nhất là so với các thuyền nhân miền bắc.

Cho nên người miền nam ở hải ngoại đông hơn người miền bắc nhiều lần nhưng tỉ lệ phạm pháp lại thấp hơn rất nhiều lần, không gây một tai tiếng nào tại quốc gia họ định cư. Cái đặc tính ham học và làm ăn đàng hoàng có văn hóa đó đã mang lại sự kính trọng của người bản xứ. Con cái thành phần miền nam đã tạo được nhiều thành quả về học vấn và công tác, kể cả đạt được những chức vụ cao trong chính phủ nước người như là ông Đinh Việt cựu thứ trưởng bộ Tư Pháp Liên Bang Hoa Kỳ, Luật sư Lưu Tường Quang cựu Tổng Giám Đốc Đài Phát Thanh Quốc Gia Úc Châu (SBS), ông Vũ Khanh Thanh, nghị viên tại Anh Quốc (Councillor for the London Borough of Hackney ) và còn nhiều viên chức cao cấp khác nữa.

Tóm lại người miền nam và con cái họ, chỉ sau thời gian ngắn tới trường học, họ đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội mới và được người bản xứ kính nể. Trong khi con cái người miền bắc ở nước ngoài không tạo được những thành quả gây ấn tượng bằng một phần nhỏ con em miền nam. Một nhà báo nổi tiếng của miền bắc đang tị nạn chính trị tại London, một người bạn thân vong niên với tôi trong trại tù Z30D vì tội chống đảng, một lần điện thoại nói với tôi thế này: “Em biết đấy, đám miền bắc khác người miền nam. Chúng có chăm lo cho con cái đi học đâu. Ở bên này (Anh Quốc) chúng toàn làm những chuyện bất hợp pháp”. Điều buồn cười là nhà văn miền bắc này chính cống là người Hà Nội cho tới sau 1975 và là một trong vài cán bộ được đảng huấn luyện giỏi nhất miền bắc để đảm nhiệm những công tác cần trình độ cao tương đương với giới trí thức phương tây (vì an ninh cho ông ấy tôi xin miễn nêu tên).

Từ trên Những bi can người Việt liên quan đến vụ cần sa khác vẫn chưa thụ án. Người Việt trồng cần sa với quy mô lớn và đa quốc gia trong EU. Một cơ sở trồng cần sa của người Việt tại Pudapest bị cảnh sát Hungari phá hủy (nguồn: Vietinfo.eu)

Tại Canada, trình trạng tội phạm của người Việt gia tăng với tốc độ đáng sợ. Theo trang mạng Sherdog.net, bài “Vietnamese gangs stranglehold over the Canadian marijuana industry” viết rằng 95 phần trăm hoạt động trồng cần sa do cảnh sát khám phá tại Vancouver được điều hành bởi các nhóm người Việt. Bài báo viết tiếp, các nhóm trồng cần sa này là những gia đình, hợp tác với nhau để kiếm tiền… Các nhóm người Việt là những người trồng nhiều cần sa nhất trên toàn quốc …

Việc trồng cần sa có lợi nhuận khổng lồ (tremendous profit)… Người Việt trồng cần sa đã phát triển khắp các vùng Edmonton, Calgary, Saskatoon, Winnipeg, Toronto và Montreal… Một người Canada gốc Việt hoạt động cộng đồng hàng đầu (community leader) nói rằng nhiều người bàn tán về việc các gia đình gốc Việt tham gia trồng cần sa. Ông nói nguyên văn, “Nhiều người trong số họ (người Việt) cảm thấy đó là cách dễ kiếm tiền và vì thế họ đã đi vào nghề đó..” Sự tham gia của các nhóm gia đình người Việt vào việc kinh doanh bất hợp pháp này cũng gia tăng nhiều. Trong năm 1997 số nghi can gốc Việt liên quan tới hoạt động cần sa tăng từ 2% lên tới 36%. Các ghi nhận cho thấy con số người Việt trồng cần sa là đông nhất. Những người Việt từ Âu Châu và Úc châu đang được tuyển mộ để chăm sóc cây cần sa …

Cảnh sát tại Anh quốc cho hay 75 phần trăm cơ sở trồng cần sa bị khám phá do các nhóm băng đảng người Việt điều hành…Tại Anh Quốc cảnh sát đã lục soát từ giữa năm 2005 tới 2006, 802 cơ sở trồng cần sa tại London, trong đó 2/3 cho tới ¾ các cơ sở đó là do các băng nhóm người Việt điều hành … Phương pháp trồng cần sa được dùng tại Canada hiện đang được lặp lại tại Anh quốc. Nhật báo The Vancouver Sun ra ngày Thứ Năm, mùng 10-12-2009 đăng bài “The RCMP’s gangster ‘hit list’: …” công bố ngày thứ Sáu, mùng 10-6-2005 viết rằng Nhóm băng đảng Á châu nổi tiếng nhất tại Vancouver là nhóm “Big Circle Boys-BCB). Bài báo viết tiếp, các nhóm người Việt kiểm soát 85% hoạt động trồng cần sa tại vùng Lower Mainland và hầu hết các thương vụ ma túy tại Vancouver Island, bắc Nanaimo. Thành viên nhóm BCB can dự vào những vụ giết người, cho vay nặng lãi, buôn người, thu hụi chết, cướp bóc và xuất cảng xe hơi ăn cắp sang Á châu. Các nhóm băng đảng người Việt nổi tiếng tàn nhẫn và bạo động bất chợt. Các nhóm tội phạm Á châu khác chìm hơn (more low-key) và không muốn làm cảnh sát chú ý, nhưng sẽ dùng bạo động và giết người như giải pháp cuối cùng để bảo vệ quyền lợi bất hợp pháp của chúng.

Tại Úc châu, cảnh sát cho hay các tay buôn cần sa người Việt đã đi Canada để học hỏi cách trồng loại cây này. Người ta tin rằng chúng sẽ dùng kiến thức học được để trồng và bán cần sa tại Việt Nam.

Tại Anh quốc tình trạng tội phạm của người Việt miền bắc cũng được nêu đích danh. Bài Archive for March 24th ,2009, “A Viet Member of the British Empire” viết rằng, mới đây, người Việt tại Anh quốc đã nổi tiếng trên báo chí truyền thông Anh quốc do các hoạt động tội phạm trồng cần sa và buôn người.

Ngay cả người miền bắc cũng xác nhận tình trạng tội phạm của họ. Trong bài “Người Việt tại Vacsava trồng cần sa” đăng trên mạng Đàn Chim Việt ngày mùng 2 tháng 1-2009, phần góp ý, ông Nguyễn Dũng viết rằng dân Việt Nam tại Anh Quốc, phần nhiều từ Hải Phòng cũng trồng và buôn bán cần sa ma túy. Một người khác tên là Tâm thì viết, thực lòng mà nói những người Việt Nam trồng cần sa ở Anh, Canada và một vài nước khác đã bị bắt hầu hết đều là người miền bắc Việt Nam, cho dù tôi cũng là người miền bắc thì tôi cũng không thể chối cãi điều đó, nhưng xin bà con thông cảm, bởi vì sống trong một chế độ mà nhà cầm quyền chà đạp lên tất cả để giữ độc quyền cai trị, thì người dân họ cũng học theo cái xấu đó để mà tồn tại. Chính vì thế mà họ coi thường luật pháp và thượng tôn đồng tiền.Theo ông Nguyễn Dũng, một di dân gốc bắc ở trên, người dân miền bắc học theo cái xấu của đảng “để tồn tại.” Như vậy nguyên nhân của tình trạng tội phạm của người miền bắc phải là vấn đề văn hóa chứ không phải vấn đề kinh tế. Vả lại nếu nguyên nhân của tội phạm là vấn đề kinh tế thì người di dân gốc miền nam cũng phải có mức độ và hình thức tội phạm tương tự.

Làm giầu nhanh chóng bằng mọi giá, kể cả bất hợp pháp, bạo động, đâm chém là mộng ước lớn hiện nay của cộng đồng người miền bắc hải ngoại. Nghề trồng cần sa đáp ứng mộng ước bất hợp pháp đó của người miền bắc bởi thế họ đang đua nhau tràn sang Anh quốc, bất kể mọi nguy hiểm. Trong bài “ Những bước đổi đời gian nan” của Huỳnh Tâm đăng ngày 28/10/2009 trên trang mạng Đàn Chim Việt tác giả viết “Trước khi chia tay, chúng tôi hỏi lý do vì sao phải đến Anh mà không qua Đức, Bỉ hay Hà Lan. Tất cả đều nói giống nhau: “Chúng tôi đến Anh là vì nơi đó tìm kiếm việc làm dễ hơn, lương cũng cao hơn và sẽ có giấy tờ cư trú hợp pháp, cũng như nơi ăn ở đã có chủ lo hết”. Qua tìm hiểu, công việc lương cao, chủ bao là trồng cỏ hay bán sản phẩm quốc cấm, còn nữ có khả năng phải làm trong ngành buôn hương bán phấn, dịch vụ mới phát triển tại Anh quốc do người Việt làm thầu.”

Đồng thời người miền bắc đang mở một chiến dịch phổ biến trồng cần sa hầu như khắp Âu châu và cả ở Hoa Kỳ. Nhưng riêng tại Hoa kỳ lâu nay cũng có một vài âm mưu phổ biến kỹ nghệ bất hợp pháp này sang thành phố Seattle, Hoa Kỳ, kế cận thành phố Vancouver của Canada. Nhưng chiều hướng này khó thành công vì hai lý do: 1- Tại Hoa Kỳ, tội trồng cần sa bị trừng phạt nặng hơn ở Canada và Anh quốc rất nhiều. 2-Người miền bắc ở Hoa Kỳ rất ít nên họ không tìm được đồng minh như ở các quốc gia khác.

Trồng cần sa là một nghề rất hấp dẫn và một khi đã đâm đầu vào rồi thì khó bỏ, bởi vì nó quá dễ và quá có lời. Kiếm vài triệu dễ như chơi. So với một kỹ sư tại Mỹ, trung bình lương 50 ngàn đô một năm. Một đời làm việc trung bình 30 năm mới kiếm được 1 triệu rưỡi. Trừ thuế 30 phần trăm thì còn lại hơn 1 triệu. Sau khi trừ chi phí đời sống thì cuối đời còn được bao nhiêu. Nhưng đi vào trồng cần sa thì tất cả mọi người đều trở thành triệu phú trong chớp mắt. Người quen của tôi từ Việt Nam kể chuyện rằng có người trong nước mới đi xuất cảnh lao động không biết làm gì mà gửi tiền về nhà nhiều quá. Thân nhân của họ ở Việt Nam mua căn nhà bốn, năm tỉ dễ dàng như lấy tiền trong túi. Tôi bảo rằng những người xuất cảnh lao động mà nhiều tiền như thế thì chỉ có nước trồng cần sa, buôn ma túy thôi chứ làm gì có nước nào kiếm tiền dễ như thế.

Một lần sang Canada thăm một cặp vợ chồng quen trong trại tị nạn. Thấy họ sống sung túc trong một ngôi nhà khang trang mua bằng tiền mặt và đã trả hết nợ, có nghĩa là không vay ngân hàng, tôi hết sức ngạc nhiên và cũng đoán thầm nghề nghiệp của họ. Ở chơi được nửa ngày họ mới thật tình thổ lộ hết công việc. Hiện nay thì chị vợ mở tiệm nails chủ yếu chỉ để tạo bề mặt rửa tiền. Anh chồng không phải làm gì cả. Họ thú thật đã có bạc triệu. Mấy triệu thì tôi không biết và không tiện hỏi chi tiết nhưng chính miệng anh ta nói ra là “triệu”. Anh ta cho biết bây giờ đã giải nghệ. Tôi không tin, cười hỏi, “Giải nghệ thật không?”. Anh ta thú thật rằng, giải nghệ là bản thân anh ta không còn trực tiếp trồng thôi, chứ căn nhà cơ sở của anh ta vẫn còn và anh ta kêu người chăm nom rồi chia lời. Vài ba tháng anh ta tới thu vài chục ngàn đô tiền chia lợi tức.

Một năm không phải làm gì cả mà thu lợi tức bốn chuyến như thế thì cuộc sống khoẻ quá. Lợi tức hơn một bác sĩ làm việc cật lực. Anh ta bảo tôi nếu muốn thì mua một căn nhà ở Canada rồi anh ta sẽ kêu người lo giúp cho. Lúc đó tôi không phải làm gì cả mà cứ vài tháng đi du lịch sang Canada thu vài chục ngàn đô. Anh ta trình bày tiếp, trong làm ăn mọi việc tự nó sẽ hình thành một hệ thống kín từ A tới Z. Mình không phải bận tâm. Mỗi khâu đều có dịch vụ. Từ người Realtor chuyên mua nhà tới anh constructor sửa nhà để thành cơ sở trồng cần sa, tới luật sư lo về pháp lý khẩn cấp mỗi khi bị cảnh sát khám phá, đã tự nhiên trở thành một hệ thống mắt xích hoàn hảo. Khi nghe như thế thú thực lòng tôi cũng chao đảo. Huống chi là mấy người nghèo đói ở Việt Nam. (còn tiếp-Kết luận: Chia rẽ bắc nam sẽ còn kéo dài)

Nguyễn Tường Tâm

Ghi chú: danh từ “Người miền bắc” trong loạt bài này chỉ những người bắc còn ở lại Hà nội sau năm 1954 và những người vào miền nam sau ngày 30-4-1975, kể cả con cháu họ, cho dù sinh trưởng tại miền nam sau đó.

ooOoo

    Zlikwidowana plantacja konopi indyjskich
Kryminalni z Piaseczna zabezpieczyli ponad 500 doniczek z krzewami konopi, z których można było uzyskać nawet do kilkudziesięciu kilogramów marihuany. Jest to jedna z największych plantacji jaką w ostatnim czasie zlikwidowano na tym terenie. Wartość zlikwidowanej plantacji wstępnie oszacowano na kilkaset tysięcy złotych.Policjanci codziennie walczą z przestępczością narkotykową i wszelkimi jej przejawami. Poza zatrzymywaniem osób mających związek z środkami odurzającymi równie ważnym ogniwem pracy kryminalnych jest znajdowanie i eliminowanie samych narkotyków. Każda zabezpieczona przez funkcjonariuszy „działka” nigdy więcej nie trafi już na rynek.

Kryminalni w trakcie działań ukierunkowanych na zwalczanie przestępczości narkotykowej pozyskali informację dotyczącą nielegalnej uprawy konopi na terenie powiatu. Realizując działania operacyjne ujawnili nielegalną plantację konopi indyjskich. Wczoraj o 6.30 nad ranem funkcjonariusze z wydziału kryminalnego weszli na teren posesji w Tarczynie. Na parterze, piętrze i poddaszu willi policjanci zabezpieczyli ponad 500 doniczek z krzakami konopi indyjskich. Rośliny miały wysokość od kilkudziesięciu centymetrów do 1 metra. Na poddaszu budynku policjanci zabezpieczyli kilkadziesiąt zużytych doniczek oraz około metra sześciennego krzewów z których były zdjęte liście i kwiatostan. Pomieszczenia były specjalnie przystosowane do uprawy narkotyków.

Policjanci do sprawy zatrzymali mężczyznę i dwie towarzyszące mu kobiety narodowości wietnamskiej. Organizatorem całego procederu był 37-letni Phan D.H. Policjanci w chwili zatrzymania mężczyzny zabezpieczyli w jego miejscu zamieszkania około 20 gram marihuany. Narkotyki były ukryte w różnych miejscach, w opakowaniu po prezerwatywach, w plecaku, w puszce po orzeszkach, w zwoju folii aluminiowej.

Śledczy wstępnie szacują, że po odpowiedniej obróbce na rynek mogło trafić nawet kilkadziesiąt kilogramów suszu roślinnego o wartości czarnorynkowej sięgającej do kilkuset tysięcy złotych. Zatrzymany mężczyzna będzie odpowiadał za posiadanie i uprawę narkotyków. Sprawa jest rozwojowa, niewykluczone są dalsze zatrzymania.

(źródło: KSP)




 

Về Trung Quốc Sử & Hoàng Sa Trường Sa—Ls. Nguyễn Hữu Thống

Thursday, June 25th, 2015

Ls. Nguyễn Hữu Thống

BÌNH GIẢI VỚI TẬP CẬN BÌNH VỀ TRUNG QUỐC SỬ LIÊN QUAN ĐẾN HOÀNG SA TRƯỜNG SA

Theo cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, trong bài “Nghiên Cứu về Lịch Sử và Địa Lý” học giả Hsieh Chiao-Min nhận định về cuộc Thám Hiểm của Trung Hoa tại Đại Dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Thản hoặc nhà cầm quyền Trung Quốc cũng gửi những đoàn thám hiểm đại dương đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ 3 và thứ 2 Trước Công Nguyên, cũng như tại Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu trong thế kỷ 15. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Quốc” suốt chiều dài lịch sử (từ nhà Tần thế kỷ thứ 3 Trước C. N. đến nhà Thanh từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20). Chiao-Min Hsieh. Chinese History Middle Ages: China Academy, Taipei, 1978, p. 287).

Dưới đời nhà Tần, cuốn Tần Chí tường thuật rằng năm 211 Trước C.N. Tần Thủy Hoàng sai một phái bộ gồm hàng ngàn đồng nam đồng nữ (trai gái tân) đi kiếm những dược phẩm có tác dụng đem lại trường sinh bất tử cho nhà vua tại đảo Đại Châu Bất Tử trong Đông Trung Quốc Hải. Mặc dầu vậy, Tần Thủy Hoàng không bất tử mà đã chết một năm sau đó. Và chế độ quân phiệt nhà Tần đã cáo chung sau 15 năm thống trị (221-206 Trước C.N).

Trong thời Đế Quốc Thứ Nhất đời Tần Hán (First Empire), những cuộc thám hiểm đại dương tại Đông Trung Quốc Hải và Biển Nhật Bản không phải để chinh phục vùng Biển Nam Hoa nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đặc biệt trong thế kỷ 15, từ đời Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc), Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa đã 7 lần thám hiểm Tây Dương (Ấn Độ Dương). Và trong 28 năm, từ 1405 đến 1433, đã viếng thăm 37 quốc gia duyên hải đến Ba Tư, Biển Hồng Hải phía tây bắc, Đông Phi Châu phía cực tây và Đài Loan phía cực đông. Những cuộc thám hiểm này chỉ đi ngang qua Biển Nam Hoa nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Lịch sử Trung Quốc cũng phê phán những cuộc thám hiểm đại dương đời nhà Minh vì đã làm kiệt quệ kinh tế đất nước. (The large exploring expeditions that were to cross the South China Sea and explore the Indian Ocean were criticized by the court as poor to (an impoverishment of) the country. Chiao-Min Hsieh, Ibid, p. 290-291).

Những tài liệu lịch sử nêu trên đã được phổ biến tại Đại Hội Quốc Tế về Sử Địa Trung Quốc Kỳ I tại Đài Bắc năm 1968 và đã được đăng trong cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ năm 1978.

Như vậy theo chính sử Trung Quốc suốt từ thế kỷ thứ 3 Trước C.N. đến thế kỷ 15, dưới 3 triều đại Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ không có tài liệu nào cho biết có các lực lượng hải quân Trung Quốc đi tuần thám để hành sử và công bố chủ quyền tại Biển Đông Hải, Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á.

Đối chiếu lịch sử Việt Nam và Trung Quốc, sử sách ghi chép rằng năm 214 Trước C.N., sau khi thống nhất Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem quân thôn tính các nước Bách Việt để chia thành 3 quận: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bắc và Trung Việt). (Nước Việt ta thời đó có nhiều voi: Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi khởi nghĩa đánh nhà Hán, nhà Ngô; Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên, Quang Trung đuổi quân Thanh cũng ngồi trên mình voi đánh giặc).

Tuy nhiên các dân tộc Bách Việt không chịu ách đô hộ tàn bạo của nhà Tần. Họ trốn vào rừng chiến đấu và giết được Đồ Thư.

Năm 207 Trước C. N. Triệu Đà đánh thắng An Dương Vương, rồi sát nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải để thành lập một quốc gia độc lập đóng đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu) lấy quốc hiệu là Nam Việt (207-111 Trước C.N.). Qua năm sau Lưu Bang cũng đánh thắng Hạng Võ và thành lập nhà Hán.

Chữ “hải” trong quận Nam Hải không có nghĩa là biển mà là vùng đất xa xôi (hải biểu là vùng đất cực xa). Và quận Nam Hải là vùng đất phía cực Nam Trung Quốc (far-south). Từ nguyên thủy, Biển Nam Hải có tên là Trướng Hải là vùng biển của tỉnh Quảng Đông, cách huyện Hải Phong 50 dậm ta (lý) về phía nam (khoảng 25km).

Theo Tân Từ Điển Thực Dụng Hán Anh xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 “Biển Nam Hải là vùng biển ven bờ chạy từ Eo Biển Đài Loan tới Quảng Đông” (The Southern Sea stretches from the Taiwan Strait to Kwantung. A New Practical Chinese-English Dictionary, Hongkong 1971, p. 121)

Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948 thì “Biển Nam Hoa thuộc chủ quyền chung của 5 quốc gia là Trung Hoa, Pháp (Việt Nam), Anh (Mã Lai), Mỹ (Phi Luật Tân) và Nhật ( Đài Loan). Do đó Biển Nam Hải (Southern Sea) không phải là Biển Nam Hoa (South China Sea).

Sau này Trung Quốc lợi dụng danh xưng để mạo nhận rằng Biển Nam Hải của tỉnh Quảng Đông chính là Biển Nam Hoa của Trung Quốc.

Từ thế kỷ 15, các nhà thám hiểm đại dương và các nhà doanh thương Âu, Á như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp, Ả Rập khi vượt Đại Tây Dương đến vùng biển tiếp giáp Ấn Độ, muốn cho tiện họ gọi vùng biển này là Ấn Độ Dương. Và khi qua Eo Biển Mã Lai đến vùng biển tiếp giáp Trung Hoa họ cũng tiện thể gọi vùng biển này là Biển Nam Hoa (ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).

Sự trùng điệp danh xưng này của các nhà địa lý Tây Phương chỉ là sự ghi nhận một tập quán về ngôn ngữ hàng hải. Như vậy tên Biển Nam Hoa cũng như Ấn Độ Dương không có tác dụng công nhận chủ quyền của Trung Hoa và Ấn Độ tại các vùng biển này. Nó chỉ ghi nhận vị trí của Ấn Độ Dương là vùng tiếp giáp Ấn Độ, cũng như Biển Nam Hoa là vùng tiếp giáp miền Nam Trung Hoa. Vả lại, về diện tích, Biển Nam Hải (hay Biển Nam) chỉ rộng chừng 25km, trong khi Biển Nam Hoa chạy từ bờ biển Quảng Đông tới bờ biển Nam Dương và rộng tới 2000 km.

Trong những chuyến hải hành Trịnh Hòa chỉ dừng chân tại hải cảng Chaban (Trà Bàn hay Đồ Bàn) thủ phủ Chiêm Thành. Theo Giáo Sư John King Fairbank tại Đại Học Harvard, mục đích những chuyến công du này không phải để cướp bóc hay thôn tính lãnh thổ mà chỉ nhằm thiết lập bang giao với hàng chục quốc gia duyên hải tại Ấn Độ Dương. (The Chinese expeditions were diplomatic not commercial, much less piratical or colonizing ventures. John King Fairbank, China, a New History, Harvard University Press 1992, p. 138).

Như vậy, theo chính sử Trung Quốc, từ các đời Tần Hán,Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy Đường, Ngũ Đại, Tống Nguyên, Minh Thanh, sử sách không ghi chép việc hải quân Trung Quốc đi tuần thám Biển Đông Hải để chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đồng thời công bố và hành sử chủ quyền tại các quần đảo này.

Suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc trong hơn 20 thế kỷ về đời các Đế Quốc Tần Hán, Tùy Đường, Tống Nguyên, Minh Thanh cũng như trong các thời Đại Phân Hóa như đời Lưỡng Tấn, trở ngại chính yếu cho việc ổn định chính trị và phát triển kinh tế là hiểm họa Hung Nô.

Danh xưng Hung Nô tự nó đã hàm chứa ý nghĩa nhục mạ và phỉ báng, man di mọi rợ, dã man hung dữ chỉ đáng làm nô lệ cho Hán tộc.

Không phải bao giờ Hán binh cũng thắng thế. Vì các kỵ binh Hung Nô là những thiện xạ có tài bắn cun từ trên lưng ngựa huyết hãn mã (mồ hôi đỏ như máu).

Đời nhà Hán hiểm họa Hung Nô là mối lo gan ruột của Hán Vũ Đế 5 lần mang quân đi chinh chiến tại các mặt trận tây bắc. Các phong hỏa đài dọc theo Vạn Lý Trường Thành là những trại tiếp liên báo động tại quan ải:

Gió lửa động sa mạc
Chiếu rực mây Cam Tuyền
Vua Hán chống kiếm dậy
Lại vời Lý Tướng Quân.
(Lý Bạch, Tái Hạ Khúc)

Lý Tướng Quân ở đây là Lý Quảng, vị tướng lãnh nổi tiếng nhất trong Chiến Tranh Hung Hán. Nhưng không phải bao giờ ông cũng đem lại chiến thắng cho Hán Vũ Đế (140-87 Trước C.N.). Năm 119 Trước C. N. Lý Quảng ở tuổi lục tuần, vì trái quân lệnh đã thất trận và phải tự sát để khỏi bị xử trảm với nhục hình. Như vậy tướng quân họ Lý không đem lại vinh quang cho nhà Hán.

Năm 100 Trước C. N. Hán Vũ Đế sai sứ giả Tô Vũ qua Hung Nô để can thiệp vào chính sự một nước lân bang phía bắc. Cơ mưu bại lộ, Tô Vũ bị bắt giam và quản thúc trong 19 năm, phải chịu nhục đi chăn dê tại vùng sa mạc nóng cháy và miền núi tuyết giá băng.

Và năm 33 Trước C. N., Hán Nguyên Đế phải đem Chiêu Quân cống Hồ, dầu rằng Vương Tường là một trong bốn đại mỹ nhân Trung Quốc, cùng với Tây Thi, Hằng Nga và Dương Quý Phi. Trong năm này Hán Nguyên Đế đã từ trần vài tháng sau khi Chiêu Quân xuất giá.

Đến đời Nhà Tấn (265-420) có loạn Nhung Địch từ phía tây bắc lũ lượt nổi lên chiếm giữ cả vùng Bắc Trường Giang để xưng vương, xưng đế tại 16 nước gọi là loạn Ngũ Hồ. Sau 50 năm trị vì tại miền tây bắc, nhà Tấn phải lui về phía đông nam để dựng nghiệp Đông Tấn tại Nam Kinh.

Kế tiếp là đời Đế Quốc Tùy Đường. Đây là thời thịnh trị cả về kinh doanh thương mại lẫn văn học nghệ thuật. Tuy nhiên trong giai đoạn thoái trào vào thế kỷ thứ 8 có loạn An Lộc Sơn với các binh sĩ Ngũ Hồ từ miền bắc xâm chiếm thủ đô Tràng An. Trên đường rút quân về Tây Thục, dưới áp lực của các tướng sĩ, Đường Minh Hoàng phải bức tử Dương Quý Phi tại Mã Ngôi.

Sau đời Đế Quốc Tùy Đường là Đế Quốc Lưỡng Tống kéo dài hơn 300 năm từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 13 (960-1280). Qua thế kỷ 12 nhà Tống bị bao vây bởi Bắc Liêu (Mông Cổ) về phía bắc và Tây Hạ (Mãn Châu) về phía tây. Từ đầu thế kỷ 11 vua nhà Tống phải hàng năm triều cống Bắc Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa. Tới đầu thế kỷ 12 (năm 1127) nước Kim (Mãn Châu) lấn chiếm toàn cõi Bắc Trung Hoa khiến Vua Tống phải bỏ miền Bắc dời đô về Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Đây là một thời đại suy vi với sự phân hóa lãnh thổ, suy thoái kinh tế và thất bại quân sự (Nhà Tống bị Việt Nam đánh bại 3 lần trong những năm 981, 1075 và 1076).

Cũng vì vậy trong hai thế kỷ 13 và 14, Trung Quốc bị Hung Nô Mông Cổ thôn tính trong gần 90 năm (1280-1368). Đó là kỷ nguyên của Đế Quốc Đại Nguyên hay Đế Quốc Nguyên Mông.

Và để kết thúc giai đoạn lịch sử Trung Quốc thời Trung Cổ, trong ba thế kỷ từ 17 đến 20 (1644-1911) đời Đế Quốc Đại Thanh, Hung Nô Mãn Châu làm chủ Trung Quốc.

Để có cái nhìn khách quan trung thực, chúng ta hãy kiểm điểm khái quát những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị của các triều đại Trung Hoa từ đời nhà Tần đến đời nhà Thanh. Từ đó chúng ta có thể nhận định rằng Trung Quốc không có điều kiện khách quan và chủ quan để thôn tính Biển Đông Hải và giành giật chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ Đế Quốc Tần Hán đến Đế Quốc Đại Thanh

Năm 221 Trước C.N., Nhà Tần thống nhất đất nước, tập trung quyền lực trong chế độ độc tài quân phiệt, bãi bỏ chính sách phân chia ruộng đất (tỉnh điền) và chế độ tư tưởng phóng khoáng thời Bách Gia Chư Tử. Mặt khác huy động toàn dân vào việc xây đắp trường thành chống Hung Nô và xây dựng cung điện nguy nga như Cung A Phòng với những hy sinh khủng khiếp: 1 triệu viên đá xây thành là 1 triệu người dân hy sinh thân sống. Lịch sử Trung Hoa kết án Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa đã từ bỏ quan niệm hòa bình nhân ái của Khổng Mạnh lấy dân làm trọng, và coi nhẹ chính quyền (dân vi quý, quân vi khinh). Vì quá lao tâm lao lực, Tần Thủy Hoàng chỉ trị vì được 11 năm. Từ đó với những âm mưu tranh giành quyền lực, cà thái tử lẫn tể tướng đã phải hoặc tự sát, hoặc bị giết. Vua Tần Nhị Thế cũng bị một viên quan hoạn giết sau 4 năm trị vì. Dân 6 nước bị nhà Tần sát hại thời Chiến Quốc cùng những dân công khổ sai đã vùng đứng lên tiêu diệt chế độ nhà Tần năm 206 Trước C.N.

Lúc này tại miền Hoa Nam, hải quân Trung Quốc không lai vãng đến vùng Biển Đông Hải.

Kế nghiệp Nhà Tần là Nhà Hán kéo dài hơn 4 thế kỷ (từ 206 trước C. N. đến 220 Tây Lịch) trong đó có 14 năm Vương Mãng tiếm vị.

Trong cuộc Hán Sở tranh hùng, Hán Vương Lưu Bang thắng Sở Vương Hạng Võ. Họ Lưu khởi nghiệp từ miền Hán Giang (một chi nhánh của Dương Tử Giang) đã trừ được nhà Tần, diệt được nhà Sở và thống nhất Trung Hoa lên ngôi lấy hiệu là Hán Cao Tổ (206-195 trước C. N).

Trước đó một năm, năm 207 Trước C. N., Triệu Đà cũng đã lên ngôi hiệu là Triệu Vũ Vương sau khi đánh thắng An Dương Vương và sát nhập Âu Lạc với quận Nam Hải để thành lập nước Nam Việt độc lập, đặt thủ đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu).

Trong khi tại miền Bắc Hán Cao Tổ chỉ trị vì được 11 năm, thì tại miền Nam Triệu Vũ Vương đã chấn chỉnh và mở rộng bờ cõi trong suốt 70 năm (207-137 Trước C. N.). Năm 196 Trước C. N. Hán Cao Tổ sai Lục Giả sang phong tước cho Triệu Vũ Vương.

Sau khi Hán Cao Tổ mất bà Lữ Hậu lâm triều lộng hành không cho người Việt mua các đồ sắt, điền khí và trâu bò nái. Triệu Vũ Vương xưng là Nam Việt Hoàng Đế (Triệu Vũ Đế) rồi cử binh đánh bại quân nhà Hán tại Trường Sa (Hồ Nam). Sau khi Lữ Hậu mất Hán Văn Đế lại sai Lục Giả sang thương thuyết, yêu cầu Triệu Vũ Đế bỏ đế hiệu. Hán Văn Đế cam kết rằng: “Tại miền Hồ Quảng, từ phía nam Ngũ Lĩnh và Động Đình Hồ, Triệu Vũ Vương được toàn quyền cai trị”.

Đến năm 111 Trước C. N., khai thác mâu thuẫn giữa ba nước Mân Việt, Đông Việt và Nam Việt, Hán Vũ Đế đã thôn tính Nam Việt trái với lời cam kết của các tổ phụ và tiên vương Hán Cao Tổ và Hán Văn Đế.

Tuy nhiên, sau cái chết của Hán Vũ Đế (năm 87 Trước C.N.), Nhà Hán bắt đầu suy thoái. Trong đời Hán Nguyên Đế (48-33 Trước C.N.), quân Nhà Hán đã phải rút khỏi Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam) cho đến cuối thế kỷ thứ 6 đời Lương, Tùy mới đặt lại nền cai trị. Nếu nhà Hán đã bỏ đảo Hải Nam thì cũng không lý vấn đến các đảo Hoàng Sa Trường Sa tại Đông Hải. (Hải Nam cách Hoàng Sa 150 hải lý hay 275 km)

Tiếp theo thời Đế Quốc Tần Hán là Thời Đại Phân Hóa Thứ Nhất (First Partition) với các đời Tam Quốc, Lưỡng Tấn và Nam Bắc Triều.

Thời Đại Phân Hóa Thứ Nhất

Trong đời Tam Quốc (220-265), với thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô, không nước nào dám mạo hiểm và có thực lực đi thôn tính biển Đông Hải. Thời Hán mạt Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đem 10 vạn quân (phóng đại là 80 vạn) đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong trận Xích Bích năm 207.

Đến đời Nhà Tấn (265-420) có loạn Nhung Địch từ phía tây bắc lũ lượt nổi lên chiếm giữ cả vùng Bắc Trường Giang để xưng vương, xưng đế tại cả thảy 16 nước gọi là loạn Ngũ Hồ. Sau 50 năm trị vì tại miền tây bắc, nhà Tấn đã phải lui về phía đông nam để dựng nghiệp Đông Tấn tại Nam Kinh.

Sau khi nhà Tấn mất ngôi có nạn phân hóa Nam Bắc Triều với 7 nước là Ngụy, Tề, Chu phía bắc và Tống, Tề, Lương, Trần phía nam.

Do sự phân hóa này Trung Quốc không còn sinh khí. Đến đời nhà Lương, tại Giao Châu, Lý Bôn phất cờ khởi nghĩa xưng là Lý Nam Đế lấy quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau đó Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử kế nghiệp Nhà Tiền Lý trong gần 60 năm (từ năm 544 đến 602).

Thời Đế Quốc Tùy Đường

Kế tiếp đời Nam Bắc Triều, Nhà Tùy trị vì được 30 năm, và cùng với Nhà Đường khởi sự Thời Đế Quốc Thứ II (Second Empire). Đây là thời thịnh trị cả về kinh doanh thương mại lẫn văn học nghệ thuật. Đường Minh Hoàng làm thơ ca tụng Khổng Tử. Các đại sư Huyền Trang và Nghĩa Tĩnh sang Ấn Độ thỉnh kinh Phật. Các thi sĩ nổi tiếng đời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của các tư tưởng Lão Trang, Khổng Mạnh và Phật Giáo.

Tuy nhiên trong giai đoạn thoái trào vào thế kỷ thứ 8 có loạn An Lộc Sơn với các binh sĩ Ngũ Hồ từ miền bắc xâm chiếm thủ đô Tràng An.

Sự suy đồi của Nhà Đường dẫn tới đời Ngũ Đại kéo dài hơn 50 năm với 5 triều đại đã có từ trước như các nhà Hậu Đường, Hậu Lương, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Vận dụng cơ hội lịch sử này Ngô Quyền kết tập binh mã phá tan quân Nam Hán năm 938 trong trận hải chiến Bạch Đằng Giang. Do đó, từ năm 939, Việt Nam được giải phóng khỏi nạn Bắc Thuộc một ngàn năm, mở đường cho kỷ nguyên độc lập với các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê và Nguyễn, từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 19.

Thời Đế Quốc Lưỡng Tống

Trong thế kỷ thứ 10 quân Nhà Tống kéo sang xâm chiếm nước Nam. Để chống ngoại xâm các tướng sĩ tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên làm vua. Và năm 981 Lê Đại Hành đánh thắng lục quân nhà Tống với Hầu Nhân Bảo và thủy quân với Lưu Trừng tại Bạch Đằng Giang.

Năm 1075, dưới đời vua Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân vượt biên vây đánh Châu Khâm, Châu Liêm tại Quảng Đông và Châu Ung tại Quảng Tây. Qua năm sau nhà Tống đem quân sang báo thù. Nhưng một lần nữa lại bị Lý Thường Kiệt đánh bại trên sông Như Nguyệt hay Sông Cầu (Bắc Ninh).

Sau 3 lần dụng võ thất bại, do trình tấu của Hoàng Thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông phải theo chính sách “Trọng Võ Ái Nhân” (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng), và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

Nhà Tống kéo dài từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 13 (960-1280). Qua thế kỷ 12 nhà Tống bị bao vây bởi Bắc Liêu và Tây Hạ. Ngay từ đầu thế kỷ 11 vua nhà Tống đã phải hàng năm triều cống Bắc Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa. Tới đầu thế kỷ 12 (năm 1127) nước Kim lấn chiếm toàn cõi phía bắc Trung Hoa khiến Vua Tống phải bỏ miền bắc thiên đô về Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Đây là một thời đại suy vi kéo dài 150 năm. Với sự phân hóa lãnh thổ, suy thoái kinh tế, và nhất là sau 3 lần thất trận tại Việt Nam, Nhà Tống không còn dòm ngó đến Biển Đông Hải với Hoàng Sa và Trường Sa.

Thời Đế Quốc Nguyên Mông

Qua thế kỷ 13 Trung Quốc bị Mông Cổ thôn tính trong gần 90 năm (1280-1368). Trước đó trong chiến dịch Tây Tiến, Thành Cát Tư Hãn đã chiếm giữ vùng Trung Á 6 ngàn dặm đến Hung Gia Lợi và nước Nga tại Bắc Âu và Ba Tư tại Nam Á. Rồi quay về chiếm nước Tây Hạ, nước Kim và Triều Tiên. Trước đó, năm 1257 quân Mông Cổ đánh Vân Nam và tràn sang Việt Nam. Tuy nhiên, với quân dân một lòng, nhà Trần đã đánh tan quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu. Đây là chiến thắng đầu tiên của Việt Nam đối với nhà Nguyên.

27 năm sau, năm 1284, con Nguyên Chủ Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan kéo 50 vạn quân sang báo thù.

Trong Hội Nghị Diên Hồng các bô lão đồng thanh xin đánh. Dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12-1284 đến tháng 6-1285, quân Đại Việt đã đánh đuổi quân Nguyên ra ngoài bờ cõi. Toa Đô bị bắn chết, Ô Mã Nhi bị đuổi quá gấp phải một mình lẻn xuống thuyền con chạy trốn, và Thoát Hoan phải chui ống đồng lên xe chạy thoát về Tầu.

Thời gian này Hốt Tất Liệt đã có kế hoạch thôn tính Quần Đảo Phù Tang. Nay quân Thoát Hoan đại bại kéo về, Nguyên Chủ phải đình chỉ kế hoạch Đông Tiến. Và hai năm sau, đầu năm 1287, Thoát Hoan lại tập trung lực lượng kéo 30 vạn quân sang Đại Việt để báo thù lần thứ hai.

Tuy nhiên, cũng như lần trước, chỉ trong vòng một năm quân Mông Cổ đã mua lấy thất bại. Ô Mã Nhi lần này bị bắt sống tại Bạch Đằng Giang. Sau đó quân Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên khiến Thoát Hoan phải thu tàn binh tháo chạy về Yên Kinh. Và tại Thăng Long, vua Trần Nhân Tông đem các tướng nhà Nguyên bị bắt như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm lễ hiến phù tại Chiêu Lăng. Đây là một vinh dự cho Đại Việt đã 3 lần đơn độc phá vỡ kế hoạch Nam Tiến (tại Việt Nam), đồng thời ngăn cản cuộc Đông Tiến (tại Nhật Bản) của đoàn quân mệnh danh là “bách chiến bách thắng” từ đời Thành Cát Tư Hãn.

Và sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó đến Việt Nam cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận. Trong cuốn “Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa” Marwyn S. Samuels cũng xác nhận rằng: “Trong suốt thế kỷ 14, các đội hải thuyền hùng mạnh của Nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và

cũng không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (Marwyn S. Samuels: Contest for the South China Sea, Methuen, London, 1982).

Như đã trình bày, trong bài “Thám Hiểm Đại Dương”, học giả Hsieh Chiao-Min nhận định rằng: “Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương”. Thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần, Vạn Lý Trường Thành không chỉ là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ, đảo Hải Nam là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ. Trong giả thuyết “Cổ Tẩu sát nhân” của Mạnh Tử (thế kỷ thứ IV Trước C.N.), vua Thuấn vào ngục thất cứu cha là Cổ Tẩu (phạm tội cố sát) rồi cõng cha chạy trốn về vùng bờ biển để mai danh ẩn tích đến trọn đời. Sau khi chôn sống 460 nho sĩ tại Hàm Dương, Tần Thủy Hoàng lưu đầy tất cả các nho sĩ đối kháng tại miền bờ biển. Trung Hoa là một đại lục bao la, cả miền Tây và miền Bắc đất rộng mênh mông còn chưa khai phá. Vậy mà từ đời nhà Tần, Trung Hoa đã tự cô lập từ trong đất liền đến ngoài đại dương. Cho đến đời nhà Thanh vào thế kỷ 19, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.

Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân nhà Hán đi khai phá các tiểu đảo san hô tại Đông Hải. Rất có thể, như đã trình bầy, đó là 10 vạn thủy quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong trận Xích Bích.

“Trung Hoa không bao giờ là một cường quốc đại dương. Dân tộc Trung Hoa trong 4 ngàn năm chỉ sống về ruộng đất với những tập tục và quan niệm sống của nhà nông” (James Fairgrieve, Geography and World Power, London, 1921).

“Với các đặc tính của một dân tộc lục địa, Trung Hoa không phải là một cường quốc đại dương. Chú tâm của họ hướng về đất liền tại miền Trung Á hơn là ra hải ngoại. Do đó các kiến thức của họ về biển cả và duyên hải thật quá thô sơ”. (E. B. Elridge, The Background of Eastern Sea Power, Melbourne, 1948).

Đời Nhà Minh

Trong cuốn “Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ” ghi trên, học giả Hsieh Chiao-Min ghi nhận rằng, theo chính sử, từ các thế kỷ thứ 3 và thứ 2 Trước C. N., người Trung Hoa chỉ đi tới Biển Nhật Bản và Đông Trung Quốc Hải. Họ không nghĩ có đất liền bên kia Thái Bình Dương. Do đó mọi cuộc thám hiểm đều hướng về Tây Dương.

Mãi đến thế kỷ 15 dưới đời Minh Thành Tổ (1403-1424) mới có những vụ thám hiểm đại dương từ Đông Nam Á đến Ấn Độ và Đông Phi .

Đồng thời với 5 cuộc Bắc Chinh chống Hung Nô, Minh Thành Tổ cử Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những cuộc hành trình tại Ấn Độ Dương mệnh danh là “Thất Hạ Tây Dương” (Tây hay Tây Trúc chỉ Ấn Độ và Tây Dương là Ấn Độ Dương).

Điều đáng lưu ý là về 7 chuyến công du tại trên 30 quốc gia trong 28 năm (từ 1405 đến 1433), chính sử Trung Hoa cũng ghi rõ phái bộ Trịnh Hòa chỉ đi qua Biển Nam Hoa nhằm thám hiểm Ấn Độ Dương. Như vậy không có chuyện phái bộ Trịnh Hòa đến các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chiếm hữu và hành sử chủ quyền.

Theo chính sử do các sử gia Trung Quốc trên thế giới hội nghị tại Đài Bắc năm 1968 và biên soạn năm 1978 thì trong các đời Tần Hán, Tùy Đường, Tống Nguyên và Minh Thanh, không thấy một dòng chữ nào đề cập việc Trung Quốc đem quân chiếm cứ các hải đảo tại Biển Đông Hải. Các chuyến hải hành chỉ vụ vào việc bành trướng thế lực ngoại giao và phát triển giao thương giữa Trung Hoa với các quốc gia Á Phi tại Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập.

Tuy nhiên những chuyến hải hành chỉ nhằm phô trương thanh thế cho Minh Thành Tổ chứ không thực sự đem lại kết quả cụ thể nào về mặt ngoại giao. Do đó dư luận trong nước đã phê phán những chuyến đi phô trương nặng phần trình diễn làm hao mòn công quỹ khiến kinh tế quốc gia bị suy thoái.

Riêng tại Đại Việt, Giáo Sư J.K. Fairbank cũng nói về cuộc xâm lăng khởi sự năm 1407 và kết thúc năm 1427. Kết cuộc, với những tổn thất đáng kể, nhà Minh phải trả chủ quyền độc lập cho Việt Nam năm 1428.

Hoàng Sa Trường Sa theo Trung Quốc Sử

Trong Trung Quốc sử có rất nhiều tài liệu lịch sử do nhà cầm quyền phổ biến và nhiều tác phẩm của các học giả Trung Hoa thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa.

Dưới đời Nhà Thanh, trong ba thế kỷ từ 17 đến 20:

a) Theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ năm 1894 đời vua Quang Tự thì đến cuối thế kỷ 19 “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết” (Hải Nam cách Hoàng Sa 150 hải lý (275 km) về phía đông nam).

b) Qua thế kỷ 20 sự kiện này được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 (cũng đời vua Quang Tự) với đoạn như sau: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″.

c) Trong bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do Chính Phủ ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, và không thấy ghi các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa.

d) Trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là giải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy có sự nhìn nhận rằng quần đảo này là biên thùy hải phận của Việt Nam.

e) Theo học giả Marwyn S. Samuels trong cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa nói ở trên”không có bằng chứng nào cho thấy nhà Thanh đã chiếm hữu và sát nhập Hoàng Sa Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc”.

f) Trong tập Địa Dư Chí Tỉnh Quảng Đông được vua Ung Chính duyệt phê năm 1731, không thấy ghi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc.

g) Trong bộ “Đại Thanh Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán Trung Hoa biên soạn năm 1842 với lời tựa của vua Đạo Quang không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa) thuộc hải phận tỉnh Quảng Đông.

h) Đặc biệt là trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (năm 1744), vùng hải phận của Việt Nam tại Biển Đông Hải được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương.

i) Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự của Hòa Thượng Thích Đại Sán xuất bản năm 1695 đời Khang Hi cũng ghi nhận Đại Việt đã chiếm hữu, và khai thác Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa.

Đời nhà Minh

a) Bản Đồ Mao Khôn trong cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi vùng biển Việt Nam là Giao Chỉ Dương.

b) Trên các bản đồ Trịnh Hòa Hạ Tây Dương và Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ không thấy ghi các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa với các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc trong các lộ trình của Trịnh Hòa 7 lần đi ngang qua Biển Nam Hoa để khai phá Ấn Độ Dương.

c) Trong hai thế kỷ 14 và 15 có sự giao chiến trường kỳ 100 năm

giữa Việt Nam và Chiêm Thành: Với Chế Bồng Nga đời vua Trần Nghệ Tông (năm 1370), và với hai anh em Trà Toàn, Trà Toại đời vua Lê Thánh Tông (năm 1470). Nếu quả thật nhà Minh đã chiếm đất Chiêm Thành trong chuyến đi thứ tư của Trịnh Hòa năm 1413, thì lẽ tất nhiên sử sách của Trung Hoa, Chiêm Thành và Việt Nam đã phải ghi chép việc đó.

Mà nếu Trịnh Hòa đã chiếm Chiêm Thành năm 1413 thì lẽ tất nhiên Nhà Minh đã phải đem quân chống lại vua Lê Thánh Tông là người đã phát động Chiến Dịch Nam Tiến năm 1470 để mở rộng lãnh thổ đến Bình Định Phú Yên.

d) Theo sách Dư Địa Chí đời Hồng Đức lưu trữ tại Đông Dương Văn Khố Tokyo, tới hậu bán thế kỷ 15 dưới triều vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức nguyên niên (1470), Chiêm Thành đã là lãnh thổ của Đại Việt gồm có lục địa, hải phận và các hải đảo.

e) Về việc này cuốn Minh Sử ghi chép như sau: “Sứ thần Chiêm Thành nói: Cổ lai đất nước Chiêm có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nay vua An Nam lấy đi chỉ còn 5 xứ, từ Bang Đô Lang đến Chân Lạp”. Lúc này vua Nhà Minh yêu cầu vua Lê Thánh Tông trả đất cho Chiêm Thành nhưng Ngài không chịu. Lý do là vì Minh Chủ không chịu trả đất Nam Việt thời Triệu Vũ Đế cho Đại Việt. Tài liệu lịch sử này cho biết từ thế kỷ 15, vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ Đại Việt.

Đời nhà Nguyên

a) Trong thế kỷ 13 Mông Cổ bị Đại Việt 3 lần đánh bại trong 3 thập niên,vào những năm 1257, 1285 và 1287. Sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó Việt Nam từ trên lục địa đến ngoài hải phận. Và trong các thế kỷ 13 và 14, theo chính sử, quân Mông Cổ không xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

b) Theo cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa của Marwyn Samuels “trong thế kỷ 14 các đội hải thuyền hùng mạnh của nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (sách đã dẫn, trang 20).

c) Cũng như các sách sử địa đời Nhà Thanh, cuốn Nguyên Sử Địa Lý Chí đã viết như sau: “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.

Đời Nhà Tống

a) Như trong thế kỷ 13 đời Nhà Nguyên, trong hai thế kỷ thứ 10 và 11 Việt Nam cũng đã 3 lần đánh thắng Nhà Tống trong những năm 981, 1075 và 1076.

b) Sau 3 phen thất trận, theo trình tấu của Hoàng Thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông đã phải theo chính sách Trọng Võ Ái Nhân (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng). Và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

c) Sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát nhìn nhận rằng quần đảo Hoàng Sa mà tác giả gọi là Thiên Lý Trường Sa (Bãi Cát Dài Ngàn Dặm) là đất của nước phiên thuộc An Nam,

d) Trong đời Nam Tống cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”.

Đời Nhà Đường

a) Sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập đến cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu trong đó tác giả tường thuật những việc kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Như tại Thất Châu Dương (Nhóm An Vĩnh, Hoàng Sa) là nơi có nhiêu từ thạch hay đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt không đi qua được. Đây có sự thừa nhận các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam.

b) Ngoài ra sách Tứ Di Lộ Trình của Giã Đàm đời Đường có vẽ hải đạo Hồng Kông-Tân Gia Ba nhưng không ghi các hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay các danh xưng Tây Sa, Nam Sa.

Đời Nhà Hán

a) Trong cuốn Chư Phiên Chí, sử gia Triệu Nhữ Quát đời Nhà Tống đã xác nhận sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ như sau: Năm 111 Trước C. N., sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ nhất Trước C.N. Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam, mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy vào cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7 mới đặt lại quyền cai trị”.

b) Như đã trình bày, đến cuối đời Nhà Thanh vào đầu thế kỷ 20, biên cương của Trung Quốc về phía Nam chỉ chạy tới đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18.

Tổng kết lại, về mặt chính sử, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Hán thế kỷ thứ 3 Trước C.N. đến thế kỷ 20 đời Nhà Thanh, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu nào ghi rằng Biển Đông Hải với Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

Mãi tới năm 1951 nhân kỳ Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951, lần đầu tiên Chính Phủ Bắc Kinh mới đưa ra Công Bố ngày 1-9-1951 đòi chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa theo đó “đảo Nam Uy cùng toàn thể các quần đảo Nam Sa và Tây Sa đều là lãnh thổ của Trung Quốc, các tài liệu lịch sử liên quan đến các quần đảo này có từ đời nhà Tống”.

Tuy nhiên lịch sử Trung Quốc đã không xác nhận như vậy. Cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi đời Nhà Tống gọi vùng biển Hoàng Sa Trường Sa là Giao Chỉ Dương

Qua năm 1956 khi Phi Luật Tân đòi chủ quyền các hải đảo Thái Bình (Itu Aba) và Trường Sa (Spratly), ngày 29-5-1956 Chính Phủ Đài Bắc cũnglên tiếng phản kháng, chủ trương rằng các hải đảo này đã thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc từ đời nhà Minh.

Dầu sao, cũng như Bản Công Bố Chủ Quyền của Bắc Kinh năm 1951, Bản Phản Kháng Phi Luật Tân của Đài Bắc năm 1956 không viện dẫn được bằng chứng cụ thể nào về pháp lý, địa lý hay lịch sử để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hai Chính Phủ Quốc Cộng Trung Hoa chỉ quả quyết suông rằng Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ các đời Tống Thần Tông hay Minh Thành Tổ. Đây chỉ là sách lược của Bắc Kinh nhằm phục hồi Đế Quốc Đại Hán do Mao Trạch Đông phát động từ thập niên 1950. Để thi đua tranh thủ nhân tâm, Đài Loan cũng đã phải phụ họa.

Ngày nay, với “tứ hiện đại hóa”, Trung Quốc đã biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng cả về kinh tế lẫn chủ quyền lãnh thổ. Quân đội Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh để hy vọng có ngày đủ phương tiện nhằm lọai trừ hay phòng ngừa sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Á Châu Thái Bình Dương. Sau đó, theo truyền thống và tự hào lịch sử, họ sẽ bước vào giai đoạn đối đầu với phe Dân Chủ Tây Phương. Họ kỳ vọng rằng với quyết tâm và phát triển kinh tế, hệ thống Trung Quốc sẽ nổi bật trên thế giới khiến các quốc gia khác phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lãnh thổ và hải đảo tại Á Châu Thái Bình Dương.

Những nhận định của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Hoa Kỳ cũng là nhận định của Tiến Sĩ Lỗ Chi-Kin từ Hồng Kông trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986. Theo Mao Trạch Đông “những lãnh thổ phụ dung trước kia đã được Trung Quốc chinh phục và khai hóa, nay phải trả lại (Trung Quốc) văn minh chứ không thể thuộc về phe (Đế Quốc) dã man”. (Chi-Kin Lo, Doctor of Laws Thesis London 1986)

Từ sau Chiến Tranh Biên Giới Hoa-Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lược Sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao Trạch Đông: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.

Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế Quốc Ngai Rồng phát hiện từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thánh Tông, Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955.

Nếu quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị xâm chiếm do chiến tranh võ trang, thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 Trước C. N. (gồm vùng trung nguyên Trung Quốc với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Bắc Việt Nam). Tuy nhiên năm 111 Trước C. N. Hán Vũ Đế đã đem quân thôn tính Nam Việt nhằm Hán hóa vùng lãnh thổ này, mặc dầu Nam Việt có nền văn hóa đặc thù khác với các dân tộc du mục Miền Bắc. Đó cũng là nhận định của Giáo Sư C. P. Fitzgerald tại Đại Học Oxford: “Trong trường hợp nước Nam Việt giữ vững chủ quyền độc lập với nền văn hóa đặc thù của Miền Nam, thì dầu nhà Hán có chiếm được miền Quảng Châu và Vân Nam, họ cũng sẽ không thành công trong việc thiết lập ảnh hưởng tại vùng châu thổ Sông Tây Giang phía đông nam Trung Quốc”. (C. P. Fitzgerald, China, A Short Cultural History, p 184).

Theo quan niệm truyền thống của Đạo Nho văn hóa nông nghiệp Phương Nam tôn trọng hòa bình, bao dung và nhân ái, trong khi các sắc dân du mục Phương Bắc đặt nặng vấn đề đấu tranh sống chết, một mất một còn. Diễn giải quan niệm về Sức Mạnh trong bài “Tử Lộ Vấn Cường” (Trung Dung), Khổng Tử đối chiếu tác phong hiếu chiến tại Phương Bắc với quan niệm hiếu hòa tại Phương Nam:

“Lấy khoan nhân nhu hòa mà giáo hóa, không chủ trương báo thù kẻ vô đạo, đó là Sức Mạnh của Phương Nam, và cũng là nơi người quân tử cư ngụ”. (Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, Nam Phương chi Cường, quân tử khả cư).

“Ngồi trên lưng ngựa, mặc áo giáp, đeo gươm giáo, xông pha nơi chiến địa, trước cái chết không sờn lòng, đó là Sức Mạnh của Phương Bắc và cũng là nơi người hiếu chiến cư ngụ”.

Trở lại chính sách bá quyền, Trung Quốc vẫn giữ thái độ tiền hậu bất nhất trong những vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại Biển Nam Hoa. Vì một mặt Bắc Kinh vẫn mạnh miệng quả quyết nắm chắc phần thắng trong tay, nhưng mặt khác, họ vẫn không dám đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo và hải phận tại Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế.

Ngày nay, cùng với người Việt trong và ngoài nước, chúng ta thách thức Bắc Kinh công khai đưa vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải, Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan tài phán, trọng tài hay tham vấn theo thủ tục quốc tế. (Judicial litigation, arbitration or consultation)

Tại vùng Biển Đông Nam Á, rập theo tham vọng của Đế Quốc La Mã hồi thế kỷ thứ nhất coi Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử La Mã, Bắc Kinh cũng đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà dân gian gọi là Lưỡi Bò). Họ coi đó là mục tiêu chiến lược từ sau 1951. Nhất là từ 1982 khi Trung Quốc ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Tuy nhiên thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã lỗi thời. Nó đi trái Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đi trái Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague.

Trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ đến giữa thế kỷ 20 (năm 1951), Trung Quốc không bao giờ lên tiếng yêu sách đòi chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa). Họ khẳng định đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Để tránh né mọi cuộc tranh luận công khai trước các cơ quan tham vấn, trọng tài hay tố tụng. Lý do là vì họ không đưa ra được quan điểm pháp lý hay một bằng chứng lịch sử khả tín nào cho thấy họ có chủ quyền tại các quần đảo này.

Năm 1982, sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay”. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để xác định chủ trương này.

Tuy nhiên về mặt Công Pháp Quốc Tế, chiếu án lệ của Tòa Án Quốc Tế The Hague, muốn có Biển Lịch Sử phải hội đủ 3 điều kiện:

1. Phải có sự hành sử chủ quyền;

2. Một cách liên tục và trường kỳ; và

3. Được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải, đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện.

Dầu sao Tòa Án Quốc Tế đã định nghĩa “biển lịch sử là nội hải”.

Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định trong Điều 8 như sau:

“Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo [như Phi Luật Tân hay Nhật Bản] Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền, về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ. The International Court of Justice has defined historic waters as “internal waters”; “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State” (Art. 8 UNCLOS 1982).

Thủ Đắc do Chiếm Cứ

Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:

a) Chiếm cứ hòa bình.

Không có sự chối cãi rằng trong năm 1956 hải quân Trung Quốc đã chiếm cứ võ trang 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh phía đông bắc.

Năm 1974 Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm phía tây nam.

Năm 1988, lần đầu tiên hải quân Trung Quốc tấn công võ trang các đảo Trường Sa, và đã chiếm Đá Chữ Thập và Đá Gaven cùng một số đá chìm và bãi ngầm.

Năm 1992, Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm Bãi Vạn An trên Thềm Lục Địa Việt Nam phía đông nam các bãi dầu khí Thanh Long và Tứ Chính.

Những vụ chiếm cứ này không có tính hòa bình mà do xâm lăng võ trang nên không được luật pháp và tòa án bảo vệ. Vì nó đi trái Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Cũng như thời Thế Chiến II, Nhật Bản đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.

2) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ

Cho đến ngày 1-9-1951 Trung Quốc mới lên tiếng đòi “chủ quyền lịch sử ” tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, theo cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 đời vua Quang Tự Nhà Thanh “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″.

Theo Minh Sử, đời vua Lê Thánh Tông từ thế kỷ 15 (năm 1470), các đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt.

Theo Nguyên Sử “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.

Lịch sử Trung Quốc không mang lại bằng chứng khách quan vô tư nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ, công bố và hành sự chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa từ các đời Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ hay Quang Tự. Nếu chỉ có một số ngư dân lẻ tẻ từ đảo Hải Nam đến đánh cá theo mùa thì cũng không có sự công bố và hành sử chủ quyền của Quốc Gia.

3) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được sự thừa nhận của các quốc gia liên hệ.

Đầu tháng 9, 1951, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị Hòa Bình Cựu Kim Sơn để ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản, trong đó Nhật Bản từ bỏ quyền đòi Hoàng Sa Trường Sa nhưng không nói để trả cho nước nào. Ngoại Trưởng Liên Sô Gromyko nạp tu chính án yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trao Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Sau đó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hửu lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa và không gặp sự phản kháng nào.

4) Sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có ý nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải đối diện và tiếp cận. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay trong tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

5) Điều đáng lưu ý là, cho đến những năm 1956, 1974, 1988 và 1992 các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã do Việt Nam chiếm cứ công khai, hòa bình, trường kỳ và liên tục nên không thể coi đó là đất vô chủ. (terra nullius)

Do đó, về công pháp quốc tế, thuyết Biển Lịch Sử không còn là một vấn đề tranh nghị tại các Tòa Án Trọng Tài hay các Tòa Án Luật Biển. Vì thuyết này đi trái với Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague, và đã bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8.

Vì biết rõ điều đó nên Trung Quốc không dám đưa vụ tranh chấp hải phận và các hải đảo tại Biển Đông Nam Á ra trước Tòa Án Quốc Tế, Tòa Án Luật Biển hay Tòa Án Trọng Tài Liên Hiệp Quốc.

BÀI ĐỌC THÊM

HAI CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG CỦA BẮC KINH:
TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421
VÀ CHIẾM CỨ HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413

Khám phá Mỹ Châu là nói cho vui; thôn tính Biển Đông là mục tiêu chiến lược.

Mới đây Trung Quốc phát động hai chiến dịch phô trương, tuyên truyền rằng:

1. Năm 1421, trong Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422) của Chiến Dịch Thất Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu, trước Christopher Columbus 71 năm (năm 1492). So với Vasco Da Gama là người đã khám phá Mũi Hảo Vọng và đi xuyên 3 đại dương, từ Đại Tây Dương qua Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương (năm 1498), Trịnh Hòa đã thực hiện cuộc hành trình xuyên dương 77 năm về trước.

2. Và trong Chuyền Đi Thứ Tư (1413-1415) Trịnh Hòa đã chiếm cứ Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đây là hai chiến dịch truyền thông, mạo nhận thành tích để phô trương thanh thế và bóp méo sự thật.

Dầu sao sự mạo nhận này đã bị lịch sử phủ nhận.

TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421?

Trước hết, theo chính sử Trung Quốc, suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Thản hoặc, trong các thế kỷ thứ ba và thứ hai Trước Công Nguyên (thời Đế Quốc Tần Hán), Trung Hoa đã gửi những đoàn thám hiểm đến Biển Nhật Bản. Và trong thế kỷ 15, Minh Thành Tổ đã cử những phái đoàn thám hiểm Tây Dương đến Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu và đã viếng thăm 37 quốc gia duyên hải tại Ấn Độ Dương. Đó là những chuyến đi về ngoại giao và thương mại (tribute and trade). Những sự kiện này đã được ghi chép trong 3 loại tài liệu lịch sử:

a. Cuốn Minh Sử là chính sử.

b. Các bia kỷ niệm và các đồ bản tuyên dương thành thích được tồn trữ tại Phúc Kiến là địa điểm xuất phát Chiến Dịch.

c. Các sách sử địa trước tác bởi các thành viên tham gia Chiến Dịch như Doanh Nhai Thắng Lãm của Mã Hoan và Tinh Tra Thắng Lãm của Phi Tín. Trong Chuyến Đi Thứ Tư (1413-1415) Trịnh Hòa đi quá Ấn Độ, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải đến đông Phi Châu phía cực tây Ấn Độ Dương.

Về Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422) Bắc Kinh đại ngôn rằng Trịnh Hòa đã đi xuyên qua Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương để khám phá Mỹ Châu năm 1421.

Tuy nhiên, theo chính sử, Chuyến Đi Thứ Sáu của Trịnh Hòa là chuyến đi ngắn nhất chỉ kéo dài 7 tháng, từ tháng 2-1421 đến tháng 9-1421. Trong chuyền đi này Trịnh Hòa chỉ đi từ Phúc Kiến đến Sumatra (Nam Dương). Kế tiếp, hai sĩ quan tùy viên Yang Ching và Hung Pao đã điều khiển cuộc hải trình. (Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ (1978), trang 290-292).

Trong 7 chuyến công du, Trịnh Hòa không đến Đại Tây Dương, mà chỉ đi qua Biển Nam Hoa đến Ấn Độ Dương. Và như vậy không có việc, trong thế kỷ 15, Trịnh Hòa đã đi xuyên qua 3 đại dương là Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, và qua 3 châu Á, Phi và Âu để khám phá Mỹ Châu năm 1421.

Trong cuốn Trung Hoa Thao Túng Đại Dương học giả Louise Levathes, bỉnh bút tờ Nữu Ước Thời Báo và là giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Nam Kinh, cũng xác nhận điều đó: “Trong thời gian từ 1405-1433 các đoàn bảo thuyền (treasure ships) do Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy đã thực hiện 7 cuộc hành trình vượt qua Biển Nam Hoa đến Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư và bờ biển Đông Phi [chứ không sang Đại Tây Dương]. Trong những cuộc tiếp xúc với các thương gia Ả Rập người Trung Hoa cũng nghe nói về Âu Châu. Tuy nhiên họ đã không đến miền “cực tây” đó, vì Âu Châu chỉ sản xuất len dạ và rượu vang là những sản phẩm không được thị trường Trung Quốc ưa chuộng”. (Louise Levathes: When China Ruled the Seas, Simon & Schuster, New York, 1994, p. 20).

Mục đích những chuyến công du là thiết lập quan hệ ngoại giao và giao lưu thương mại. Nếu quả thật hồi đó Trịnh Hòa đến Đại Tây Dương thì lẽ tất nhiên đã phải ghé đến các cường quốc Âu Châu hồi thế kỷ 15 như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hòa Lan trước khi đi xuống Mỹ Châu là vùng đất hoang vu với các sắc dân da đỏ bán khai không thành quốc gia mà cũng không có những tài nguyên hay thổ sản để giao lưu thương mại với Trung Quốc.

Và chiến dịch truyền thông của Đế Quốc Đại Hán chỉ là chuyện bịa đặt vụng về, bất khả tín.

Như vậy, theo các sử liệu của Trung Quốc và trên thế giới, Trịnh Hòa không lai vãng đến Đại Tây Dương và cũng không khám phá Mỹ Châu. Đây chỉ là một chiến dịch tuyên truyền, bịa đặt thành tích để phô trương thanh thế. Tuyên truyền dối trá là võ khí chiến lược số 1 của Cộng Sản.

Trung thành với sách lược này, Bắc Kinh còn dựng đứng câu chuyện, từ thế kỷ 15 Trịnh Hòa đã chiếm cứ Chiêm Thành với Hoàng Sa Trường Sa.

TRỊNH HÒA CHIẾM HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413?

Sau vụ đảo chánh cướp ngôi của cháu ruột Minh Huệ Đế năm 1402, để làm lạc hướng dư luận, về mặt quốc tế, năm 1405 Minh Thành Tổ phát động chiến dịch Thất Hạ Tây Dương. Về mặt quốc nội, huy động hàng trăm học giả Trung Quốc soạn thảo cuốn Vĩnh Lạc Đại Toàn để đề cao cá nhân Minh Thành Tổ. Điều mỉa mai là, viện cớ khôi phục nhà Trần, Minh Thành Tổ, kẻ soán đoạt ngôi vua Nhà Minh, đã đem quân trừng phạt Hồ Quí Ly là kẻ soán đoạt ngôi vua Nhà Trần. Trương Phụ, Mộc Thạnh truyền hịch loan báo quân Tầu chỉ sang Việt Nam để tái lập ngôi vua nhà Trần, một triều đại vinh quang được toàn dân quý mến sau 3 trận đại thắng quân Mông Cổ. Với chiêu bài “cứu dân phạt tội” nhằm thu phục nhân tâm, quân nhà Minh đánh đâu được đó, quân nhà Hồ phần giã ngũ, phần qui hàng. Chủ yếu Minh Thành Tổ đã lợi dụng thời cơ để đem quân thôn tính Đại Việt trong suốt 20 năm (1407-1427).

Về Chiến Dịch Thất Hạ Tây Dương, trong Chuyến Đi Thứ Nhất (1405-1407), với một hạm đội hùng mạnh trên 27 ngàn sĩ tốt và hơn 300 hải thuyền, trong đó có 62 bảo thuyền lớn (large treasure ships), Trịnh Hòa đã không đổ bộ Việt Nam, chỉ ghé bến Đồ Bàn hay Trà Bàn (Chaban). Lúc này, nếu quả thật có kế hoạch thôn tính Chiêm Thành, Minh Thành Tổ chỉ cần điều động đội thủy binh hùng mạnh của Trịnh Hòa trong Chuyến Đi Thứ Nhất, chứ không cần phải đợi đến Chuyến Đi Thứ Tư (năm 1413) mới dùng thủ đoạn đồng minh giả hiệu để xâm chiếm Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận.

Vả lại, theo chính sử, về Chuyến Đi Thứ Tư (1413- 1415), Minh Sử chỉ ghi Trịnh Hòa có đến Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải và Đông Phi Châu, chứ không ghi việc Trịnh Hòa đã chiếm Chiêm Thành với Hoàng Sa Trường Sa. Đặc biệt Trịnh Hòa đã ra huấn thị cho các đội hải thuyền: “phải tránh xa các vùng đá ngầm và các đảo nguy hiểm tại Biển Nam Hoa” [Thất Châu Dương phía tây bắc Hoàng Sa]. Trong những chuyến đi sau này, nhiều bảo thuyền đã bị mất tích vì bão tố.(Louise Levathes: When China Ruled the Seas, p. 93).

Điều đáng lưu ý là, lập luận của Chính Phủ Bắc Kinh cho rằng Trịnh Hòa đã chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Minh (thế kỷ 15) hoàn toàn mâu thuẫn với lập trường của chính họ trong Bản Chú Giải về các Đảo Nam Uy (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) ngày 1-9-1951, theo đó Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Tống (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 13). (Notes on the Nanwei and Sisha Islands of 9-1-1951: People’s China Foreign Language Press) (1*).

Đây chỉ là những quyết đoán hồ đồ và những khẩu thuyết vô bằng.

Vì nếu Bắc Kinh dám tuyên bố Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu năm 1421, thì họ cũng không ngần ngại bịa đặt rằng Trịnh Hòa đã thôn tính Hoàng Sa Trường Sa năm 1413.

Nói tóm lại, về hai chiến dịch truyền thông cho rằng Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu năm 1421, và đã chiếm cứ Hoàng Sa Trường Sa năm 1413, chúng ta chỉ có thể kết luận: Phải là người Đại Hán đảm lược (to gan lớn mật) mới dám lấy những chuyện hoang đường võng tưởng làm sự thật lịch sử.

Trên đây là những sự thật lịch sử do các học giả Trung Quốc biên soạn. Đó cũng là những lời bình giải mà ngýời viết chuyển ðến ông Tập Cận Bình nhân chuyến công du mới đây của ông tại Hoa Kỳ.

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Chủ Tịch Ủy Ban Luật Gia
Bảo Vệ Dân Quyền

(1*) Đọc lại lịch sử Chiêm Thành chúng ta không thấy điều khoản nào ghi rằng trong thế kỷ 15 đời Minh Thành Tổ, Trung Quốc đã chiếm cứ nước Chiêm gồm cả lục địa và hải phận trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo cuốn Bách Khoa Toàn Thư Anh Quốc (Encyclopedia Britannica 1973, Champa trang 723), Chiêm Thành là một quốc gia phân hóa thành bốn tiểu bang hay “phủ” là: Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình Định), Kauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Bình Thuận hay Phan Rang). Tới thế kỷ thứ 6 Chiêm Thành thoát khỏi sự thống trị của Trung Quốc để trở thành một nước độc lập đặt thủ đô tại Amaravati (Quảng Nam). Trong thế kỷ thứ 9 quân Chiêm tấn công tại mấy tỉnh Giao Châu về phía bắc đồng thời đẩy lui Chân Lạp về phía tây.

Đến thế kỷ thứ 10 Việt Nam giành được độc lập. Và trong thế kỷ 11 khi vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt (năm 1054) phát động cuộc Nam Chinh trừng phạt Chiêm Thành, Chế Củ đã dâng ba châu thuộc địa phận Quảng Bình Quảng Trị để chuộc tội (năm 1069).

Qua thế kỷ 14, sau khi 3 lần đại thắng quân Mông Cổ, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông trong cuộc thắng cảnh Chiêm Thành hứa sẽ gả Công Chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Với vinh dự được làm rể Đại Việt, Chế Mân dâng hai châu thuộc địa phận Thuận Hóa để làm lễ cưới (năm 1306). Cuộc hôn nhân chưa được một năm thì Chế Mân chết, và theo tục lệ Chiêm Thành, Hoàng Hâu Huyền Trân phải hỏa thiêu để chết theo. Mặc dầu vậy vua Nhà Trần đã tìm cách giải thoát cho Công Chúa. Cũng vì mâu thuẫn này mà các vua Chiêm Thành từ Chế Chỉ và Chế Bồng Nga đã lấy cớ đem quân tàn phá Đại Việt trong 30 năm. Và sau này cuộc chiến tranh kéo dài trong suốt một thế kỷ từ đời vua Trần Nghệ Tông (1370) đến vua Lê Thánh Tông (1470). Kết cuộc năm 1471 dưới triều Hồng Đức Nguyên Niên, trong Chiến Dịch Bình Định, Đại Việt đã thôn tính lãnh thổ Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận trong đó tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuốn “Early Civilizations of Southeast Asia” của Sử Gia Dougald JW O’Reilly (Altamira Press U.S.A., 2007, trang 139) cũng xác nhận điều đó: “The Cham polity finally collapsed in 1471 with the capture of the capital Vijaya by the Viet”.

THÔNG CÁO BÁO CHÍ Về kết quả cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc tại New York ngày 20/6/2015 

Tuesday, June 23rd, 2015

BTC 15_Logo

New York, 20/6/2015 – Vào ngày thứ Bảy 20/6/2015, cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 30 do Cơ Quan Quốc Tế Di Dân tổ chức đã diễn ra rất tốt đẹp tại thành phố New York, Hoa Kỳ dưới bầu trời trong sáng đầy nắng ấm, mặc dù buổi sáng sớm có mưa lâm râm. Đây là lần thứ 16 Cộng Đồng người Việt tỵ nạn tham dự.

Banner va comm small

Đoàn diễn hành trải dài trên đại  lộ số 6 (6th Ave) – một đại lộ nổi tiếng của thành phố New York với nhiều cao ốc, còn được gọi là Đại Lộ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (Avenue of America) – từ đường 44 đến đường 56, tức 12 bloc đường phố. Từ 9 giờ sáng, các đội hình của đoàn Việt Nam đã bắt đầu tập họp trên đường 43, giữa đại lộ 5 và 6. Đúng 12 giờ trưa, các đội hình bắt đầu di chuyển.

Có nhiều quốc gia tham dự cuộc diễn hành quốc tế hàng năm này, năm nay có Tibet, Abania và Việt Nam. Nhưng có lẽ đoàn Việt Nam được xem là đông nhất, nhiều màu sắc nhất, nhiều ý nghĩa và có nhiều giải thưởng nhất trong những năm có chấm điểm.

Cac chu tich cd

Mặc dù gặp khó khăn về nơi tạm trú do khách sạn của nhà Mạnh Thường Quân quá cố Trần Đình Trường nay đã thuộc chủ nhân mới, số đồng hương Việt Nam tham dự năm nay khá đông (khoảng 600). Nhiều phái đoàn đến từ nơi xa xôi như Cộng Đồng  Houston (Texas) với tân Chủ Tịch Trần Quốc Anh lái xe hơn 30 giờ; phái đoàn tử Georgia đi 20 tiếng bẳng xe bus với trên 120 thành viên; Cộng Đồng DC, Maryland và Virginia với hơn 50 thành viên dong ruổi 6 giờ suốt đêm trên xe bus; Boston, Mass 50 thành viên cùng võ đường Tây Sơn với 7 giờ lái xe. Phái đoàn từ Louisiana, Kansas, phái đoàn từ Weschester, NY với võ đường Ocean Dragon Martial Art. Phái đoàn Florida gồm Ông chủ tịch Lưu Văn Tươi và phu nhân; Bà Đồng Thanh cựu chủ tịch đã trên 80 tuổi vẫn hiện diện cùng Hoa Hậu Phu Nhân 2015 Xuân Trà. Từ thành phố Pomona, Cali, BS Võ Đình Hữu, chủ tịch Hội Đồng Đại Biểu, CĐNVQGLBHK đáp máy bay suốt đêm về cho kịp giờ khai mạc. Tại địa phương New York, ngoài các vị trong Ban Tổ Chức (LS Nguyển Thanh Phong, Ông Nguyễn Văn Tánh, Cô Tara Thu, Ông Nguyễn Sơn Hà, Ông Lê Thanh Diệu…), còn có nhiều đồng hương tham dự trong đoàn diễn hành hoặc với tư cách khán giả hai bên đại lộ. Ngoài ra còn có phái đoàn tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo v.v.., phái đoàn Nhà Bảo Tồn Văn Hóa từ Canada.

xe hoa 2

Cộng Đồng Việt Nam năm nay tham dự với xe hoa chủ đề “Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh” trang trí lộng lẫy nhằm nói lên tinh thần bất khuất, từng đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ gìn bờ cõi, và đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn đất nước hiện đang lâm nguy trước họa xâm lược của Tàu Cộng từ phương Bắc. Phái đoàn diễn hành Việt Nam rất dài gồm đủ mọi thành phần tuổi tác, trẻ già, nam phụ lão ấu, nhất là giới trẻ, màu sắc rực sỡ, có cả các cụ già 80-90, có cụ dùng lăn hoặc walker để đi diễn hành. Cờ Quốc Gia màu vàng ba sọc đỏ tung bay trong gió, gương mặt mọi người rạng rỡ.

Đặc biệt phái đoàn từ Nam California với các văn nghệ sĩ như  MC Nam Lộc, Diễm Liên, Thế Sơn. Bắc Cali có Bà Chung Ngọc Nhi hướng dẫn với MC Thái Hà, Hoa Hậu Asian American Jenny Chung. Hoa Hậu từ Georgia, Hoa Hậu Phu Nhân 2015 từ Florida v.v.di dau

cam co lon med

dienhanh

Hầu hết các vị Chủ Tịch cộng đồng Đông Bắc Hoa Kỳ đều có mặt cùng các thành viên: CĐ New Hampshire (Ông Cao Xuân Khải và phái đoàn); CĐ Mass (Ô. Nguyễn Thanh Bình và phái đoàn), Cộng Đồng Connecticut với Ông Trần Văn Giỏi, Cộng Đồng New Yersey (với Chủ tịch Lê Ánh Nguyệt), Nam New Jersey (Ông bà Trần Quán Niệm và Hội Phụ Nữ), Cộng Đồng Philadelphia (Ông Vũ Trực), CĐ Pennsylvania (DS Nguyễn Đức Nhiệm), CĐ Hoa Thịnh Đốn (Ông Thomas Phạm, Ông Nguyễn Văn Đặng và các thành viên), Cộng Đồng Georgia (Ô Trần Mãn), Đoàn Phụ Nữ Cờ Vàng với áo dài màu cờ đến tử nhiều nơi như DC, New Jersey, Massachusetts v.v.. Trước giờ diễn hành, các vị chủ tịch CĐ, đoàn thể, tôn giáo cũng như các anh chị em Văn Nghệ Sĩ đã phát biểu cảm tưởng trước các cơ quan truyền thông như SBTN, VNA-TV 57.3 (Ông Du Miên và chuyên viên), OVM4TV (với Ông Nguyễn Đình Toàn), SBTN Boston với Ô. giám đốc Hà Văn Tải, đài Việt Nam Hải Ngoại New Jersey (với ông Nguyễn Tường Thược), báo Người Đẹp (Ô. Lưu Nguyễn), báo Việt Mỹ, TV Atlanta và nhiều nơi khác.

Vào tối thứ Bảy, một tiệc kỷ niệm 30 năm Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế và 40 năm viễn xứ, được tổ chức có văn nghệ giúp vui với ca sĩ Diễm Liên, Thế Sơn, MC Thái Hà và Nam Lộc, các ca sĩ địa phương tại hội trường nhà thờ Most Precious Blood Church rất hào hứng, quy tụ trên 200 thực khách.

Tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế năm nay Cộng Đồng người Việt tỵ nạn chứng tỏ sự kiên trì quyết tâm giữ gìn văn hóa ở hải ngoại và ngọn cờ chính nghĩa Tự Do vẫn tung bay trên nền trời thành phố New York. Ban Tổ Chức đã tốn nhiều công sức tạo nên kết quả hôm nay với sự tham dự đông đảo và sự nhiệt tình ủng hộ của các đồng hương, cộng đồng và mạnh thường quân khắp nơi về tinh thần lẫn vật chất. Người Việt tỵ nạn hải ngoại nhất quyết giữ vững truyền thống ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm không để cho CSVN có cơ hội chen vào.

Ban tổ chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế chân thành tri ơn tất cả các cộng đồng, các tổ chức đoàn thể, các mạnh thường quân, các văn nghệ sĩ và đồng thương đã hỗ trợ tài chánh, yểm trợ tinh thần và tham dự ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế 2015 năm nay. (BTC tổng hợp từ TQN) 

BAN TỔ CHỨC

Cố Vấn và Bảo Trợ: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

Trưởng Ban Tổ Chức: LS Nguyễn Thanh Phong Chủ Tịch CĐNVQY/NY.

Điều Hợp Tổng Quát: Ô. Nguyễn Văn Tánh Cựu Chủ Tịch CĐNVQG/HK.

Đồng Trưởng Ban Tổ Chức:

– Ô. Đoàn Hữu Định:  Chủ Tịch Cộng Đồng MD & VA và DC

– Ô. Cao Xuân Khải: Chủ Tịch Cộng Đồng New Hampshire

– Ô. Nguyễn Thanh Bình: Chủ Tịch Cộng Đồng Massachusetts

– Ông Trần Văn Giỏi: Chủ Tịch Cộng Đồng Connecticut

– DS Nguyễn Đức Nhiệm: Chủ Tịch Cộng Đồng Pennsylvania

– Ông Lưu Văn Tươi: Chủ Tịch Cộng Đồng TB/Florida

– Ô. Trần Quán Niệm: Chủ Tịch Cộng Đồng Nam New Jersey

– Ô. Vũ Trực: Chủ Tịch Cộng Đồng Philadelphia, PA

– Cô Lê Ánh Nguyệt: Chủ Tịch CĐ Việt Nam Tự Do New Jersey

 

Thành Viên Ban Điều Hợp:

Đặc Trách Truyền Thông:   Ô. Nguyễn Đình Toàn – Phó Ban Điều Hành: Cô Tara Thu &

Ô. Lê Thanh Diệu – Thủ Qũy:  Ô. Nguyễn Sơn Hà.

Những điều cần biết về cuộc xung đột Biển Đông

Tuesday, June 9th, 2015

By William Johnson 09 tháng 6 năm 2015

(Theo Reuters)

An aerial photo taken though a glass window of a Philippine military plane shows the alleged on-going land reclamation by China on mischief reef in the Spratly Islands

Không ảnh chụp từ cửa sổ một máy bay quân sự Philippines cho thấy sự bồi đất của Trung Quốc trên các bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa Biển Đông, phía tây Palawan, Philippines, ngày 11 tháng 5, năm 2015. REUTERS / Ritchie B. Tongo / Pool

  1. Biển Đông (biển Nam Hải) là của ai?

Yêu sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là dựa vào lịch sử, dựa ;vào những ghi nhận từ các triều đại Xia và Han. Trung Quốc mô tả những yêu sách của mình trên Biển Đông qua đường chín đoạn (được gọi là đường lưỡi bò), mà Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai Shek)đã vẽ ra vào năm 1947. Trong thời kỳ của nước cộng hòa Trung Quốc (Trung Hoa Quốc Gia), Trung Quốc đã khảo sát, lập bản đồ và đặt tên cho 291 hòn đảo và rạng san hô trong khu vực.

Hoa Kỳ thì cho rằng Biển Đông là vùng biển quốc tế, và chủ quyền trong khu vực cần được xác định bởi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS). Theo UNCLOS, một nước không thể tuyên bố chủ quyền đối với bất kỳ khối lượng đất bị ngập nước khi thủy triều lên, hoặc bị ngập nước trước đây nhưng được nâng cao trên mức thủy triều bằng cách xây đắp nhân tạo.

In pictures: Disputes in the South China Sea

Members of Bayan Muna (Country First) Party List group display placards during a picket rally over territorial dispute with China in South China Sea, outside the Chinese Consulate in Makati

Các thành viên của Philippine Bayan Muna (Country First) Đảng Danh sách hiển thị nhóm băng-rôn trong một cuộc biểu tình đình công trên tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông, bên ngoài Lãnh sự quán Trung Quốc ở Makati, Manila ngày 17 tháng 4, 2015. REUTERS / Erik De Castro

  1. Tại sao Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông?

Nếu kiểm soát được Biển Đông Trung Quốc sẽ thống trị tuyến đường thương mại chính mà hầu hết lượng dầu nhập khẩu của TC sẽ đi ngang qua. Nó cũng sẽ cho phép Trung Quốc ngăn cản hoặc  hoặc đe dọa làm gián đoạn sự vận chuyển hàng hóa thương mại cho các nước Đông Á và Đông Nam Á – cũng như ngăn cấm các lực lượng quân sự nước ngoài, đặc biệt là của Hoa Kỳ xâm nhập vào vùng này.

Đáy của Biển Đông có thể chứa trữ lượng lớn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. Giữ chủ quyền trên Biển Đông có thể cung cấp cho Trung Quốc mức độ an toàn và độc lập về năng lượng vượt xa những gì mà họ đang sở hữu.

Taiwan Coast Guard patrol ships and helicopters from National Airborne Service Corps are seen during a drill held about 4 nautical miles out of the port of Kaohsiung, southern Taiwan

Tàu tuần tra Cảnh sát biển Đài Loan và máy bay trực thăng từ National Airborne Corps Dịch vụ của nó được nhìn thấy trong một cuộc diễn tập được tổ chức khoảng 4 hải lý ra khỏi cảng Cao Hùng, miền nam Đài Loan, tháng 6, năm 2015. REUTERS / Pichi Chuang

  1. Ai đã xây cất và xây những gì?

Việc xây dựng đảo ở biển Nam Trung Hoa, và xây cất trên các hòn đảo hiện có, đã diễn ra trong nhiều thập kỷ qua chủ yếu là từ Việt Nam (với 21 đảo) và Philippines với tám hòn đảo. Việt Nam, Đài Loan và Philippines đã có lực lượng quân sự trên một số hòn đảo của họ, nhưng Việt Nam vì tôn trọng quy định của UNCLOS, đã không đưa quân đội vào những nơi mà họ coi là “đảo nổi” (bao gồm các bãi cát ngập nước, rạng san hô và các khối đất khác).

Trung Quốc đã đến sau và chơi trò “xây cất đảo”, nhưng với một quy mô rộng lớn chưa từng thấy trong khu vực. Trong 18 tháng qua, Trung Quốc được cho là đã xây đắp nhiều đảo mới với diện tích lớn gấp bội so với bề mặt các đảo của tất cả các quốc gia khác đã xây trong suốt lịch sử. Không giống như các nước khác, Trung Quốc trong một thời gian ngắn đã thiết lập trang thiết bị quân sự trên một trong những hòn đảo nhân tạo của họ, các viên chức của họ còn nói rằng chính phủ của họ có kế hoạch làm thêm các công việc xây dựng đó. Quan trọng hơn cả, chỉ có Trung Quốc mới có đủ tàu bè quân sự hiện đại để bảo vệ những yêu sách của mình.

In pictures: Construction in the South China Sea

Still image from a United States Navy video purportedly shows Chinese dredging vessels in the waters around Fiery Cross Reef in the disputed Spratly Islands

the United States Navy, May 21, 2015. REUTERS/U.S. Navy/Handout via Reuters

Xây dựng ở Biển Đông: Tàu nạo vét Trung Quốc được thấy trong các vùng nước xung quanh Fiery Cross Reef trong quần đảo Trường Sa đang tranh chấp trên Biển Đông từ video được thực hiện bởi một máy bay do thám P-8A Poseidon và cung cấp bởi Hải quân Hoa Kỳ, ngày 21 tháng năm năm 2015 . REUTERS / US Hải quân / Handout qua Reuters

  1. Phản ứng của Hoa Kỳ trong vụ tranh chấp như thế nào?

Hoa Kỳ hầu như không có phản ứng nào về những xây cất trước đó của các nước Đông Nam Á ở Biển Đông, nhưng họ đã quyết liệt phản đối những nỗ lực của Trung Quốc. Hải quân Mỹ đã thường xuyên di chuyển trong khu vực này kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai và theo Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter thì Hoa Kỳ có ý định vẫn tiếp tục làm như vậy.

 

Hoa Kỳ sẽ xử dụng máy bay và tàu hải quân để bảo đảm sự tự do hàng hải trong khu vực, được chứng minh bằng sự hiện diện gần đây của chiến hạm USS Fort Worth và các chuyến bay trinh sát  Hải quân Mỹ P-8 Poseidon qua vùng Trung Quốc đang xây cất Fiery Reef.

Ngoài sự di chuyển tự do, Hoa Kỳ còn tập trung củng cố các đồng minh trong khu vực bằng cách sẽ giúp tăng cường khả năng thu thập thông tin tình báo và giám sát của các quốc gia đồng minh và cung cấp cho họ các thiết bị quân sự cập nhật để chống lại lợi thế kỹ thuật của Trung Quốc cả về số lượng và chất lượng. (Nước Philippines, quốc gia nhận viện trợ quân sự và huấn luyện của Mỹ kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, đang còn thiếu các thiết bị quân sự, họ chỉ có hai tàu Duyên Hải rất cũ kỹ của Hoa Kỳ để đối phó với sự xâm lấn của Trung Quốc.)

Nhật Bản đã phối hợp chặt chẽ với Hoa Kỳ cung cấp các thiết bị quân sự cho Philippines và Việt Nam.

Members of Philippine marines are transported on rubber boat from patrol ship after conducting mission on disputed Second Thomas Shoal as they make way to naval forces camp in Palawan

Các thành viên của thủy quân lục chiến Philippines được vận chuyển trên một chiếc thuyền cao su từ một tàu tuần tra sau khi tiến hành một nhiệm vụ trên các tranh chấp Second Thomas Shoal, một phần của quần đảo Trường Sa ở Biển Đông, trên đường đi đến một trại ở tỉnh Palawan, phía tây nam Philippines, 31 tháng 3, năm 2014. REUTERS / Erik De Castro

  1. Thế giới mong đợi gì kế tiếp?

Cuộc tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể leo thang tới mức độ nào. Viên chỉ huy Hạm Đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đang chuẩn bị lập kế hoạch di chuyển tàu và bay trong vòng 12 hải lý khu vực mà Trung Quốc tuyên bố là có chủ quyền lãnh thổ. Tàu USS Fort Worth và một máy bay do thám P-8 đã hoạt động gần đó, và Trung Quốc đã phản đối nhưng nó đã không có hành động thù địch.

Tuy nhiên, Trung Quốc tuyên bố rằng họ sẽ bảo vệ những gì mà họ cho là thuộc biên giới lãnh thổ của họ. Nếu Trung Quốc nhắm mắt (làm ngơ), Đảng Cộng sản TQ có thể bị mất mặt và tạo vấn đề ở trong nước. Nếu Hoa Kỳ nhượng bộ, Hoa Kỳ có nguy cơ tạo ấn tượng xấu đối với các đối tác của mình và  đồng minh, rằng Hoa Kỳ đã thiếu sự giải quyết chính sách như ở Trung Đông, Iraq và Ukraine.

Nguy cơ rất cao cho cả hai bên nếu có sự rùi ro tính toán sai lầm. Hoa Kỳ giữ một vai trò (bảo vệ) đối với các đồng minh lớn trong khu vực, với hy vọng rằng sức mạnh hỗn hợp của Mỹ, Nhật Bản và của Úc sẽ khiến Trung Quốc phải dừng bước.

Theo: Reuters

http://blogs.reuters.com/great-debate/2015/06/09/everything-you-need-to-know-about-the-south-china-sea-conflict-in-under-five-minutes/

U.S. Secretary of State Kerry speaks with Chinese Premier Li at the Zhongnanhai Leadership Compound in Beijing

Ngoại trưởng John Kerry nói chuyện với Thủ Tướng Li Keqiang tại sảnh đường Zhongnahai ở Bắc Kinh, ngày May 16, 2015. Reuters

Tin Tức ngày 24/5/2015

Sunday, May 24th, 2015

Mỹ cân nhắc tiến vào vùng 12 hải lý quanh các đảo tranh chấp ở Biển Đông

 Ảnh chiến trường đưa người Mỹ trở lại Chiến tranh VN

Trung Quốc: Mỹ có thể gây tai nạn ở biển Đông

Mỹ cáo buộc giáo sư vật lý đưa công nghệ nhạy cảm cho Trung Quốc

Chỉ huy hàng đầu của phiến quân Ukraine thân Nga thiệt mạng

‘Tổng thư ký LHQ phải thúc đẩy nhân quyền Việt Nam’

Mỹ: Muốn vào TPP, Việt Nam phải cải thiện nhân quyền trước

Báo Việt Nam rút bài từ bỏ hội nhà văn?

Việt Nam học hỏi kinh nghiệm đổ bộ từ Mỹ

Thượng đỉnh Riga : Châu Âu và 6 nước Liên Xô cũ tránh căng thẳng với Nga

Thái Lan : Luật về tội khi quân trờ thành vũ khí đàn áp

Mỹ-Nga hạ nhiệt xung khắc vì tình hình thế giới nóng bỏng

Đối đầu Mỹ – Trung trên không phận Biển Đông

Công nghiệp buôn người tại Đông Nam Á

Tập trận Nga-Trung ở Địa Trung Hải thể hiện tham vọng trên biển của Bắc Kinh

Washington không để Bắc Kinh thao túng tại Biển Đông

Kẻ xấu đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam

Monday, March 30th, 2015

The ALM

Tác giả: Uwe Siemon-Netto

Người dịch: Trần Văn Minh

01-12-2013

H1Một phụ nữ Việt đang than khóc bên cạnh xác chồng, được tìm thấy trong số 47 người khác tại một ngôi mộ tập thể gần Huế. Ảnh Corbis

Vào lúc cao điểm của chiến tranh Việt Nam, Ralph White đã tìm cách gia nhập Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ nhưng bị từ chối vì mắt bị chấn thương khi chơi tennis trước đó. Tuy nhiên, khi cuộc chiến đầy biến động gần tới hồi kết thúc hồi tháng 4 năm 1975, ông White khi ấy 27 tuổi, đang ở Sài Gòn, đã làm đúng với phương châm người lính thủy quân lục chiến “luôn luôn trung thành” – chỉ với phương cách dân sự.

Bằng cách khuyến dụ, thuyết phục và khéo léo qua mặt các thủ tục hành chánh, White đã tìm được một phương cách tuyệt vời để cứu thoát 112 nhân viên Việt Nam của Ngân hàng Chase National Bank và những người gia đình của họ: ông chỉ đơn giản nhận bảo trợ tất cả những người đó, trước sự chứng kiến của các thẩm phán Mỹ đang làm nhiệm vụ khẩn cấp tại sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Trong khi đối mặt với thất bại sắp xảy ra của đồng minh Hoa Kỳ là người Việt ở miền Nam, người công dân Mỹ này đã đạt được một chiến thắng tuy nhỏ bé nhưng thật nổi bật.

Bốn ngày sau đó, vào ngày 30 tháng 4, xe tăng T-54 của Liên Xô đã hoàn tất cuộc chinh phục của cộng sản đối với miền Nam Việt Nam bằng cách cán qua cổng rào của dinh tổng thống ở Sài Gòn. Ở bên trong, Tổng thống miền Nam, Việt Nam là ông Dương Văn Minh (Big Minh) đề nghị chuyển giao quyền hành. Đại tá Bắc Việt Bùi Tín trả lời: “Không có chuyện chuyển giao quyền lực… Ông không thể chuyển giao cái mà ông không có”.

Đối với tôi, một người Đức, những lời này nghe có vẻ giống các điều khoản của Đồng Minh áp đặt lên đất nước chúng tôi năm 1945, khi tôi còn là một đứa trẻ: đầu hàng vô điều kiện. Sự trớ trêu là trong khi vào cuối Đệ Nhị Thế chiến, một chính phủ rõ ràng là độc ác đã bị buộc phải đầu hàng theo cách này, thì điều trái ngược lại xảy ra 30 năm sau ở Sài Gòn: một chế độ độc tài toàn trị với các đặc điểm vô nhân đạo đến tận cùng đã uy hiếp một đối thủ nhân đạo hơn nhiều – mặc dù có những khuyết điểm – vào tình thế đầu hàng vô điều kiện, và được thế giới hoan hô.

Sau thời gian tường thuật về Việt Nam cho một nhà xuất bản lớn nhất của Tây Đức trong khoảng thời gian 5 năm, tôi kết luận rằng: kẻ xấu đã thắng. Không có lý do để vui mừng. Tuy nhiên, khi Tổng thống Gerald Ford tuyên bố tại Đại học Tulane ở New Orleans rằng chiến tranh Việt Nam “đã chấm dứt, ít nhất là đối với Hoa Kỳ”, một tuần trước khi miền Nam, Việt Nam cuối cùng đã bị tiêu diệt, ông đã nhận được sự hoan hô nồng nhiệt.

Đáng lẽ ra các phản ứng này nên được kềm lại trước số phận tăm tối của số lượng lớn những người Việt bị chuyển giao. Đối với họ, hành trình tử nạn thực sự chỉ mới bắt đầu với chiến thắng của cộng sản. Khoảng từ 200.000 tới 400.000 người đã bị chết chìm trong khi chạy trốn khỏi đất nước của họ trên những chiếc thuyền đánh cá và thuyền chắp vá tạm bợ, theo Cao ủy LHQ về người tị nạn. Khoảng 65.000 người đã bị hành quyết. Một triệu người bị đẩy vào các trại tập trung, ở đó, 165.000 người bị tra tấn hay bị bỏ đói đến chết. Trong số những người bị giết gồm có 30.000 người trong danh sách tình báo viên của CIA bị sót lại tại tòa đại sứ, theo tường trình của National Review.

Tính theo tỷ lệ, Ralph White thành công vượt trội so với chính phủ Hoa Kỳ: anh đã đem được tất cả người của mình ra, như đã dự tính khi anh tình nguyện chuyển từ Bangkok đến Sài Gòn để làm quyền tổng giám đốc cho chi nhánh Chase ở Việt Nam hai tuần trước khi Sài Gòn thất thủ. Trong báo cáo với cấp trên của mình tại Chase sau này, ông viết rằng “việc duy trì mối liên lạc giữa ngân hàng Mỹ và tòa đại sứ để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong kế hoạch di tản” là “mục đích duy nhất” cho sứ mạng của anh.

“Đọc lại báo cáo của mình làm cho tôi khá tự hào về người đàn ông 27 tuổi này,” Ông White, người bây giờ là một nhà văn ở Litchfield, Connecticut cho biết.

Gần bốn thập niên sau sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, tôi gặp một câu chuyện cảm động về một công dân Mỹ dũng cảm và trung thành với những giá trị của mình như bất cứ người lính nghiêm chỉnh nào. Patricia Palermo là một cô gái tiếp viên hàng không tóc vàng của hãng máy bay Pan Am từ Nebraska, tình nguyện làm tiếp viên trưởng cho các chuyến bay liên tục từ Guam đến Sài Gòn, đưa “những chàng trai trẻ má hồng và tinh thần phấn khởi” ra mặt trận, như cô nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. “Khi tôi thấy họ một lần nữa 12 tháng sau đó, họ trông giống như những người đàn ông 50 tuổi. Nhiều người bị thương và tàn phế, một số bị đánh thuốc mê. Họ không được phép lên máy bay cho đến khi sau những ‘người trở về’ khác đã được xếp vào khoang hàng hóa – những người nằm trong quan tài kẽm”.

Palermo hiện đang sống ở New York, cho biết trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại rằng bà bị tác động tình cảm dữ dội về các chuyến bay này đến nỗi bà đã loại ra khỏi tâm trí của mình cho đến năm 1980, khi bà xem trên truyền hình về tường thuật trực tiếp cuộc diễu hành đầu tiên vinh danh các cựu chiến binh Việt Nam. “Tôi lập tức lao ra khỏi nhà và cùng tham gia”, bà nhớ lại.

Phần đáng ghi nhớ nhất trong sự nghiệp hàng không của mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi Pan Am đem ít nhất 2.000 trẻ sơ sinh, hầu hết là người Mỹ gốc Á đang chờ được nhận làm con nuôi ở Hoa Kỳ, ra khỏi Sài Gòn. “Chúng tôi không được phép rời khỏi máy bay vì hỏa lực địch, nhưng chúng tôi có thể thấy một số bà mẹ tuyệt vọng ném con em của họ qua hàng rào tại Tân Sơn Nhất để được phi hành đoàn chúng tôi đưa đến nơi an toàn. Tôi nhớ một ai đó đưa cho tôi hai em bé giấu trong một cái giỏ. Một lần tôi đếm được hơn 400 trẻ sơ sinh trên chiếc máy bay Boeing 747 của chúng tôi. Trẻ sơ sinh ở khắp mọi nơi, ngay cả trong các ngăn để hành lý phía trên chỗ ngồi, và chúng nó rất yên lặng, luôn luôn yên lặng…. “

Tôi đã chứng kiến sự sụp đổ của Sài Gòn trên truyền hình trong căn chung cư của tôi ở Paris với nỗi đau buồn và tức giận vô cùng. Tôi ngạc nhiên trước việc thi hành hoàn hảo Chiến dịch Gió lốc, đã di tản 1.373 người Mỹ cuối cùng, cộng với 5.595 người Việt Nam và người các nước khác, chủ yếu bằng máy bay trực thăng từ một bãi đáp trên nóc nhà của văn phòng tùy viên quân sự ở Tòa Đại sứ Mỹ ngày 29 và 30 tháng 4. Tôi đã ở đó bảy năm trước trong dịp Tết Mậu Thân và theo dõi từ bên kia đường cuộc tấn công bị đánh bại của cộng sản vào Tòa Đại sứ. Bây giờ họ sắp sửa chiến thắng; vì thế tôi đau buồn.

Tuy nhiên, cơn giận của tôi chủ yếu hướng về các sinh viên và trí thức, những người cổ vũ chiến thắng của cộng sản là một hành động giải phóng. Họ hành xử như thế ở khắp mọi nơi: bên kia sông Seine ở Bờ trái; ở đất nước của tôi, Tây Đức; và ở Hoa Kỳ. Chứng kiến một biển cờ Việt Cộngmàu xanh đỏ trên TV làm cho tôi cảm thấy muốn mửa, bởi vì đối với tôi, những màu sắc này tiêu biểu cho các vụ thảm sát tàn khốc mà tôi đã chứng kiến ở Việt Nam.

Chẳng hạn như, một đêm ở Tây Nguyên, tôi đã tình cờ gặp những xác chết bị chặt chân tay của một ông xã trưởng, vợ ông và 12 đứa con của họ, tất cả đã bị các tay sai cộng sản tra tấn. Theo như những người dân làng nói với tôi, gia đình đó đã bị giết chết bởi vì ông xã trưởng vẫn trung thành với chính quyền Sài Gòn. Đó là vào năm 1965. Trong năm 1967 là năm bầu cử, Việt Cộng đã thi hành ít nhất 100.000 hành vi khủng bố như thế chống lại dân thường để ngăn cản họ không đi bỏ phiếu.

Khi xướng ngôn viên Pháp thông báo sự kết thúc của miền Nam Việt Nam, tự nhiên tôi với lấy một cuốn sách nằm trên bàn cạnh giường ngủ của tôi ở khách sạn Continental Palace ở Sài Gòn và tôi mang theo tới Paris: “Hai nước Việt Nam”. Tôi đã từng gặp tác giả cuốn sách, nhà khoa học chính trị Pháp Bernard B. Fall, nhiều lần ở Sài Gòn và Washington trước khi ông bị giết bởi một quả mìn Việt Cộng. Đối với tôi, ông là một trong những chuyên gia sắc bén nhất về Đông Dương. Một đoạn trong cuốn sách của ông đã ám ảnh tôi từ đó đến giờ. Fall trích lời một chiến lược gia chủ yếu của Bắc Việt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã qua đời ngày 4 tháng 10 [năm 2013] ở tuổi 102, nói với các chính ủy của một trong những sư đoàn của ông: “Kẻ thù (có nghĩa là phương Tây) … không có… các phương tiện tâm lý và chính trị để chống lại một cuộc chiến tranh kéo dài”.

Giáp chưa bao giờ nghi ngờ khả năng quân sự của Mỹ, nhưng tin rằng ông đã tìm thấy gót chân Asin của hệ thống dân chủ, như Fall giải thích: “Trong tất cả các khả năng, Giáp kết luận, công luận trong các nền dân chủ sẽ đòi hỏi chấm dứt sự ‘đổ máu vô ích’, hay cơ quan lập pháp của họ sẽ yêu cầu được biết trong bao lâu nữa họ sẽ phải bỏ phiếu gia tăng không ngừng tín dụng khi không có một chiến thắng rõ ràng trước mặt. Đây là những điều luôn luôn bắt ép các nhà lãnh đạo quân sự của các quân đội dân chủ phải hứa hẹn một kết thúc nhanh chóng cho cuộc chiến – để ‘đưa các chàng trai về nhà vào dịp Giáng sinh’ – hoặc buộc các chính trị gia dân chủ phải đồng ý với hầu hết các loại thỏa hiệp nhục nhã, thay vì chấp nhận ý tưởng về chiến dịch chống du kích bán thường trực”.

Phải chăng sự thể thảm khốc này nảy sinh từ thất bại của Washington trong việc đáp trả, như đã hứa, “với lực lượng quân sự đáng kể” đối với bất kỳ vi phạm nào của Bắc Việt trong việc thi hành Hiệp Định Paris 1973, tôi tự hỏi? Hiệp định đã cho phép Hà Nội giữ lại 80.000 quân chính quy ở miền Nam, nhưng không có gì xảy ra khi con số đó tăng lên đến 200.000. Khi thảm kịch Việt Nam diễn ra quá tàn khốc, tôi cũng tự hỏi làm thế nào chúng tôi trong giới truyền thông, bao gồm đại đa số trong chúng tôi không đứng về phía Việt Cộng (một cách công khai hay âm thầm), đã không làm cho độc giả của chúng tôi nhận ra những bằng chứng không thể chối cãi nhất, rằng hầu hết người dân miền Nam không bao giờ ủng hộ cộng sản: từ đầu, chúng tôi, các phóng viên, đã nhìn thấy họ chạy trốn Việt Cộng.

Họ chạy trốn không phải vượt qua sông Bến Hải vào Bắc Việt, cũng không vào cái gọi là vùng giải phóng – “giải phóng” bởi những người cộng sản. Cho đến cuối cùng, những người tị nạn đổ xô về phần thu hẹp của đất nước dưới quyền kiểm soát của Sài Gòn; 2 triệu người đổ vào thành phố Đà Nẵng. Những con đường về Sài Gòn đã quá đông đúc với những gia đình chạy trốn đến nỗi làm chậm lại bước tiến quân của Bắc Việt, và khi mọi chuyện lắng dịu, “thuyền nhân” không những ra đi từ phía Nam với số lượng khổng lồ mà còn từ các cửa khẩu phía Bắc. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam có một cuộc di cư hàng loạt khỏi đất nước như vậy – không phải trong những ngày dưới quyền Trung Hoa, Pháp hay Mỹ.Và điều này được cho là giải phóng? Bằng cách nào đó, lúc đó tôi nghi ngờ và bây giờ đã tin, lối lập luận đó là một trong những thiệt hại của chiến tranh Việt Nam. Và cũng như sự trung thực trí thức.

Một hình ảnh lóe sáng trên màn hình TV ở Paris đã ghi khắc trong tôi nhiều thập niên vì đã đâm sâu vào suy tư của tôi. Hình ảnh cho thấy Phó Tổng thống Miền Nam Nguyễn Cao Kỳ đang cầm lái chiếc trực thăng UH-1A (Huey) hạ cánh trên boong của hàng không mẫu hạm USS Midway. Tôi đã được biết ông Kỳ khá rõ và thích ông. Đúng thế, ông là tướng lãnh hào nhoáng của Không lực Việt Nam, một con công như nhiều nhà quân sự trong suốt lịch sử. Nhưng ông không phải là anh hề quanh co như thường được mô tả.

Sáu năm trước, tháng 5 năm 1969, Kỳ và tôi đã đi du hành với nhau từ Paris đến vào Sài Gòn, nơi tôi làm phóng sự về các cuộc đàm phán hòa bình của Việt Nam và ông dẫn đầu đoàn đại biểu Sài Gòn. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi lủng củng một cách bất thường, có lẽ bởi vì cả hai chúng tôi biết rằng mọi chuyện đã không diễn ra tốt đẹp ở Paris cho phía của ông; rõ ràng là một nhận thức sai lầm ở Hoa Kỳ và các nơi khác về Tết Mậu Thân năm 1968 đã phá vỡ ý chí của Mỹ để mang cuộc xung đột này đến một kết luận chiến thắng.

“Nhưng chúng tôi đã thắng vào dịp Tết!” Kỳ nổi giận. “Tại sao người Mỹ nghĩ khác đi?”

Tôi trả lời: “Tôi biết, thưa Thiếu tướng, tôi ở Huế trong thời gian ông giành chiến thắng. Nhưng công chúng tại Hoa Kỳ và Âu châu đã nhận được thông tin khác nhau”.

Tại Huế, tôi đã đứng bên mép một ngôi mộ tập thể, chứa thi thể của ít nhất 1.000 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị những người cộng sản tàn sát. Một nhóm truyền hình Mỹ lảng vảng quanh hiện trường một cách vô định. “Tại sao bạn không quay phim cảnh này?” Đồng nghiệp của tôi, Peter Braestrup, báo The Washington Post, hỏi họ. Người quay phim của họ trả lời: “Chúng tôi đến đây không phải để tuyên truyền chống cộng sản”.

Tôi đã nói với Kỳ điều này, và ông ta đã không bình luận. Ông ta biết tôi biết rằng chiến thắng quân sự của Mỹ và VNCH vào dịp Tết đã bị biến thành một thất bại chính trị khi Walter Cronkite tuyên bố chiến tranh không thể thắng trên CBS trong một chuyến thăm ngắn sau Tết. Điều này trái ngược hẳn với những gì nhiều người trong chúng tôi, phóng viên chiến trường, đã chứng kiến và tường thuật từ Huế. “Nếu tôi mất Cronkite, tôi mất Trung Mỹ”, Tổng thống Lyndon B. Johnson được cho là đã nói như thế. Tôi chia sẻ cảm giác mất mát của Tổng thống và không bao giờ tha thứ thần tượng Cronkite về hành động bất cẩn báo chí của ông.

Ông Kỳ nhìn chằm chằm vào cánh cửa dẫn đến buồng lái của chiếc máy bay Air France.

“Tại sao ông cứ nhìn vào đó?” Tôi hỏi ông.

“Tôi chỉ muốn trở lại làm một phi công,” ông nói khẽ.

Cuộc chạy thoát của ông đến Midway bằng chiếc Huey đánh dấu sự nghiệp bay của ông kết thúc.

Một vài năm trước đây, tôi dạy một lớp báo chí cao cấp tại Đại học Concordia, Irvine, California. Chúng tôi tập trung vào cộng đồng tị nạn người Việt lớn mạnh và thành công tại Quận Cam. Sinh viên Kellie Kotraba, bây giờ là một nhà báo thành công ở Missouri, đã xem qua nghiên cứu của một nhóm gồm tám nhà nghiên cứu nổi tiếng dẫn đầu bởi bác sĩ tâm thần Richard F. Mollica của đại học Harvard, có tiêu đề “Sự bất thường cơ cấu não bộ và di chứng sức khỏe tâm thần nơi những cựu tù nhân chính trị miền Nam Việt Nam, những người đã sống sót sau chấn thương đầu và tra tấn”.

Nghiên cứu, được Hiệp hội Y khoa Mỹ công bố, cho thấy hàng ngàn tù nhân chính trị trước đây hiện đang sống tại Hoa Kỳ vẫn phải chịu đựng nặng nề từ hậu quả của tra tấn gây ra cho họ trong thời gian bị giam cầm nhiều thập niên trước đây. “Phải trên 100.000 người như họ,” Mollica nói với Kotraba, người sau đó đã yêu cầu Tòa Đại sứ Việt Nam tại Washington bình luận. Cô nhận được một lời từ chối qua điện thư từ tùy viên báo chí của Tòa Đại sứ, Tùng Phạm, với lời lẽ: “Thông tin nói rằng các tù nhân của trại cải tạo (sic) đã (sic) bị tra tấn là hoàn toàn không đúng sự thật”.

Chuyện này chẳng có gì lạ. Đáng ngạc nhiên hơn là một thực tế rằng các nghiên cứu của Mollica ít được chú ý trong giới truyền thông Mỹ khi nghiên cứu được công bố năm 2009, và khi tôi cung cấp những câu chuyện hấp dẫn của Kotraba cho nhiều nhà xuất bản, các biên tập viên của họ không mấy thích thú.

Tôi tự hỏi: tại sao các biên tập viên Mỹ làm ngơ trước thông tin về sự khổ đau ở quy mô lớn như vậy đang xảy ra, hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam? Có một sự tương đồng mạnh mẽ giữa những gì đã xảy ra ở một số trong 300 ngục tù cộng sản ở Việt Nam với các trại tập trung ở vùng chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Âu châu. Tôi vừa đọc xong một bản dịch tiếng Pháp về trường hợp của Cha Andrew Nguyễn Hữu Lễ, một linh mục Công giáo hiện đang sống ở New Zealand, về 13 năm của cha trong điều kiện giam giữ của cộng sản, 2.020 ngày cha trải qua trong cùm sắt – gây ra những vết thương mưng mủ với giòi bọ nảy nở.

Trong “Je dois vivre” (“Tôi phải sống”), Lễ mô tả chi tiết khủng khiếp như thế nào về bạn tù Đặng Văn Tiếp, một cựu đại úy quân đội VNCH và là thành viên của Quốc hội, đã bị giết chết trong sự vui mừng của đám đông quan chức cộng sản và vợ con họ hò hét đầy phấn khích. Ông bị bắt buộc phải uống một lượng lớn nước. Sau đó, tù nhân tay sai Bùi Đình Thi, cai tù tàn bạo nhất trong trại tù Thanh Cẩm, nhảy lên bụng của Tiệp cho đến khi nổ tung và ruột đổ ra ngoài. Tiệp chết.

Thi từng là một đại úy trong quân đội VNCH. Kẻ bị giam cầm tại Thanh Cam gọi ông là “Kapo”, một thuật ngữ được sử dụng cho những “kẻ được tin dùng” trong các trại tập trung của Đức Quốc xã. Giống như một số cựu Kapo Đức Quốc xã, ông đã tới Hoa Kỳ. Ông đã bị phát hiện tại Garden Grove, California, bị bắt giữ và bị trục xuất. Theo tin tức sau cùng, ông sống ở quần đảo Marshall.

Trong cuốn sách của mình, Lễ mô tả các nỗi ám ảnh thường xuyên của ông, trong đó gồm đau bụng dữ dội. Nỗi ám ảnh là một triệu chứng mà nhiều cựu chiến binh Mỹ biết quá rõ. Khi tôi làm việc với vai trò tuyên úy tập sự trong số những người này tại các trung tâm y tế Cựu Chiến binh ở St. Cloud, Minnesota, Tôi đã gặp một người làm bánh từ St. Paul, ông có cơn ác mộng cứ tái diễn. Mỗi ngày, ông mơ màng về một sự kiện gần Đà Nẵng. Ông đang ngồi ở ghế sau của một chiếc xe tải quân sự và thấy một cậu bé kéo chốt một quả lựu đạn, sẵn sàng liệng vào xe tải, có lẽ sẽ giết chết toàn bộ tiểu đội.

Người lính đã giết đứa trẻ. Nhưng rồi, đêm đêm, ông nhìn thấy khuôn mặt méo mó của cậu bé đã chết. “Đứa bé ấy khoảng 8 tuổi,” người cựu chiến binh nói, “bây giờ tôi có con sinh đôi và trong giấc mơ của tôi, khuôn mặt của đứa trẻ khoác lên hình ảnh con tôi”. Đây là một trong những câu chuyện buồn nhất tôi được nghe trong thời gian tập sự của tôi, đó là một phần của giáo dục thần học mà tôi đã bắt đầu vào khoảng giữa đời, có lẽ để trả lời cho những kinh nghiệm làm phóng viên ở Việt Nam.

Nhưng có điều gì đó tồi tệ hơn mà tôi tìm thấy trong số những cựu chiến binh Việt Nam: hầu hết mỗi thành viên của ba nhóm chăm sóc mục vụ mà tôi hướng dẫn, cùng với một nhà tâm lý học, đã bị xem là một kẻ sát hại trẻ em trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi từ giã chiến tranh. Một người thậm chí còn được yêu cầu không trở lại nhà thờ cho đến khi tóc của ông mọc trở lại, và xin xuất hiện trong bộ quần áo dân sự.

Hầu hết những người trong nhóm của tôi tin vào Thiên Chúa, nhưng nghĩ rằng Chúa đã bỏ rơi họ ở Việt Nam. Vì vậy, họ đã “quẳng Chúa đi”, theo kiểu họ gọi. Tôi đã viết một luận án thần học cho các cựu chiến binh Việt Nam với tựa đề “Sự tha thứ của Chúa”, nhắc nhở họ về cái nhìn sâu sắc của nhà thần học tử đạo người Đức Dietrich Bonhoeffer. Ông nói rằng loài người được kêu gọi để “chịu đau khổ với Chúa trong một thế giới vô thần”, mà trong trường hợp của họ hàm ý Chúa đang đau khổ với họ và luôn hiện diện với họ trong đau khổ – cả ở Việt Nam và sau khi họ trở về. Vì vậy, Chúa không bỏ rơi họ nhưng là người cùng chịu đau khổ với họ. Nhiều người trong số bệnh nhân tìm thấy ý nghĩ này hấp dẫn.

Cho đến hôm nay, tôi nghe các cựu chiến binh Việt Nam hỏi: “Phải chăng sự hy sinh của chúng ta vô ích?” Là một phóng viên chiến trường lớn tuổi, tôi không thể trả lời câu hỏi này một cách sáng tỏ. Nhưng là một nhà thần học tôi có câu trả lời. Trong bài tiểu luận nổi tiếng, “Ngay cả binh lính cũng có thể được giải thoát”, Martin Luther so sánh công việc của binh sĩ với bác sĩ giải phẫu, có thể phải cắt bỏ chân tay của bệnh nhân để cứu các phần còn lại của cơ thể. Thông thường bệnh nhân chết trong vài ngày hoặc vài tháng sau khi phẫu thuật. Nhưng liệu điều này có nghĩa là ca giải phẫu vô ích?

Là một phóng viên chiến trường, tôi thấy đại đa số các binh sĩ Mỹ và Việt Nam tận tình với công việc phục vụ người khác. Kẻ xấu đã thắng; điều này là sự thật. Là một nhà thần học, tôi phải nói thêm: con người không phải là chủ thể của lịch sử, và lịch sử luôn luôn rộng mở cho tương lai. Có thể sẽ mất nhiều thập niên nữa cho đến khi chúng ta nhìn thấy sự hy sinh của những người lính ở Việt Nam (thời xưa) đơm hoa kết trái và chế độ cộng sản biến mất, như các chế độ độc tài khác đã từng biến mất trong quá khứ. Có lẽ tới khi đó, thế giới sẽ khám phá ra rằng máu của người Mỹ và các đồng minh đổ ra ở Việt Nam trở thành hạt giống của một chiến thắng đặc biệt hơn chiến thắng mà họ đã bị từ chối ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tác phẩm mới nhất của Uwe Siemon-Netto là “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam”.

Nguồn: Anh Ba Sàm

Posted by adminbasam on 07/01/2015

30/4/1975 Biên Hòa đã không thất thủ

Monday, March 30th, 2015

Nguồn: http://tuxtini.com/2014/04/21/mot-tu-lieu-lich-su-3041975-bien-hoa-da-khong-that-thu/

(Huỳnh Minh Tú)

Một tư liệu lịch sử: 30/4/1975 Biên Hòa đã không thất thủ

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi - Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh.

Một tư liệu quý qua cuộc phỏng vấn Chuẩn tướng (1) Quân lực VNCH Trần Quang Khôi – chỉ huy Lữ đoàn 3 Kỵ binh có nhiệm vụ phòng thủ thành phố Biên Hòa vào những ngày cuối cuộc chiến 1975:

“Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Đặc biệt khi viết về Biên Hòa thì không có bên nào nói đúng. Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược số 1 của Miền Nam Việt Nam, phi trường Biên Hòa còn là nơi đặt bản doanh BTL/Quân đoàn III và Vùng III Chiến Thuật, đầu não của bộ máy quân sự miền Đông. Biên Hòa là cửa ngõ quan trọng bậc nhất ở phía Bắc thủ đô Sài Gòn. Để mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền Nam VN.


Nhưng cho đến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rõ về Biên Hòa trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho đến ngày hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng được phơi bày…” 

(Theo “Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi : 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam “ )

***

” Đã sang ngày 28 tháng 4, như Bộ chỉ huy chiến dịch thông báo, hầu hết các hướng phát triển thuận lợi, các binh đoàn chủ lực đã tới trước cửa ngõ Sài Gòn, Còn ở hướng đông, Quân đoàn 4 chúng tôi vẫn gặp phải khó khăn trong nhiệm vụ phát triển về hướng Biên Hoà, vì địch lập tại đây một tuyến phòng thủ và cũng tại đây “lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, địch cấu trúc các tuyến hào chống tăng  để chặn đối phương.

1510790_699727460048838_291856589_n

Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rải mìn chống tăng, đưa các xe tăng M.41, M.48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố, nhà dân, công sở, nhà thờ, trường học, bệnh viện thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hoả điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M.72 hoả tiễn chống tăng, súng máy 12,7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta. ” ( trích Hồi ký Hoàng Cầm ).

02_M113

***

Lữ đoàn 3 cùng Liên đoàn 33 Biệt động quân, Trung đoàn 8 Bộ binh – thuộc sư đoàn 5, cũng như Địa phương quân và Nghĩa quân Biên Hòa đã  chặn đứng cuộc tấn công vào Biên Hòa của quân đội Bắc Việt – Sư đoàn 341  do Thượng tướng Hoàng Cầm chỉ huy.  Họ đã đứng vững, bảo vệ thành công thành phố Biên Hòa đến ngày 30/04/1975.

04_M113

arvntqk3

Đến rạng sáng ngày 30/04/1975 quân đội  Bắc Việt rút lui bỏ Biên Hòa, đi đường vòng qua Biên Hòa để hợp quân đánh vào Sài Gòn. Chuẩn tướng Trần Quang Khôi đã quyết định chia Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn 3 thành ba cánh quân trong vòng trật tự, quân phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng rời thành phố Biên Hòa về giải cứu thủ đô Sài Gòn. Trên đường hành quân thì nghe lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Tổng thống Dương Văn Minh.

09_TGQLVNCH1975

Chiến Xa M-41 và Thiết Vận Xa M-113.

***

Theo Wikipedia tiếng Việt thì:

Ngày 29/4/1975 vào khoảng 18 giờ,địch quân bắt đầu xâm nhập vào vị trí từ Mạn Bắc và Ðông Bắc đụng phải Chiến Ðoàn 322 và 315 và bị đẩy lui. Tình hình sau đó trở nên khá yên tĩnh.Khoảng 23:45 giờ khuya: địch quân lại bắt đầu pháo kích dữ dội vào thành Phố Biên Hòa và đồng thời tập trung một lực lượng gồm bộ binh và chiến xa tấn công vào hướng Bộ Tư Lệnh QÐIII. Chiến Ðoàn 315 xông ra chặn địch và Cộng quân phải rút lui.Lúc 03:00 giờ sáng: địch lại pháo kích dữ dội và chính xác hơn vào TP Biên Hòa. Ðoàn chiến xa của địch vừa xuất hiện đã bị bắn hạ và chúng tháo chạy ngược ra xa lộ Biên Hòa. Kể từ đó, TP Biên Hòa lại trở lại yên tĩnh.

***

 Trước đó, cuộc lui binh rối loạn ở Vùng I Chiến Thuật miền Trung đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Ngoài ra, những tin tức về sự thất thủ chưa xác thực với tình hình chiến sự ở các thành phố lớn như Nha Trang, Đà Lạt…  của các đài nước ngoài như BBC cũng gây ảnh hưởng hoang mang không ít.

Đến khi Chuẩn tướng Trần Quang Khôi được tỵ nạn chính trị sang Hoa Kỳ sau 17 năm tù đày trong trại cải tạo CS, tướng lĩnh Mỹ mới biết sự thật rằng Biên Hòa không hề thất thủ.

Trong khi Liên Xô và Trung Quốc tăng cường viện trợ thêm nhiều khí tài tối tân cho đồng minh Cộng Sản của mình là quân đội Bắc Việt cho cuộc chiến Việt Nam, thì chính phủ Hoa Kỳ đã cắt giảm rất lớn và đột ngột viện trợ cho quân lực VNCH – sau khi đã rút hết quân đội Mỹ ra khỏi VN. Quân viện VNCH đã bị hạn chế đáng kể : ” Hồi đó mỗi khẩu pháo 105 ly bắn 1000 trái hoặc không hạn chế. Sau đó chỉ được bắn 6 trái một ngày… “

Theo lời kể của Chuẩn tướng VNCH Trần Quang Khôi: Sau cuộc chiến 75, trong hồi ký “ Đại thắng mùa Xuân “ của Đại tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng đã không nhắc đến trận Biên Hòa. Ngay cả Thượng tướng Hoàng Cầm – người chỉ huy trực tiếp đánh chiếm Biên Hòa không thành công, cũng đã im lặng. Mãi đến năm 1995, khi Chuẩn tướng Trần Quang Khôi công khai nhắc đến trận chiến này, Thượng tướng Hoàng Cầm mới cải biên trong Hồi ký của ông về sự thật này.

Trong hồi ký ” Chặng đường mười nghìn ngày  “( in lần thứ hai  ) của Thượng tướng Hoàng Cầm khi tấn công Hố Nai – Biên Hòa có đoạn:

„ Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rải mìn chống tăng, đưa các xe tăng M.41, M.48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố, nhà dân, công sở, nhà thờ, trường học, bệnh viện thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hoả điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M.72 hoả tiễn chống tăng, súng máy 12,7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta.“

Về vấn đề Sư đoàn 341 của Thượng tướng Hoàng Cầm bỏ Biên Hòa, đi đường vòng hợp quân tấn công Sài Gòn được viết một cách khéo léo như sau:

” Nhưng địch ở đây – căn cứ Biên Hoà – khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả, kể cả những tên đang lẩn lút. Các đơn vị Quân đoàn chưa vượt sang tây sông Đồng Nai. Bốn giờ sáng, phân đội đi đầu của Sư đoàn 7 tiến đến cầu sắt xe lửa Biên Hoà nhưng tăng không qua được vì cầu này yếu, trọng tải chỉ đảm bảo xe 12 tấn. Cầu Mới bị địch phá.

Sau khi Bộ tư lệnh Quân đoàn thống nhất quyết tâm bằng bất cứ giá nào phải đánh chiếm cho được Biên Hoà trước 0 giờ ngày 30 tháng 4, tôi lệnh cho các đơn vị:

– Sư đoàn 6 bỏ các vị trí, các căn cứ còn lại ở Hố Nai, tiến theo bên trái đường số 1, đánh chiếm sở chỉ huy quân đoàn 3 và cầu Ghềnh, thọc sang bờ tây sông đánh chiếm đầu cầu, giữ bàn đạp.

– Sư đoàn 341 vòng qua phía bắc, đánh chiếm sân bay Biên Hoà.

– Sư đoàn 7 đột phá từ Hố Nai, đập vỡ lá chắn địch ở ngã ba Tam Hiệp, cố gắng đưa đội hình sang tây sông Đồng Nai trong đêm. „

Khi được tin sở chỉ huy nhẹ của quân đoàn 3 chuyển về Gò Vấp tối 29 tháng 4, qua đài kỹ thuật Lê Minh Đảo cầu cứu Bộ Tổng Tham mưu nguỵ rút quân sang bờ tây sông Đồng Nai, trong khi các lực lượng ta vẫn còn bị địch chặn ở ngã ba Hố Nai đi Biên Hoà… Sau khi điện xin ý kiến và được Bộ chỉ huy chiến dịch chấp thuận về trường hợp Sư đoàn 7 không theo kế hoạch cũ, tôi ra lệnh, lúc ấy là6 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975 “

***

Bài viết của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi cũng có đoạn:

„ Bây giờ là 08 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: “Biên Hòa không còn là mục tiêu tấn công của địch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản BV đang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực lượng đánh vào Thủ Ðô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết định kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III về tiếp cứu Sài Gòn.”

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của người Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình AP Photo Hoanh.

Dưới đây là trích đoạn bài viết ( đã bị xóa ) của tờ báo „Quân Đội Nhân Dân„ viết về Chuẩn tướng Trần Quang Khôi:

„ Khoảng 5 ngày trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Trần Quang Khôi vẫn “thể hiện” với quân lính và cấp trên sự “can trường” của mình. Sáng 30-4-1975, khi thấy Biên Hòa đã không còn là mục tiêu bị tấn công bởi Quân Giải phóng đang tập trung tiến về Sài Gòn, trong “canh bạc” cuối, Trần Quang Khôi đã họp bàn với chỉ huy các đơn vị thuộc lực lượng xung kích Quân đoàn 3 để đi đến quyết định: Kéo toàn bộ lực lượng về tiếp cứu Sài Gòn. „

Huỳnh Minh Tú – tham khảo và biên tập từ nhiều nguồn:

 1. Phỏng vấn Chuẩn tướng Trần Quang Khôi của đài SBTN:

Phần 1:

Phần 2:

Phần 3:

2. – CHẶNG ĐƯỜNG MƯỜI NGHÌN NGÀY – Hoàng Cầm

3. Bài viết của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi – Trong 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam

***

Ghi chú:

– Đài SBTN đã nhầm lẫn khi gọi ông Trần Quang Khôi là Thiếu tướng trong cuộc phỏng vấn. Thực ra ông là Chuẩn tướng ( Brigadier General ).

***

– Tiểu sử Chuẩn tướng quân lực VNCH Trần Quang Khôi:

Trần Quang Khôi xuất thân trong một gia đình điền chủ ở Rạch Giá (Kiên Giang).

– Ông tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt với thành tích xuất sắc- hạng 6/181 học viên và được chọn để đi đào tạo ở nước ngoài.

* Tốt nghiệp:
– Trường Kỵ Binh SAUMUR, Pháp 1955.
– Trường Thiết Giáp Lục Quân Hoa Kỳ FORT KNOX, Kentucky 1959.
– Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ FORT LEAVENWORTH, Kansas 1973.

* Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Chuẩn Tướng, tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh thuộc Quân Đoàn III/QLVNCH.

– Ông chỉ huy Chiến đoàn 318 tham chiến tại chiến trường Cam-pu-chia trong các năm 1970-1971.

– 1972, ông tiếp tục sang Mỹ du học, đó cũng là thời điểm lực lượng xung kích Quân đoàn 3 bị giải thể và Lữ đoàn 3 kỵ binh của Khôi bị phân tán ra từng mảng nhỏ.

-Tháng 7/1973, ông về nước và được Tư lệnh Quân đoàn 3 Phạm Quốc Thuần (vừa lên thay Nguyễn Văn Minh) giao cho nắm lại Lữ đoàn 3 kỵ binh ở Biên Hòa.

– Được cấp trên tin tưởng, việc đầu tiên ông tiến hành là gom các đơn vị thiết giáp bị phân tán về Lữ đoàn 3 và trình Phạm Quốc Thuần phương án tổ chức lại lực lượng xung kích của quân đoàn theo mô hình từ thời Đỗ Cao Trí (chia lực lượng gồm :Thiết giáp, biệt động, pháo binh, công binh để có thể cơ động) và đến cuối tháng 3/1974 thì quân đoàn 3 thành quy củ.

– Tháng 4-/1974, ở tuổi 40, ông được phong chuẩn tướng.

– 28/4/1974, ông đem lực lượng thiết kỵ bí mật thâm nhập Campuchia, bất ngờ đánh úp hậu cứ của quân đoàn 5 (binh đoàn Chi Lăng) giải thoát cho tiểu đoàn 83 Biệt động quân đang bị bao vây trong căn cứ Đức Huệ.

– Tháng 4/1975, ông chỉ huy Lữ đoàn 3 Kỵ binh cố thủ Biên Hòa và đánh bật nhiều mũi tấn công của quân Bắc Việt Nam khiến họ phải từ bỏ kế hoạch đánh Biên Hòa và vòng qua Biên Hòa để đánh thẳng vào Sài Gòn.

– Sáng 30-4-1975, ông quyết định kéo hết quân thủ Biên Hòa về tiếp cứu Sài Gòn.

– Sau ngày 30/4, vì là sĩ quan của chế độ cũ nên ông bị chính quyền đương nhiệm bắt và đưa đi cải tạo.

-1992, ông được thả và tỵ nạn chính trị sang Hoa Kỳ vào năm 1993.

– Tiểu sử Thượng tướng quân đội Bắc Việt Hoàng Cầm:

Mời đọc thêm:

– Tướng Trần Quang Khôi – Raymond R. Battreall -Đại Tá, Thiết Giáp (Armor, March-April 1996)

Viện Trợ Quân Sự Cho Việt Nam Trong Chiến Tranh

 Những trận chiến cuối cùng 30/4/1975 

Translate »