Posts Tagged ‘đàn áp’


Tuyên bố của các tổ chức xã hội dân sự độc lập về thảm họa quốc gia

Friday, May 6th, 2016

TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỘC LẬP

VỀ THẢM HỌA QUỐC GIA TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG

29-04-2016

          A- Xét rằng:                 

          1- Bắt đầu từ ngày 6-4-2016, trên địa bàn các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế và một phần Quảng Nam đã xảy ra hiện tượng nhiều loài cá sống ở tầng đáy và vùng duyên hải (có cả cá voi) chết hàng loạt trôi vào bờ. Cá, ngao nuôi trong đầm gần biển và lồng bè trên biển cũng đồng số phận, gây ô nhiễm môi trường chưa từng thấy và hết sức nghiêm trọng. Song song đó, một thợ lặn thi công xây dựng đê chắn sóng ở cảng Sơn Dương (Hà Tĩnh) đã qua đời hôm 24-04. Ngày 26-04, 5 thợ lặn khác tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã phải vào bệnh viện sau khi lặn từ khu vực biển Vũng Áng lên. Ít nhất đã có hơn 20 trường hợp cấp cứu ở huyện Phúc Trạch (Quảng Bình) vì ăn các loại hải sản nghi nhiễm độc. Cũng khoảng 200 thực khách dự tiệc khai trương một nhà hàng tại huyện Quảng Trạch bị trúng độc sau khi thưởng thức các món cá biển.

          Từ cả tháng nay, hàng vạn ngư dân phải đưa thuyền lên bờ phơi nắng và nhịn đói, đời sống họ hoàn toàn bị đảo lộn; các đầm và bè cá bị mất hàng chục tỷ đồng. Trong khi chưa có thống kê chính thức về tổng mức thiệt hại, ước tính sơ khởi của Hà Tĩnh cho biết đã có 37 ngàn cá giống, 90 vạn tôm giống, 20 vạn ngao giống bị nhiễm độc mà chết, trị giá khoảng 4,7 tỷ đồng.

          Công luận cho rằng nguyên ủy của tất cả vụ việc chính là nhà máy gang thép Hưng Nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) do Đài Loan và Trung Quốc đầu tư dưới danh nghĩa tập đoàn Formosa. Nơi đây, hôm 04-04, một ngư dân đã phát hiện một đường ống xả thải khổng lồ chôn ngầm dưới biển đang phun rất mạnh một thứ nước màu vàng đục, có mùi hôi thối, ngửi vào thấy ngạt thở. Tập đoàn Formosa sau đó đã thừa nhận rằng hàng ngày họ xả 12.000m3 nước thải ra biển và gần đây, để cọ rửa hệ thống dẫn nước này, họ đã sử dụng 300 tấn hoá chất mà theo một số chuyên gia là có nhiều loại cực độc (Tuổi Trẻ 24-04-2016).

          2- Đang khi ấy thì nhà cầm quyền Cộng sản lại phản ứng hết sức khó hiểu. Nhiều quan chức trung ương lẫn địa phương hoặc đã đưa ra những cảnh báo muộn màng (ngày 20-04, thứ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường mới yêu cầu các địa phương có cá chết phải tuyên truyền rộng rãi để người dân không sử dụng chúng làm thực phẩm hay thức ăn gia súc); hoặc những trấn an giả dối (ngày 23-04, thứ trưởng Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn bảo rằng cá bị nhiễm độc đều đã chết và đã được chôn nên bây giờ bắt được cá sống thì có thể ăn, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cho biết nhiều loại thủy sản vẫn sinh trưởng bình thường trong các lồng bè ở Vũng Áng và người dân có thể yên tâm tắm ở vùng biển này); hoặc những tuyên bố mâu thuẫn (Thứ trưởng Bộ TN-MT khẳng định đường ống xả thải ra biển của Formosa đã được cấp phép, đang khi  Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường của bộ cho hay nhà máy này chưa được phép xả thải. Thanh Niên 23-4-2016).

          Dù thảm họa xảy ra từ hôm 06-04, nhưng đến ngày 26-04, đoàn công tác của Bộ Công thương mới đến kiểm tra công ty Hưng Nghiệp sau khi đã báo cho họ trước 4 ngày (RFA 23-04-2016). Còn Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn thì cho biết khu công nghiệp Vũng Áng có yếu tố nước ngoài nên đoàn công tác không vào kiểm tra được !?! Riêng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì ngày 22-04 mới đến Vũng Áng nhưng chỉ để đôn đốc dự án xây cảng Sơn Dương và còn khen Hà Tĩnh đi đúng hướng, chứ tuyệt không có một lời nào về tình trạng cá biển chết thảm chất đầy bờ bãi và tiếng kêu của dân chúng đang cất lên ngút trời. Còn tân chính phủ thì trong cuộc thị sát ở tỉnh Hà Tĩnh hôm 24-04, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng mới cam kết sẽ ‘xử lý nghiêm’ thủ phạm, và hôm sau, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mới chỉ thị các địa phương phải hỗ trợ ngư dân bị thiệt hại và nhanh chóng đưa ra kết luận để có biện pháp thích đáng. Tối 27-04, Bộ TN-MT đã tổ chức 1 cuộc gặp gỡ báo chí trong 10’ để chỉ đọc một thông cáo chính thức cho hay rằng vụ cá chết ở các tỉnh miền Trung chưa có bằng chứng liên can đến Formosa!

          3- Nhưng chính Formosa hiện bị xem là nghi can số một. Tập đoàn này, cuối năm 2012, đã được nhà cầm quyền giao cho 2000 ha đất tại Vũng Áng để xây nhà máy gang thép Hưng Nghiệp và 1,200 ha mặt nước để làm cảng Sơn Dương. Dự án đã khiến cho 3,000 gia đình bị thu hồi đất, giải tỏa nhà, ảnh hưởng đến cuộc sống của khoảng 20,000 người. Chưa hết, Formosa còn được dành nhiều ưu đãi: thuê đất 70 năm nhưng từ năm thứ 16 mới phải trả (80 đồng/m2); miễn nộp thuế thu nhập trong 4 năm và 9 năm sau đó giảm một nửa, được đem cả hàng chục ngàn nhân công từ Trung Quốc sang làm việc, được hoạt động như một đặc khu mà các cơ quan chức năng của Việt Nam không dễ vào để kiểm tra an toàn môi trường cũng như mọi hoạt động của nó. Đang khi đó, Vũng Áng cũng là một yếu huyệt về an ninh quốc phòng!

          Thế nhưng tập đoàn Formosa từng có những thành tích bất hảo. Năm 1998 họ đã đưa khoảng 5000 tấn chất thải độc hại kể cả thủy ngân vào thị trấn Sihanoukville – Campuchia, gây nên cuộc khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng ảnh hưởng đến hơn 1000 cư dân bản địa. Hồi tháng 09-2009, chính quyền Hoa Kỳ tại hai bang Texas và Louisiana đã buộc Formosa Plastics chi hơn 10 triệu đôla để xử lý vi phạm thải chất độc ra không khí và nguồn nước tại hai nhà máy của họ. Nên cũng trong năm này, tập đoàn bị trao giải “Hành tinh đen” do Ethecon, một cơ quan bảo vệ sinh thái ở Đức dành cho những cá nhân/tổ chức đã có những hành động phá hủy môi trường.

           Chính vì não trạng đó mà hôm 25-4, khi bị chất vấn vì sao từ khi nhà máy hoạt động, vùng nước quanh đường ống xả thải ngầm ra biển chẳng còn tôm cá hay sinh vật, ông Chu Xuân Phàm – giám đốc đối ngoại của Formosa – đã có những phát biểu đầy thách thức ngang nhiên và thừa nhận trắng trợn: Muốn bắt cá bắt tôm hay muốn xây dựng một ngành thép hiện đại, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được. Hồi xưa, khi giải phóng mặt bằng đã tính phương án hỗ trợ ngư dân chuyển sang nghề khác, sao cứ phải đánh bắt cá quanh vùng biển này?”.

          B- Từ những vụ việc trên, các tổ chức xã hội dân sự độc lập nhận định:

          1- Đây là một khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng, vì nó ảnh hưởng hết sức tai hại đến hiện tại cuộc sống của người dân và tương lai phát triển của đất nước:

          Việc ô nhiễm nước biển (mà rồi đây sẽ lan tới vịnh Hạ Long và mũi Cà Mau do dòng hải lưu chảy hai chiều theo mùa) đã và sẽ hủy diệt mọi sinh vật trong lòng Đông hải chưa biết đến bao lâu mới phục hồi, nó cũng giết chết ngành chăn nuôi hải sản của cư dân ven biển. Đang khi đó thì việc đánh bắt xa bờ từ lâu đã trở thành bất khả do sự hoành hành của Trung Quốc. Điều ấy khiến Việt Nam mất đi nguồn thực phẩm đã nuôi sống dân tộc từ hàng ngàn năm qua, và cũng mất luôn nguồn thủy sản xuất khẩu!

          Việc ô nhiễm nước biển cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất muối và nước mắm lẫn chất lượng của hai sản phẩm này, hai thứ gia vị quan trọng mà 90 triệu đồng bào phải sử dụng thường nhật. Điều này tạo nên một hiểm họa lớn lao cho sức khỏe của giống nòi dân Việt. Việc ô nhiễm nước biển ngoài ra còn phương hại đến ngành du lịch, vì dọc bờ biển miền Trung có rất nhiều khu nghỉ dưỡng. Và rồi đây, có người dân nào còn dám đi tắm biển?

          2- Đây là một thảm họa quốc gia lớn lao, vì từ nay buộc phải lên bờ sinh sống một giới đông đảo mà nhà cầm quyền từng gọi là cột mốc di động của chủ quyền quốc gia trên biển. Đông hải sẽ dễ dàng trở thành nơi Trung Quốc mặc sức tung hoành để cuối cùng chiếm trọn như mưu đồ từ lâu của họ. Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia ven biển với một kẻ thù trong biển và một kẻ thù ngoài biển.

          3- Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bảo bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo.

          4- Đây là một cơ hội để tái khẳng định: Mọi người sinh ra đều có quyền được sống trong một môi trường sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái. Quyền đó là một phần không thể thiếu trong tổng thể quyền con người, bao gồm quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được cung cấp thực phẩm, quyền có nước sạch và quyền được bảo đảm an toàn vệ sinh. Không có môi trường lành mạnh, con người không thể sinh tồn để thực hiện các quyền tự do và khát vọng của mình.

          Ngoài ra, môi trường là điều kiện tiên quyết để thụ hưởng quyền con người. Trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ nhân quyền, nhà nước phải bảo đảm mức độ an toàn cần thiết về môi trường để người dân sinh sống. Đây là bổn phận không thể tránh né của nhà cầm quyền. Thứ đến, trong các quyền con người, quyền được tiếp cận thông tin, quyền tham gia vào tiến trình ra quyết định và quyền tìm kiếm công lý khi xảy ra sự tàn phá môi trường là những quyền cơ bản để người dân xây dựng môi trường lành mạnh cho cuộc sống của mình. Đây là quyền bất khả xâm phạm của công dân.

          C- Do đó, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tuyên bố như sau:

  1. Tập đoàn Formosa phải chấm dứt ngay lập tức các hành động gây nên sự tàn phá môi trường; phải thực hiện mọi biện pháp tái lập môi sinh trong sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái cho con người lẫn các loài sinh vật tại các vùng biển bị tác hại; phải bồi thường mọi thiệt hại về môi trường cũng như sinh mạng và đời sống vật chất của người dân tại các vùng biển bị tác hại.
  2. Nhà cầm quyền cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ, cứng rắn, không vì lợi ích nhóm mà nhu nhơ với Formosa, không để Formosa thi hành việc xả thải gây ô nhiễm từ từ thay vì gây độc cấp tính như vừa qua, bởi lẽ hậu quả của biện pháp đối phó này sẽ là cá, người và biển chết chầm chậm; phải sẵn sàng xoá bỏ dự án Formosa, nếu những nguy hiểm tiềm tàng mà dự án gây ra không thể triệt tiêu được; kỷ luật các quan chức trung ương và địa phương vô trách nhiệm và có thể có tham nhũng, tiêu cực trong việc chấp thuận dự án Formosa và trong việc xử lý vụ đầu độc biển. Trước mắt, nhà cầm quyền phải ban bố tình trạng khẩn cấp về môi trường, nhanh chóng xác định nguyên nhân và thủ phạm gây ra hiểm họa, khởi tố hình sự vụ án đặc biệt nghiêm trọng này, công bố chính xác thiệt hại do vụ ô nhiễm gây ra, mời các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm trong việc điều tra ô nhiễm môi trường để có những đánh giá độc lập.
  3. Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, các tổ chức xã hội và chính trị độc lập, các cộng đồng tôn giáo, các nhà báo tự do, xin hãy tham gia bày tỏ thái độ bất khoan nhượng đối với những hành động gây tác hại môi trường sống lúc này cũng như trong tương lai (kể cả dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, dự án nhà máy điện nguyên tử và dự án các đập thủy điện…). Xin hãy tham gia cách ôn hòa nhưng quyết liệt vào mọi hình thức: viết bài, lên tiếng, hội luận, chụp hình với khẩu hiệu, nhất là biểu tình vào ngày 01-05 tới.

          Dân Việt chúng ta quyết không chọn con đường tăng trưởng kinh tế với cái giá hi sinh môi trường đất nước, quyền lợi dân nghèo, chủ quyền quốc gia. Dân Việt chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cầm quyền ngu dốt, tham lam, bán rẻ dân tộc vì tham vọng cá nhân, lợi lộc và phe đảng. Dân Việt chúng ta quyết không chịu chết thảm như những con cá nhiễm độc ở biển Đông lúc này!

          Việt Nam, ngày 29 tháng 4 năm 2016.

          Các tổ chức xã hội dân sự độc lập đồng ký tên

01- Bach Dang Giang Foundation. Đại diện: Ths Phạm Bá Hải.

02- Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: Giáo sư Phạm Xuân Yêm.

03- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Ts Nguyễn Quang A

04- Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ. Đại diện: Ms Nguyễn Hoàng Hoa

05- Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần tuý. Đại diện: Ông Lê Quang Hiển

06- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Ms Nguyễn Trung Tôn

07- Hội bảo vệ Quyền tự do Tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân

08- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng

09- Hội Cựu tù nhân Lương tâm. Đại diện: Bs Nguyễn Đan Quế, Lm Phan Văn Lợi.

10- Hội Dân oan đòi quyền sống. Đại diện: Bà Hồ Thị Bích Khương.

11- Hội Giáo chức Việt Nam. Đại diện: Nhà giáo Vũ Mạnh Hùng

12- Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam. Đại diện: Ts Phạm Chí Dũng

13- Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Đại Diện:  Bà Huỳnh Thị Xuân Mai

14- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Ks Đỗ Nam Hải. Nv Nguyễn Xuân Nghĩa.

15- Mạng lưới Blogger Việt Nam. Đại diện: Cô Phạm Thanh Nghiên.

16- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Lm Nguyễn Hữu Giải.

17- Nhóm Người Bảo vệ Nhân quyền. Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ

18- Phong trào Liên đới dân oan Việt Nam. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh

19- Tăng đoàn Giáo hội PGVNTN. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh.

20- Tổ chức Bảo vệ Tôn giáo và Sắc tộc. Đại diện: Ông Huỳnh Trọng Hiếu

          Cá nhân ký tên:

01- Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội.

02- Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, Đà Lạt.

03- Nhà báo tự do Nguyễn Minh Cần, Nga.

04- Nhà báo Kha Lương Ngãi, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn.

05- Nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu.

DÂN TỘC VN SẼ CAM LÒNG SỐNG TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT như dân Tây Tạng như thế nầy sao???

Thursday, March 10th, 2016

NẾU CHÚNG TA IM LẶNG ĐỂ BỌN LÊ CHIÊU THỐNG VÀ TRẦN ÍCH TẮC Ở “LĂNG BA ĐÌNH” TIẾP TỤC LÀM TAY SAI CHO TÀU CỘNG THÌ ĐÂY LÀ SỐ PHẬN CỦA CHÚNG TA VÀ CON CHÁU CHÚNG TA..
.
 
MUỐN CHỐNG GIẶC NGOÀI PHẢI DIỆT THÙ TRONG LÀ TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC CS Ở BẮC BỘ PHỦ…
 
 
 
Bọn Chệt Cọng dùng quân dội đàn áp nhân dân Tây Tạng
 


On Wednesday, March 9, 2016 5:35 PM, ‘Mike Duong’ via 1 DĐKT <usaelection@googlegroups.com> wrote:



“Nhóm Lợi Ích” Đang Tàn Phá Việt Nam (Đại Dương)

Wednesday, December 2nd, 2015

Đại-Dương

Gần 30 năm thực thi chính sách “Đổi Mới”, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang nằm trong số 20 quốc gia có khả năng vỡ nợ lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản công khai tiến hành kế hoạch kỹ-nghệ-hoá quốc gia từ năm 2001 đến 2020 mà bây giờ (năm 2015) thừa nhận không thể đạt tới mục tiêu.

Dĩ nhiên, đất nước lụn bại do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng, giới chuyên gia quốc tế và trong nước đã dí tay vào trán các “nhóm lợi ích” như thủ phạm chính.

Thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” được giới lãnh đạo chóp bu của Việt Nam đề cập từ sau Đại hội XI (năm 2011), nhưng, chỉ nói đến hiện tượng xảy ra trong xã hội mà chưa xác định đích danh của từng “nhóm lợi ích”.

Giới phân tích quốc nội xem xét qua lăng kính triết học, chính trị, kinh tế, xã hội các thủ đoạn thu lợi bất chính của “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích”: (1) Lợi dụng và lạm dụng quyền lực kinh tế, chính trị; (2) Lợi dụng yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản hồi tháng 1-2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm” cũng như Phòng, chống tham nhũng.

Vì không dám chỉ mặt, đặt tên nên đã thất bại trong Hội nghị Trung ương 6 hồi tháng 10-2012 khi tất cả Uỷ viên Trung ương không đồng ý thi hành kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và 1 đồng chí trong Bộ Chính trị như yêu cầu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ai cũng biết đồng chí đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà khi tiếp xúc với cử tri sau Hội nghị, Chủ tịch Trương Tấn Sang chỉ dám gọi “đồng chí X”.

Cuộc chiến chống “lợi ích nhóm” vô vàn khó khăn, không hữu hiệu vì chiến tuyến không rõ rệt nên dẫn tới tình trạng “ta chống ta”.

Bộ Chính trị không dám công khai danh tính nên các “nhóm lợi ích” tiếp tục lộng hành làm cho Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng Việt Nam 31/100 điểm không thay đổi trong giai đoạn 2012-2014.

Việt Nam và cộng đồng quốc tế đều biết rõ khu vực kinh tế nhà nước là gánh nặng quá sức của quốc gia, ổ tham nhũng, lắm đại án, làm ăn thua lỗ. Nhưng, Bộ Chính trị vẫn quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”.

Dù đang ở trong tình trạng bội chi ngân sách, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn bơm 8 tỉ USD cho đầu tư và chắc chắn phần lớn được rót vào các doanh nghiệp Nhà nước.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Quản lý Kinh tế Trung ương chỉ trích Chính phủ “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc như 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới”.

Như thế, các “nhóm lợi ích” đã có ảnh hưởng từ thượng tầng lãnh đạo bất chấp tới quyền lợi tối cao của dân tộc.

Dưới bàn tay thao túng của các “nhóm lợi ích” làm cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái.

Tăng trưởng GDP 8.5% của năm 2007 giảm xuống 5.9% vào năm 2011 và 5.4% của 2013.

Tỷ lệ nợ công trong GDP của Việt Nam tăng với tốc độ khá nhanh, từ mức 52% của năm 2010 lên 60% năm 2014 so với trần 65% do Quốc hội đề ra.

Nhưng, một số chuyên gia quốc tế ước tính nợ công của Việt Nam đã lớn hơn GDP.

Các “nhóm lợi ích” bất chấp nguy cơ vỡ nợ nên vẫn phát hành khối lượng lớn trái phiếu vào giai đoạn 2013-2014 đã khiến nợ công tăng nhanh chóng.

Áp lực trả lãi vay của Chính phủ sẽ gia tăng mạnh kể từ năm 2018, tăng 17% so với năm trước, và tiếp tục lên 20% và 23% vào 2 năm sau.

Nợ của Chính phủ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, vay ODA chiếm 80% bằng 49% GDP, và 20% còn lại do bảo lãnh cho ngân hàng và địa phương, chiếm 11% GDP.

Tất cả các khoản vay trực tiếp, vay ưu đãi (ODA=Viện trợ Phát triển Chính thức), trái phiếu chứng khoán đều tăng lãi suất hơn gấp đôi kể từ năm 2017 trong khi dư nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ ở mức 191 tỉ USD vào năm 2020, gấp đôi năm 2015.

GDP danh nghĩa (nominal) của Việt Nam ước tính chỉ có 204 tỉ USD vào năm 2015 đang đối diện với nguy cơ phá sản rất lớn.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ tụt hậu nên đã phát động chiến dịch chống-tham-nhũng từ năm 1998. Nhưng, tới nay tham nhũng vẫn sống mạnh, sống hùng, lan tràn khắp mọi khía cạnh đời sống.

Tất cả những phát biểu đao to búa lớn, các cuộc hội thảo rầm rộ, nhiều bài tham luận tràng giang đại hải chỉ mang lại vài kết quả rất khiêm nhường trong chiến dịch chống-tham-nhũng.

Thất bại được báo trước này do những “đỉnh cao trí tuệ loài người” quen thói dối người, dối mình, chỉ nói nửa sự thật.

Hùng hổ buộc tội “nhóm lợi ích”, nhưng, chưa chỉ ra được ai và ở đâu để trừng trị.

Hà Phong trên Hà Nội mới Online ngày 31-03-2012 phê bình bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện; (2) Tính minh xác, tính minh định, phạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật.

Thực sự, Bộ máy Nhà nước gồm đảng, chính phủ, đoàn thể vô cùng đồ sộ và phình to vô tội vạ không những ăn hết tiền thuế do dân đóng mà còn giành giật phần lớn thành quả phát triển của toàn dân.

Không ai có quyền và khả năng áp lực để đảng Cộng sản Việt Nam phải tinh giản Bộ máy Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, kể cả các chính phủ ngoại quốc và định chế quốc tế.

Đúng ra, các chính phủ và định chế bên ngoài Việt Nam không có trách nhiệm hốt rác vì đó thuộc về nghĩa vụ của mỗi công dân trên quê hương hình cong như chữ S.

Đảng Cộng sản từ khi thành lập cho tới lúc lên cầm quyền vẫn không thay đổi bản chất độc tài, đảng trị, hành động bất minh nên tất cả vị trí lãnh đạo từ trung ương tới địa phương đều lọt vào tay đảng viên.

Như thế, đảng Cộng sản vốn là một “nhóm siêu lợi ích” sản sinh nuôi dưỡng và bảo kê, bảo vệ cho các “nhóm lợi ích” lớn, nhỏ tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chống các “nhóm lợi ích” sẽ không có hiệu quả nếu đảng Cộng sản còn cầm quyền.

Đại-Dương

Phân Ưu: Cụ Lê Quang Liêm qua đời

Friday, July 17th, 2015

PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn:

Cụ LÊ QUANG LIÊM, 

Cu Le Quang Liem

Hội Trưởng Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam.

sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.  

Vừa mệnh chung lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia ở Thủ Đô Saigon.

Thượng thọ 96 tuổi.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Chân thành phân ưu cùng Tang Quyến và Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Xin Cầu Nguyện cho Hương Linh Cụ sớm về cõi Niết Bàn.

Trân trọng

TM. CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ

BS Võ Đình Hữu

BS Đỗ Văn Hội

GS Phạm Văn Thanh

Ban Cố Vấn: 

BS Trương Ngọc Tích 

Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn

Ông Trần Xuân Thời 

Ông Nguyễn Văn Tánh

Cùng toàn thể các Cộng Đồng Thành Viên

——————————————–

Tóm Tắt Tiểu Sử Cụ Lê Quang liêm

Cụ Lê Quang Liêm là Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam. Cụ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An , huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cụ tạ thế lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia hưởng thọ 96 tuổi.

Cụ sinh ra và lớn lên trong gia đình đại điền chủ và là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến tháng giêng năm Canh Thìn (1940) Cụ đã quy y với Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Cụ từng là chiến sĩ chống Pháp, sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và là Dân Biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa:

1945-1946: Đoàn Trưởng Bảo An Phật Giáo Hòa Hảo quận Chợ Mới, tỉnh An Giang

1946-1947: Chính Trị Viên Đại Đội I, Chi Đội 30, Bộ Đội Nguyễn Trung Trực

1948-1952: Tham Mưu Trưởng Nghĩa Quân Cách Mạng Dân Xã Đảng do cụ Lê Quang Vinh lãnh đạo.

1953-1955: Sáp nhập vào Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, cấp bậc Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 525

1956-1957: Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 12

1958-1959: Tham Mưu Phó Quân Đoàn II

1960-1962: Trưởng Phòng 4 Bộ Tư Lệnh Hành Quân

1963-1964: Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang

1964-1965: Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang

1966-1967: Chỉ Huy Trưởng Hậu Bị Quân Vùng 4 Chiến Thuật, kiêm Thanh Tra Tòa Đại Biểu Vùng 4

1968-1969: Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến;

1972-1975: Dân Biểu Quốc Hội, Chủ Tịch Ủy Ban Định Chế, Chủ Tịch Ủy Ban Canh Nông;

Sau 1975 cụ bị nhà cầm quyền Cộng sản cầm tù trong nhiều nhà giam khác nhau.

2006 Cụ là thành viên sáng lập và là Cố vấn của Khối 8406.

Về hoạt động giáo sự:

1967-1975: Cố vấn kiêm Đại Diện Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Gíao Hội Phật Gíao Hòa Hảo, Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo.

Từ tháng 02-2000 đến hiện nay: Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo Thuần Túy.

Tháng 12-2000, cụ cùng Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh và Linh mục Chân Tín, viết một bản lên tiếng phản đối chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Cộng sản, đòi hỏi nhà cầm quyền phải “tôn trọng quyền tự do tôn giáo thực sự của các tôn giáo, nhất là các quyền căn bản của các Giáo Hội. Các Giáo Hội phải được hoàn toàn độc lập và tự do trong việc lựa chọn, huấn luyện, chỉ định các chức vụ tôn giáo tùy theo nhu cầu của từng Giáo Hội”.

Tháng 2/2001, tại Huế, cụ Liêm gặp gỡ Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Thượng Tọa Thích Chân Trí, và cùng ba vị lãnh đạo tôn giáo này thành lập Hội Đồng Liên Tôn.

2013-1015 cụ cùng nhiều tu sĩ 5 tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành và Phật giáo Hòa Hảo đồng sáng lập Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Đến tận cuối đời cụ Lê Quang Liêm vẫn một lòng cùng vì nước vì dân theo Thầy giữ trọn Tứ Ân.

Nguyễn Quang Duy – Soạn

Melbourne Úc Đại Lợi

17-7-2015

VÌ SAO GỌI NGÀY 30-4 LÀ NGÀY QUỐC HẬN VÀ THÁNG 4 LÀ THÁNG TƯ ĐEN?

Monday, March 30th, 2015

Thiện ý (viết ngày 30-4-2012)

Đúng ngày này của 37 năm về trước, ngày 30-4-1975, đánh dấu cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam đã chấm dứt nhanh gọn, phi lý và bất ngờ cho cả hai bên nội thù tham chiến, sau 21 năm diễn ra khốc liệt(1954-1975). Thế nhưng đây chỉ là sự kết thúc một giai đoạn của cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc –Cộng tại Việt Nam. Cuộc nội chiến ấy vẫn tiếp diễn từ sau ngày 30-4-1975 đến nay đã 37 năm và vẫn đang tiếp tục. Vì cuộc chiến ấy vẫn chưa phân thắng bại. Và vì vậy hàng năm cứ đến ngày 30-4, Việt cộng thì ăn mừng như một chiến thắng, còn Việt quốc thì tưởng niệm như một “ngày quốc hận” và coi cả Tháng 4-1975 là “Tháng Tư Đen”.Vì sao Việt quốc lại gọi ngày 30-4-1975 là“ngày quốc hận” và tháng 4 -1975 là “Tháng Tư Đen”?

         Để trả lời câu hỏi này, nội dung bài viết lần lượt trình bầy:
–       Ý nghĩa từ ngữ “Ngày Quốc hận” và “Tháng Tư Đen”.
–       Chúng ta hận ai, hận cái gì và hận để làm gì?

I/- Ý NGHĨA TỪ NGỮ “NGÀY QUỐC HẬN” VÀ “THÁNG TƯ ĐEN”

     Chúng tôi không biết cá nhân hay đoàn thể Việt quốc nào ở hải ngoại lần đầu tiên đã dùng từ ngữ “Quốc hận” để gọi ngày 30-4-1975 và “Tháng Tư Đen” để chỉ tháng 4-1975 . Nhưng điều đó không quan trọng bằng ý nghĩa của từ ngữ này đã nói lên được điều gì?
    Theo suy luận của chúng tôi,thì cụm từ “Ngày Quốc hận 30-4” diễn tả nỗi đau uất hận của những người Việt quốc gia từng sống ở Miền Nam Việt Nam trước 30-4-1975, dưới chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa.Vì ngày ấy đánh dấu chế độ tự do dân chủ non trẻ ở Miền Nam Việt Nam bị cưỡng tử, khiến cho gần 20 triệu dân quân Miền Nam Việt Nam lúc đó mất hẳn vùng đất tự do, rơi vào ách thống trị chế độ độc tài toàn trị Việt cộng.
         Chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử, có nghĩa là đã bị bắt buộc phải “chết bất đắc kỳ tử”, khi mà chế độ ấy cơ thể còn khỏe mạnh, không thể chết được hay ít ra chưa thể chết được, còn có thể cứu vãn được tình hình để hồi phục và tồn tại.Bị cưỡng tử vì chính quyền, quân, dân của chế độ có chính nghĩa ấy vẫn còn thừa khả năng chiến đấu để tự tồn, trước một đối phương Việt cộng phi chính nghĩa lúc đó đang ở thế cùng lực kiệt, thực sự không có khả năng để chiến thắng như vậy.
         Vậy mà, đối phương ấy đã được các thế lực khuynh đảo quốc tế sắp xếp cho đóng vai kẻ thắng trận, trong một cuộc chiến tranh Quốc- Cộng kéo dài 21 năm (1954-1975), chỉ vì nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực.Thật là điều bất công, phi lý khi họ đã cho phe “Tà cộng” thắng “Chính quốc”; quốc tế và đồng minh Hoa Kỳ đã làm ngơ bỏ mặc Việt Nam Cộng Hòa, trước hành động xâm lăng của Việt cộng, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình choViệt Nam ngày 27-1-1973 dù có những cam kết đa phương và bảo đảm quốc tế.
        Như thế bảo sao người Việt quốc gia ở Miền Nam Việt Nam không uất hận. Chính vì vậy ngày 30-4-1975 đã là “Ngày Quốc Hận” và Tháng Tứ năm 1975 đã là “Tháng Tư Đen”đối với người Việt quốc gia ở hải ngoại cũng như trong nước. Bởi vì ngày ấy, tháng ấy đã diễn ra những sự kiện đen tối cho Việt quốc (bao gồm chính quyền quốc gia, người Việt quốc gia trong chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa) và là ngày tháng khởi điểm đưa Việt Nam vào một giai đoạn “Đen tối nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam thời cận đại”.
       Đến đây , vấn đề đặt ra là: Chúng ta, những người Việt quốc gia hận ai, hận cái gì và hận để làm gì?

II/- CHÚNG TA HẬN AI, HẬN CÁI GÌ VÀ HẬN ĐỂ LÀM GÌ?

     1.-Trước hết chúng ta hận ai và hận cái gì?
     Về mặt khách quan, Việt quốc hận đối phương Việt cộng và hận cả người bạn đồng minh Hoa Kỳ năm xưa, nay lại đang là đối tác làm ăn với cựu thù Việt cộng.
    Về mặt chủ quan, người Việt quốc gia hận những người lãnh đạo hàng đầu về chính trị cũng như quân sự có trách nhiệm trước sự sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa và có thể hận với chính mình nữa.
       Thật vậy, người Việt quốc gia ở hải ngoại 37 năm qua và có thể cho đến lúc chết vẫn mang trong lòng mối hận người, hận mình, với tính chất và cường độ hận khác nhau.
       Mối hận hàng đầu là đối với đối phương Việt cộng. Với đối tượng này, tính chất và cường độ mối hận phải được diễn đạt bằng ngôn từ căm hận hay thù hận. Căm hận hay thù hận Việt cộng là điều tất nhiên, vì là đối phương, kẻ thù chính trong một cuộc chiến phi nghĩa do họ phát động, tiến hành đã gây nhiều hận thù trong chiến tranh. Và sau cuộc chiến tiếp tục gây nhiều thù hận vì đã xích hóa nhân dân cả nước dưới chế độ độc tài cộng sản hà khắc, tàn bạo, phi nhân.Trong chế độ này, Việt cộng đã xử dụng “Chuyên chính vô sản” cướp đoạt mọi tài sản của nhân dân Miền Nam (bị miệt thị là “Dân ngụy”), đầy ải, lăng nhục hàng trăm ngàn quân, dân, cán chính chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tù “Tập trung cải tạo”. Trong khi cha, mẹ, vợ con họ ở nhà bị Việt cộng phân biệt đối xử như những công dân hạng hai, bị bạc đãi, xua đuổi khỏi các thành thị hay các vùng đất mầu mỡ, đẩy đến các vùng kinh tế mới nơi đèo heo hút gió, đồi núi khô cằn hay bùn lầy nước đọng; phải bỏ lại tất cả nhà cửa, đất đai tài sản và các tiện nghi khác nơi các thành thị hay nông thôn, nhường lại tất cả cho giai cấp mới, giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản thụ hưởng.
         Không căm hận và thù hận sao được, khi khởi đi từ Tháng Tư Đen 1975, Việt cộng đã đưa cả đất nước và dân tộc  vào một thời kỳ bi thảm và đen tối nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam.Bởi vì từ đó, Việt cộng đã phá nát tài sản quốc gia, của nổi cũng như của chìm, nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang, làm băng hoại toàn diện đất nước về vật chất cũng như tinh thần. Những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và nền đạo đức luân lý xã hội cổ truyền đã bị đảo lộn, phá hủy, thay vào đó cái gọi là “Nền đạo đức cộng sản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa” vô luân, vô thần. Mọi tôn giáo, tín ngưỡng của người dân đều bị bài bác và tìm cách tiêu diệt qua các hành động chống phá các giáo hội và đàn áp, khủng bố các tín đồ dưới nhiều hình thức tinh vi, thâm độc.Mọi tầng lớp nhân dân bị bác đoạt các dân quyền và nhân quyền cơ bản. Đời sống của quảng đại quần chúng nhân dân bị đói khổ lầm than và sự cách biệt giầu nghèo giữa thiểu số giai cấp thống trị cán bộ đảng viên cộng sản với tuyệt đại đa số nhân dân ngày một sâu sắc. Hệ quả là sau 37 năm cầm quyền, Việt cộng đã làm tan hoang đất nước,lòng người ly tán, hận thù và đói nghèo, di hại toàn diện và lâu dài cho nhiều thế hệ Việt Nam tương lai phải gánh chịu.
      Hận kẻ nội thù Việt cộng là như thế, còn đối với người bạn Hoa Kỳ đồng minh năm xưa thì sao, chúng ta hận gì?
        Tất nhiên là có hận, nhưng mối hận có khác về tính chất và cường độ được diễn đạt bằng ngôn từ “Oán hận” hay “Uất hận”. Nó tương tự như mối hận của một người tình bị phụ bạc sau những năm chăn gối mặn nồng tưởng như chung thủy. Vì sao hận và hận cái gì?
       – Câu trả lời chi tiết thì đã được nhiều người đưa ra,còn câu trả lời tổng quát thì đã được Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống dân cử cuối cùng nền Đệ nhị chế độ Việt Nam Cộng Hòa đưa ra trong bài diễn văn từ nhiệm ngày 21-4-1975 trước khi kịp “lưu vong”, rằng“Họ đã bỏ rơi chúng tôi.Họ bán rẻ chúng tôi. Họ đâm sau lưng chúng tôi. Thật vậy, họ đã phản bội chúng tôi. Một nước đồng minh lớn đã không làm tròn lời hứa với một nước đồng minh nhỏ…”. Đây là những lời tố cáo muộn màng của người lãnh đạo cao nhất chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sau 9 năm cầm quyền, chẳng thay đổi được gì, chỉ bầy tỏ nỗi uất hận của cá nhân và cũng là mối uất hận chung của quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa trước sự phản bội của Hoa Kỳ.
       Sự bầy tỏ uất hận trên đây của cố Tổng Thống Thiệu có tính đổ lỗi cho Hoa Kỳ,song vẫn không tránh khỏi mối hận thứ ba của người Việt quốc gia đối với cá nhân Ông Thiệu và tập đoàn lãnh đạo chính trị cũng như quân sự chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Vì chính họ đã là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30-4-1975, đã tạo tiền đề cho ngoại bang để cho Việt cộng đóng vai kẻ chiến thắng trong cuộc chiến, dù chỉ là chiến thắng giả tạo (Chiến thắng biểu kiến như chúng tôi phân tích trình bầy trong “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới”) song thực tế đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho nhân dân, dân tộc và đất nước Việt Nam như mọi người đã biết.
      Oán hận và uất hận vì với trách nhiệm lãnh đạo, họ đã để mất Miền Nam Việt Nam vào tay Việt  cộng một cách dễ dàng, chóng vánh và hầu hết trong số họ đã kịp cao bay xa chậy di tản ra hải ngoại trước khi chế đô Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử,để lại sau lưng hàng trăm ngàn quân, dân, cán chính cho đối phương Việt cộng hành hạ, xỉ nhục trong các trại tù “Cải tạo” nhiều năm sau đó. Nhất là đã đẩy gần 20 triệu nhân dân Miền Nam Tự Do rơi vào ách thống trị cộng sản độc tài và độc ác, cùng chia khổ và bị xích hóa với nhân dân Miền Bắc trong gông cùm của cái gọi là “Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam” kéo dài cho đến hôm nay đã 37 năm qua.
     Trên đây là những mối “Hận người”, còn với “chính mình” thì sao?
     Có lẽ chúng ta cũng phải xét mình để tự “hận mình”, song với tính chất và cường độ có khác, được diễn tả bằng từ “Ân hận”. Tùy vị trí trong xã hội Miền Nam, trong tương quan với cuộc chiến để có “mối ân hận khác nhau”. Ân hận rằng nếu như ngày ấy, ở vị trí ấy mình nên làm thế này, không nên làm thế kia thì có thể đã góp phần xây dựng và củng cố chế độ, chính quyền, quân đội, xã hội ở Miền Nam ngày một vững mạnh, để không thể xẩy ra “Ngày Quốc Hận 30-4-1975”, ngày cuối cùng của một “Tháng Tư Đen”.
    Chặng hạn là người chỉ huy lãnh đạo các cấp chính quyền, quân đội “ân hận” vì đã không quan tâm đúng mức và dồn hết tâm lực cho cuộc chiến chống cộng bảo vệ chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa và phần đất Miền Nam tự do. “Ân hận” vì đã lợi dụng vị trí lãnh đạo, chức quyền mua quan bán chức, nuôi dưỡng linh ma lính kiểng để thủ lợi, tham nhũng, đục khoét của công để làm giầu bất chính,tập trung vào các hoạt động hưởng thụ, ăn chơi trong lối sống tương phản với cuộc chiến đấu gian nguy của những người lính tham chiến trực tiếp với Việt cộng và đời sống thiếu thốn của gia đình họ; Ân hận vì đã cấu kết bè phái để tranh danh đoạt lợi, ám hại những người công chính, coi lợi ích cá nhân và phe nhóm cao hơn lợi ích chống cộng,khoán trắng việc chống cộng cho Hoa Kỳ và coi việc chống cộng thắng bại là trách nhiệm của Hoa Kỳ,do Hoa Kỳ hoạch định, tài trợ mọi mặt.
   Chẳng hạn là những thương gia ân hận vì đã chậy theo lợi nhuận, móc ngoặc, mua chuộc hủ hóa các viên chức chính quyền quân sự cũng như dân sự, môi giới buôn bán vũ khí và cung cấp lương thực cho Việt cộng….
   Chẳng hạn, là bậc cha mẹ đã ân hận vì đã tìm cách chậy chọt cho con làm lính ma, lính kiển, được về phục vụ hậu phương xa chiến trường lửa đạn. Là thanh niên ân hận vì đã tìm cách chốn lính khi đến tuổi thi hành nghĩa vụ trai thời loạn.
  Chẳng hạn là những người gốc Việt cộng, hay ngưỡng vọng Việt cộng, hay “Nằm vùng”,ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” sớm muộn nay đã “phản tỉnh” thì ân hận vì những nhận thúc, hành động sai lầm trong quá khứ làm lợi cho Việt cộng, hại cho Quốc gia ngày ấy….và di hại nghiệm trọng, toàn diện, lâu dài cho đất nước, dân tộc cho đến hôm nay, sau 37 năm Việt cộng thống trị cả nước. và cả sau này chưa biết bao giờ mới khắc phục được.
    2.- Đến đây, chúng ta mang mối “Hận” để làm gì?
         Theo suy luận của chúng tôi, đối với Việt cộng, chúng ta “căm hận” không phải nuôi chí phục thù rửa hận theo kiểu “Răng đền răng, mắt đền mắt” thời Trung Cổ ở Tây Phương; cũng không phải tìm cách diệt đến tên Việt cộng cuối cùng, vì không phù hợp với bản chất nhân đạo và lý tưởng chiến đấu của Việt quốc (mà dù ai đó  có muốn thế cũng không thể làm được).
        Nhưng điều chúng ta có thể, đã và đang làm và chắc chắn làm được để “phục thù”Việt cộng là kiên trì đấu tranh vương đạo như đã kiên trì đấu tranh 37 năm qua nhằm tiêu diệt toàn bộ chế độ độc tài toàn trị Việt cộng  để thiết lập chế độ dân chủ pháp trị đa nguyên tại Việt Nam. Thắng lợi sau cùng này của cuộc đấu tranh  sẽ khẳng định sự tất thắng của chính nghĩa quốc gia và như thế là chúng ta đã rửa được mối “Quốc hận 30-4-1975”
       Đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ năm xưa, nay lại là “Đối tác” làm ăn với Việt cộng, song cũng đang là đồng minh với chúng ta về mục tiêu hiện thực lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, mối “oan hận” của chúng ta chỉ nên coi là bài học kinh nghiệm để có cách ứng xử thận trọng và khôn ngoan hơn trong tương lai sao cho có lợi cho sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho Quê Mẹ Việt Nam. Đó là bài học kinh nghiệm về tinh thần độc lập tự chủ, sức mạnh đoàn kết và luôn chủ động trong tổ chức, chiến lược, chiến thuật đấu tranh chính trị, ngoại giao, truyền thông, để huy động được sức mạnh nội lực (trong nước) cũng như ngoại lực (quốc tế), nhưng luôn dựa trên sức mình là chính để chống cộng và thắng cộng.
        Đối với những người lãnh đạo có trách nhiệm đã để chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, mối hận của chúng ta đến nay sau 37 năm dường như đã được cảm thống và tha thứ phần nào đối với những người còn sống hay đã khuất. Nghĩ lại, trong bối cảnh Miền Nam vào những năm tháng cuối cùng trước khi rơi vào tay Việt cộng, Hoa kỳ với ý đồ bỏ cuộc và cố tình tạo tiền đề thuận lợi cho Việt cộng cưỡng tử Việt Nam Cộng Hòa càng nhanh càng tốt, để khỏi phải dính líu thêm nữa, rút ngắn thời gian đi vào thế chiến lược quốc tế mới, thì cá nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tập đoàn lãnh đạo chính trị cũng như quân sự chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lúc đó cũng chẳng làm được gì hơn là trốn chậy để bảo toàn tính mạng, trừ khi họ dám chọn cái chết hào hùng để trở thành anh hùng bất tử như các vị Tướng Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ. Tiếc rằng phần đông họ đã không chọn con đường như vậy, mà đã chọn con đường thà“Sống nhục hơn chết vinh”.Thôi thì công tội của họ xin hãy đề lịch sử mai này phán định công minh.
     Riêng mối hận mình, mỗi người trong chúng ta hãy tự xét mình xem có điều gì “ân hận” về những gì nên làm đã không làm hay không nên làm mà đã làm có lợi hay có hại cho Việt quốc, có lợi cho Việt cộng trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng hôm qua. “Ân hận”để tự rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng vào cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho Quê Mẹ Việt Nam hôm nay, để chỉ nên làm những gì có lợi , tránh làm những gì có hại cho cho sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước. Có như vậy chúng ta mới rửa được “Quốc hận 30-4-1975”, ngày cuối cùng của “Tháng Tư Đen”,để đưa cất những ngày, tháng, năm này đi vào những trang  lịch sử đen tối nhất của dân tộc, đất nước, mở ra những trang sử mới tươi sáng cho Tổ Quốc Việt Nam.
   Thế nhưng thực tế sau 37 năm mất nước (VNCH),qua các sinh hoạt nơi các cộng đồng Người Việt Quốc Gia nhiều nơi ở hải ngoại, đã có những dấu hiệu đáng buồn và đáng tiếc, là nhiều người vẫn chưa rút được bài học kinh nghiệm của quá khứ. Dường như họ vẫn coi lợi ích cá nhân, bè phái cao hơn lợi ích chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa cho Quê Mẹ Việt Nam. Vì lợi ích cá nhân và bè phái, họ đã chống nhau, căm thù nhau có lúc, có nơi cường độ mạnh mẽ hơn cường độ chống cộng rất nhiều.Họ là ai? Là những bạn bè, chiến hữu trong cuộc chiến chống cộng hôm qua, từng bị Việt cộng đầy ải xỉ nhục trong các trại tù “Cải tạo” sau cuộc chiến và từng kề vai sát cánh đấu tranh chống cộng hôm nay.Thế nhưng họ đã quên quá khứ, quên tình bè bạn chiến hữu để “bôi mặt đá nhau”. Miệng họ nói chống cộng, chống cộng mạnh miệng hơn ai hết, nhưng hành động của họ hoàn toàn phản tác dụng. Dường như họ chỉ dùng chống cộng như chiêu bài để có thế chống phá lẫn nhau để thủ thắng? Dường như họ căm thù Việt cộng nhưng không biết cách nào “Phục thù”, nên đã trút căm thù trên bạn bè chiến hữu của mình cho vơi bớt đi niềm hân thù bị dồn nén chất chứa trong lòng?- Đó là những điều nghịch lý, nhưng xem ra lại là một thực tế đã và đang xẩy ra khiến nhiều người Việt quốc nặng lòng với sự nghiệp chung không khỏi lo ngại công cuộc “Rửa hận” , “phục hận” Việt Cộng sau 37 năm, rồi đây sẽ ra sao?- Còn phải mất bao nhiều năm tháng nữa chúng ta mới thành đạt mục tiêu tối hậu này?
Thiện Ý
Houston, 30 tháng 4 năm 2012.

Kẻ xấu đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam

Monday, March 30th, 2015

The ALM

Tác giả: Uwe Siemon-Netto

Người dịch: Trần Văn Minh

01-12-2013

H1Một phụ nữ Việt đang than khóc bên cạnh xác chồng, được tìm thấy trong số 47 người khác tại một ngôi mộ tập thể gần Huế. Ảnh Corbis

Vào lúc cao điểm của chiến tranh Việt Nam, Ralph White đã tìm cách gia nhập Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ nhưng bị từ chối vì mắt bị chấn thương khi chơi tennis trước đó. Tuy nhiên, khi cuộc chiến đầy biến động gần tới hồi kết thúc hồi tháng 4 năm 1975, ông White khi ấy 27 tuổi, đang ở Sài Gòn, đã làm đúng với phương châm người lính thủy quân lục chiến “luôn luôn trung thành” – chỉ với phương cách dân sự.

Bằng cách khuyến dụ, thuyết phục và khéo léo qua mặt các thủ tục hành chánh, White đã tìm được một phương cách tuyệt vời để cứu thoát 112 nhân viên Việt Nam của Ngân hàng Chase National Bank và những người gia đình của họ: ông chỉ đơn giản nhận bảo trợ tất cả những người đó, trước sự chứng kiến của các thẩm phán Mỹ đang làm nhiệm vụ khẩn cấp tại sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Trong khi đối mặt với thất bại sắp xảy ra của đồng minh Hoa Kỳ là người Việt ở miền Nam, người công dân Mỹ này đã đạt được một chiến thắng tuy nhỏ bé nhưng thật nổi bật.

Bốn ngày sau đó, vào ngày 30 tháng 4, xe tăng T-54 của Liên Xô đã hoàn tất cuộc chinh phục của cộng sản đối với miền Nam Việt Nam bằng cách cán qua cổng rào của dinh tổng thống ở Sài Gòn. Ở bên trong, Tổng thống miền Nam, Việt Nam là ông Dương Văn Minh (Big Minh) đề nghị chuyển giao quyền hành. Đại tá Bắc Việt Bùi Tín trả lời: “Không có chuyện chuyển giao quyền lực… Ông không thể chuyển giao cái mà ông không có”.

Đối với tôi, một người Đức, những lời này nghe có vẻ giống các điều khoản của Đồng Minh áp đặt lên đất nước chúng tôi năm 1945, khi tôi còn là một đứa trẻ: đầu hàng vô điều kiện. Sự trớ trêu là trong khi vào cuối Đệ Nhị Thế chiến, một chính phủ rõ ràng là độc ác đã bị buộc phải đầu hàng theo cách này, thì điều trái ngược lại xảy ra 30 năm sau ở Sài Gòn: một chế độ độc tài toàn trị với các đặc điểm vô nhân đạo đến tận cùng đã uy hiếp một đối thủ nhân đạo hơn nhiều – mặc dù có những khuyết điểm – vào tình thế đầu hàng vô điều kiện, và được thế giới hoan hô.

Sau thời gian tường thuật về Việt Nam cho một nhà xuất bản lớn nhất của Tây Đức trong khoảng thời gian 5 năm, tôi kết luận rằng: kẻ xấu đã thắng. Không có lý do để vui mừng. Tuy nhiên, khi Tổng thống Gerald Ford tuyên bố tại Đại học Tulane ở New Orleans rằng chiến tranh Việt Nam “đã chấm dứt, ít nhất là đối với Hoa Kỳ”, một tuần trước khi miền Nam, Việt Nam cuối cùng đã bị tiêu diệt, ông đã nhận được sự hoan hô nồng nhiệt.

Đáng lẽ ra các phản ứng này nên được kềm lại trước số phận tăm tối của số lượng lớn những người Việt bị chuyển giao. Đối với họ, hành trình tử nạn thực sự chỉ mới bắt đầu với chiến thắng của cộng sản. Khoảng từ 200.000 tới 400.000 người đã bị chết chìm trong khi chạy trốn khỏi đất nước của họ trên những chiếc thuyền đánh cá và thuyền chắp vá tạm bợ, theo Cao ủy LHQ về người tị nạn. Khoảng 65.000 người đã bị hành quyết. Một triệu người bị đẩy vào các trại tập trung, ở đó, 165.000 người bị tra tấn hay bị bỏ đói đến chết. Trong số những người bị giết gồm có 30.000 người trong danh sách tình báo viên của CIA bị sót lại tại tòa đại sứ, theo tường trình của National Review.

Tính theo tỷ lệ, Ralph White thành công vượt trội so với chính phủ Hoa Kỳ: anh đã đem được tất cả người của mình ra, như đã dự tính khi anh tình nguyện chuyển từ Bangkok đến Sài Gòn để làm quyền tổng giám đốc cho chi nhánh Chase ở Việt Nam hai tuần trước khi Sài Gòn thất thủ. Trong báo cáo với cấp trên của mình tại Chase sau này, ông viết rằng “việc duy trì mối liên lạc giữa ngân hàng Mỹ và tòa đại sứ để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong kế hoạch di tản” là “mục đích duy nhất” cho sứ mạng của anh.

“Đọc lại báo cáo của mình làm cho tôi khá tự hào về người đàn ông 27 tuổi này,” Ông White, người bây giờ là một nhà văn ở Litchfield, Connecticut cho biết.

Gần bốn thập niên sau sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, tôi gặp một câu chuyện cảm động về một công dân Mỹ dũng cảm và trung thành với những giá trị của mình như bất cứ người lính nghiêm chỉnh nào. Patricia Palermo là một cô gái tiếp viên hàng không tóc vàng của hãng máy bay Pan Am từ Nebraska, tình nguyện làm tiếp viên trưởng cho các chuyến bay liên tục từ Guam đến Sài Gòn, đưa “những chàng trai trẻ má hồng và tinh thần phấn khởi” ra mặt trận, như cô nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. “Khi tôi thấy họ một lần nữa 12 tháng sau đó, họ trông giống như những người đàn ông 50 tuổi. Nhiều người bị thương và tàn phế, một số bị đánh thuốc mê. Họ không được phép lên máy bay cho đến khi sau những ‘người trở về’ khác đã được xếp vào khoang hàng hóa – những người nằm trong quan tài kẽm”.

Palermo hiện đang sống ở New York, cho biết trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại rằng bà bị tác động tình cảm dữ dội về các chuyến bay này đến nỗi bà đã loại ra khỏi tâm trí của mình cho đến năm 1980, khi bà xem trên truyền hình về tường thuật trực tiếp cuộc diễu hành đầu tiên vinh danh các cựu chiến binh Việt Nam. “Tôi lập tức lao ra khỏi nhà và cùng tham gia”, bà nhớ lại.

Phần đáng ghi nhớ nhất trong sự nghiệp hàng không của mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi Pan Am đem ít nhất 2.000 trẻ sơ sinh, hầu hết là người Mỹ gốc Á đang chờ được nhận làm con nuôi ở Hoa Kỳ, ra khỏi Sài Gòn. “Chúng tôi không được phép rời khỏi máy bay vì hỏa lực địch, nhưng chúng tôi có thể thấy một số bà mẹ tuyệt vọng ném con em của họ qua hàng rào tại Tân Sơn Nhất để được phi hành đoàn chúng tôi đưa đến nơi an toàn. Tôi nhớ một ai đó đưa cho tôi hai em bé giấu trong một cái giỏ. Một lần tôi đếm được hơn 400 trẻ sơ sinh trên chiếc máy bay Boeing 747 của chúng tôi. Trẻ sơ sinh ở khắp mọi nơi, ngay cả trong các ngăn để hành lý phía trên chỗ ngồi, và chúng nó rất yên lặng, luôn luôn yên lặng…. “

Tôi đã chứng kiến sự sụp đổ của Sài Gòn trên truyền hình trong căn chung cư của tôi ở Paris với nỗi đau buồn và tức giận vô cùng. Tôi ngạc nhiên trước việc thi hành hoàn hảo Chiến dịch Gió lốc, đã di tản 1.373 người Mỹ cuối cùng, cộng với 5.595 người Việt Nam và người các nước khác, chủ yếu bằng máy bay trực thăng từ một bãi đáp trên nóc nhà của văn phòng tùy viên quân sự ở Tòa Đại sứ Mỹ ngày 29 và 30 tháng 4. Tôi đã ở đó bảy năm trước trong dịp Tết Mậu Thân và theo dõi từ bên kia đường cuộc tấn công bị đánh bại của cộng sản vào Tòa Đại sứ. Bây giờ họ sắp sửa chiến thắng; vì thế tôi đau buồn.

Tuy nhiên, cơn giận của tôi chủ yếu hướng về các sinh viên và trí thức, những người cổ vũ chiến thắng của cộng sản là một hành động giải phóng. Họ hành xử như thế ở khắp mọi nơi: bên kia sông Seine ở Bờ trái; ở đất nước của tôi, Tây Đức; và ở Hoa Kỳ. Chứng kiến một biển cờ Việt Cộngmàu xanh đỏ trên TV làm cho tôi cảm thấy muốn mửa, bởi vì đối với tôi, những màu sắc này tiêu biểu cho các vụ thảm sát tàn khốc mà tôi đã chứng kiến ở Việt Nam.

Chẳng hạn như, một đêm ở Tây Nguyên, tôi đã tình cờ gặp những xác chết bị chặt chân tay của một ông xã trưởng, vợ ông và 12 đứa con của họ, tất cả đã bị các tay sai cộng sản tra tấn. Theo như những người dân làng nói với tôi, gia đình đó đã bị giết chết bởi vì ông xã trưởng vẫn trung thành với chính quyền Sài Gòn. Đó là vào năm 1965. Trong năm 1967 là năm bầu cử, Việt Cộng đã thi hành ít nhất 100.000 hành vi khủng bố như thế chống lại dân thường để ngăn cản họ không đi bỏ phiếu.

Khi xướng ngôn viên Pháp thông báo sự kết thúc của miền Nam Việt Nam, tự nhiên tôi với lấy một cuốn sách nằm trên bàn cạnh giường ngủ của tôi ở khách sạn Continental Palace ở Sài Gòn và tôi mang theo tới Paris: “Hai nước Việt Nam”. Tôi đã từng gặp tác giả cuốn sách, nhà khoa học chính trị Pháp Bernard B. Fall, nhiều lần ở Sài Gòn và Washington trước khi ông bị giết bởi một quả mìn Việt Cộng. Đối với tôi, ông là một trong những chuyên gia sắc bén nhất về Đông Dương. Một đoạn trong cuốn sách của ông đã ám ảnh tôi từ đó đến giờ. Fall trích lời một chiến lược gia chủ yếu của Bắc Việt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã qua đời ngày 4 tháng 10 [năm 2013] ở tuổi 102, nói với các chính ủy của một trong những sư đoàn của ông: “Kẻ thù (có nghĩa là phương Tây) … không có… các phương tiện tâm lý và chính trị để chống lại một cuộc chiến tranh kéo dài”.

Giáp chưa bao giờ nghi ngờ khả năng quân sự của Mỹ, nhưng tin rằng ông đã tìm thấy gót chân Asin của hệ thống dân chủ, như Fall giải thích: “Trong tất cả các khả năng, Giáp kết luận, công luận trong các nền dân chủ sẽ đòi hỏi chấm dứt sự ‘đổ máu vô ích’, hay cơ quan lập pháp của họ sẽ yêu cầu được biết trong bao lâu nữa họ sẽ phải bỏ phiếu gia tăng không ngừng tín dụng khi không có một chiến thắng rõ ràng trước mặt. Đây là những điều luôn luôn bắt ép các nhà lãnh đạo quân sự của các quân đội dân chủ phải hứa hẹn một kết thúc nhanh chóng cho cuộc chiến – để ‘đưa các chàng trai về nhà vào dịp Giáng sinh’ – hoặc buộc các chính trị gia dân chủ phải đồng ý với hầu hết các loại thỏa hiệp nhục nhã, thay vì chấp nhận ý tưởng về chiến dịch chống du kích bán thường trực”.

Phải chăng sự thể thảm khốc này nảy sinh từ thất bại của Washington trong việc đáp trả, như đã hứa, “với lực lượng quân sự đáng kể” đối với bất kỳ vi phạm nào của Bắc Việt trong việc thi hành Hiệp Định Paris 1973, tôi tự hỏi? Hiệp định đã cho phép Hà Nội giữ lại 80.000 quân chính quy ở miền Nam, nhưng không có gì xảy ra khi con số đó tăng lên đến 200.000. Khi thảm kịch Việt Nam diễn ra quá tàn khốc, tôi cũng tự hỏi làm thế nào chúng tôi trong giới truyền thông, bao gồm đại đa số trong chúng tôi không đứng về phía Việt Cộng (một cách công khai hay âm thầm), đã không làm cho độc giả của chúng tôi nhận ra những bằng chứng không thể chối cãi nhất, rằng hầu hết người dân miền Nam không bao giờ ủng hộ cộng sản: từ đầu, chúng tôi, các phóng viên, đã nhìn thấy họ chạy trốn Việt Cộng.

Họ chạy trốn không phải vượt qua sông Bến Hải vào Bắc Việt, cũng không vào cái gọi là vùng giải phóng – “giải phóng” bởi những người cộng sản. Cho đến cuối cùng, những người tị nạn đổ xô về phần thu hẹp của đất nước dưới quyền kiểm soát của Sài Gòn; 2 triệu người đổ vào thành phố Đà Nẵng. Những con đường về Sài Gòn đã quá đông đúc với những gia đình chạy trốn đến nỗi làm chậm lại bước tiến quân của Bắc Việt, và khi mọi chuyện lắng dịu, “thuyền nhân” không những ra đi từ phía Nam với số lượng khổng lồ mà còn từ các cửa khẩu phía Bắc. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam có một cuộc di cư hàng loạt khỏi đất nước như vậy – không phải trong những ngày dưới quyền Trung Hoa, Pháp hay Mỹ.Và điều này được cho là giải phóng? Bằng cách nào đó, lúc đó tôi nghi ngờ và bây giờ đã tin, lối lập luận đó là một trong những thiệt hại của chiến tranh Việt Nam. Và cũng như sự trung thực trí thức.

Một hình ảnh lóe sáng trên màn hình TV ở Paris đã ghi khắc trong tôi nhiều thập niên vì đã đâm sâu vào suy tư của tôi. Hình ảnh cho thấy Phó Tổng thống Miền Nam Nguyễn Cao Kỳ đang cầm lái chiếc trực thăng UH-1A (Huey) hạ cánh trên boong của hàng không mẫu hạm USS Midway. Tôi đã được biết ông Kỳ khá rõ và thích ông. Đúng thế, ông là tướng lãnh hào nhoáng của Không lực Việt Nam, một con công như nhiều nhà quân sự trong suốt lịch sử. Nhưng ông không phải là anh hề quanh co như thường được mô tả.

Sáu năm trước, tháng 5 năm 1969, Kỳ và tôi đã đi du hành với nhau từ Paris đến vào Sài Gòn, nơi tôi làm phóng sự về các cuộc đàm phán hòa bình của Việt Nam và ông dẫn đầu đoàn đại biểu Sài Gòn. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi lủng củng một cách bất thường, có lẽ bởi vì cả hai chúng tôi biết rằng mọi chuyện đã không diễn ra tốt đẹp ở Paris cho phía của ông; rõ ràng là một nhận thức sai lầm ở Hoa Kỳ và các nơi khác về Tết Mậu Thân năm 1968 đã phá vỡ ý chí của Mỹ để mang cuộc xung đột này đến một kết luận chiến thắng.

“Nhưng chúng tôi đã thắng vào dịp Tết!” Kỳ nổi giận. “Tại sao người Mỹ nghĩ khác đi?”

Tôi trả lời: “Tôi biết, thưa Thiếu tướng, tôi ở Huế trong thời gian ông giành chiến thắng. Nhưng công chúng tại Hoa Kỳ và Âu châu đã nhận được thông tin khác nhau”.

Tại Huế, tôi đã đứng bên mép một ngôi mộ tập thể, chứa thi thể của ít nhất 1.000 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị những người cộng sản tàn sát. Một nhóm truyền hình Mỹ lảng vảng quanh hiện trường một cách vô định. “Tại sao bạn không quay phim cảnh này?” Đồng nghiệp của tôi, Peter Braestrup, báo The Washington Post, hỏi họ. Người quay phim của họ trả lời: “Chúng tôi đến đây không phải để tuyên truyền chống cộng sản”.

Tôi đã nói với Kỳ điều này, và ông ta đã không bình luận. Ông ta biết tôi biết rằng chiến thắng quân sự của Mỹ và VNCH vào dịp Tết đã bị biến thành một thất bại chính trị khi Walter Cronkite tuyên bố chiến tranh không thể thắng trên CBS trong một chuyến thăm ngắn sau Tết. Điều này trái ngược hẳn với những gì nhiều người trong chúng tôi, phóng viên chiến trường, đã chứng kiến và tường thuật từ Huế. “Nếu tôi mất Cronkite, tôi mất Trung Mỹ”, Tổng thống Lyndon B. Johnson được cho là đã nói như thế. Tôi chia sẻ cảm giác mất mát của Tổng thống và không bao giờ tha thứ thần tượng Cronkite về hành động bất cẩn báo chí của ông.

Ông Kỳ nhìn chằm chằm vào cánh cửa dẫn đến buồng lái của chiếc máy bay Air France.

“Tại sao ông cứ nhìn vào đó?” Tôi hỏi ông.

“Tôi chỉ muốn trở lại làm một phi công,” ông nói khẽ.

Cuộc chạy thoát của ông đến Midway bằng chiếc Huey đánh dấu sự nghiệp bay của ông kết thúc.

Một vài năm trước đây, tôi dạy một lớp báo chí cao cấp tại Đại học Concordia, Irvine, California. Chúng tôi tập trung vào cộng đồng tị nạn người Việt lớn mạnh và thành công tại Quận Cam. Sinh viên Kellie Kotraba, bây giờ là một nhà báo thành công ở Missouri, đã xem qua nghiên cứu của một nhóm gồm tám nhà nghiên cứu nổi tiếng dẫn đầu bởi bác sĩ tâm thần Richard F. Mollica của đại học Harvard, có tiêu đề “Sự bất thường cơ cấu não bộ và di chứng sức khỏe tâm thần nơi những cựu tù nhân chính trị miền Nam Việt Nam, những người đã sống sót sau chấn thương đầu và tra tấn”.

Nghiên cứu, được Hiệp hội Y khoa Mỹ công bố, cho thấy hàng ngàn tù nhân chính trị trước đây hiện đang sống tại Hoa Kỳ vẫn phải chịu đựng nặng nề từ hậu quả của tra tấn gây ra cho họ trong thời gian bị giam cầm nhiều thập niên trước đây. “Phải trên 100.000 người như họ,” Mollica nói với Kotraba, người sau đó đã yêu cầu Tòa Đại sứ Việt Nam tại Washington bình luận. Cô nhận được một lời từ chối qua điện thư từ tùy viên báo chí của Tòa Đại sứ, Tùng Phạm, với lời lẽ: “Thông tin nói rằng các tù nhân của trại cải tạo (sic) đã (sic) bị tra tấn là hoàn toàn không đúng sự thật”.

Chuyện này chẳng có gì lạ. Đáng ngạc nhiên hơn là một thực tế rằng các nghiên cứu của Mollica ít được chú ý trong giới truyền thông Mỹ khi nghiên cứu được công bố năm 2009, và khi tôi cung cấp những câu chuyện hấp dẫn của Kotraba cho nhiều nhà xuất bản, các biên tập viên của họ không mấy thích thú.

Tôi tự hỏi: tại sao các biên tập viên Mỹ làm ngơ trước thông tin về sự khổ đau ở quy mô lớn như vậy đang xảy ra, hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam? Có một sự tương đồng mạnh mẽ giữa những gì đã xảy ra ở một số trong 300 ngục tù cộng sản ở Việt Nam với các trại tập trung ở vùng chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Âu châu. Tôi vừa đọc xong một bản dịch tiếng Pháp về trường hợp của Cha Andrew Nguyễn Hữu Lễ, một linh mục Công giáo hiện đang sống ở New Zealand, về 13 năm của cha trong điều kiện giam giữ của cộng sản, 2.020 ngày cha trải qua trong cùm sắt – gây ra những vết thương mưng mủ với giòi bọ nảy nở.

Trong “Je dois vivre” (“Tôi phải sống”), Lễ mô tả chi tiết khủng khiếp như thế nào về bạn tù Đặng Văn Tiếp, một cựu đại úy quân đội VNCH và là thành viên của Quốc hội, đã bị giết chết trong sự vui mừng của đám đông quan chức cộng sản và vợ con họ hò hét đầy phấn khích. Ông bị bắt buộc phải uống một lượng lớn nước. Sau đó, tù nhân tay sai Bùi Đình Thi, cai tù tàn bạo nhất trong trại tù Thanh Cẩm, nhảy lên bụng của Tiệp cho đến khi nổ tung và ruột đổ ra ngoài. Tiệp chết.

Thi từng là một đại úy trong quân đội VNCH. Kẻ bị giam cầm tại Thanh Cam gọi ông là “Kapo”, một thuật ngữ được sử dụng cho những “kẻ được tin dùng” trong các trại tập trung của Đức Quốc xã. Giống như một số cựu Kapo Đức Quốc xã, ông đã tới Hoa Kỳ. Ông đã bị phát hiện tại Garden Grove, California, bị bắt giữ và bị trục xuất. Theo tin tức sau cùng, ông sống ở quần đảo Marshall.

Trong cuốn sách của mình, Lễ mô tả các nỗi ám ảnh thường xuyên của ông, trong đó gồm đau bụng dữ dội. Nỗi ám ảnh là một triệu chứng mà nhiều cựu chiến binh Mỹ biết quá rõ. Khi tôi làm việc với vai trò tuyên úy tập sự trong số những người này tại các trung tâm y tế Cựu Chiến binh ở St. Cloud, Minnesota, Tôi đã gặp một người làm bánh từ St. Paul, ông có cơn ác mộng cứ tái diễn. Mỗi ngày, ông mơ màng về một sự kiện gần Đà Nẵng. Ông đang ngồi ở ghế sau của một chiếc xe tải quân sự và thấy một cậu bé kéo chốt một quả lựu đạn, sẵn sàng liệng vào xe tải, có lẽ sẽ giết chết toàn bộ tiểu đội.

Người lính đã giết đứa trẻ. Nhưng rồi, đêm đêm, ông nhìn thấy khuôn mặt méo mó của cậu bé đã chết. “Đứa bé ấy khoảng 8 tuổi,” người cựu chiến binh nói, “bây giờ tôi có con sinh đôi và trong giấc mơ của tôi, khuôn mặt của đứa trẻ khoác lên hình ảnh con tôi”. Đây là một trong những câu chuyện buồn nhất tôi được nghe trong thời gian tập sự của tôi, đó là một phần của giáo dục thần học mà tôi đã bắt đầu vào khoảng giữa đời, có lẽ để trả lời cho những kinh nghiệm làm phóng viên ở Việt Nam.

Nhưng có điều gì đó tồi tệ hơn mà tôi tìm thấy trong số những cựu chiến binh Việt Nam: hầu hết mỗi thành viên của ba nhóm chăm sóc mục vụ mà tôi hướng dẫn, cùng với một nhà tâm lý học, đã bị xem là một kẻ sát hại trẻ em trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi từ giã chiến tranh. Một người thậm chí còn được yêu cầu không trở lại nhà thờ cho đến khi tóc của ông mọc trở lại, và xin xuất hiện trong bộ quần áo dân sự.

Hầu hết những người trong nhóm của tôi tin vào Thiên Chúa, nhưng nghĩ rằng Chúa đã bỏ rơi họ ở Việt Nam. Vì vậy, họ đã “quẳng Chúa đi”, theo kiểu họ gọi. Tôi đã viết một luận án thần học cho các cựu chiến binh Việt Nam với tựa đề “Sự tha thứ của Chúa”, nhắc nhở họ về cái nhìn sâu sắc của nhà thần học tử đạo người Đức Dietrich Bonhoeffer. Ông nói rằng loài người được kêu gọi để “chịu đau khổ với Chúa trong một thế giới vô thần”, mà trong trường hợp của họ hàm ý Chúa đang đau khổ với họ và luôn hiện diện với họ trong đau khổ – cả ở Việt Nam và sau khi họ trở về. Vì vậy, Chúa không bỏ rơi họ nhưng là người cùng chịu đau khổ với họ. Nhiều người trong số bệnh nhân tìm thấy ý nghĩ này hấp dẫn.

Cho đến hôm nay, tôi nghe các cựu chiến binh Việt Nam hỏi: “Phải chăng sự hy sinh của chúng ta vô ích?” Là một phóng viên chiến trường lớn tuổi, tôi không thể trả lời câu hỏi này một cách sáng tỏ. Nhưng là một nhà thần học tôi có câu trả lời. Trong bài tiểu luận nổi tiếng, “Ngay cả binh lính cũng có thể được giải thoát”, Martin Luther so sánh công việc của binh sĩ với bác sĩ giải phẫu, có thể phải cắt bỏ chân tay của bệnh nhân để cứu các phần còn lại của cơ thể. Thông thường bệnh nhân chết trong vài ngày hoặc vài tháng sau khi phẫu thuật. Nhưng liệu điều này có nghĩa là ca giải phẫu vô ích?

Là một phóng viên chiến trường, tôi thấy đại đa số các binh sĩ Mỹ và Việt Nam tận tình với công việc phục vụ người khác. Kẻ xấu đã thắng; điều này là sự thật. Là một nhà thần học, tôi phải nói thêm: con người không phải là chủ thể của lịch sử, và lịch sử luôn luôn rộng mở cho tương lai. Có thể sẽ mất nhiều thập niên nữa cho đến khi chúng ta nhìn thấy sự hy sinh của những người lính ở Việt Nam (thời xưa) đơm hoa kết trái và chế độ cộng sản biến mất, như các chế độ độc tài khác đã từng biến mất trong quá khứ. Có lẽ tới khi đó, thế giới sẽ khám phá ra rằng máu của người Mỹ và các đồng minh đổ ra ở Việt Nam trở thành hạt giống của một chiến thắng đặc biệt hơn chiến thắng mà họ đã bị từ chối ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tác phẩm mới nhất của Uwe Siemon-Netto là “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam”.

Nguồn: Anh Ba Sàm

Posted by adminbasam on 07/01/2015

Chuyện 30-4: Con Người muốn làm con bò

Tuesday, March 17th, 2015

(Câu chuyện thật của một bác sĩ Việt Nam sau ngày 30-4-1975)

Hoàng Lân

Tôi là một bác sĩ y khoa. Thời chiến ở miền Nam, hầu hết các bác sĩ đều phải vào quân đội, nhiệm vụ săn sóc sức khỏe cho quân nhân và gia đình, đôi khi làm dân sự vụ khám bệnh miễn phí cho người dân. Trên mặt trận, ngoài việc điều trị thương binh, có lúc tôi gặp bộ đội hoặc cán bộ cộng sản bị thương và bị bắt, tôi vẫn chăm sóc cho họ mà không cần biết trước mặt mình là ai, bạn hay thù.

trinh dien
(Hình minh họa)

​Sau  ngày 30 tháng 4 năm 1975, như số phận nổi trôi của đất nước, như hoàn cảnh của hầu hết người dân miền Nam, tôi được lệnh phải trình diện chính quyền mới được gọi là “chính quyền cách mạng” để được đi “cải tạo” trở thành “người mới xã hội chủ nghĩa”. Theo thông cáo của ủy ban quân quản, các sĩ quan như tôi cần mang theo tiền bạc đủ cho 30 ngày ăn. Mọi người hăm hở tranh nhau “đăng ký” mong rằng sẽ được về sớm sau một tháng.

Sau thời gian dài được gạn lọc, tra hỏi, và khi đã hoàn tất “9 bài học căn bản” tôi được tàu đổ bộ cũ của hải quân VNCH đưa từ Trà Nóc (Cần Thơ) xuống vùng U Minh, thuộc An Giang Rạch Giá Cà Mau với  nhiệm vụ dựng lên những lán trại dành cho các toán tù cải tạo khác xuống trụ lâu dài. Chỗ ở chúng tôi là những căn chòi xiêu vẹo mất nóc, xung quanh trống trơn dựng trên các mô đất cao chống ngập, chúng tôi phải cấp tốc sửa chữa che mưa che nắng, đêm đêm rắn bò dưới chiếu nằm không dám nhúc nhích.

rung tram 2

Rừng u minh (ảnh minh họa)

TuCaiTao2 
Hình phạt tại trại tù cải tạo (hình minh họa)

Mỗi ngày chúng tôi phải rời trại thật sớm lên rừng tràm xa 5 cây số, trở về trước 5 giờ chiều. Ở đây trời sập tối rất nhanh, muỗi  bay vo vo trên đầu như chuồn chuồn, chúng liều mạng bám vào da thịt hút máu không thế đuổi kịp. Mỗi ngày mỗi người chúng tôi phải mang về nhà 3 cây tràm từ 5 đến 10 thước, bề tròn khoảng một ôm nhỏ dùng làm cột trại chờ đón các toán khác.

Rừng tràm U minh dầy đặc, ẩm thấp, tối tăm, đầy dẫy sinh vật rắn, rết, bò cạp.. cực độc. Đường lưu thông chỉ là những con kinh rạch ngang dọc được đào trước đây sâu tới ngực, ngang cỡ vài mét, lâu ngày không xử dụng nước màu đen sẫm như nước cống, bốc mùi sình hôi hám, ruồi nhặng bay vo ve.

Chúng tôi chui vào rừng đẫm nước màu đỏ của cây tràm, dùng rựa đốn mỗi người 3 cây, cùng xúm nhau kéo từng cây ra bờ kinh. Trong rừng có loại dây leo gọi là dây “trại” giống  như dây mây, dẻo dai, tôi dùng bó 3 cây thành một rồi đẩy xuống lòng kinh. Tuy nặng nhưng cây nổi dưới nước, tôi quàng vào cổ rồi cố sức kéo bồng bềnh theo dòng kinh, chẳng khác gì con trâu kéo cày bì bõm dưới ruộng nước.

Một hôm trời mưa tầm tã, tôi trầm mình dưới dòng kinh hôi hám cố kéo khối cây về trại cho kịp ngày. Trên bờ, hai bộ đội du kích lầm lì tay cầm súng AK như sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ tù nhân nào có ý trốn trại.

Lúc đó tôi cảm thấy buồn và nhục. Một người bình thường cũng không thể bị đối xử như vậy huống chi một bác sĩ như tôi. Ít ra trong xã hội tôi cũng giúp ích được cho bệnh nhân, chăm sóc sức khỏe cho nhiều người, chưa nói được kính trọng, nâng niu.

Vậy mà hôm nay dưới chính quyền được gọi là cách mạng, hứa hẹn mang hạnh phúc ấm no về với nhân dân. Sự thật phũ phàng cho thân phận người dân miền Nam được xếp vào thành phần “Ngụy”, từ nông thôn đến thành thị, tất cả đều hưởng một cuộc “đổi đời” đích đáng. Tôi không cầm được giọt nước mắt, nước mắt chan hòa lẫn với nước mưa lạnh giá, cố nuốt trôi đi nỗi chua xót đắng cay của kiếp con người.
bo an co 2​Bò gặm cỏ

Cùng lúc ấy trên bờ kinh có đàn bò đang gặm cỏ. Những con bò thư thái, bình yên hình như chúng không biết cảnh đau lòng xung quanh, của loài người mà chúng từng hợp tác kéo cày sản xuất lúa gạo. Chúng vẫn ung dung, lâu lâu ngước nhìn những con người đang hì hục kéo cây dưới dòng kinh rồi tiếp tục cúi đầu nhai cỏ.

Trước cảnh đàn bò ăn cỏ, cảnh bộ đội cầm AK sẵn sàng nhả đạn, nhìn số phận của mình và các bạn tù, tự nhiên tôi có ý tưởng muốn được đổi đời, một cuộc đời mới hạnh phúc hơn: tôi muốn được trở thành con bò để được tự do gặm cỏ, lâu lâu ngước nhìn thế thái nhân tình mà không phải lo âu, tủi nhục như chúng tôi hiện nay.

Một làn gió mạnh thổi tạt qua. Những hạt mưa nặng trĩu làm da mặt tôi buốt rát, tôi chợt tỉnh. Tôi đang là con người, đang được “cải tạo” để trở thành người của xã hội mới.

*

Joan Baez

Ca sĩ Joan Baez

Năm 1979 khi ca sĩ Joan Baez phỏng vấn trên đảo tỵ nạn Nam Dương, tôi thuật lại câu chuyện “muốn làm con bò” ở trên cùng một vài câu chuyện tôi trực tiếp kinh nghiệm dưới chế độ ở Việt Nam sau 1975. Joan Baez cũng hỏi nhiều người tỵ nạn khác. Tất cả đều thuật lại những câu chuyện tương tự nhưng khác hoàn cảnh, tất cả đều nói lên tiếng nói như nhau: chế độ ở Việt Nam sau 1975 thật sự chỉ là một chế độ tàn bạo, nhà cầm quyền khéo léo che dấu từ lâu nay đã lộ rõ. Người ca sĩ từng hoạt động phản chiến, từng ca ngợi Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, từng chống Hoa Kỳ có mặt tại miền Nam đã phải cảm động. Bà thức tỉnh, bà cùng nhiều trí thức thế giới đăng thư ngỏ trên tờ Washington Post phản đối nhà cầm quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam làm bừng tỉnh lương tâm nhân loại.

Ca sĩ Joan Baez (phản chiến trước 1975)

Hôm nay tôi viết lại câu chuyện này trên đất nước người, không còn phải cực khổ như xưa, nhưng tôi có thể hình dung được vẫn còn biết bao nhiêu đồng bào của tôi tại quê nhà đang muốn được làm con bò như tôi trước đây.

Hoàng Lân

Tháng 3, 2015.

Trang Kiến Nghị

Monday, March 9th, 2015

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi sẽ mở trang ký kiến nghị, phản kháng, tuyên cáo về những vấn để liên quan đến đất nước Việt Nam. Hiện chúng tôi đang chuẩn bị, xin quý vị trở lại ký sau.

Trân trọng

Góc bên phải kiến nghị yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ không mời TBT CSVN là Nguyễn Phú Trọng sang thăm Hoa Kỳ

Đọc bản kiến nghị

 

 

Điểm Tin ngày 22/1/2014

Wednesday, January 22nd, 2014

Bão tuyết tại Đông Bắc Hoa Kỳ: Snow swirls up East Coast, leaving a bitter trail 

(Dân Làm Báo: nhận định của người dân trong nước)

Tôi gọi họ là Anh Hùng

Friday, January 10th, 2014

Đặng Chí Hùng (Danlambao) – Trong cuộc chiến mà Bên thắng cuộc (theo cách gọi của tác giả Huy Đức) đã được đặt vào thế “tất nhiên phải thắng” như tôi từng chứng minh trong 2 bài“Những sự thật cần phải biết – phần 1” thì không thể đem thành bại ra mà luận anh hùng…

 

Cứ mỗi độ xuân về, những ngày tháng 3 cho đến cuối tháng 4, đã gần 40 năm qua chúng ta thường được nghe những luận điệu lặp lại của những người cộng sản chuyên nghề ngậm máu phun người và làm thí ít mà báo cáo láo thì nhiều về cái gọi là “Chiến thắng lẫy lừng” thì tôi lại phải xuống bút.

 

Có lẽ tôi không cần phải nói lại về bản thân tôi vì tôi chẳng có cái gốc “Ngụy” để mà đi “chống phá” cách mạng. Nhưng tôi thấy cần phải luận anh hùng với đôi dòng để bạn đọc thấy trong cuộc chiến mà Bên thắng cuộc đã được đặt vào thế “tất nhiên phải thắng” thì không thể đem thành bại ra mà luận anh hùng…

 

Tại sao tôi nói như vậy? Vì trong cuộc chiến phi nghĩa mà cộng sản gây ra khiến nhân dân điêu linh (Xin xem thêm “Những sự thật không thể chối bỏ – phần 13”) thì kẻ thắng đã được đặt vào thế “được thắng”, còn người “thua” thì thực tế họ không thua mà họ đang thắng trong lòng chúng tôi, những người dù sinh sau đẻ muộn.

 

Một chế độ nào cũng có những khuyết điểm, Việt Nam Cộng Hòa không là ngoại lệ, nhưng ở chế độ đó con người đúng nghĩa là con người, ở đó con người không phải con vật, con thú cho nhà cầm quyền muốn làm gì thì làm như chế độ tôi đang phải sống. Điều này tôi đã chứng minh ở “Những sự thật cần phải biết – phần 2”. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng tôi không có ý ca ngợi VNCH một cách vô lý. Trong con mắt của tôi, đó là một chế độ đáng sống hơn vạn lần so với cộng sản ngày nay. Và nếu được cho lựa chọn thì tôi sẽ quay ngược thời gian về làm người lính VNCH – vì với tôi họ là “Anh Hùng”!

 

Đã cuối tháng 3 gãy súng (theo lời tác giả Cao Xuân Huy) của gần 40 năm sau cuộc chiến mà ở đó những người anh hùng đã gục xuống vì chính nghĩa. Họ đã gãy súng nhưng họ thực sự là anh hùng. Hãy bình tĩnh nhìn lại họ để xem những gì tôi gọi họ – những người lính VNCH là anh hùng có gì sai không?

 

Thứ nhất, trong khuôn khổ bài 1,2 “Những sự thật cần phải biết” tôi đã chứng minh rằng: VNCH không phải là “ngụy” và những người lính VNCH phải gục ngã vì họ bị ép phải thua và không còn khả năng để chiến đấu. Họ không thể dùng tay không đánh nhau với đoàn quân đông đảo có vũ khí, đạn dược áp đảo đang tiến theo thế cờ chính trị. Như vậy họ không phải là những người bại trận. Trên thực tế họ bị ép phải “thua”.

 

Thứ hai, với khẩu hiệu “tổ quốc – danh dự – trách nhiệm” thì quân lực VNCH đã chiến đấu cho tự do miền nam hơn 20 năm trời. Họ không phải là những kẻ đi gây chiến, xâm lược nước khác, khủng bố như cộng sản (Xin xem thêm “những sự thật cần phải biết – phần 3,4”). Vậy cớ sao họ vì an ninh, vì quốc gia mà chiến đấu không thể gọi họ là anh hùng?

 

Thứ ba, nhìn lại cuộc chiến VNCH và VNDCCH thì ai cũng thấy gương của những ông tướng dám tuẫn tiết theo thành như trường hợp của tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng… Vậy ai còn có thể nói quân lực có những người anh hùng đó không anh hùng? Dám chết cho lý tưởng của mình, dám chết vì thấy rằng mình dù bị ép thua nhưng cũng có trách nhiệm trong nỗi đau đó có thể gọi là anh hùng không? Có! Rất xứng đáng gọi họ là những anh hùng.

 

Thứ tư, khi so sánh với quân đội nhân dân VN hiện nay tôi càng thấy sự khác biệt của những người anh anh hùng và những kẻ “tự phong anh hùng”. Nếu quân lực VNCH có Ngụy Văn Thà và đồng đội sẵn sàng hi sinh vì biển đảo tổ quốc thì quân đội nhân dân cộng sản không dám “ho” một tiếng với Trung cộng bắn ngư dân và con “tri ân” giặc như một đứa con nít đang xu nịnh đám giang hồ mất nết. Vậy ai là anh hùng các bạn cũng đã biết rồi chứ?

 

Thứ năm, sau khi cuộc chiến kết thúc, hàng triệu người lính VNCH còn kẹt lại ở VN chịu thương tật, không ai giúp đỡ, không có lương hưu nhưng họ vẫn sống thẳng thắn và điềm đạm. Trong khi đó quân đội cộng sản tự cho mình là anh hùng thì lại vì cái sổ hưu mà đang cố bám lấy cái đảng khủng bố, độc tài và chịu làm thân nô lệ cho Tàu. Vậy ai là anh hùng? Xin giành sự suy ngẫm này cho chính các vị tướng già quân đội cộng sản.

 

Còn rất nhiều bằng chứng nhưng tôi xin chỉ nêu 5 điều chính cho thấy những người mà tôi gọi là anh hùng – những người lính VNCH là hoàn toàn có cơ sở. Cuộc chiến mà họ phải thua dù họ có chính nghĩa không có ý nghĩa. Điều ý nghĩa đọng lại cho mãi sau này đó là họ đã từng là những người anh hùng, họ xứng đáng được tôn vinh và quan trọng hơn họ đang thắng trong cuộc chiến trong lòng con dân Việt Nam!

 

Xin ngả mũ tri ân những người lính VNCH – Những người anh hùng – Những người đã đặt nền móng cho ý chí không chịu khuất phục cộng sản khát máu!

 

28/03/2012
 

…RỒi CHUNG CUỘC THÌ LỊCH SỬ SẼ PHÁN XÉT ÔNG VÕ NGUYÊN GIÁP NHƯ THẾ NÀO?

Thursday, December 26th, 2013

1“Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu!” vậy mà Ông Võ Nguyên Giáp theo âm lịch đã vượt quá 102 tuổi, để trở thành danh tướng sống lâu nhất từ trước tới nay. Tuy nhiên Ông đã nằm liệt trên giường bệnh viện cả năm nay và không còn nhiều sinh khí. Ông có thể ra đi bất cứ lúc nào theo luật của Tạo Hoá. Đảng Cộng Sản VN chắc đã có những quyết định liên quan đến tang lễ của Ông, một biến cố có thể gây nhiều chú ý trong và ngoài Việt Nam : quốc táng hay không quôc táng? Sẽ truy tặng Nguyên Soái Việt Nam cho Ông như “tội phạm” Cù Huy Hà Vũ đề nghị trước đây hay một danh hiệu độc đáo nào khác? Bộ máy thông tin, tuyên truyền của Đảng CS sẽ phải tận dụng cơ hội thế nào để vực dậy uy tín của chế độ vốn đã suy sụp quá thấp vì nạn tham nhũng, bất lực, lạm quyền, sa đoạ… đồng thời phải cố gắng giảm thiểu thế nào những tác hại do những “phản tuyên truyền” của những “thế lực thù địch” sẽ không bỏ lỡ dịp mà cáo giác nhóm  Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản VN hiện tại bất xứng vì đã phản bội lý tưởng và công nghiệp của đại tướng tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, vị đệ nhất khai quốc công thần.

Tiến sĩ Hà Sĩ Phu được kể là một thành phần của “thế lực thù địch” nói trên – thực ra lại là một người Việt Nam rất đáng kính trọng, một bậc sĩ phu đích thực của thời đại – đã viết một bài thơ hay cách đây hơn 2 năm vào ngày 23/08/2010 mừng thọ Đại Tướng Võ Nguyên Giáp tròn một trăm tuổi:

Trăm Năm Nguyên Giáp

Tính sổ Trời cho đã bách niên
Thử cân hạnh phúc với ưu phiền
Tiếc trang ĐỘC LẬP còn dang dở
Thương chữ QUYỀN DÂN chửa đáp đền
Một trận ĐIỆN BIÊN vang quốc sử
Ba thư “BÔ XÍT” động Dân quyền
Một đời ái quốc, VĂN thành VÕ
Chưa cởi chiến bào GIÁP vẫn NGUYÊN

Bài thơ không được phổ biến rộng rãi ở trong nước vì thuộc loại “văn thơ quốc cấm” gần giống như số phận ba thư “Bô Xít” cũng bị hạn chế lưu hành của chính Đại Tướng Giáp. Không ai biết chính xác Ông Giáp đã tiếp nhận bài thơ với cảm nghĩ như thế nào, rất có thể Ông mong đợi một “luồng” dư luận như vậy và cũng rất có thể Ông cũng có ấn tượng tốt với nội dung mới mẻ, sâu sắc của bài thơ mà tác giả là một người trí thức “đặc biệt” hơn là với những văn thơ ca ngợi đã trở thành nhàm như  “anh Văn- đại tướng Võ Nguyên Giáp thiên tài quân sự, người học trò xuất sắc của Bác Hồ ” hay “đại tướng Võ Nguyên Giáp đọ sức và đánh thắng 10 đại tướng của Pháp và Mỹ…””

Bài thơ ngoài việc biểu lộ sự khâm phục thành thực của tác giả đối với ông Võ Nguyên Giáp còn là một tác phẩm văn chưong cổ động việc tranh đấu bảo vệ Tổ Quốc trước sự uy hiếp của nước láng giềng phương Bắc vừa đòi hỏi Dân Chủ Tự Do nên đã nêu lên những thắc mắc khá tự nhiên đối với một số người đã đọc và suy nghĩ về nó: Con người thực của nhân vật lịch sử  nổi tiếng Võ Nguyên Giáp là ai? Có sự mâu thuẫn nào giữa một Võ Nguyên Giáp Cộng Sản và một Võ Nguyên Giáp yêu nước theo Dân Tộc Chủ Nghĩa?  Ông Giáp còn có những “ưu phiền” nào quan trọng hơn ngoài vụ chính quyền Cộng Sản VN cho Tầu khai thác mỏ Bô xít ở Cao Nguyên Trung Phần? Đảng Cộng Sản thực sự trọng đãi hay bạc đãi  Ông Giáp? Khi phú quý, công danh đã trở thành hư ảo, khi sự sống là ngọn đèn trước gió Ông Giáp muốn lịch sử phán xét Ông thế nào? Và chung cuộc thì lịch sử sẽ phán xét ông Võ Nguyên Giáp thế nào?

CÂY THÔNG TRĂM TUỔI ĐỨNG VỮNG GIỮA TUYẾT SƯƠNG, GIÔNG BÃO?  (lời tựa bài thơ của Hà Sĩ Phu mừng thọ Đại Tướng VNG)

Về Ông Võ Nguyên Giáp những ghi nhận sau đây là sự thực hoặc rất gần với sự thực:

– Nếu Ông Hồ Chí Minh là hoàng đế trong nước VNCS thì Ông Giáp là đệ nhất khai quốc  công thần.
– Ông Giáp được sự uỷ nhiệm của Ông Hồ đứng ra thành lập đơn vị quân đội đầu tiên của Việt Minh ngày 22/12/1944 – Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – nên được coi là người sáng lập ra “Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” ngày nay. Trong thời gian 10 năm Ông xây dựng, tổ chức, huấn luyện, phát triển tập thể quân đội ấy từ mấy chục người thành một lực lượng hữu hiệu mấy trăm ngàn chiến binh. Chính Ông Giáp đã đào tạo, trực tiếp chỉ huy hàng chục tướng lãnh xuất sắc có tên tuổi trong đó nhiều người gốc nông dân, công nhân như Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Hoàng Cầm, Vương Thừa Vũ…
– Không phải trải qua các cấp bậc quân hàm Ông Giáp được phong đại tướng vào tháng 5/1948, vị đại tướng đầu tiên của quân đội CSVN.
– Dưới sự lãnh đạo tổng quát của Ông Hồ và Bộ Chính Trị , Ông Giáp điều khiển thắng lợi cuộc chiến đấu quân sự chống Pháp 1945-1954 với  cương vị Tổng Tư Lệnh kiêm Bí Thư Quân Uỷ Trung Ương.
– Ông Giáp tiếp tục làm Tổng Tư Lệnh, Bí Thư Quân Uỷ Trung Ương cho tới năm 1975, tổng cộng 30 năm bao gồm cả cuộc chiến tranh chống Mỹ và thôn tính miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hoà) thống nhất đất nước bằng vũ lực.
– Trên mặt nổi thời kỳ vẻ vang nhất của Ông Giáp là 30 năm nói trên (1945-1975) vì kèm với chức vụ Tổng Tư Lệnh, Bí Thư Quân Uỷ Trung  Ương Ông còn là Phó Thủ Tướng, Bộ Trưởng Quốc Phòng, Uỷ Viên Bộ Chính trị của Đảng CSVN và chức Uỷ Viên Bộ Chính Trị là quan trọng nhất.
– Trong thực tế tột đỉnh danh vọng và quyền lực của Ông Giáp là chiến thắng Điện Biên Phủ và thời kỳ vàng son nhất của Ông Giáp chỉ kéo dài thêm được vài năm sau đó với một cao điểm khác là ngày 29/10/1956 khi Ông Giáp thay mặt Ông Hồ Chí Minh đọc báo cáo của Hội Nghị khoá 10 của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng CS tại Hà Nội nhìn nhận những khuyết điểm, sai lầm trong Cuộc Cải Cách Ruộng Đất và xin lỗi đồng bào. Chính ở thời điểm này có nhiều dự đoán Ông Giáp sẽ lên thay Trường Chinh làm Tổng Bí Thư  Đảng nhưng chỉ vài tháng sau chức vụ quan trọng này lại rơi vào tay Lê Duẩn, một người rất ít được biết đến vào lúc đó.
– Mặc dù dư luận chung vẫn xem Võ Nguyên Giáp là Đệ Nhất Công Thần của chế độ nhưng  trong cơ quan quyền lưc tối cao là Bộ Chính Trị Ông Giáp thường chỉ được sắp hạng 6 hay hạng 7 không những đứng sau Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng mà sau cả Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, chỉ trên Nguyễn Chí Thanh và Văn Tiến Dũng.

– Ngôi sao Võ Nguyên Giáp lu mờ hẳn sau chiến thắng 30/04/1975 của đảng CSVN. Trong khi những người khác thăng quan, tiến chức thì Ông Giáp lại bị hạ bệ dần: mất chức Bí Thư Tổng Quân Uỷ năm 1977, phải bàn giao chức Bộ Trưởng Quốc Phòng cho Văn Tiến Dũng năm 1980, bị loại khỏi Bộ Chính Trị năm 1982 trong khi Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng vẫn tiếp tục ngôi vị của mình. Không có một lời giải thích chính thức nào về cái lý do của sự hạ bệ trắng trợn này. Mất căn bản quyền lực là Uỷ Viên Bộ Chính Trị, Ông Giáp vẫn còn chức “ngồi chơi xơi nước” là Phó Thủ Tướng phụ trách Khoa Học, Kỹ Thuật kiêm Chủ Tịch Uỷ Ban Dân số và Sinh Đẻ Có Kế Hoạch cho đến 1991 mới chính thức nghỉ hưu. Không ai nghe Ông Giáp than phiền vì bị đối xử bất công nhưng cũng không ai ghi nhận được với Ông Giáp nước Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể nào về Khoa Học, Kỹ Thuật hay Sinh Đẻ Có Kế Hoạch. Người ta chỉ nghe truyền miệng câu ca dao thời đại nửa bi, nửa hài:

Ngày xưa Đại Tướng cầm quân
Ngày nay Đại Tướng cầm quần chị em!

– Không ai có thể phủ nhận đươc vai trò trội yếu của Ông Giáp trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Mặc dù phải tham khảo, thảo luận thường xuyên với Ông Hồ và Bộ Chính Trị, Ông được nhiều tự do hành động, trực tiếp điều binh, khiển tướng quần thảo với địch quân trên khắp chiến trường chính ở Bắc Việt trong suốt 8,9 năm, chủ động tung ra   rất nhiều chiến dịch : Việt Bắc 1947, Biên Giới 1950, Trung Du 1950, Đông Bắc 1951, Đồng Bằng 1951, Hoà Bình 1951, Tây Bắc 1952, Thượng Lào 1953, Điện Biên Phủ 1954. Tài năng quân sự của Ông Giáp quả thực không thua kém gì đệ nhất danh tướng của Pháp lúc bấy giờ là Đại Tướng De Lattre de Tassigny. Chiến thắng vang dội tại Điện Biên Phủ đã gắn liền với tên tuổi Võ Nguyên Giáp.Tuy không thể so sánh- về qui mô và cường độ – với những trận đánh lớn có trăm sư đoàn, hàng triệu quân tham dự trong thế chiến thứ nhất và thứ hai, Điện Biên Phủ vẫn được coi là một trận đánh rất quan trọng trong thế kỷ 20 vì đã thúc đẩy và rút ngắn sự cáo chung chủ nghĩa Thực Dân của các đế quốc Âu Châu vốn đã suy yếu nhiều sau thế chiến thứ hai.

– Khi ca tụng hay phải ca tụng tài năng, thành tích của Ông Giáp báo chí, sử sách của người Cộng Sản rất ít khi thiếu vắng cụm từ : “đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của Bác Hồ…”. Nhưng nhấn mạnh quá như thế để làm gì? Muốn trả lời phải nhìn lại những sự kiện và diễn biến lịch sử : Ông Hồ Chí Minh, sinh năm 1890, hơn Ông Giáp khoảng 20 tuổi, nên về tuổi tác cũng đáng bậc tôn trưởng của Ông Giáp. Ông Hồ sáng lập ra cả một triều đại tất nhiên phải là người làm chính trị xuất sắc, có tài năng và những đức tính cần thiết. Ông khôn ngoan, lão luyện, nhậy bén, mưu cơ, biến báo, biết nhiều ngoại ngữ như tiếng Pháp, Nga, Hoa, Anh vì mấy chục năm lăn lộn ở nước ngoài, và mặc dù chưa có công lao gì với phong trào Cộng Sản trong nước Ông được tôn ngay làm lãnh tụ vì Ông đáng mặt lãnh tụ, quan trọng hơn nữa, vì có chỉ thị từ “trên” đưa xuống – Ông là người về từ “thánh địa Mạc Tư Khoa”, Ông là đại diện của Cộng Sản Quốc Tế đặc trách Việt Nam ! Mặt khác, Ông chưa học hết trung học đệ nhất cấp. Ông không tốt nghiệp trường học, Ông chỉ tốt nghiệp trường đời; tư tưởng của Ông cũng không có gì đặc biệt hay sâu sắc ngoài những nguyên tắc giản dị về tổ chức và hành động. Quả thực Ông Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Ông Võ Nguyên Giáp, là người trọng dụng Ông Võ Nguyên Giáp nhưng Ông không phải là sư phụ của Ông  Võ Nguyên Giáp. Lúc gặp Ông Hồ lần đầu tiên năm 1939 trên đất Trung Hoa Ông Giáp đã gần 30, có bằng Cử Nhân Luật Khoa và Kinh Tế Chính Trị Học (1937) -rất hiếm hoi vào lúc bấy giờ – và còn là Giáo Sư dậy sử ở Hà Nội, nổi tiếng về những bài giảng về chiến tranh, sách lược và chiến lược, đã gia nhập đảng Cộng Sản sau khi đã thấm nhuần lý thuyết Cộng Sản, đã hoạt động Cộng Sản gần mười năm, đã nếm mùi nhà tù Thực Dân, đã làm báo tiếng Việt, tiếng Pháp, đã viết sách cùng với Trường Chinh ( đồng tác giả cuốn sách “Vấn Đề Dân Cầy” đặt nền tảng dù là sơ lược cho cuộc cách mạng Cộng Sản ở Việt Nam ) Với trình độ và căn bản như thế Ông Giáp có cần Ông Hồ “dìu dắt” nữa không? Ông Giáp có thể học thêm đuợc gì ở Ông Hồ về chủ nghĩa Cộng Sản? Về kiến thức quân sự? Cho nên nói Ông Giáp là học trò của Ông Hồ cũng phi lý như nói Hàn Tín là học trò của Lưu Bang! Tóm tắt chỉ có thể giải thích: Sau Điện Biên Phủ, Đảng Cộng Sản VN thấy có nhu cầu đưa Ông Hồ lên cao hơn nữa và kéo Ông Giáp đang nổi tiếng lừng lẫy xuống thấp hơn. Tất nhiên Ông Hồ đồng ý với …sáng kiến của chính mình vì học trò phải kém hơn thầy, phải phục tùng thầy và nhất là không bao giờ được phản thầy theo như đạo lý của người Việt Nam. Từ đây danh hiệu “người học trò xuất sắc của Bác Hồ” là vòng kim cô của Đường Tam Tạng tròng vào đầu Tôn Hành Giả. Ông Giáp đành tự nguyện chấp nhận danh hiệu vì không có chọn lựa nào khác vả lại, có thể Ông hi vọng, tuy dưới một người nhưng lại trên mọi người. Hy vọng đã sớm thành ảo vọng.

– Tại Việt Nam, người ta không so sánh Võ Nguyên Giáp với Trần Hưng Đạo dù công nghiệp quân sự của hai danh tướng ở hai thời đại cách nhau hơn 6 trăm năm có nhiều điểm tương đồng,  bản thân Ông Giáp cũng cố gắng tránh tự so sánh với Trần Hưng Đạo vì nhiều lý do nhưng lý do chính là Ông Hồ đã so sánh chính mình , bác bác tôi tôi, với bậc tổ tiên anh hùng của chính Ông và của dân tộc Việt Nam trước đó mất rồi !

Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng
Tôi, bác cùng chung nghiệp kiếm cung
Bác đuổi quân Nguyên thanh kiếm bạc
Tôi nay đánh Pháp ngọn cờ hồng
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dắt năm châu đến đại đồng
Bác có linh thiêng cười một tiếng
Mừng tôi cách mạng sắp thành công

Bài thơ làm trong lúc cao hứng đã rọi ít nhất một tia sáng vào con người thực của Ông Hồ Chí Minh và mang một thông điệp mà Ông Võ Nguyên Giáp phải hiểu rõ hơn ai hết!

– Tuyệt đại đa số nhân dân trong những nước Cộng Sản độc tài toàn trị đều khốn khổ  vì nghèo, vì áp bức nhưng “chính trị cung đình” triều đại Hồ Chí Minh ở Việt Nam quả thực không đến nỗi máu me lênh láng như triều đại Stalin ở Liên Sô hay triều đại Mao Trạch Đông ở Trung Hoa. Tuy vậy theo thói đời sự đoàn kết thường chỉ có trong buổi hoạn nạn, hàn vi, còn vinh quang, quyền lực không ai dễ nhường ai cho nên trong triều đình của Ông Hồ Chí Minh cũng không hề thiếu những “ma nớp” trong bóng tối, không thiếu những tranh dành ngôi thứ mà người bị thiệt thòi nhất là Ông Giáp. Như đã nói Ông Hồ trọng dụng Ông Giáp : “Việc quân sự thì giao cho chú Văn ! ” vì “chú Văn” là người có trình độ nhất, có tầm nhìn chiến lược cao nhất, có nhiều năng khiếu quân sự nhất. Nhưng chính Ông Hồ cũng là người tìm cách kiềm chế Ông Giáp khi Ông cảm thấy uy tín của Ông Giáp lên quá cao và có thể trở nên nguy hiểm. Vòng “kim cô” chưa đủ làm Ông an tâm. Là một kịch sĩ đại tài, trong khi vẫn tỏ ra ưu ái, nâng đỡ, che chở “người học trò xuất sắc” Ông phó thác công việc kiềm chế, đè nén Ông Giáp cho các Uỷ Viên khác của Bộ Chính Trị là những người có mặc cảm thua kém Ông Giáp về trí thức, ghen tức về hào quang Ông Giáp được hưởng sau chiến thắng Điện Biên Phủ và lo lắng một ngày nào đó Ông Giáp có thể vượt qua họ, lấy mất chức vụ cao cấp của họ trên đường tiến dần đến vị trí tối cao. Phải chăng đó là lý do chính khiến Ông Giáp, người có uy tín thứ hai của chế độ sau Ông Hồ- cái uy tín có được chủ yếu do công lao chiến trận chứ không phải do kết quả của tuyên truyền phóng đại- cứ phải lẹt đẹt mãi gần cuối danh sách Uỷ Viên Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản VN? Phải chăng đó cũng là lý do Nguyễn Chí Thanh, một Uỷ viên khác của Bộ Chính Trị, Chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị của Quân Đội Nhân Dân VN cũng được phong đại tướng (1959) để làm đối trọng ngang ngửa với Đại Tướng Giáp trong quân đội? Cũng như trường hợp của Văn Tiến Dũng sau này? Phải chăng đó cũng là lý do Ông Hồ đã chọn Lê Duẩn, một người từ trong bóng tối, thay Trường Chinh làm Tổng Bí Thư của Đảng thay vì chọn Võ Nguyên Giáp như mọi người chờ đợi vào lúc bấy giờ? Phải chăng Ông Hồ đã sử dụng tuyệt hảo kỹ thuật “balance and check” để duy trì ngôi vị độc tôn?

– Ông Hồ Chí Minh càng già yếu, cuộc chiến tranh chống Mỹ “giải phóng miền Nam” càng khốc liệt, quyền hành của Lê Duẩn càng gia tăng. Sau khi Ông Hồ Chí Minh mất tháng 9/1969 Lê Duẩn từng bước thu tóm trọn quyền hành và trở nên Tổng Bí Thư mạnh nhất, quyết đoán nhất trong lịch sử của Đảng Cộng Sản VN với sự phụ tá đắc lực của Lê Đức Thọ. Ông Giáp phải làm việc với ông chủ mới khó tính, thiếu thiện cảm, đầy ngờ vực và rất nhiều thành kiến.  Nỗi Ưu phiền càng thêm chồng chất . Cặp bài trùng Lê Duẩn – Lê Đức Thọ vì nhiều lý do khác nhau vẫn giữ Ông Giáp trong các chức vụ  Uỷ Viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ Tướng, Bí Thư Tổng Quân Uỷ, Bộ Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tư lệnh nhưng chỉ trên giấy tờ hình thức, quyền hành thực sự của Ông Giáp hoàn toàn khác thời chiến tranh chống Pháp. Trái với những biểu hiện bề ngoài, sự đóng góp thực tế của Ông Giáp rất mờ nhạt trong thời kỳ này. Trong quân đội Ông phải san sẻ quyền hành với Tổng Tham Mưu Trưởng Văn Tiến Dũng trước kia là đàn em của Ông  nhưng bây giờ đã chuyển sự trung thành sang phía Lê Duẩn và được cất nhắc lên ngang với Ông Giáp trong Bộ Chính Trị và sau cùng sẽ thay Ông Giáp trong cương vị Bộ Trưởng Quốc phòng năm 1980 như đã nói. Ông Giáp được ngồi hay bị ngồi ở Hà Nội- quá xa chiến trường chính ở miền Nam VN, lại không quen thuộc với địa thế, nhân tình người dân Miền Nam bằng chính Lê Duẩn và những cán bộ cao cấp khác. Người điều khiển thực sự cuộc chiến đấu tại chỗ lúc đầu là Nguyễn Chí Thanh ( chết năm 1967 ) sau là Phạm Hùng. Cả hai đều cùng đẳng cấp với Võ Nguyên Giáp trong Bộ Chính Trị, nhận lệnh của Lê Duẩn, không nhận lệnh của Võ Nguyên Giáp. Chức Tổng Tư Lệnh của Ông Giáp có tiếng mà không có miếng, ngay cả chức Bí Thư Quân Uỷ Trung Ưong cũng vậy. “Đại Thắng Mùa Xuân” tháng 4/1975 là quân công của Văn Tiến Dũng, không phải của Võ Nguyên Giáp. Ông Giáp rút cục chỉ là một trong những phụ tá của Lê Duẩn, một phụ tá bất đắc dĩ, một phụ tá không được tin dùng. Thảm kịch là vòng lẩn quẩn: không được tin dùng thì khó có đóng góp xuất sắc, không có đóng góp xuất sắc thì càng không được tin dùng. Trong triều đại Lê Duẩn Ông Giáp bị dồn vào vị trí của kẻ hàng thần lơ láo, rồi bị liên tiếp hạ tầng công tác kể từ 1977 trở về sau. Điều này có nghĩa ban Lãnh Đạo Đảng đánh giá công lao của Ông Giáp kém hơn các “đồng chí” khác trong các cuộc chiến tranh chống Mỹ, chống Pol Pot (1978-1979) và chống quân xâm lược Tầu năm 1979. Khi Lê Duẩn và Lê Đức Thọ có đủ tự tin về quyền lực của mình thì họ đã làm nhục, tước binh quyền, gạt bỏ Ông Giáp một cách thô bạo mà không chịu một phản ứng bất lợi nào.

– Lê Duẩn chết tháng 6/1986, Trường Chinh trở lại làm Tổng Bí Thư, Phạm Văn Đồng vẫn làm thủ tướng nhưng Ông Giáp, dù còn khoẻ mạnh, minh mẫn vẫn “ngồi chơi, xơi nước”. Sau này các đồng liêu, đồng chí, địch thủ cùng thế hệ của Ông trong Đảng đã lần lượt chết hết, Ông Giáp, “cây thông trăm tuổi đứng giữa tuyết sương”, trở thành hiếm quý, được ca tụng nhiều hơn và có vẻ được đối xử tử tế hơn. Các lãnh tụ cao cấp nhất của chế độ gồm các Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng, Bộ Trưởng Công An, Bộ Trưởng Quốc Phòng…thường xuyên đến vấn an, chúc Tết, mừng sinh nhật, tặng quà, tặng hoa, luôn luôn cung kính…Họ cung kính là phải: lúc đại tướng Tổng Tư Lệnh Võ Nguyên Giáp đánh tan quân Pháp tại Điện Biên Phủ thì Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu (nhiệm kỳ 1997-2001) mới là chính uỷ cấp đại đội và đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới là đứa bé con 5 tuổi. Ông Giáp luôn giữ vẻ lịch sự, bình thản với những màn trình diễn để quay phim, chụp hình như thế. Ông giữ kín những ý nghĩ thực của mình vì Ông biết đằng sau bức màn cung kính vẫn tiềm ẩn những nguy hiểm chết người – mỗi thời đều có nguy hiểm riêng của nó.

BÍ QUYẾT CỦA ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH

Vị trí đặc biệt độc nhất vô nhị của Võ Nguyên Giáp trong nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa buộc Ông phải hết sức cẩn thận trong mọi hành động, cử chỉ và lời nói.  Cơ bản Ông là chiến lược gia. Trong nghịch cảnh, bí quyết để tồn tại của Võ Nguyên Giáp là: biết mình, biết người!
Mặc dù quyết định của Ông Hồ Chí Minh chọn Lê Duẩn thay Trường Chinh (1957) làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản VN là căn nguyên làm suy sụp sự nghiệp chính trị của Võ Nguyên Giáp sau này, Ông Giáp đối với Ông Hồ vẫn ơn nhiều hơn oán và trước sau vẫn giữ phận bề tôi trung thành. Tương quan Lê Duẩn-Võ Nguyên Giáp thì khác hẳn, họ là địch thủ từ lúc khởi đầu, có phần tương tự như sự cạnh tranh quyền lực giữa Stalin và Trostky, một người nắm bộ máy Đảng, một người nắm Quân Đội. Điều khác biệt là Ông Giáp chịu thua ngay. Các sử gia về sau có thể ngạc nhiên tại sao Ông Giáp chịu thua dễ dàng như thế. Lý do thực chỉ mình Ông Giáp biết rõ: Ông không muốn mất mạng như  bộ trưởng quốc phòng, nguyên soái Bành Đức Hoài ở Tầu, không muốn bị thanh trừng như bộ trưởng quốc phòng, nguyên soái Zhukov ở Nga? Lê Duẩn lợi hại, sắc bén gấp mấy lần Tào Sảng trong Tam Quốc Chí mà Ông thì không bằng Tư Mã Ý ?  Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đã nắm chặt guồng máy Đảng, an ninh, tình báo có mặt khắp nơi, bên quân đội thì Tổng Tham Mưu Trưởng Văn Tiến Dũng đã là người của “phía bên kia”…? Là chiến lược gia kiêm thầy giáo dậy sử, Ông Giáp phải đã nghiên cứu cuộc đảo chính ngoạn mục của Khrushchev/ Zhukov loại trừ Beria, cuộc đảo chính của Hoa Quốc Phong/ Diệp Kiếm Anh bắt Tứ Nhân Bang nhưng địch thủ của Ông cũng rút tỉa kinh nghiệm từ những biến cố chấn động này tại hai nước Cộng Sản đàn anh để phòng vệ cẩn thận rồi? Ông  Giáp đầu hàng thực sự, “nín thở qua sông”, cố gắng chăm chỉ làm công việc chuyên môn quân sự của mình, không phe phái, không bè đảng, không đàn anh, đàn em, không chiêu hiền, đãi sĩ, nêu gưong đảng viên kỷ luật, trong sạch, gưong mẫu, chí công vô tư, chấp hành nghiêm chỉnh mọi quyết định của thượng cấp, cố gắng loại trừ mọi lý do để có thể bị hãm hại. Tuy vậy Ông Giáp biết rõ  Ông vẫn bị ghét, bị ghen tức vì là “người Việt Nam số 2 sau Bác Hồ”, bị ngờ vực, bị theo dõi nhất cử, nhất động…Ông tập thiền để bớt căng thẳng, để bình tĩnh sáng suốt, để nhẫn nhục, chịu đựng. Khi nghỉ hưu Ông vẫn làm việc, luôn luôn đọc sách, báo, tài liệu, xem tin tức trong nước, ngoài nước, viết ra những kinh nghiệm, những suy nghĩ. Ông ăn ngủ  rất điều độ, tập thể dục đều đặn… Và đặc biệt hơn nữa, một tờ báo trong nước, tờ ww.vietnam.net ngày 25/08/2012 trong một bài về Ông Giáp vô tình tiết lộ “bí mật” của Ông Giáp như sau : theo lời của Bác Sĩ riêng trong suốt 30 năm (1965-1995) của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp là Đại Tá Phạm Văn Ngà, năm nay 90 tuổi, thì Ông là người được Đại Tướng Giáp tin tưởng tuyệt đối và “Đại Tướng có một nguyên tắc bất di bất dịch không bao giờ uống thuốc của ai đưa, kể cả con cái, trừ Bác Sĩ Ngà”. Phải chăng Ông Giáp bị ám ảnh bởi hàng trăm những vụ ám sát chính trị khắp hai miền Nam, Bắc mà Đảng Cộng Sản VN thực hiện trong suốt 30 năm máu lửa chiến tranh, bị ám ảnh với cái chết mờ ám, bất đắc kỳ tử của Đại Tướng Hoàng Văn Thái, một người thân cận? Hay Ông Giáp cũng bị ám ảnh với cái chết do thuốc độc nhưng được…quốc táng mà Hitler dành riêng cho  Nguyên Soái Rommel tại Đức Quốc Xă?

Lê Duẩn chết, Ông Giáp như được giải thoát. Đến nay, Ông đă sống thêm 25 năm không có Lê Duẩn trong cuộc đời. Trong guồng máy quyền lực hậu Lê Duẩn không ai coi Ông Võ Nguyên Giáp là địch thủ. Ông đã quá già để có thể cạnh tranh quyền lực với họ. Các Uỷ Viên Bộ Chính Trị đảng CSVN, nhất là những người thuộc thế hệ sau sẵn lòng kính trọng Ông Giáp như một bậc nguyên lão đệ nhất khai quốc công thần. Bởi vì Ông Giáp còn sống và Bác Hồ đã chết là bông hoa, là chậu kiểng của chế độ, là lý do “chính đáng” cho họ, “hậu duệ của các bậc tiền bối anh hùng”, được tiếp tục làm “vua tập thể” của 85 triệu người Việt Nam. Họ không những kính trọng mà còn hậu đãi Ông Giáp- dinh thự, xe cộ, vệ sĩ, giúp việc, phụ tá, nhân viên văn phòng, bác si, y tá thường trực và mọi thứ bổng lộc, phụ cấp…và có thể còn hứa hẹn làm quốc táng cho Ông với điều kiện: Ông không được can thiệp vào việc cai trị đất nước của họ. Cờ đến tay ai, người ấy phất, thời của Ông đã qua rồi, bây giờ là thời của họ, ngay cả Bác Hồ sống lại họ cũng không nhường quyền huống chi Ông Giáp! Trước đây, họ đã mời Phạm Văn Đồng, Lê Đức Anh, Đỗ Mười làm cố vấn chính thức của của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng nhưng không bao giờ “dại dột” mời Võ Nguyên Giáp. Họ không muốn, không cần ý kiến của Ông Giáp. Ông càng ít ý kiến họ càng “dễ làm việc”. Họ muốn Ông Giáp làm tượng gỗ cho họ “cung kính” ngay khi Ông còn sống. Sự việc như vậy rất giản dị: Ông muốn uống rượu mời hay rượu phạt?

Đối với Ông Giáp, sự chọn lựa tưởng như dễ dàng, thực ra lại rất khó khăn. Một chút suy nghĩ, phân tích khách quan cũng có thể hiểu được nỗi “ưu phiền” của Ông Giáp. Ông nhìn xuyên qua được những cung kính giả dối. Cuộc đời, sự nghiệp của Võ Nguyên Giáp không có chỗ cho những tính toán vật chất. Ông không thể bị mua chuộc- với một giá rẻ mạt so với những tài sản triệu triệu hay tỉ tỉ đô la của bọn tham nhũng. Chắc chắn Ông không ưa đám người cầm quyền hiện thời, thậm chí có thể rất khinh bỉ.- Một bọn quyền gian làm việc thoán đoạt, một bầy sâu (dùng chữ của Ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang) khổng lồ đục ruỗng đất nước, một xã hội truỵ lạc, hèn yếu trước hiểm hoạ bị ngoại bang thôn tính. Ông đánh trận Điện Biên Phủ chấn động thế giới chấm dứt “một trăm năm nô lệ giặc Tây” đâu phải để ngồi nhìn lịch sử “một ngàn năm nô lệ giặc Tầu” đang từng bước, từng bước lập lại?! Ông Giáp không phải không biết rất nhiều người Việt Nam, trong nước, ngoài nước đủ mọi tầng lớp- cựu chiến binh, trí thức, văn nghệ si, nông dân nghèo khổ, công nhân bị bóc lột, tù nhân chính trị, những người tranh đấu… trông đợi ở Ông như nắng hạn mong mưa rào. Nhưng Ông phải cân nhắc kỹ-  luôn luôn như một chiến lược gia “biết mình, biết người”: nếu Ông lên tiếng đáp ứng một người, Ông sẽ phải đáp ứng nhiều người và sẽ bị cuốn vào cơn gió lốc chính trị mới…rồi trở thành kẻ thù của những kẻ cầm quyền nguy hiểm. Rồi an toàn của Ông, an toàn của con cháu Ông…”Cuộc cách mạng có thể phải làm lại” nhưng đó là việc của người khác, Ông Giáp không muốn làm chính trị nữa. Bởi thế Ông đã không lên tiếng khi chính quyền đàn áp rất thô bạo người dân Việt Nam biểu tình chống Tầu lấn chiếm Biển Đông, không lên tiếng khi tham nhũng lan tràn thành quốc nạn, im lặng trước “vấn đề dân cầy mất ruộng”, chỉ gửi vòng hoa phúng viếng tỏ lòng thương tiếc khi Trung Tướng Trần Độ đã qua đời, Ông không biết, không nghe, không bình luận vụ án nổi tiếng “hai bao cao su đã qua xử dụng” Cù Huy Hà Vũ và Ông cũng “quên”cảm ơn Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu đã tặng Ông một bài thơ mừng thọ thật hay. Ông rất tiếc nhưng mọi người nên thông cảm! Một cụ già  99 tuổi chỉ có thể làm được đến thế !

Nói cho công bằng, Ông Võ Nguyên Giáp cũng không khuất phục hoàn toàn trước quyền lực của đám hậu sinh như Ông đã làm trong thời Lê Duẩn- nhân danh sự trung thành với Đảng. Bằng cớ là Ông đã gửi công khai và liên tiếp 3 lá thư cho “đồng chí thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”, Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, Quốc Hội trong năm 2009 yêu cầu ngưng việc cho người Tầu khai thác mỏ bô xít ở  Tây Nguyên vì việc ấy có hại cho quyền lợi quốc gia. Lời lẽ trong thư rõ ràng, đĩnh đạc như văn phong của một bậc lão thần, một bậc trưởng thượng trình lên ấu chúa. Ba lá thư làm sôi nổi dư luận một thời gian, dấy lên bao hi vọng. Bộ Chính Trị dĩ nhiên bác bỏ quan điểm của Đại Tướng Giáp nhưng không coi Ông là “thế lực thù địch”. Như thế là nhà chiến lược đã đạt mục đích:  Trước công luận Ông không phải là tượng gỗ. Ông vẫn chú tâm, lo lắng cho đất nước. Ông không thể bị đồng nhất với cái chế độ xấu xa mà Ông có những bất đồng. Mặt khác Ông chọn vấn đề khai thác Bô Xít là một đề tài vừa phải, trung bình không nặng ký, không nhậy cảm như vấn đề tham nhũng chẳng hạn là một vấn đề có thể làm các Uỷ Viên Bộ Chính Trị mất mặt rồi sinh căm thù. Ngoài ra, Ông đã ngừng lại đúng lúc. Rất nhiều người lại thất vọng nhưng ai nỡ trách Ông “đánh trống, bỏ dùi”? Khi thời gian còn lại đếm từng tháng, từng ngày thì cái quan trọng nhất là chỗ đứng của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp trong lịch sử. Ông muốn được nhớ đến như một anh hùng dân tộc có công dành độc lập và suốt đời vì dân vì nước nhưng lịch sử lại có những tiêu chuẩn khách quan riêng. …và chung cuộc thì lịch sử sẽ phán xét Ông Võ Nguyên Giáp thế nào ???

C.T.
( cuối thu 2012 )

Rate this:

0
0
Rate This

Liên kết với:

Like this:

This entry was posted in Cao Tuấn. Bookmark the permalink.

One Response to …RỒi CHUNG CUỘC THÌ LỊCH SỬ SẼ PHÁN XÉT ÔNG VÕ NGUYÊN GIÁP NHƯ THẾ NÀO?

Nạn Thờ Cúng Qủy Sa Tan Trong Gia Tộc Ông Giáp?

Qua bức hình này, người ta có thể đánh giá trình độ văn hóa con cháu nhà ông Giáp quá kém dưới mức hiểu biết bình thường của người dân Việt Nam. Đành rằng anh theo cộng sản vô thần Mác Lê kiểu gì thì kiểu, nhưng anh phải biết giáo dục con cháu theo lề lối nếp sống tập tục của người Việt Nam. Đằng này anh Tây hóa hoàn toàn, con cái nhà anh toàn bận đồ đen theo lối thờ cúng qủy Sa Tan ở phương Tây. Các Mác ( Karl Mark ) trước khi đến với triết học duy tâm biện chứng pháp của Hegels, để ăn cắp 3 quy luật cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác ngày nay cho ông Giáp học tập. Ngày xưa thời trai trẻ, Mác từng là tín đồ của hội Tam Điểm, sau tín đồ thờ cúng Satan, cuối cùng là tự xưng là ông tổ khỉ đỏ “Vô Thần”

Bọn này nhiều đứa bây giờ còn tô mày kẻ mắt, sơn xanh sơn đỏ lên tóc. Mặc áo dài đen, chúng thường tụ tập ngủ ngoài bãi tha ma, nghĩa địa gì đó. Người ta gọi là Sekte. Sekte có nhiều hệ phái lắm. Đơn cử như Zeuge Jehova thờ Chúa Jesus ngoài luồng cũng bị coi như là một Sekte huống chi là bọn thờ Sa Tan như kiểu Các Mác, Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Stalin v. v…

– Hội Tam điểm vẫn thường thêm vào nguồn gốc lịch sử một nguồn gốc cổ xưa hơn mang tính huyền thoại và biểu tượng. Họ định vị nguồn gốc của mình trong thời gian dựa vào nghệ thuật xây cất. Trong giai đoạn mà ngành cổ sinh vật học còn chưa phát triển, lẽ tự nhiên họ coi nguyên khởi của hội đã xuất hiện từ thời kỳ Adam (con người đầu tiên, theo quan điểm hồi đó), hoặc Noeh (người xây dựng thuyền Ark vĩ đại trong truyền thuyết Do Thái – Cơ đốc giáo), nhưng phổ biến hơn cả là thời kỳ xây dựng Đền Jerusalem tức Đền Salomon bởi kiến trúc sư Hiram Abif.

Năm 1736 ở Pháp, hiệp sĩ Andrew Michael Ramsay đã liên hệ Hội Tam Điểm với lịch sử các Kỵ sĩ Thập tự. Những người khác ở Anh và Pháp, muộn hơn một chút, đã biến đổi nguồn tham khảo này sang một nguồn có tính biểu tượng liên hệ với Thánh chế La Mã hoặc với Hiệp sĩ Đền Thánh.

Cuối cùng vào giữa thế kỷ 19, với việc khám phá lại các di sản của thời Trung Cổ, huyền thoại Hội Tam Điểm được chuyển dời và tăng cường bằng những liên hệ với việc xây dựng các nhà thờ.

-Việc thờ Satan đã có từ lâu đời, dưới những danh hiệu khác nhau nơi những người chủ trương đa thần, nhất là từ chủ trương nhị nguyên thuyết của Manicheo chủ trương thế giới này gồm 2 nguyên nhân sáng tạo và điều hành: Thiện và Ác (thần lành và thần dữ), nhưng danh từ chủ thuyết thờ Satan (Satanism) được chú ý nhiều từ thế kỷ 12 với lễ đen (the black Mass).Một chủ thuyết hoàn toàn chống lại văn minh Kitô giáo.

Satan, thủ lãnh các thiên thần sa ngã. Hắn bất phục tùng và chống lại Thiên Chúa.
Hắn có các tên khác là quỉ dữ, Bengiebut, Luxiphe, thần tối tăm, cha gian dối, con rồng bị kết án. Hắn là con rắn đã cám dỗ bà Evà trong vừơn Địa đàng. Hắn là con rồng đỏ giao chiến với Bà và con cháu Bà trong sách Khải huyền của thánh Gioan.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, hắn được coi là kẻ đem những sự dữ và chuyên cám dỗ con người sa ngã phản bội Thiên Chúa.

Hầu hết người trẻ nhập hội kín theo Satan vì 4 lý do sau:

1. Muốn có kiến thức và uy quyền:

2. Áp lực bạn bè:

3. Đầu óc hiếu kỳ, thích mới lạ:

4. Tuyệt vọng:

Bầy Gà Ri Bận Đồ Tang Đen
cảm tác bức ảnh cà nhà ông Giáp bận toàn đồ đen

Đầy nhà vang tiếng ruồi đen
Trẻ già lớn bé dở điên dở khùng
Chắp tay cầu khẩn thần trùng
Lạnh lùng tấm ảnh rợn rùng ác ma

Áo tang trắng toát nhạt nhòa
Mịt mờ trong ảnh sơn hà ngả nghiêng
Một thời gõ mõ khua chiêng
Xú danh đại tướng chập cheng lên đồng

Điện Biên Phủ, giả chiến công
Ba Tàu thêm thắt từ không có gì
Hào quang bồi bút như ri
Bần nông thất học thầm thì nhỏ to

Anh văn đại tướng bốn sao
Nhờ tay Hồ tặc xáo xào mà nên
Đàn em bậu sậu vốn quen
Rỉ tai mã tấu bon chen cửa quyền

Giang sơn tổ quốc tật nguyền
Mao – Hồ chỉ đạo triền miên u hoài
Lạc Hồng hiểm họa bi ai
Oán hờn ngùn ngụt tuyền đài chạy đâu?

Chú thích: Nực cười, Giáp đã mặc sẵn bộ quân phục màu trắng như để tang cho mình.
Trước ảnh y thì cả nhà lại mặc toàn đồ đen giống như thờ qủy Sa Tan ở một số tà giáo Phương Tây người ta gọi là Sekte.
7.10.2013 Lu Hà

Lờ Mờ Ma Ám

Lờ mờ ma ám cháu con
Khói hương nghi ngút gọi hồn Giáp ơi!
Chập chờn dắt díu đười ươi
Từ hang Pắc Bó xa xôi mò về

Sa Tan thờ cúng dầm dề
Màu đen ảm đạm thảm thê hãi hùng
Cô hồn dẫn tới âm cung
Xôn xao ngoài cửa thần trùng phá thai

Oán hờn ngùn ngụt trần ai
Xương phơi đồng nội u hoài thiên thu
Điện Biên Phủ, chốn âm u
Ba Tàu cố vấn mịt mù khói sương

Xú danh cho cái chiến công
Hồ ly Mao tặc bất lương lạc loài
Chạy sang Pháp Quốc hình hài
Xin quay trở lại vật nài chiến tranh

Giang sơn thề nguyện tan tành
Cà Mau Móng Cái bạo hành xứ quân
Giam cầm bắt bớ tràn lan
Dân oan kiếu khiện khóc than mặc người.

8.10.2013 Lu Hà

THÔNG BÁO CUỘC THI THƠ VIẾT VỀ ĐẠI TƯỚNG CỦA DÂN
( Đại tướng Võ Nguyên Giáp)
Để ghi nhớ công ơn của vị tướng thiên tài, vị tướng của dân, vannghecuocsong.com phát động cuộc thi thơ viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đối tượng dự thi:
– Tất cả công dân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kiều bào nước ngoài bạn bè khắp năm châu không phân biệt đảng phái, chính trị, tôn giáo, sắc tộc…
Thể loại:
– Thơ ngắn, thơ dài , trường ca (cũ, mới) từ 2 câu trở lên (tất cả các thể loại thơ – không chấp nhận thơ vô lối)
Giải thưởng:
– Giải đặc biệt: 100 triệu VND
– Giải A : 10 triệu VND
– Giải B: 5 triệu VND
– Giải đồng hạng : 1 triệu VND
Nơi nhận bài:
Email: donguyenhn@yahoo.com
donguyenhn1@gmail.com
Bài được in trên báo mạng, báo viết: vannghecuocsong. Com; donguyenhn@gmail.com; dohoang.weblogs.com; dohoang.blogspot.com…
Thời gian : Từ ngày 7/10 đến ngày 7/11 năm 2013.
T.m Ban biên tập
Đại diện Ban sơ khảo
Nhà thơ Đỗ Hoàng

Lu Hà tôi, sau khi đọc thông báo. Xin nhiệt liệt hưởng ứng có bài dự thi ngay tức khắc:

Thi Thơ Ca Ngợi Tướng Rỏm Võ Nguyên Giáp *

Nực cười treo giải nói điêu
Ai khóc Giáp nhiều, trăm triệu lót tay
Làm sao cố rặn ra đây
Oán hờn ngùn ngụt chất đầy thi nhân

Nhất nhì chục triệu dối gian
Ba tư khuyến khích trăm ngàn dễ xơi
Xẩu xương cái gía cũng hời
Hoan hô đại tướng đười ươi qủy vàng

Thơ hay gửi tới Đỗ Hoàng
Tào lao xơ khảo vội vàng chấm ngay
Xú danh mùi vị ngất ngây
Xót xa tủi nhục đọa đầy dân ta

Ai qua hỏi Lã Qúy Ba
Trần Canh cố vấn ma tà đảo điên
Ba Tàu chiến tích xỏ xiên
Gán cho cu Giáp Điện Biên sáng ngời

Tuyên truyền loan báo kịp thời
Kiều bào hải ngoại khắp nơi gửi về
Trong Nam Ngoài Bắc tràn trề
Nhớ thương tướng Giáp trò hề nhổ thơ

9.10.2013 Lu Hà

Thi Đua Làm Thơ Nâng Bi Cố Giáp*

Võ nguyên Giáp tội nhân thiên cổ
Đại việt gian hiếm có một thời
Coi khinh mạng sống triệu người
Chiến tranh hủy diệt giống nòi lầm than

Điện Biên Phủ ăn gian nói dối
Lừa dân đen tăm tối mãi hoài
Oán hờn ngùn ngụt trần ai
Mạng đòi trả mạng canh dài lệ chan

Treo giải thưởng thuế dân moi móc
Trăm triệu đồng tâng bốc bằng thơ
Việt kiều hải ngoại vu vơ
Nâng bi cố Giáo nghẹn ngào bác ơi!

Không phân biệt chân trời góc bể
Mọi thành phần mất trí điên khùng
Công dân xã hội luật rừng
Trong Nam ngoài Bắc tưng bừng sả hơi

Thơm hay thối quản chi ất giáp
Bài gửi ngay tấp nập văn chương
Dạt dào ý tứ mênh mông
Cầu xin qủy sứ ma vương đoái hoài

Bầy cóc nhái văn tài thi bá
Hồn thơ bay chan chứa thiết tha
Chí Phèo thị Nở gần xa
Hân hoan trúng giải ma tà thất kinh

*Chú thích: thời hạn nộp bài từ 7.10. 2013 đến 1.11.2013
donguyenhn@yahoo.com
Đại diện Ban sơ khảo
Nhà thơ Đỗ Hoàng

9.10.2013 Lu Hà

Góp Thơ Ca Tụng Chí Phèo

Góp thơ ca tụng Chí Phèo
Dở ngô dở ngọng trò mèo mà nên
Xú danh đại tướng y nguyên
Cù lần nổi tiếng Điện Biên năm nào?

Nửa văn nửa võ vơ vào
Nói năng lắp bắp xu hào mắm tôm
Quanh năm suốt tháng chồm hôm
Nhất y nhì gật chó xồm xù lông

Bịp bao thành tích chiến công
Giang sơn đại họa Lạc Hồng diệt vong
Thạo nghề đỡ đẻ đặt vòng
Tây Nguyên nhếu nháo lông bông ập ù

Công danh như đám sương mù
Cò mồi thiên thẹo uế xù mà ra
Bây giờ tàn tạ hồn ma
Oán hờn ngùn ngụt sa bà chạy đâu?

Ba đường ác ác đạo chìm sâu
Xúc sinh ngạ qủy đầu trâu mặt bò
Đồng Chinh Duẩn Thọ quanh Hồ
Anh Mười chèn ép mưu đồ kém chi?

Dân đen như đám gà ri
Xếp hàng ngoài cửa tỉ ti khóc hoài
Đưa về đảo yến cho ai?
Phân tro rác rưởi hình hài tả tơi.

10.10.2013 Lu Hà

Giáp Khoe Màu Hoa Bướm Tím
cảm tác từ bức ảnh

Chùm hoa bướm tím Giáp khoe
Võ công đại tướng ướt nhòe chị em
Tràn trề trăng sáng vương thềm
Thai nhi rượu bổ êm đềm xuân thu

Trời đày tóc bạc trắng râu
Cắn răng nhẫn nhục ba Tàu luồn trôn
Cam tâm bán cả linh hồn
Vào ra thậm thụt môi son má hồng

Nửa đêm gà gáy lên đồng
Sa Tan thờ cúng tông đường gia tiên
Tám năm mua một Điện Biên
Ngậm vành hoa máu vạn niên oán hờn

Âm u tuyệt vọng cô hồn
Mạng đòi trả mạng nước non lụi tàn
Mịt mù bóng tối trần gian
Mác Lê tà giáo thế nhân thảm sầu

Kiêu binh ngạ qủy đầu trâu
Tay chân thuộc cấp lau nhau mò về
Dân oan khiếu kiện não nề
Kể công cách mạng ê chề huân chương

Áo đen chen chúc chán chường
Xót xa tuyền thống Lạc Hồng ngàn xưa
Toàn gia lớn bé kế thừa
Tai ương nghiệp chướng có chừa ai đâu?

9.10.2013 Lu Hà

Xứ Chùa Tháp chuyển mình dân chủ, chống độc tài

Thursday, December 26th, 2013

Hàng vạn người biểu tình đòi thủ tướng Hunsen, người từng giữ thủ tướng 28 năm qua phải từ chức vì “gian lận bầu cử” và độc tài. Họ ủng hộ đảng đối lập là Đảng Cứu Quốc Campuchia, một liên minh các nhóm đối lập. Lãnh tụ đối lập là ông Sam Rainsy tham gia cuộc biểu tình quy tụ hàng trăm ngàn người.

 
Gió dân chủ đang thổi vào nước Camphuchia, một nước láng giềng của Việt Nam. Thái Lan cũng đang có những biến động chính trị tương tự, nhưng Thái vốn là một nước dân chủ lâu đời, cho phép người dân có quyền biểu tình chống chính phủ.
 
Ngọn gió dân chủ đang bộc phát thổi tại Á Châu, nhất là Động Nam Á, từ Miến Điện, đến Thái Lan, Campuchia, và chừng nào sẽ vào Việt Nam.
Dân Campuchia đòi ông Hunsen cầm quyền từ 28 năm nay từ chức. Hunsen đang hối hả qua thăm Việt Nam để làm gì? Để xin giúp đỡ??
(Ban Báo Chí/CĐLB)
Xem hình ảnh.

Cambodia opposition start threeday protest to contest election result
Demotix
Cambodia opposition start threeday protest to contest election result
Cambodia opposition start threeday protest to contest election result
Cambodia opposition start threeday protest to contest election result
Cambodia opposition start threeday protest to contest election result
Cambodia opposition start threeday protest to contest election result
The News.com – AFP
The Wall Street Journal
Supporters of Cambodian opposition leader Sam Rainsy's Cambodia National Rescue Party shout slogans during a rally in Phnom Penh, Dec. 16, 2013.
VOA News
Hàng vạn người ủng hộ đảng đối lập ở Campuchia xuống đường biểu tình đòi Thủ tướng Hun Sen từ chức.
Dân Campuchia đòi ông Hunsen cầm quyền từ 28 năm nay từ chức.
Hunsen đang qua thăm Việt Nam để xin giúp đỡ???

HỌP MẶT ĐÀI Á CHÂU TỰ DO VÀ CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM TẠI LITTLE SAIGON

Sunday, December 22nd, 2013

 Little Saigon, Westminster, CA, 20/12/2013 – Lúc 4 giờ chiều thứ Sáu 20/12/2013, một buổi gặp gỡ và tiệc trà thân mật giữa Ban Quản Trị Đài Á Châu Tự Do (ACTD) và đại diện Cộng Đồng Việt Nam đã được diễn ra tại nhà hàng Chateau Brodard, Little Saigon, thành phố Westminster, CA.

Về phía đài ACTD có bà Chủ Tịch LS Libby Liu và Ông Nguyễn Văn Khanh Giám Đốc chương trình Việt Ngữ. Về phía Cộng Đồng có BS Võ Đình Hữu, CT HĐĐB/CĐNVQG/LBHK, LS Nguyễn Xuân Nghĩa, CT CĐNVQG Nam Cali, Giám Mục Trần Thanh Vân (Chủ Tịch Hội ĐồngLiên Tôn), một số thân hào nhân sĩ như TS Lê Minh Nguyên, Ông Phan Kỳ Nhơn, LS. Trần Sơn Hà, TS Nguyễn Bá Tùng (Trưởng Ban Điều Hành Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam), ký giả William Nguyen, Cô  Ngọc Ân (đài Hồn Việt TV) v.v… GS Nguyễn Thanh Trang, cựu Trưởng Ban ĐH MLNQ, người phụ trách vận động tăng giờ cho chương trình Việt Ngữ đài ACTD vì bận việc nên không thể hiện diện.

RFA_meeting_BSHuu

BS Võ Đình Hữu – Bà Libby Liu – GM Trần Thanh Vân

Bà LS Liu ngỏ lời cám ơn Cộng Đồng Việt Nam đã hỗ trợ chương trình Việt Ngữ của đài ACTD từ nhiều năm qua nhằm giúp người ViệtNam trong nước đón nhận những tin tức trung thực.

BS Võ Đình Hữu cho biết sẽ có chiến dịch hỗ trợ duy trì đài Á Châu Tự Do qua làn song ngắn của các cộng đồng khắp nơi. Ông cho biết số giờ 2 tiếng mỗi ngày là quá ít so với nhu cầu thông tin của người dân trong nước, nhất là ở nông thôn, nơi mà internet còn rất khó khăn để truy cập và bị theo dõi.

Nhiều  ý kiến xây dựng đã đóng góp với đại diện của đài Á Châu Tự Do nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin. Bà Liu ghi nhận những ý kiến này  và cám ơn những nỗ lực của Cộng Đồng Việt Nam đã đang vận động với chính giới Hoa Kỳ.

Sau đó là phần tiệc trà thân mật. Buổi nói chuyện kết thúc lúc 6 giờ chiều cùng ngày.

Phóng Viên CĐLB

Hình ảnh: William Nguyen

BS Huu bat tay

RFA_meeting

 

RFA_meeting_BSHuu2

RFA_meeting_chup_chung

RFA_meeting_chup3

RFA_meeting_Huu_Khanh

RFA_meeting2

RFA_meeting3

 

Thư Gửi Bà Thủ Tướng Thái Lan (Và Cao Ủy Tỵ Nạn) về trường hợp của Đặng Chí Hùng

Friday, December 20th, 2013

 

Kính gửi bà Thủ Tướng Yingluck Shinawatra
 
Về: Trường hợp nhà bất đồng chính kiến Đặng Chí Hùng
Thưa bà Thủ Tướng,
Chúng tôi viết thư này trân trọng thỉnh cầu bà bảo vệ sự an toàn cho nhà bất đồng chính kiến VN Đặng Chí Hùng (hay Phạm Mạnh Hùng), hiện đang bị giam giữ tại Bangkok, Thái Lan, có nguy cơ bị dẫn độ về Việt Nam do sự yêu cầu của nhà cầm quyền (CS) Việt Nam.
Ông Đặng Chí Hùng là một người tranh đấu ôn hòa, một blogger dám nói lên sự thật và sự áp bức của nhà cầm quyền (CS) Việt Nam đối với người dân, ông tranh đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam.
Nếu ông bị buộc phải trở về VN, chắc chắn ông sẽ bị nhà cầm quyền trừng phạt bằng những luật lệ bất công tại Việt Nam.
Ông Đặng Chí Hùng xứng đáng được hưởng quy chế tị nạn chính trị. Xin vui lòng giúp đỡ ông ấy.
Trân trọng,
Ngày 18-12-2013

Huu Dinh Vo, MD, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu

Hoi Van Do, MD, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành

GS. Thanh Van Pham, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát

 

————————————————————

 

Đính kèm thư gửi TT Thái Lan

 

December 18, 2013

Her Excellency Yingluck Shinawatra

Prime Minister of Kingdom of Thailand

Government House

Pitsanulok Road, Dusit

Bangkok 10300

Thailand

Via: Royal Thai Embassy, Washington, D.C.
Address: 1024 Wisconsin Ave., N.W., Washington, D.C. 20007
email: information@thaiembdc.org Tel. (202) 944-3600

Re: Vietnamese Dissident Dang Chi Hung in danger from the Vietnamese Government.

Dear Prime Minister:

We write to you this letter to respectfully urge you to protect Vietnamese dissident Dang Chi Hung (or Pham Manh Hung) who is currently detained in Bangkok, Thailand and facing extradition to Vietnam as requested by the Vietnamese government.

Mr Dang Chi Hung is a non violent person and a blogger who boldly speaks truth about the oppression of Vietnamese government upon its people and only seeks freedom and democracy for Vietnam.

If he be returned to Vietnam, he will most likely be executed by the Vietnamese government, under their unjust laws.

He clearly deserves political refugee status.  Please help.

Respectfully yours,

Huu Dinh Vo, MD                    Hoi Van Do, MD                     Prof. Thanh Van Pham

President,                                 President,                                 President,

Board of Representatives            Board of Executives                   Supervisors Council

 

Gặp Gỡ Dân Biểu ALAN LOWENTHAL

Thursday, December 19th, 2013

 Cali – Chiều ngày thứ ba 17/12/2013 lúc 2 giờ trưa một phái đoàn cộng đồng người Việt đã đến gặp DB Lowenthal thành viên Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện.

Thành phần phái đoàn gồm có Bs Võ Đình Hữu Chủ Tịch HĐĐB Cộng Đồng Người  Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, ông Nguyễn Thanh Trang Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, UB Vận Động Tăng Giờ Đài Á Châu Tự Do, Bà Nguyễn Minh Nguyệt PCT HĐCH CĐNVQGLBHK, ông Quế Nguyễn Phóng Viên.

IMG_6668 LIGHT

Khi phái đoàn đến văn phòng Dân Biểu, chúng tôi đã gặp ông Tổng Lãnh Sự Cộng Hòa Azerbaijan, một quốc gia độc lập từ Liên Bang Sô Viết – đang ngồi ở phòng khách. Chúng tôi đã trao đổi tình hình nhân quyền của Việt Nam và Aberbaijan và sẽ liên kết làm việc trong tương lai.

Sau đó anh Lý Phong, Nhân viên VPDB đã mời phái đoàn vào phòng làm việc của DB để nói chuyện.

Phái đoàn đã trình bày những vấn đề vi phạm nhân quyền tại VN , những ưu tư về hiệp ước Thương Mại Xuyên Thái Bình Dưong TPP và vấn đề tăng giờ Việt Ngữ cho Đài Á Châu Tự Do.

Dân Biểu Lowenthal rất vui vẻ thảo luận với phái đoàn và ông sẽ nói chuyện với các vị đồng viện về những vấn đề trên.

DB Lowenthal là người rất nhiều kinh nghiệm từ Nghị Viên Long Beach, Dân Biểu Tiểu Bang, Nghị Sĩ TB Cali và bay giờ là DB LBHK do đó ông rất am tường và ghi nhận ngay những ưu tư của CĐ Người Việt.

Trước khi ra về Bs Hữu đã cám ơn DB đã dành thì giờ và đã tham dự rất nhiều sinh hoạt của CĐVN. Bs Hữu cầu chúc DB và gia đình cũng như nhân viên một Mùa Giáng Sinh Vui Khỏe và Năm Mới 2014 Hạnh Phúc.

Phóng Viên Cộng Đồng LBHK

Hình ảnh

 

IMG_6645 LIGHT IMG_6641 DATE IMG_6642 LIGHT IMG_6708 LIGHT IMG_6648 LIGHT IMG_6652 LIGHT IMG_6658 LIGHT IMG_6667 LIGHT IMG_6673 LIGHT IMG_6676 LIGHT IMG_6685 LIGHT IMG_6700 LIGHT

Những Biện Pháp Của Việt Cộng Để Vô Hiệu Hóa Những Người Bất Đồng Chính Kiến Tại Việt Nam

Thursday, December 19th, 2013
 
Lê Duy San
Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam (VNCH) vào năm 1975 và nhất là sau khi được Hoa Kỳ bỏ cấm vận vào ngày 3 tháng 2 năm 1994, Việt Cộng không những đã được các nước trước kia không đặt quan hệ ngọai giao, mở tòa đại sứ mà còn giao thương buôn bán với chúng. Hơn nữa chúng (Việt Cộng) còn được gia nhập vào Liên Hiệp Quốc, vào WTO, vào Ủy Ban Nhân Quyền LHQ v.v. Do đó chúng bắt buộc phải thay đổi chính sách cai trị sắt mắu phần nào, không còn dám tàn bạo, độc ác và dã man như trước. Nhờ tình trạng này, mà một số người trong nườc đã dám lên tiếng để tỏ bầy những chính kiến của mình.
Họ là ai ? Tại sao ngụy quyền CSVN lại sợ họ ? Và để vô hiệu hòa những người bất đồng chính kiến này, ngụy quyền CSVN đã dùng những phương thức nào ?
I/ Những người bất đồng chính kiến là ai ?
            Đó là Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, LS Lê Công Định, LS Lê Chí Quang, LS Lê Quốc Quân, LS Lê Trần Luật, LS Nguyễn Văn Đài, Hoàng Minh Chính, nhà báo Bùi Tín, nhà văn Dương Thu Hương, TS Nguyễn Tiến Trung, TS Cù Huy Hà Vũ, BS Phạm Hồng Sơn , KS Trần Huỳnh Duy Thức, KS Lê Thăng Long, KS Trần Hùynh Duy Thức, KS Trần Văn Huy, Nhà giáo Vũ Hùng, Nhà văn Hùynh Ngọc Tuấn, Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Blogger Tạ Phong Tần, Blogger Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, Blogger Nguyễn Hòang Vi, Blogger Anh Ba Saigon tức LS Phan Thanh Hải, , Facebooker Đinh Nhật Huy,  SV Nguyễn Phương Uyên, SV Đinh Nguyên Kha, NS Việt Khang, NS Trần Vũ Anh Bình,  Cựu Trung Tá QĐND Trần Anh Kim, Nhà Báo Bùi Tin, Nhà Văn Dương Thu Hương, GS Nguyễn Chính Kết, Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện (đã chết), nữ đạo diễn Song Chi v.v.
            Những người bất đồng chính kiến trên không làm gì bất hợp pháp cả. Họ chỉ là những người không đồng ý với ngụy quyền CSVN về các vấn đề gì liên quan tới chính sách của ngụy quyền. Họ chỉ đòi hỏi các quyền tự do căn bản của con người. Hành động của họ rất ôn hòa, thường chỉ là những bài viết được đăng tải trên các diễn đàn điện tử, các website hay Facebook. Nhưng ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam rất sợ bởi vì khi những người bất đồng chính kiến mà tập hợp lại thì có thể thành phong trào bất đồng chính kiến và khi họ được hoạt động thì họ có thể trở thành lực lượng đối lập hay đảng phái đối lập. Có thể nói bất đồng chính kiến là bước đầu để tiến tới lực lượng đối lập. Nếu bị cấm đoán nữa thì đôi khi lực lượng đối lập có thể chuyển thành lực lượngcách mạng và vùng lên tìm cách lật đổ chính quyền.
            Vì thế, trước tình trạng người bất đồng chính kiến mỗi ngày một đông, ngụy quyền cộng sản VN đã phải dùng những biện pháp sau để trấn áp những người bất đồng chính kiến ngõ hầu cô lập họ.
            II Những niện pháp để vô hiệu những người bất đồng chính kiến.
            1/ Vu cáo để bỏ tù họ.
            Để có thể truy tố và kết án những người bất đồng chính kiến, Ngụy quyền CSVN đã tìm đủ mọi cách để gán cho họ tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 88 bộ Hình Luật Việt Cộng (1) hoặc tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 Bộ Hình Luật Việt Cộng (2). Nhẹ nhất thì cũng gán cho họ tội “Lợi dụng quyền tự do, dân chủ” chiếu điều 258 bộ luật Hình Sự Việt Cộng (3) như trường hợp của Facebooker Đinh Nhật Uy (anh trai của Đinh Nguyên Kha), Có thể nói hầu hết tất cả các người bất đồng chính kiến đều bị ghép vào một trong hai tội này.
            2/ Khủng bố bằng cách theo dõi, cô lập và hành hung.
            Ở tù thì rồi cũng có ngày ra. Vì thế đi kèm theo án tù, thường là vài năm quản chế để theo dõi và cô lập những người bất đồng chính kiến sau khi mãn hạn tù. Đối với những người bất đồng chính kiến không mấy quan trọng, không thể truy tố ra tòa để bỏ tù, ngụy quyền Việt Cộng cô lập họ hoặc cho người theo dõi và nhiều khi vô cớ hành hung, đánh đập họ rất dã man. Đó là trường hợp của Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Nguyễn Tiến Nam, Blogger Nguyễn Hòang Vi, Hùynh Thục Vi (con Hùynh Ngọc Tuấn) và gần đây Blogger Mẹ Nấm (Nguyễn Ngọc Như Quỳnh) hoặc bắt giam vài tháng mà không cần đưa ra tòa xét xử như trường hợp của Blogger “Anh Ba Saigon” tức LS Phan Thanh Hải. Theo ông Uyên Vũ, một thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do thì “giới Blogger luôn luôn nằm trong vòng kiểm sóat của công an và thường xuyên bị sách nhiễu và đe dọa”. Nhiều khi ngụy quyền CSVN còn khủng bố luôn cả gia đình họ như trường hợp của gia đình sinh viên Đinh Nguyên Kha ở Long An và bắt giam anh Đinh Nhật Uy là anh của Đinh Nguyên Kha hoặc KS Trần Văn Huy chỉ vì anh phổ biến một bài viết để chính thức công bố việc anh gia nhập khối 8406, một tổ chức đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tôn giáo cho VN.
            3/ Bao vây kinh tế.
            Gán cho những tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 88 bộ Hình Luật Việt Cộng, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 Bộ Hình Luật Việt Cộng hoặc tội “Lợi dụng quyền tự do, dân chủ” chiếu điều 258 bộ luật Hình Sự Việt Cộng để phạt tù những người bất đồng chính kiến hoặ khủng bố họ cũng như gia đình họ chưa đủ, ngụy quyền CSVN còn tìm cách bao vây kinh tế họ bằng cách tịch thu gia sản của họ như trường hợp của Kỹ Sư Trần Hùynh Duy Thức, không cho hành nghề để kiếm ăn như trường hợp của LS Lê Thị Công Nhân, LS Lê Công Định và Luật Sư Lê Trần Luật hoặc bắt buộc phải xin nghỉ việc như trường hợp của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy v.v., hoặc gán cho tội trốn thuế để phạt tiền cho thật nặng đến phải tan gia bại sản như trường hợp của Blogger Nguyễn Văn Hải, Luật Sư Lê Quốc Quân.
            4/ Tống xuất ra nước ngoài.
            Những biện pháp trên đã làm một vài người xuống tinh thần và trở nên thụ động sau khi ra tù vì phải lo sinh kế cho gia đình. Nhưng nhiều người vẫn kiên cường đấu tranh nhờ sự giúp đỡ của đồng bào hải ngọai và con số những người bất đồng chính kiến vẫn mỗi ngày một đông. Vì thế ngụy quyền CSVN rất lo ngại. Nếu ngày nay đã có khối 8406 thì rất có thể ngày mai sẽ có phong trào phản kháng hoặc đảng phái đối lập dù ngụy quyền CSVN có cho phép hay không. Vì thế ngụy quyền CSVN sẵn sàng tống xuất những người bất đồng chính kiến mà chúng cho là nguy hiểm ra nước ngòai nếu có cơ hội. Biện pháp này không khác gì hình phạt biệt xứ hoặc cho đi đầy ở những nước xa xôi thuộc địa của Pháp thời Pháp thuộc.
Một số khác, chúng biết ra ngọai quốc cũng chẳng làm nên trò trống gì, trái lại chúng còn được tiếng là cởi mở, là tôn trọng nhân quyền, nên chúng sẵn sàng cho đi, cho về như trường hợp của ông Trần văn Hùynh và bà Nguyễn Thị Kim Liên cha mẹ của hai anh Đinh Nhật Huy và Đinh Nguyên Kha. Nhiều người Việt tỵ nạn ở hải ngọai không hiểu, thấy vậy tưởng rằng ngày nay ngụy quyền CSVN đã cởi mở, đã thay đổi. Thực ra chúng chẳng có gì thay đổi cả. Tất cả chỉ là chính sách, chiến lược, chiến thuật của chúng. Đó cũng là lý do tại sao Việt Cộng đã được cho vào Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Trong khi một số người khác chúng biết nếu cho ra ngọai quốc sẽ bất lợi cho chúng thì chúng lại cấm đóan, đó là trường hợp của Blogger Mẹ Nấm, blogger Nguyễn Hoàng Vi, blogger Châu Văn Thi.
Một số người bất đồng chính kiến cũng nghĩ rằng ra được ngoại quốc thì có hòan cảnh và cơ hội nhiều hơn để tranh đấu. Nhưng thực ra đồng ý ra ngọai quốc là đầu hàngViệt Cộng, là tự chấm dứt con đường đấu tranh của mình. Thử hỏi những người bất đồng chính kiến như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, giáo sư Nguyễn Chính Kết, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nữ đạo diễn Song Chi v.v. sau khi được ra ngọai quốc đã làm được gì hơn những ngày còn ở Việt Nam ?
Những lời tuyên bố của LS Lê Thị Công Nhân, của Sinh viên Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, của Nguyễn Lân Thắng v.v. đều được coi là những lời tuyên bố chống ngụy quyền CSVN nẩy lửa. Những bài hát của Việt Khang, của Trần Vũ Anh Bình là những bài hát   yêu nước hào hùng được ca ngợi và vinh danh ở VN. Nhưng nếu những người này được ra ngọai quốc mà cũng tuyên bố họac làm những bài hát tương tự như vậy thì cũng chỉ là những lời chống Cộng, những bài hát yêu nước bình thường, chẳng có gì là ghê gướm nếu đem so sánh với những  bài chống Cộng của những người Việt tỵ nạn hải ngọai, những bài hát tố Cộng của nhạc sĩ Bão Tố hay Phan Văn Hưng.
            Tóm lại, ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam rất sợ những nhà bất đồng chính kiến do đó chúng luôn luôn tìm cách diệt trừ tận gốc rễ. Nếu không được thì chúng sẵn sàng tìm cách tống xuất họ ra nước ngòai. Có người chúng còn yêu cầu Hoa Kỳ cho máy bay bốc thẳng từ nhà tù sang Hoa Kỳ như trường hợp của ông Phan Văn Bàn mới đây. Ông Bàn, một cựu cảnh sát đặc biệt đã chấp nhận ngồi tù 29 năm chỉ để nói lên rằng ông không hề làm gì sai đối với nhân dân và đất nước Việt Nam. Ông đã được chính Bộ Trưởng Ngoại Giao Candoleezza Rice can thiệp để đi Hoa Kỳ đoàn tụ với gia đình tại Illinois.
                Những người bất đồng chính kiến cần phải hiểu điều đó và cần phải kiên trì. Ông Nelson Mandela đã phải kiên trì tranh đấu cả mấy chục năm, ngồi tù gần ba chục năm mới đi tới thành công. Đừng tưởng rằng ra được ngọai quốc sẽ có hòan cảnh và cơ hội nhiều hơn để tranh đấu. Ra tới ngọai quốc, còn phải lo sinh kế, có người còn phải đi học Anh ngữ, đâu có nhiều thì giờ rảnh rang như những người Việt tỵ nạn ở hải ngọai, đa số đã về hưu, mà chống Cộng ? Chính vì vậy mà một số người bất đồng chính kiến có thể ra ngọai quốc được nhưng đã từ chối. Đó là trường hợp của Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ v.v.
            Nếu những người bất đồng chính kiến Việt Nam mới ngồi tù có mấy năm đã nản trí chạy ra ngọai quốc thì tới bao giờ VN mới thóat khỏi sự kìm kẹp của Cộng Sản ? Chúng ta phải hiểu rằng, CSVN sẽ xụp đổ, nhưng chúng không xụp đổ bởi những người Việt hải ngọai mà xụp đổ bởi những người Việt ở trong nước. Và những người lãnh đạo tương lai cho nước VN hậu cộng sản cũng không phải là người Việt hải ngọai mà là người Việt ở trong nước.
Chú thích:
(1) Điều 79, khoản 1 bộ Luật Hình Sự Việt Cộng quy định “Người nào hoạt động thành lập hay tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
(2) Điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam quy định tội phạm gồm các hành vi: “Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguời phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm. Nếu trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
            (3) Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân:
1.      Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2.      Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Lê Duy San
 

Hoa Kỳ nhắm vào Trung Quốc, tăng cường trợ giúp Hải Quân Đông Nam Á

Monday, December 16th, 2013
 
Ông Kerry chỉ trích Trung Quốc, công bố trợ giúp của Hoa Kỳ về an ninh hàng hải cho Đông Nam Á trong tình trạng căng thẳng.
 
Ông Kerry tuyên bố Việt Nam cần chứng tỏ tiếp tục tiến bộ về nhân quyền và tự do. Không có những cải tổ như vậy, Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ rất có thể chống lại giao ước với Việt Nam, bao gồm cả việc gia nhập của Việt Nam vào chương trình Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương và việc thi hành hiệp định năng lượng hạt nhân dân sự.
Mathew Lee
Associated Press
16-12-2013
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải
Hình (AP): Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry tại buổi họp báo tại Hà Nội vào ngày 16-12-2013.
Hà Nội, Việt Nam – Nhắm rõ ràng vào sự gây gỗ ngày càng gia tăng trong các cuộc tranh chấp về lãnh thổ của Trung Quốc đối với những quốc gia láng giềng nhỏ bé, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ John Kerry tuyên bố vào ngày thứ Hai rằng Hoa Kỳ sẽ tăng cường trợ giúp về an ninh hàng hải cho Đông Nam Á trong tình trạng căng thẳng ngày càng gia tăng với Bắc Kinh.
Trong chuyến viếng thăm Việt Nam đầu tiên với tư cách một nhà ngoại giao cao cấp nhất của Hoa Kỳ, Ông Kerry hứa trợ giúp thêm 32.5 triệu Mỹ kim cho những thành viên của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á để bảo vệ lãnh hải của những nước này và sự tự do lưu thông trong Biển Hoa Nam, nơi mà bốn quốc gia tranh chấp với Trung Quốc. Bao gồm trong trợ giúp mới này là một ngân khoản lên tới 18 triệu Mỹ kim riêng cho Việt Nam để sở hữu năm chiếc tầu tuần tiễu chạy nhanh dành cho Lực Lượng Phòng Vệ Duyên Hải. Ông Kerry nói với sự đóng góp mới, trợ giúp về an ninh hàng hải của Hoa Kỳ dành cho khu vực sẽ vượt quá 156 triệu Mỹ kim trong hai năm tới.
Ông Kerry nói rằng viện trợ mới không phải là một “phản ứng cấp thời đối với bất cứ một biến cố nào ở trong khu vực” nhưng là một trợ giúp “gia tăng dần dần và cân nhắc” nằm trong một quyết định rộng lớn hơn liên quan đến kế hoạch chuyển hướng về Á châu và Thái Bình Dương của chính phủ Obama. Tuy nhiên, Ông Kerry có những lời bình luận này sau khi Washington và Bắc Kinh đã trao đổi những lời lẽ chua cay về việc hai chiến hạm của Hoa Kỳ và Trung Quốc suýt đụng nhau ở Biển Hoa Nam trước đây chỉ có 11 ngày.
Vào cuối tháng 11, Trung Quốc công bố việc thiết lập vùng bảo vệ trên Biển Hoa Đông, khu vực hàng hải giữa Trung Quốc, Đài Loan, Nam Hàn và Nhật Bản. Tất cả những phi cơ bay vào vùng này phải thông báo trước cho giới chức có thẩm quyền, và Trung Quốc sẽ thi hành những biện pháp không nói rõ để chống lại những kẻ không tuân theo. Những quốc gia lân cận và Hoa Kỳ đã nói rằng họ sẽ không công nhận vùng mới – mà mục tiêu là đòi chủ quyền trên vùng tranh chấp – và vùng mới này đã gây ra căng thẳng một cách không cần thiết. Trung Quốc cũng đã xác nhận rằng họ có quyền thiết lập một vùng tương tự trên Biển Hoa Nam, nơi mà Trung Quốc và Phi Luật Tân đang lâm vào một cuộc tranh chấp lãnh thổ lâu dài khác.
Ông Kerry nói với những ký giả tại một cuộc họp báo với Ngoại Trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh rằng “Hòa Bình và ổn định trong Biển Hoa Nam là ưu tiên hàng đầu của Hoa Kỳ và những quốc gia trong vùng. Chúng tôi rất lo ngại và phản đối mạnh mẽ những chiến thuật ép buộc và gây hấn để tiến hành những đòi hỏi lãnh thổ.”
Trong khi nhấn mạnh lập trường trung lập của Hoa Kỳ về những tranh chấp lãnh thổ, Ông Kerry kêu gọi Trung Quốc và Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) hãy nhanh chóng đồng ý về nguyên tắc ứng xử có tính cách ràng buộc về Biển Hoa Nam và để giải quyết những tranh chấp một cách hòa bình qua những thương thuyết.
Sự hung hăng ngày càng gia tăng của Trung Quốc – bao gồm việc thiết lập vùng phòng không ở Biển Hoa Đông – đã làm nhiều nước trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á hoảng sợ, gồm Việt Nam và Phi Luật Tân mà Ông Kerry sẽ viếng thăm vào ngày Thứ Ba.
Ngoài ra, Ông Kerry đã minh xác rằng sự viện trợ nhắm giúp những quốc gia Đông Nam Á bảo vệ lãnh hải của họ chống sự xâm phạm.  Sau khi công bố như thế, ông đã sự chỉ trích thẳng thừng Trung Quốc về việc tạo dựng vùng phòng không mới và Trung Quốc có thể làm như thế ở Biển Hoa Nam.  Như thế hầu như chắc chắn ông sẽ làm cho Bắc Kinh giận dữ vì cho rằng Hoa Kỳ đã can thiệp vào những lãnh vực liên quan đến những “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc.
Trung Quốc và Việt Nam tham dự trận chiến biên giới đẫm máu vào 1979 và vào năm 1988 một cuộc hải chiến gần những hòn đảo tranh chấp ngoài biển đã làm 70 thủy thủ Việt Nam thiệt mạng. Từ đó, những vụ tranh chấp về quyền đánh cá trong vùng đã thỉnh thoảng gây ra những vụ xô xát bạo lực và gia tăng căng thẳng ngoại giao.
Ông Kerry có những lời lẽ gay gắt về khu vực phòng không mới tại Biển Hoa Đông. Ông nói khu vực này “rõ ràng gia tăng rủi ro về một tính toán nhầm lẫn nguy hiểm hay một tai nạn.” Điều này có thể đưa tới cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Nhật Bản về một chuỗi đảo nhỏ mà mỗi nước đều đòi quyền sở hữu.
Ông Kerry tuyên bố Hoa Kỳ “rất lo ngại về những hành động gần đây đã làm sự căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản gia tăng và chúng tôi đòi hỏi tăng cường những sự thương lượng và sáng kiến ngoại giao.”
Ông Kerry nói tiếp “Khu vực [phòng không] không nên thực hiện, và Trung Quốc không nên có những hành động đơn phương tương tự ở nơi khác, đặc biệt trong vùng Biển Hoa Nam.” Ông Kerry nhắc lại rằng những biện pháp như thế không ảnh hưởng đến những hoạt động quân sự của Hoa Kỳ ở trong vùng.
Bắc Kinh xem toàn vùng Biển Hoa Nam và những chuỗi đảo trong biển này là của Trung Quốc và giải thích luật quốc tế cho phép Trung Quốc quyền cảnh sát hoạt động của hải quân ngoại quốc ở đây. Hải Quân Trung Quốc hoạt động thường xuyên hơn ở Biển Hoa Nam và quanh Nhật Bản trong chương trình phát triển hải quân cho vùng biển sâu.
Căng thẳng nổi bật lên vào đầu tháng này khi một chiến hạm Trung Quốc gần đụng vào môt tuần dương hạm của Hoa Kỳ tại Biển Hoa Nam.  Hạm Đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nói chiến hạm USS Cowpens đang hoạt động trong hải phận quốc tế và đã phải vận hành để tránh đụng hàng không mẫu hạm duy nhất Liaoning của Trung Quốc vào ngày 5/12.
Tuy nhiên, báo Global Times của Trung Quốc tường thuật vào ngày Thứ Hai rằng chiến hạm của Hoa Kỳ trước tiên quẫy nhiễu Liaoning và nhóm tầu hộ tống, đến quá gần cuộc diễn tập của Hải Quân Trung Quốc và xâm nhập vào “vùng phòng thủ” 30 dặm (miles) của hạm đội Trung Quốc.
Song song với việc thảo luận về vấn đề an ninh hàng hải, Ông Kerry, trong lần viếng thăm Việt Nam thứ 14 kể từ khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1975, đã áp lực các viên chức Việt Nam trả tự do cho các tù nhân chính trị và cải thiện hồ sơ nhân quyền, đặc biệt về tự do tôn giáo và Internet. Ông nói Hoa Kỳ hài lòng về những cải thiện giới hạn nhưng “Việt Nam cần chứng tỏ tiếp tục tiến bộ về nhân quyền và tự do, bao gồm tự do tôn giáo, tự do phát biểu và tự do hội họp.”
Ông Kerry nói không có những cải tổ như vậy, những thành viên của Quốc Hội sẽ rất có thể chống lại giao ước với Việt Nam, bao gồm cả việc gia nhập của Việt Nam vào chương trình Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương và việc thi hành hiệp định năng lượng hạt nhân dân sự vừa mới được hoàn tất.
Ông Kerry nói thêm rằng ông đã nêu lên những trường hợp tù nhân chính trị cụ thể và đã có một sự trao đổi “rất thẳng thắn và lành mạnh.”
Ngoại Trưởng Minh nói rằng có những khác biệt giữa Hà Nội và Washington về nhân quyền nhưng những khác biệt này sẽ được bàn đến qua đối thoại.
Ông Kerry nói những cải tổ về kinh tế thị trường tự do cũng sẽ quan trọng đối với quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng như giúp cho Hà Nội tiếp nhận tất cả những lợi ích của chương trình Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương mà Hoa Kỳ đang thương thuyết với 11 nước Á châu và Thái Bình Dương, bao gồm Việt Nam.
Ký giả Chris Brummitt của AP đóng góp vài bài tường thuật này.

Kiến Nghị gửi Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền và Hội Đồng Nhân Quyền LHQ

Wednesday, December 11th, 2013

KIẾN NGHỊ

Kính gửi Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền và Hội Đồng Nhân Quyền LHQ

Về Những Vi Phạm Nhân Quyền Của Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam

 XÉT RẰNG: 

1-     Kể từ ngày 30-4-1975, đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục áp đặt một chế độ độc đảng tại Viêt Nam, hoàn toàn kiểm soát xã hội về mọi lãnh vực; tước bỏ các quyền làm người căn bản; xóa bỏ mọi quyền tự do công dân; xử dụng hệ thống tư pháp bất công do đảng cộng sản kiểm soát và khống chế; áp dụng các điều khoản 88 và 258 luật hình sự để bắt bớ, giam cầm, xét xử công dân một cách tùy tiện; đàn áp những nhà hoạt động vì dân chủ, đòi tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, chống bất công, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ trước sự xâm lăng của nhà cầm quyền CS Bắc Kinh.

2-     Từ khi gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc năm 1977, nhà cầm quyền CSVN đã không tôn trọng bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các Công Ước Quốc Tế về nhân quyền và dân sự.

3-     Những ngày gần đây, ngay sau khi đắc cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, quốc hội Việt Nam do đảng CSVN thành lập và kiểm soát đã thông qua bản hiến pháp tiếp tục xác nhận sự độc quyền cai trị của đảng cộng sản Việt Nam.

 

VÌ CÁC LÝ DO ĐÓ, Phái đoàn đại biểu của Cộng Đồng Người Việt Nam trân trọng kiến nghị cùng Văn Phòng Cao Ủy NQ và Hội Đồng Nhân Quyền LHQ: 

 

1-     Áp lực buộc nhà cầm quyền CSVN phải tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền; thực thi các quyền tự do của người dân Việt Nam như: Tự do lập hội, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do bầu cử, công dân phải được đối xử công bằng và bình đẳng; thiết lập một hệ thống tư pháp độc lập, xét xử phù hợp với luật pháp quốc tế.

2-     Trả tự do tức khắc và vô điều kiện tất cả tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm… hiện đang bị sách nhiễu, tù đày, giam cầm bởi chế độ cộng sản tại Việt Nam; hủy bỏ những bản án bất công và các điều khoản 258 và 88 của bộ luật Hình Sự. Hủy bỏ những điều khỏan được gọi là “an ninh quốc gia”, đặc biệt là các điều 79,87, 88, 89 và 258 trong Luật Hình Sự hiện nay của Việt Nam. Bỏ Nghị Định 174/2013/ND-CP (đòi phạt 100 triệu cho ai nói xấu nhà nước, có hiệu lực từ 15/1/2014).

3-     Gửi một phái đoàn NQ/LHQ đặc biệt đến Việt nam điều tra tình trạng vi phạm nhân quyền của nhà nước CHXHCNVN.

Làm tại New York, ngày 09 tháng 12, 2012

Đính kèm:

 

–         Tổng quát về tình trạng vi phạm nhân quyền tại VN

–         Vi phạm quyền tự do tôn giáo: tóm lược và hồ sơ

–         Vi phạm quyền tự do ngôn luận và báo chí: tóm lược và hồ sơ

–         Tư pháp bất công: tóm lược và hồ sơ

–         Tình hình tù nhân chính trị, tôn giáo và lương tâm: tóm lược và hồ sơ

Ký tên:

  1. Hoi Van Do, MD:  President of Federation of Vietnamese American Community of the USA (comprising 36 Vietnamese Communities in the USA)
  2. Dr. Binh Thanh Nguyen, Representative of Vietnamese Community WashingtonDC, MD and VA.
  3. Mr. Tuoi Van Luu:  President of Vietnamese Community of Florida.
  4. Mr. Thuc Cong Tran:  President of Vietnamese Community of Tampa BayFlorida.
  5. Mr. Minh cam Sinh:  President of Vietnamese Community of Middle Tennessee
  6. Mr. Hung Tran:  Representative of The CaoDaiHighChurch Brother Overseas, Canada.
  7. Ms. Genie Nguyen, Representative of The Voice of Vietnamese Americans (VVA).
  8. Ms. My Linh Phan:  VietNam American Network California (VNA-TV 57.3).
  9. Mrs. Tara Thu Nguyen, Vice President of Vietnamese American of Greater City of New York.
  10. Mrs. Thu Nguyen, Vietnamese American Press, Florida.
  11. Mrs. Mai Huynh, Vietnamese American Community Press, Florida.

Federation of Vietnamese American Communities of the USA 

Advisory Council

Fmr. General Nhut Van Tran; Tich Ngoc Truong, MD; Fmr. Colonel Son Xuan Nguyen; Mr. Tanh Nguyen.

Presidents of Vietnamese American Communities (VAC):

– Mr. Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR

– Mr. Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ,

– Col. Ly Khac Le, President, VAC of Southern California, CA,

– Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA,

– Mr. Liem Thanh Pham, President, VAC of  San Diego, CA

– Mr. Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California

– Mr. Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento

– Mr. Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton

– Mr. Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado

– Mr. Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT,

– Mr. Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL

– Mr. An Ngoc Chau, the VAC of Central Florida, FL,

– Mr. Thuc Cong Tran, President, VAC Tampa Bay, FL,

– Dr. Thanh Minh Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL,

– Mr. Tam Ba Le, President, VAC of South Florida, FL,

– Mr. Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.

– Mr. Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA,

– Mr. Binh Thanh Nguyen, President, VAC of Massachusetts, MA,

– Mr. Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN,

– Mr. Nhon Xuan Dang, President, VAC of St Louis, MO,

– Mr. Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM,

– Mr. Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH,

– Mr. Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ,

– Mr. Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY,

– Mr. Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK,

– Mr. Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA,

– Mr. Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA,

– Dr. Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA,

– Mr. Mai Dinh Nguyen, President, VAC Pittsburgh, PA,

– Mr. Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA,

– Mr. Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA ,

– Mr. Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN,

– Mr. Hoang Nguyen, President, VAC of Nashville, TN.

– Mrs.  Theresa Ngoc Hoang, Esq, President, VAC of Houston, TX,

– Mrs. Ngoc Lam Le, President, VAC of Dallas, TX

 PETITION

To UN High Commissioner for Human Rights and UN Human Rights Council

WHEREAS:

1- Since April 30, 1975, the Vietnamese Communist Party (VCP) has maintained a totalitarian  regime in Vietnam; it has not respected the human rights of the people; It eliminated all basic freedom of citizens; its oppressed, persecuted, imprisoned all activists for democracy and for protecting independence of Vietnam on the verge of the invasion threat from the North;

2- When joining the United Nations in 1977, the communist government of Vietnam has approved the Universal Declaration of Human Rights and the International Covenant on Human Rights and Civil Rights but it has never kept its promises;

3- Recently, after elected into UN Human Rights Council, the Vietnamese Assembly which was formed and controlled by the Vietnamese Communist Party, passed the Constitution with the Article 4 which asserts the one-party controlled state of Vietnam.

THEREFORE, we, the Vietnamese Community Delegates for Human Rights from around the world, respectfully petition to the UN High Commissioner for Human Rights and UN Human Rights Council:

1 – To put pressure on the government of Vietnam:

–         To implement the U.N. Universal Declaration of Human Rights and to respect the fundamental liberties of the people of Vietnam;

–         To fulfill 14 promises during applying for Human Rights Council seat;

–         To release immediately without conditions all political prisoners, prisoners of religion and prisoners of conscience… and those are under house arrest in Vietnam;

–         To cancel all unjust judgments;

–         To repeal injustice articles so-called “National Security” , especially the articles 79,87, 88,  89 and 258 of the Penal Code, and the Decree 174/2013/ND-CP (to fine of 100 million Vietnam Dong for anybody to speak ill to the government will be effective on 15/1/2014).

2 – To send a special delegation to Vietnam to investigate the human rights violations in this country;

Respectfully,

Executed in New York, on December 09, 2013

  1. Hoi Van Do, MD:  President of Federation of Vietnamese American Community of the USA (comprising 36 Vietnamese Communities in the USA)
  2. Dr. Binh Thanh Nguyen, Representative of Vietnamese Community WashingtonDC, MD and VA.
  3. Mr. Tuoi Van Luu:  President of Vietnamese Community of Florida.
  4. Mr. Thuc Cong Tran:  President of Vietnamese Community of Tampa BayFlorida.
  5. Mr. Minh cam Sinh:  President of Vietnamese Community of Middle Tennessee
  6. Mr. Hung Tran:  Representative of The CaoDaiHighChurch Brother Overseas, Canada.
  7. Ms. Genie Nguyen, Representative of The Voice of Vietnamese Americans (VVA).
  8. Ms. My Linh Phan:  VietNam American Network California (VNA-TV 57.3).
  9. Mrs. Tara Thu Nguyen, Vice President of Vietnamese American of Greater of City New York.
  10. Mrs. Thu Nguyen, Vietnamese American Press, Florida.
  11. Mrs. Mai Huynh, Vietnamese American Community Press, Florida.

Federation of Vietnamese American Communities of the USA 

Advisory Council

Fmr. General Nhut Van Tran; Tich Ngoc Truong, MD; Fmr. Colonel Son Xuan Nguyen; Mr. Tanh Nguyen.

Presidents of Vietnamese American Communities (VAC):

 

– Mr. Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR

– Mr. Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ,

– Col. Ly Khac Le, President, VAC of Southern California, CA,

– Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA,

– Mr. Liem Thanh Pham, President, VAC of  San Diego, CA

– Mr. Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California

– Mr. Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento

– Mr. Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton

– Mr. Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado

– Mr. Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT,

– Mr. Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL

– Mr. An Ngoc Chau, the VAC of Central Florida, FL,

– Mr. Thuc Cong Tran, President, VAC Tampa Bay, FL,

– Dr. Thanh Minh Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL,

– Mr. Tam Ba Le, President, VAC of South Florida, FL,

– Mr. Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.

– Mr. Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA,

– Mr. Binh Thanh Nguyen, President, VAC of Massachusetts, MA,

– Mr. Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN,

– Mr. Nhon Xuan Dang, President, VAC of St Louis, MO,

– Mr. Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM,

– Mr. Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH,

– Mr. Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ,

– Mr. Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY,

– Mr. Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK,

– Mr. Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA,

– Mr. Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA,

– Dr. Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA,

– Mr. Mai Dinh Nguyen, President, VAC Pittsburgh, PA,

– Mr. Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA,

– Mr. Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA ,

– Mr. Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN,

– Mr. Hoang Nguyen, President, VAC of Nashville, TN.

– Mrs.  Theresa Ngoc Hoang, Esq, President, VAC of Houston, TX,

– Mrs. Ngoc Lam Le, President, VAC of Dallas, TX

Ý kiến người dân về Bản hiến pháp sửa đổi mới được QH thông qua

Saturday, November 30th, 2013

RFA 28.11.2013 

image.jpg

Toàn cảnh buổi lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa 13 của Việt Nam hôm 21/10/2013.

AFP photo 

Quốc Hội Việt Nam vừa thông qua bản hiến pháp sửa đổi, với 486 phiếu thuận, 2 phiếu trắng và không có phiếu chống, trong đó tái khẳng định vai trò của Đảng về cả 2 mặt chính trị và kinh tế.

Ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc, Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do chúng tôi đã tiếp xúc với một số nhân sĩ và người dân trong nước, xin ý kiến của họ về bản hiến pháp mới của Việt Nam. Chúng tôi xin được gửi đến quý thính giả những ý kiến đã ghi nhận được.

Quốc hội lại nói tiếng nói cho đảng

Đầu tiên là Giáo Sư Nguyễn Quang A ví von rằng thay vì phải nói tiếng nói cho dân thì Quốc hội lại nói tiếng nói cho đảng.

Một nhân vật có uy tín chính trị khác là Giáo Sư Tương Lai thì nói với Đài Á Châu Tự Do chúng tôi như sau:

“Kiến nghị 72 của chúng tôi yêu cầu quốc hội hoãn thông qua hiến pháp, trong đó chúng tôi nói rõ bản hiến pháp này kìm hãm sự phát triển của đất nước, kìm hãm sự hội nhập với thế giới. Cho nên việc Quốc Hội Việt Nam vừa thông qua bản hiến pháp sửa đổi đối với chúng tôi là việc đáng buồn. Nhưng chúng tôi không ngạc nhiên vì trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện kiến nghị 72 là không dễ, nhưng chúng tôi vẫn đưa ra kiến nghị này là để cảnh báo đối với công luận, nhằm thức tỉnh công luận, để mọi người hiểu rằng cuộc đấu tranh cho dân chủ còn nhiều gian khổ.

Hiến pháp này không theo được tinh thần bản hiến pháp khai sinh ra nước Viện Nam Dận Chủ Cộng Hòa ngày mùng 2 tháng Chín năm 1945, và từ đó từng bước từng bước, hiến pháp này xa rời mục tiêu dân chủ, tự do, và thực hiện quyền con người, tức là giải phóng quyền con người, vì mở đầu cho bản hiến pháp 1946 hay mở đầu cho bản tuyên ngôn độc lập mùng 2 tháng Chín năm 1945, thì tinh thần chung của những hiến pháp 46 và tuyên ngôn độc lập 1945 là Việt Nam tuyên bố là một thành viên dân chủ trước thế giới. Vì sao? Vì khởi đầu của bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam đã trích dẫn câu trong bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, có nội dung là tính chất tôn trọng nhân quyền và dân quyền.

 

Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam
Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam

 

Nhưng sau đó từng bước do chiến tranh, vấn đề nhân quyền và dân quyền đã không được bàn tới. Nhưng từ năm 1975 sau khi đất nước được giải phóng, độc lập đã giành lại được, mà độc lập mà không có tự do, dân chủ, quyền con người không được thực hiện thì độc lập đó cũng chẳng mang lại ý nghĩa gì. Chính vì thế mà chúng tôi muốn đấu tranh đòi hỏi phải có một bản hiến pháp kế tục được tinh thần của bản hiến pháp 1946 và kế tục được tình thần cơ bản của bản tuyên nghôn đôc lập ngày 2 tháng Chín năm 1945.

Bây giờ hiến pháp mới được thông qua không có điểm có điểm gì mới, không có tiến bộ, không đáp ứng được khát vọng dân chủ tự do, những điều về quyền con người thì đều bị bị lu mờ đi, thậm chí còn bị gạt bỏ, mà còn đề cao một thể chế toàn trị đối ngược lại với dân chủ và pháp quyền.”

Kế đến là ông Phạm Đình Trọng, Cựu Đại Tá Quân Đội Nhân Dân Việt Nam:

“Buồn nhưng tất yếu nó phải thế, và có khi …trong cái rủi có cái may, có khi như thế thì người dân sẽ thấy là cái nhà nước này không đi cùng với người dân thì có khi lại là tốt.”

Ông Lê Hiếu Đằng phát biểu sau khi Hiến pháp được thông qua vào ngày 28/11/13:

Hiến pháp mới được thông qua không có điểm có điểm gì mới, không có tiến bộ, không đáp ứng được khát vọng dân chủ tự do, những điều về quyền con người thì đều bị bị lu mờ.
-GS Tương Lai

“Trước hết là Quốc hội Việt nam không phải như quốc hội các nước khác, toàn là đảng viên không, cán bộ không. Chứ họ không phải là những nhà hoạt động chính trị hay xã hội, thành ra họ đâu có đứng về phía dân.

Tôi biết thế nào họ cũng thông qua thôi, vì trước đó có họp ban chấp hành trung ương đảng về việc đó rồi. Tôi không có gì ngạc nhiên hết.

Chỉ có hai người không bỏ phiếu thôi. Quốc hội Việt Nam không đại diện cho dân được, cho lợi ích đất nước được.

Có hai vấn đề là vấn đề dân chủ và vấn đề ruộng đất rất bức thiết với người dân. Ở nông thôn, người dân khổ sở vì ruộng đất, bị chính quyền địa phương nó áp bức. Đất nước độc lập mà người dân đâu có sung sướng.”

Một Họa sĩ trẻ ở Hà nội phát biểu sau khi Hiến pháp được thông qua vào ngày 28/11/13:

“Em không ngạc nhiên, Quốc hội Việt Nam từ trước đến giờ vẫn thế mà, nó là hình thức thôi mà. Chẳng có tí hy vọng gì cả, như là tương lai chị Dậu ấy…(cười).

Không có gì để hy vọng nhưng cũng cứ hy vọng thôi (cười).”

Về mặt quốc tế, Ban Việt Ngữ chúng tôi ghi nhận được ý kiến của Phòng Thương Mại Hoa Kỳ tại Việt Nam qua bản thông cáo phổ biến ngày hôm qua, trong đó có đoạn viết rằng sự kiện vai trò của các xí nghiệp quốc doanh vẫn được coi trọng trong bản hiến pháp mới là dấu hiệu chứng tỏ Việt Nam chưa thật lòng muốn cạnh tranh với kinh tế toàn cầu.

Ngoài ra, Tổ Chức Quan Sát Nhân Quyền Human Rights Watch cũng lên tiếng, cho rằng thày vì lắng nghe tiếng nói và ý kiến đóng góp của dân chúng để bản hiến pháp đảm bảo quyền con người được tôn trọng và chính phủ phải có trách nhiệm với dân hơn, thì quốc hội Việt Nam đã bỏ phiếu thông qua bản hiến pháp sửa đổi theo như ý muốn của đảng và của nhà nước.

Ông Phil Robertson, phụ tá giám đốc dặc trách Châu Á của Tổ Chức Quan Sát Nhân Quyền Human Rights Watch còn bày tỏ mối thất vọng lớn lao vì các đại biểu Quốc Hội đã bỏ lỡ một cơ hội để chính phủ Việt Nam đến gần với chỗ phải tôn trọng những quyền căn bản của người dân, theo đúng với cam kết mà chính phủ Việt Nam đã hứa hẹn với cộng đồng quốc tế.

Xin được nhắc lại là hôm 28/11 với 486 phiếu thuận, 2 phiếu trắng và không có phiếu chống, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua bản hiến pháp sửa đổi, trong đó tái khẳng định vai trò của Đảng về cả 2 mặt chính trị và kinh tế.

Bản hiến pháp mới của Việt Nam gồm 11 chương, 120 điều, tức giảm bớt 1 chương và 27 điều so với bản hiến pháp cũ được ban hành hồi 1992.

Điểm được chú ý nhất là chuyện vẫn giữ nguyên điều 4, quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản đối với đất nước, nắm vai trò chủ đạo kinh tế quốc gia.

Bản hiến pháp mới cũng quy định chủ tịch nước là tổng tư lệnh quân đội, được gọi là người thống lĩnh lực lượng võ trang nhân dân, đồng thời kiêm nhiệm vai trò chủ tịch Hội Đồng Quốc Phòng và an ninh.

Trong thời gian thu thập ý kiến của dân chúng cũng như trước khi cuộc bỏ phiếu bắt đầu, rất nhiều người dân trong và ngoài nước đã lên tiếng kêu gọi đảng, nhà nước và quốc hội phải thật sự giúp đổi mới dất nước khi sửa đổi hiến pháp, nhưng dựa vào những điều khoản trong bản hiến pháp sửa đổi mới được thông qua hồi sáng nay, có thể nói là những lời kêu gọi đó đã không được lắng nghe, cho dù ông Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng nói rằng văn kiện quan trọng nhất của quốc gia đã thể hiện được cả “ý đảng lẫn lòng dân”.

Việt Gian CSVN Giết Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ Và Lãnh Tụ Giáo Phái Ở Nam Kỳ

Wednesday, October 23rd, 2013


Hứa Hoành

Trong lịch sử chống ngoại xâm, chưa có cuộc chiến tranh vệ quốc nào kỳ cục như cuộc kháng chiến chống Pháp vào năm 1945 mà CS gọi là “Cách mạng tháng 8″. Dùng thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, lừa bịp, gây chia rẽ, khủng bố, tàn sát… để chiếm cho được chính quyền trong tay người quốc gia, Việt Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến đi lòng vòng, phí biết bao nhiêu nhân lực, vật lực, tài lực, đến khi chiến thắng thì đất nước đã khánh tận. Kéo dài cuộc kháng chiến để họ có đủ thời giờ “hy sinh những người anh em” ngoài đảng. Nhờ những người này, đảng CS mới hưởng được vinh quang.

Bài này kể lại những điều tai nghe mắt thấy của người trong cuộc. Có người theo suốt cuộc kháng chiến tới ngày thành công, có người bỏ cuộc vì thấy rõ dã tâm của người CS, có người là nạn nhân của những vụ ám sát hụt, có kẻ bàng quang. Dù ở cương vị nào, hoàn cảnh nào, ai cũng thấy rõ một điểm chung : tính chất lừa bịp của CS, sư lừa bịp vĩ đại hào nhoáng nhứt trong lịch sử của dân tộc VN. Chúng ta cũng nên nghiêng mình trước các anh hùng liệt sĩ đã xả thân chiến đấu và bị lợi dụng, không chết trước họng súng kẻ thù thực dân Pháp mà lại chết vì sự khủng bố tàn nhẫn của người CS.

Lâm Ủy Hành Chánh của Trần Văn Giàu được thành lập vào ngày 24/8/45, thì hôm sau “Quốc Gia Tư Vệ Cuộc” ra đời. Trái ngược với tên gọi, Quốc Gia Tư Vệ Cuộc không phải là lực lượng kháng chiến chống quân thù, mà lại có nhiệm vụ lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu đồng bào bằng hình thức chặt đầu, mổ bụng, cho “mò tôm”, móc mắt, cắt lưỡi, và nhiệm vụ khác là…bảo vệ sinh mạng của những kẻ đã ra lịnh tàn sát đồng bào, tức là lãnh đạo Việt Minh ở Nam Bộ. Quốc Gia Tư Vệ Cuộc vào buổi đầu thâu dụng những thành phần sống ngoài vòng pháp luật, những tên dao búa, những tên trôi sông lạc chợ, đầu trộm đuôi cướp như Tô Ký, Ba Nhỏ, Đào Công Tâm, Kiều Đắc Thắng, Bửu Vinh, Hoàng Thọ… Sẵn hận thù chất chứa, nay có quyền sinh sát, lại quen nghề chém giết, nhóm Quốc Gia Tư Vệ Cuộc giết người tàn bạo còn hơn đối với thực dân Pháp. Lúc đó Lâm Ủy Hành Chánh đóng vai trò như một chính phủ của miền Nam, một chính phủ giành giựt của người khác, nhưng không có quân đội thì làm sao kháng chiến

Bốn sư đoàn dân quân được Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất (các hội đoàn chính trị và tôn giáo của Nam Bộ) thành lập hôm 17/8/45, trong khi đó thì Việt Minh không có sư đoàn nào. Vì thế CS phải tìm cách giải tán, tìm cách phá nát. Lựa trong “đám mặt rằng”, Lâm Ủy Hành Chánh phong chức :

–       Kiều Đắc Thắng nắm toàn quyền sinh sát với chức “Giám đốc Công an miền Đông”

–     Dương Bạch Mai (8/1929, đã từng qua Liên-xô học trường Stalin cùng lượt với Trần Văn Giàu, có bí danh là Bourov). Thanh tra chính trị miền Đông, cũng là 1 hung thần nhưng không có quân hành động trực tiếp.

–       Ba Nhỏ, Trưởng bọn ám sát, bắt cóc, thủ tiêu theo mật linh. Phạm vi của Ba Nhỏ là Saigon, Chợ Lớn

–       Lý Huê Vinh, công an, cánh tay đắc lực của Trần Văn Giàu, chuyên hạ sát các lãnh tụ quốc gia

–      Đào Công Tâm, trước là lính trong toán của Ba Nhỏ. Thấy Tâm giết người không gớm tay, Việt Minh nâng đỡ, cho làm Chính trị viên Tiểu đoàn 66 của Long Xuyên..

Với những tay giết người chuyên nghiệp, say máu, mệnh danh là “Quốc Gia Tư Vệ Cuộc” do Nguyễn Văn Trấn (tác giả “Viết cho mẹ và quốc hội”), trong những năm kháng chiến, Việt Minh đã gieo kinh hoàng cho tất cả mọi người ở Nam Bộ

Ai giết Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ?
Tập tin:Huynh Phu So.JPG

Cuộc kháng chiến của toàn dân khởi đi trong bầu không khí sôi nổi, phấn khởi vô cùng. Tháng 9/45, hầu như tất cả dân chúng miền Nam đều ủng hộ Việt Minh. Nhưng chỉ vài tháng sau đó, với chính sách sắt máu như bắt cóc, cho “mò tôm”, chặt đầu, móc mắt, cắt lưỡi, mổ bụng, những nạn nhân bị chụp mũ “Việt gian”, “phản động”, “phản cách mạng”, đã tạo ra mộ làn sóng căm phẫn bao trùm đất nước. Cuộc kháng chiến do đó mà bị xẹp lép như trái banh xì hơi. Những người còn sống sót, con cháu của các nạn nhân đi tìm chỗ tỵ nạn, họ buộc lòng phải “về thành” để tránh bị Việt Minh tàn sát lần nữa. Họ đành chịu mang tiếng là “hợp tác với giặc Pháp”. Sinh lực kháng chiến tiêu tan ngay, tạo đà cho quân Pháp chiếm lại các tỉnh miền Nam một cách dễ dàng chỉ trong vòng…4 tháng.

Chỉ trong vòng có 2 tháng trời, giành quyền đại diện dân chúng miền Nam, Việt Minh đã biến tình đoàn kết thành nội thù. Các vụ giết người mờ ám, các vụ khủng bố đẫm máu… đã làm cho dân miền Nam thức tỉnh. Phi nghĩa và làm mất thế đoàn kết ngay khi Việt Minh ra lịnh đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình của Phật Giáo Hòa Hảo tại Cần Thơ. Theo lịnh Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ để chống lại tình trạng độc tài của Việt Minh, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo các vùng lân cận tỉnh Cần Thơ và một số thị dân kéo về biểu tình rầm rộ với tay không và biểu ngữ. Cuộc biểu tình có xin phép Chủ tịch Ủy ban Hành chánh là ông Trần Văn Khéo. Sáng sớm ngày 8/9/45, khi đoàn biểu tình với một số “bảo an” với tầm vong vạt nhọn thì làm sao chống lại với súng đạn ! Trước đó, Việt Minh đã mời đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo ở Cần Thơ là các ông Huỳnh Thạnh Mậu (bào đệ Đức Thầy), Nguyễn Xuân Thiếp (anh họ nhà văn Nguyễn Hiến Lê) và Trần Văn Hoành (con trai ông Năm Lửa) đến thương thuyết nhưng thất bại. Nhiều người tham dự cuộc biểu tình này chỉ có tay không với bình nước uống, vừa từ dưới ghe cặp bến, đã bị tự vệ của Việt Minh bắn chết ngay tại bờ sông. Trong vụ thảm sát này, ông Hoàng Quốc Kỳ, một người kháng chiến tập kết về Bắc, gặp lại bạn cũ, là ngươi đã xả súng bắn vào nhóm biểu tình ấy, kể lại như sau :

“Nguyễn Văn Nghệ, một tay súng tiểu liên đầu đàn của Vệ quốc đoàn miền Tây Nam Bộ (CS), kể lại trận “tắm máu đó”: Tụi Hòa Hảo gan cùng mình ! Lớp này ngả xuống, lớp khác tiến lên, cả đàn bà con nít cũng vậy. Bóp cò đến rung cả tay, máu loang đỏ hết cả mặt đường mà chúng nó vẫn nhào vô họng súng. Chiến sĩ ta đã tản thần nhưng lịnh bắt phải bắn tiếp”

Đàn áp xong, Việt Minh dùng xe có loa phóng thanh chạy khắp đường phố loan tin: Hòa Hảo dùng ghe vượt sông Cần Thơ, đổ bộ vào châu thành, bị “Vệ quốc đoàn” đẩy lui.

Rồi Việt Minh kết án: Hòa Hảo âm mưu cướp chính quyền ở Cần Thơ !

Mới 2 hôm trước, vì bị chỉ trích độc tài, Lâm Ủy Hành Chánh xin cải tổ, đề Phạm Văn Bạch thay thế chức chủ tịch (hư vị), Trần Văn Giàu vẫn nắm quân sự. Ủy ban Hành chánh cố khẩn mời Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ làm cố vấn đặc biệt. Trở mặt như chong chóng, đêm 9/9/45, Trần Văn Giàu mật lệnh cho Tự vệ, Thanh Niên Tiền Phong tới bao vây trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo tại góc đường Miche và Sohier (Phùng Khắc Khoan) để bắt Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, nhưng chỉ bắt được mấy trăm tín đồ. Liên tục những ngày kế tiếp, Việt Minh mở chiến dịch khủng bố Phật Giáo Hòa Hảo. Họ ra lịnh truy lùng, bắt cóc, thủ tiêu các nhân sĩ có uy tín của Phật Giáo Hòa Hảo như Chung Bá Khánh, Lâm Thành Nguyên, Võ Văn Thời, Trương Đại Lượng, Lý Công Quận, Nguyễn Hữu Trinh… Cũng cần nhắc lại thêm rằng, hôm 5/9/45, Nguyễn Thành Sơn, Thanh tra chính trị miền Tây, có mời ông Chung Bá Khánh với tư cách đại diện cho Phật Giáo Hòa Hảo đi thuyết trình ở Sóc Trăng mà Dương Kỳ Hiệp (thân Cộng) làm chủ tịch và Tạ Bá Tòng (CS) làm phó. Một số lớn người bị bắt ở Cần Thơ như Chung Bá Khánh, Lâm Thành Nguyên, Võ Văn Thời, Đỗ Hữu Thiều bị đem giam ở Trà Vinh. Sau đó, Việt Minh đem họ xuống Ba Động, một làng ven biển, để trấn nước chết. Riêng ông Lâm Thành Nguyên, nhờ biết lội, bình tỉnh cởi trói, bơi vào bụi rậm ẩn núp, trốn thoát được. Một tháng sau cuộc biểu tình ở Cần Thơ, Việt Minh đem các ông Huỳnh Thạnh Mậu (bào đệ Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ), Nguyễn Xuân Thiếp, Trần Văn Hoành ra xử bắn tại sân banh Cần Thơ.

Vì đại nghĩa quên thù nhà (em ruột là Huỳnh Thạnh Mậu bị Việt Minh xử bắn chết tại sân banh Cần Thơ), lại mới thoát nạn đột kích của Việt Minh, nhưng Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, cũng lòng từ bi hỉ xả, một lần nữa lại chủ trương đoàn kết dân tộc, thành lập Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Gia Kháng Chiến, cho phép thành phần CS tham gia. Chính ông cũng nhiều lần kêu gọi mọi người hãy bỏ qua hiềm khích để bảo vệ tổ quốc lâm nguy.

Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Gia Kháng Chiến ra đời vào ngày 20/4/46, gồm đại diện các đảng phái chính trị, tôn giáo, Bình Xuyên và CS nữa.

Thành phần lãnh đạo gồm :

– Chủ tịch : Hoàng Anh (bí danh của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ)
– Phó chủ tịch : Vũ Tam Anh
– Thư ký : Mai Thọ Trân
– Tuyên truyền : Lê Trung Nghĩa (ký giả)
– Ủy viên quân sự : Huỳnh Văn Trí (Mười Trí)

Phía CS tham gia mặt trận này gồm có: Phạm Thiều, Mai Thọ Trân (chính trị), Phan Đình Công, Huỳnh Tấn Chùa (quân sự).

Thâm tâm của CS khi gia nhập Mặt trận chỉ là để xâm nhập, lủng đoạn, phá hoại và lôi kéo Mặt trận ngả về phía CS. Âm mưu này thất bại, Tướng Nguyễn Bình (CS) tung ra một tổ chức khác, có tên gọi na ná giống nhau, tức Hội Liên Hiệp Quốc (Gia) VN, gọi tắt là Hội Liên Việt. Từ đó, các phần tử CS trong Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Gia Kháng Chiến được lịnh rút khỏi mặt trận này.

Cho tới nay, dư luận và nhiều sách báo xuất bản tại miền Nam, đều quy tội cho Bửu Vinh chính là kẻ sát nhân. Ông Nguyễn Long Thành Nam, được coi như người phát ngôn chính thức của Phật Giáo Hòa Hảo đã viết trong Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc, trang 430 :

“…Hôm sau, Đức Thầy nhận được 2 văn thơ, một của Trần Văn Nguyên, đặc phái viên, kiêm Thanh tra Chính trị Miền Đông Nam Bộ, và một của Bửu Vinh, mời Ngài đến dự hội nghị, họp tại làng Tân Phú, để định liệu kế hoạch hòa giải Việt Minh và Hòa Hảo Dân Xã (sau ngày Hồ Chí Minh và Moutet ký Tạm ước 14/9/46 tại Paris, vào 21/9/46, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng tức Dân Xã; lúc đầu đảng này có khuynh hướng hòa giải với Việt Minh). Vào 7g sáng ngày 15/4/47 (24 tháng 2 nhuần), Đức Thầy xuống ghe đi với 3 người chèo, 4 tự vệ quân, ông Đại đội trưởng Đại đội 2 và người thơ ký văn phòng là ông Huỳnh Hữu Thiện. Lối 8g sáng, ghe tới chợ Ba Răng, có Trần văn Nguyên xuống đón Ngài lên chợ. Ngài đi diễn giảng trước đám dông người, kêu gọi đoàn kết chống xâm lăng, và gạt bỏ hận thù giữa Việt Minh và Dân Xã. Trưa lại, Ngài dùng cơm với Trần Văn Nguyên và một thơ ký xuống đi chung ghe với Ngài đến Đốc Vàng hạ, thuộc thôn Tân Phú. Đến đây, một bản hiệu triệu được công bố cho biết các cấp chỉ huy 2 bên bắt tay nhau lo việc hòa giải, và kêu gọi 2 bên đừng xô sát nhau. Sau khi dùng cơm chiều, Đức Thầy lại nghỉ ở nhà  một tín đồ gần đó. Hôm sau, ngày 16/4/47, lối 7g sáng, Đức Thầy trở lại hội đàm với Trần Văn Nguyên, rồi phái ông Ngô Trung Hưng cùng 1 nhân viên của Trần Văn Nguyên đi các thôn hòa giải. Sau khi dùng bữa cơm trưa, Đức Thầy xuống ghe nghỉ, thì Bửu Vinh báo cáo rằng “Dân Xã giết Việt Minh ở Lấp Vò”, và buộc Đức Thầy phải đi, nhưng Ngài tỏ ra cương quyết biện bác và đòi Bửu Vinh cùng đi. Bửu Vinh khước từ và đòi phải có bộ đội võ trang theo phòng vệ thì mới đi. Ngài trả lời một cách cứng cỏi

– Tại sao tôi có một ít người, không có bộ đội ủng hộ, mà lại dám vào sào huyệt của các ông ? Như thế quí ông không thành thật. Bửu Vinh không trả lời được, nên buộc lòng phải đi và yêu cầu Đức Thầy đến văn phòng của y để cùng đi. Liền lúc đó, Trần Văn Nguyên đến trao cho Ngài một mảnh giấy nói rằng: “Có điện tín từ Ủy ban Hành Chánh Nam Bộ mời Đức Thầy trở về miền Đông lập tức để dự phiên họp bất thường. “Đức Thầy trả lời “Không thể trở về dự phiên họp được, vì còn lo việc hòa giải”.

Chiều hôm ấy, Trần Văn Nguyên từ giã Ngài vào lúc nhá nhem tối.

Y hẹn, Đức Thầy xuống ghe, đến văn phòng Bửu Vinh, có một liên lạc viên dẫn dường. Trời tối đen như mực, bỗng có tiếng kêu

– Ghe ai đó ? Sao giờ này đã thiết quân lực mà còn dám đi?

Người liên lạc viên trả lời :

– Đi lại văn phòng ông Bửu Vinh

”Liền đó, có lịnh biểu ghe ghé lại. Rồi đèn chói rọi xuống, khi biết là ghe của Đức Thầy, chúng nói :

– Ông Bửu Vinh mời Đức Thầy lên văn phòng

Đức Thầy cùng 4 tự vệ lên một ngôi nhà ngói. Ngài vào ngồi bàn giữa, nói chuyện với Bửu Vinh, còn 4 tự vệ quân cầm súng đứng 2 bên, gần cửa. 10 phút sau, lối 7g30, có 8 người từ bên ngoài đi vào, chia làm 4 cặp, tràn tới đâm 4 tự vệ quân. 3 người bị đâm chết, chỉ còn người thứ tư là Phan Văn Tỷ lanh trí nên tránh kịp, liền thoát ra ngoài, bắn một loạt tiểu liên. Trong lúc anh Tỷ né, thì 1 trong 2 tên Việt Minh bị đồng bọn của mình đâm chết.

Thấy chuyện chẳng lành, Đức Thầy lanh lẹ thổi tắt ngọn đèn, văn phòng trở nên tối đen, không ai nhận ra Đức Thầy đâu cả..

Chúng tôi may mắn được hầu chuyện cùng ông Lâm Quang Phòng, một nhân vật tên tuổi của miền Tây thời kháng chiến. Năm nay ông đã 81 tuổi, tinh thần vẫn còn khang kiện. Ông từ tốn, không muốn kể lại thành tích của bộ đội mình, nhưng chúng tôi tìm hiểu thêm trong các tài liệu thì bộ đội Lâm Quang Phòng ra đời trong hoàn cảnh miền Nam vùng lên chống Pháp vào cuối năm 1945. Bộ đội Lâm Quang Phòng tự tuyển mộ, trang bị võ khí và lập nhiều chiến công vang dậy khắp miền Tây Thành tích lớn nhất là cướp được chiến xa của Pháp từ biên giới Miên tràn qua Hà Tiên, đem về triển lãm cho dân chúng Hà Tiên xem. Chiến lợi phẩm ấy còn vẻ vang hơn 2 cây súng đại bác 105 ly lấy được trong trận chiến thắng Tầm Vu (Cần Thơ) năm 1948, do Huỳnh Phan Hộ chỉ huy. Thành tích này không bao giờ được CS nhắc tới trong các tài liệu, sử sách của họ, chỉ vì ông Lâm Quang Phòng không phải là đảng viên CS.

Khi bác sĩ Việt Minh là Nguyễn Công Trung than rằng “Thiếu dụng cụ y khoa để mổ xẻ cứu các thương binh” thì bộ đội Lâm Quang Phòng tình nguyện đánh vào Bạc Liêu, chiếm bịnh xá, tịch thu hết dụng cụ y khoa và thuốc men về cho họ. Năm 1947, ông Lâm Quang Phòng là Đại đội trưởng Đại đội 64 Hà Tiên, còn Bửu Vinh là Đại đội trưởng Đại đội 66 Long Xuyên.

Ông Lâm Quang Phòng quả quyết rằng : “Chính Đào Công Tâm, Chính trị viên của Đại dội 66 (Việt Minh) chủ động hạ sát Đức Thầy vào họp, rồi ùa ra đâm loạn đã vào mọi ngươi (tự vệ quân của Đức Thầy) khi đèn tắt. Đào Công Tâm đã hạ sát Đức Thầy chớ không phải Bửu Vinh. Nói như vậy không phải Bửu Vinh là kẻ vô tội. Hắn đồng lõa, sắp đặt âm mưu như Trần Văn Nguyên. Chính Đào Công Tâm còn lấy được một cây súng nhỏ (6.65) của Đức chế tạo (?) do Ủy ban Hành chánh Nam Bộ tặng Đức Thầy khi ông nhậm chức cố vấn đặc biệt trước đây. Cây súng ấy, bá súng có nạm vàng, và Đào Công Tâm đã trao cây súng lại cho Phan Trọng Tuệ, lúc đó là Chính ủy Khu 9.

Theo ông Lâm Quang Phòng thì Bửu Vinh là người thuộc hoàng phái, trước làm thơ ký kho bạc tại một tỉnh miền Trung, thụt két, bỏ trốn vào Nam. Vinh làm đủ mọi nghề lao động chân tay, trốn tránh ngoài vòng pháp luật. Có lúc Vinh trôi dạt tới Phú Quốc, gia nhập bộ đội Lâm Quang Phòng của ông. Vinh đánh giặc gan lì, hiếu sát, nên được cử là Tiểu đội trưởng. Ít tháng sau, Vinh ngả theo Việt Minh. Với khả năng giết người chuyên nghiệp, Vinh như người tìm được vận hội mới. Đầu năm 1947, Vinh làm Đại đội trưởng Đại đội 66 Long Xuyên của Việt Minh.

Còn Đào Công Tâm là người Hải Phòng vào Nam sinh sống khá lâu. Từ chỗ làm phu đồn điền ở Hớn Quản (như Lê Đức Anh), Tâm bỏ trốn xuống Saigon làm phu khuân vác và đủ các nghề chân tay để sống. Khi Việt Minh cướp chính quyền, dung nạp các thành phần bất hảo, Tâm liền gia nhập “Quốc Gia Tự Vệ Cuộc”, tức công an. Vốn hận thù những người may mắn, giàu có hơn, nên Tâm say máu giết người. Từ chức Tiểu đội trưởng Tự Vệ, Tâm tiến lên Trung đội trưởng và được đề bạt làm Chính trị viên Đại đội 66 của Bửu Vinh. Đầu trộm đuôi cướp gặp nhau, họ làm việc rất tương đắc. Đại đội này đánh Pháp thì ít, mà chận đánh các bộ đội của người quốc gia thì nhiều. Tâm có vóc người ốm, dong dỏng cao, lưng hơi khom, mắt ti hí, người Nam gọi mắt lươn, môi chì, mặt mét. Nghề rình rập, truy lùng, ám sát, thủ tiêu rất hợp với khả năng của Tâm.

Nhưng ai đã từng ở trong kháng chiến thời đó tại Miền Tây Nam Bộ chắc đều biết vụ Việt Minh ngụy tạo vụ án “Hòa Hảo ăn thịt người” để tuyên truyền lừa bịp. Sau vụ đàn áp cuộc biểu tình của Hòa Hảo đẫm máu tại Cần Thơ, dân chúng, tín đồ Miền Tây xa lánh họ. Việt Minh lại trình diễn luôn 2 màn lừa bịp mới. Thứ nhứt, để lợi dụng các tôn giáo, năm 1949, theo chỉ thị của Lê Duẩn, tổ chức “Đại Hội Liên Tôn Quốc Doanh” ở xã Tân Duyệt, Bạc Liêu. Tôn giáo nào cũng có đại diện, trừ Hòa Hảo.

Ông Hoàng Quốc Kỳ kể lại vụ lừa bịp không tiền khoáng hậu ấy như sau :

”…Sau Đại Hội Liên Tôn, hắn (Duẩn) sai những tên đảng viên CS ác ôn, thân tín nhất, chọc tiết cả chục tù nhân rồi chặt đầu, xẻ thịt y như người ta ra thịt heo, bày bán giữa ban ngày trên bờ sông Vịnh Chèo, thuộc tỉnh Cần Thơ. Ghe xuồng nào đi ngang qua cũng bị chặn lại, dí súng, dao găm vào cổ, bắt phải mua thịt… người. Đến khúc sông vắng, người ta vội vàng vứt xuống sông để khỏi ói mửa. Rồi các ty tuyên truyền khắp Nam Bộ đem triển lãm hàng trăm tấm ảnh cỡ 18-24 chụp thớt thịt trên sông Vịnh Chèo, với những chiếc đầu lâu, những cánh tay còn nguyên ngón, kèm lời “thuyết minh”: “Bọn Hòa Hảo man rợ ở Cần Thơ đã giết cán bộ và thường dân không chịu theo chúng, rồi xẻ thịt bày bán trên sông Vịnh Chèo, bắt dân chúng mua về ăn. Ai không chịu bỏ tiền ra mua, chúng liền giết ngay tại chỗ, rồi xẻ thịt người ấy bày lên thớt…»

Tuy xảo quyệt và gian trá như thế, nhưng Việt Minh không lừa bịp được ai. Người dân địa phương đã vạch mặt nhóm giết người dã man ấy, nếu nói Hòa Hảo thì cả quận này người ta đều quen biết nhau hết, và họ đâu có thấy dân địa phương đứng bán thịt… người. Nhưng đó là những người có giọng nặng trịch, khó nghe… Với chiến dịch tuyên truyền lừa bịp này vừa tung ra, tự nó đã xẹp ngay vì nó lộ liễu quá….” (Ma Đầu Hồ Chí Minh, Hoàng Quốc Kỳ, trang 128).

Trong thời kháng chiến, Việt Minh giết người, mổ bụng, trói thúc ké xuống cho “mò tôm”. Mấy hôm sau, thây ma sình thúi, trôi lều bều. Việt Minh lại đi rỉ tai dân chúng :”Hòa Hảo giết người đấy !

Việt Minh phá nát sư đoàn Việt Nam Quốc Dân Đảng

Nguyễn Hòa Hiệp xuất thân trong một gia đình điền chủ tại Phú Long, tỉnh Thủ Dầu Một (tức Sông Bé). Sau khi đậu Diplôme, ông làm Tham tá Bưu điện. Năm 1929, Nguyễn Hòa Hiệp cùng Nguyễn Phương Thảo, tức Nguyễn Bình sau này, cũng gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng, hệ phái miền Nam. Giữa tháng 8/1945, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ra đời, tập họp toàn dân kháng Pháp, quyết định lập 4 sư đoàn dân quân. Nguyễn Hòa Hiệp được cử làm Chỉ huy trưởng Đệ tam sư đoàn, Lý Hồng Chương làm phó.

Thấy tình hình Nam Bộ còn nhiều đơn vị kháng chiến không chịu nhận mệnh lệnh CS, Hồ Chí Minh cử Ngyễn Bình vào “thống nhứt các lực lượng quân sự” ấy. Những ai đầu phục, họ thu nhận, rồi tìm cách ám sát. Những đơn vị nào không hợp tác, Bình tìm cách phá nát. Ăn không được thì phá cho hôi chính là chủ trương của Việt Minh. Đệ Tam sư đoàn có lực lượng “Dân Quốc Quân” làm nồng cốt, nên có kinh nghiệm chiến đấu. Nhiều lần Việt Minh chiêu dụ, mua chuộc không được, họ tìm cách tiêu diệt. Nguyễn Bình ra lịnh : Khi các sư đoàn dân quân di chuyển tới đâu, các Ủy ban Hành chánh địa phương cấm giúp đỡ. Dân địa phương bị cấm liên lạc, tiếp xúc với họ. Đệ Tam sư đoàn lâm vào tình trạng bị phong tỏa, cô lập. Để tránh tan rã, Nguyễn Hòa Hiệp quyết định cùng một số đơn vị chiến đấu khác, phải bỏ Khu 7 (các tỉnh miền Đông), rút về Hậu Giang. Trên đường di chuyển, đơn vị này đụng độ với 2 đại đội của Việt Minh: Chi đội 18 của Nguyễn Văn Xuyến và Chi đội 12 của Nguyễn Tấn Chùa chận đánh… Do sự chỉ điểm của Nguyễn Bình, Pháp oanh tạc nhiều lần, binh sĩ của Đệ Tam sư đoàn tử thương rất nhiều, trong số đó có thi sĩ Khổng Dương (Trương Văn Hai) tử nạn ở Xẻo Rô, trên đường về Long Xuyên.

Tội ác của Việt Minh đối với Cao Đài

Tiêu diệt tôn giáo, đảng phái là chủ trương của người CS ngay khi họ nắm được chính quyền ở Nam Bộ bằng cái “Lâm Ủy Hành Chánh”. Nếu Trần Văn Giàu đã gieo tang tóc cho Nam Bộ đang lâm chiến bao nhiêu, thì tội ác của Tướng Nguyễn Bình đối với tôn giáo, đảng phái cũng tày trời bấy nhiêu.

Thủ đoạn của Việt Minh là mua chuộc, lôi kéo về phe họ, phục vụ quyền lợi của họ, làm viên gạch lót đường, làm con chốt hy sinh. Ai ngoan ngoãn thì lợi dụng có giai đoạn, sau đó tìm cách ám sát, gọi là “tử trận”, “hy sinh”,… Biết rõ âm mưu này, Cao Đài bất hợp tác, bị Việt Minh đánh phá, phải kéo về Tây Ninh để khỏi bị tiêu diệt. Thất bại, Việt Minh lập một kế hoạch lừa bịp mới : lập nhóm Cao Đai ly khai ở Bạc Liêu, chiêu dụ họ đứng về “phe kháng chiến”. Việc chống xâm lăng là một nghĩa vụ của người dân, một tín đồ, nhưng phục vụ riêng cho quyền lợi của CS thì tôn giáo nào cũng từ chối. Phái Cao Đài Minh Chơn của ông Cao Triều Phát và Trần Đạo Quang ở Bạc Liêu đã bị lừa vào cái bẩy sập đó.

Cao Triều là một dòng họ lớn, nhiều người là đại điền chủ, có con cái ăn học bên Tây. Cao Triều Phát là một trong những cự phú xứ “công tử coi tiền như rác”. Giàu có lớn, Cao Triều Phát là người có tâm đạo, làm việc nghĩa, tính tình hiền lành. Từ khi biết mình bị lừa vào hang cọp, ông âm thầm chịu đựng, đóng trọn vai trò lừa bịp do CS dàn dựng. Từ khi khai đạo tại Tây Ninh, Cao Đài lần lượt chia nhiều hệ phái: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Bến Tre của Lê Kinh Ty, Nguyễn Ngọc Tường, và Cao Đài Minh Chơn Hậu Giang của ông Cao Triều Phát và chưởng pháp Trần Đạo Quang.

Năm 1932, Thánh thất Cao Đài Minh Chơn đặt tại Giồng Bướm, làng Phong Thạnh, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, lấy tên là Thánh thất Ngọc Minh. Rùn ép, đe dọa, Việt Minh dùng thủ đoạn bắt ông Cao Triều Phát làm bình phong để có danh nghĩa cho họ lập “Đại Hội Liên Tôn Quốc Doanh”. Trước đó, với sự dàn dựng của Việt Minh, “Cao Đài Cứu Quốc Họp Nhứt 12 Chi Phái” để lôi kéo tín đồ ủng hộ kháng chiến do họ lãnh đạọ một giai đoạn khá ly kỳ được dân chúng Bạc Liêu thường nhắc tới là việc CS dùng thủ đoạn moi tiền ông Cao Triều Phát một cách thô bỉ. Người miền Tây còn nhớ việc này rành rành như sau (Theo thư nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh gởi cho tác giả ngày 2/2/94) :

”…Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, có một lá thơ của “bác Hồ” gởi Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ, trong đó nhắc tổ chức trao chiếc áo và thư “của Bác” cho ông Cao Triều Phát. Đó là chiếc áo lụa, do các em thiếu nhi Hà Đông tặng khi bác Hồ còn ở Hà Nộị Trong “tuần lễ vàng”, Việt Minh lại đem chiếc áo ấy bán đấu giá, buộc ông Cao Triều Phát phải mua với giá 50 vạn đồng (50,000 đồng) 1 chiếc áo lụa nhàu nát như miếng giẻ rách.

Từ đó, ông Cao Triều Phát đã lọt vào quỹ đạo của CS, sẵn sàng làm bù nhìn để Cao Đài mặc tình sai khiến đóng trò.

Riêng hệ phái Cao Đài Tây Ninh, cũng bị mua chuộc, dụ dỗ, nhưng không thành công. Tiếp đó, Việt Minh giở trò vu khống, rồi khủng bố, ám sát nhắm vào các ông Trần Quang Vinh, Giáo chủ Phạm Công Tắc, Hồng Sơn Đông, Nguyễn Vạn Nhả, nhưng thất bại.

Ông Dương Đình Lôi đã kể lại rằng, “Trong 2 năm 1946-1947, Việt Minh đã đưa cả một trung đoàn về ẩn náu tại vùng Long Sơn, núi Nứa (Cần Giờ), có mục đích đánh phá đạo Cao Đài. Vùng Rừng Sác có một họ đạo Cao Đài tại Cần Giờ. Trung đoàn 300 của Việt Minh vẫn thường xuyên đột nhập, gọi là “tảo thanh”, gặp tín đồn Cao Đài là cứ bắn giết, nhà cửa thì đốt sạch. Mỗi lần như vậy, dân đạo Đao Đài phải chạy vào đồn bót Tây để được Tây che chở…”

Cũng theo bức thư của nhà văn An Khê thì :

”…Ở Củ Chi, thời đó có các Trung đoàn 306, 312 cũng tảo thanh Cao Đài ở vùng Cổ Ống, Cầu Xe, Sốc Lào, rồi họ bắt theo một số tín hữu, đập đầu, chôn xuống các giếng trong những nhà chứa mũ cao sụ Mối hận này không bao giờ rửa sạch trong lòng dân đạo Cao Đài .Vào năm 1947, Việt Minh gởi cán bộ Khu 7 (miền Đông) lên họp với các lãnh tụ tôn giáo và đảng phái quốc gia, trong đó có giáo chủ Huỳnh Phú Sổ. Buổi họp kéo dàì từ sáng tới chiều, thì Việt Minh vi phạm cam kết, bất thần xua quân tấn công Tòa thánh. Súng nổ từ phía ngoài ràọ 3 gã đại diện quân khu (Việt Minh) run rẩy, nói như muốn khóc :

– Chúng tôi không chủ trương như thế. Các anh xét lại cho

Ông Trần Quang Vinh và Nguyễn Văn Thành trấn an họ :

– Các anh đừng sợ. Các anh đến đây, chúng tôi có bổn phận bảo vệ sinh mạng cho các anh.

“Khi ấy Tòa thánh được bố phòng kỹ lưỡng. Tại các ngã đường dẫn vào Tòa thánh, đều có công sự phòng thủ. Người chỉ huy lực lượng phòng thủ khi ấy là Trịnh Minh Thế. Việt Minh tấn công vào cửa chính nhằm lúc đổi phiên gác (6g chiều). Lính gác chưa kịp phản ứng gì. Tức thì một bộ phận khác núp trong mé rừng gần đó xông ra con đường lớn vừa chạy vừa bắn vào Tòa thánh. Lợi dụng khi ấy chung quanh Tòa thánh còn nhiều rừng, Việt Minh điều động một số quân đến gần. Nhưng số quân ấy được lực lượng phòng thủ bên ngoài của Nguyễn Thành Phương chận lại. Toán đặc công Việt Minh hạ sát toàn lính gác, ồ ạt xung phong qua cổng chính. Mặc dù bị thương, người chỉ huy rút chốt lựu đạn, quăng về phía Việt Minh. Lựu đạn nổ tung, báo động cho các vọng gác tiếp viện và sẵn sàng chiến đấụ Mấy tên tiền phong của Việt Minh ngã gục. Bọn sau chậm lại. Nhờ thế, lính Cao Đài phản công quyết liệt, đẩy lui địch ra ngoài và đóng cổng sắt lại. 1 Trung đội Việt Minh bắn giết và đốt nhà dân cách đó 100 m. Ông Trịnh Minh Thế vừa thổi kèn thúc quân. Nghe tiếng kèn, Việt Minh tưởng có tiếp viện, vội vàng tháo lui, rút vào rừng “Sáng hôm sau, nhiều phóng viên báo chí từ Saigon lên Tây Ninh, đã chứng kiến một cảnh tàn sát man rợ hãi hùng. Họ nhìn tận mắt đồng bào vô tội bị Việt Minh hạ sát : đàn ông, đàn bà, trẻ con đều bị chém, đâm và bắn trong những chòi lá cháy rụị Có 1 bà mẹ ôm con nhỏ đã bị bắn chết…” (Thư của nhà văn An Khê, đề ngày 2/2/94).

Một nhân vật quan trọng của Cao Đài Bến Tre là ông Lê Kim Tỵ. Ông Tỵ từng hoạt động chống Pháp, bị bắt giam ở Tà Lài mấy năm. Lê Kim Tỵ hoạt động chung với các ông Dương Văn Giáo, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là bác sĩ Nguyễn Thị Sương, luật sư Huỳnh Văn Phương, Lâm Ngọc Đường. Vào tháng 10/1945, những người này đều bị Việt Minh bắt và hạ sát hoặc trấn nước tại sông Lòng Sông (Mường Mán), Phan Thiết.

·  ”Tình đồng chí”

Tôi (tác giả Hứa Hoành) có dịp đàm dạo với một vị cao niên, quen nhau từ hồi ở bên trại tỵ nạn, mới đây gặp lại trong một tiệc cưới . Ông nhận xét về thành phần dao búa tham gia kháng chiến năm 1945, kể lại những chuyện thật, xin giấu tên :

Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, kêu gọi toàn dân kháng chiến. Chúng tôi, dân gian hồ sống ngoài vòng pháp luật từ lâu, nghĩ rằng đây là dịp đoái công chuộc tội. Hơn nữa, chúng tôi có người còn chút lương tri, muốn ngoi lên ánh sáng làm người lương thiện và làm người yêu nước trong thời loạn. Đó cũng là tâm trạng các tướng cướp khét tiếng như Bảy Viễn, Mười Trí, Thomas Phước (tướng cướp hào hoa nổi tiếng một thời ở Saigon). Đầu tiên, chúng tôi xin gia nhập Tự Vệ của Lâm ủy Hành chánh. Nhóm này chia làm 2 phe : một phe lo bảo vệ an ninh cá nhân trong Lâm ủy, còn một nhóm khác nhận mật linh thi hành các vụ giết người “Việt gian”, “phản động”. Tôi thuộc nhóm thứ hai . Qua mấy tháng nhúng tay vào máu, chúng tôi, có người tỉnh ngộ và đổi thái độ. Một hôm, Trần Văn Giàu họp chúng tôi và nói :

– Cách mạng nào mà không đổ máu ? Chúng ta hãy tiêu diệt bọn “phản động”, “Việt gian” với bất cứ giá nào.

Những lời kết tội đó chỉ chung chung, không nói rõ tội trạng một aị Rồi cứ mỗi tối, chúng tôi lại nhận mật lịnh đi lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu nhiều nhân vật tên tuổi mà Lâm ủy có sẵn tên trong “sổ bìa đen”

Một người trong nhóm chúng tôi thắc mắc

– Tại sao độc lập rồi mà còn giết nhiều người tài đức, có uy tín?

Trần Văn Giàu trả lời :

– Cách mạng làm gì có đức ? Ai làm cách mạng mà không giết người?

Từ trong tiềm thức chúng tôi, hận thù dược khơi dậy, nhiều người say máu, muốn trả thù. Tuy nhiên, cũng có người chùng bước, không nở nhúng tay, nhưng cũng không dám cải lịnh. Chúng tôi lào vào công việc chém giết và được khuyến khích như “nhiệm vụ cách mạng”

Mấy tháng sau chúng tôi tỉnh ngộ. Kẻ còn chút lương tri như bọn tôi, tự động rã ngũ, về thành để bảo vệ mạng sống 1 cách nhục nhả. Có người “đâm lao thì phải theo lao”. Lại có người tiếp tục “đánh đu với tinh, đùa giởn với rắn độc”, chỉ trong 1 thời gian ngắn, họ “sanh nghề tử nghiệp”. Đó là trường hợp của Ba Nhỏ, Hoàng Thọ, Giang Minh Lý và ngay cả Trung tướng Nguyễn Bình. Còn lại những kẻ mù quáng, tiếp tục vay máu đồng bào, cuối cùng cũng bị “hy sinh”. Họ chết không phải vì lằn tên mũi đạn của kẻ thù mà chết vì dao găm, mã tấu của “đồng chí” họ như Tưởng Đàn Bảo, Vũ Đức, Sư Muôn…

Sau đây là vài trường hợp thương tâm ấy :

Khi Pháp chiếm lại các công sở trong thành phố Saigon đêm 22 rạng 23/9/45, Ủy ban Hành chánh đã chạy thụt mạng vô Chợ Đệm mấy hôm trước, bỏ lại bọn Tự Vệ (Tự Vệ Cuộc, tức công an Việt Minh), Thanh Niên Xung Phong như rắn mất đầu. Võ khí thô sơ làm sao đương đầu với quân Pháp khí giới tối tân ? Từ chỗ ẩn náu an toàn, Ủy ban Han`h chánh ra lịnh tàn sát bất cứ người da trắng nào họ gặp. Ba Nhỏ, một đầu đảng cướp hoàn lương, chỉ huy một toán Tự Vệ thành, được lịnh ấy. Nửa đêm 25/9/45, Ba Nhỏ dẫn 1 đám lâu la, đột nhập cư xá Hérault (Hérault City) dành riêng cho gia đình Pháp kiều tại Tân Định, Phú Nhuận tàn sát 1 số đàn bà, trẻ con tại đây. Rồi họ bắt theo độ 50 người làm con tin, nhưng rồi cũng giết nốt. Tổng số nạn nhân lên tới khoảng 200 người. Nhiều quân lính Pháp, nóng lòng vì thân nhân bị giết, nên ra đường gặp ai đều bắn bừa bãi để trả thù. Dư luận tức giận, quay lại kết án Việt Minh là bọn mọi rợ. Nổi sùng, mấy ngày kế tiếp, Ba Nhỏ, Tô Ký, Kiều Đắc Thắng, Kiều Tấn Lập của Việt Minh được lịnh lùng sục, bắt bớ, chém giết man rợ. Chỉ trong vòng 1 tháng, có hàng trăm nhân vật tên tuổi, người quốc gia yêu nước đều bị giết.

Cũng như lớp CS đàn anh, Ba Nhỏ xuất thân từ băng du côn Bà Chiểu, Cầu Bông, Thị Nghè; 3 năm cầm đầu dân dao búa, Ba Nhỏ thạo nghề chém giết. Được Lâm ủy Hành chánh trọng dụng, hắn “làm việc cần mẫn”. Nạn nhân của hắn không một ai sống sót. Vậy mà khi Pháp xua quân chiếm lại Thủ Đức, Ba Nhỏ theo bộ đội kháng chiến rút ra trước tới Biên Hòa . Khi Biên Hòa thất thủ, bộ đội Ba Nhỏ rút về Bà Rịa, Long Thành. Để xoa dịu dư luận bất mãn đối với Việt Minh, Tướng Nguyễn Bình được lịnh dàn dựng tội trạng để xử tử Ba Nhỏ “làm gương” vì tội “vô kỷ luật”.

Giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, giặc Pháp thập thò trước cửa, tàu chiến xập xình trên sông Lòng Tảo hàng ngày, mà Việt Minh ngụy tạo tội trạng cho Ba Nhỏ “đã giết người đàn mà mang 2 kg thịt tiếp tế vùng tạm chiếm” để tử hình đồng đội. Khi Ba Nhỏ bị kêu án, Ba Dương (Ba Dương là lãnh tụ Bình Xuyên trước Bảy Viễn) và đồng đội giang hồ cũ, đều ký tên xin ân xá hoặc giảm án, nhưng Nguyễn Bình được lịnh phải hành quyết tức khắc. Quá ức vì biết mình bị làm con vật hy sinh, Ba Nhỏ liều giựt cây súng lục của đội hành quyết định tự sát cho rõ khí phách một tay anh chị, nhưng toán hành quyết giựt lại và bắn Ba Nhỏ chết liền tại chỗ.

Kiều Đắc Thắng là một tên du thủ du thực, từ miền Trung lưu lạc vào Nam trước năm 1945. Thắng làm đủ nghề từ phu đồn điền, khuân vác, thợ hớt tóc. Kiều Đắc Thắng ăn cướp bị bắt giam vào khám ở Vũng Tàu Ở đây, Thắng cùng một bạn đồng tù tên Năm Bé móc nối với một tên coi ngục để vượt ngục. Lúc đó đúng vào cơ hội Việt Minh cướp chính quyền, Thắng xin làm Tự Vệ. Từ Tiểu đội trưởng Quốc Gia Tự Vệ Cuộc (công an Việt Minh), Kiều Đắc Thắng lên lên chức quyền Giám đốc công an các tỉnh miền Đông chỉ hơn 1 năm, nhờ khả năng bắt cóc và ám sát. Những ai bị Lâm ủy Hành chánh kết tội “Việt gian, phản động”, Thắng hạ sát không gớm taỵ Nạn nhân của Thắng dài sọc. Ông Phan Văn Hùm bị Kiều Đắc Thắng ám sát tại quê nhà Bún, Lái Thiêu, tháng 10/1945. Về sau, thấy Thắng có quyền hành quá lớn, muốn qua mặt Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn, nên Tướng Nguyễn Bình “gởi Thắng ra gặp bác Hồ”. Có nguồn tin nói rằng Hồ Chí Minh cho Thắng gặp mặt, phủ dụ mấy câu theo công thức, rồi đổi tên Thắng là Vũ Tùy Nhàn để khỏi mang tiếng. Tuy nhiên, trên đường về Nam, Kiều Đắc Thắng chết một cách mờ ám.

Một nhân vật độc đáo khác cũng xuất thân từ giới giang hồ, đánh giặc rất gan lỳ, đó là Hoàng Thọ. Hoàng Thọ là người Hải Phòng cũng do lò ba búa đào tạo, lưu lạc vô Nam từ năm 1939.

Thọ có thân hình cao lớn, khá điển trai, râu quai nón. Khá hơn những tên trước, Thọ từng làm thợ máy quấn dây điện. Khi Nhật đảo chánh Pháp (3/1945), Thọ theo Nhật làm lính hải quân, nên được gọi là “Thọ Mạch lô”. Việt Minh nắm chính quyền mở ra cho Thọ một con đường mênh mông vì hợp khả năng. Khi Tướng Nguyễn Bình vào Nam, nghe tiếng Thọ, lại người cùng quê, nên Nguyễn Bình chọn bộ đội Thọ để bảo vệ cho mình. 1 năm sau, bộ đội của Hoàng Thọ được bổ sung thêm nhiều chiến sĩ, đánh nhiều trận tiếng tăm lừng lẫy. Địa bàn hoạt động của Thọ là vùng Gò Dầu, Trãng Bàng, Tây Ninh. Tuân lịnh Việt Minh, Thọ từng gây nhiều tội ác đối với giáo phái Cao Đài. Những người quen biết với Hoàng Thọ có kể lại rằng, mỗi lần phục kích, Thọ chọn hướng gần mé sông. Binh sĩ chỉ có tiến chớ khôg có lùi. Khi Nguyễn Bình chính quy hóa quân đội kháng chiến, bộ đội Hoàng Thọ trở thành Tiểu đoàn 303. Đó là đơn vị chủ lực của Quân khu 7. Nguyễn Bình gài một tên CS, tên Kính, vào làm chính trị viên thì Tiểu đoàn 303 bắt đầu chia rẽ nội bộ và trở nên suy yếu. Có lần Hoàng Thọ bắt gặp một số bộ đội sinh hoạt riêng rẽ, bí mật. Khi Thọ điểm danh, thì vắng mặt. Lúc đó, tên chính trị viên Kính cố thuyết phục, rùn ép, dụ dỗ Thọ vô đảng CS. Bất mãn, Thọ bỏ đi, rồi cạo đầu để phản đối. Lúc trở về, Thọ thấy vật dụng cá nhân đều bị lục soát, anh ta bực tức không dằn được :

– DM. Hoàng Thọ này đi kháng chiến vì dân vì nước, đâu có ngờ ngày nay có đảng này đảng nọ. Đem mà bắn cha nó cái đảng CS cho rồi!

Sau đó, Thọ bị kiểm điểm, phê bình và thế là môt bản án tử hình bí mật đã định sẵn. Tháng sau, Tướng Nguyễn Bình “giới thiệu” Hoàng Thọ ra Bắc “gặp bác Hồ”. Biết rõ âm mưu của Việt Minh định giết mình, Hoàng Thọ đi vài chặng, rồi đổi ý quay về Mỹ An mở quán lá bên bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp trong Đồng Tháp Mười làm sinh kế. Hoàng Thọ có tiền, tiếp đãi bạn cũ có dịp công tác đi ngang qua đó rất hậu chẳng khác gì Mạnh thường quân.

Đầu năm 1950, văn phòng Trung tướng Nguyễn Bình dời về Cá Lóc, quận Long Mỹ. Bị Tây phát giác, họ chuyển đến Ông Dèo, ấp Cầu Đúc, quận Gò Quao, tỉnh Rạch Giá. Trong một đêm tối trời, Hoàng Thọ bị bắt, đem đi hành quyết tại một địa điểm gân Cạnh Đền. Bọn sát nhân đập đầu Hoàng Thọ như đập đầu con cá lóc. Trước khi chết, Thọ rống như bò và chửi rủa Việt Minh thậm tệ.

Cùng thời gian đó, ông Giang Minh Lý bị giết rất dã man. Lý con nhà đại điền chủ bỏ theo kháng chiến, lập nhiều công trạng, làm chính trị viên một đại đội đóng ở Cần Thợ Lý bị rùn ép, đe dọa phải vào đảng CS và phục tùng mệnh lệnh của họ. Lý từ chối nên bị nghi ngờ, theo dõị Lý bất mãn ra mặt. Có lần Lý tuột quần, chỉ vào con c. và điểm mặt Hoàng Dư Khương, Chính ủy Khu 9, nói :

 Tao sợ mày cái con c. tao nè!

Mấy hôm sau, Lý bị bắt đem đi hành quyết tại Cạnh Đền. CS căng 2 tay ông ra, rồi dùng dao găm đâm túi bụi vào mắt, vào tim..

Sau đây là một vụ hành quyết tập thể các “đồng chí” của mình (Việt Minh) mà tác giả Dương Đình Lôi có thấy hoặc nghe kể lại trực tiếp (qua 1 bức thơ ông Dương Đình Lôi gởi riêng cho tác giả:

…Tất cả độ 20 người thuộc bộ chỉ huy, tham mưu và hậu cần, chính trị của Tiểu đoàn 300 Dương Văn Dương, có cả Trương Văn Phụng và anh Tám Sơn đều bị trói thúc ké, đem xuống bờ biển Đông Hòa, rồi chặt đầu hết. Trong số nạn nhân có Bảy Nghiệp, nguyên Chi đội trưởng Chi đội 21 từ nhóm Bình Xuyên qua, phụ trách đảng vụ của Trung đoàn và chị Hai Sương được “hưởng ân huệ” khi xử tử. Đó là dùng súng bắn vào đầu thay vì bị chăt đầu.

Về cái chết của chị Hai Sương, ông Dương Đình Lôi không chứng kiến, nhưng được nghe chính người hành quyết kể lại :

Tôi nghe anh Năm Triệu, Đại đội trưởng chỉ huy cuộc hành quyết đó về vă phòng trung ương báo cáo lại. Năm Triệu gốc lính Nhật, to lớn con, mang gươm dài chấm đất. Năm Triệu kể :

”Tao thấy con Sương rụng rời tay chân. Tới phiên nó, nó xin đi đái. Tới lúc nó đứng dậy sau bụi cây mưa. Nó lột trần truồng dưới ánh trăng lờ mờ, làm tao trân trối nhìn nó chậm rãi đi trước miệng hố. Tao biết tội nó chỉ là liên lạc đưa thơ về Saigon mà sao họ cũng giết đành đoạn ? Khi tới gần tao, nó nói :

– Anh Năm ! Em muốn hiến cho anh rồi em chết

“Tao bàng hoàng định tha cho con nhỏ. Nhưng thằng mắc dịch Bảy Mầu đi tới (Bảy Mầu cũng là Đại đội trưởng, chồng chị Dưỡng, rễ của Ba Dương, bị Tướng Nguyễn Bình sai Từ Văn Ri ám sát chết ở Bến Tre). Thằng Mầu nó bảo :

-Bộ hỏng mạnh dạn xuống gươm hả ? Để tao tặng cho em viên đạn.

“Thế là kết liễu một đời hồng nhan bạc phận. Chị Sương là một người đẹp nhất của Trung đoàn, con nhà giàu, học sinh ở Saigon, bỏ theo kháng chiến và rước lấy cái chết thê thảm.

Những người bị chặt đầu, chôn, hoặc thả trôi sông Lòng Tảo hôm ấy tôi được biết gồm có:

– Hai Điều, Trưởng ban quản trị, bị bắt ở An Thành
– Tám Son, Trưởng văn phòng Trung đoàn
– Bảy Nghiệp, Tiểu đoàn trưởng, Trưởng ban đảng vụ
– Năm Son, Trưởng ban quân nhu
– Bác sĩ Năm Ngà, Trưởng bịnh xá Trung đoàn
– Chị Sương, một thiếu nữ xinh đẹp, thuộc ban quân báo Trung đoàn
– Chín Lá, Trưởng đài vô tuyến điện

Sau đây là chuyện của Sư Muôn

Sư Muôn là một nhà tu mang nhiều tai tiếng xấu, báo chi phanh phui những hành động lem nhem với phụ nữ. Lý lịch sư Muôn cũng ít người biết, nhưng nhắc tới sư Muôn, những người lớn tuổi ở miền Tây không ai không nghe tiếng. Tôi (Hứa Hoành) may mắn được ông Xuân Tước và 1 vị cao niên khác chỉ dẫn nhiều chi tiết.

Hồi những năm từ 1936-1939, sư Muôn có chùa ở quận Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá. Sát bên chùa có một cái am nhỏ, nơi đây những phụ nữ, những bà hiếm muộn muốn cầu tự, thường tìm đến sư Muôn để nhờ làm phép và nhiều người mãn nguyện. Nhờ vậy tiếng ông đồn rất xa.

Sư Muôn tên thật là Nguyễn Kim Muôn, người ở Gia Định, trước làm công chức Sở hỏa xa. Lúc đó, ông có mướn căn phố tại đường Hamelin (Hồ Văn Ngà sau này). Ông xuất tiền và lạc quyên thêm để cất ngôi chùa Long Vân Tự tại đường Hàng Xanh, Thị Nghè. Bây giờ Long Vân Tự vẫn còn. Trong khi tu, sư Muôn có nhiều chuyện bất chánh với phụ nữ khiến dân chúng căm phẫn. Ông bỏ chùa xuống Giồng Riềng, Rạch Giá, tiếp tục lập chùa, lừa gạt phụ nữ hiếm muộn. Báo chí Saigon đã tố cáo ông thậm tệ.

Đầu năm 1946, Pháp chiếm trọn các tỉnh miền Nam. Hết đất dụng võ, nhóm CS đầu não của Khu 9 gồm Tỉnh ủy Nghiêm Cai Cơ, Bí thư Tỉnh ủy Dương Quang Đông (tức Năm Đông), Phan Trọng Tuệ, Lâm Ngọc Minh phải bôn đào ra Phú Quốc. Sẵn thấy chùa sư Muôn có cơm gạo do bá tánh dâng cúng, nên bọn này ghé ăn dầm nằm dề tại chùa để ăn chực. Để lợi dụng sư Muôn, họ bèn phong cho ông làm “Ủy viên Xã hội” bằng miệng. Năm 1948, CS bao vây chùa bắt sư Muôn đem giết ven mé rừng, giữa Dương Đông và Hàm Ninh.

·  Phong trào “Thổ dậy” ở miền Nam vào năm 1945

Miền Nam là đất cũ của Chân Lạp, tức lãnh thổ Miên (sau khi Chân Lạp bị suy tàn). Dân Nam Kỳ gọi người Miên là “Thổ”. “Thổ dậy” là phong trào những người Miên trả thù (cáp Duồng) giết người Việt. Trong thời Pháp thuộc, người Miên, người Việt sống đề huề, thuận hòa với nhau trong gần 1 thế kỷ. Bình thường, bản tính người Miên rất hiền lành. Họ ăn uống cực khổ (thường ăn mắm) làm việc nặng nhọc như chèo ghe, vác lúạ.. Người Miên theo Phật giáo Tiểu thừạ Tuy nhiên, bị khích động, họ thịnh nộ, giết người dã man.

Sau khi cướp chính quyền ở Cà Mau (lúc đó là 1 quận), Ủy ban Hành chánh quận này đã giết hàng loạt thường dân và các nhà sư Miên một cách dã man. Thừa gió bẻ măng, khi Pháp ruồng bố tới, Thổ nhứt tề nổi lên theo Pháp để trả thù người Việt, gặp ai giết nấy. Võ khí của họ là chiếc phảng phát cỏ, kèo ngay, xử dụng như mã tấụ Những ai từng sống ở Hậu Giang vào các năm ấy, chắc không khỏi hãi hùng vì những tin “Thổ dậy”. Thảm cảnh đó do một nhóm Việt Minh CS khơi nguồn, nhưng nhiều người dân vô tội sau đó đã trở thành nạn nhân.

Chứng kiến cuộc hành quyết dã man , ông Văn Nguyên Dưỡng, trong hồi ký “Tết Chạy Giặc Sau Mùa Thu Nhiễu Nhương”, đã thuật lại cuộc giết các thường dân và sư sải Miên ở Cà Mau năm 1945 như sau :

”…rồi không lâu, sau ngày “Mừng độc lập”, cuộc tao loạn bắt đầu. Ngoài danh từ mới “Việt Minh” được biết vào ngày đó, tôi còn biết thêm 1 danh từ nữa là “Việt gian”. Dân chúng, ai cũng sợ danh từ ấy. Ai cũng có thể bị kết tội là Việt gian với những chứng cớ mơ hồ, hay những việc làm trong dĩ vãng, rồi đem ra bắn hoặc cho “mò tôm”. Người đầu tiên bị xử bắn dưới dạ Cầu Quay bên kia sông là cậu Bảy Mầu, “ông Cò Cà Mau”. Mắt tôi mở rộng thêm khi biết rằng “có độc lập rồi” mà Việt Minh vẫn đem người ra xử bắn hàng loạt. Nhứt là các sư sãi ngươi Miên bị lôi từ trong chùa Miên ra, hoặc bị bắt ở đâu đó trong quận . Cách xử tử quá dã man : Họ trói tay hay bịt mắt bắn hoặc chặt đầu. Cho rằng các sư Miên có “cà tha” (bùa), có ngải, súng đạn không lủng, chém không đứt, Việt Minh nghĩ ra các xử tử bằng tầm vông vạt nhọn, đâm vào hậu môn rồi thả trôi sông. Xử tập thể trước mắt công chúng, trông thật khủng khiếp. Cầu tàu dưới bến, nơi họp lưu của sông Cà May và kinh xáng Đội Cường, thường là nơi diễn ra cuộc hành quyết đó. Mỗi lần như vậy, dân chúng tò mò kéo nhau đi coi rất đông. Hàng loạt sư sãi Miên bị cột chặt vào 3 đòn tre cứng, dài, mỗi người cách nhau 1 bước, thành một hàng ngang, xoay mặt ra phía sông. Quần bị lột bỏ. Đòn tre thứ nhứt đặt trên cổ, sau ót hàng người bị xử tử. Đòn tre thứ hai đặt ngang thắt lưng. 2 tay mỗi nạn nhân bị trói thúc ké, bẻ quặc ra sau lưng, buộc chặt vào đòn. Đòn tre thứ ba đặt ngang mắt cá, phía trước hàng chân dạng ra của họ. Một đoạn dây buộc vào cổ mỗi người dính vào đòn tre thứ nhứt, kéo thẳng xuống buộc 2 chân họ vào đòn tre thứ bạ 6 du kích khoẻ mạnh giữ cứng 6 đầu của 3 đòn tre, kèm cho hàng người tù tội đứng ở thế cúi người xuống, chổng mông hướng vào mép trong cầu tàu. Ở mép trong cầu tàu, đã có sẵn 1 đội du kích bằng với số tử tội, đứng sắp hàng ngang, tay giữ tầm vong vạt nhọn đầu, dựng ngọn lên trời, chờ đợi.

Đến giờ xử, có lịnh hành quyết do một người chỉ huy phất lên. Những tên du kích này hạ tầm vông ngang thắt lưng, chỉa mủi nhọn ra trước mặt, cùng 1 lượt chạy nhanh ra mép cầu, dùng hết sức mạnh, đâm thẳng mũi nhọn vào hậu môn của mỗi tử tội, đẩy cả hàng tù tội này xuống sông và buông luôn cả cây tầm vông… Cách xử như vậy là xong. Bọn du kích Việt Minh bình thản kéo nhau ra về mang đầy máu me của những người bị xử phọt ra. Chúng bỏ cho những người đi coi mặc tình tràn ra cầu tàu nhìn xuống nước, xem những người này sống chết ra sao. Dĩ nhiên không 1 ai sống sót. Nếu họ không chết vì vết đâm thấu ruột gan, thì cũng chết vì ngộp nước không lâu sau đó. Những cán tầm vông sẽ chổng lên trời hoặc ngã nghiêng xiêng xọ, rồi những đàn diều, quạ, kên kên lượn vòng khu vực đó. Vài con đậu trên cán tầm vông. Năm bảy con chúi xuống rỉa thịt xác chết. Cả 1 vùng nồng nặc hôi thúi, gieo sự kinh hoàng tột đỉnh cho mọi người.

Người dân lành trong quận đã bắt đầu câm nín. Cuộc sống của họ bị đe dọa và bị ám ảnh bởi những cuôc hành quyết man rợ…”.

Hứa Hoành

Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do

Tuesday, October 15th, 2013

 

Chúng tôi, những người khởi đầu ký tên sau đây, kêu gọi những công dân khác cùng với chúng tôi đồng tuyên bố:

 

1. Chúng tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà chúng tôi muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới thực sự là ý chí của toàn dân Việt Nam, không phải là ý chí của đảng cộng sản như Hiến pháp hiện hành.

2. Chúng tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam, không một đảng nào, lấy bất cứ tư cách gì để thao túng, toàn trị đất nước.

3. Chúng tôi không chỉ ủng hộ xây dựng một chính thể tam quyền phân lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc, tức là tăng tính tự trị cho các địa phương, xây dựng chính quyền địa phương mạnh, xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách, tham nhũng của cải của nhân dân, phá hoại niềm tin, ý chí và tinh thần đoàn kết dân tộc.

4. Chúng tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội. Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào.

5. Chúng tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Chúng tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng; quyền này mỗi người sinh ra đã tự nhiên có, nó được nhân dân Việt Nam thừa nhận và tôn trọng; quyền này không phải do đảng cộng sản ban cho, nên đảng cộng sản không có quyền tước đoạt hay phán xét nó. Vì thế, chúng tôi có thể xem những lời phán xét nào nếu có hướng đến chúng tôi là một sự phỉ báng chúng tôi. Và chúng tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

 

Xin hãy chung tay để cho LỜI TUYÊN BỐ CÔNG DÂN TỰ DO này trở thành sợi dây bền vững kết nối hàng triệu triệu trái tim Việt Nam. Xin cùng lên tiếng nói bằng cách đăng ký tham gia ký tên theo địa chỉ email: tuyenbocongdantudo@gmail.com

 

 

 

 

 

Statement of Liberal Citizenship

 

We, the people who start following sign, calling the citizens together with our statement:

 

1. We not only want to remove the current Article 4 of the Constitution, which we want to organize a Constitutional Convention, established a new Constitution is indeed the will of the Vietnamese people, not the will of the Communist Party products, such as the current Constitution.

2. We support a pluralistic, multi-party, party support healthy competition for freedom, democracy, peace, progress of the Vietnamese people, not a party, get anything from how to manipulate perplexed, totalitarian country.

3. We not only support the construction of a separation of powers, but also want a decentralized polity vertically, ie increased local autonomy for local government building strong, delete files national unions, national unions to spend budget, corruption, the wealth of the people, undermining confidence, the will and the spirit of national unity.

4. We support the politicization of the military. The army is to protect the people and their country, to protect the diamond, the territory is not protected any one party.

5. We claim to have the right to declare the above and all other Vietnamese people have the right to such claims. We affirm, you are doing basic human rights as freedom of speech, freedom of thought; rights every person is born with natural, it is the people of Viet Nam recognizes and respects; rights This is not bestowed by the communist party, the Communist Party has no right to deprive or judge it. So, we can see the judgment if our direction to is a defamation us. And we said that those who fight on the right side, is contrary to the interests of the people, nation, going against the trend of progress of mankind.

Please join hands to claim the free citizens become sustainable wire connecting millions of million Vietnam hearts. Please speak by enrolling sign in email address: tuyenbocongdantudo@gmail.com

Vài suy nghĩ về ông Giáp – Huỳnh Thục Vy (Đàn Chim Việt)

Monday, October 14th, 2013

 

80515 vngiap

Vị tướng được những người cộng sản xem là “khai quốc công thần” cuối cùng đã trở thành người thiên cổ vào ngày 4 tháng 10 vừa qua. Vậy là, biểu tượng sống về công lao “giành độc lập” và lý tưởng “cách mạng”, tượng đài hữu danh vô thực về một thời “hào hùng” của những người cộng sản đã trở về với cát bụi.

Ông ta đã thực sự rời bỏ cuộc chơi, đã từ giã  cõi nhân sinh điên đảo này. Không ai biết ông sẽ đi về đâu nhưng ông đã để lại di sản đầy đau đớn và nhiễu nhương, để lại cho tất cả chúng ta một Việt Nam với tiếng ai oán khắp nơi. Thôi thì cũng cầu chúc ông ra đi trong thanh thản, dù ông đã  lặng thinh một cách vô cảm trước những người đã ra đi một cách bi thương  khác.

Là người đã có công khai sinh ra một Việt Nam cộng sản, thiết nghĩ không cần bàn đến chuyện ông có lý tưởng hay không lý tưởng và sự cần thiết hay không của những cuộc chiến tranh vô nghĩa mà ông đã đóng vai trò lãnh đạo quân sự tối cao, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự im lặng của mình trước những trang lịch sử bất công, gian trá và đau thương mà người Việt Nam đã trải qua.

Không ít người ca ngợi ông là một trí thức lớn, là nhà văn hoá. Tôi không muốn bàn những chuyện ấy nữa vì đã có nhiều tài liệu lịch sử có sẵn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về ông Giáp. Chỉ xin hỏi: Ông đã làm gì khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường kêu gọi dân chủ pháp trị để rồi sau đó bị thất sủng? Nếu là một trí thức lớn thực sự, lẽ ra ông phải biết dân chủ pháp trị cần cho một quốc gia như thế nào trước cả cụ Tường bởi thực tế cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã tàn phá quốc gia như thế nào? Nếu không nhận ra khiếm khuyết của một chế độ độc tài cộng sản, ông có xứng đáng với danh xưng một đại trí thức? Và cứ cho là ông không biết gì về độc tài-dân chủ, nhưng khi luật sư Tường lên tiếng về xã hội dân chủ, ông không có động tĩnh gì, đó có phải là biểu hiện của một nhân cách lớn?

Lại nữa, ông đã ở đâu, đã làm gì khi những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hữu Loan bị đấu tố, bị đoạ đày? Ông có chút tủi nhục, cảm thương hay phẫn nộ nào không khi hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong tức tưởi khi Việt Nam  cộng hoà bị cưỡng chiếm để rồi hàng nghìn người trong số họ đã vùi thân ngoài biển cả? Ông nghĩ gì khi tướng Trần Độ đã dũng cảm lên tiếng rồi bị đàn áp? Ông đã làm gì khi cụ Hoàng Minh Chính đã tỏ thái độ đối kháng để rồi bị bỏ tù? Ông đã đứng bên lề bao biến cố đau thương của đất nước. Đó có phải là vị trí xứng đáng của một trí thức hay không?

Dù là ai, một người vừa mới qua đời nên được cầu nguyện cho sự ra đi bình an. Tôi đã rất phân vân khi viết những dòng này. Có nên viết những lời cay đắng cho một người đã chết không? Có nên kể tội họ khi họ đã mãi mãi không còn khả năng biện bạch? Nhưng quả tình, tôi không viết những dòng này nhắm vào tướng Giáp, tôi viết cho những người còn sống, cho những người  còn bị ám thị bởi cái ảo ảnh hào quang mà những người cộng sản đã tạo ra. Đa số thanh niên Việt Nam hiện nay sống trong sự lừa gạt đó mà không biết, và cũng không có ý chí vượt thoát ra.

Ông Giáp, vị “đại tướng quân” trong mắt nhiều thanh niên Việt Nam, là người góp công to lớn để tạo dựng và bảo vệ chế độ độc tài tàn bạo này. Ông đã sống quá xa cái tuổi “cổ lai hy” và ra đi trong tình thương yêu của gia tộc, trong sự ngưỡng vọng của nhiều người. Nhưng ông có biết đâu, một người có công gây dựng nên một tập đoàn tội ác như ông lại ra đi thanh thản và vinh quang, trong khi chính những nạn nhân vô tội của chế độ thì lại hứng chịu thảm trạng bi đát của gia đình để rồi phải ra đi trong uất ức, tủi nhục.

Đó chính là một Đặng Ngọc Viết hiền lành, siêng năng bị chính quyền cướp đất, phẫn uất cùng cực đến mức phải ra tay giết chết một quan chức tỉnh Thái Bình rồi tự sát bằng một viên đạn vào tim. Đó là một Thomas Nguyễn Tự Thành-một thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương về Việt Nam từ Thái Lan, bị sách nhiễu và phong toả kinh tế liên tục bởi chính quyền cộng sản đến nỗi uất ức quá phải tự vẫn bằng cách thắt cổ vào ngày 3 tháng 10, trước ngày ông Giáp chết một ngày. Tại sao ông lại được vinh danh khi chính ông là một phần nguyên nhân của những cái chết đau đớn ấy?

Tất nhiên, ông Giáp không còn là lãnh đạo đất nước từ lâu, các chính sách, hành động của chính quyền này ông không tham gia. Nhưng chính  cái quá khứ “oai hùng” và  cái hiện tại vô trách nhiệm của ông tạo nên tính chính đáng cho chế độ tàn ác này. Chế độ này vẫn lấy ông ra làm cái bệ đỡ để biện minh cho những hành động bán nước hại dân của họ. Ông là cái phao cứu sinh khi những người lãnh đạo cộng sản đối diện với sự căm phẫn của người dân vì sự tham quyền cố vị của họ. Không hiểu vì tuổi già làm tiêu hao ý chí, vì sự sợ hãi làm xói mòn lương tâm, hay vì danh lợi của con cháu làm tiêu tan tinh thần trách nhiệm, mà cho đến những năm cuối đời ông Giáp vẫn lặng thinh trước hiện tình đất nước vật vã dưới chế độ độc tài, vẫn để cho nhà cầm quyền tiếp tục lợi dụng ông cho chế độ bất nhẫn của họ. (Chỉ có một lần ông lên tiếng yếu ớt cho vấn đề Bauxite Tây nguyên)

Giá như ông lên tiếng cổ vũ cho Nhân quyền Tự do thì tiếng nói của ông đã tác động mạnh mẽ đến lương tâm tuổi trẻ và có thể xoay chuyển ý thức của biết bao người dân đang bị ám thị. Một ông Giáp đại tướng quân chắc chắc có khả năng thức tỉnh quần chúng, làm rúng động đảng cộng sản hơn hẳn một Lê Công Định, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Phạm Thanh Nghiên hay Phương Uyên chứ? Thế nhưng, ông đã chọn cách sống trong sự co rút và chết trong cờ xí, kèn trống của chế độ cộng sản, hơn là cách sống trong sự phản tỉnh và chết như một chiến sĩ tự do. Đáng lẽ tuổi già phải là giới hạn cuối cùng của sự sợ hãi, nhưng ông đã để nó đi cùng ông sang tận thế giới bên kia.

Có người nói: chúng ta không ở vị trí của ông nên không thể hiểu hết những gì ông phải đối mặt. Đúng! Chúng ta không hiểu hoàn cảnh và vị trí của ông. Nhưng chúng ta có thể hiểu được hoàn cảnh của những bạn sinh viên vì biểu tình yêu nước mà bị nhà trường đuổi học và  mất cả tương lai không? Chúng ta có từng đặt mình vào vị trí Phương Uyên, cô bé sinh viên phải chịu biết bao nhiêu sợ hãi, tổn thương tinh thần khi bị bắt và giam giữ, chỉ vì cô bé biểu thị lòng yêu nước?  Rồi nhiều người đối kháng khác nữa, chỉ vì lên tiếng cho Dân chủ tự do mà phải chịu những bản án nặng nề, mất cả hạnh phúc trăm năm, con cái bơ vơ- thất học. Hoàn cảnh của ông Giáp có ngặt nghèo hơn hoàn cảnh của những người kể trên hay không? Hay để dễ hình dung hơn, tình huống của ông có khó khăn hơn tình huống của tướng  Trần Độ, của cụ Hoàng Minh Chính hay không? Tôi cho rằng, vấn đề là ở lương tâm và bản lĩnh!

Ông đã ra đi để lại tất cả, một chế độ độc tài dai dẳng,  những mảnh đời oan khuất, những cuộc đàn áp tiếp diễn, những cái chết oan khiên… Nhưng những dòng này không phải để kể tội ông. Quả thật, thế giới này tồn tại trong trạng thái tương đối của mọi giá trị. Nhưng vẫn có cách để phân biệt những trí tuệ và nhân cách lớn CHÂN THẬT với  sự tô vẽ KHÔNG THẬT. Cầu cho ông ra đi được bình an và xin gởi tới ông sự cảm thương cho một kiếp người đa đoan trong thế giới vô minh này; nhưng sự tôn kính thì tôi xin giữ lại cho những con người sống với tương tâm, trách nhiệm và ý chí và chết với nỗ lực lên tiếng cho sự thật. Việt Nam còn rất nhiều người để chúng ta thành tâm ca ngợi và kính ngưỡng, nhưng đó không phải là ông.

Sài Gòn tháng 10 năm 2013

© Huỳnh Thục Vy

© Đàn Chim Việt

Tâm Thư Chiến Dịch Vận Động RFA tăng giờ tiếng Việt từ 2 giờ lên 5 giờ mỗi ngày

Wednesday, October 9th, 2013

Nhân dịp kỷ niệm 17 năm Đài Á Châu Tự Do (RFA) ra đời, Ban Vận Động Thành Lập Đài RFA (Ban Vận Động) đã tổ chức một cuộc Họp Báo ngày 27-9-2013 tại Câu Lạc Bộ Báo Chí tại thủ đô tị nạn Little Saigon với sự tham dự của nhiều cơ quan truyền thông như các nhật báo Người Việt, Việt Báo, Viễn Đông, các đài truyền hình SBTN & SET, Free Net, đài truyền hình VNA, Little Saigon TV, VNCR Radio, Bolsa Radio và báo Văn Hóa Magazine.

Trong cuộc Họp Báo, Ban Vận Động đã trình bày những khó khăn và kinh nghiệm học được sau hơn bốn năm vận động để Dự Luật Thành Lập RFA được lưỡng viện Quốc Hội thông qua. Vào tháng 9-1996, Đài RFA khởi sự phát thanh sang Trung Quốc và đúng vào đêm Giao Thừa ở Việt Nam (tháng 2-1997) thì có chương trình Việt ngữ. Ngoài việc mừng sinh nhật thứ 17 của đài RFA, Ban Vận Động đã tung ra chiến dịch vận động đài RFA tăng giờ phát thanh Việt ngữ từ 2 giờ lên 5 giờ mỗi ngày.

Lý do vì hiện nay, mỗi ngày RFA phát thanh sang Tây Tạng 10 giờ, Miến Điện 4 giờ, Bắc Hàn 5 giờ, nhưng Việt Nam chì có 2 giờ! Rõ ràng số giờ cho Việt Nam là quá ít so với Tây Tạng, Miến Điện và Bắc Hàn. Nước ta có 90 triệu dân, nghĩa là gấp 30 lần Tây Tạng (3 triệu), và xét về địa lý chính trị, chắc chắn Việt Nam quan trọng hơn Miến Điện.

Về sách lược, chúng ta nên nhấn mạnh là không xin thêm ngân khoản cho đài RFA để gia tăng giờ Việt ngữ (nhất là trong lúc nầy ngân sách Hoa Kỳ đang gặp khó khăn). Chúng ta chỉ yêu cầu xét lại việc phân phối thời lượng phát thanh cho các nước được công bằng, hợp lý, phù hợp với quyền lợi và chính sách mới của Hoa Kỳ chuyển trục về Á Châu Thái Bình Dương.

Trong chiến dịch nầy, chúng ta cần thuyết phục Dân biểu Ed Royce và Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện ủng hộ quan điểm của chúng ta và đề nghị Hội Đông Quản Trị (BBG) thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của chúng ta. Ngoài ra, chúng ta cần vận động các thành viên cũa BBG để họ tái xét sự phân phối thời lượng phát thanh cho hữu lý và công bằng, và chấp thuận đề nghị của chúng ta là tăng giờ Việt ngữ từ 2 giờ lên 5 giờ mỗi ngày.

Đính kèm là các mẫu thư để cá nhân hoặc đoàn thể cùng ký tên chung. Ngoài ra, chúng tôi cũng cung cấp một số địa chỉ và số điện thoại quan trọng để quý vị tùy nghi xử dụng.

Ban Vận Động tha thiết kêu gọi toàn thể đồng bào và các tổ chức hãy tích cực tham gia chiến dịch nầy ngõ hầu cuộc vận động của chúng ta  nhanh chóng đạt được kết quả tốt đẹp như ý.

 

Nguyễn Thanh Trang

Trưởng Ban Vận Động

Email: tonytrang2012@yahoo.com.

Nhận định về 14 điều cam kết của CSVN về Nhân Quyền

Wednesday, October 2nd, 2013

Nhằm vận động để được bầu vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

nhiệm kỳ 2014-2016 

Ngày 27-8-2013, phái đoàn đại diện của CSVN tại LHQ đã gửi tới chủ tịch Đại Hội Đồng tổ chức quốc tế này bản tường trình khoe thành tích nhân quyền “tốt đẹp” của mình, đồng thời đính kèm bản cam kết gồm 14 điểm hứa sẽ cải thiện nhân quyền tại Việt Nam nếu được bầu vào Hội Đổng Nhân Quyền LHQ (HĐNQ/LHQ) nhiệm kỳ 2014-2016 (Xem nguyên văn ở phần dưới)

Một câu nói của cố TT Nguyễn Văn Thiệu đã trở thành ngạn ngữ: Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm. (*)

Trước sự việc CSVN đưa ra 14 lời cam kết kể trên, ai cũng biết đó chỉ là lời hứa hão, bình dân gọi là “hứa cuội”, hứa để cho xong việc nhằm lừa gạt các quốc gia thành viên LHQ để họ bầu CSVN vào HĐNQ. Đối với người dân Việt Nam, không ai bị mắc lừa bởi những lời hứa của CS qua gần 70 năm lịch sử kể từ 1945.

Do những vận động ráo riết của người Việt Nam tự do trong nước và hải ngoại nhằm ngăn chận CSVN vào HĐNQ/LHQ với lý do và các chứng cứ hiển nhiên vi phạm nhân quyền trầm trọng, có hệ thống và có chủ ý, thì CSVN không xứng đáng để trở thành một thành viên của HĐNQ này. Nhờ vậy, thế giới cũng biết được phần nào, vì thế CSVN buộc lòng phải đưa ra những lời hứa hẹn sẽ có thay đổi tình trạng nhân quyền.

Lời hứa này nhằm đánh lạc hướng dư luận quốc tế vì những thực tế vi phạm trầm trọng của CSVN, lừa gạt các nước thành viên LHQ, các quốc gia mà trình độ văn minh được đánh giá bởi sự trung thực, không nói dối, không lừa gạt, nên cộng đồng thế giới tin tưởng lời hứa của CSVN sẽ có thể được thực hiện.

Chúng ta thử phân tích giá trị những lời hứa này của CSVN để từ đó có hành động cấp thời trước khi LHQ sẽ bầu cử chọn thêm thành viên vào HĐNQ ngày 12 tháng 11, 2013 sắp tới.

 Điều hứa thứ 1: Thực hiện chính sách, biện pháp và tăng cường nguồn lực để bảo đảm tốt hơn cơ bản về kinh tế, xã hội, văn hoá , dân sự và quyền chính trị của con người phù hợp với những tiêu chuẩn được quốc tế công nhận.

Với một chế độ độc đảng như ở Việt Nam, thành tích lừa gạt được chứng minh qua 68 năm kể từ ngày HCM và chủ nghĩa cộng sản xuất hiện tại Việt Nam (từ 1945), người ta có thể ví chế độ CSVN như một cuộc đá banh mà các thành viên đội banh và trọng tài đều chỉ là một, nghĩa là “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Nếu bầu CSVN vào HDNQ chẳng khác nào đem “chó sói giữ chuồng gà”. CSVN từng lên tiếng đả kích những cảnh cáo của thế giới về vi phạm nhân quyền tại Việt Nam; CSVN cho rằng đây là việc “nội bộ” của Việt Nam; Việt Nam “không có tù chính trị mà chỉ có tù hình sự”, và Việt Nam có “tự do dân chủ gấp triệu lần các nước Tây Phương”, thì lời hứa này quả thật chỉ là câu chuyện “khôi hài”.

Làm sao đảng CSVN lại có thể chấp nhận quyền “dân sự và chính trị của con người phù hợp với nhưng tiêu chuẩn quốc tế” trong khi chỉ có một đảng duy nhất nắm quyền thống trị toàn dân, kiểm toàn xã hội theo điều 4 hiến pháp, các quyền tự do căn bản đểu bị tước đoạt như hiện nay.

Nói về quyền kinh tế, ai cũng biết dưới sự cai trị của đảng cộng sản VN, tất cả tài sản quốc gia đều thuộc về “đảng CS” (mà họ dùng mỹ từ sở hữu “toàn dân” hay sở hữu “nhà nước”), thuộc về gia đình bà con và vây cánh của họ, làm gì còn cho người dân, kể cả giới lao động “công nhân”, “nông dân” mà họ từng dùng làm chiêu bài để đoạt quyền bính, được xong là loại bỏ ngay.

Còn về mặt văn hóa, xã hội thì sau khi áp dụng tư tưởng và văn hóa mác xít – xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì xã hội đã trở thành tha hóa, mất tính dân tộc, đạo đức suy đồi, luân lý bị triệt tiêu, giai cấp cầm quyền mất hết lương tri, dùng mọi phương tiện để nắm giữ quyền lực. Nhiều thức giả trong và ngoài nước thường xuyên báo động về tình trạng này.

Điều hứa thứ hai:  Đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.

“Chúng ta đang ở nửa chặng đường của chiến dịch vĩ đại nhằm xóa bỏ thế giới đói nghèo, đã được nêu trong các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Rất nhiều nước bị tụt lại đằng sau. Chúng ta cần những ý tưởng và cách thức tiếp cận mới. Đó là một sự nghiệp thiêng liêng. Cuộc chiến chông đói nghèo toàn cầu và nạn nhân của nó là mệnh lệnh tinh thần”.

(Ban Ki-moon, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc)

Theo Liên Hiệp Quốc, việc phát triển thiên niên kỷ (MDG:  Millennium Development Goals ) được đề ra năm 2000 gồm 8 điểm và phải được thực hiện vào năm 2015:

  • Mọi người đều có đủ lương thực
  • Tất cả trẻ em học hết tiểu học
  • Phụ nữ có các cơ hội và được tôn trọng như nam giới
  • Có thêm nhiều trẻ em dưới 5 tuổi lớn lên khoẻ mạnh
  • Ngày càng có ít bà mẹ bị tử vong khi sinh con
  • Số người bị mắc các bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS và sốt rét liên tục giảm
  • Chúng ta để lại cho các thế hệ con cháu mai sau một môi trường trong lành và đẩy lùi tình trạng gây hại đối với môi trường
  • Cộng đồng toàn cầu liên hiệp và phối hợp với nhau để xây dựng một thế giới bình đẳng và công bằng hơn

Mặc dù cơ quan phát triển LHQ (UNDP) và các nước trên thế giới đã bỏ ra hằng trăm triệu mỹ kim hàng năm tài trợ phát triển ở Việt Nam, nhưng kết quả là hầu hết trợ cấp đều vào túi tham của cán bộ, đảng viên, giai cấp cầm quyền và giới phụ thuộc.

Theo khuyến cáo của UNDP (Cơ Quan Phát Triển LHQ) từ năm 2004, một trong những nguyên tắc để phát triển là “Quản trị Quốc gia theo nguyên tắc dân chủ”. Đến nay đã được gần 10 năm sau khuyến cáo này, chế độ chính trị Việt Nam hoàn toàn không thay đổi, vẫn là một chế độ độc tài độc đảng, toàn trị, bất công, tước đoạt mọi quyền tự do của người dân, thử hỏi vào năm 2015 hoặc lâu hơn nữa VN sẽ đạt được kết nào của thiên niên kỷ không?

Điều hứa thứ 3. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, củng cố các tổ chức quốc gia bảo vệ nhân quyền, trong đó có thể thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia.

Điều hứa này chắc chắn không thể thực hiện được khi mà điều 4 hiến pháp vẫn còn được xem là then chốt của chế độ. Đã có rất nhiều ý kiến đòi loại bỏ điều 4 này nhưng đều bị khước từ, thì làm sao Việt Nam sẽ có “hệ thống pháp luật và tư pháp của một nhà nước pháp quyền theo tiêu chuẩn quốc tế”, và từ đó làm sao có được “sự bảo vệ nhân quyền”, có thể thành lập được “cơ quan bảo vệ nhân quyền độc lập” đúng nghĩa.

 Điều hứa thứ 4: Thực hiện chính sách, biện pháp và tăng cường nguồn lực để bảo đảm tốt hơn về an sinh xã hội, phúc lợi và công lý, đặc biệt là quyền của các nhóm dễ bị xâm phạm như phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật và dân tộc thiểu số.

Trong một xã hội không dân chủ, không luật pháp đúng tiêu chuẩn quốc tế, tham nhũng tràn đầy từ thượng tầng đến hạ tầng, các nguồn lợi tài chánh và kinh tế quốc gia từ tiền thuế của dân, từ những nguồn tài trợ nước ngoài chắc chắn sẽ lần lượt lọt vào tay tham nhũng như từ trước đến nay, làm sao có thể bảo đảm một nền an sinh xã hội phục vụ phúc lợi của người dân, tạo công bằng xã hội, tạo nền công lý cho đại đa số người dân, làm sao phục vụ lợi ích của các nhóm dễ bị xâm phạm. Hiện tượng xuất cảng lao động, phụ nữ phải đi lấy chồng nước ngoài, người dân tìm cách ra nước ngoài kiếm ăn, trong khi giai cấp ăn trên ngồi chốc thừa thãi tiền bạc, cho con cái đi học nước ngoài một cách dễ dàng.

Điều hứa 5 . Tăng cường giáo dục và đào tạo về nhân quyền, nâng cao nhận thức và năng lực của các cơ quan thi hành pháp luật để bảo đảm tốt hơn quyền và tự do cơ bản của người dân.

Như trên đã trình bày, một nhà nước độc quyền toàn trị, các quyền tự do căn bản đều bị tước đoạt thì làm gì có nhân quyền, làm sao có thể giáo dục người khác về nhân quyền. Ngoài ra, pháp luật là do đảng đặt ra, không do dân, không từ dân, thì làm gì có pháp luật đúng đắn bảo vệ quyền của công dân, quyền của con người.

Điều hứa 6.. Tiếp tục thực hiện các khuyến cáo mà Việt Nam nhận được trong chu kỳ UPR (Universal Periodic Review=Thẩm định phổ quát định kỳ– Lời người dịch) đầu tiên trong năm 2009, tham gia một cách có trách nhiệm và xây dựng trong chu kỳ UPR thứ hai.

Sau khi nhận được khuyến cáo từ LHQ từ 2009 đến nay đã 4 năm trôi qua, tình hình nhân quyền tại Việt Nam vẫn dậm chân tại chỗ, có chiều xấu đi, nền tự do dân chủ vẫn còn xa vời, điều 4 hiến pháp vẫn được bảo thủ, làm sao vào năm tới 2014 Việt Nam có thay đổi về nhân quyền và chế độ cai trị để có tự do và dân chủ. 

Điều hứa 7 . Tăng cường nền tảng dân chủ và sự tham gia của nhân dân vào sự lập kế hoạch và thực hiện các chính sách, cải thiện việc Việt Nam tham gia trong các tổ chức chính trị, xã hội trong lĩnh vực nhân quyền. 

Cũng như trên, dưới chế độ toàn trị làm sao người dân có quyền tham gia vào việc cai trị đất nước. Từ lập pháp, hành pháp, đến tư pháp, tất cả đều do đảng nắm giữ, dân không được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đảng kiểm soát chặt chẽ internet, truyền thông một chiều thì làm sao người dân có thể đóng góp ý kiến với nhà nước, làm sao có sự hợp tác xây dựng đất nước, làm sao diệt được giặc tham nhũng do đảng chủ trương, đảng tự kiểm tra và tự xét xử.

Điều hứa 8. Tham gia một cách tích cực, xây dựng và có trách nhiệm trong các công tác của Hội đồng (NQ) để góp phần làm gia tăng hiệu năng và hiệu quả của Hội đồng, tính minh bạch, khách quan và cân bằng, trong tinh thần đối thoại và hợp tác. 

Một chế độ vi phạm nhân quyền trầm trọng như ở Việt Nam làm sao thực hiện được những công tác của HĐNQ/LHQ “theo dõi và khuyến cáo các vi phạm nhân quyền của các nước khác”. Sự có mặt của CSVN chỉ làm cho cơ quan Nhân Quyền này mất giá trị giống như sự có mặt của Iran, Venezuela, Lybia (cũ), Cuba… trong Ủy Ban NQ trước đây đã bị giải tán để thay thế bằng Hội Đồng Nhân Quyền hiện nay.

Điều hứa thứ 9. Tăng cường hợp tác và đối thoại với cơ chế Liên hợp quốc về quyền con người, đặc biệt là các cơ quan điều ước quốc tế và Văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền về các thủ tục đặc biệt, bao gồm cả lời mời thêm các nước thăm viếng Việt Nam.

Một chế độ độc tài, toàn trị, chà đạp quyền của người dân thì làm sao có thể nói chuyện nhân quyền với cơ quan Nhân quyền cao nhất thế giới là Cao Ủy Nhân Quyền LHQ.

 Điều hứa thứ 10. Hỗ trợ và tích cực tham gia tham vấn liên chính phủ về nâng cao năng lực và hiệu quả của cơ quan điều ước quốc tế về quyền con người.

 Điều hứa 11. Tham gia và đóng góp vào việc thúc đẩy sự hợp tác nhân quyền ASEAN, đặc biệt là trong khuôn khổ AICHR và trong việc thực hiện các tuyên bố nhân quyền ASEAN. 

Điều hứa 12 . Duy trì đối thoại nhân quyền song phương và các cơ chế hợp tác với các các nước đối tác, với mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên thế giới. 

Cũng như trên, chế độ phi nhân quyền ở Việt Nam không thể nào hợp tác với các nước thế giới về nhân quyền.

13 . Hoàn thành thủ tục sớm gia nhập Công ước chống tra tấn .

14 . Làm thủ tục cho việc phê chuẩn Công ước về Quyền của Người khuyết tật.

Về việc tra tấn tù nhân, CSVN luôn luôn che giấu kỹ. Ngoài ra, sau khi tra tấn xong, họ đem thủ tiêu, không để lại tang chứng, không ai có thể chứng minh. Còn người khuyết tật thì giới này đâu có khả năng làm hại chế độ, việc ký kết cũng không hề tạo ảnh hưởng gì cho nhà cầm quyền.

Ban Báo Chí

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

______________________________________________________

Nguyên văn những cam kết của CSVN 

II. Tự Nguyện Cam kết của Việt Nam như một thành viên Hội đồng Nhân quyền

1 . Thực hiện chính sách, biện pháp và tăng cường nguồn lực để bảo đảm tốt hơn cơ bản về kinh tế, xã hội, văn hoá , dân sự và quyền chính trị của con người phù hợp với

những tiêu chuẩn được quốc tế công nhận.

2 . Đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.

3 . Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền,

củng cố các tổ chức quốc gia bảo vệ nhân quyền, trong đó có thể thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia.

4 . Thực hiện chính sách, biện pháp và tăng cường nguồn lực để bảo đảm tốt hơn về an sinh xã hội, phúc lợi và công lý, đặc biệt là quyền của các nhóm dễ bị xâm phạm như phụ nữ ,

trẻ em, người già, người khuyết tật và dân tộc thiểu số.

5 . Tăng cường giáo dục và đào tạo về nhân quyền, nâng cao nhận thức và

năng lực của các cơ quan thi hành pháp luật để bảo đảm tốt hơn quyền và tự do cơ bản của người dân.

6 . Tiếp tục thực hiện các khuyến cáo mà Việt Nam  nhận được trong

chu kỳ UPR (Universal Periodic Review=Thẩm định định kỳ phổ quát) đầu tiên trong năm 2009, tham gia một cách có trách nhiệm và xây dựng trong chu kỳ UPR thứ hai.

7 . Tăng cường nền tảng dân chủ và sự tham gia của nhân dân vào sự lập kế hoạch và thực hiện các chính sách, cải thiện việc Việt Nam tham gia trong các tổ chức chính trị, xã hội trong lĩnh vực nhân quyền.

8 . Tham gia một cách tích cực, xây dựng và có trách nhiệm trong các công tác của Hội đồng (NQ) để góp phần làm gia tăng hiệu năng và hiệu quả của Hội đồng, tính minh bạch, khách quan và cân bằng, trong tinh thần đối thoại và hợp tác.

9 . Tăng cường hợp tác và đối thoại với cơ chế Liên hợp quốc về quyền con người, đặc biệt là các cơ quan điều ước quốc tế và Văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền về các thủ tục đặc biệt, bao gồm cả lời mời thêm các nước thăm viếng Việt Nam.

10 . Hỗ trợ và tích cực tham gia tham vấn liên chính phủ về nâng cao năng lực và hiệu quả của cơ quan điều ước quốc tế về quyền con người.

11 . Tham gia và đóng góp vào việc thúc đẩy sự hợp tác nhân quyền ASEAN, đặc biệt là trong khuôn khổ AICHR và trong việc thực hiện các tuyên bố nhân quyền ASEAN.

12 . Duy trì đối thoại nhân quyền song phương và các cơ chế hợp tác với các

các nước đối tác, với mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên thế giới.

13 . Hoàn thành thủ tục sớm gia nhập Công ước chống tra tấn .

14 . Làm thủ tục cho việc phê chuẩn Công ước về Quyền của Người khuyết tật.

 

***

 

TƯỜNG TRÌNH CHI TIẾT VỀ SỰ VIỆC – CÔNG AN TẤN CÔNG TƯ GIA BLOGGER NGUYỄN TƯỜNG THỤY.

Wednesday, September 25th, 2013
CÔNG AN VÌ MUỐN CHẤT VẤN NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN – ĐÃ DÙNG CÔN ĐỒ ĐÀN ÁP NHIỀU BLOGGERS.

Vào lúc 18h24 ngày hôm nay 25/9/2013, Công An phối hợp cùng côn đồ đã tấn công nhà blogger Nguyễn Tường Thụy với mục đích chính là bắt Nguyễn Phương Uyên đưa về đồn để chất vấn về những chuyến đi mà Phương Uyên đã gặp các cơ quan ngoại giao quốc tế như đại diện của Sứ quán Anh, Hoa Kỳ, Thụy Điển, CHLB Đức, G4 gồm Thụy Sĩ, New Zealand, Canada.

Theo Ls Nguyễn Văn Đài thì Đại diện các cơ quan ngoại giao đều bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những hành động và những phát biểu dũng cảm của Phương Uyên trước tòa. Một cơ quan ngoại giao đã hứa tìm trường và học bổng cho Phương Uyên đi du học.

Chiều nay, lúc 6 giờ ngày 25 tháng 9 năm 2013, Phương Uyên cùng với mẹ, anh Phạm Bá Hải, chị Tân, và một số anh chị em khác ở nhà anh Tường Thụy. Họ chuẩn bị ra sân bay trở lại Sài Gòn thì bị công an, an ninh tới đưa đi để sách nhiễu và thẩm vấn.

Lúc 18 giờ 30, có gần 20 công an mặc thường phục và sắc phục đang đập phá cửa và đòi vào nhà Blogger Nguyễn Tường Thụy tại số 11, Nhà máy phân lân Văn Điển, Hà Nội để kiểm tra hành chánh, nhưng Blogger Nguyễn Tường Thụy không đồng ý. Được biết, trong nhà Tường Thụy gồm có mẹ con bà Dương Thị Tân, bà Nguyễn Thị Nhung, cô Nguyễn Phương Uyên, con bà Nhung,ông Lê Quốc Quyết, ông Thi bạn ông Quyết và ông Phạm Bá Hải.

Lúc 19 giờ 10, Blogger Cùi Các cho biết, Blogger Nguyễn Tường Thụy và vợ con ông, cũng như mẹ con bà Nguyễn Thị Nhung và Nguyễn Phương Uyên cùng với ông Lê Quốc Quyết đã bị công an bắt đưa về UBND xã Liên Minh, Thanh Trì, Hà Nội.

Lúc 20h40 chị Dương Thị Tân được thả ra và trả lời phỏng vấn đài RFA :

Dương Thị Tân: Bây giờ họ đưa xe cho tôi về nhà anh ạ, bởi vì tôi cũng nhỡ tàu nhỡ xe rồi. Chúng tôi tới nhà anh Thụy ăn bữa cơm chia tay thế mà họ đến lôi từng người có cả vợ con chủ nhà lên đồn luôn. Tôi bị họ bẻ quặt tay chân họ tống lên xe, họ đạp tôi vào trong xe luôn.”

Mặc Lâm: Tất cả mọi người được thả hết chưa Chị?

Dương Thị Tân: Chưa anh ạ, chỉ có tôi và vợ anh Thụy và cháu gái mắt nhắm mắt mở đang ngủ trên nhà bị họ tống vô xe luôn. Họ bẻ quặt tay con bé và họ đưa lên đồn công an luôn. Nếu có gì tôi vào thẳng đồn công an tôi ngồi vì bây giờ quá khuya rồi tôi không thể về nhà. Tôi về nhà anh Thụy cũng không được vì người ta đang kiểm tra hành chính. Họ lập biên bản họ hỏi tôi một số câu nhưng tôi bảo tôi không có nghĩa vụ trả lời. Mấy cái cậu không có sắc phục, không có bảng tên nên tôi bảo tôi không biết cậu là thằng nào. Vào đồn công an mà đưa quần chúng tự phát ra làm việc với tôi thì đâu có được.

Lúc 21 giờ, trong cơn mưa tầm tả, nhiều bloggers đã tới đồn công an Liên Trì để phản đối đòi thả người. Bên ngoài, công an cho xã hội đen tới kiếm chuyện với những người phản đối bên ngoài, Blogger Trương Văn Dũng đã bị côn đồ cướp máy hình và lôi đi.

Bên trong đồn công an, blogger Lê Quốc Quyết đã bị công an hành hung tàn nhẫn.

Nguyễn Phương Uyên đã bị hỏi cung về những chuyến đi gặp đại diện các cơ quan ngoại giao vừa qua.

22h20: Hàng chục ngưoi bạn của anh Tường Thuỵ vẫn đang đứng dưới mưa tầm tã tại cửa đồn công an huyện Thanh Trì, cơ sở 2 trên địa bàn xã Liên Ninh để hô khẩu hiệu phản đối công an bắt người vô cớ, tuỵ tiện, trai pháp luật. Lúc 20h anh Phạm Bá Hải đã được thả, tiếp sau đó là anh Trương Dũng, rồi đến Anh Tường Thuỵ và Lê Quốc Quyết đều được trả tự do, nhưng mọi người đều không chịu ra ngoài, vì bị công an giư hết Điện thoại.

23h00 (11h00 đêm), hai mẹ con Nguyễn Phương Uyên đã lên máy bay về Sài gòn trong chuyến bay lúc 11 giờ đêm hôm nay.

(*) Kính mong quý anh chị em Sài Gòn ra tiếp ứng và đón 2 người.

Nguyễn Thùy Trang

Human Rights Violations of the Vietnamese Government

Wednesday, September 4th, 2013

Summary

During the year of 2012, 2013, the Vietnamese government has stepped up its campaign to suppress freedom of expression, association, and peaceful assembly, and persecutes those who question government policies, expose official corruption, or call for democratic alternatives to one-party rule. Police harass and intimidate activists and their family members. Authorities arbitrarily arrest activists, hold them incommunicado for long periods without access to legal counsel or family visits, subject them to torture, and prosecute them in politically pliant courts that mete out long prison sentences for violating vaguely worded national security laws.

There are also many evidences that the police used excessive force in response to public protests over evictions, confiscation of land, and police brutality. Land confiscation continues to be a flashpoint issue, with local farmers and villagers facing unjust confiscation of their lands by government officials and private sector projects. Those who resist face abuses from local authorities.

Freedom of Expression, Assembly, and Information 

There continues to be a sub-current of state-sponsored repression and persecution of individuals whose speech crosses boundaries and addresses sensitive issues such as criticizing the state’s foreign policies in regards to China or questioning the monopoly power of the communist party. The government does not allow independent or privately owned media outlets to operate, and exerts strict control over radio and TV stations, and publications.

Criminal penalties apply to those who disseminate materials deemed to oppose the government, threaten national security, reveal state secrets, or promote “reactionary” (democracy) ideas. The government blocks access to politically sensitive websites and requires internet cafe owners to monitor and store information of users’ online activities.

Repression of Rights Activists 

During 2012, Vietnam government used vaguely defined articles in the penal code that criminalize exercise of civil and political rights to send at least 33 activists to prison and arrest at least another 34 political and religious advocates. At least 12 other rights campaigners detained in 2011 were still being held, awaiting trial at this writing.

Rights activists continue to suffer from intrusive police surveillance, interrogation, monetary fines, and restrictions on domestic and international travel. Police use temporary house arrest to prevent them from participating in protests or attending trials of other bloggers and activists. In a number of instances, unidentified thugs have assaulted dissidents and police have done little or nothing to investigate. (Continues on page 2)

Freedom of Religion

 

The government restricts religious freedom through legislation, registration requirements, and harassing and intimidating unsanctioned religious groups, including independent Protestant home churches, and individuals and congregations of Hoa Hao Buddhists, Cao Dai, the Unified Buddhist Church of Vietnam, and Falun Gong. The Vietnam Catholic Church operates under closely monitoring and with direct interference of the government when it comes to appointment of the clergy or selection of seminarists

 

Criminal Justice System

 

Police brutality, including torture in detention and fatal beatings, continued to be reported in all regions of the country in 2012. At least 15 people died in police custody in the first 9 months of the year, according to state-controlled media. Vietnamese courts lack independence since they are firmly controlled by the government and the Vietnam Communist party, and trials of political and religious dissidents fail to meet international fair trial standards. Police intimidate, and in some cases detain family members and friends who try to attend trials or publicly display dissenting views during court proceedings.

 

Vietnamese law continues to authorize arbitrary “administrative detention” without trial. Under Ordinance 44 (2002) and Decree 76 (2003) persons deemed threats to national security or public order can be placed under house arrest, involuntarily committed to mental health institutions, or detained at “re-education” centers.

 

Constitution Amendment

 

In the beginning of 2013, the Vietnamese Government has launched a campaign to “consult the people” to amend the constitution of 1992 with a Draft Constitution. Despite the inclusion of the chapter II strictly dealing with human rights, the Draft fails to specify the legal status of international human rights treaties that Vietnam has signed and ratified and is obliged to implement through domestic law. On the contrary, the Draft reaffirms the monopoly of power of the Vietnamese Communist Party. The Vietnamese Catholic Bishop Conference, the Unified Buddhist Church of Vietnam, the  Hoa Hao Buddhist Church have provided their comments and suggesting that the Constitution must reaffirm the National Assembly as the highest governmental authority and questioned the irrationality of the prominent role of the VCP in the Government structure. The Vietnamese authorities have conducted a systematic campaign to suppress all those who voice their critics on the proposed draft amendment of Vietnam’s Constitution. There have been reports that citizens in some remote areas were forced to sign a pledge of support for the government Draft of Constitution.

References:

  1. Vietnam Human Rights Network: www.Vietnamhumanrights.net

http://www.vietnamhumanrights.net/English/documents/VNHRN%20Report_2012.pdf;

  1. Amnesty International (Vietnam: Amnesty International Reports 2012);

http://www.amnestyusa.org/search/node/vietnam

  1. Human Rights Watch (Vietnam: World Report 2013);

http://www.hrw.org/world-report/2013/country-chapters/vietnam

  1. U.S. State Dept. (Vietnam: 2012 Human Rights Reports);

http://www.state.gov/j/drl/rls/hrrpt/humanrightsreport/index.htm#wrapper

  1. European Parliament Condemns Vietnam Human Rights Violations…

http://www.vietnamhumanrights.net/website/VC_041813.htm

  1. Bloggers Demand Vietnam Comply with Human Rights Rules [07 -23 -2013]

http://www.vietnamhumanrights.net/website/ASentinel_072313.htm

 

 

 

Petition Regarding Vietnamese communist authority’s Application for Joining U.N. Human Rights Council

Wednesday, September 4th, 2013

August 30th, 2013
His Excellency  Sal…….

Ambassador of ………………..to the U.N.

……………………………….

New York, NY…………………

 

Dear Ambassador:

The one-party controlled Vietnamese communist government is in full effort campaigning to be elected into the United Nations Human Rights Council (UNHRC) for the 2014-2016 terms.
The UNHRC, established by the United Nations General Assembly in 2006 to replace former Human Rights Commission, composed of 47 member states with a 3-year term and is responsible for “promoting and protecting human rights around the world; speaking out the human rights violations of a country and making recommendations…”. The United Nations General Assembly which consists of 193 countries will elect new members to replace the expired-term ones. General Assembly regulations may deprive a member which has blatant and systematic human rights violations.
As you know, the communist regime in Vietnam is one of the most serious human rights violation countries in the world. The Vietnamese authority stripped all basic freedoms from the people including freedom of religion; it persecutes, arrests, and detains citizens sophisticatedly and systematically. The International human rights bodies regularly condemned its human rights abuses (Amnesty International; Human Rights Watch; Freedom House…)
With such poor human rights records, the Vietnamese communist regime does not deserve to be a member of the UNHRC. However, it still wants to be elected into the top human rights body of the world in order to defend and cover up its human rights violations; to deceive public opinion and to continue harassing dissidents for democracy and human rights; it also wants to continue dominating and oppressing the people of Vietnam.

For those reasons, we strongly urge you to use all your authority and your influence to prevent Vietnamese communist regime from being elected into this UNHRC, and to convince other member states not to vote for it.

We appreciate your help to achieve our goals in order to restore and protect human rights in Vietnam.

Truly yours,

 

Federation of Vietnamese American Communities of the USA

Võ Đình Hữu, M.D., President, Board of Representatives

Đỗ Văn Hội, M.D., President, Board of Executives

Free Nationalist Vietnamese Community in France

Phan Khắc Tường, M.D., Chaiman

Federal Association of the Vietnamese Refugees in the Federal Republic of Germany
Trần Văn Tích, M.D., Chairman

Vietnamese Community in Netherlands 
Mr. Nguyễn Đắc Trung, President

Vietnamese Association of Lausanne, Switzerland
Trần Xuân Sơn, Eng, President

Vietnamese Community in Liège, Belgium,
Mr. Lê Hữu Đào, President,

Vietnamese Community in Australia
Atty Võ Trí Dũng, President

Vietnamese Community in Norway
Trần Hồ Chánh Trung, M.D., President

Attached: 

– Summary of violations of Human Rights ​​of Vietnamese communist regime

– 2013 Amnesty International Human Rights Report (Vietnam)

– 2013 Human Rights Watch Report (Vietnam) 

– 2013 Freedom House Human Rights Report (Vietnam)

– List of current prisoners of conscience in Vietnam

– Protest from Religious Officials in Vietnam regarding the human rights situations in Vietnam.

​______________________________________________________

 

 

Protest By religious officials in Vietnam

Wednesday, September 4th, 2013

The Vietnamese Communist rulers are utilizing prisons to maltreat patriotic youths

We demand that student prisoner Đỗ Thị Minh Hạnh be released for medical care

 

To:

–          Responsible Members of the National Assembly of Vietnam

–          Officials and believers of Buddhism, Catholicism, Hoà Hảo Buddhism, Caodaism and Protestantism

–          Vietnamese compatriots inside Vietnam and abroad

–          Governments of democratic countries

–          UN Human Rights Council, ASEAN Human Rights Council

–          International Human Rights Organizations

–          International and Domestic Media Agencies

  • Whereas currently, in Vietnam, many patriotic young people who hold different political opinions are being detained by the government and have received arbitrarily heavy sentences that are unjust, contrary to and violating international conventions on human rights, the Vietnamese constitution and existing laws. Among those people are the 14 Catholic and Protestant students, Atty. Lê Quốc Quân, businessman Lê Đình Quân, bloggers Đinh Nhật Uy and Đinh Nguyên Kha, musicians Việt Khang and Trần Vũ Anh Bình, and Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương and Dỗ Thị Minh Hạnh, who fight for the workers’ rights, and many other young people.
  • Whereas these patriotic young people are doing only what the Constitution does not forbid such as distributing leaflets calling for boycotting a rigged election, writing articles on the internet promoting freedom and democracy, warning the people of the encroachments of Vietnamese territorial waters and lands by  communist China, participating in organizations and non-communist political parties as well as defending the rights of workers and innocent and defenceless citizens…
  • Whereas these patriotic youths who are being incarcerated have greatly contributed to the task of truthful communications, to charity, to the defence of innocent people, to the protection of workers’ rights, and to the furtherance of a healthy pluralistic multiparty polity.
  • Whereas corrections supervisors and superintendents have many a time utilized power, violence and mendacity to torture prisoners of conscience with the aim to harm their bodies and most specially to break down their wills (arbitrarily and unlawfully forcing them to confess) as is what prisoner of conscience Đỗ Thị Minh Hạnh has been enduring.

Conscious of our responsibilities as Vietnamese citizens in face of such horrible conditions and of our roles as guidance counselors for believers of various faiths, we, a number of religious officials in Vietnam raise our protest and

  1. Demand the Vietnamese government immediately release the aforementioned patriotic young people, who are entitled to their different political opinions: they are the 14 Catholic and Protestant youngsters, Lê Quốc Quân, Lê Đinh Quân, Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy, Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, and many other youngsters who are being detained in different prisons.
  2. Demand the government not utilize criminal offenders to attack and torture prisoners of conscience as has been happening with the aforementioned young people, specially not utilize prisons for the purpose of corporal punishments, torture in order to continue the work of the prosecutor and force them to confess. Furthermore, the government must have them sent to the hospital for medical attention or to let them out on bail so they may have their diseases and wounds treated; the case that raises the most concern is Đỗ Thị Minh Hạnh.
  3. Request that the international UN Human Rights organizations and the countries that supervise the implemenation of human rights in Vietnam prevent the maltreament and torture of all kinds of prisoners in Vietnam in a timely fashion, at the same time obligate the government of Vietnam to adhere to the UN humane standards in regard to prisons.
  4. Request that governmental and private communications agencies, international press deliver press releases of violations of human rights in Vietnamese prisons in a timely fashion, and question the government on whose responsibilities it is to permit the maltreatment of all sorts of prisoners to occur.

 

Executed in Vietnam, August 30th, 2013

OFFICIALS OF DIFFERENT RELIGIONS OF VIETNAM

Signed:

-Mr. Lê Quang Liêm, President Hoà Hảo Buddhism (Tel: 0199.243.2593)

-Ven. Thích Không Tánh, Buddhism (Tel: 0165.678.881)

-Fr. Peter Phan Văn Lợi, Catholicism (Tel: 0984.236.371)

-Fr. Joseph Đinh Hữu Thoại, Catholicism (Tel: 0935.569.205)

-Fr. Antony Lê Ngọc Thanh, Catholicism (Tel: 0993.598.820)

-Senior Manager Hứa Phi, Caodaism (Tel: 0163.3273.240)

-Senior Manager Nguyễn Kim Lân (Tel: 0988.971.117)

-Senior Manager Nguyễn Bạch Phụng (Tel: 0988.477.719)

-Pastor Nguyễn Hoàng Hoa (Tel: 0949.275.827)

-Pastor Hồ Hữu Hoàng (Tel: 0902.761.057)

-Pastor Nguyễn Mạnh Hùng (Tel: 0906.342.908)

-Mr. Phan Tấn Hoà, Hoà Hảo Buddhism (Tel: 0162.630.1082)

-Mr. Trần Nguyên Hườn, Hoà Hảo Buddhism (Tel: 0167.341.0139)

-Pastor Lê Quang Du, Protestantism (Tel: 0121.2002.001)

-Pastor Nguyễn Trung Tôn (Tel : 0162.838.7716)

(Vietnamese version – Bản tiếng Việt)

 

 

Bản Lên Tiếng của các Chức Sắc Tôn Giáo Việt Nam

Wednesday, September 4th, 2013

Nhà cầm quyền Cộng sản đang dùng nhà tù ngược đãi những thanh niên yêu nước

Yêu cầu đưa sinh viên tù nhân Đỗ Thị Minh Hạnh ra ngoài chữa bệnh

 

Kính gởi:

– Quý vị hữu trách trong Quốc hội và Chính phủ Việt Nam.

– Quý Chức sắc và Tín đồ Phật giáo, Công giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài và Tin Lành.

– Quý Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

– Quý Chính phủ các Quốc gia dân chủ.

– Quý Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc, Hội đồng nhân quyền Đông Nam Á

– Quý Tổ chức Nhân quyền quốc tế.

– Quý Cơ quan truyền thông quốc tế và quốc nội

Các Chức Sắc Tôn Giáo Việt Nam

– Xét rằng tại Việt Nam hiện nay có quá nhiều thanh niên yêu nước, bất đồng chính kiến bị nhà cầm quyền bắt giam và xử tù nặng bằng những lý cớ tùy tiện, những bản án oan sai, hoàn toàn trái ngược và vi phạm các Công ước quốc tế Nhân quyền, Hiến pháp và Luật hiện hành. Họ là 14 thanh niên sinh viên Công giáo và Tin Lành, là luật sư Lê Quốc Quân và doanh nhân Lê Đình Quản, là các blogger Đinh Nhật Uy và Đinh Nguyên Kha, là các nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, là những người đấu tranh cho công nhân Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương và Đỗ Thị Minh Hạnh, và còn nhiều thanh niên khác.

– Xét rằng các thanh niên yêu nước này chỉ làm những gì Hiến pháp không cấm đoán như  rải truyền đơn kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử trá hình, viết bài trên mạng cổ vũ dân chủ tự do, báo động tình trạng xâm chiếm lãnh hải và lãnh thổ Việt Nam của Trung Cộng, tham gia các hội đoàn, đảng phái chính trị phi cộng sản cũng như bảo vệ quyền lợi công nhân và dân oan….

– Xét rằng các thanh niên yêu nước đang bị tù đầy đã đóng góp nhiều cho cộng đồng về truyền thông chân thực, bác ái từ thiện, bênh vực dân oan, bảo vệ quyền lợi cho các công nhân, góp phần xây dựng một nền chính trị đa nguyên đa đảng lành mạnh.

– Xét rằng giám thị và quản giáo tại các nhà tù đã nhiều lần dùng uy quyền, bạo lực và gian dối để hành hạ các tù nhân lương tâm, ngõ hầu tàn hại thân thể họ và nhất là đánh gục tinh thần họ (buộc họ phải nhận tội cách vô lý vô luật), như những gì tù nhân lương tâm Đỗ Thị Minh Hạnh đang phải chịu.

Với ý thức trách nhiệm công dân trước tình trạng trên và trong vai trò hướng dẫn tinh thần cho tín đồ giáo dân, Các Chức Sắc Tôn Giáo Việt Nam lên tiếng:

1. Yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam thả ngay những người trẻ yêu nước, bất đồng chính kiến nói trên: 14 thanh niên Công giáo và Tin lành, Lê Quốc Quân, Lê Đình Quản, Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy, Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, và nhiều thanh niên khác đang bị giam trong các nhà tù Việt Nam.

2. Yêu cầu nhà cầm quyền không được dùng các phạm nhân hình sự để tấn công hành hạ các tù nhân lương tâm như đã xảy ra với nhiều thanh niên nói trên, nhất là không được dùng nhà tù với những biện pháp nhục hình, tra tấn để tiếp nối công việc của công tố là buộc họ phải nhận tội. Ngoài ra, phải đưa họ đi bệnh viện hay cho họ tại ngoại để chữa lành thương tích và bệnh tật. Trường hợp đáng quan tâm hiện nay là Đỗ Thị Minh Hạnh.

3. Thỉnh cầu các tổ chức nhân quyền Liên Hiệp Quốc, Quốc tế và các quốc gia giám sát việc thực thi nhân quyền ở Việt Nam, nhất là kịp thời ngăn cản sự ngược đãi và tra tấn tù nhân dưới mọi hình thức đang diễn ra ở Việt Nam, đồng thời buộc nhà cầm quyền Việt Nam tuân thủ các tiêu chuẩn nhân đạo của Liên Hiệp Quốc về nhà tù.

4. Thỉnh cầu các hãng truyền thông, thông tấn quốc tế và quốc nội, thuộc chính phủ và tư nhân kịp thời đưa tin về những vi phạm nhân quyền tại các nhà tù ở Việt Nam, và chất vấn nhà cầm quyền về trách nhiệm đã cho phép hay để xảy ra tình trạng ngược đãi tù nhân dưới mọi hình thức.

 

Làm tại Việt Nam, ngày 30.08.2013

CÁC CHỨC SẮC TÔN GIÁO VIỆT NAM

Đồng ký tên

– Cụ Lê Quang Liêm, Hội trưởng PGHH (đt: 0199.243.2593)

– Hòa thượng Thích Không Tánh, Phật giáo (đt: 0165.6789.881)

– Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Công giáo (đt: 0984.236.371)

– Linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại, Công giáo (đt: 0935.569.205)

– Linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh, Công giáo (đt: 0993.598.820)

– Chánh trị sự Hứa Phi, Cao Đài giáo (đt: 0163.3273.240)

– Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (đt: 0988.971.117)

– Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (đt: 0988.477.719)

– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (đt: 0949.275.827)

– Mục sư Hồ Hữu Hoàng (đt: 0902.761.057)

– Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (đt: 0906.342.908)

– Ông Phan Tấn Hòa, PGHH (đt: 0162.630.1082)

– Ông Trần Nguyên Hưởn, PGHH (đt: 0167.341.0139)

– Mục sư Lê Quang Du, Tin Lành (đt: 0121.2002.001)

– Mục sư Nguyễn Trung Tôn (đt: 0162.838. 7716)

(Xem bản tiếng Anh)

 

 

Những điểm chính của Dự luật Nhân Quyền Cho Việt Nam 2013 (HR 1897) và diễn biến

Sunday, August 4th, 2013

(Vietnam Human Rights Act of 2013)

Đệ trình ngày 8 tháng 5, 2013.

Bảo trợ bởi: Dân Biểu Christoper H. Smith (D- New Jersey 4)

Đồng bảo trợ: 16 vị dân biểu:

Rep Cicilline, David N. [RI-1] – 6/28/2013
Rep Connolly, Gerald E. [VA-11] – 5/13/2013
Rep Jackson Lee, Sheila [TX-18] – 6/28/2013
Rep Lofgren, Zoe [CA-19] – 5/8/2013
Rep Lowenthal, Alan S. [CA-47] – 5/8/2013
Rep McMorris Rodgers, Cathy [WA-5] – 6/25/2013
Rep Meadows, Mark [NC-11] – 5/14/2013
Rep Moran, James P. [VA-8] – 7/15/2013
Rep Poe, Ted [TX-2] – 5/22/2013
Rep Rohrabacher, Dana [CA-48] – 6/27/2013
Rep Ros-Lehtinen, Ileana [FL-27] – 6/27/2013
Rep Royce, Edward R. [CA-39] – 5/8/2013
Rep Sanchez, Loretta [CA-46] – 6/28/2013
Rep Sherman, Brad [CA-30] – 6/6/2013
Rep Stockman, Steve [TX-36] – 6/10/2013
Rep Wolf, Frank R. [VA-10] – 5/8/2013

Mục Đích: Thúc đẩy tự do và nhân quyền cho Việt Nam

DIỄN TIẾN:

5/8/2013: Chuyển đến Ủy Ban Đối Ngoại HV (UBĐN) , Tiểu Ban về Phi Châu, Y Tế Toàn Cầu, Nhân Quyền Toàn Cầu, và Tổ Chức Quốc Tế.

5/15/2013:Tiểu Ban này nghiên cứu và tổ chức tóm lược

5/15/2013:Tiểu Ban này chuyển đến toàn Ủy Ban (UBĐN)

6/7/2013: Chuyển đến Tiểu Ban Á Châu Thái Bình Dương

6/27/2013: Tiểu Ban này nghiên cứu và đúc kết

6/27/2013: Tiểu Ban này đã chấp thuận 100%

6/6/2013: DB Chris Smith (bảo trợ) trình bày tình trạng tiếp tục đàn áp của chính quyền CSVN

 

7/31/2013 7:45pm: Tại Hạ viện Dân Biểu Royce yêu cầu “suspend the rules” (không dung nguyên tắc) để thông qua dự luật mà không cần phải tu chính.

7/31/2013 7:45pm: Cứu xét việc “suspend the rules”

7/31/2013 7:45pm: Thảo luận (40’)

7/31/2013 8:07pm: Chủ tịch phiên họp HV hoãn phiên họp, vì yêu cầu bỏ phiếu yes or no.

8/1/2013 4:06pm: Cứu xét vấn đề chưa giải quyết: Dự Luật NQVN 2013 và Dự Luật Ngăn Chận Lạm Quyền của Chính Phủ (VN)

8/1/2013 4:13pm: Biểu quyết “suspend the rules” và thông qua dự luật đã tu chính bằng bỏ phiếu Yes or No (đòi hỏi 2/3). Kết quả: 405 – 3. Tổng số: 435 DB

Cộng Hòa: 220 Yes, 2 no, 11 phiếu trắng

Dân Chủ: 185 Yes; 1 No; 14 phiếu trắng 

—- NAYS    3 — (chống)

Broun (GA) CH Jones CH Meeks DC

 

—- NOT VOTING    25 —

Butterfield
Campbell
Cleaver
Collins (GA)
Garrett
Goodlatte
Herrera Beutler
Holt
Horsford
Hudson
King (IA)
Lewis
McCarthy (NY)
Miller (FL)
Miller, George
Owens
Pallone
Pelosi
Richmond
Rogers (MI)
Ruppersberger
Sensenbrenner
Wasserman Schultz
Waxman
Young (FL)

Tóm Lược Nội Dung Dự Luật NQVN 2013 số HR 1897.

A- Trình bày những vi phạm nhân quyền trầm trọng của chính quyền CSVN (từ trang 2  đến trang 9)

B- Những biện pháp đưa ra để đạt mục đích này:

1- Không gia tăng những viện trợ “ngoài nhân đạo” cho VN cho đến khi nào VN đáp ứng những điều kiện như sau:

2- Điều kiện để tháo bỏ biện pháp:

i.      Trả tự do cho các tù nhân lương tâm, chính trị, tôn giáo..

  •     ii.      Tôn trọng quyền tự do tôn giáo; hoàn trả các tài sản tịch thu của các tôn giáo
  •     iii.      Tôn trọng các quyền tự do bày tỏ tư tưởng, hội họp, lập hội..; trả tự do cho các nhà báo, bloggers.
  •    iv.      Rút lại các luật lệ bất công vô lý đã xử dụng để trấn áp các nhà bất đồng chính kiến, các người tranh đấu cho tự do, dân chủ, các người tham dự biểu tình ôn hòa…
  •   v.      Cho phép người dân Việt Nam tiếp xúc dễ dàng với chương trình tỵ nạn đến Hoa Kỳ.
  •   vi.      Tôn trọng nhân quyền đối với các dân tộc thiểu số ở cao nguyên.
  •  vii.      Cấm và kiểm soát tệ nạn buôn người.

3- Các miễn trừ: Dự luật này  không áp dụng cho các chương trình viện trợ nhân đạo

C- Khuyến khích Chương trình Việt Ngữ của Đài Á Châu Tự Do.

D- Gia tăng các chương trình trao đổi giáo dục, văn hóa nhằm thúc đẩy tiến bộ về tự do, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam

E- Chính phủa Hoa Kỳ ngăn cản VN gia nhập Hội Đồng Nhân Quyền LHQ 2014-2016.

F- Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thường xuyên báo cáo diễn tiến tình trạng nhân quyền tại Việt Nam với Ủy Van Đối Ngoai  để theo dõi việc thi hành Luật này

Xem nguyên văn dự luật tại website: 

http://www.gpo.gov/fdsys/pkg/BILLS-113hr1897ih/pdf/BILLS-113hr1897ih.pdf

Ghi Chú: Dự luật cần phải được Thượng Viện thông qua, sau đó chuyển sang Tổng Thống ký thành luật nếu TT không phủ quyết.

Những bước kế tiếp:

1-      Cần nhiều TNS bảo trợ trình lên Ủy Ban Đối Ngoại cứu xét để được chấp thuận đưa ra Thượng Viện bỏ phiếu (trước đây tất cả mọi dự luật đều bị bác ở ủy ban này, do sự có mặt của TNS John Kerry là chủ tịch)

2-      Thượng viện bỏ phiếu.

Chúng ta cần có kế hoạch vận động ráo riết nhất là ở giai đoạn 1.

 

Ban Ngoại Vận

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Email: Fed.Vac.USA@gmail.com. Web: CDLBHK.ORG

Tuyên bố của Mạng lưới Blogger Việt Nam

Friday, July 19th, 2013

Posted on July 19, 2013 by admin

Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (HĐNQ) có trách nhiệm tăng cường việc xúc tiến và bảo vệ nhân quyền trên toàn thế giới, giải quyết tình trạng vi phạm nhân quyền và đưa ra khuyến nghị.

Là một ứng cử viên vào HĐNQ nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam phải chứng minh các cam kết của mình nhằm hợp tác với HĐNQ và duy trì “những chuẩn mực cao nhất trong việc xúc tiến và bảo vệ nhân quyền”.

Những nghĩa vụ và trách nhiệm này không chỉ được áp dụng trên bình diện quốc tế, mà còn trong nội bộ Việt Nam. Chính quyền Việt Nam cũng cần xem xét lại tình trạng vi phạm nhân quyền trên đất nước họ, và nhân dân Việt Nam cũng phải có quyền tự do tư tưởng và biểu đạt, kể cả các vấn đề nhân quyền.

Để cải thiện việc bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, chúng tôi sẽ thực thi các nguyên tắc của HĐNQ như những hướng dẫn cho các hành động của chúng tôi, vốn cũng đồng thời tuân thủ các nghĩa vụ của Việt Nam theo luật nhân quyền quốc tế.

Chúng tôi sẽ:

– Tiếp tục xúc tiến và truyền đạt đến người dân Việt Nam về các quyền của họ bằng cách phân phối công khai bản Tuyên ngôn nhân quyền, tổ chức các diễn đàn công khai để thảo luận về nhân quyền ở Việt Nam và vận động cho những sự cải thiện cần thiết trong việc tôn trọng và bảo vệ nhân quyền.

– Tiếp tục giám sát, báo cáo và bình luận công khai về sự cải thiện, thụt lùi hay vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, với sự tập trung vào vấn đề chính sách và thực thi chính sách ảnh hưởng đến nhân quyền do nhà chức trách Việt Nam tiến hành.

Để hoàn thành những hành động có trách nhiệm này, chúng tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam và HĐNQ xem xét lại Điều 258 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 – “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. 

Trong tháng Năm năm 2013, hai blogger đã bị tạm giữ ngay sau khi họ phân phát bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và cảnh sát cáo buộc họ “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước”. Chỉ vài tuần sau đó, hai blogger khác cũng bị tạm giữ sau khi tham gia một cuộc dã ngoại để thảo luận về các nội dung của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền.

Gần đây nhất, trong tháng Năm và tháng Sáu năm 2013, điều 258 đã được sử dụng để bắt blogger Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào và Đinh Nhật Uy vì đã thực hiện quyền tự do biểu đạt bằng các đăng tải các bài viết ôn hoà lên blog của họ.

Điều này vi phạm điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng và biểu đạt. Quyền này bao gồm sự tự do tư tưởng mà không bị cản trở, được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và ý kiến qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới”. 

Sẽ là một trọng trách khi phụng sự như một quốc gia thành viên của HĐNQ, và là cơ hội để thúc đẩy nhân quyền ở trong cũng như ngoài quốc gia đó. Để thành công trong việc ứng cử vào HĐNQ, chúng tôi tin rằng Việt Nam phải bãi bỏ hoặc sửa đổi điều 258 để đảm bảo rằng nhân dân Việt Nam được tự do để tự học hỏi về nhân quyền cũng như thúc đẩy nhân quyền.

Chúng tôi hy vọng rằng Việt Nam sẽ xem xét việc huỷ bỏ điều 258 để chứng tỏ cam kết của mình và đóng góp cho việc xúc tiến và bảo vệ nhân quyền, và chúng tôi hy vọng các thành viên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc sẽ thúc đẩy Việt Nam thực hiện điều đó trong thời gian vận động tranh cử.

Chúng tôi yêu cầu Việt Nam thể hiện các cam kết về nhân quyền của họ như một ứng cử viên tốt trước cuộc bầu cử, để tạo điều kiện cho các thành viên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đánh giá các cam kết nhân quyền của họ. Việc bãi bỏ điều 258 phải là một trong các cam kết đó.

Như Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đã nói – “Tất cả các nạn nhân của việc vi phạm nhân quyền có thể trông cậy vào Hội đồng nhân quyền như một diễn đàn và một bàn đạp cho các hành động”. Là những người vận động cho tự do biểu đạt ở Việt Nam và là nạn nhân của các vi phạm nhân quyền vì các hoạt động của mình, chúng tôi xem việc ứng cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền như một cơ sở cho các cuộc thảo luận có tính xây dựng về nhân quyền ở đất nước chúng tôi.

———-

Bản tiếng Anh (English Version) 

STATEMENT FROM A NETWORK OF VIETNAMESE BLOGGERS 

VIETNAM SHOULD AMEND LAW TO DEMONSTRATE HUMAN RIGHT COUNCIL CANDIDACY COMMITMENT

The United Nations Human Rights Council (HRC) is responsible for strengthening the promotion and protection of human rights around the globe and for addressing situations of human rights violations and making recommendations on them. 

As a candidate for the HRC for the 2014-2016 tenure, Vietnam must demonstrate its commitment to cooperating with the HRC and upholding “the highest standards in the promotion and protection of human rights”.

These obligations and responsibilities do not only apply on the international arena, but also inside Vietnam. The Vietnamese government also needs to review the human rights situation in their own country and the Vietnamese people also have a right to freedom of opinion and expression, including on these matters.

In order to improve the protection of human rights in Vietnam, we will take HRC’s principles as guidelines for our actions, which also comply with Vietnam’s obligations under international human rights law.

We will:

– Continue to promote and inform the Vietnamese people about their rights by publicly distributing the Universal Declaration of Human Rights (UDHR), organizing public forums to discuss human rights in Vietnam and advocating for necessary improvements of the respect and protection of human rights.

– Continue to monitor, publicly report and comment on improvement, setbacks, or violations of human rights in Vietnam, with a focus on policy and practice by the Vietnamese authorities that affect human rights.

In order to fulfill these responsible actions, we call upon the Vietnamese government and the HRC to review Article 258 of the 1999 Penal Code, amended in 2009 – “crime of abusing democratic freedoms to infringe upon the interests of the State, the legitimate rights and interests of organizations and/or citizens”. 

In May 2013, two bloggers were detained right after they distributed the UDHR and police accused them of abusing democratic freedoms to infringe upon the interests of the State. Only weeks later, two other bloggers were detained after participating an outdoor picnic to discuss the content of the UDHR.

Most recently, in May and June 2013, Article 258 was used to arrest blogger Truong Duy Nhat, Pham Viet Dao, and Dinh Nhat Uy forexercising their rights of freedom of expression by peacefully publishing texts on their blogs.

This article is in breach of the Article 19 of the UDHR: “Everyone has the right to freedom of opinion and expression; this right includes freedom to hold opinions without interference and to seek, receive and impart information and ideas through any media and regardless of frontiers.” 

It would be a great responsibility to serve as a member stateof the Human Rights Council, and an opportunity to promote human rights domestically and abroad. For a successful candidacy, we believe Vietnam must repeal or make amendments to Article 258 to ensure that Vietnamese people are free to educate themselves about and promote human rights.

We hope that Vietnam will consider the abrogation of Article 258 to demonstrate its commitment and contribution to promoting and protecting human rights, and we hope that the General Assembly members will push Vietnam to do so during the campaigning period.

We request Vietnam to present its human rights pledges as a candidate well before the election, to enable members of the General Assembly to assess its human rights commitment. The abrogation of Article 258 should be among the pledges.

As said by Ban Ki-moon, UN Secretary-General – “All victims of human rights abuses should be able to look to the Human Rights Council as a forum and a springboard for action.” As advocates for freedom of expression in Vietnam and victims of human rights violations because of our activism, we view Vietnam’s candidacy for the HRC as a platform for constructive human rights discussions in our country.

DANH SÁCH CÁC BLOGGER KÝ BẢN TUYÊN BỐ 

(List of the Vietnamese Bloggers Signing the Statement)

1. Võ Quốc Anh – Nha Trang

2. Huỳnh Ngọc Chênh – Sài Gòn

3. Phạm Lê Vương Các – Sài Gòn

4. Nguyễn Thảo Chi – Sài Gòn

5. Nguyễn Đắc Hải Di – Oslo, Norway

6. Lê Dũng – Hà Nội

7. Hoàng Văn Dũng – Sài Gòn

8. Nguyễn Văn Dũng – Hà Nội

9. Mai Xuân Dũng – Hà Nội

10. Trương Văn Dũng – Hà Nội

11. Ngô Nhật Đăng – Hà Nội

12. Nguyễn Chí Đức – Hà Nội

13. Phạm Văn Hải – Nha Trang

14. Hoàng Thu Hà – Hà Nội

15. Bùi Thị Minh Hằng – Vũng Tàu

16. Vũ Sỹ Hoàng – Sài Gòn

17. Nguyễn Thị Hợi – Nam Định

18. Lê Anh Hùng – Quảng Trị

19. Trần Văn Huỳnh – Sài Gòn

20. Nguyễn Việt Hưng – Hà Nội

21. Đặng Thị Hường – Hà Nội

22. Nguyễn Xuân Kim – Nghệ An

23. Đặng Ngọc Lan – Hà Nội

24. Bùi Tuấn Lâm – Hà Nội

25. Nguyễn Thùy Linh – Hà Nội

26. Đào Trang Loan – Hà Nội

27. Lê Thăng Long – Sài Gòn

28. Nguyễn Tiến Nam – Yên Bái

29. Phạm Thanh Nghiên – Hải Phòng

30. Vũ Quốc Ngữ – Hà Nội

31. Đào Hữu Nghĩa Nhân – Sài Gòn

32. Bùi Thị Nhung – Sài Gòn

33. Lê Hồng Phong – Hà Nội

34. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – Nha Trang

35. Trương Minh Tam – Hà Nội

36. Hồ Đức Thành – Hà Nội

37. Phạm Văn Thành – Pháp

38. Nguyễn Hồ Nhật Thành – Sài Gòn

39. Nguyễn Lân Thắng – Hà Nội

40. Châu Văn Thi – Sài Gòn

41. Khổng Hy Thiêm – Nha Trang

42. Võ Trường Thiện – Nha Trang

43. Linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại – Sài Gòn

44. Nguyễn Tường Thụy – Hà Nội

45. Trịnh Kim Tiến – Sài Gòn

46. Phạm Toàn – Hà Nội

47. Lê Thu Trà – Hà Nội

48. Nghiêm Ngọc Trai – Hà Nội

49. Phạm Đoan Trang – Hà Nội

50. Nguyễn Thu Trang – Hà Nội

51. Hoàng Đức Trọng – Sài Gòn

52. Phạm Văn Trội – Hà Nội

53. Hoàng Anh Trung – Hà Nội

54. Nguyễn Anh Tuấn – Đà Nẵng

55. Trịnh Anh Tuấn – Buôn Ma Thuột

56. Vũ Quốc Tú – Sài Gòn

57. Đặng Vũ Tùng – Thụy Sĩ

58. Nguyễn Chí Tuyến – Hà Nội

59. Nguyễn Hoàng Vi – Sài Gòn

60. Nguyễn Văn Viên – Hà Nội

61. Bùi Quang Viễn –Sài Gòn

62. Lê Công Vinh – Vũng Tàu

63. J.B Nguyễn Hữu Vinh – Hà Nội

64. Đặng Tuấn Vũ – Hà Nội

65. Huỳnh Thục Vy – Quảng Nam

Nguồn:

 

http://diendanctm.blogspot.com/2013/07/tuyen-bo-cua-mang-luoi-blogger-viet-nam.html

Khẩn Ký Kiến Nghị gửi TT Obama v/v Trương Tấn Sang thăm tòa Bạch Ốc ngày 25-7-2013

Tuesday, July 16th, 2013

Petition

To the Honorable Barack Obama, President of the United States

Regarding Mr. Truong Tan Sang’s Visiting Washington DC on July 25th, 2013 

Whereas:
1- The Socialist of Vietnam is one of the most serious violators of human rights in the world. It  maintains a dictatorial and one-party control regime, regardless of international laws, denies all basic rights of the people;

2- The human rights situation in Vietnam has been worsening as many international organizations on human rights are condemning this country;

3- In just 5 months of 2013, the Vietnamese Communist government sentenced at least 50 people in political trials, more than the number in 2012, which were 40 people. The Communist Party of Vietnam still incarcerates or put on probation hundreds of prisoners of conscience, including dignitaries and followers of all religions such as Buddhism, Catholic, Protestant, Hoa Hao Buddhism, Caodaism and other intellectuals who raised the voice of democracy and human rights for Vietnam.

Therefore, I, the undersigned, respectfully petition to Mr. President the followings:

1- Urge the ruling Vietnamese Communist government: – Void all unjust judgment; abolish atrocity penal code (Article 258 or 88) that is used to suppress all activists for freedom, democracy and human rights; – Immediately and unconditionally release all political, religious prisoners who are unjustly imprisoned; – Respect the fundamental freedoms of the people identified in the Universal Declaration of Human Rights and the provisions of the Civil and Political Rights;

2- Review the Most Favored Nations status with Vietnam and the TPP (Transpacific Partnership agreement) between Vietnam and USA if the Vietnamese government not meet the legitimate demands mentioned above;

3- Support the demand of democracy, freedom, human rights, against injustice and territory integrity for Vietnamese.

We urge Mr. President, the leader of a democracy loving country, to meet our aspiration also for almost 90 million people in Vietnam.

Respectfully yours,

 

Name:                                                 Email:                                       Telephone:

 

Xin vào trang nhà của  Tòa Bạch Ốc và gửi email đến TT Obama:
(xin sao chép thư mẫu ở trên và paste vào trang email của tòa Bạch Ốc)
Hoặc vào link dưới đây để ký:

Kiến Nghị Kính gửi TT Obama về chuyến viếng thăm Washington, DC của Ông Trương Tấn Sang

Monday, July 15th, 2013

Federation of Vietnamese American Communities of the USA

CNG ĐNG NGƯỜI VIT QUC GIA LIÊN BANG HOA KỲ

4905 E. Colonial Dr., Orlando, FL 32803.  Email: Fed.Vac.USA@gmail.com

Tel. (407) 927-0014. Fax:  (813) 442-7046 – Web: CDLBHK@org

______________________________________________________

 

Kiến Nghị 

 

Kính gửi TT Obama về chuyến viếng thăm Washington, DC

của Ông Trương Tấn Sang

Kính thưa Tổng Thống,

Thay mặt cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ bao gồm 34 Cộng Đồng thành viên, chúng tôi ký tên dưới đây trân trọng kính gửi đến Tổng Thống kiến nghị nhân chuyến viếng thăm tòa Bạch ốc của Ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam vào cuối tháng 7 này:

1- Xét vì, nước CHXHCNVN hiện được xem là một trong những quốc gia vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất trên thế giới; đảng CSVN vẫn duy trì một chế độ độc tài, độc đảng, đứng trên luật pháp quốc tế, tước bỏ mọi quyền căn bản của công dân trong đó có quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do bầu cử v.v…

2- Xét vì, trong những ngày gần đây, tình trạng nhân quyền tại Việt Nam ngày càng tồi tệ, các cơ quan nhân quyền quốc tế đã đồng loạt lên án.  Chế độ Cộng Sản Việt Nam gia tăng đàn áp những công dân thể hiện lòng yêu nước một cách ôn hòa với ước vọng Việt Nam được tự do dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ. Nhà cầm quyền CSVN đã dùng điều 88 và 258 của bộ luật  hình sự xử tù với những bản án vô lý, bất công đối với những thanh niên Công Giáo tại Vinh, kết án hai người trẻ Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha chỉ vì lên tiếng đòi hỏi dân chủ; bắt giữ blogger Trương Duy Nhất, bắt giam Đinh Nhật Uy anh của Đinh Văn Kha; bỏ tù 8 người Thượng theo đạo Hà Mòn; dự định xử luật sư tranh đấu cho nhân quyền Lê Quốc Quân, với bản án ngụy tạo “trốn thuế”; giải tán các buổi “đi bộ vì nhân quyền”; bắt giữ nhà văn, nhà blogger Phạm Viết Đào; tiếp tục đàn áp các tổ chức tôn giáo không nằm trong hệ thống giáo hội quốc doanh; tuỳ tiện trưng thu đất đai của người dân; cấm tổ chức các công đoàn độc lập; dung túng công an bạo hành, giết hại những người bị bắt vô cớ.  Ngoài ra, CSVN vẫn còn giam giữ, quản chế vô thời hạn hàng trăm tù nhân lương tâm, tù nhân tôn giáo trong đó có chức sắc và tín đồ Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài, cùng các nhà trí thức nói lên tiếng nói đòi dân chủ và nhân quyền.

Vì những lý do đó, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ trân trọng kiến nghị thỉnh cầu Tổng thống: 

1-Áp lực buộc nhà cầm quyền CSVN phải:

a- Xóa bỏ các bản án bất công; hủy bỏ bộ luật hình sự tàn ác chỉ nhằm triệt hạ những người hoạt động cho tự do, dân chủ; trả tự do tức-khắc và vô-điều-kiện tất cả những người đang bị giam cầm vô cớ chỉ vì đòi hỏi nhân quyền, tự do tôn giáo và diễn đạt tinh thần yêu nước, phản đối hành động ngang ngược của Trung Cộng vi phạm lãnh hải, lãnh thổ, hủy hoại tài sản, sinh mạng của ngư dân Việt.

b- Tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân được xác định trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các điều khoản về quyền Chính Trị và Dân Sự mà họ đã ký kết thi hành khi gia nhập tổ chức quốc tế Liên Hiệp Quốc.

2- Xét lại quy chế tối huệ quốc cũng như hiệp ước TPP (Trans-Pacific Partnership agreement) sắp sửa được bàn thảo giữa Hoa Kỳ và cộng sản Việt Nam nếu họ không tôn trọng những đòi hỏi nên trên;

3- Yểm trợ cuộc đấu tranh của người dân Việt Nam đòi dân chủ, tự do, nhân quyền, chống bất công xã hội, tranh đấu cho sự vẹn toàn lãnh thổ trước hiểm họa mất nước về tay ngoại bang.

Chúng tôi ước mong Tổng Thống thể theo truyền thống tự do dân chủ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đáp ứng nguyện vọng này của chúng tôi, đó cũng là nguyện vọng của 90 triệu người dân tại Việt Nam.

Trân trọng kính chào,

Làm tại Hoa Kỳ ngày 15 Tháng 7, năm 2013

 

BS Võ Đình Hữu, CT HĐĐB

BS Đỗ Văn Hội, CT HĐCH

GS Phạm Văn Thanh, CT HĐGS

 

Hội Đồng Cố Vấn:

Cựu TT Trần Văn Nhựt (CA);

BS Trương Ngọc Tích (TX);

Ông Nguyễn Văn Tánh (NY).

 

Và các vị chủ tịch các cộng đồng thành viên dưới đây:

 

– Mr. Vinh The Pham, President, Vietnamese-American (VAC) of Fort Smith, AR

– Mr. Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ,

– Col. Ly Khac Le, President, VAC of Southern California, CA,

– Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA,

– Mr. Liem Thanh Pham, President, VAC of  San Diego, CA

– Mr. Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California

– Mr. Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento

– Mr. Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT,

– Mr. Tuoi Van Luu, President, the VAC of Florida, FL,

– Mr. An Ngoc Chau, President, the VAC of Central Florida, FL,

– Mr. Vuong Dinh Vu, President, VAC Tampa Bay, FL,

– Dr. Thanh Minh Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL,

– Mr. Tam Ba Le, President, VAC of South Florida, FL,

– Mr. Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.

– Mr. Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA,

– Mr. Binh Thanh Nguyen, President, VAC of Massachusetts, MA,

– Mr. Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN,

– Mr. Nhon Xuan Dang, President, VAC of St Louis, MO,

– Mr. Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM,

– Mr. Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH,

– Mr. Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ,

– Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY,

– Mr. Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK,

– Mr. Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA,

– Mr. Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA,

– Dr. Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA,

– Mr. Mai Dinh Nguyen, President, VAC Pittsburgh, PA,

– Mr. Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA,

– Mr. Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA ,

– Mr. Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN,

– Mr. Hoang Nguyen, President, VAC of Nashville, TN.

– Mrs.  Theresa Ngoc Hoang, Esq, President, VAC of Houston, TX,

– Mrs. Ngoc Lam Le, President, VAC of Dallas, TX

Bàn sao kính gửi quý vị Dân Biểu, Nghị Sĩ Quốc Hội Hoa Kỳ.

__________________________

Ghi chú: Bản Anh Ngữ được gửi đến TT Obama và các giới chức Lập Pháp Hoa Kỳ

 

Sự dối trá bao trùm xã hội (Việt Nam)

Wednesday, July 3rd, 2013

Thính giả gửi RFA

2013-07-02
000_Del353914-305.jpg

Tòa án Nhân dân TPHCM, ảnh minh họa.

AFP photo

Chưa bao giờ chất lượng giá trị của cuộc sống lại xuống thấp như hiện nay ở Việt Nam, vì xã hội đã coi sự dối trá là một việc bình thường, niềm tin giữa con người với nhau đã bị lung lay, đi tới đâu ta cũng nghe bàn tán tới sự lừa đảo giựt dọc nhau, trong làm ăn, trong giao tiếp, trong mua bán với nhau ngoài xã hội, đọc báo chí ta cũng biết đầy rẫy sự lừa đảo nhau ở mọi cấp độ trong xã hội, ở đây người viết không thể thống kê lên hết những lừa đảo dối trá của xã hội với nhau, nhưng người viết xin được đưa ra những nhận định về các nguyên nhân đã gây ra sự xuống cấp này.

Do nhiều nguyên nhân

Ai cũng biết sở dĩ con người dối trá với nhau có rất nhiều nguyên nhân, như vì sợ hãi người ta bắt buộc phải dối trá để che giấu tội lỗi của mình, như vì tham lam, tham danh, tham sắc, tham tiền, người ta phải dối trá để thỏa mãn lòng ham muốn của mình, tóm lại có rất nhiều nguyên nhân thiên hình vạn trạng mà bất cứ ai, bất cứ xã hội nào cũng có thể phạm phải, nhưng đó cũng chẳng phải là trọng tâm mà người viết muốn nói tới, điều quan trọng người viết muốn nói ra đây bởi vì nó là nguyên nhân nguy hiểm gấp vạn lần, đó chính là do cơ chế của chính quyền đã tạo cho người dân bắt buộc phải dối trá để tồn tại.

Người viết xin đơn cử một trường hợp gần đây khi chính quyền nhà nước phát động phong trào lấy ý kiến của người dân về việc sửa đổi hiến pháp, chính quyền họ cấp phát cho mỗi hộ gia đình một bộ tài liệu của bản sửa đổi hiến pháp 1992 do nhà nước đã quy định và một tờ giấy để người dân trong mỗi hộ góp ý kiến về nội dung của bản sửa đổi hiến pháp đó.

Thú thật khi nhận bộ tài liệu đó không những cá nhân tôi mà những người thân thuộc cũng không quan tâm gì mấy, chỉ biết cười trừ, cảm giác giống như gặp vấn đề gì đó quá quen thuộc và không có gì đáng bận tâm cả, mặc dù đây là lần đầu tiên tôi gặp phải vấn đề này, và phải đợi hơn nửa tháng sau khi tổ dân phố đến thu lại tờ góp ý kiến đó tôi mới vội đặt bút phê lên vài dòng chử là “gia đình tôi đồng ý với bản sửa đổi hiến pháp mà nhà nước đã quy định” dù trong thâm tâm tôi lúc đó lại nghĩ khác, nhưng vì bản năng sinh tồn muốn cầu an nên tôi không còn có cách nào khác.

Nhưng cách đây vài ngày khi lên mạng vô tình tôi đã đọc được danh sách của cả 72 nhân sĩ trí thức góp ý kiến và bản dự thảo về việc sửa đổi hiến pháp trong đó có yêu cầu xóa bỏ điều 4 hiến pháp, phải nói tôi cảm thấy thẹn với lòng mình thật nhiều. Những bậc nhân sĩ này đa số họ đều đã lớn tuổi có một quá trình phục vụ lâu dài cho chế độ không chừng họ vẫn còn hưởng bổng lộc của nhà nước, và con cái thân nhân họ còn có người đang làm việc cho chế độ, ấy vậy mà họ vẫn can đảm công bố tên thật địa chỉ thật họ một cách rõ ràng lên trang báo.

Đồng thời một trường hợp nữa là của TS Cù Huy Hà Vũ, ông ấy đã dám đánh đố mạng sống của mình đối với chế độ khi đã dám tuyên bố tuyệt thực đến khi nào chính quyền giải quyết theo đơn khiếu kiện của ông, đây cũng phải nói là một sự thách đố đối với chế độ mà chỉ những người có thần kinh thép mới dám làm, tôi xin thật lòng nghiêng mình bái phục vì nhân cách can đảm có một không hai của họ, phải nói con người giả thật là ở chỗ khi đụng chạm tới quyền lợi trực tiếp của bản thân mà họ vẫn xem thường quyền lợi và tính mạng mình thì không phải ai cũng dễ dàng làm được, tôi xin được vinh danh họ.

Mặc dù con đường tiến lên dân chủ còn nhiều gian nan nhưng nếu sau này phòng trào dân chủ có thành công thì đừng bao giờ quên công lao khai sơn phá thạch đầu tiên của những người này và bao nhiêu đó cũng xứng đáng để ta đề cử nên có được những con đường mang tên các vị này.

Bản thân tôi chỉ là thành phần hạ tiện vô danh tiểu tốt trong xã hội, từ khi còn tuổi thiếu niên tôi đã chứng kiến cảnh cha tôi đã bị chế độ cộng sản giết chết lầm lẫn và oan ức một cách dã man trong thời kỳ gọi là “phong trào giết lầm hơn tha lầm” nên phải nói đầu óc của tôi luôn mang nặng ấn tượng về cái tính cách cai trị giả dối, áp đặt, xem thường mạng sống người dân của chế độ hiện tại, nên tôi rất nhạy cảm với mọi động thái của chế độ và của các viên chức an ninh ở địa phương, vì họ biết gia đình tôi thuộc loại có ác cảm đối với chế độ và cũng nhờ có chút ít kiến thức về lịch sử, nên tôi cũng biết chế độ cộng sản này rất độc đoán và ác độc từ xưa với mọi người dân trong cách cai trị của họ nên tôi vẫn luôn dè chừng và phòng xa mọi trường hợp có thể xảy ra cho bản thân mình và gia đình, vì có con làm lao công trong một công ty kinh tế nhỏ của nhà nước, lương mỗi tháng dù chẳng bao nhiêu, nhưng đó là tất cả những gì chúng tôi có để sinh sống hàng ngày, bản thân tôi lớn tuổi thất nghiệp sống kiếp chùm gửi vào con, vì sợ con bị đuổi việc thì chắc chắn tai họa sẽ tức thì đến với bản thân và gia đình nên chúng tôi chẳng bao giờ dám nói ra sự thật lòng mình dù đó là những điều chúng tôi nghĩ là bản hiến pháp mới nên bỏ điều 4 để tạo cơ hội cho đất nước tiến lên dân chủ, vì chỉ có con đường đó thì đất nước mới có cơ hội trở nên cường thịnh và công bằng xã hội được, nhưng vì bản chất hèn hạ cầu an, từ nhỏ luôn sợ hãi mặc cảm với chế độ mà tôi đã đánh mất cơ hội để góp tay xây dựng nền dân chủ cho đất nước.

Vấn đề Tôn giáo

Trở lại vấn đề xuống cấp về đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay, theo tôi nghĩ, cái chính là thể chế cộng sản hiện nay dù gọi là đã đổi mới gần 30 năm nay, nhưng vì vẫn cố tình giữ vị thế chính trị độc đảng nên bản chất của đảng đối với tôn giáo vẫn không thay đổi mấy.

Dù bên ngoài họ không cấm đoán người dân tu hành hoặc đến chùa chiền, nhưng bên trong họ vẫn luôn kiểm soát mọi hoạt động của tôn giáo, họ luôn nghi ngờ những giáo sĩ có tinh thần độc lập, chính những điều này đã làm mất tính tự nhiên tự chủ của giáo sĩ và tạo sự nghi ngờ quấy rối nhau trong nội bộ.

Thử hỏi một giáo sĩ luôn bị theo dõi, hoặc luôn bị quấy rối về tinh thần thì họ có thể yên tâm tu hành không, chưa kể những bài giảng nếu vô tình phạm úy thì coi như tiêu đời, họ không có quyền nói ra những sự thật của xã hội, cho nên trong tôn giáo người ta cũng phải dối trá với nhau để tồn tại, giáo điều của cộng sản họ không bao giờ tin vào khía cạnh tâm linh, cho nên họ bất chấp và xem thường tất cả mọi khía cạnh của tâm linh, cái gì có lợi cho đảng thì họ làm, ta thấy các vụ xử án đối với các blogger vừa rồi là một bằng chứng, họ hoàn toàn độc tài trong cách xử tù người khác.

Chính vì thế mà niềm tin của người dân đối với chính thể bị lung lay, dù không phải xử chính họ nhưng người dân cảm thấy bất an, bị hoang mang và cảm thấy không lúc nào được an toàn, ý thức sinh tồn khiến các đức tính phải nghi ngờ, phải che giấu và phải dối trá với nhau là một phản ứng tự nhiên dây chuyền trong xã hội.

Chính quyền họ dùng hình ảnh và nhân cách của HCM như là một đối tượng để người dân tôn thờ, họ luôn thổi phồng và cố thêu dệt về một nhân vật xuất chúng, không vợ con suốt cuộc đời luôn lo cho nước cho dân, nhưng với hệ thống internet hiện nay, mọi thông tin đều được minh bạch và giải mã, nên phương pháp này mất hết tác dụng và nhiều khi gây hậu quả ngược lại, nhất là đối với giới trí thức thì khó mà lừa họ được, chỉ những người dân sống dốt thông tin và những người sống dựa vào chế độ thì có thể họ chấp nhận.

Nhưng theo người viết thấy cái gì thiếu chân thật, không chân chính thì dù chúng ta có cố sơn phết, tô hồng cách nào đi nữa thì với thời gian lịch sử sẽ phơi bày tất cả. Và khi đó thì họ sẽ sẵn sàng quăng tất cả vào sọt rác mà không có gì nuối tiếc. Các xã hội dân chủ văn minh vì cái cơ chế của họ, bắt buộc mọi người cả quan chức lãnh đạo chính quyền và người dân nếu muốn tồn tại và được tôn trọng là phải minh bạch thông tin, không được dối trá, nên người dân trong xã hội luôn ý thức vấn đề quan trọng đó vì vậy nhân cách của họ mỗi ngày thêm cao đẹp, và hạnh phúc của họ luôn bền vững, còn những người dân và quan chức chính quyền sống trong các nước công sản như Trung Quốc và Việt Nam, chúng ta biết xã hội của hai nước này đầy sự dối trá về mọi lãnh vực, không thể kể ra hết. Người tốt khi vào làm việc cho chế độ rồi thì cũng sẽ trở thành xấu, vì nền giáo dục của họ chỉ đặt trọng tâm vào bác vào đảng, mà không bao giờ coi trọng vào giá trị nhân cách của bản thân và đồng loại mình.

Tóm lại trong xã hội Việt Nam hiện nay, dù còn rất nhiều vấn đề cần phải nói, nhưng chúng ta rất mừng vì trước mắt chúng ta còn có 72 bông sen, và những nhà tranh đấu cho dân chủ như Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung…vv…, cùng tất cả các blogger đang thọ nạn trong lao tù cộng sản họ chính là những bông sen, sống trong lao tù của chế độ mà họ không bao giờ nhiễm phải bùn nhơ của chế độ, nên xem họ như là các bậc bồ tát các vị thánh tương lai của đất nước, họ đang thọ nạn thế cho chúng ta và với tính chất cương định của mình, họ như một mũi khoang kim cương sẽ lần lượt đục thủng và loại trừ tất cả những gì gọi là dối trá và bất chánh của đất nước.

http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/raders-opinions-070213-07022013122016.html

TUYÊN CÁO Về Các Vụ Án Bất Công Đối Với Những Người Yêu Nước Đòi Tự Do Dân Chủ và Biểu Tình Ôn Hòa Phản Đối Trung Cộng Xâm Phạm Chủ Quyền Việt Nam

Monday, June 17th, 2013

FVAC Logo_new_small

CNG ĐNG NGƯỜI VIT QUC GIA LIÊN BANG HOA KỲ

Federation of Vietnamese American Communities of USA, Inc.

4905 E. Colonial Dr., Orlando, FL 32803.  Email: Fed.Vac.USA@gmail.com

Tel. (407) 927-0014. Fax:  (813) 442-7046 – Web: CDLBHK@org

_____________________________________________

 

TUYÊN CÁO

Về Các Vụ Án Bất Công Đối Với Những Người Yêu Nước Đòi Tự Do Dân Chủ

và Biểu Tình Ôn Hòa Phản Đối Trung Cộng Xâm Phạm Chủ Quyền Việt Nam

 

Xét rằng:

  • Tình trạng nhân quyền tại Việt Nam ngày càng tồi tệ đã bị các cơ quan nhân quyền quốc tế đồng loạt lên án.  Bạo quyền Cộng Sản Việt Nam đã gia tăng đàn áp những công dân thể hiện lòng yêu nước một cách ôn hòa với ước vọng Việt Nam được tự do, dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ.
  • Ngày 4 tháng 6, 2013 trong buổi điều trần tại Hạ Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, ông John Sifton đại diện tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (Human Right Watch) cho biết chỉ trong vòng 5 tháng đầu năm 2013, nhà nước CSVN đã xét xử hơn 50 người trong các phiên tòa chính trị, nhiều hơn con số bị kết án trong năm 2012 là 40 người.  Ông kết luận: “Chính quyền Việt Nam tàn ác và chà đạp có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tập hợp hòa bình; trấn áp thô bạo những người dám lên tiếng chỉ trích chính quyền và kêu gọi dân chủ.”
  • Gần đây, nhà cầm quyền CSVN đã xử hai người trẻ Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha với những bản án vô lý, bất công; bắt giữ blogger Trương Duy Nhất; bỏ tù 8 người Thượng theo đạo Hà Mòn; giải tán các buổi “đi bộ vì nhân quyền”; đàn áp những người biểu tình chống Trung Cộng tại Hà Nội ngày Chủ Nhật 2/6; bắt giữ nhà văn, nhà blogger Phạm Viết Đào; tiếp tục tuỳ tiện trưng thu đất đai của dân chúng; cấm tổ chức các công đoàn độc lập; dung túng công an bạo hành, giết hại những người bị bắt vô cớ.  Ngoài ra, CSVN vẫn còn giam giữ, quản chế vô thời hạn hàng trăm tù nhân lương tâm trong đó có chức sắc và tín đồ các tôn giáo;
  • Và mới đây, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ hiện đang thọ án 7 năm tù vì tội “tuyên truyền chống nhà nước XHCNVN”, đã tuyệt thực trên 20 ngày, Hội Ân Xá Quốc Tế đã lên tiếng báo động.

Vì những lý do đó, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ long trọng tuyên cáo:

  • Cực lực lên án nhà cầm quyền CSVN về các hành vi trấn áp, hãm hại người dân vô tội, bắt giam người tùy tiện, quy chụp cho họ các tội danh phi lý theo Điều 258 hoặc 88 Bộ Luật Hình Sự;
  • Đòi nhà cầm quyền CSVN hủy bỏ các bản án bất công; trả tự do tức-khắc và vô-điều-kiện tất cả những người đang bị giam cầm vô cớ chỉ vì diễn đạt tinh thần yêu nước, phản đối hành động ngang ngược của Trung Cộng vi phạm lãnh hải, lãnh thổ, hủy hoại tài sản, sinh mạng của ngư dân Việt.
  • Đòi nhà cầm quyền CSVN tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân được xác định trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các điều khoản về quyền Chính Trị và Dân Sự mà họ đã ký kết thi hành khi gia nhập tổ chức quốc tế Liên Hiệp Quốc.
  • Hoàn toàn ủng hộ đồng bào quốc nội đấu tranh đòi dân chủ, tự do, nhân quyền, chống bất công xã hội, tranh đấu cho sự vẹn toàn lãnh thổ trước hiểm họa mất nước về tay ngoại bang; luôn sát cánh cùng các Cộng Đồng, Đoàn Thể tại hải ngoại yểm trợ đồng bào trong nước;
  • Kêu gọi các tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền và chính phủ các quốc gia yêu chuộng tự do tích cực can thiệp buộc nhà cầm quyền CSVN đáp ứng những đòi hỏi chính đáng nêu trên; khẩn giải quyết tình trạng giam cầm, tù tội oan khuất của những công dân yêu nước.

Làm tại Hoa Kỳ, ngày 16 tháng 6 năm 2013

TM. CĐNVQG/LBHK

BS Võ Đình Hữu: Chủ Tịch HĐĐB

BS Đỗ Văn Hội: Chủ Tịch HĐCH

GS Phạm Văn Thanh: Chủ Tịch HĐGS

 

Và Các Cộng Đồng Thành Viên:

CĐVN Arkansas, AR, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh – CĐVN Arizona, AZ, Chủ tịch: Ô. Đặng Thế Khương – CĐNVQG Connecticut, CT: Trần Văn Giỏi – CĐVN Florida, FL, Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi– CĐVN Central Florida, FL, Chủ tịch: Ô. Châu Ngọc An– CĐVN Tampa Bay, FL, Chủ tịch: Ô. Vũ Đình Vượng– CĐVN Jacksonville, FL, Chủ tịch: BS Nguyễn Minh Thanh– CĐVN South Florida, FL, Chủ tịch: Ô. Lê Bá Tâm– CĐNVQG New Hampshire, NH, CTÔ. Cao Xuân Khải – CĐVN Pensacola, FL, Chủ tịch: Ô. Bùi Lý –  CĐNVQG Massachusetts, MA, Chủ tịch: Ô. Nguyễn Thanh Bình– CĐNVQG St Louis, MO, Chủ tịch: Ô. Đặng Xuân Nhơn – CĐNVQG South New Jersey, NJ, Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm –CĐNVQG New York, NY, Chủ tịch: LS Nguyễn T Phong – CĐNVQG Allentown, PA, Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo – CĐNVQG Philadelphia, PA, Chủ tịch: ô. Vũ Trực – CĐNVQG, PA,Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm – CĐNVQG Pittsburgh, PA, Chủ tịch: Ô. Nguyễn Đình Mai– CĐNVQG Houston, TX, Chủ tịch: LS  Theresa Ngọc Hoàng – CĐNVQG Dallas, TX, Chủ tịch: Bà Lê Lam Ngọc – – CĐNVQG South California, CA, Chủ tịch: ĐT Lê Khắc LýCĐNVQG Pomona. CA, Chủ tịch: BS Võ Đình Hữu – CĐNVQG New Mexico, NM, Chủ Tich: Ô. Lương Thông – CĐNVQG Oklahoma City, OK, Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh –CĐNVQG New Jersey, NJ, Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm – CĐNVQG Minnesota, MN, Chủ tịch: Ô. Lê Đình Thăng – CĐNVQG Louisiana, LA, Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh – CĐNVQG Lancaster, PA, Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan –CĐNVQG Northeast Pennsylvania, PA , Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh – Hiệp Hội Người Việt San Diego, Chủ tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm – CĐNVQG Middle Tennessee, TN Chủ tịch: Ô. Sinh Cẩm Minh – CDNVQG Nashville, TN, Chủ Tich: Ô. Nguyễn Hoàng.

 

Bản Anh Ngữ:

Cái chết oan khuất của nhạc sĩ Minh Kỳ (Phamtinanninh)

Wednesday, May 29th, 2013

 

 

 1930-1975
 

Ông tên thật là Vĩnh Mỹ, ra đời tại Nha Trang-Khánh Hòa. Ông là một trong 3 thành viên của nhóm Lê Minh Bằng (Lê Dinh – Minh Kỳ – Anh Bằng). Ông cũng là đại uý cảnh sát Việt Nam Cộng Hoà. Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, ông bị bắt đi “học tập cải tạo” và bị chết vào khuya ngày 31 tháng 8, 1975.
                              
“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
>  Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
> Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
> Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui …
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
> Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu …”
      Nha Trang – Nhạc và Lời Minh Kỳ
Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.
Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác. Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, – dù còn ở trên quê nhà, hay tha phương khắp chốn – biết đến.
Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết.
Đầu tháng 3/75, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị từng sống chết với Cao Nguyên có lệnh triệt thoái. Tôi theo đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài Gòn.
> Ngày 28/4/75, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng. Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh ấy xuống tàu di tản. Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết” ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá, chắc không nhỏ. Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi, người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba, mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu đó ngoài Nha-Trang. Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh khốn cùng này.
Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều, nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi. Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/76, và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn.
Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước khi ông chết.
Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân sự Biên Hòa. Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau được chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.
> Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một số mới được chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và Cảnh Sát. Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1, còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp (gọi là hậu cần).
> Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi. Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha Quân Pháp.
> Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới thiệu tôi với anh Minh Kỳ.
> Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông bằng Anh và xưng em.. Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng, ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói hơn. Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một nụ cười buồn.
Một đêm, cuối tháng 8/75 (31/08/75?),vào khoảng 09:30 tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình, bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí, kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.
> Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ, hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử…
> Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng một số người bị thương lên bệnh xá.
Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi được đưa lên hội trường. Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm, nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chúng tôi bị “nghiêm khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã dấu diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành quả kách mệnh”(!). Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác” và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”.
Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.
Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hằng trăm lần kiểm soát, vã lại hành trang mang theo của mỗi người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại. Điều quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang được lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?
Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó. Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:
Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại, chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẻm gai. Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8 người bị thương. Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị thương khác. Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình sắp chết nên trăn trối với những bạn tù:
– Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.
Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên :
– Sao chân lạnh quá!
– Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!
Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở.
Một cái chết mà chính Ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.
Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa.
Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.
(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá còn hơn cả lựu đạn).
Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự Biên Hòa.
> Họ đã bày ra cái trò giết người dấu tay ở Nhà 3, để rồi lại lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.
Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường. Bây giờ, không có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ tham mưu, hay được biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường. Vậy mà bây giờ phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng vẫn không làm giao động được tấm lòng của những người “kách mạng!”.
Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam “giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện được bốn ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong một mảnh rừng hoang. Trước mỗi ngôi mộ được đắp đất sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó có tên Vĩnh My (Vĩnh Mỹ?). Đó chính là tên trong khai sinh của nhạc sĩ Minh Kỳ (Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ). Dưới sự canh gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.
Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô nào đó. Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm. Nhiều đêm sau đó tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi. Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang, đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ, của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè bạn thân quen… Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp trước.
Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn nhiều bi thảm hơn. Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó. Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến cho đời bằng chính trái tim mình. Đặc biệt với những người Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn Ông vì Ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến suốt cuộc đời.
Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của Ông và ngồi xuống viết lại những dòng này.
Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm thương, oan khuất… Cũng để được nói lên lòng tiếc thương một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình Ông.
phạmtínanninh
~~~~~~~~~~~~~~~~~

HỒ CHÍ MINH CÓ PHẢI LÀ NHÀ “TƯ TƯỞNG VĨ ĐẠI” HAY KHÔNG? BS Hoàng Độ

Thursday, March 21st, 2013

(Sửa ngày 17/6/99)

Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 105 của Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-1995), Cộng Sản Việt Nam lại tung ra chiến dịch đánh bóng hình ảnh HCM, bằng cách tái bản bộ sách “HCM Toàn Tập”. Trong tạp chí Cộng Sản (TCCS) số tháng 5/95 và 6/95, Hà Nội tiếp tục ca ngợi “tư tưởng HCM” với tựa đề: “HCM, nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài….”, và “HCM với việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác Lê nin” (1)

Để đánh giá cái gọi là “tư tưởng của Hồ Chí Minh” này, chúng ta hãy lần lượt phân tích 10 luận điểm mà Đặng Xuân Kỳ (ĐXK) đã đưa ra và ông ta gọi là “tư tưởng lớn của HCM”.

1. Luận điểm “Con đường giải phóng dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản”.

Ý nghĩa của “tư tưởng” này là: “muốn giải phóng một quốc gia khỏi ách thực dân, hay  một chế độ độc tài, phong kiến, chỉ có  con đường duy nhất là “Cộng sản chủ nghĩa”, ngoài ra, không còn  một con đường nào khác” (?).

Thật ra quan điểm này đã phát xuất  sau khi  cuộc cướp chính quyền thành công tại Nga của Lê Nin năm 1917, thành lập chính quyền vô sản đầu tiên trên thế giới. Kể từ đó   người theo chủ nghĩa CS tin tưởng rằng “chỉ có con đường của Lê Nin  là đúng”.

Có thật vậy không?

Lịch sử thế giới cho thấy có rất nhiều cuộc cách mạng thành công trước khi Lê-nin thắng ở Nga, như cuộc cách mạng dân quyền ở Hoa Kỳ năm 1776 chống lại quân Anh, cuộc cách mạng nhân quyền ở Pháp năm 1789, cuộc cách mạng Tân Hợi của Trung Hoa năm 1912 lật đổ triều đình Mãn Thanh thành lập  chế độ Cộng Hòa Dân Quốc do Trung Hoa Quốc Dân Đảng lãnh đạo, cuộc cách mạng  Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) năm 1923 với người “cha già” Mustapha Kemal đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt nước này v.v… Tất cả những cuộc cách mạng ấy đã thành công mà đâu cần đến “cách mạng vô sản” hoặc “chủ nghĩa vô sản”.

Sau năm 1917 (tức sau khi CS nắm quyền ở Nga), rất nhiều cuộc cách mạng khác  ôn hòa hay đổ máu, đã thành tựu khắp nơi trên thế giới.  Nhiều quốc gia đã thu hồi được nền độc lập mà không cần đến con đường vô sản.

Đặc biệt sau thế chiến thứ hai, xu hướng mới thế giới là chống chủ nghĩa thực dân, cổ võ quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc bị trị (Hiệp ước Yalta, ngày 11/2/1945, ký giữa Hoa Kỳ, Anh, Nga) (2). Các nước thuộc địa của Pháp như Algerie, Tunisie, Maroc…, thuộc địa của Anh như Ấn Độ, Mã Lai v.v.. lần lượt thu hồi độc lập mà không qua con đường “cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Còn ở Việt Nam, lịch sử cũng đã chứng minh dân tộc Việt Nam qua nhiều thế kỷ đã đánh thắng nhiều đợt quân xâm lược mạnh gấp trăm ngàn lần, đã giành được độc lập đâu có phải qua con đường vô sản như HCM và đảng CSVN  khẳng định sau này.

Chính HCM cũng nhận thấy  được con đường chủ nghĩa Mác – Lê Nin không ăn khách trên thế giới và ở Việt Nam, nên đã đưa ra chiêu bài “cách mạng dân tộc dân chủ” (tức cách mạng tư sản, dân quyền mà họ từng bác bỏ, tấn công) để che giấu mục tiêu Cộng sản của mình. Thực ra “cách mạng dân tộc dân chủ” đã do Tôn Dật Tiên thực hiện thành công ở Trung Hoa, mà nếu không có phong trào CS do Mao Trạch Đông khởi xướng, được Liên Xô hỗ trợ, đất nước Trung Hoa chắc chắn sẽ trở thành cường quốc mà không phải trải qua những cảnh giết chóc tàn bạo như ta đã thấy.

Khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” (Dân tộc độc lập- Dân quyền tự do- Dân sinh hạnh phúc) cũng được HCM lấy từ cuộc cách mạng của Trung Hoa Quốc Dân Đảng.

2. Luận điểm về vấn đề các chế độ thực dân và giải phóng thuộc địa:

“Chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi, một vòi hút máu nhân dân chính quốc, một vòi bám vào các thuộc địa…., muốn đánh đổ đế quốc, phải chặt cả hai vòi của nó”.

Luận điểm này thật ra cũng chỉ là một sự lặp lại những gì Lê Nin đã đưa ra sau khi nắm chính quyền tại Nga (3). Và chính luận điểm của Lê Nin về “giải phóng thuộc địa” cũng chỉ là tiếp nối tư tưởng của Mác về “tư bản bóc lột dân trong nước, và tìm kiếm thuộc địa bên ngoài” (4)

Câu nói “cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng thuộc địa như hai cánh của một con chim..” mà bộ máy tuyên truyền CSVN ca tụng là “tư tưởng lớn” của HCM cũng chỉ là cách nói ví von, đó chẳng  phải là tư tưởng lớn gì hết.

3. Luận điểm về “cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội”.

HCM cho rằng “CNXH    làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người ăn no, mặc ấm, sung sướng tự do. Xã hội XHCN do nhân dân lao động làm chủ, không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng…”.

Luận điểm này của HCM chỉ là những ước mơ của loài người trên trái đất từ nhiều thế kỷ trước. Những nhà hiền triết Đông Tây đều suy nghĩ về con người, từ đó tư tưởng nhân bản được xuất phát. Nước Pháp sau cách mạng 1789 đã đưa ra khẩu hiệu “Tự Do, Bình Đẳng, Hữu Nghị”, một khẩu hiệu chứa chan tình người.

Đến thời Các Mác, ông ta dựa vào tư tưởng dân quyền và nhân quyền ở Âu Châu, đề xướng chủ nghĩa CS. Ông ta có tài tưởng tượng, ước mơ về một thế giới thiên đàng không có “người bóc lột người”, “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu”, “thế giới đại đồng” v.v… Tại Nga, qua hơn 75 năm áp dụng chủ nghĩa xã hội (mà họ cho là thời kỳ quá độ của chủ nghĩa cộng sản), Lê Nin và đảng CS Nga đã chẳng mang lại no cơm ấm áo cho người dân, trái lại còn mang thảm họa lớn lao đến với loài người, vì thế nó đã bị đánh đổ một cách không thương tiếc. Việt Nam cũng lâm vào con đường tương tự do HCM và thuộc hạ mang về áp dụng.

4. Luận điểm về “Đảng CS là nhân tố quyết định mọi thắng lợi”.

Đây là tư tưởng do Mác đưa ra; Lê Nin, Stalin… là những người học trò kế tiếp, cho rằng “chỉ có đảng của giai cấp công nhân – là giai cấp vô sản bị bóc lột – mới có thể đem lại no cơm ấm áo cho người dân”, và cuối cùng đảng của giai cấp này “ sẽ thắng” “tư bản, đế quốc”.

Hiến pháp các nước theo chủ nghĩa CS đều nhấn mạnh: “Đảng Cộng Sản là đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và nhân dân”. CS  chủ trương như thế vì họ muốn bảo vệ quyền bính, không để cho bất cứ ai có thể tranh giành hoặc lật đổ họ. Có nghĩa là không bao giờ họ chấp nhận tự do dân chủ và quyền của công dân thay đổi chính quyền.

Nhưng sự thật, số phận của các đảng CS lớn nhất thế giới (như đảng CS Liên Sô) như thế nào, ai cũng đều rõ. Còn đảng CS Việt Nam cũng chỉ là một chứng tích  thảm họa của  giai đoạn đen tối của lịch sử Việt Nam, với những thành tích đẫm máu  tàn bạo, cuối cùng đưa dân tộc vào tận cùng ngõ bí. Số phận của đảng CSVN cũng chẳng khác gì các đảng CS đàn anh khác. Xu thế của thời đại không ai chấp nhận một chế độ độc tài độc đảng như vậy. Vấn đề chỉ còn là thời gian.

5. Luận điểm về “mặt trận dân tộc thống nhất đoàn kết” với khẩu hiệu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.

Đây là một thủ đoạn tinh vi của HCM và đảng CSVN.

Nhằm lôi kéo mọi thành phần dân tộc đứng lên đấu tranh chống Pháp giành độc lập,(để cuối cùng thiết lập chế độ cộng sản), HCM và đảng CSVN đã khôn khéo dùng chiêu bài “độc lập, dân tộc, dân chủ”, kêu gọi mọi người đoàn kết. Vì lòng yêu nước, vì đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên hết, người dân Việt Nam, kể cả những người đã biết rõ HCM xuất thân từ QTCS, đã cùng siết chặt tay nhau hy sinh cho nền độc lập dân tộc. Sau đó, HCM và đảng CSVN đã dùng mưu chước và bạo lực bắt ép mọi người phải “đoàn kết” sau lưng đảng CSVN:

– Ai không theo CS đều được chụp cho cái mũ “việt gian”, “phản động”…

– Loại bỏ, thủ tiêu những người yêu nước không cộng sản.

– Tiêu diệt những đoàn thể quốc gia không cộng sản từng hợp tác với HCM chống Pháp.

– Đàn áp tôn giáo khi tôn giáo muốn  độc lập khỏi chính quyền, tự do lãnh đạo…

vân vân…

6. Luận điểm về “Bạo lực cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân”.

Ý niệm này là do Lê Nin, Stalin… đưa ra nhằm trấn áp mọi thành phần không theo cộng sản.

HCM và CSVN đã bắt chước tài tình chính sách và đường lối bạo lực của đảng Bolchevick, dùng đấu tố để loại bỏ các thành phần giầu có ở nông thôn (như phú nông, trung nông… mà họ quy kết là “địa chủ bóc lột”…), tước bỏ mọi quyền tự do của con người, bắt bớ giam cầm những ai  có ý kiến khác biệt v.v..

So với sự điên cuồng của Tần Thủy Hoàng, dã man của Hitler, “bạo lực cách mạng” của CS cũng không kém phần tàn bạo. 

7. Luận điểm về chính quyền nhân dân với lập luận “nhà nước của dân, do dân, vì dân”, và “Lãnh đạo là đầy tớ nhân dân …..”

Đặng Xuân Kỳ gọi đó là “tư tưởng quán xuyến trong toàn bộ công cuộc xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam trong suốt nửa thế kỷ vừa qua của chủ tịch HCM”.

Để chứng minh, ĐXK  đã dẫn chứng câu nói của HCM như:

“vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền, vấn đề nhà nước. Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, xây dựng nhà nước kiểu mới”.

– “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều vì dân… Chính quyền từ xã đến chính quyền trung ương đều do dân cử ra”.

Đặng Xuân Kỳ tiếp tục lý luận:

“Như vậy, vấn đề của dân, do dân, vì dân đã rất rõ ràng. Đảng lãnh đạo là nhằm xây dựng một nhà nước như vậy, đảng không thể trao quyền lãnh đạo nhà nước cho bất cứ lực lượng nào khác đã không cùng với nhân dân đấu tranh để giành chính quyền, xây dựng nhà nước kiểu mới, càng không thể để chính quyền rơi vào tay những lực lượng chống lại nhân dân v.v…”

Sự thật như thế nào về tính chất của chính quyền do HCM và đảng CSVN lập ra, ai cũng biết. Rõ ràng đây là những lập luận của những kẻ điếc, kẻ mù, không muốn nghe, cũng không muốn thấy những trào lưu  thời đại về dân chủ, tự do, của dân quyền, nhân quyền mà thế giới đã long trọng xác nhận qua Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do tổ chức Liên Hiệp Quốc công bố ngày 10-12-1948.  Chính CSVN đã ký kết sau này.

Tuy nhiên, các “nhà nước của dân, do dân, vì dân” của Cộng Sản đã suy tàn ở khắp thế giới, chỉ còn lại một vài chế độ vẫn còn ngoan cố, như phím đàn ngang cung trong một cuộc đại hòa tấu dân chủ, tự do, nhân quyền, hợp tác phát triển… của nhân loại.

8. Luận điểm “Những đóng góp sáng tạo của HCM vào kho tàng của chủ nghĩa Mác-Lê đặc biệt nổi bật trong phương pháp cách mạng”.

Đặng Xuân Kỳ giải thích phương pháp cách mạng của HCM như sau:

“Hồ Chí Minh là bậc thầy về phương pháp cách mạng. Đó là những hình thức, biện pháp, bước đi phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng lãnh vực đấu tranh. Trong khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân, giải phóng và bảo vệ đất nước thì bao trùm nhất là phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân …”

Thật ra, như đã nói ở điểm 6, “bạo lực cách mạng” của HCM cũng chỉ là một sự rập khuôn phương pháp bạo lực của Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông … được dùng để khống chế, đàn áp nhân dân, để  kẻ thù của họ (tức đa số nhân dân) phải khiếp sợ mà không dám đứng lên đối đầu.

9. Luận điểm “Gắn liền cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”.

Ta hãy nghe lời khẳng định của HCM: “Cách mạng Việt Nam cũng là một bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách mạng thế giới đều là đồng chí của dân Việt Nam cả” hoặc “bốn phương vô sản đều là anh em”. (5)

Trong luận điểm này, một lần nữa ông Hồ lại xác nhận “cách mạng Việt Nam thuộc Quốc Tế Vô Sản, lòng yêu nước (VN) gắn bó với Quốc tế Vô sản” (QTVS). Nói một cách khác, Việt Nam phải là một thành phần của QTVS, nằm trong quỹ đạo và phải thi hành đường lối, chủ trương của QTVS. Rõ ràng “tư tưởng” này hoàn toàn đi ngược với bản chất của con người Việt Nam và quyền lợi của đất nước Việt Nam.

10. Luận điểm về “sự sáng tạo của HCM trên lãnh vực đạo đức và văn hóa”“tư tưởng đạo đức của HCM thực sự là bước phát triển mới của đạo đức học Mác-Lênin, đã có ảnh hưởng sâu xa, lâu bền trong đời sống của con người Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã lan tỏa rộng khắp thế giới với sự cảm phục và ngưỡng mộ chân thành” và:

“Mọi người tìm thấy ở HCM một đạo đức trong sáng, một lối sống cao đẹp, một nhân cách lớn, một chủ nghĩa nhân văn toàn thiện. HCM đã phát triển chủ nghĩa Mác Lê-Nin, đã làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác Lê-Nin…”

Quả thật, những đồ đệ trung thành của HCM đã không ngừng ca tụng người thầy HCM, một học trò trung kiên của Quốc Tế Vô Sản mà hình tượng các lãnh tụ hiện nay  đã bị quăng vào bãi sân sau  như Lê-Nin, Stalin, Mao Trạch Đông… sau khi Đông Âu và Liên Xô tan rã. Họ không còn liêm sỉ khi tiếp tục huyênh hoang nói “tổ chức UNESCO đã suy tôn Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại”.

Sự thực, ai cũng biết vào năm 1990, nhân sinh nhật 100 năm của HCM, Tổ Chức Văn Hóa UNESCO của LHQ mà trong đó các thành phần thân cộng chiếm đa số, đã cố gắng tìm cách suy tôn HCM là một “vĩ nhân của thế giới”, nhưng họ đã thất bại. Tổ chức UNESCO đã không thể làm công việc nghịch lý       trước những cuộc đấu tranh quyết liệt và liên tục của người Việt tỵ nạn hải ngoại và sau khi toàn bộ các chế độ CS đã tan rã khắp nơi, sự thật của các đại lãnh tụ cộng sản đã được phơi bầy với những hành vi cực kỳ tàn bạo được giấu kín từ hàng chục thập niên qua như Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông, Ceausescu, Honecker… và cả Hồ Chí Minh nữa.

***

Khi được hỏi về tư tưởng của ông, HCM đã từng tuyên bố rằng “tôi không còn gì để nói nữa, Ông Mao đã viết tất cả rồi”, có nghĩa  HCM chỉ là một đệ tử trung thành áp dụng tư tưởng và đường lối của Mác, Lê nin, Mao Trạch Đông… (6).

Vậy mà Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội vẫn ca tụng cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tiếp tục dùng bộ máy tuyên truyền để lừa bịp người dân Việt Nam hầu nắm giữ quyền bính đã cướp được của nhân dân.

Ta hãy nghe những lời tâm huyết khẳng định của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vừa thoát ra khỏi “thiên đường”  Cộng sản như sau:

“Tôi rời Việt Nam, mục đích chủ yếu là chữa bệnh cho khỏe, khỏe để đủ sức tiếp tục công việc chống tội ác mà tôi đã bắt đầu từ thuở thiếu thời. Voltaire có nói: ‘Kẻ nào tha thứ cho tội ác, kẻ đó là đồng phạm’. Làm sao có thể hòa hợp được với những kẻ Trời không dung, Đất không tha, những kẻ đã bắn giết tù đầy hàng triệu đồng bào, những kẻ làm tay sai cho Nga Tàu đẩy cả dân tộc xuống đầm lầy lạc hậu, phá hoại luân thường đạo lý, những kẻ coi:

“Nhân quyền là chuyện hão

Nhân phẩm thời coi khinh

Nhân tâm không cần tính

Luôn mồm nói nhân đạo!

“Cải cách ruộng đất năm 1955, sắc lệnh tập trung năm 1961, hàng triệu đồng bào miền Nam bị lưu đầy sau năm 1975, kinh tế Việt Nam nghèo nàn lạc hậu nhất hoàn cầu v.v… Những thực tế khủng khiếp đó ai có thể phủ nhận? Đúng là “Trúc rừng không ghi hết tội, Nước biển không rửa sạch mùi tanh!” 

”….tôi không thù hận ai cả, trừ những kẻ đã gây những tội ác tầy trời đối với dân tộc. Biết yêu điều thiện, phải biết ghét điều ác. Biết tôn kính đạo đức, phải biết khinh bỉ gian manh. Những trạng thái tâm tình đó không thể tách rời, đời đời kết dính. Tuy nhiên, vì lợi ích tối cao của đất nước, chúng ta có thể dằn lòng bỏ qua, bỏ qua chứ không quên… nếu những kẻ đang cưỡi đầu cưỡi cổ nhân dân, bịt mắt, khóa miệng nhân dân, chịu tụt xuống ngồi ngang hàng với nhân dân để bàn việc xây dựng đất nước; nghĩa là phải chấp nhận đa nguyên, đa đảng, tự do, thực lòng hối cải. Nhưng điều này chỉ có thể xẩy ra khi nội bộ Đảng tiếm quyền phân hóa tan rã, nhân dân sẽ chớp lấy thời cơ vùng lên. Hiện tại sự phân hóa này đã khá sâu rộng. Nhân dân đã chán ghét chế độ cực quyền tới cao độ.

 “Đảng đã thành thơ, thành vè, khôi hài phỉ báng

“Thành truyện tiếu lâm cười riễu trong dân.

“Khi trò chuyện nếu anh ca ngợi Đảng

“Đời sẽ nhìn anh như một gã bị tâm thần!

Nhiệm vụ của chúng ta là BẰNG MỌI CÁCH THÚC ĐẨY THẬT NHANH SỰ PHÂN HÓA đó. Tôi không có tham vọng gì cả ngoài tham vọng được đất nước sum hòa, tự do, no ấm. Thơ của tôi cũng chỉ nhằm tiêu diệt cái ác, để cho cái thiện được đất nẩy nở” (7).                  

Hoàng Độ 

CHÚ THÍCH

 

(1) Đặng Xuân Kỳ, TCCS số 5/95, tr 16.

(2) Nguyễn Đình Tuyến, Những Biến Cố Lớn Trong 30 Năm Chiến Tranh Tại Việt Nam, trang 460, Đại Học Đông Nam xuất bản, 1995.

(3) Lê Nin Toàn Tập, NXB Tiến Bộ, 1980, tập 27, trang 455.

(4) Mác Ăng Ghen Toàn Tập, NXB Sự Thật, 1993, tập 23, trang 1058.

(5) Xem dẫn chiếu số (1), trang 19.

(6) Oliver Todd: Hochiminh, l’Homme et son Héritage, Duong Moi, Paris, 1990, tr. 84.

(7) Trích “Lá thư của Nguyễn Chí Thiện gửi đồng bào hải ngoại” ngày 3-11-1995 viết tại Virginia, Hoa Kỳ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Hồ Chí Minh, Sự thật về thân thế & Sự nghiệp – Nhiều tác giả: Jean Francois Revel, Bùi Xuân Quang, Nguyễn Thế Anh, Tôn Thất Thiện, Ralph B. Smith, Oliver Todd, Lâm Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Huy – Nxb Nam Á, Paris, 1990.

2. Nguyễn Đình Tuyến: Những Biến Cố Lớn Trong 30 Năm Chiến Tranh Tại Việt Nam, trang 460, Đại Học Đông Nam xuất bản, 1995.

3Việt Nam Quốc Dân Đảng, Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại, Hoàng Văn Đào, 1964.

4. Từ Thực Dân Đến Cộng Sản. Hoàng Văn Chí, 1969 (bản tiếng Việt).

5. Trần Dân Tiên: Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch, nxb Văn Học Hà Nội, 1969.

6. Huyền Thoại Cứu Nước hay Tội Ác Lịch Sử, Trần Trọng Sanh, 1992.

7. Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành, Vũ Ngự Chiêu, Nguyễn Thế Anh: nxb Tủ sách Văn Hóa, Paris 1983.

8. Chân Tướng Hồ Chí Minh – Cao thế Dung, nxb Hưng Việt, 1989.

9. Nhận Diện Hồ Chí Minh (Huy Phong và Yến Anh) 1989.

10. Hoa Xuyên Tuyết, Thành Tín, nxb Viet Press 1991.

11. Mặt Thật, Thành Tín, nxb Turpin Press 1994.

12. Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí, Chính Đạo, nxb Văn Hóa, 1993.

13. American in Vietnam (A Document History), nxb Norton, 1989.

14. The Long Resitance (1858-1975), Nguyễn Khắc Viện, nxb Hardvard 1974.

15. Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam, Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Bá Thế – nxb Văn Hóa, 1993 (TP HCM).

16. Vietnam A History, Stanley Karnow, nxb Penguin Books, 1991 (2nd edition).

17. Thơ của Nguyễn Hộ về Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc, Thời Sự số 5, trang 13.

18. Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Phan Khoang, 1961 (in lại ở hải ngoại).

19. Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Bộ QGGD, Trung Tâm Học Liệu (bản in lại ở hải ngoại).

20. Việt Sử Tân Biên, cuốn II, Phạm Văn Sơn, nxb Đại Nam, Sài Gòn 1972 (in lại ở hải ngoại).

21. Vietnam At War, the History 1946-1975, Phillip B. Davidson, nxb Oxford University Press, 1991.

22. The Vietnam Wars (1945-1990), Marilyn B. Young, nxb Harper Perennial, 1991.

23. Bên Giòng Lịch Sử, LM Cao Văn Luận, nxb Tantu Research 1983 (in ở hải ngoại).

24. Hồ Chí Minh: Con người và Huyền Thoại (tập II: 1925-1945), Chính Đạo, Nxb Văn Hóa, Houston, TX, 1993.

25. Thích Quảng Độ: Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng Cộng Sản Việt Nam đối với Dân Tộc và Phật Giáo, 1995, Quê Mẹ, Paris.

26. Nguyễn Khắc Ngữ: Các đảng phái quốc gia lưu vong 1946-1950, Hội Nghị Hương Cảng 9-947, Tủ Sách Nghiên Cứu Sử Địa, 1991.

27. Hồ Chí Minh Toàn Tập, nxb Sự Thật, Hà Nội, 1989.

28. Tạp Chí Cộng Sản, Hà Nội, tháng 5/1995. Đặng Xuân Kỳ UVTƯ Đảng, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu chủ nghĩa Mác): Kỷ niệm lần thứ 105 ngày sinh nhật của Chủ Tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890 – 19.5.1995),

 

Bản cáo trạng tội ác của đảng CSVN và ông Hồ Chí Minh (Bài 1)

Thursday, March 21st, 2013

Bản cáo trạng tội ác của đảng CSVN và ông Hồ Chí Minh (bài 1)

Đặng Chí Hùng (Danlambao) – Đất nước Việt Nam đang trượt dốc đến suy tàn, đang từng bước rơi vào tay cộng sản Trung Quốc, mỗi người Việt Nam cần hành động cứu nước. Song song với việc thúc đẩy tranh đấu trong nước, chúng ta phải mạnh mẽ tố cáo trước thế giới tội ác của cộng sản Việt Nam. Việc đưa nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam ra tòa hình sự quốc tế và Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc là cần thiết. Tuy nhiên cần nhiều chứng cứ cụ thể hơn nữa để có tiếng nói có giá trị hơn nữa. Kính đề nghị quý bạn đọc cung cấp thêm chứng cứ về tội ác của cộng sản đối với bản thân và gia đình mình, tội ác của CS tại quê hương mình để giúp tôi đúc kết  một bộ hồ sơ hoàn chỉnh hơn nữa sau khi bản cáo trạng này được đăng tải. Tôi kêu gọi các nạn nhân của chiến dịch tàn sát của đảng cộng sản Việt Nam năm 1968 hãy cùng tôi trả lại sự thật cho những cái chết oan khiên…
 
*
 
Kính thưa bạn đọc!
Trong quá trình tìm hiểu và nhận thức của mình tôi đã sưu tầm được rất nhiều tài liệu, nhân chứng liên quan đến tội ác của đảng cộng sản Việt Nam và ông Hồ Chí Minh.

Những bài viết “Những sự thật không thể chối bỏ” của tôi đã được ban biên tập Dân Làm Báo (danlambaovn.blogspot.com) đăng tải tố cáo tội ác của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam và cá nhân lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh đối với nhân dân Việt Nam.
Như chúng ta đã biết đảng cộng sản Việt Nam với chính sách sắt máu đã đàn áp các đảng phái đối lập, tôn giáo, những nhà bất đồng chính kiến, những người tranh đấu cho sự tiến bộ xã hội là truyền thống, là việc làm thường xuyên từ khi đảng cộng sản cướp được chính quyền từ năm 1945 đến nay.
Cuộc đấu tố “Cải cách ruộng đất” theo chỉ thị của Stalin và Mao Trạch Đông từ năm 1953 đến 1957 đã cướp đi sinh mạng gần 200 ngàn người Việt và hậu quả của nó không những về người mà còn làm băng hoại đạo đức và văn hóa dân tộc.
Cuộc Cách mạng văn hóa chống Nhân Văn Giai Phẩm 1957-1960: Hàng ngàn Trí thức, Nhà Văn, Nhà báo có tư tưởng dân chủ bị vào tù, nhiều người bị chết trong ngục tối.
Chiến dịch “chống xét lại” từ năm 1963 tiếp tục bức hại hàng chục ngàn người trong có có cả những đảng viên, đồng chí của đảng.
Dưới sự chỉ đạo của ông Hồ Chí Minh lúc đó đang là người đứng đầu đảng và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1958 đã chỉ đạo ông Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng chính phủ ký công hàm công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là của Trung Quốc. Ở đây ông Hồ Chí Minh và ông Phạm Văn Đồng mắc tội vi hiến, độc tài không thông qua quốc hội cũng như dân ý mà tự quyền đem đất đai tổ quốc cho nước khác.
Đảng cộng sản dưới sự chỉ đạo của ông Hồ Chí Minh còn vi phạm thỏa thuận ngưng bắn trong dịp tết Mậu Thân năm 1968 với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, và đã tàn sát 6000 dân thường tại thành phố Huế.
Từ năm 1975, sau khi cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa nhằm “Thống nhất đất nước” thay vì dùng chính sách “Hòa giải và hòa hợp dân tộc”, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại dùng chính sách trả thù khốc liệt: đánh tư sản Miền Nam, cướp tài sản của mọi tầng lớp nhân dân, đẩy hàng triệu người lên vùng kinh tế mới thực chất là các trại lao động cưỡng bức tại những vùng rừng núi hẻo lánh; đưa hàng trăm ngàn sĩ quan binh lính của Việt Nam Cộng Hòa vào các nhà tù không thời hạn, trải dài khắp đất nước Việt Nam.
Sự trả thù khốc liệt đã khiến hàng triệu người phải tìm đường trốn chạy khỏi đất nước bằng đường biển tạo nên hiện tượng “thuyền nhân / boat people” của thế kỷ 20, khiến hàng vạn người bị chết trên biển.
Từ năm 1990, sau khi khối cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhằm cứu nguy chế độ, nhà cầm quyền Cộng sản buộc phải cải cách kinh tế theo phương thức “kinh tế thị trường”, nhưng lại liên kết với đảng cộng sản Trung quốc tại “Hội nghị Thành Đô” (Trung Quốc) để duy trì chế độ độc tài cộng sản.
Hàng ngàn người yêu nước tiếp tục bị bức hại, bị vào tù. Đảng cộng sản dùng chính sách “cộng sản hóa” các tôn giáo và các tổ chức xã hội: các sỹ quan an ninh đội lốt thầy tu, nhà sư xâm nhập hầu hết các nhà chùa Phật giáo và nhà thờ Thiên Chúa giáo.
Những cơ sở tôn giáo nào chống lại chính sách này đều bị đàn áp khốc liệt. Những cái tên Thái Hà, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, Tam Tòa, Con Cuông, Bát Nhã… trở thành những biểu hiện hãi hùng đối với người dân Thiên Chúa giáo và Phật giáo. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị đàn áp và phong tỏa triệt để. Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ (người được đề cử giải Nobel nhiều lần) bị tù và bị quản thúc đến nay vẫn chưa được tự do. Các cơ sở và thánh đường Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài bị tàn phá, các phật tử thường xuyên bị truy bức, đánh đập thậm chí bị thủ tiêu. Chỉ những cơ sở tôn giáo nào chấp nhận đường lối cộng sản, chấp nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản thì mới được hành đạo. Nhà cầm quyền cộng sản thường dùng những cơ sở này để quảng cáo trước thế giới cho chính sách tôn giáo của họ.
Các tổ chức xã hội: Nghiệp đoàn, Phụ nữ, Thanh Niên, Nông dân… cũng bị tập trung trong một tổ chức “Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam” do một Ủy Viên Trung ương đảng cộng sản cầm đầu, thực chất đây là các cơ sở ngoại vi của đảng cộng sản, thực hiện chỉ thị của đảng cộng sản, kiềm tỏa mọi hành động và tư tưởng của người dân.
Hiện nay tại Việt Nam hàng ngàn người Việt đang bị tù đày trong các nhà tù khắc nghiệt chỉ vì bày tỏ lòng yêu nước, bày tỏ chính kiến khác với đảng cộng sản, viết blog để bày tỏ quan điểm, không chấp nhận quan điểm tôn giáo do đảng cộng sản áp đặt.
Tự do báo chí cũng không được tôn trọng. Dù hiến pháp của Việt Nam năm 1946 đã quy định quyền tự do ngôn luận và báo chí nhưng đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục vi phạm bằng việc cấm khiếu kiện tập thể, cấm tập trung và lập đoàn lập hội, cấm bày tỏ bất đồng chính kiến và cấm triệt để báo chí tư nhân.
Đất nước Việt Nam đang trượt dốc đến suy tàn, đang từng bước rơi vào tay cộng sản Trung Quốc, mỗi người Việt Nam cần hành động cứu nước. Song song với việc thúc đẩy tranh đấu trong nước, chúng ta phải mạnh mẽ tố cáo trước thế giới tội ác của cộng sản Việt Nam. Việc đưa nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam ra tòa hình sự quốc tế và Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc là cần thiết. Tuy nhiên cần nhiều chứng cứ cụ thể hơn nữa để có tiếng nói có giá trị hơn nữa.
Kính đề nghị quý bạn đọc cung cấp thêm chứng cứ về tội ác của cộng sản đối với bản thân và gia đình mình, tội ác của CS tại quê hương mình để giúp tôi đúc kết  một bộ hồ sơ hoàn chỉnh hơn nữa sau khi bản cáo trạng này được đăng tải. Tôi kêu gọi các nạn nhân của chiến dịch tàn sát của đảng cộng sản Việt Nam năm 1968 hãy cùng tôi trả lại sự thật cho những cái chết oan khiên vì trong lần tố cáo này có 2 nhân chứng đã từng là cán bộ cao cấp và trực tiếp thi hành mệnh lệnh giết hại dân lành ra làm chứng. Tôi đã động viên họ và họ sẵn sàng chuộc lại sai lầm của mình bằng việc ra làm chứng và cung cấp tài liệu. Vì lý do an ninh nên tạm thời tôi chưa nêu tên thật của họ. Khi ra đối chất họ sẽ có đủ bằng chứng.
Đây không phải là sự trả thù mà là việc làm cần thiết, phải trả lại sự thật cho lịch sử đồng thời là một bài học cảnh báo cho các chế độ cầm quyền tiếp theo. Mong bạn đọc góp ý chân tình và thẳng thắn, đóng góp, giúp đỡ để bản cáo trạng của chúng ta có chất lượng nhất và đến tay các tổ chức quốc tế.
Kính mong được sự tiếp tay, hưởng ứng của quý độc giả.
* Lưu ý: Bạn đọc thân mến!
Vì đây là bản cáo trạng chi tiết gửi bạn đọc xem xét và góp ý rồi sau đó ký tên ủng hộ phong trào Toàn dân tố cáo của chúng ta dựa trên 2 loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ” và “Những sự thật cần phải biết”, đã, đang và sẽ đăng tải trên Danlambao. Sau đó tôi xin được phép dựa trên bản cáo trạng này và những đóng góp ý kiến của bạn đọc được rút gọn lại một lần nữa đăng trên DLB. Lý do là cần có thêm những ý kiến đóng góp của bạn đọc thật bổ ích và LHQ cũng như các cơ quan công luận Quốc tế không thể đọc hết những gì dài dòng, quá chi tiết. Nên chú trọng vào những hậu quả của đảng cộng sản và ông HCM gây ra cho dân tộc Việt Nam. 
______________________________
BẢN CÁO TRẠNG VỀ TỘI ÁC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ ÔNG HỒ CHÍ MINH
Kính gửi:
– Đại hội đồng LHQ (UN General Assembly).
– Ông Tổng thư ký UN General Assembly (the eighth and current Secretary-General of the United Nations-UN) Ban Ki Moon.
– Toàn thể các vị lãnh đạo của tất cả các quốc gia trong LHQ.
– Ông Chủ tịch Tòa án Công lý quốc tế (International Court of Justice- ICJ) Peter Tomka.
– Ông Chủ tịch Tòa án Hình sự quốc tế (President of the International Criminal Court- ICC) Song Sang-Huyn.
– Bà ủy viên công tố Tòa án Hình sự quốc tế (Prosecutor of the International Criminal Court- ICC) Fatou Bensouda.
– Bà Cao ủy Hội đồng Nhân quyền LHQ (the United Nations High Commissioner for Human Rights- OHCHR) Navanethem Pillay.
– Ông Tổng thống Hoa Kỳ (President of USA) Barak Obama.
– Ông Chủ tịch Hội đồng châu Âu (President of the European Council) Herman Achille Van Rompuy.
– Ông Chủ tịch Quốc hội EU (President of the European Parliament) Martin Schulz.
– Ông Chủ tịch Ủy ban Liên minh châu Âu (President of the European Commission) Manuel Durão Barroso.
– Bà Đại diện cao cấp của Liên minh châu Âu (EU) về đối ngoại và chính sách an ninh (High Representative of the Union for Foreign Affairs and Security Policy) Catherine Margaret Ashton.
– Ông Chủ tịch Tòa án Công lý của Liên minh châu Âu (President of the European Court of Justice- ECJ) Vassilios Skouris.
– Ông Giám đốc điều hành hiện tại của Human Rights Watch (The current executive director of Human Rights Watch-HRW) Kenneth Roth.
– Ông Phó Giám đốc Ban Á Châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (The Deputy Asia director of Human Rights Watch-HRW) Phil Robertson.
– Ông đồng chủ tịch Hội Luật sư Quốc tế (Co-Chair International BAR Association-IBA) Stephen Denyer và ông Đồng Chủ tịch Hội Luật sư Quốc tế (Co-Chair International BAR Association-IBA) Ronaldo Camargo Veirano.
– Ông chủ tịch hội Freedom House William H. Taft IV.
– Ông chủ tịch Hội đồng châu Âu (President of The Parliamentary Assembly of the Council of Europe PACE) Jean-Claude Mignon.
– Ông Tổng thư ký Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International-AI) Salil Shetty.
– Ông chủ tịch Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (International Federation for Human Rights – FIDH) Souhayr Belhassen.
– Ông chủ tịch Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) M. P. de Brichambaut và ông tổng thư ký Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) Kanat Saudabayev.
– Ông đại diện đặc biệt Liên minh châu Âu về Nhân quyền (EU Special Representative for Human Rights-EUSR) Stavros Lambrinidis.
Kính thưa quí vị, 

Chúng tôi những người đồng ký tên dưới đây cùng tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh, của đảng cộng sản Việt nam và của nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – giai đoạn 1945-1969 và tội ác của đảng cộng sản Việt Nam và của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam – giai đoạn 1969-2012 về 2 tội ác theo Hiến chương LHQ và theo Qui chế Rome 17th day of Juli 1998:

a. Tội ác diệt chủng (The crime of genocide) 
b. Tội ác chống loài người (The crimes against humanity)
Kính thưa quý vị, 
Trước khi đi vào nội dung bản cáo trạng thì tôi xin nói qua về bản thân tôi và công việc tôi đang theo đuổi.
Tôi vốn sinh ra sau năm 1975 có nghĩa là sinh sau cuộc chiến tranh giữa VNDCCH và VNCH. Tôi cũng được sinh ra trên đất Bắc Việt Nam ngay tại cái nôi của chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản Việt Nam. Bản thân gia đình tôi có cha là bộ đội tham gia quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn mẹ tôi là viên chức – đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Xung quanh họ hàng tôi có bác (bên cha tôi) và cậu (em ruột mẹ tôi) là liệt sỹ khi chiến đấu trong hàng ngũ quân đội VNDCCH. Ngoài ra hiện nay gia đình tôi có nhiều người thân công tác trong đội ngũ chính quyền nước CHXHCNVN. Họ phần lớn là đảng viên và tham gia đủ các lĩnh vực trong đó có cả An ninh, cảnh sát và quân đội… Tôi cũng đã được học tập dưới mái trường của CNXH, đã từng là một cán bộ đoàn của đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (tổ chức ban đầu của đảng cộng sản Việt Nam) và hiện nay đang là công dân nước CHXHCN Việt Nam.
Nói như vậy để các quý vị hiểu rõ động cơ của tôi khi tiến hành công việc này không phải với mục đích “trả thù” hay “thù hận” gì đối với đảng cộng sản, ông Hồ Chí Minh và nhà nước CHXHCN Việt Nam. Động cơ chính của tôi đó là đem lại sự thật, sự công bằng cho những nạn nhân dưới ách thống trị của đảng cộng sản Việt Nam. Và trên hết tôi muốn công lý và sự thật phải được thực thi nhằm vạch trần bộ mặt thật của chế độ cộng sản Việt Nam.
Tuy nhiên bản cáo trạng gửi tới quý vị ngày hôm nay không phải của riêng cá nhân tôi mà là nguyện vọng của rất nhiều đồng bào của tôi đang sống tại Việt Nam cũng như đồng bào của tôi đang sinh sống trên khắp thế giới. Tất cả chúng tôi cùng chung sức và chung ý tưởng để xây dựng nên bản cáo trạng này. Điều đó được thể hiện ở số chữ ký của chúng tôi gửi tới quý vị. Đó là nguyện vọng không chỉ cá nhân tôi mà là của cả dân tộc tôi. Tôi phải dùng từ dân tộc vì nhân dân Việt Nam chúng tôi dù đi đâu, làm gì và có trở thành công dân nước khác vẫn luôn tự hào có cội nguồn dân tộc Việt Nam. Chúng tôi có sức mạnh đoàn kết và bằng chứng sự thật. Chúng tôi cần các quý vị bằng ánh sáng công lý và trung thực, giúp đỡ chúng tôi trong việc phân minh bản cáo trạng này. Chúng tôi tin rằng bằng lương tâm và trách nhiệm của mình đối với loài người nói chung và đối với dân tộc Việt Nam chúng tôi nói riêng, quý vị sẽ có những hành động thiết thực lên án tội ác của đảng cộng sản Việt Nam, tội ác của ông Hồ chí Minh và tội ác của nhà nước CHXHCN Việt Nam để đem lại công lý cho những người đã mất, cho những người còn sống đang ngày đêm chịu oan khuất dưới ách độc tài của đảng cộng sản VN.
Bằng tất cả trái tim và nhiệt huyết của mình giành cho đất nước tôi và dân tộc tôi, tôi cùng đồng bào Việt Nam trên khắp thế giới chỉ muốn đem lại sự công bằng, công lý cho nhân dân chúng tôi bị đảng cộng sản tước bỏ gần 80 năm qua. Tôi không hề có bất cứ động cơ cá nhân hay chính trị cho đảng phái nào. Với tất cả danh dự và trách nhiệm của một người con Việt Nam, tôi xin cam đoan những gì gửi tới quý vị là trung thực và thẳng thắn.
Kính thưa quý vị! 
Nhân dân Việt Nam chúng tôi đã từng sống trong một trại tù khổng lồ không hơn không kém từ trước năm 1975 (phần miền Bắc) và cả nước Việt Nam từ sau năm 1975 cho đến nay. Chính vì vậy chúng tôi không thể ngồi yên khi công lý và nhân quyền tiếp tục bị đảng cộng sản Việt Nam chà đạp một cách thô bạo.
Thay cho lời giải thích vì sao chúng tôi làm bản cáo trạng này tới quý vị, chúng tôi xin mượn câu nói của nhạc sỹ Việt Khang đang bị giam cầm trong ngục tù cộng sản chỉ vì viết bài hát kêu gọi lòng yêu nước, chống ngoại xâm Trung Quốc: “BỞI VÌ CHÚNG TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM”!
Kính thưa quý vị!
Khi nói đến việc bảo vệ quyền con người, dù dưới góc độ nào, có nghĩa cũng đề cập đến việc bảo vệ nhân thân, các quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Tại Lời nói đầu Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (được Đại Hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948) đã khẳng định: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới… Điều cốt yếu là quyền con người cần phải được pháp luật bảo vệ để con người không buộc phải nổi dậy như là một biện pháp cuối cùng nhằm chống lại sự độc tài và áp bức… Các quốc gia thành viên đã cam kết, cùng với Liên Hợp quốc, phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do cơ bản của con người”. Như vậy, việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người là nhiệm vụ chung của tất cả các quốc gia và mọi dân tộc trên thế giới, trước hết là trên phương diện chính trị – pháp lý, sau là thực tiễn xã hội.
Luật hình sự quốc tế là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế ghi nhận những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế là các tội phạm quốc tế (và tội phạm có tính chất quốc tế – tội phạm xuyên quốc gia), đồng thời quy định hệ thống hình phạt và các chế định pháp lý có thể được áp dụng đối với những chủ thể vi phạm, cũng như tổng hợp những nguyên tắc xác định quyền và nghĩa vụ của các thành viên cộng đồng quốc tế, nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia trong việc xử lý và phòng, chống các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong đó có tội ác diệt chủng và chống lại loài người.
Kể từ khi Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội phạm diệt chủng (Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide – CPPCG) có hiệu lực vào tháng 1 năm 1951 khoảng 80 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc đã thông qua luật kết hợp các quy định của các CPPCG vào pháp luật quốc gia của họ, và một số thủ phạm diệt chủng đã được tìm thấy có tội, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của pháp luật như vậy, chẳng hạn như Nikola Jorgic, người bị kết tội diệt chủng ở Bosnia vào một tòa án Đức.
Sau khi tối thiểu 20 quốc gia đã trở thành các bên tham gia Công ước, nó đến như luật pháp quốc tế có hiệu lực vào ngày 12 tháng một năm 1951. Tuy nhiên tại thời điểm đó, chỉ có hai trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc (HĐBA) là các bên tham gia hiệp ước: Pháp và Trung Quốc. Cuối cùng Liên Xô phê chuẩn vào năm 1954, Vương quốc Anh vào năm 1970, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1983 (đã thay thế nước Cộng hòa Đài Loan dựa trên của Trung Quốc vào Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc trong năm 1971), và Hoa Kỳ vào năm 1988 và cho đến những năm 1990 của pháp luật quốc tế về tội ác diệt chủng đã bắt đầu được thực thi.
Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc số 1674, được thông qua bởi Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 28 tháng tư 2006: “Tái khẳng định quy định của điều 138 và 139 của Văn kiện thế giới năm 2005 Kết quả Hội nghị thượng đỉnh về trách nhiệm bảo vệ các quần thể từ tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, thanh trừng sắc tộc và tội ác chống lại nhân loại.” 
Có thể xem thêm ở địa chỉ: http://www.un.org/News/Press/docs/2006/sc8710.doc.htm
Kể từ khi CPPCG có hiệu lực vào tháng 1 năm 1951 khoảng 80 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc đã thông qua luật kết hợp các quy định của CPPCG các thành luật, thành phố trực thuộc Trung ương của họ.
Đồng thời LHQ cũng thông qua yêu cầu tất cả các bên có liên quan thực hiện đúng các nghĩa vụ đối với họ theo quy định của pháp luật quốc tế, đặc biệt là những người nằm trong các Công ước Hague 1899 và 1907 và các Công ước Geneva năm 1949 và Nghị định thư bổ sung của họ năm 1977, cũng như với các quyết định của Hội đồng Bảo an.
Cụ thể tại Việt Nam: 
Kính thưa quý vị!
Dựa trên các điều luật của LHQ đã thông qua và ban bố:
a. Căn cứ điều 2 khoản 1 Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948 của HĐBA LHQ;
b. Căn cứ điều 6 khoản 1,2,3 và 4 của công ước ICC năm 2007;
c. Căn cứ điều 4 Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc số 1674, được thông qua bởi Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 28 tháng tư 2006;
d. Quy chế Rome 17/07/1998 (http://untreaty.un.org/cod/icc/index.html);
e. Căn cứ vào Bộ luật nhân quyền năm 1976 của LHQ;
f. Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, ban hành năm 1948;
g. Công Ước Quốc Tế về những quyền Dân Sự và Chính Trị, năm 1966;
h. Công Ước Quốc Tế về những quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa, năm 1966;
i. Công ước quốc tế về bảo vệ nạn nhân chiến tranh được ký kết 12.8.1949 tại Geneve;
k. Công ước về trẻ em năm 1989 (thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.). Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, trong Nghị quyết số 50/155 ngày 21 tháng 12 năm 1995, thông qua việc sửa đổi khoản 2, điều 43 của Công ước Quyền trẻ em, bằng cách thay từ “mười” bằng từ “mười tám”. Việc sửa đổi này có hiệu lực vào ngày 18 tháng 11 năm 2002 khi được chấp nhận bởi đa số 2/3 của các quốc gia thành viên.
l. Công ước Quốc tế về Bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ, 1990 (được thông qua theo Nghị quyết A/RES/45/158 ngày 18/12/1990 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc)
Chúng tôi, toàn thể 90 triệu người dân đang sinh sống tại Việt Nam và hàng triệu người dân đang sống trên khắp thế giới cùng ký tên gửi tới quý vị bản cáo trạng với những nội dung như sau:
1) Tội Ác Xâm Lược (The crime of Aggression); 
2) Tội Ác Chiến Tranh (War Crimes); 
3) Tội Ác Diệt Chủng (The crime of Genocide); 
4) Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity);
5) Vi phạm Bộ luật Nhân Quyền quốc tế (International Bill of Human Rights) 
Chúng tôi xin chia ra các giai đoạn thời gian cụ thể:
A. Giai đoạn 02/09/1945 – 02/09/1969:
Đảng cộng sản và ông Hồ Chí Minh đã vi phạm nhân quyền, diệt chủng, vi hiến và chống lại dân tộc, chống lại loài người, gây chiến xâm lăng cụ thể là các sự kiện nổi bật sau:
– Tiến hành chính sách cải cách ruộng đất man rợ tại VNDCCH.
– Đàn áp nhân dân, trí thức về kinh tế, tư tưởng (điển hình là vụ án Nhân văn Giai phẩm hay các trường hợp của luật sư Nguyễn Mạnh Tường…)
– Gây chiến tranh xâm lăng một nước có chủ quyền được LHQ công nhận (VNCH).
– Tàn sát nhân dân vô tội qua vụ thảm sát Mậu thân 1968 tại Huế.
– Công nhận chủ quyền Việt Nam cho nước khác khi không qua quốc hội (Công hàm 1958 công nhận HS-TS là của Trung Quốc).
– Tiêu diệt những người yêu nước nhưng không cộng sản: Điển hình là vụ án của cụ Phan Bội Châu.
B. Giai đoạn 1969 đến 1975: 
– Tiếp tục gây chiến tranh phi nghĩa với VNCH gây đau thương cho dân tộc trong đó có những thảm họa kinh hoàng như “Đại lộ kinh hoàng” 1972 tại Quảng Trị.
– Vi phạm hiệp ước Paris 1973.
– Sử dụng trẻ em trong chiến tranh – vi phạm luật về chiến tranh và sử dụng trẻ em.
– Đày đọa các tù bình trong chiến tranh.
C. Giai đoạn 1975 đến nay: 
– Trả thù man rợ quân dân, cán chính một nước (VNCH) sau khi cưỡng chiếm nước này.
– Cướp tài sản của nhân dân Miền Nam thông qua chính sách đánh tư bản, đổi tiền và tịch thu tài sản.
– Đẩy hàng trăm ngàn người phải ra biển gây nên nạn thuyền nhân nổi tiếng và đau thương cho dân tộc Việt Nam.
– Vi phạm luật nhân quyền và chống loài người: bắt bớ nhưng người phản đối và bất đồng chính kiến yêu nước như bắt giam T.S Cù Huy Hà Vũ, L.S Lê Công Định, Doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Nhà giáo Đinh Đăng Định, Nguyễn Xuân Nghĩa, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Nhạc sỹ Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Sinh viên Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha…
Chúng tôi xin gửi tới quý vị nội dung cáo trạng cụ thể sau đây.
Giai đoạn 02/09/1945-02/09/1969: 
Phần 1: Sự kiện Cải cách ruộng đất tại VNDCCH: 
Cách đây gần 60 năm, một biến cố lớn lao đã xảy ra ở Bắc Việt. Người Cộng sản gọi đó là “cuộc cách mạng long trời lở đất” còn lịch sử ghi nhận nó như “cuộc Cải cách Ruộng đất kinh thiên động địa” đầy máu và nước mắt vì đã gây ra cái chết cho khoảng nửa triệu đồng bào.
Những kẻ tạo nên biến cố đau thương này chính là Hồ Chí Minh và đảng Lao động VN (một biến tướng của đảng cộng sản Việt Nam). Do mù quáng thấm nhiễm một học thuyết chủ trương quốc hữu hóa mọi phương tiện sản xuất để dễ dàng khống chế toàn xã hội, do nô lệ tuân hành sự chỉ đạo của các lãnh tụ Trung Cộng và Liên Xô, do ý đồ khuất phục nhân dân bằng khủng bố đe dọa và bóp bao tử, do toan tính tước mọi phương tiện sinh hoạt của các tôn giáo, hàng lãnh đạo CSVN đã đề ra một chương trình Cải cách Ruộng đất (CCRĐ) bằng đủ biện pháp nham hiểm và tàn nhẫn, qua một công cụ hết sức đặc biệt và chưa từng có là Tòa án nhân dân với những màn đấu tố mà cho đến nay vẫn là một nỗi kinh hoàng cho dân Việt.
Theo hầu hết các nhà nghiên cứu, cuộc CCRĐ đã kéo dài 7 năm (1949-1956), trải qua 5 giai đoạn, đánh dấu bằng những sắc lệnh, ban đầu nhẹ nhàng và mỵ dân, tiến dần đến sắt máu và triệt để với Sắc luật về CCRĐ (14-6-1955), cho phép nhà nước tịch thu toàn bộ tài sản của những“tên thực dân, địa chủ gian ác, cường hào ác bá, Việt gian phản động”, truất hữu đất đai của các tôn giáo, gọi là để phân chia lại cho nông dân không đất, gia đình thương binh, chiến sĩ, liệt sĩ… Thế nhưng chính việc quy định thành phần xã hội, phân chia tài sản một cách bất công và với thâm ý tước đoạt quyền tư hữu đất đai đã gây nên bao cảnh giết chóc cùng đổ vỡ. Và rồi, những kẻ được phân chia ruộng đất sau đó phải trả lại tất cả cho nhà nước qua Hợp tác xã…
Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lẽ không biến cố nào đau thương bằng sự kiện ấy. Đau thương vì đó là cuộc đảo lộn xã hội nông thôn Việt Nam một cách toàn diện từ kinh tế tới văn hóa đến luân lý do một chủ trương cải tạo nông nghiệp quá ư lạ lùng và tàn nhẫn. Vì đó là cuộc tàn sát trực tiếp lẫn gián tiếp gần nửa triệu nông dân chỉ trong thời gian ngắn mà không phải bằng bom đạn chiến tranh. Vì kết quả có được chỉ là sự suy sụp nông nghiệp, tan hoang làng xóm, đổ vỡ tình người, băng hoại đạo đức, ách nô lệ khoác lên toàn thể nhân dân miền Bắc.
Đến tận hôm nay, nhà cầm quyền cộng sản vẫn tiếp tục tước đoạt quyền tư hữu đất đai của người dân, và các tòa án nhân dân vẫn tiếp tục là công cụ cộng sản dùng để bịt miệng, trói tay, giam thân những ai muốn đòi công lý và sự thật. Thành ra, việc nhìn lại cuộc Cải cách Ruộng đất là một kiểu ôn cố tri tân cần thiết cho mọi người dân Việt. Và cũng là điều cần thiết để đem lại công lý cho những người đã khuất.
Đảng cộng sản dưới sự chỉ đạo của ông Hồ Chí Minh đã thực hiện CCRĐ trong tính toán của mình và theo tinh thần của “đàn anh” Trung Quốc cộng sản (Trung cộng) làm trong “Cải cách văn hóa”.
Điều này cũng không có gì quá ngạc nhiên vì trong các chế độ cộng sản, bản chất của Cải cách Ruộng đất là đảo lộn toàn bộ tổ chức xã hội bằng cách phế bỏ quyền tư hữu đối với tất cả ruộng, đất, vườn, ao, hoa màu, trâu bò và dụng cụ sản xuất như cày, bừa, cuốc, xẻng v.v…
Thực chất vấn đề là nó biến cuộc nổi dậy theo cách gọi của Việt Minh thành một cuộc trả thù đẫm máu. Nó không khác gì một cuộc diệt chủng áp dụng lên chính đồng bào của mình.
Chiến dịch CCRĐ xảy ra vào giai đoạn mà đảng Cộng sản Việt Nam đã củng cố được địa vị lãnh đạo và quyền lực. Sau khi cướp được chính quyền vào năm 1945, đảng cộng sản đã tiêu diệt các lực lượng và đảng phái quốc gia cũng như dân tộc khác từ năm 1946. Trong giai đoạn từ 1946 đến 1950, đảng cộng sản Việt Nam bị tách biệt với phong trào cộng sản Quốc tế, không thể nhận sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc và vì còn yếu nên còn cần sự hợp tác của các thành phần không Cộng sản trong hàng ngũ Việt Minh. Khi đảng cộng sản Trung Quốc chiếm được chính quyền tại Trung Quốc tháng 10-1949, biên giới Việt Nam–Trung Hoa thông thương được.
Cộng sản Việt Nam được Trung cộng viện trợ vũ khí, huấn luyện cán bộ. Lúc đó đảng cộng sản cũng đã nắm vững tình hình trong nước nên có thể thi hành biện pháp có tính cách Cộng sản mà trước đây đảng cộng sản chưa thể làm vì chưa đủ sức chống đỡ với sự phản đối của quần chúng và các tổ chức không theo cộng sản.
Chiến dịch Cải cách Ruộng đất và một số các chiến dịch thuộc vào giai đoạn hai trong sách lược cách mạng vô sản của đảng Cộng sản: giai đoạn đầu là Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân, giai đoạn hai là giai đoạn Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa. Chỉ từ giai đoạn hai trở đi thì các đặc tính của cộng sản mới lộ ra. Đây là chiêu lừa đảo rất tinh vi của cộng sản. Họ lợi dụng cách mạng dân tộc để lừa bịp nhân dân chiến đấu, đóng góp cho chế độ độc tài kéo dài đến ngày hôm nay.
Tại văn kiện đại hội đảng để thực hiện việc cải cách ruộng đất (Nhà xuất bản chính trị đảng cộng sản Việt Nam- trang 5) có đánh giá:
“…Việc đấu tranh giai cấp giữa địa chủ và nông dân đã được đặt ra ngay từ khi thành lập Đảng. Đây là vấn đề bức thiết cần phải thực hiện trong thời gian tới đây. Chúng ta nhận thấy rằng từ có từ 90% đến 95% dân chúng Việt Nam là nông dân, và trong số này thì chỉ có khoảng 5% là địa chủ phú nông, còn đa số đều là người làm thuê, làm mướn, tá canh, tá điền. Do đó, chúng ta muốn làm cách mạng xã hội phải lôi cuốn được khối đa số đó, phải thỏa mãn khối đa số đó bằng quyền lợi để tiến hành cách mạng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội…
Như vậy, qua đây có thể thấy đảng cộng sản chỉ muốn lợi dụng số đông nông dân có dân trí kém để thúc đẩy một cuộc cướp bóc, trả thù đẫm máu với giai cấp trí thức hơn. Họ nhằm hai mục tiêu:
(1) Đạt được ý nguyện cướp bóc, trả thù;
(2) lợi dụng đó làm bàn đạp cho chế độ đảng trị khi trói buộc lợi ích của nông dân vào thòng lọng giăng sẵn.
Tất cả các văn bản, công văn về CCRĐ có trong cuốn: Tập hợp văn kiện văn bản của đảng trước 1975 (Nhà xuất bản văn hóa- của đảng cộng sản) và một số lưu tại thư viện quốc gia Việt Nam. Đây là các tài liệu của đảng cộng sản, được đảng cộng sản công khai. Quý vị có thể kiểm chứng. Hoặc có thể truy cập vào:
sẽ có đầy đủ các văn bản tại phần trên (Website này là thư viện pháp luật của bộ tư pháp Việt Nam).
của bộ tư pháp chính phủ CHXHCNVN lưu trữ.
1. Tiến hành:
Từ 1949 đến 1956, Việt Minh Cộng sản mở năm đợt Cải cách Ruộng đất (CCRĐ). Sau mỗi đợt, Việt Minh tổ chức hội nghị rút ưu khuyết điểm, để rồi tiến hành tiếp đợt khác. Trong hai đợt đầu (1949 và 1950), Việt Minh thực hiện cải CCRĐ nhẹ nhàng để phục vụ nhu cầu lương thực, nuôi quân trong hoàn cảnh chiến tranh.
Năm 1949, Mao Trạch Đông và đảng Cộng sản chiếm được lục địa Trung Hoa, thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trung cộng thừa nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Hồ Chí Minh ngày 18-1-1950. Tiếp theo, Liên Xô thừa nhận ngày 30-1-1950. Tháng 2-1950, Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh và Moscow xin viện trợ. Khi gặp Hồ Chí Minh, Stalin ra lệnh cho Hồ Chí Minh phải thực hiện ngay hai việc: thứ nhất tái công khai đảng Cộng sản và thứ hai đẩy mạnh CCRĐ theo đường lối Cộng sản. Stalin chỉ đạo cho Hồ Chí Minh phải cử người sang Trung cộng học tập phương pháp CCRĐ triệt để, vì lúc đó mối liên hệ Xô-Trung còn bình thường và vì Việt Nam nằm sát biên giới Trung cộng. (Links:http://tennguoidepnhat.net/2012/04/06/về-chuyến-tham-bi-mật-lien-xo-va-trung-quốc-nam-1950/) Đây là trang web của ban tuyên giáo Trung ương đảng cộng sản Việt Nam.
Sau khi về nước, Hồ Chí Minh liền triệu tập Đại hội lần 2 đảng Cộng sản Đông Dương tại chiến khu rừng núi Tuyên Quang, tái công khai đảng Cộng sản dưới danh xưng mới là đảng Lao động ngày 19-2-1951, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Trường Chinh làm tổng bí thư. Trong Đại hội nầy, Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Về lý luận, đảng Lao động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin… lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam… Tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác-Lênin”. (Trích Hồ Chí Minh toàn tập-Sách của đảng cộng sản Việt Nam). Chẳng những thế, cũng trong Đại hội này, Hồ Chí Minh còn nhiều lần tuyên bố: “Ai có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được”. (Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào Cộng sản quốc tế, 2001, tr. 63.)
Để tiến hành CCRĐ, sau Đại hội 2, Việt Minh cử người sang Trung cộng tham dự khóa học tập về chủ nghĩa Mác-Lênin tổ chức tại Bắc Kinh cho các đảng Cộng sản các nước Á Châu như Indonesia, Mã Lai, Thái Lan, Pakistan, Philipin, Nhật Bản, chính là để học phương thức CCRĐ theo đường lối Trung cộng. Phái đoàn nầy trở về liền được đảng LĐ gởi tổ chức thí điểm CCRĐ, bắt đầu phát động “giảm tô, giảm tức” ở vài tỉnh Việt Bắc và ở Thanh Hóa.
Các thành phần theo quy định của Việt Minh cộng sản. Đối với các thành phần nông nghiệp, VM ra sắc lệnh vào tháng 3-1953 ấn định các thành phần xã hội ở nông thôn như sau (Bernard Fall, sđd. tr. 283):
Địa chủ: là những người có nhiều ruộng đất mà không trực tiếp canh tác. Địa chủ được chia thành ba hạng: địa chủ thường (có khoảng dưới 5 mẫu ta, đủ ăn, không phạm tội ác ôn dưới thời Pháp thuộc), địa chủ cường hào ác bá (những người hiếp đáp, ngược đãi bần nông và bần cố nông), địa chủ phản động (quan lại phong kiến, Việt Quốc, Đại Việt, hay thân Pháp).
Phú nông: có khoảng 3 mẫu ta đất, có một con trâu, tự đứng ra canh tác và thuê nông dân trong việc canh tác.
Trung nông: có dưới 3 mẫu ta, trực canh, đủ sống. Trung nông chia thành 2 loại: trung nông cấp cao (có dưới 3 mẫu ta, có một con trâu hay bò), và trung nông cấp thấp (có dưới 1 mẫu ta ruộng).
Bần nông: có ít sào đất, không đủ sống, phải đi làm thuê cho địa chủ hay thuê đất của địa chủ rồi trả địa tô.
Bần cố nông: hoàn toàn không có đất, không có gia súc, không có nông cụ, làm thuê đủ thứ nghề để sống. (Lâm Thanh Liêm, bđd. sđd. tt. 187-188).
Đường lối đấu tranh CCRĐ là: dựa vào bần cố nông, lôi kéo (tranh thủ) trung nông, cô lập phú nông, và tập trung mũi nhọn vào địa chủ. (Trích trong hồ sơ của hội đồng CCRĐ- thư viện pháp luật Việt Nam).
Khích động khát máu – “Thà chết mười người oan còn hơn để sót một địch”: Để khích động nông dân hưởng ứng cuộc CCRĐ, ban cải cách phải theo đúng ba giai đoạn đề ra do sắc lệnh ngày 12-4-1953 như sau:
Thứ nhất: kích động tâm lý quần chúng chống lại các địa chủ bằng cách đưa cán bộ về thực hiện “tam cùng” hay “tam đồng” với bần nông, để “thăm nghèo hỏi khổ” và sau đó “bắt rễ, xâu chuỗi”.
Thứ hai: Sau khi len lỏi “bắt rễ xâu chuỗi”, và nhờ thông tin của rễ chuỗi nầy, nắm vững tình hình các gia đình trong địa bàn hoạt động, cán bộ bắt đầu đánh giá và xác định lại các thành phần xã hội đã được Ủy ban hành chánh địa phương sắp xếp theo Sắc lệnh tháng 3-1953 nêu trên. Từ đó, đội công tác mới quyết định các đối tượng sẽ bị đấu tố. Đây là cơ hội giải quyết những ân oán đã có từ trước ở trong làng, ví dụ rút địa chủ xuống hàng phú nông cho nhẹ tội, hay ngược lại đưa phú nông lên hàng địa chủ cho nặng tội.
Thứ ba: Thiết lập tòa án nhân dân để xét xử những “kẻ có tội với nhân dân”. Để việc xét xử đạt kết quả đúng yêu cầu của đảng LĐ, các bần nông được tổ chức chặt chẽ và sửa soạn kỹ càng để họ chủ động đấu tố.
Trong năm 1953, mọi việc đã chuẩn bị đầy đủ để tiến hành CCRĐ, nhưng vào đầu năm 1954, chiến tranh đến hồi khốc liệt và sắp kết thúc, chính phủ Việt Minh bận giải quyết chiến trường, vận động ngoại giao, rồi ký kết Hiệp định Genève nên cuộc CCRĐ tạm đình hoãn vì sợ tiếng vang lan truyền khắp nơi, khiến dân chúng lo sợ bỏ di cư vào Nam. Việt Minh chỉ đình hoãn CCRĐ chứ không bãi bỏ.
Sau Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, đảng Lao Động cai trị phía bắc vĩ tuyến 17 (bắc sông Bến Hải, Quảng Trị). Ổn định xong tình hình, đảng Lao động mở lại cuộc CCRĐ giai đoạn 5. Lần này việc tổ chức có quy củ rõ ràng, do Ủy ban CCRĐ đứng đầu.
Ủy ban cải cách: gồm hai cấp trung ương và địa phương.
 
Cấp trung ương: do Tổng bí thư đảng Lao động là Trường Chinh – Đặng Xuân Khu làm chủ tịch, có ba người phụ tá là Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương (đều là ủy viên Bộ chính trị) và Hồ Viết Thắng (ủy viên Trung ương đảng). Hồ Viết Thắng giữ chức giám đốc, trực tiếp điều hành cuộc Cải cách theo mệnh lệnh của Trường Chinh. Hồ Viết Thắng đã từng đi học ở Trung cộng, được Trường Chinh giao nhiệm vụ mở “Trung tâm đào tạo cán bộ Cải cách Ruộng đất” tại chiến khu Cao Bắc Lạng.
Cấp tỉnh: Hồ Viết Thắng bổ nhiệm những người đã được đào tạo về các tỉnh tổ chức các đoàn CCRĐ. Trung bình mỗi tỉnh có 10 đoàn, mỗi đoàn có khoảng 100 cán bộ do một đoàn trưởng đứng đầu, quyền hạn tương đương với một bí thư đảng cấp tỉnh, nhận lệnh trực tiếp từ Ban cải cách trung ương, không qua trung gian hệ thống đảng hay chính quyền địa phương. Mỗi đoàn gồm nhiều đội, mỗi đội có khoảng 6 hay 7 cán bộ. Đội trưởng được chọn trong số bần nông hay bần cố nông, nhất là những người đã từng có kinh nghiệm tham gia các CCRĐ trước đây. Các đội có quyền hạn tuyệt đối, nhận lệnh thẳng từ Ủy ban CCRĐ, đúng như câu tục ngữ lúc đó“nhất đội nhì trời”, được quân đội bảo vệ để thi hành công tác, và được nhà cầm quyền địa phương cung cấp đầy đủ tài liệu theo chính sách của đảng và nhà nước. (Lâm Thanh Liêm, sđd., bđd. tt. 184-185).
Nguyên tắc hành động căn bản của các Ủy ban CCRĐ là câu khẩu hiệu: “Thà chết mười người oan còn hơn để sót một địch” (trích trong hồ sơ của hội đồng CCRĐ – thư viện pháp luật Việt Nam). Chính câu khẩu hiệu nầy đã đưa đến việc giết hại tràn lan biết bao nhiêu lương dân vô tội.
Câu khẩu hiệu này xuất hiện trong bài diễn văn của luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Theo bài diễn văn luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc tại cuộc họp Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội ngày 30 tháng Mười 1956, cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện với phương châm “thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch”. Phương châm này đi ngược lại với quy tắc cơ bản của pháp luật, trong trường hợp này là “thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan”. Cụ thể các quy tắc pháp lý đã bị xâm phạm là:
Không xử phạt các tội đã phạm quá lâu đến hiện tại mới điều tra ra. Trách nhiệm của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân chịu, không quy kết cho vợ con, gia đình. Muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị can. Bị can có quyền nhờ luật sư bào chữa. Phải tôn trọng bị can trong quá trình truy tố và xét xử; khi bị can ra trước tòa không được xiềng xích và không được dùng nhục hình.
Đoàn và đội công tác phóng tay phát động quần chúng đấu tranh CCRĐ hoạt động theo kiểu khủng bố: Bí mật đến một địa phương nào đó, bí mật hành động… và gieo rắc tai ương khủng khiếp cho địa phương. Không những chỉ địa chủ, phú nông sợ hãi mà toàn thể dân chúng và cả các cấp chính quyền cũng như quân đội địa phương đều sợ hãi, vì bất cứ ai cũng có thể bị dính tên vào sổ đấu tố mà không ai có thể đoán lường trước hậu quả.
Tòa án nhân dânSắc lệnh năm 1953 cũng như Sắc lệnh năm 1955 đều thiết lập tòa án nhân dân để xét xử những tội phạm trong CCRĐ. Tòa án nầy được tổ chức ở những vùng có cải cách, chánh án là một đội viên trong đội cải cách, biện lý (công tố) là một nông dân hay bần nông đã từng làm việc (gia nhân, tá điền…) trong nhà của bị cáo, biết rõ lý lịch khổ chủ. Các quan tòa nầy chỉ là những kẻ dốt nát, lâu nay thấp kém, bỗng chốc được cất nhắc lên địa vị quan trọng, nên hạch sách trả thù, moi ra hay bịa đặt mọi thứ gọi là thói hư tật xấu của khổ chủ, đặc biệt là tội dâm ô, để đấu tố. Đặc biệt trong tòa án nhân dân không có người đóng vai trò luật sư biện hộ, và cũng chẳng ai dám biện hộ cho bị cáo cả. Quân đội bảo vệ tòa án và những người tham dự đều là những người do cộng sản sắp đặt trước, hò hét khuyến khích người đóng vai “công tố”, bằng cách chửi rủa hoặc tố cáo thêm những “tội ác”.
2. Hậu quả của cải cách ruộng đất:
Cộng sản độc quyền đất đai:
a. Theo nguồn tin từ phía Liên Xô, cuộc Cải cách Ruộng đất đã tịch thu 702.000 mẫu tây ruộng đất, 1.846.000 nông cụ, 107.000 trâu bò, 22.000 tấn thực phẩm. Tất cả những thứ đó đã được chia lại cho 1.500.000 gia đình nông dân và bần nông. Như thế mỗi gia đình nhận được 0,46 mẫu tây, một nông cụ, và những gia đình 13 người mới nhận được một con trâu hay bò. Theo tác giả Bernard Fall, một gia đình nông dân bốn người cần có ít nhất 1,5 mẫu tây để bảo đảm đời sống, đó là chưa kể đến thuế nông nghiệp phải đóng hằng năm. (Bernard Fall, sđd. tt. 271, 282).
b. Hoặc tài liệu của đảng cộng sản trích trong cuốn: (Những điều cần nhìn lại sau CCRĐ- NXB Văn hóa- của ĐCSVN): “Cải cách Ruộng đất đã tịch thu của bọn địa chủ và cường hào 760,000 mẫu ruộng đất canh tác, 112,.000 con trâu bò và gia súc, 26,000 tấn thực phẩm, lương thực… Sự phân chia đất đai theo đơn vị gia đình, dựa trên số thành viên thực sự lao động và không dựa trên giới tính.”
Tuy chia đất cho nông dân, nhưng sau cuộc CCRĐ, cộng sản tổ chức những hợp tác xã nông nghiệp, và ép nông dân phải gia nhập hợp tác xã nông nghiệp. Quá khiếp sợ trước cảnh tra tấn trong CCRĐ, không một nông dân nào dám phản đối. Thế là tất cả nông dân phía bắc vĩ tuyến 17 đều phải gia nhập hợp tác xã nông nghiệp. Khi vào hợp tác xã, ruộng đất riêng tư của nông dân đều phải nạp cho hợp tác xã, và trở thành ruộng đất tập thể của hợp tác xã. Thế là chẳng những số đất đã được chia, mà cả đất đai do cha ông để lại, cũng đều bị lọt vào tay hợp tác xã, tức vào tay nhà cầm quyền cộng sản. Toàn thể nông dân nay trở thành vô sản, và nhà cầm quyền cộng sản trở thành chủ nhân ông độc quyền của tất cả ruộng đồng nông thôn. Thật là một tiến trình cướp đất rất hoàn hảo, mà không một nông dân nào dám lên tiếng tố cáo.
Số lượng người bị giết: 
Những địa chủ “Việt gian” hay địa chủ “cường hào ác bá” đều bị tử hình. Trong trường hợp họ đã qua đời trước đó lâu ngày, vợ con họ bị đem ra xét xử và kết quả không khác. Những địa chủ Việt Nam Quốc Dân đảng (Việt Quốc) hay Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (Việt Cách), dầu đã theo Việt Minh tham gia kháng chiến cũng bị tử hình. Những địa chủ các đảng bù nhìn của chế độ Hà Nội như đảng Dân chủ, đảng Xã hội cũng chịu y số phận.
Khi bị tử hình, bản án tử hình được thi hành ngay tại chỗ bằng nhiều cách: bị bắn, bị trấn nước chết, bị phơi nắng (không được ăn uống), hoặc bị đánh đập cho đến chết. Nhiều khi nạn nhân qua đời, thân nhân không được cho phép chôn cất, xác bị để phơi nắng mưa. Gia đình quá đau lòng, phải hối lộ các chức việc, rồi ban đêm đến ăn cắp xác đem đi chôn.
a. Dựa vào tài liệu các nước ngoài, giáo sư Lâm Thanh Liêm, cho rằng số người bị giết trong cuộc CCRĐ năm 1955-1956 ở Bắc Việt có thể lên đến từ 120.000 đến 200.000 người. (Lâm Thanh Liêm, bđd., sđd. tt. 203-204).
b. Theo sách Lịch sử Kinh tế Việt Nam 1945-2000 tập 2, viết về giai đoạn 1955-1975, xuất bản tại Hà Nội năm 2004 (tài liệu mới của nhà nước cộng sản Việt Nam) cho biết cuộc CCRĐ đợt 5 (1955-1956) được thực hiện ở 3.563 xã, có khoảng 10 triệu dân, và tổng số người bị sát hại trong CCRĐ đợt nầy lên đến 172.008 người, trong đó có 123.266 người (71,66%) sau này được xác nhận đã bị giết oan.
c. Trong chiến dịch CCRĐ giết người có chỉ tiêu rõ ràng, cái chỉ tiêu ác độc ấy phải giết địa chủ ở mỗi xã cho đủ 5% dân số hoặc nhiều hơn càng tốt, càng được khen thưởng. Theo nhà văn Tô Hoài: “Thế mà vượt hết, thắng lợi lớn, toàn đoàn truy được hơn năm trăm địa chủ lọt lưới, đến bước ba đưa tỷ lệ 5% lên 7,24% đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ về chính trị cũng như về kinh tế”. (Ba người khác – trang 206)
d. Nhà văn Trần Mạnh Hảo, rất bức xúc với cái tỷ lệ giết người trong chiến dịch CCRĐ ở làng của ông cao hơn các nơi khác: “Làng tôi là làng công giáo Bùi Chu Phát Diệm, là làng tề, làng bị gọi là ác ôn, nên chỉ tiêu địa chủ trên giao nặng nhất: phải bắt cho được 15% địa chủ là Bình Hải Đoài. Nghĩa là cứ 100 người dân thì phải nộp cho bác và đảng 15 tên địa chủ”. (Thời Luận ngày 1-4-2006)
Chính vì các đội cải cách thi đua lập thành tích cho nên con số người dân vô tội đã bị giết một cách dã man đưa con số lên đến hàng trăm ngàn:
e. “Ông Bùi Tín, một người bất đồng quan điểm với chính phủ Việt nam cũng nêu lên con số nạn nhân là 500.000 người do Michel Tauriac, nhà văn người Pháp đưa ra. Bùi Tín cho rằng con số nầy cũng hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử” (Wikipedia tiếng Việt online ngày 19-5-2006).
f. “Một ý kiến cực đoan là của Hoàng Văn Chí, người tin rằng 5% dân số miền Bắc (675.000 người đã chết). Cuốn sách From Colonialism to Communism của ông nầy đã có tác động mạnh đến cuộc tranh luận về vấn đề con số” (BBC online ngày 28-12-2006).
d. Các con số có thể kiểm chứng thêm tại links sau:
g. Năm 1956 cũng là năm mà ông Hồ Chí Minh và đảng Lao động công khai lên tiếng nhận sai sót trong quá trình thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, rồi thực hiện một số biện pháp kỷ luật và tiến hành sửa sai. Bản thống kê chính thức cho biết là trong số 172.008 người bị quy là địa chủ và phú nông trong cải cách ruộng đất thì 123.266 người bị quy sai, tức là bị oan. Tính theo tỷ lệ là 71,66%. Có lẽ chưa bao giờ và ở đâu tỷ lệ giữa số bị oan và nạn nhân lại cao đến như thế.
Hay như trong cuốn Ownership Regimes in Vietnam có đoạn nêu lên con số người chết là:165.230 người bị bắt oan sai và có khoảng 70% trong số này bị giết hại bằng tử hình tại chỗ hoặc chết trong ngục tù.
Nền nông nghiệp bị suy sụp: 
Thông thường, nhà cầm quyền tổ chức CCRĐ nhắm giải quyết những sai lầm của nền nông nghiệp cũ, giúp nông gia tăng gia sản lượng nông nghiệp, thăng tiến đời sống dân chúng. Nhưng cuộc CCRĐ của Cộng sản chấm dứt năm 1956 lại đi đến kết quả ngược lại: đời sống nông dân tụt hậu, sản lượng giảm xuống rõ rệt. Lý do vì trong các giai đoạn đầu của cuộc Cải cách, đất đai bị chia thành nhiều mảnh nhỏ. Nông dân mới nhận đất chưa có kinh nghiệm tổ chức sản xuất, thiếu tài chánh để mua trâu bò dụng cụ, phân bón để cày cấy. Sau đó, vào cuối giai đoạn 5, việc suy sụp kéo dài nhiều năm vì nhà nước cộng sản đưa ra kế hoạch hợp tác lao động, tổ chức hợp tác xã nông nghiệp và những nông trường quốc doanh tập thể từ khoảng năm 1957, 1958. (Bernard Fall, sđd. tt. 284-287).
Đảo lộn luân lý xã hội, tiêu diệt tình người:
Chiến dịch CCRĐ của cộng sản đã khủng bố tinh thần dân chúng, làm cho mọi người sợ hãi khép mình vào kỷ luật cai trị cộng sản, và nhất là đánh tan nề nếp xã hội cũ, làm sụp đổ nền tảng luân lý cổ truyền của dân tộc, tiêu diệt tận gốc rễ tình cảm giữa người với người. Trong khi quyết tâm thực hiện phương châm “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn” (nghĩa là tiêu diệt từ trên xuống dưới bốn thành phần trí thức, phú thương, địa chủ, cường hào), cộng sản đã khuyến khích, ép buộc, đe dọa mọi người tố cáo, đấu tố lẫn nhau, dù đó là cha mẹ, vợ chồng, con cái. Do đó, chẳng những đã xảy ra cảnh đấu tố giữa người với người ngoài xã hội, mà trong gia đình cũng xảy ra cảnh đấu tố với nhau giữa cha mẹ, con cái, vợ chồng, và anh chị em.
Những hình ảnh đấu tố do nhiếp ảnh gia Liên Xô 
Dmitri Baltermants (1912-1990) chụp tại Việt Nam 1955.
a. Nhạc sĩ Trịnh Hưng, hiện đang ở bên Pháp, là người bạn thân vừa về thăm thi sĩ Hữu Loan và kể lại câu chuyện có liên quan đến tác giả bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim như sau:
“Ông ấy kể tôi nghe là: Lúc ấy, ông ấy là trưởng Ban Tuyên huấn của Đoàn 304, do tướng Nguyễn Sơn phụ trách, quân đội thì đói khổ lắm, chỉ có ăn khoai, ăn sắn, không có gạo mà ăn… Ông địa chủ đó thì giàu, tháng nào cũng đem gạo đến, để nuôi quân cho… Chính tướng Nguyễn Sơn tháng nào cũng làm lễ vinh danh cho ông ta, ban thưởng huân chương.
 
“Năm 1953, bị đấu tố, lan đến Thanh Hóa, ông bà địa chủ ấy bị giết chết. Nhà thì chỉ có một cô con gái thôi. Nó cấm tất cả mọi người, con trai, hay con gái, không được kết hôn với con nhà địa chủ, không được nuôi con nhà địa chủ.
 
“Ông ấy (nhà thơ Hữu Loan) thấy bực quá, mới bỏ về làng, đi qua làng ấy, ông ghé vào thăm, ông biết rằng ông bà cụ bị giết rồi, cô con gái không ai nuôi cả, cô ấy phải đi mót sắn, mót khoai ở ngoài đồng, ăn sống, để sống thôi, quần áo rách rưới bẩn thỉu lắm, ngủ ở đường, ở đình làng, ông thấy thế, thương hại và đem về nhà nuôi… và bây giờ là vợ ông ấy!” (RFA online ngày 19-5-2006)
b. Nhà văn Trần Mạnh Hảo, người bị đuổi ra khỏi đảng CSVN năm 1989 và đuổi khỏi biên chế nhà nước viết cuốn “Ly thân” có bài “Độc quyền chân lý là thủ tiêu chân lý”, đoạn ông viết về CCRĐ:
“Ông đội (tên gọi cán bộ CCRĐ từ trung ương phái về) từ trên bàn xử án xông tới sát ông Luân bị trói, bị chôn chân tới đầu gối trong chiếc “hố đấu tố”, đoạn hét: “mày có hô CCRĐ muôn năm không?” Ông Luân trợn mắt, đôi mắt sưng tấy, lòi cả con ngươi ra…
 
“Sau đó, ông đội lên bàn xử án, tuyên bố thay mặt đảng và bác vĩ đại, tuyên án xử tử hình gián điệp Quốc Dân đảng Luân, lệnh du kích xã lên đạn rốp rốp thị uy; đoạn trói nghiến ông Luân vào cọc bắn trên ruộng cạn mùa đông đang rét…
 
“Ông Luân bị bắn bằng bốn cây súng trường. Bốn phát đạn cùng lúc đều trúng vào ngực ông Luân phụt máu, khiến ông gục xuống liền, cái giẻ nhét miệng ông bị máu trào ra, rơi bịch xuống như một cục máu đông, hay một mảnh phổi vở tràn ra ngoài”. (Thời Luận ngày 1-4-2006)
c. Dưới đây là chuyện của cựu trung tá QĐND Trần Anh Kim, hiện đang ngồi tù 5 năm rưởi về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đã trả lời phỏng vấn của Việt Hùng, phóng viên đài RFA kể về hoàn cảnh của gia đình ông bị xử một cách dã man trong chiến dịch CCRĐ như sau:
“Đến CCRĐ, sau năm 1954 giải phóng, sau đó giảm tô, đến CCRĐ thì người ta quy cho ông tôi là địa chủ, và quy cho bố tôi là QD đảng. Bố tôi là Phó bí thư QD đảng và bác tôi là Bí thư QD đảng. Bác tôi bị bắn luôn, ông ấy nhận thì bị bắn luôn. Còn bố tôi thì kiên quyết không nhận. Không nhận thì người ta tra tấn, người ta thắt hai dây thừng vào hai ngón chân cái rồi người ta kéo lên sàn nhà, bố tôi đau quá, kêu khóc xin thả xuống. Kêu khóc quá to thì người ta, lấy rơm, lấy rạ nhét vào mồm…
 
“Địa chủ ngày đó là địa chủ “phân” anh ạ. Thí dụ mỗi thôn là mấy địa chủ thì cứ thế mà người ta đưa lên thôi. Cuối cùng cũng bị tù không án hai năm. Mà khốn nạn hơn thời tôi đi tù nhiều. Tức là tay thì trói cánh khuỷu ra đàng sau, chân thì cùm, quần áo thì chẳng có mặc, cứ nằm như thế ở dưới sàn chuồng trâu thôi”. (RFA online ngày 19-5-2006)
d. Để cổ vũ cho phong trào diệt chủng “Thà sai hơn bỏ sót”, cộng thêm với việc “Thi đua lập thành tích chống phong kiến” đã gây tình trạng “kích thành phần”,“nống thành tích”,cố tìm ra nhiều địa chủ, phản động, xử tử nhiều ác bá… để có được bằng khen, huân chương, để ngoi lên địa vị cao hơn… hai nhà thơ cộng sản lúc bấy giờ thi nhau làm thơ cổ động chiến dịch một cách hiếu sát như sau:
1- Tố Hữu:
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghĩ
 Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong
 Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
 Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin… bất diệt”
 (Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 37)
2- Xuân Diệu: 
“Anh em ơi! quyết chung lòng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tư thù
Địa hào đối lập ra tro
Lưng chừng, phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi”.
(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 38)
Lời kể của người trong cuộc:
a. Ông Nguyễn Minh Cần, một người từng là phó Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội và trực tiếp tham gia chiến dịch sửa sai cũng phân tích về những hậu quả của cuộc CCRĐ. Trong cuộc phỏng vấn BTV đài Á Châu tự do – Nguyễn An và ông Nguyễn Minh Cần sau đây:
Nguyễn An: Thưa ông, bây giờ trở lại cuộc CCRĐ cách đây 50 năm. Theo ông thì cuộc CCRĐ đó để lại những hậu quả gì, di hại gì? 
Ông Nguyễn Minh Cần: Cái CCRĐ ở miền Bắc Việt Nam để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng về rất nhiều mặt.
Nguyễn An: Xin Ông vui lòng phân tách từng điểm một!
Ông Nguyễn Minh Cần: Điểm thứ nhất: Đây là một cuộc tàn sát dân lành một cách vô tội vạ. Nếu nói theo từ ngữ hiện nay thì phải nói đây là một cuộc diệt chủng vì kỳ thị giai cấp. Bỗng dưng lập ra lệnh CCRĐ, đưa những đoàn người về và tha hồ qui người ta lên là địa chủ.
Trên 172.000 người là nạn nhân. Tôi còn phải nói đến số người mà người ta oan ức quá, bực bội quá, người ta tự tử. Số đó cũng không phải là ít. Theo tôi, hậu quả đó rất lớn, nó gây ra một tâm trạng sợ sệt, khủng khiếp của người dân.
Hậu quả thứ hai là phá hoại truyền thống hòa hiếu của nông thôn, là vì từ trước ai nói dù rằng có thể có bóc lột, có thể có gì đấy với nhau, nhưng người nông dân sống với nhau là lá lành đùm lá rách, rất hòa hiếu với nhau.
Cuộc CCRĐ về xúi người này bới móc tội lỗi của người kia, và có thể những tội hoàn toàn không có cũng bới ra. Và dựa vào những thù cũ rồi gây ra thù hận giữa các tầng lớp với nhau. Chính cái đó nó phá hoại truyền thống đoàn kết lâu đời của người VN mình ở nông thôn.
Nguyễn An: Thưa ông, có phải ông muốn nói rằng cuộc CCRĐ đặt trên cơ sở là gây sự căm thù để phát động quần chúng, và sau đó sự căm thù đó lớn rộng và nó tiếp tục còn lại sau khi cuộc CCRĐ đã chấm dứt không? 
Ông Nguyễn Minh Cần: Đúng như vậy.
Nguyễn An: Thưa điểm thứ ba là gì? 
Ông Nguyễn Minh Cần: Hậu quả thứ ba là phá hoại đạo lý luân thường của dân tộc. Từ xưa đến nay cha đối với con, mẹ đối với con, vợ chồng đối với nhau, họ hàng cha chú đối với nhau đều có một luân thường đạo lý. Nhưng CCRĐ về xúi giục con tố cha, vợ tố chồng, nàng dâu tố mẹ chồng, bố chồng v.v… đấu đá lẫn nhau như vậy.
Nguyễn An: Và gọi mày tao mi tớ hết? 
 
Ông Nguyễn Minh Cần: Vâng. Như vậy, luân thường đạo lý tan hoang.
Nguyễn An: Thưa ông, theo ông thì những cái mà phá hoại nền tảng luân lý đạo đức, rồi sự hòa hiếu ở trong nông thôn đó cách đây 50 năm thì được khai thác tối đa để hoàn thành cuộc CCRĐ… tinh thần như thế sau bao nhiêu lâu mới phục hồi được? Hay bây giờ nó vẫn còn là những vết thương rỉ máu? 
Ông Nguyễn Minh Cần: Theo tôi, vì cho đến nay chưa có một sự sám hối rõ ràng. Chưa có một tuyên bố rằng chính sách hận thù giai cấp là một chính sách không đúng. Phải nói thật rằng bây giờ thì 50 năm đã qua thì người ta yên như vậy, nhưng lòng hận cũ không phải là đã hết.
Còn một điểm tôi cũng muốn nói nữa là hậu quả thứ tư: Nó phá hủy truyền thống tâm linh và văn hóa của dân tộc. Vì khi làm CCRĐ thì các ông đều có cái ý hướng là tiêu diệt các tôn giáo, chèn ép các tôn giáo, tước đoạt tài sản của các tôn giáo để làm cho các tôn giáo không tồn tại được một cách độc lập.
b. Hỏi chuyện nhà văn Vũ Thư Hiên
(Phóng viên báo CE, 2006 – http://www.doi-thoai.com/vth_vuthuhien13.html)
CE: Vừa qua, một số tổ chức chính trị tại hải ngoại có tổ chức kỷ niệm 50 năm Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam. Thưa nhà văn Vũ Thư Hiên, ông có nghĩ rằng đây cũng lại là một sự ôn nghèo kể khổ theo truyền thống lâu nay của dân tộc ta không ạ?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Bạn nghĩ rằng “ôn nghèo kể khổ” là truyền thống của dân tộc ta ư? Thế thì khổ thật đấy. “Ôn nghèo kể khổ” chỉ là một cách khêu gợi lòng căm thù của quần chúng đối với các giai cấp bóc lột, nói theo cách của cán bộ Cải cách Ruộng đất vào thập niên 50 của thế kỷ trước. Tôi không thấy có “một số” tổ chức chính trị hải ngoại kỷ niệm 50 năm Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam. Tôi biết có một tổ chức làm chuyện đó là Mạng Lưới Dân Chủ, dưới đầu đề “Không quên những nạn nhân Cải cách Ruộng đất”, tại Berlin. Nhưng không nên nghĩ đó là một sự “ôn nghèo kể khổ” tương đương với cái “ôn nghèo kể khổ” từng diễn ra ở nông thôn Việt Nam.
CE: Thưa, vào cái hồi Cải cách Ruộng đất xảy ra ấy, ông đã bao nhiêu tuổi, và ông đang làm gì? Ở đâu?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Hồi ấy tôi mới 20 tuổi. Tôi còn rất ngây thơ về chính trị. Tôi tin thật ở khẩu hiệu “người cày (phải) có ruộng”, nên phải làm Cải cách Ruộng đất. Nghĩa là tôi tin ở sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản. Tôi lúc đó làm nghề quay phim. Tôi làm phụ quay phim cho nhà quay phim Liên Xô Eshurin trong ê-kíp làm phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” (hay “Việt Nam chiến đấu”, theo tên Nga) của đạo diễn Roman Karmen. Đội của Eshurin có trách nhiệm quay một đoạn về Cải cách Ruộng đất tại Thanh Hóa. Cảnh cha con người nông dân kéo cày thay trâu ngày nay được coi như ảnh tư liệu trong các bảo tàng Việt Nam về đời sống nông dân trong thời Pháp thuộc là do tôi chụp chính trong thời kỳ đó, ở gần đầm Rủn, Thanh Hóa. Đó là một cảnh dựng lại để quay phim, không phải cảnh thật. Hồi ấy tôi thành thật tin rằng có thể dựng lại các cảnh cũ để rồi thừa nhận nó là thật, miễn nó giống thật. Cái đó nằm trong quan niệm của cái gọi là hiện thực xã hội chủ nghĩa.
CE: Đã có rất nhiều người nói về khí thế của nhân dân ta trong những ngày Cải cách Ruộng đất… Theo ông, cái hừng hực như lửa ấy ở đâu mà có, tại sao nó duy trì được và sự duy trì ấy được bao nhiêu lâu?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Khí thế hừng hực trong Cải cách Ruộng đất? Tôi không trực tiếp tham gia cuộc Cải cách Ruộng đất (khi nó diễn ra tôi đang học ở Moskva), tôi không làm chứng được cho cái khí thế ấy. Nhưng tôi tin rằng nó đã có, bằng vào cái mà tôi thấy trong cuộc giảm tô giảm tức đi trước Cải cách Ruộng đất từ năm 1953. Người nông dân được (hay bị) tuyên truyền rằng phải đánh đổ địa chủ cường hào gian ác thì đời sống của họ mới khá hơn, thì họ ào ào theo. Ai chẳng muốn đời sống khá hơn, nhất là trong khi đời sống hiện tại thì lại quá cay cực? Đáng buồn là trong khí thế đi tìm cái đời sống khá hơn người ta quên bẵng nhiều thứ: đạo đức, tình thương yêu giữa con người với con người, quyền con người của người khác… Đảng cộng sản khuyến khích sự quên đó.
CE: Thưa nhà văn Vũ Thư Hiên, ông có được chứng kiến một cuộc đấu tố nào không? Người ta đã tiến hành nó như thế nào vậy?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Tôi được chứng kiến một cuộc đấu tố duy nhất. Đó là cuộc đấu địa chủ Nguyễn Bá Ngọc tại Thanh Hóa. Tôi, với tư cách người quay phim, tôi được có mặt ở mọi chỗ. Kể chuyện người ta tiến hành nó như thế nào thì dài lắm. Tôi nói tóm lại: nó được bố trí chu đáo như một vở tuồng. Những người nông dân được tập đấu (tố cáo tội ác của địa chủ) nhiều ngày trước khi có đấu thật. Đến khi đấu thật thì đấu lưng trước (tức là địa chủ quay lưng lại người đấu), sau mới đấu mặt (mặt đối mặt). Sở dĩ phải làm như thế là vì nhiều khi người đấu nhìn thấy mặt người bị đấu thì không nỡ đấu nữa (cũng là bà con lối xóm với nhau cả!). Đến cả địa chủ cũng được các đạo diễn (ông đội) hướng dẫn tỉ mỉ: phải quỳ thế nào, không được phép ngẩng mặt lên khi nghe những câu không đúng (các ông bà nông dân bao giờ cũng đúng, đảng bao giờ cũng đúng…) Rất phường tuồng. Buồn cười không chịu được. Nhưng chỉ dám cười thầm. Có lẽ ai cũng thấy cái chất buồn cười trong hoàn cảnh rơi nước mắt ấy. Nhiều chuyện thương tâm lắm.
CE: Thưa… Trước, trong và sau cuộc Cải cách Ruộng đất, ông đã có lần nào, lúc nào được tiếp xúc với những nạn nhân của nó, và ông thấy, thái độ, tình cảnh của họ trong từng giai đoạn như thế nào?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Trước hết, tôi xin nói lại điều tôi đã nói nhiều lần: đảng cộng sản cầm quyền ở nước nào cũng rất giỏi sản xuất ra kẻ thù. Trong kháng chiến chống Pháp, khi chưa có viện trợ của Trung Quốc, bộ đội sống nhờ dân, mà chủ yếu là những người nông dân lớp trên, một số sau này được quy thành địa chủ cường hào gian ác. Không có họ, bộ đội không có cái ăn để đánh Pháp. Tôi biết điều đó một cách chắc chắn bởi lúc ấy tôi ở trong bộ đội. Tức là đảng cộng sản đã bịa cho những người nông dân giàu vai trò kẻ thù. Ngay cả trong trường hợp họ giàu có, họ cũng không dĩ nhiên phải chống cách mạng giải phóng dân tộc. Bằng chứng là phần nhiều đảng viên Quốc dân đảng thuộc tầng lớp này. Về sau này những kẻ thù do đảng cộng sản bịa ra rồi có trở thành kẻ thù thật của Đảng thì cũng đáng lắm. Tất nhiên, sau CCRĐ tình cảnh địa chủ (hay những người bị quy là địa chủ) thê thảm lắm. Đến cả con cái họ cũng bị trù dập, không cho đi học, không cho đi làm. Đảng CS thù dai lắm, thù theo sách (chứ người ta lúc ấy có thù gì Đảng đâu), đã thế lại còn hẹp hòi đến tởm lợm. Chẳng cứ con cái địa chủ, con cái tư sản cũng vậy. Con cái những người bị coi là đối tượng cách mạng cũng thế. Trong chuyện này gia đình tôi có kinh nghiệm bản thân. Tốt nhất là đừng có chơi với một Đảng như thế. Đã trót bắt tay nó thì nhớ xem lại tay mình còn mấy ngón.
CE: Người ta bảo, vào những ngày ấy, có thể thấy bóng dáng của các cố vấn Trung Quốc ở khắp mọi nơi… Điều đó có đúng không, thưa ông… Đã có lúc nào ông có dịp được tiếp xúc với một trong những ngài cố vấn đó không? Cảm tưởng của ông về các ngài như thế nào?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Điều đó không đúng. Cố vấn Trung Quốc có ở cấp Trung ương và ở các Đoàn ủy Cải cách ruộng đất. Nhưng họ rất ít lang thang ngoài đường để tìm cà phê. Tôi chưa gặp họ ở khắp mọi nơi như bạn hỏi.
CE: Hình như những người lãnh đạo đảng CSVN thích dùng mấy chữ cải cách, cải tạo… Sau cuộc Cải cách Ruộng đất này, theo từng thời kỳ của cách mạng, họ còn có những cuộc cải tạo tư sản tư thương ở miền Bắc và miền Nam, cải cách giáo dục, cải cách hành chính, cải cách tiền tệ, lương bổng, cải tạo thanh thiếu niên hư hỏng, cải tạo gái mãi dâm, cải tạo bọn chích choác xì ke, ma túy… và đặc biệt là cuộc cải tạo hàng triệu sỹ quan và những người đã phục vụ trong chính quyền Sài Gòn trước 1975, ý kiến ông về vấn đề này như thế nào?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Những người cộng sản Việt Nam chỉ thích chữ cải tạo thôi. Mọi thứ cải tạo: cải tạo tư tưởng, cải tạo tư sản, cải tạo công thương nghiệp, tập trung cải tạo… được tiến hành trong sự chủ động. Còn cải cách thì họ không thích đâu. Họ cho rằng cải cách không có tính chất cách mạng, triệt để, một thứ cải lương. Người ta phải dùng từ cải cách là khi nào muốn giảm nhẹ trọng lượng chính trị của câu nói. Hoặc một cái gì đó chưa đáng để gọi là cải tạo.
CE: Thưa nhà văn Vũ Thư Hiên! Cuộc trao đổi của chúng ta đã hơi dài. Vì thời gian không cho phép, nên xin hỏi ông câu cuối cùng: Xin ông nói một đôi điều tóm lại về bản chất của những cái gọi là cải cách, cải tạo ấy?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Bản chất của cải tạo, cải cách? Nên chăng dùng chữ mục đích? Mọi hành động của Đảng cộng sản bao giờ cũng chỉ nhằm đoạt lấy và giữ cho chặt chính quyền. Bạn thấy đấy: trong bất cứ lĩnh vực nào có nảy sinh mâu thuẫn và đấu tranh thì Đảng cộng sản đặt ngay vấn đề ai thắng ai? Tất nhiên Đảng cộng sản phải thắng.
CE: Xin cảm ơn ông và chúc ông dồi dào sức khỏe.
c. Học giả Hoàng Xuân Hãn nói lên cái nhận định của mình về chiến dịch CCRĐ khi trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê trên đài RFA:
“Cái mất mát lớn bởi sai lầm trong CCRĐ là nó phá vỡ mất cái nông thôn Việt Nam và phá vỡ mất lòng tin. Cái nguy hại của CCRĐ là ở chỗ nó phá vỡ một tế bào quan trọng vào bậc nhất của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là làng quê”. (Người Việt ngày 7-9-2004).
d. Cố thủ tướng CSVN Võ văn Kiệt, người có nhiều trăn trở trong việc làm của mình đã qua, ông cũng nói lên quan điểm của mình về chiến dịch CCRĐ sau khi đã không còn chức vụ gì trong chính phủ:
“Trong các chiến dịch CCRĐ và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế” nhằm khẳng định đại đoàn kết dân tộc là cội nguồn sức mạnh của đất nước.”
e. Ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó thủ tướng chính phủ, người đã từng kể về mật lệnh Z 30 tịch thu nhà hai tầng trở lên hồi sau năm 1975 viết về CCRĐ trong cuốn “Lý luận HCM” ông nói lên cái nhận định của mình về cái chiến dịch này:
“Những sai lầm của CCRĐ đã để lại hậu quả lâu dài cho dân tộc, cho đất nước, là sự hận thù, sự lừa dối, xảo trá, vu khống như: tố điêu, ép cung, bịa chuyện… gây tai họa cho bao gia đình, làm mất đi những truyền thống tốt đẹp về gia đình, họ hàng, làng xóm, mà cha ông ta đã dày công xây dựng hàng nghìn năm…
 
“Những sai lầm trong việc đấu tố không chỉ có trong CCRĐ, mà cũng phổ biến trong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, nhưng cải tạo công thương chỉ làm ở một số thành phố và tiến hành sau CCRĐ nên phần nào giảm bớt sai lầm, khuyết điểm, tác hại của nó cũng chỉ thu hẹp trong một số thành phố”. (Bauxite Việt Nam online ngày 16-11-2010)
 
f. Cụ Nguyễn Văn Trấn, một lão thành cách mạng nổi tiếng của miền Nam trong quyển “Viết cho Mẹ và Quốc hội” cho chúng ta thấy được rõ ràng sự nô lệ của chính phủ Hồ chí Minh trước đế quốc Trung cộng là như thế nào. Họ ngửa tay nhận viện trợ của Trung cộng để đánh Pháp, Mỹ giải phóng dân tộc, nhưng lại tròng vào cổ dân tộc một ách thống trị nguy hiểm hơn, tàn bạo hơn và lâu dài hơn.
“Ác hết sức là cố vấn Trung quốc hiến cho cái kế Phóng tay. Phóng tay! Nói nôm na (theo Nam bộ) là “cứ việc làm mạnh thả cửa”. Và họ dẫn lời vàng ngọc ngụy biện, “à la” Mao Trạch Đông. 
 
“Kiểu uông tất tu quá chỉnh”. Có nghĩa là: muốn uốn khúc cây cong, ắt phải kéo nó quá chiều.
 
“Trời ơi! đảng của tôi đã nghe lời người ngoài, kéo khúc cây cong quá trớn. Nó trở lại giết chết bao vạn sanh linh… 
 
Có lần anh chị em Nam bộ “Đại biểu” tôi đến gặp ông già Tôn mà hỏi, tại sao ổng để cho CCRĐ giết người như vậy?” 
 
“Bác Tôn đang ngồi, nghe tôi hỏi, liền đứng dậy bước ra khỏi ghế, vừa đi và nói: “Đụ mẹ, tao cũng sợ nó, mầy biểu tao còn dám nói cái gì? 
 
“Quả thật, lúc CCRĐ còn nghe theo Chệt mà phóng tay phát động ai mà có ý kiến với nó thì sẽ bị quy là có tư tưởng địa chủ”. (VCMVQH- trang 266-267)
g. Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhà trí thức trẻ lớp hậu sinh góp lời nhận định về công cuộc CCRĐ của HCM khi trả lời phỏng vấn của Duy Ái đài VOA:
“Theo tôi cột mốc rõ nhất cho sự phi dân chủ hóa để trở thành độc tài toàn trị của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một cái tên rất dân chủ, là việc đảng Lao Động VN phát động CCRĐ, được cụ Hồ gọi là cách mạng long trời lở đất”, vào năm 1953. Bao trùm toàn bộ “cách mạng” này là sự tùy tiện của chính phủ cụ Hồ trong việc bắt giữ, hành hạ, bắn giết, tịch thu gia sản đối với hàng trăm nghìn người Việt Nam. Các thủ tục tư pháp thông thường đã có từ thời thực dân Pháp hay các quy định phải tôn trọng pháp luật và quyền con người được ghi trong Hiến pháp 1946 đều không được đếm xỉa trong CCRĐ”.(VOA online ngày 15-9-2010)
3. Ông Hồ Chí Minh – người chỉ đạo CCRĐ:
a. Người viết ra cương lĩnh hành động làm tiền đề cho CCRĐ:
Ông Hồ Chí Minh đã hiểu rất rõ nguyện vọng “người cày có ruộng” của nông dân Việt Nam. Khi còn ở Pháp ông có viết một số bài lên án việc chiếm hữu đất đai của thực dân Pháp và của nhà thờ Công giáo. Trong thời gian hoạt động tại Trung Hoa, ông ta tiếp nhận và để tâm nghiên cứu cách mạng thổ địa tại đây. Nó vừa là một phương tiện đấu tranh giai cấp, vừa để xây dựng chuyên chế vô sản. Trong một lá thư gởi các lãnh đạo Quốc tế Nông dân đề ngày 08/02/1928, ông viết:
“Tôi tranh thủ thời gian viết ‘những ký ức của tôi’ về phong trào nông dân, chủ yếu là phong trào Hải Lục Phong, nơi có các xô-viết nông dân. Người ‘anh hùng’ trong ‘những ký ức của tôi’ chính là đồng chí Bành Bái, cựu Dân ủy nông nghiệp của Xô-viết Quảng Châu và hiện là lãnh tụ của nông dân cách mạng”. (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 265).
Năm 1953 tại Hội nghị nông hội và dân vận toàn quốc, ông lại nhắc đến: “… đồng chí Bành Bái ở Trung quốc, gia đình đồng chí là đại địa chủ, đại phong kiến, nhưng đồng chí ấy đã tổ chức và lãnh đạo nông dân đấu tranh rất quyết liệt chống địa chủ phong kiến” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 357).
Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương (tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam) được thành lập. Cương lĩnh của đảng này là lấy việc chống đế quốc, chống phong kiến và địa chủ, giành ruộng đất về cho nông dân làm sách lược hàng đầu. Sách lược thứ hai của Đảng cộng sản ghi rõ:“Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày và phải dựa vững vào hạng dân cày nghèo, phải hết sức lãnh đạo cho dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 297). Chương trình hành động thì hướng đến việc: “Đảng tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 299). Chúng ta nên nhớ các văn kiện thành lập ĐCS Đông Dương đều do Hồ Chí Minh, đại diện Quốc tế Cộng sản, soạn ra.
Ít tháng sau, ĐCS đã lãnh đạo nông dân nổi dậy ở nhiều nơi, đặc biệt là ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Khẩu hiệu “trí – phú – địa – hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” được dùng làm tiêu đề cho cuộc đấu tranh mới – đấu tranh triệt tiêu giai cấp địa chủ và phong kiến.
Kết luận: Ông Hồ Chí Minh là người chỉ ra đường lối của CCRĐ đẫm máu. Ông ta là người phát biểu và người viết các cương lĩnh hoạt động cho đảng cộng sản. Vậy tội của ông ta có thể xem là chủ mưu. Tuy nhiên để rõ ràng hơn xin quý vị chú ý các điểm sau đây.
b. Những hành động cụ thể: 
Ngày 25/01/1953, tại Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động, ông Hồ Chí Minh chủ tọa, đọc báo cáo đề ra nhiệm vụ phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đấu tranh chống giai cấp địa chủ phong kiến, tiến đến CCRĐ.
Ngày 12/04/1953 Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 150 /SL về Cải Cách Ruộng Đất, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ phản động chia lại cho nông dân nghèo.
Ngày 14/11/1953, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương và Hội nghị toàn quốc của Đảng Lao động đã quyết định tiến hành CCRĐ.
Trong báo cáo trước Quốc hội khóa I kỳ họp lần thứ ba, ông Hồ đã phát biểu “Phương châm của Cải Cách Ruộng Đất là: phóng tay phát động quần chúng nông dân” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509). Hành động kêu gọi “ phóng tay” chính là sự cổ vũ giết người của Hồ Chí Minh.
Cũng trong báo cáo trước Quốc hội này, Hồ Chí Minh đã ra chỉ tiêu: “Giai cấp địa chủ phong kiến không đầy 5 phần trăm dân số, mà chúng và thực dân chiếm hết 7 phần 10 ruộng đất…” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509). Chính chỉ tiêu này đã giết hại không biết bao con người vô tội.
c. Ông Hồ Chí Minh gọi cuộc tắm máu nhân dân là “Chiến thắng”:
Trong hội nghị “Tổng kết thành tích Cải cách nông nghiệp đợt 5”, Hồ Chí Minh đã gởi văn thư đề ngày 1-7-1956 cho đoàn cán bộ CCRĐ, trong đó có đoạn viết:
“Bác thay mặt Đảng và chính phủ gởi lời an ủi gia đình những cán bộ đã hy sinh vì nhiệm vụ, đợt 5 Cải cách Ruộng đất rất gay go, phức tạp. Song nhờ chính sách đúng đắn của Đảng và chính phủ, nhờ nông dân hăng hái đấu tranh nên chính sách Cải cách Ruộng đất đã thu được thắng lợi to lớn… Giai cấp địa chủ đã bị đánh đổ, các tổ chức ở xã đã được trong sạch hơn v. v… và bản thân cán bộ được thử thách, rèn luyện…
 
Trong một lá thư, đề ngày 18/08/1956, gởi đến “đồng bào nông thôn” nhân dịp CCRĐ căn bản đã hoàn thành, Hồ Chí Minh xác định CCRĐ là “một thắng lợi vô cùng to lớn” và “có thắng lợi này là nhờ Đảng và Chính phủ ta có chính sách đúng đắn”. Ông viết tiếp:
“Cải Cách Ruộng Đất là một cuộc đấu tranh giai cấp chống phong kiến, một cuộc cách mạng long trời lở đất, quyết liệt gay go. Lại vì kẻ địch phá hoại điên cuồng; vì một số cán bộ ta chưa nắm vững chính sách, chưa thực đi đúng đường lối quần chúng; vì sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc, cho nên khi CCRĐ đã xảy ra những khuyết điểm sai lầm” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 507).
Riêng việc “kẻ địch phá hoại điên cuồng” đã được ông giải thích như sau: “Như con giun không biết nhảy, khi ta dẫm lên nó, nó cũng giãy trước khi chết. Giai cấp địa chủ cũng thế”. (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 358).
Vài năm sau, nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập ĐCSVN, 06/01/1960, Hồ Chí Minh lại gắn liền cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc CCRĐ, ông tuyên bố:
“Buổi đầu kháng chiến, Đảng vẫn tiếp tục thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức. Nhưng đến lúc kháng chiến đã phát triển mạnh, cần phải bồi dưỡng hơn nữa lực lượng nhân dân, chủ yếu là nông dân thì Đảng đã cương quyết phát động quần chúng Cải Cách Ruộng Đất hoàn thành thực hiện người cày có ruộng. Nhờ chính sách đúng đắn này, lực lượng kháng chiến ngày càng mạnh thêm và đã liên tục thu được nhiều thắng lợi” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, trang 596).
4. Kết luận phần 1: 
Kính thưa quí vị!
Trong sự kiện cải cách ruộng đất này đảng cộng sản Việt Nam và ông Hồ Chí Minh đã vi phạm hiến chương LHQ về nhân quyền cũng như vi phạm tội ác diệt chủng và chống lại loài người.
Nhân dân Việt Nam yêu chuộng tự do và hòa bình luôn mong muốn những tội ác đó cần phải được lên án và làm rõ trước cộng đồng quốc tế.
Phần 2: Vụ án nhân văn giai phẩm: 
1. Giới thiệu về Nhân Văn – Giai Phẩm: 
Nói về Cải cách ruộng đất thì đó là một cuộc thảm sát với phú nông, địa chủ… trong đó có phần lớn là oan sai. Nhưng nhắc đến Nhân văn Giai phẩm lại là câu chuyện khác. Lần này đến trí thức cũng bị tiêu diệt. Lý do rất đơn giản cho sự tiêu diệt đó là họ dám viết, dám nghĩ đúng với những gì họ nhận thấy được từ xã hội thối nát của cộng sản. Họ cần nghệ thuật gắn liền với tư tưởng tự do, dân chủ nhưng… đó là cái gai trong mắt cộng sản.
Phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm là phong trào được cho là có xu hướng chính trị, đòi tự do dân chủ của một số văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt vào tháng 6 năm 1958.
Phong trào này có một tờ báo cho mình với tên gọi Nhân Văn, đây là một tờ báo chuyên về văn hóa, xã hội, có trụ sở tại 27 Hàng Khay, Hà Nội. Đứng đầu tờ báo là ông Phan Khôi làm chủ nhiệm và ông Trần Duy làm thư kí tòa soạn. Ngoài ra nó còn cùng với tạp chí Giai Phẩm, hình thành nên nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm (NVGP).
Mục tiêu hoạt động của nhóm NVGP là giúp cho sự tự do suy nghĩ, tự do trong sáng tác của các văn nghệ sĩ. Họ muốn hướng tới một quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật thực sự. Nghệ thuật theo tiêu chí của nhóm này phải tách khỏi chủ trương tô hồng cách mạng giả dối của văn nô cộng sản. Xin nêu ra đây một số ví dụ nhỏ để thấy chủ trương hết sức hợp lý của nhóm NVGP trong vấn đề trung thực, dân chủ trong xã hội VNDCCH lúc đó.
Trong tạp chí Giai phẩm Mùa xuân được ấn hành tháng giêng năm 1956, do nhà thơ Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương, về sau bị tịch thu, có bài “Nhất định thắng” của nhà thơ Trần Dần, miêu tả hoàn cảnh đời sống miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong những ngày đầu đất nước chia cắt, tác giả bài thơ bị qui kết chống phá, bôi đen chế độ, với những câu thơ nổi tiếng:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ…
Nhân văn số 3 ra ngày 15 tháng 10 đăng bài của ông Trần Đức Thảo về mở rộng dân chủ, phát triển phê bình trong nhân dân. Trần Duy cũng góp tiếng nói đấu tranh cho tự do dân chủ trongNhân văn số 4 ra ngày 5 tháng 11 năm 1956. Trong số cuối cùng, Nhân văn số 5, ông Nguyễn Hữu Đang nhận xét về những điều bảo đảm tự do dân chủ trong Hiến pháp Việt Nam 1946 và so sánh với tình hình thực tế lúc bấy giờ.
Ngày 15 tháng 12 năm 1956, Ủy ban hành chính Hà Nội ra thông báo đóng cửa báo Nhân Văn. Số 6 không được in và phát hành. Tổng cộng Nhân Văn ra được 5 số báo và Giai Phẩm ra được 4 số báo (Tháng Ba, Tháng Tư, Tháng Mười và Tháng Chạp 1956) trước khi phải ngừng xuất bản.
Sau đó, hầu hết các văn nghệ sĩ tham gia phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm bị đưa đi học tập cải tạo về tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Một số bị treo bút một thời gian dài: Lê Đạt, Trần Dần, số khác không tiếp tục con đường sự nghiệp văn chương, thậm chí có người bị giam giữ trong một thời gian dài và tiếp tục bị giám sát trong nhiều năm sau khi mãn tù như trường hợp ông Nguyễn Hữu Đang. Dư luận chung thường gọi đây là Vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm.
Trong số này đa phần là những nghệ sĩ nổi tiếng, là tinh túy của nền văn học nghệ thuật nước nhà. Họ thực sự là những tri thức đáng kính với những tư tưởng tự do, dân chủ nhưng đã bị đảng cộng sản kìm kẹp và bức bách cả về tư tưởng lẫn thân thể. Ắt hẳn chúng ta không thể nào quên một Hữu Loan đằm thắm nhưng cương trực với “Màu tím hoa sim” bất hủ. Ấy vậy mà ông cũng như hàng chục văn nghệ sĩ ấy đã bị đảng cộng sản vu khống, chụp mũ cho tư tưởng chống đảng, phản động.
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm quy tụ những người trí thức can đảm nhất ở miền Bắc Việt Nam trong thời đại của họ. Sau bài thuyết trình của Nguyễn Mạnh Tường, trong hai số báo Nhân Văn vào tháng 11 năm 1956, Nguyễn Hữu Đang đã hai lần nêu cao chủ trương phải thiết lập một chế độ pháp trị. Ông nêu ra những điều trong hiến pháp năm 1946 bảo đảm các công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do cư trú, tự do đi lại, vân vân. Điều 11 nói: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ giam cầm người công dân Việt Nam” nhưng ngay trong thời đó các nhà trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Đặng Đình Hưng cũng bị đi “cải tạo” không thời hạn; các văn nghệ sĩ như Trần Dần, Tử Phác vô cớ bị bắt giam.
Nhân Văn Giai Phẩm là một đợt bộc phát trào lưu tư tưởng dân chủ ở miền Bắc Việt Nam có tiền đề ngay từ khi hình thành nhà nước VNDCCH lưỡng sinh giữa DCTS và toàn trị cộng sản tiến dần đến mô hình kiểu chủ nghĩa Mao, phát sinh trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội nhưng mạnh mẽ nhất là lĩnh vực ngôn luận mà lực lượng hăng hái nhất là trí thức khoa học xã hội và văn nghệ sỹ, tập trung xung quanh hai ấn phẩm là báo Nhân Văn và tập san Giai Phẩm.
Có lẽ cần phải cho mọi người nghe ý kiến của ông Nguyễn Hữu Đang trả lời Thụy Khuê ngày tháng 9- 1995 khi bà hỏi thực chất của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm là gì:
 
“Thực chất phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống, không phải chống đảng cộng sản đâu, mà là chống cái chủ nghĩa Staline và chống chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao trạch Đông đưa đến nhiều hiện tượng- nói là chuyên chính thì chưa đủ- phải nói là cực quyền toàn trị, nó gay gắt ghê lắm… Nó gay gắt ghê lắm!”

2. Tội ác! 
Tập tài liệu tựa đề “Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận” do Nxb Sự Thật (nay là Nxb Chính Trị Quốc Gia), in tháng 6, năm 1959, tại Hà Nội, là tài liệu đầu tiên, tập hợp những trích dẫn bài viết hoặc diễn văn tố cáo, lên án, buộc tội NVGP của đảng cộng sản Việt Nam. Trong phần cuối cuốn sách, có một chương nhỏ, trích “những lời thú tội” của các thành viên NVGP, còn hầu như toàn thể dành cho phía công tố “phát hiện tội”, với những lời lẽ vô cùng khiếm nhã ngay từ miệng, hoặc từ ngòi bút của giới được gọi là trí thức văn nghệ sĩ” đối với các đồng nghiệp và bạn hữu của mình đã tham gia NVGP.
Tập tư liệu dày 370 trang này – chứng tích một thời mà chữ nghĩa đã đạt tới đỉnh cao của sự bồi bút – còn hữu ích về mặt lịch sử và văn học sử, nó mở ra nhiều khía cạnh của vấn đề NVGP: về tầm vóc của phong trào, về không khí đàn áp thời đó, về mức độ khốc liệt của cuộc đấu tố. Đồng thời nó cũng gián tiếp trả lời những lập luận gần đây, cố tình hạ thấp hoặc thu gọn tầm vóc của phong trào NVGP thành một cuộc đánh đấm nội bộ, tranh giành thế lực cá nhân, không liên hệ gì đến vấn đề tự do tư tưởng.
Trong cuốn sách đó có viết:
“Nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm phản đối văn nghệ phục vụ chính trị, thực tế là phản đối văn nghệ phục vụ đường lối chính trị cách mạng của giai cấp công nhân. Chúng đòi “tự do, độc lập” của văn nghệ, rêu rao ‘sứ mạng chống đối’ của văn nghệ, thực ra chúng muốn lái văn nghệ sang đường lối chính trị phản động.
 
Nhóm ‘Nhân Văn – Giai Phẩm; phản đối văn nghệ phục vụ công nông binh, nêu lên ‘con người’ trừu tượng, thực ra chúng đòi văn nghệ trở về chủ nghĩa cá nhân tư sản đồi trụy.
 
Nhóm ‘Nhân Văn – Giai Phẩm’ hằn học đả kích nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa, nhất là văn nghệ Liên Xô, đả kích nền văn nghệ kháng chiến của ta. Thực ra, chúng phản đối chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng đòi đi theo chế độ tư bản chủ nghĩa.
 
Nhóm ‘Nhân Văn – Giai Phẩm’ phản đối sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ, chúng đòi ‘trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ’, thực ra chúng đòi đưa quyền lãnh đạo văn nghệ vào tay bọn phản cách mạng.”
Điều này cho thấy sự quy chụp táo tợn và trơ trẻn của đảng cộng sản với những văn nghệ sĩ thực thụ muốn dùng ngòi bút nghệ thuật vào đóng góp cho dân chủ. Hành động đánh phá và quy chụp này cho thấy đảng cộng sản độc tài chính là kẻ thù không đội trời chung của tự do, dân chủ.
Tố Hữu, khi ấy là Ủy viên Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, phụ trách về công tác văn hóa văn nghệ, tuyên truyền được coi là người dập tắt phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Trong cuốn“Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân Văn – Giai Phẩm” trên mặt trận văn nghệ, nhà xuất bản Văn Hóa, 1958, mà ông là tác giả, Tố Hữu đã nhận định về phong trào này và những người bị coi là dính líu như sau:
“Lật bộ áo “Nhân Văn – Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm;” (trg 9. Sđd).
Hay có đoạn:
“Trong cái công ty phản động “Nhân Văn – Giai Phẩm” ấy thật sự đủ mặt các loại “biệt tính”: từ bọn Phan Khôi, Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An, từ bọn trốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ và tư sản phản động, và đều ngoan cố giữ lập trường quyền lợi giai cấp cũ của mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ”. (trg 17. Sđd).
Báo cáo tổng kết vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” cũng do Tố Hữu viết có kết luận về tư tưởng chính trị và quan điểm văn nghệ của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm như sau:
“Những tư tưởng chính trị thù địch Kích thích chủ nghĩa cá nhân tư sản, bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản. Xuyên tạc mâu thuẫn xã hội, khiêu khích nhân dân chống lại chế độ và Đảng lãnh đạo. Chống lại chuyên chính dân chủ nhân dân, chống lại cách mạng xã hội chủ nghĩa. Gieo rắc chủ nghĩa dân tộc tư sản, gãi vào đầu óc sô-vanh chống lại chủ nghĩa quốc tế vô sản.” 
 
Đến đây ta có thể thấy đội ngũ văn nô của đảng cộng sản đã cố tình nhào nặn lên một hình tượng ngược lại hoàn toàn với những gì được coi là sự thật về NVGP. Đảng cộng sản đã cố tình quy chụp một cách vô lý những trí thức dám nói thẳng thật về những nghịch lý trong xã hội độc tài cộng sản.
Đối với văn nghệ do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Trường Chinh là người đã đưa các quan điểm văn nghệ của Mao Trạch Đông vào hoạt động Văn hóa Cứu quốc từ năm 1943, kiên trì bảo vệ nó cho tới khi đổi mới, đã tạo ra rất nhiều vụ án văn nghệ khác nữa, là nhân tố chính làm cho nền văn nghệ Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền nhưng tụt hậu so với sự phát triển chung của văn nghệ nhân loại. Trường Chinh thì xuyên suốt các văn kiện từ khởi thủy cho đến sau này đều dựa trên các nguyên lý văn nghệ của Mao Trạch Đông: “bắt văn nghệ phục vụ chính trị, lấy mục tiêu sáng tạo văn nghệ là phục vụ công nông binh, phục vụ tuyên truyền như là một mệnh lệnh tuyệt đối cho văn nghệ sĩ”. Chưa bao giờ thấy ông đưa ra các yếu tố tự do tư tưởng, tự do sáng tác, tự do ngôn luận làm điều kiện cho sự thành công của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Ấy là chưa nói đến phương pháp lập luận của Trường Chinh đầy chất ngụy biện, giả dối, phản khoa học, thực dụng về chính trị. Rất nhiều mệnh đề của ông khi đưa vào vận hành quản lý văn nghệ đều đi ngược lại với tinh thần của nó. Và chính bản thân ông trong một số trường hợp cụ thể đối với một số tác phẩm đã thể hiện thái độ hẹp hòi, thiển cận, quy chụp, trù dập văn nghệ sĩ.
Ngược lại Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi quan niệm:
“… để thực hiện nền văn hóa mới, trước hết chúng ta phải củng cố nền độc lập hoàn toàn và làm thực hiện chính thể dân chủ cộng hòa triệt để… Ban bố triệt để quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, chính là cởi mở cho văn hóa trở nên sầm uất, và đem một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi vào cái văn hóa bao lâu phải sống trong những phòng ngục chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu hơi nóng của mặt trời. Sách vở và báo chí được xuất bản tự do, nền văn nghệ của ta mới có thể dồi dào phong phú”. 
 
Chính vì có sự khác biệt quá lớn về tư tưởng và những yếu tố chính trị trong việc tồn vong của đảng cộng sản trước những bài viết phơi bày sự thật, đảng cộng sản đã trả thù hèn hạ với những người thuộc nhóm NVGP.
Ngày 10-12-1959 Tòa án nhân dân Hà Nội khai mạc phiên tòa xử Vụ án gián điệp hoạt động phá hoại hiện hành. Nội dung bản án kết tội như sau:
“Chúng là những tên gián điệp phản cách mạng, phá hoại hiện hành, hoạt động có tổ chức, thực hiện âm mưu của địch, tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý đê hèn nhất, những hoạt động phá hoại thâm độc nhất, để cuối cùng lật đổ chế độ chúng ta ở miền Bắc.”
Kết quả tuyên án như sau:
Nguyễn Hữu Đang 15 năm tù giam, 5 năm quản chế sau khi ra tù.
Lưu Thị Yến tức Thụy An 15 năm tù giam, 5 năm quản chế sau khi ra tù,
Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức 10 năm tù giam, 5 năm quản chế sau khi ra tù.
Phan Tại 6 năm tù giam, 3 năm quản chế.
Lê Nguyên Chí 5 năm tù giam, 3 năm quản chế….
Ngoài ra sau đó còn tiếp tục có những hoạt động là dư âm hậu quả của NVGP về sau này:
Năm 1960: Phùng Cung bị bắt. Lý do: Tiếp tục sáng tác các truyện ngắn có nội dung bất mãn, chống đối, phản động.
 
Năm 1968: Vụ án xét lại chống Đảng. Bắt giam Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, Trần Minh Việt, Trần Thư, Vũ Thư Hiên, Lê Trọng Nghĩa, Huy Vân… Nhiều văn nghệ sĩ nhất là những người đi học ở Liên Xô về hoặc có quan hệ với Liên Xô bị đưa vào diện phân biệt đối xử.
 
Năm 1982: Hoàng Cầm bị bắt cùng Hoàng Hưng vì việc định đưa tập thơ Về Kinh Bắc ra nước ngoài. Hoàng Cầm bị giam 18 tháng, Hoàng Hưng bị giam 39 tháng.
Về sau này, các nhà trí thức trong NVGP khi viết hồi ký hoặc phát biểu về quãng đời trong tăm tối của mình trong lao tù cũng như trong cuộc sống thường nhật đã miêu tả rất rõ về những cái ác mà đảng cộng sản gây ra cho họ.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường qua bài phát biểu rất quan trọng trước Mặt trận Tổ quốc Hà Nội ngày 30-10-1956 đã phân tích những sai lầm của chính quyền đi từ sai lầm CCRĐ ở nông thôn sang sai lầm trong chế độ mậu dịch ở thị thành, tất cả nằm trong bản chất thiếu dân chủ. Ông chỉ ra nguồn gốc các sai lầm đó và trình bày những nguyên tắc để sửa sang lại bộ máy pháp luật, chính trị của đất nước. Ông phê phán khẩu hiệu: “Thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch không những quá tả một cách vô lý mà còn phản lại cách mạng”. Năm 1992 tại Paris nhà xuất bản Quê mẹ của Võ Văn Ái in cuốn hồi ký bằng tiếng Pháp của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường Un Excommunié (Kẻ bị khai trừ) với tiểu tựa Hanoi 1954-1991: Procès d’un intellectuel (Hà Nội 1954-1991: Kết án một nhà trí thức). Cuốn sách nêu lên những sự thật khi bị o ép, theo dõi của đảng cộng sản với ông trong cuộc sống đói khổ, thiếu thốn.
Những sự việc bỉ ổi của đảng cộng sản còn thể hiện qua việc đối xử bất công với nhà thơ ưu tú Hữu Loan. Hay như một người nữ nghệ sỹ Thụy An đã phải chịu cảnh mù lòa, tàn tạ trong nhà tù cộng sản được miêu tả qua cuốn sách “Thép đen” của Đặng Chí Bình.
Ngoài ra năm 2001 Nhà xuất bản Văn Nghệ California Hoa Kỳ xuất bản cuốn nhật kí của Trần Dần tên là “Trần Dần” ghi trích những ghi chép của Trần Dần trong hai thời kỳ CCRĐ và NVGP 1954-1960. Đặc biệt đây là một cuốn sách thật nhất về NVGP, về cuộc sống thời kỳ này của dân tộc mà người ta không thể tìm thấy các hình ảnh rớm máu ấy trong các tác phẩm tuyên truyền công khai ở miền Bắc. Cùng với đó còn có một số cuốn khác đề cập đến NVGP như: “Hồi ký Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên do NXB Văn nghệ ở Hoa Kỳ…
Với các nhà trí thức yêu nước hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật thì việc quy chụp họ phản động đã là một tội ác. Vì vũ khí chiến đấu cho công bằng dân chủ xã hội của họ chính là ngòi bút và tác phẩm. Kết luận vu khống của đảng cộng sản giành cho họ là một tội ác. Nhưng chưa dừng lại ở đó. Đảng cộng sản còn bắt họ vào tù, đày ải và hành hạ họ trong cuộc sống. Đó là một tội ác không thể chấp nhận được đối với trí thức.
3. Những kẻ chủ mưu: 
Như đã nói ở trên, Trường Chinh và đảng cộng sản của ông ta chính là kẻ thù trực tiếp trong vụ án NVGP. Trường Chinh chủ trương áp đặt tư tưởng của đảng và của Mao cho các văn nghệ sĩ trí thức lúc đó. Đi cùng với Trường Chinh là đội ngũ văn nô như Tố Hữu, Đặng Thái Mai ra sức tuyên truyền và bôi nhọ nhóm NVGP như một “lũ phản động”. Họ dùng đến cả tòa án của độc đảng để đẩy những con người vô tội vào tù.
Nhưng trên thực tế có một kẻ thủ ác giấu mặt hết sức nham hiểm đó là ông Hồ Chí Minh. Như chúng ta đã biết tôi từng chứng minh về hệ thống chính trị trong đảng cộng sản Việt Nam trong các phần trước. Ông Hồ Chí Minh thực sự là kẻ chỉ đạo và viết ra chủ trương của các hành động của đảng cộng sản.
Trên thực tế, Hồ Chí Minh kiêm nhiệm hai chức Chủ tịch đảng và Tổng bí thư từ (9/1956 đến 9/1960). Như vậy NVGP rõ ràng xảy ra trong thời kỳ ông Hồ phải là người có quyền lực chính trị cao nhất, lúc này Lê Duẩn cũng chưa có vai trò rõ rệt. Vậy ông Hồ không thể vô can trong sự việc này.
Trong hội nghị lần thứ 10 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (họp từ ngày 25/8/56 đến 24/9/56), Trường Chinh bị “nghiêm khắc kiểm điểm sai lầm” trong công tác cải cách ruộng đất, phải tự kiểm thảo và xin từ chức. Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương, bị loại ra khỏi Bộ Chính trị, Hồ Viết Thắng ra khỏi Ban Chấp Hành Trung ương Đảng. Hồ Chí Minh kiêm nhiệm hai chức Chủ Tịch Đảng và Tổng bí Thư từ (9/1956 đến 9/1960). Sau đó là thời kỳ Lê Duẩn làm Tổng Bí Thư (9/1960 đến 7/1986), xảy ra vụ Xét Lại Chống Đảng.
Vụ NVGP xảy ra dưới thời Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng kiêm Tổng bí thư 
Tháng Giêng năm 1956, Giai Phẩm Mùa Xuân vừa ló dạng thể hiện tự do sáng tác, đã bị dập tắt ngay. Vậy có thể hiểu là Trường Chinh đã giao cho Tố Hữu, người có tư thù với Hoàng Cầm, Trần Dần và Lê Đạt trong việc phê bình tập thơ Việt Bắc, xử lý vụ Giai phẩm mùa xuân theo chỉ thị của Hồ Chí Minh.
Ngày 9/12/1956 Hồ Chí Minh ký sắc lệnh báo chí. Đóng cửa Nhân Văn. Phong trào NVGP bị dập tắt lần thứ nhì, tháng 12/56. Tháng 2/57 trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, họp từ 20 đến 28/2 tại Hà Nội, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh “đập nát âm mưu phản động” của nhóm NVGP.
Như vậy ta có thể thấy trong tháng 8 và 9 năm 1956, có hai sự kiện trùng hợp đáng kể:
Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư. Phong trào NVGP phát triển trở lại. Quyết định cho phép Hội văn nghệ tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày, theo đường lối Liên Xô, trong tháng 8/1956, rõ ràng không thể là của một Trường Chinh đã mất chức quyết định được. Người quyết định về việc này chỉ có thể là Hồ Chí Minh đứng đầu đảng và nhà nước chứ không thể là ai.
Cuối năm 57: Mao Trạch Đông hạ lệnh đánh phái hữu. Huy Cận và Hà Xuân Trường được cử đi học tập chính sách của Trung Quốc. Khi họ trở về, tháng 2/58 việc thanh trừng NVGP được tổ chức quy mô và toàn diện trong hai lớp đấu tranh Thái Hà.
Lần này nữa, trách nhiệm hẳn cũng đến từ từng cao nhất của cấp lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh vì tôi đã từng chứng minh ở các phần trước, ông Hồ luôn coi tư tưởng của Mao là kim chỉ nam cho hành động “Tư tưởng của Mao không thể sai.”
Trả lời câu hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh có trách nhiệm như thế nào về vụ NVGP, Nguyễn Hữu Đang tuyên bố:
“Cái việc mà người ta cứ nói là việc nọ việc kia là người dưới làm chứ cụ Hồ không biết, cụ Hồ không thực tiễn làm, đó là một cách nói không đúng sự thật. Người ta thấy việc gì mà có dư luận kêu ca, thắc mắc thì không muốn để cái kêu ca thắc mắc đó hướng vào vị lãnh tụ mà người ta suy tôn tuyệt đối. Có thể nói là người ta thần thánh hóa cụ Hồ. Vì cái lý do nó là như thế. Thực chất thì cụ Hồ không phải là người bị vô hiệu hóa trong bộ máy lãnh đạo của đảng và của dân tộc. Cụ Hồ lúc nào cũng là người có đầy đủ quyền hành, lúc nào cụ cũng sáng suốt, linh lợi, lúc nào cụ cũng có uy tín với dân và cũng có quyền đối với các đồng chí trong đảng, đối với những người lãnh đạo.”
 
Ngoài ra ông Hồ Chí Minh còn là người viết cuốn: “Truyện về chiến sĩ thi đua” nhằm đưa ra tư tưởng. Cuốn sách này đã tiến hành định hướng cho nền văn học nước nhà phải theo sự chỉ đạo của đảng, của ông Hồ trong viết thế nào và viết cái gì. Vậy ông ta chính là kẻ chủ trương cho trào lưu chống lại NVGP.
Trong cuốn “Điều đọng lại” in năm 1992 tại nhà xuất bản Văn Hóa của đảng cộng sản Việt Nam cũng có đoạn trang 121: “Bác Hồ đã chỉ đạo việc cách mạng trong các loại hình nghệ thuật. Không thể để cho việc ca tụng thói hư tật xấu của chủ nghĩa tồn tại trong xã hội chúng ta. Những kẻ chống đối lại đường lối của đảng cần phải nghiêm khắc xem xét lại”. Việc này cho thấy ông Hồ hoàn toàn ủng hộ và còn chỉ đạo cấp dưới về chủ trương xét lại với những nhóm có tư tưởng dân chủ như NVGP là một ví dụ.
Ông Hồ Chí Minh đã dùng ảnh hưởng của mình để tiến hành viết sách định hướng cho nền nghệ thuật Việt Nam, ông ta có một vai trò quyết định trong vấn đề chính sách và chủ trương trong hệ thống chính trị. Ông ta cũng phải chịu trách nhiệm lớn lao trong vụ việc NVGP. Đó là sự thực không thể chối bỏ.
4. Kết luận phần 2: 
Kính thưa quý vị!
Trong khuôn khổ phần 2 này chúng tôi đã gửi tới quý vị vụ án NVGP là một tội ác chính trị mà đảng cộng sản gây ra cho giới trí thức. Sau cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu thì hành động bức bách bỏ tù những nhà trí thức cũng là một hành động cho thấy chủ trương độc tài ngay từ trong tư tưởng của chế độ cộng sản tại Việt Nam.
Vụ án này gióng lên một hồi chuông về nhân quyền không được tôn trọng tại Việt Nam và các quy tắc về dân chủ, pháp luật dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã hoàn toàn vị phá bỏ. Con người bị bức bách và dồn ép về mặt tư tưởng để đến mức mất hết nhân quyền!.
(còn tiếp) 

 

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 1) – Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu bác?

Thursday, March 21st, 2013

Đặng Chí Hùng (Danlambao) – Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Dân Làm Báo và bạn đọc. Trên tinh thần dân chủ chúng ta đang hướng tới, tôn trọng tất cả các ý kiến trái chiều, dân chủ có nhiều con đương, mỗi người chúng ta có quyền đưa ra con đường đó để bạn đọc và nhân dân lựa chọn. Sự lựa chọn của nhân dân là ý kiến cuối cùng về con đường của dân tộc. Với tinh thần đó, tôi mong mọi người đọc hãy tiếp thu bài viết như một ý kiến cá nhân của tôi. Và như đã nói ở những bài trước, con đường dân chủ tôi chọn là con đường không có cộng sản, không còn cộng sản dựa trên nguyên tắc khơi lại sự thật, chấn hưng dân trí. Có người biện luận ông Hồ không phải là Thánh thì có cái sai, nhưng cái sai của ông không phải chỉ một lần, một lỗi, nó thành hệ thống. Vậy chúng ta không thể bỏ qua nhằm trả lại sự thật cho lịch sử.
 
Sau đây là bài đầu tiên của tôi về vấn đề này với nội dung nói về một tấm bình phong bấy lâu của đảng cộng sản Việt Nam và những kẻ dân chủ cơ hội.
 
Thực ra những vấn đề tôi nêu lên và loạt bài này không phải là mới mẻ, nhiều người đã đề cập. Nhưng tôi xin phân tích, đánh giá trên cách nhìn mới và phân tích ý kiến của cá hai bên: Phản đối và ủng hộ nhân vật HCM. Qua đó chúng ta có thể thấy rõ sự thật của vấn đề nhằm trả nó về với chân giá trị vốn có đã bị đánh cắp lâu nay.
Sự thật thứ nhất: Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu bác?
Trong chuỗi sự kiện về ông Hồ, xin bắt đầu từ việc đầu tiên đó là việc ông ta đi “tìm đường cứu nước”. Sự việc này sẽ xoay quanh lá thư của ông xin học trường thuộc địa của Pháp. Tôi xin xoay quanh hai vấn đề là: Có hay không là thư đó và ông viết thư với mục đích gì?
Ngày 31-5-2011, tại Sài Gòn đã diễn ra cuộc Hội thảo với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”. Cuộc hội thảo do các cơ quan sau đây đứng ra tổ chức: Thành ủy đảng CSVN TpHCM, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch. Những cơ quan trong ban tổ chức cuộc hội thảo đều tầm cỡ khá cao trong nước, nên cuộc hội thảo quy tụ nhiều nhân vật quan trọng của CSVN, kể cả cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Trước hết là nguyên văn lời trong sách Lịch sử Việt Nam của các tác giả là người của đảng cộng sản đã viết về sự kiện thanh niên Nguyễn Tất Thành xuống tàu Amiral Latouche-Tréville ngày 5-6-1911 để ra đi như sau:
“Sự thất bại của các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở các tỉnh Trung Kỳ mà Người (Hồ Chí Minh) từng tham gia khi đang học ở trường Quốc Học Huế, đã thôi thúc Người hướng về các nước Tây Âu, mong muốn được đến “tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Sau khi rời Huế vào Phan Thiết … Được ít lâu, lấy tên là Văn Ba, Người xin làm phụ bếp trên chiếc tàu thủy Đô đốc La Tusơ Tơrêvin (La Touche Tréville), thuộc hãng vận tải hợp nhất của Pháp, để đi ra nước ngoài “xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào…” (Nguyễn Khánh Toàn và một nhóm tác giả, Lịch sử Việt Nam, tập 2, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1985, tr. 145).
Ngoài ra trong sách Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp của nhà xuất bản Sự Thật giải thích sự ra đi của Hồ Chí Minh cũng có nội dung gần giống như sau:
“… Ít lâu sau, Hồ Chủ tịch vào Sài Gòn. Nam Kỳ dưới chế độ thuộc địa cũng chẳng khác gì Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ và Bắc kỳ dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức, bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Hồ Chủ tịch đi sang các nước Âu tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp. Ý định ấy của Người (HCM) đã dẫn Người từng bước đi tới tìm một phương hướng mới cho sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta.” (Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư (có xem lại và bổ sung), Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1975, tr. 15).
Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, cũng do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành, trả lời phỏng vấn của tác giả Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh nói về lý do ra đi như sau: “…Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta…” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tr. 13).
Ở đây có điều oái oăm: Trần Dân Tiên chính lại là Hồ Chí Minh. Ông Hồ dùng một tên khác viết sách tự ca tụng mình. Sở dĩ nói oái oăm là ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có nhiều người viết sách về hoạt động của mình, đôi khi để tự khen mình, hoặc để biện hộ cho những việc làm của mình, nhưng họ đều đề tên thật, chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Chỉ có ông Hồ Chí Minh là dùng một tên khác tự ca tụng mình.
Như vậy có thể kết luận, qua các sách của nhà cầm quyền cộng sản và qua chính những lời viết của Hồ Chí Minh, ông ta đi ra nước ngoài nhắm mục đích tìm đường cứu nước. Nhưng sự thực có phải vậy hay không?
Bức thư xin học trường thuộc địa Pháp
Đây là vấn đề thứ nhất. Tại sao Bác Hồ yêu nước, có tinh thần chống Pháp từ bé lại xin gia nhập trường thuộc địa này? Trong khi đó ngôi trường lại là nơi đào tạo quan lại nhằm thực hiện chính sách thực dân của Pháp ở Việt Nam.
Đây là hình ảnh về hai bức thư đó:
Đó là hình ảnh về hai bức thư mà trên internet bấy lâu nay không thiếu. Nó có thật hay không? Tôi xin trả lời là có thật vì đó là điều công nhận của cả hai bên.
Đầu tiên là phía “lề trái”: vào tháng 02/1983, hai sử gia VN, tiến sĩ Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu, đã công bố khắp thế giới, một tài liệu vô cùng quan trọng, tại văn khố Pháp duy nhất liên quan tới giai đoạn 1911 của Nguyễn Tất Thành. Đó là 2 lá thư xin nhập học Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) viết ngày 15/09/1911 và một lá viết tại New York ngày 15/12/1912. Điều này chứng tỏ rằng Nguyễn Tất Thành, bỏ nước ra đi chỉ với mục đích tìm đường làm quan (làm Việt Gian tay sai cho Pháp) để giải quyết chuyện cơm ăn áo mặc của riêng mình, chứ không hề có ý định cứu nước giúp dân như Trần Dân Tiên và báo của đảng cộng sản từng viết sách ca tụng.
Nhưng để chứng minh cho đây là 2 lá thư có thật, tôi xin dẫn chứng về sự công nhận của bên “lề phải”:
Trên trang chủ của Sachhiem.net có bài Phản hồi của một vị xưng là giáo sư Trần Chung Ngọc, ông này là người của đảng cộng sản. Bài phản hồi của ông ta về những điểm trong DVD “Sự thật về HCM”. Sau đây là nguyên văn đoạn ông ta viết về lá thư: “DVD đưa ra một tài liệu, bức thư của Hồ Chí Minh xin học ở trường thuộc địa, và đã bị giám đốc trường nầy từ chối không cho học, để chứng minh rằng mục đích của ông Hồ không phải là xuất ngoại để cứu nước mà để tìm đường làm ăn. Bức thư được ông Nguyễn Gia Phụng dịch ra tiếng Việt và đọc trong DVD. Nhưng đưa ra tài liệu này, những người làm DVD không nghĩ đến phản tác dụng của nó. Thứ nhất, họ không tìm hiểu tại sao giám đốc trường thuộc địa lại từ chối đơn xin học của ông Hồ với lý do rất đáng buồn cười: “Mục đích của ông tới đây là để kiếm sống chứ không phải là để đi học”. Như vậy ông này công nhận sự có thật của lá thư với nội dung xin học của ông Hồ. Phần nội dung tôi xin trình bày sau.
Thứ hai đó là trên tranh chủ có cái tên rất “Fan club” của HCM: http://thehehochiminh. wordpress. com/2010/01/03/1911_lathu_truong_thuocdia/
Có đoạn nói về tác giả nước ngoài, cả bài viết trên trang đó và ký giả nước ngoài đều công nhận bức thư đó là có thật:
William J. Duiker viết về Lá thư Nguyễn Tất Thành xin vào học trường thuộc địa (1911)
Theo W. J. Duiker, đây là một lá thư do Nguyễn Tất Thành viết. Tuy nhiên, trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, không thấy có lá thư này. Để tạo điều kiện bạn đọc tiếp cận và nghiên cứu, chúng tôi trích đăng ý kiến của W. J. Duiker. Hoan nghênh bạn đọc phản hồi về lá thư theo địa chỉ email: info@thehehochiminh. net 
 
Anh Thành đã trở lại tàu trước khi tàu nhổ neo; tàu đã đến Cảng Le Havre ngày 15.7, và vài ngày sau đã đến Cảng Dunkerque và cuối cùng trở lại Marseilles, và ở đó cho đến giữa tháng 9. Tại đây, anh đã viết một bức thư gửi cho Tổng thống nước Cộng hòa Pháp. Vì đây là một sự kiện đáng chú ý, tôi xin chép toàn văn thư này…
Tôi xin nêu ra dẫn chứng của cả hai phía phê phán và ủng hộ ông HCM để thấy rằng 2 bức thư đó là có thật chứ không phải bịa đặt.
Bác viết gì trong thư?
Nội dung của 2 bức thư là khá giống nhau, tôi cũng xin ghi ra đây phần dịch của cả hai phía ủng hộ và không ủng hộ để bạn đọc thấy .
Trước tiên là lời trên trang:
Có nội dung như sau về bức thư thông qua lời dịch của WILLIAM J. DUIKER
Marseilles 
 
Ngày 15 tháng Chín năm 1911
 
Thưa Ngài Tổng thống!
 
Tôi xin hân hạnh yêu cầu Ngài giúp đỡ cho tôi được vào học nội trú tại Trường Thuộc địa. 
 
Hiện nay, để nuôi thân, tôi đang làm việc cho công ty Chargeurs Réunis (Tàu Amiral Latouche – Tréville). Tôi hoàn toàn không còn nguồn lực nào và rất thiết tha muốn có học vấn. Tôi muốn trở nên có ích cho nước Pháp trong quan hệ với đồng bào tôi và đồng thời mong muốn đồng bào tôi thu lợi được từ học hành.
 
Quê tôi ở tỉnh Nghệ An, Trung Kỳ. Với hy vọng rằng Ngài sẽ phúc đáp theo hướng thuận lợi đề nghị của tôi, tôi xin Ngài Tổng thống nhận sự biết ơn sâu sắc của tôi.
 
Nguyễn Tất Thành
 
Sinh tại Vinh, 1892 
 
Con trai của Ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương)
 
Học sinh tiếng Pháp và chữ nho 
Còn sau đây là nội dung của nó dưới bút dịch của những người “lề trái”. Trong bài “Từ mộng làm quan đến đường cách mạng Hồ Chí Minh và Trường Thuộc Địa”, hai tác giả Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu đã dịch như sau:
“Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân được nhận vào học nội trú Trường Thuộc Địa.
 
Tôi hiện đang làm công trong công ty Chargeurs Réunis để sinh sống (trên tàu Amiral Latouche-Tréville).
 
Tôi hoàn toàn không có chút tài sản nào, nhưng rất khao khát học hỏi. Tôi ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời làm thế nào cho họ hưởng được ích lợi của nền học vấn…” (Đặc san Đường Mới, số 1, Paris, tt. 8-25)
Như vậy rõ ràng về nội dung của cả lề phải và lề trái đều giống nhau. Đó là sự thật mà đảng cộng sản hoặc những người dân chủ cơ hội phải chấp nhận.
Trên thực tế 2 lá thư trên đều bị bác bỏ, Nguyễn Tất Thành tiếp tục hành nghề trên các tàu biển. Ngày 15-12-1912, từ New York, Hoa Kỳ, Nguyễn Tất Thành gởi đến viên khâm sứ Pháp tại Huế một lá thư rất thống thiết xin một đặc ân là ban cho cha Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Sinh Sắc, một chức việc nhỏ như giáo thụ hay huấn đạo, để ông nầy có điều kiện sinh sống trong hoàn cảnh cha của Nguyễn Tất Thành nghèo túng sau khi bị cách chức quan (do đánh chết người): “… cầu mong Ngài (chỉ khâm sứ Pháp) vui lòng cho cha tôi (cha của Thành tức Nguyễn Sinh Sắc) được nhận một công việc như thừa biện ở các bộ, hoặc huấn đạo, hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quý của Ngài…” (Thành Tín (tức Bùi Tín), Mặt thật, California: Nxb. Saigon Press, 1993, tt. 95-96).
Vậy bản chất của việc Bác đi không phải là tìm đường cứu nước mà bác đi là vì mưu sinh. Chuyện mưu sinh là chuyện thường của con người. Nhưng ông Hồ và đảng cộng sản đã bịa đặt và thần thánh hóa nó thành cứu nước.
Tuy nhiên về phía ủng hộ ông Hồ lại có những lập luận như sau; như lời của ông Trần Chung Ngọc có viết: “Sở dĩ trường thuộc địa bác đơn xin học của ông Hồ vì trong đơn ông Hồ “đã dại dột” viết rõ là mục đích của ông là có thể dùng nền học vấn để giúp ích cho đồng bào của ông, để cho họ được hưởng những hữu ích của nền học vấn mà ông thu thập được[“Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’instruction”]. Đó chỉ là một câu để có thể xin vào học trường thuộc địa. Trường thuộc địa là để đào tạo những tay sai phục vụ cho nước Pháp, chứ không phải để phục vụ cho dân thuộc địa. Giám đốc trường thuộc địa không phải là không biết điều này, nên đã từ chối với một lý do vốn không phải là lý do, vì nó rất vô lý. 
Hay trên trang: http://thehehochiminh. wordpress. com/2010/01/03/1911_lathu_truong_thuocdia/ có viết: Tuy nhiên, qua việc anh Thành đã học tại Trường Quốc học ở Huế, ta thấy hành vi của anh không có gì đáng ngạc nhiên. Sự thù địch của anh đối với ách thống trị thực dân của Pháp ở Đông Dương dường như đã được xác định, song điều rõ ràng là anh vẫn chưa quyết định nên đi theo con đường nào để giải phóng đất nước và, theo lời kể của bản thân anh, anh vẫn thiết tha được học hành để nâng cao hiểu biết tình hình. 
Tôi xin chứng minh đó là những luận điệu biện hộ sai trái cho sự thật của ông Hồ.
Xin nói sơ qua về ngôi trường này. Đây là ngôi trường được thành lập năm 1885 để đào tạo các quan chức phục vụ cho chính quyền ở các nước thuộc địa Pháp, trường Thuộc địa có bao gồm một “bộ phận bản xứ” dành cho thần dân thuộc địa với khoảng 20 suất học bổng cho học sinh Đông Dương thuộc Pháp.
Việc ông Hồ lúc đó đã là thanh niên, có nhận thức rõ ràng về ngôi trường đó là dĩ nhiên. Ông ta biết nó được sinh ra để đào tạo những kẻ đàn áp nhân dân. Sao ông ta lại xin học? Ở Việt Nam, nhất là khi ông ra nước ngoài có thiếu gì ngôi trường học văn hóa, nâng cao hiểu biết như lời các tác giả lề phải biện hộ? Sao ông Hồ nhất định phải không chỉ một lần mà những hai lần cố xin cho được vào ngôi trường xấu xa đó, không xin vào trường khác? Vậy mục đích ơ đây không phải vào để “Tìm hiểu” mà là muốn làm quan kiếm miếng cơm. Mà quan đó là quan “Ăn hiếp” nhân dân.
Ông Trần Chung Ngọc và các tác giả biện hộ về nội dung rằng vị quan Pháp không cho học vì sợ ông Hồ học để nâng cao dân trí cho nhân dân. Xin thưa các tác giả biện hộ cho ông Hồ. Đó là ông hiệu trưởng lúc đó có biết ông Hồ là ai? Anh hùng nào mà sợ ông ta truyền đạt cho nhân dân chống Pháp? Ngôi trường đó mở cho người Việt thì ông Hồ có học hay không cũng là chuyện bình thường. Ông Hồ lúc đó chẳng là cái gì mà ông hiệu trưởng Pháp phải “sợ” cả. Hơn thế nữa, bất cứ một lá đơn xin học nào, nhất là trường quan trọng như trường thuộc địa lúc đó đều phải làm đơn với những quy định nhất định. Cái đơn của ông Hồ cũng không là ngoại lệ, vậy thì việc nó viết “Tôi muốn trở nên có ích cho nước Pháp trong quan hệ với đồng bào tôi và đồng thời mong muốn đồng bào tôi thu lợi được từ học hành” cũng là điều bình thường chứ không phải sự “dại dột” như ông Ngọc viết. Và bạn đọc có thể thấy môi quan hệ giữa Pháp và nhân dân ta lúc đó là quan hệ của thực dân và nô lệ, vậy việc ông Hồ muốn giúp “lợi ích” cho nước Pháp trong quan hệ chính là việc dùng chức quan (nếu có) để thay người Pháp cai trị nhân dân.
Trên đây là sự thật đầu tiên về ông Hồ. Tôi dùng cả những tài liệu, phân tích của hai phái ủng hộ và chống đối để chứng minh rằng: Ông Hồ có viết thư xin học trường thuộc địa. Việc ông xin học ở đây nhằm làm quan, có miếng cơm chứ ông chẳng có tư tưởng căm thù Pháp, không có ý định “tìm đường cứu nước” như chính ông và đảng cộng sản đã bịa đặt.
Tại sao ông Hồ và đảng cộng sản lừa dối không công khai bức thư? Tại sao ông đi kiếm ăn lại nói dối “Tìm đường cứu nước”? Đó chính là sự lừa dối không thể chấp nhận được.
06/06/2012

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 15) – Người chồng, người cha tồi tệ

Thursday, March 21st, 2013

(Dân Làm Báo)

Đặng Chí Hùng (Danlambao) – Kính thưa bạn đọc Danlambao, thông suốt 14 phần của loạt bài gồm 15 phần “Những sự thật không thể chối bỏ”, tôi hoàn toàn đề cập đến những lỗi lầm lớn của ông Hồ Chí Minh với dân tộc và đất nước Việt Nam như: bán nước, giết người hàng loạt, làm gián điệp cho Trung cộng, âm mưu Hán hóa Việt Nam và tội ác chiến tranh… Đó chính là những sự thật, những tội ác mà dân tộc ta cần được biết trước sự bưng bít của đảng cộng sản Việt Nam.
Bài thứ 15 này tôi xin trình bày về một tội ác cá nhân của ông Hồ với những người vợ và con ông ta. Trong phần này tôi xin không trình bày liệt kê ông ta có bao nhiêu vợ, bao nhiêu con mà tôi xin chứng minh những điều sau đây: Ông Hồ có vợ con chứ không phải không có như ông ta và đảng cộng sản tuyên truyền “Cả đời hi sinh hạnh phúc riêng tư cho dân tộc”; tại sao lúc còn sống ông ta không dám công khai thừa nhận chuyện này; và sự thật về một đảng cộng sản lừa dối nhân dân cả về đời tư của ông ta.
Thật ra, trước tôi đã có nhiều tác giả viết về đề tài vợ con của ông Hồ, hay như DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh” của linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã nói rất rõ. Tuy nhiên tôi viết bài này không nhằm chỉ trích việc ông Hồ có nhiều vợ con, vì với tôi chuyện có nhiều vợ con không phải là tội ác, mà cái chính là ông ta cư xử thế nào với vợ con ông ta và tại sao ông ta lại phải lừa dối dân tộc điều này. Xin được trình bày cùng bạn đọc.
A. Bác đâu có “Cả đời hi sinh hạnh phúc riêng tư cho dân tộc”:
Theo tôi đối với ông Hồ: Vợ, người tình chỉ để “giải khuây”– con chỉ là “kết quả không mong đợi”. Sở dĩ tôi phải nói vậy vì nếu là một người chồng, người cha tốt thì dù thế nào họ cũng phải thừa nhận với mọi người và chăm sóc vợ con đàng hoàng. Đằng này ông Hồ không hề thừa nhận mình có vợ, con và đối xử với họ tàn tệ. Xưa có câu “Hổ dữ không ăn thịt con” vậy mà ông Hồ không coi trọng nghĩa cũng phu thê, cũng chẳng thương con cái thì làm sao ông ta có thể là vị “Thánh” yêu nước, thương dân như đảng cộng sản tuyên truyền và ông ta tự nhận? Hãy điểm qua những sự kiện chính để thấy điều này.
Người Vợ Tăng Tuyết Minh:
Bà Tăng Tuyết Minh là một người Trung quốc đã kết hôn với ông Hồ khi ông ta còn mang danh là Lý Thụy. Cho đến bây giờ đảng cộng sản vẫn giấu nhẹm việc này, nhưng để chứng minh cho bạn đọc nhất là những người còn tin vào ông “thánh” Hồ Chí Minh thì không phải là một điều khó khăn.
Đầu tiên, trên Wiki có bài viết về bà Tăng Tuyết Minh với đoạn như sau:
“Tăng Tuyết Minh (chữ Hán: 曾 雪明, 1905–1991) là một phụ nữ Trung Quốc. Theo nghiên cứu của một số học giả Trung Quốc, Pháp, và Hoa Kỳ thì bà đã kết hôn với Hồ Chí Minh, khi đó có bí danh là Lý Thụy vào năm 1926 và đã sống chung với ông được nửa năm cho đến khi ông phải rời Trung Quốc sau vụ chính biến năm 1927.[1][2] Sau này khi Hồ Chí Minh trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hai người đã tìm cách liên lạc nhau nhưng không được… Tháng 10 năm 1926, hôn lễ giữa Lý Thụy, (bí danh hoạt động của Nguyễn Ái Quốc khi đó) và Tăng Tuyết Minh được tổ chức tại nhà hàng Thái Bình, với sự chứng kiến [3] của Thái Sướng, Đặng Dĩnh Siêu (vợ của Chu Ân Lai) và một số học viên khóa huấn luyện phụ vận.[4] Đây cũng là địa điểm mà Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu tổ chức kết hôn trước đó một năm.”
Hẳn mọi người còn nhớ ở phần 8 tôi đã chứng minh Lý Thụy chính là một bí danh của ông Hồ khi ông ta hoạt động ở Trung Quốc và Thái khi ông ta chủ mưu bán đứng cụ Phan Bội Châu cho Pháp. Và bài viết trên Wiki chỉ rõ ông Hồ-Lý Thụy đã cưới bà Tăng Tuyết Minh. Như vậy có thể coi bà Minh là vợ đầu tiên của ông Hồ có hôn thú và hôn lễ đàng hoàng.
Thứ hai, hiện nay có một bức thư của ông Hồ – Lý Thụy gửi bà Tăng Tuyết Minh, đã bị mật thám Pháp tại Đông Dương chặn được và giữ lại ngày 14 tháng 8 năm 1928, hiện được lưu trữ tại CAOM (viết tắt của Centre des Archives d’Outre-Mer – Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại) đặt tại Aix-en-Provence (Daniel Hémery, HO CHI MINH De L’Indochine au Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145.) Khi ở Thái Lan ông Hồ đã viết bức thư này có nội dung như sau:
“Dữ muội tương biệt,
Chuyển thuấn niên dư,
Hoài niệm tình thâm,
Bất ngôn tự hiểu.
Tư nhân hồng tiện,
Dao ký thốn tiên,
Tỷ muội an tâm,
Thị ngã ngưỡng (hoặc sở) vọng.
Tinh thỉnh
Nhạc mẫu vạn phúc.
Chuyết huynh Thụy.”
Dịch nghĩa: “Từ ngày chia tay với em, đã hơn một năm trôi qua. Nhớ thương khắc khoải, chẳng nói cũng hiểu. Nay mượn cánh hồng, gửi mấy dòng thư để em yên tâm, đó là điều anh mong mỏi, và cầu cho nhạc mẫu vạn phúc. Người anh vụng về, Thụy”.
Rõ ràng đây là bức thư gửi người mà ông ta đã lấy làm vợ. Điều này khẳng định ông Hồ có người vợ đầu là Tăng Tuyết Minh.
Thứ ba, Theo bài Hồ Chí Minh với người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh, đã đăng trên tạp chí Đông Nam Á tung hoành (Dọc ngang Đông Nam Á), số tháng 12-2001 xuất bản tại Nam Ninh của Hoàng Tranh (Huang Zheng) có viết:
“Tháng 5 năm 1950 Tăng Tuyết Minh nhìn thấy ảnh Hồ Chí Minh trên Nhân dân Nhật báo cùng với tiểu sử, bà tin chắc đó chính là vị Chủ tịch Việt Nam. Bà đã cố gắng liên lạc với ông qua đại sứ Hoàng Văn Hoan và tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhưng tất cả cố gắng của bà đều không thành.”
Tăng Tuyết Minh khi đã cao tuổi. Trên tường nhà có treo ảnh Hồ Chí Minh (viet.com.cn)
Đây là một tác giả của Trung cộng đã thừa nhận việc ông Hồ có vợ con là sự thật. Việc sau này bà Minh lấy ông Hồ và treo ảnh ông ta trong nhà cũng nói lên sự thật là ông Hồ có vợ là bà Minh.
Thứ tư, trong cuốn sách được in năm 1986 tại Liên Xô có tên “Mảnh trời riêng của lãnh tụ” của Mikhail Vasaep – một học giả, nhà nghiên cứu thuộc phân viện lịch sử đảng cộng sản Liên Xô cũ –  tại trang 363: “…Ông Hồ Chí Minh cưới người vợ Tăng Tuyết Minh tại Trung quốc sau khi được ông Lâm Đức Thụ tích cực thu xếp…”
Như vậy có thể khẳng định việc ông Hồ lấy bà Tăng Tuyết Minh là sự thật qua tài liệu này của tác giả đảng viên đảng cộng sản Liên Xô.
Thứ năm, một nhà nghiên cứu thiên tả là bà Quinn khi đề cập đến người vợ Trung Quốc của ông Hồ cũng đã nói trong cuốn sách “Ho Chi Minh: The Missing years” của mình: “Vì một vài lý do nào đó các giới chức tại Hà Nội vẫn chưa chịu đả động gì đến những điều tiết lộ theo đó ông Hồ có liên hệ tình cảm thực sự với những người thuộc phái nữ. Mặc dầu giờ đây phía Trung Quốc đã trình bày trước công luận cả một bức ảnh và một bài viết nói về việc ông Hồ kết hôn với một phụ nữ vào tháng Mười, năm 1926, nhưng Hà Nội vẫn chưa chính thức xác nhận.
Vậy ta có thể thấy là những gì bà Quinn nói trùng khớp vời lời kể của ông Hoàng Tranh và những tài liệu của phía Liên Xô khẳng định ông Hồ cưới bà Tăng Tuyết Minh năm 1926.
Thứ sáu, theo tác giả Daniel Hémery“Lý Thụy không gặp lại được vợ mình là Tăng Tuyết Minh từ sau năm 1927, có thể vì Tuyết Minh bị thất lạc do chiến tranh quốc cộng ở Trung Hoa vào đầu năm 1927.” (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l”Indochine au Vietnam, Nxb. Gallimard, Paris, 1990, tt. 63, 145.)
Ở đây cũng cần nói thêm báo Tuổi Trẻ của Thành đoàn Thanh niên CSHCM thành phố Hồ Chí Minh đã trích đăng tài liệu của Daniel Hémery trong số báo ngày 18-5-1991. Tổng biên tập báo này lúc đó là bà Kim Hạnh liền bị kiểm điểm và bị mất chức.
Kết luận: Qua sáu dẫn chứng chúng ta có thể thấy ông Hồ thật sự đã cưới bà Tăng Tuyết Minh chứ không phải là cả cuộc đời cô độc, không lấy vợ để lo cho dân tộc như ông ta và đảng cộng sản tuyên truyền. Và sự thật là sau khi đã có thể coi như là “Công thành danh toại” thì ông Hồ lại không thừa nhận và hỏi thăm bà Tăng Tuyết Minh. Như vậy để có thể thấy ông Hồ đâu có phải là người trọng nghĩa phu thê, và là người chồng tồi.
Bà Nguyễn Thị Minh Khai: 
Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941),
một trong những đảng viên đầu tiên
của đảng CSĐD – Nguồn/Ảnh: Ho Chi Minh, A life,
William J. Duiker/TTXVN.

Theo Wiki: “Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình, nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Minh Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930.” 

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Thị_Minh_Khai)

Để chứng minh cho việc trước khi lấy ông Lê Hồng Phongthì bà Minh Khai chính là vợ của ông Hồ xin được dẫn chứng như sau:
Đầu tiên, trong tập thư của đảng cộng sản Liên Xô hiện lưu trữ tại cục lưu trữ liên bang Nga có một danh sách gửi tới Moscow về tên người tham gia hội nghị đảng cộng sản quốc tế năm 1935 có nói đến việc bà Minh Khai có chồng tên là Lin. Sự việc này cũng được nhà báo Bùi Tín ghi lại trong cuốn sách của mình (Thành Tín, sđd. tr. 151.):
Ngày 25-7-1935, tới Moscow khai mạc đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đại diện đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm có: Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, vợ Quốc và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó. Những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng…”.
Cũng cần phải nói thêm Lin chính là một trong những bí danh của ông Hồ. Trên website của tỉnh Thừa Thiên Huế có xác nhận Lin là một trong những bí danh của ông Hồ. Xin giới thiệu link đề bạn đọc kiểm chứng: http://bachovoihue.violet.vn/entry/show/entry_id/6045326.
Và cũng một website nữa của đảng cộng sản Việt Nam khẳng định Lin chính là một trong những bí danh của ông Hồ. Đây là bài viết trên website của bộ Nông Nghiệp Việt Nam (http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/122/21/58006/Cac-but-danh-cua-Bac-Ho.aspx). Bài viết trên của ông Nguyễn Lân Dũng có đoạn: “Lin: Dùng tại 5 tài liệu viết từ tháng 1 năm 1935 đến tháng 9 năm 1939.”
Như vậy có thể khẳng định Lin chính là ông Hồ và ông ta đã có vợ là bà Nguyễn Thị Minh Khai như chính bà ta khai khi đi họp ở Moscow.
Thứ hai, theo lời con gái của bà Vera Vasilieva – một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng Sản, kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Bùi Tín viết lời trong “Về ba ông thánh”, thì trong thời gian diễn ra đại hội này, ông Lin hay ghé nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow.
Như vậy có thể khẳng định nếu ông Hồ và Minh Khai chính là cặp bài trùng không những chỉ là đồng chí mà còn chính là vợ chồng như chính bà Minh Khai tự khai.
Để minh chứng cho cái tên Phan Lan chính là Minh Khai tôi xin được nêu dẫn chứng – đó là đoạn trích trong bài viết  “Tổng Bí thư Lê Hồng Phong và chị Minh Khai: Một tình yêu lớn”  trên tờ Báo Mới của đảng cộng sản Việt Nam: “Trong Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong và Minh Khai đều có tham luận. Minh Khai đề cập đến “Vai trò phụ nữ trong cuộc đấu tranh chống việc chuẩn bị chiến tranh chống đế quốc mới, đấu tranh cho hòa bình”. Bài phát biểu của Phan Lan (bí danh của Minh Khai), đại biểu trẻ nhất Đại hội đã gây được tiếng vang và cảm tình của nhiều người”.
Thứ ba, xin được nói rõ hơn về cuốn sách của bà Quinn – một người thiên tả người Mỹ đã nói về sự kiện ông Hồ và bà Minh Khai là vợ chồng. Khám phá ra việc bà Minh Khai là vợ ông Hồ do tiến sĩ Sophie Quinn-Judge tìm ra khi tham khảo các tài liệu của Quốc Tế Cộng sản ở Nga sau khi chế độ Cộng sản bị tan vỡ cùng với Liên Bang Xô Viết vào năm 1989. Chi tiết này đã được bà Quinn-Judge, một chuyên gia nghiên cứu về đảng CSVN và đặc biệt cuộc đời ông Hồ, công bố trong cuốn sách “Ho Chi Minh: The Missing Years (1914-1941)” do University of California Press xuất bản.
Đề cập các tài liệu liên quan tới ông Hồ được Quốc Tế Cộng Sản lưu giữ ở Nga, bà Quinn-Judge cho biết: “Đống hồ sơ này cũng chẳng có được bao nhiêu, sắp xếp lộn xộn, đôi khi in lại hoặc đánh máy, cũng có khi nguyên bản như một lá thư, một vài tài liệu có chữ ký của ông Hồ Chí Minh hoặc ký tắt với danh xưng là Quak, Quac, NAQ hoặc với bí danh là Lee hay là Lin. Sau này khi tra khảo tới các hồ sơ lưu trữ về thuộc địa của Pháp tại Aix-en-Provence, tôi thấy có được lợi ích là góp phần để sắp đặt cho các tài liệu về Quốc Tế Cộng sản theo thứ tự hợp lý hơn dựa vào các tài liệu tại hai nơi thường khi cùng ghi nhận đến các diễn biến như nhau.”
Liên quan tới ông Hồ và bà Minh Khai, bà Quinn-Judge cho biết:
 
“Một tiết lộ khác được khám phá qua các tài liệu này là có hai sự kiện liên quan đến thời kỳ hoạt động của bà Nguyễn Thi Minh Khai chứng tỏ bà là vợ của ông Hồ Chí Minh
 
Một sự kiện thể hiện qua lá thư được viết vào năm 1934 của ông Hà Huy Tập gửi tới Ban Bí Thư Miền Đông, nêu tên đại biểu được cử đi tham dự Đại Hội Quốc Tế Cộng sản lần thứ bảy, trong đó có một người nói là ‘vợ của Quốc,’ còn sự kiện kia là ở một chỗ khác thấy nói tới danh xưng người đàn bà đó là bà Vãi (bà Minh Khai vào thời gian những năm đầu hoạt động có làm nghề hàng vải). Vì trong phái đoàn chỉ có một phụ nữ cho nên dĩ nhiên đó phải là có ý nói tới bà Nguyễn Thi Minh Khai. Sau này tại Mạc Tư Khoa, khi phải làm tờ khai lý lịch cá nhân, khi điền vào câu hỏi về tình trạng gia đình bà đã ghi là có chồng và kể tên chồng là Lin. Đó cũng là danh xưng của ông Hồ tại Mạc Tư Khoa kể từ năm 1934 cho đến năm 1938.”
Thứ tư, cũng cần nhắc lại cuốn sách “Mảnh trời riêng của lãnh tụ” của một học giả Liên Xô cũ có tên Mikhail Vasaep đã đề cập ở trên có viết tại trang 366 “Ông Hồ Chí Minh cũng đã có người vợ là người Việt Nam cũng là đồng chí của mình từ năm 1933 sau khi ông không còn liên lạc gì với người vợ đầu tiên Tăng Tuyết Minh. Người vợ thứ hai của ông Hồ Chí Minh chính là nữ chiến sỹ cách mạng Việt Nam thời kỳ đầu – Nguyễn Thị Minh Khai”.
Có thể nói cuốn sách của ông Vasaep xuất bản năm 1986 trước khi bà Quinn đưa ra cuốn sách của mình cho thấy chính người cộng sản Liên Xô đã biết rất rõ sự việc bà Minh Khai là vợ ông Hồ Chí Minh. Cuốn sách của ông Vasaep ít được biết đến vì ngay khi xuất bản đã bị đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô phản đối vì sợ lộ bí mật về hình tượng “ông Thánh” và bị cấm xuất bản. Chỉ có vài chục cuốn được giấu đi và tôi may mắn được một người thân đã từng đi Liên Xô lao động về cho tham khảo.
Kết luận: Qua bốn dẫn chứng chúng ta có thể thấy thêm một người vợ nữa của ông Hồ chính là bà Nguyễn Thị Minh Khai – người sau này lấy ông Lê Hồng Phong làm chồng thứ hai của mình. Và cũng giống như người vợ đầu Tăng Tuyết Minh, ông Hồ chưa bao giờ dám thừa nhận có lẽ vì ông ta sợ mang tiếng là nhiều vợ, lừa dối nhân dân về sự tận tụy của mình quên cả hạnh phúc riêng cho dân tộc và trên hết là cá nhân ông ta coi những người phụ nữ chỉ là món đồ chơi mà thôi.
Người có tên Đỗ Thị Lạc: 
Ngoài hai người vợ trên ông Hồ còn có thêm một người phụ nữ thứ ba tên là Đỗ Thị Lạc. Thậm chí bà này còn có một người con gái cùng ông Hồ. Có ít người biết về bà Lạc nhưng sự thật là ông Hồ và bà Lạc đã có con gái mà đến nay không biết người con ấy sống chết ra sao sau khi ông Hồ bỏ rơi người con này.
Khi Tiêu Văn đồng ý cho ông Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), cộng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Ông Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944. Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy có Đỗ Thị Lạc tức chị Thuần. Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều, Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin. Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với ông Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Do tình hình biến chuyển, ông Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS dưới bí danh Lucius vào tháng 3-1945. Đầu tháng 5-1945, ông Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó. Chuyện tình giữa ông Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Minh Khai, Tăng Tuyết Minh bị giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa. Để minh chứng cho câu chuyện này tôi xin dẫn chứng sau đây:
Đầu tiên, trong cuốn sách “Một cơn gió bụi” của sử gia, nhà chính trị Trần Trọng Kim đã được tôi giới thiệu ở phần 12, trang 75 của cuốn sách viết: “Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm và họ đã có một người con gái chung”.
Hẳn chúng ta cũng biết ông Trần Trọng Kim đã sống cùng thời với ông Hồ và là nhà viết sử hết sức trung thực nên những gì ông viết đáng để chúng ta tin cậy. Tuy nhiên nếu chỉ có mình đoạn trích nêu trên của ông thì khó có thể làm ta tin được sự việc có con gái của ông Hồ và bà Lạc. Xin nêu thêm những dẫn chứng khác sau đây:
Thứ hai, trong cuốn sách “Mảnh trời riêng của lãnh tụ” của học giả Liên Xô cũ Mikhail Vasaep đã đề cập ở trên có viết tại trang 368: “Có một người phụ nữ đã sinh cho ông Hồ Chí Minh một người con gái tại Cao Bằng (một địa danh ở Phía Bắc Việt Nam) nhưng sau này vì nhiệm vụ với cách mạng, ông Hồ Chí Minh dường như không muốn thừa nhận cháu bé …”
Đoạn trích không nói rõ tên người phụ nữ là ai nhưng những gì tác giả Liên Xô đã nói trùng khớp với nội dung về người con gái chung, nơi ở của bà Lạc mà sử gia Trần Trọng Kim đề cập. Điều này cho thấy ông Hồ thực sự có người tình và người con mà ông ta không công nhận.
Thứ ba, chúng ta cũng nên quay lại với cuốn sách của tác giả Hà Cẩn mà tôi đã từng nhiều lần giới thiệu. Trong phần 9 khi tôi đã giới thiệu về tác giả Trung cộng này (Viện Văn học Trung quốc) có một cuốn sách được in năm 1997 và tái bản năm 2000 với tiêu đề tạm dịch sang tiếng Việt: “Mao chủ tịch của tôi” bởi nhà Xuất bản Trung ương Trung quốc. Cuốn sách dày 438 trang, có đoạn ở trang 134 tạm dịch: “Cũng là đồng chí Cách mạng nhưng Mao chủ tịch không có đời sống tình ái bi đát như Hồ chủ tịch. Hồ Chủ tịch thậm chí có một người con gái với người đồng chí tên Thuần ở Pacbo mà không được công bố…”
Như đã biết người con gái tên Thuần kia chính là bí danh hoạt động của bà Đỗ Thị Lạc và những gì sử gia Trung cộng đề cập rất đúng với những nghiên cứu của sử gia Trần Trọng Kim và Vasaep.
Kết luận: Vậy qua 3 dẫn chứng có thể thấy ông Hồ đã có một người con gái với người tình Đỗ Thị Lạc. Sở dĩ tôi gọi bà Lạc chỉ là người tình vì không thấy ai đề cập đến lễ cưới cũng như hôn thú của bà và ông Hồ. Hay nói cách khác bà Lạc chỉ là một trong những người tình qua đường của ông Hồ. Và hành động không nhận, không nuôi người con gái của ông và bà Lạc cũng cho thấy bản chất vô trách nhiệm của ông ta với chính giọt máu của mình. Hay nói cách khác người con không biết sống chết thế nào của ông Hồ chỉ là kết quả ngoài mong đợi của ông ta trong chuỗi hành trình đi tìm thú vui xác thịt cho bản thân.
Người đàn bà đoản mệnh Nông Thị Xuân:
Mối tình với cô gái người Nùng tên Nông Thị Xuân được bạch hóa rõ ràng nhất qua nhiều nhân chứng còn sống viết và kể lại. Tại Hà Nội, cô Xuân được lệnh ở nhà riêng số 66 Hàng Bông Nhuộm, nhưng vẫn phải đến ‘gặp’ bác Hồ. Năm 1956, Nông Thị Xuân sinh cho ông Hồ một người con trai đặt tên Nguyễn Tất Trung. Sau đó Xuân có ý muốn chính thức hóa cuộc hôn nhân với ông Hồ. Ngày 11 tháng 2, 1957, vào khoảng 7 giờ tối, Xuân được ô tô đón sang gặp ông Hồ. Sáng hôm sau, ngày 12 tháng 2, 1957, công an báo tin cho cô Vàng (em cô Xuân) là Xuân đã chết vì tai nạn ô tô. Liền sau đó cô Vàng đến thăm xác chị ở nhà thương Phủ Doãn và chứng kiến biên bản khám nghiệm tử thi của bác sĩ. Bác sĩ cho biết nạn nhân không chết vì tai nạn ô tô, vì khám toàn cơ thể không có dấu hiệu gì cả ngoại trừ vết nứt trên sọ đầu, và bác sĩ đã tuyên bố, có thể nạn nhân bị trùm chăn trên đầu rồi bị đập bằng búa…
Cô Vàng vội chạy về báo tin ngay cho người chồng sắp cưới là một bộ đội đang bị thương tật sống ở tỉnh Cao Bằng. Vàng biết chắc rằng cô cũng sẽ bị thủ tiêu vì cô chứng kiến sự thật chị của cô do ông Hồ âm mưu sát hại. Thật vậy, ngày 2 tháng 11, 1957, cô Vàng bị giết chết và xác được tìm thấy trên sông Bằng Giang, đến ngày 5 tháng 11 xác mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ.
Tin này được phổ biến rộng rãi hơn nhờ lá thư của anh bộ đội này đệ lên Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch Quốc Hội CHXHCN VN, vào ngày 29 tháng 7, 1983, trước khi anh qua đời sau cơn bạo bệnh. Trong lá thư anh bộ đội đã kể đầy đủ chi tiết những gì cô Vàng đã kể cho anh nghe, cả việc Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn được ông Hồ Chí Minh giao phó trông coi cô Xuân. Trong thư kể lại hình ảnh Trần Quốc Hoàn đã hãm hiếp cô Xuân rất tàn nhẫn trước đó một tuần khi được lệnh giết cô Xuân… Năm 2007, nhà văn đấu tranh trong nước, bà Trần Khải Thanh Thủy, đã tìm hiểu về tông tích của Trung và chính bà đã tìm gặp anh ta. Qua việc kể lại của Trần Khải Thanh Thủy người ta không ngần ngại gì nữa khi cho rằng Nguyễn Tất Trung chính là con của ông Hồ. Được biết anh ta hiện đang được Đảng ‘nuôi’ đàng hoàng trong khu nhà sang trọng tại Hà Nội.
Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng (1904-1979), bí danh Sao đỏ, một lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôi. Chu Văn Tấn cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt bắc. Khi ông Hồ qua đời ngày 2-9-1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung. Để minh chứng cho điều này tôi xin dẫn chứng sau đây:
Bà Nông Thị Xuân, sau đổi là Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1932, 
mất năm 1957. Chụp cuối năm 1956 tại Hà Nội sau khi đẻ Nguyễn Tất Trung.
Hình ảnh vợ chồng Nguyễn Tất Trung và Lưu Thị Duyên cùng con là Nguyễn Thanh Trung 
(bên phải) tại gia đình ông Vũ Kỳ vào năm 1998; người có râu trắng dài là ông Vũ Kỳ (giữa)
Hình ảnh vợ chồng Trung và Duyên bên dòng suối ở Hang Pắc Bó – Cao Bằng (suối Lê Nin)
Đầu tiên, Toàn bộ lá thư của anh bộ đội được đăng trong cuốn “Công Lý Đòi Hỏi” của cựu đảng viên Nguyễn Minh Cần, Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, xuất bản 1997 bởi nhà xuất bản Văn Nghệ dày 394 trang. Ông hiện tỵ nạn chính trị tại Nga. Chúng ta cũng có thể xem giới thiệu cuốn sách tại link sau:
Cuốn sách của tác giả Nguyên Minh Cần có đoạn:
“Bây giờ xin quay trở lại câu chuyện những cô gái ở Cao Bằng. Theo những điều người ta kể cho tôi trong những năm gần đây và được xác minh qua tài liệu đã xem thì có hai chi tiết hơi khác (các cô họ Nguyễn và cô Xuân chỉ có một con với ông Hồ), ngoài ra, các chi tiết khác về cơ bản đều giống nhau. Sự việc cụ thể như sau: cô Nguyễn Thị Xuân (tên gọi trong gia đình là Sang) và em họ, cô Nguyễn Thị Vàng, 22 tuổi, quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cuối năm 1954, đã tình nguyện vào làm công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Được mấy tháng thì ủy viên Trung ương đảng, chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần Trần đặng Ninh, gặp cô Xuân nói chuyện vài lần, rồi đầu năm 1955 cho xe đón cô Xuân về Hà Nội, “nói là để phục vụ Bác Hồ”. Mấy tháng sau, cô Xuân cũng xin cho cô Vàng và cô Nguyệt (con gái của ông Hoàng Văn Đệ, cậu ruột của cô Xuân) về Hà Nội ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm. “Vì các vị lãnh đạo không cho chị Xuân ở cùng với Bác trên nhà Chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Bộ công an, trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của công an. Cuối năm 1956, chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung.
 
“Em có nhiệm vụ bế cháu”, đấy là lời Vàng kể lại cho người chồng chưa cưới của mình trước khi cô bị giết. Và cũng nhờ Vàng đã kể lại, nên chúng ta biết được những sự việc sau đây. Khoảng mồng 6, mồng 7 tháng 2 năm 1957, Trần Quốc Hoàn đến, nói chuyện vu vơ một lúc, rồi giở trò… kéo cô Xuân vào cái buồng xép, định hãm hiếp. Cô Xuân ú ớ la lên.Vàng hoảng sợ tru tréo, còn Nguyệt khiếp sợ quá co dúm lại ngồi ở trong góc. May lúc đó có tiếng cửa sổ nhà dưới xô sầm vào tường, Hoàn sợ, bỏ cô Xuân ra, rút súng lục ra dọa: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết”. Rồi xuống thang, ra ô tô chuồn. Mấy hôm sau, Hoàn lại đến, lên gác, đi thẳng vào phòng, ôm ghì cô Xuân hôn. Cô Xuân xô nó ra: “Không được hỗn, tôi là vợ ông Chủ tịch nước”. Nó nói: “Tôi biết bà to lắm, nhưng tính mạng bà nằm trong tay tôi” Rồi lấy súng dí vào ngực cô Xuân, nó rút ra sợi dây dù đã thắt sẵn thòng lọng tròng vào cổ cô Xuân kéo cô lên giường, tự tay lột hết quần áo, ngắm nghía, rồi hiếp cô. Cô Xuân xấu hổ lấy tay che mặt. Nó kéo tay cô và nói: “Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già, lại còn vờ làm gái.
Qua những gì tác giả Nguyễn Minh Cần cho ta thấy thực sự ông Hồ và bà Xuân có con trai tên là Tất Trung và sau đó bà ta bị giết bởi Trần Quốc Hoàn.
Thứ hai, câu chuyện cô Xuân này cũng được nhắc tới trong cuốn “Đêm Giữa Ban Ngày” củaVũ Thư Hiên, cũng một cựu đảng viên, con trai của ông Vũ Đình Huỳnh – là cận vệ, giúp việc, lễ tân trang phục, thư ký riêng, rất gần gũi với ông Hồ. Trong cuốn sách này ông Hiên đã đề cập đến việc ông Hồ có người con tên Nguyễn Tất Trung với bà Nông Thị Xuân rồi bà Xuân bị Trần Quốc Hoàn thủ tiêu.
Cũng cần nói thêm khi ông Vũ Thư Hiên gặp ông Nguyễn Minh Cần tháng 7 năm 1993 cũng đã nói với ông Cần, sau này được ông Nguyễn Minh Cần kể lại:
“Hồi tháng 7 năm 1993, khi gặp nhà văn Vũ Thư Hiên, một người “cùng cảnh ngộ”, tức là cùng bị dính vào “vụ án xét lại – chống đảng”, đã sang được Moskva, tôi mới đem chuyện đó kể ra. Hiên bật người lên, vui mừng ra mặt, dường như anh được thêm một người nữa biết cái chuyện “thâm cung bí sử ” này và chuyện tôi kể cho anh lới một lần nữa xác nhận điều mà cụ thân sinh của anh, ông Vũ Đình Huỳnh, đã dặn dò anh. Hiên nói liền: “Nhưng không phải ô tô từ Chủ tịch phủ phóng ra đâu, anh ạ. Mà từ phố Hàng Bông Nhuộm đi lên Nhật Tân…” Tôi đáp lới: “Chính là Quốc Hùng nói với tôi thế!” Rồi Hiên thủng thẳng tâm sự với tôi: “Có một hôm, ông cụ tôi bảo tôi lên xe, chúng tôi đi lên Hồ Tây, rồi theo đường Quảng Bá đi lên đường Nhật Tân, chỗ làng đào, anh biết chứ?” Tôi trả lời theo kiểu dân Bắc: “Biết quá đi, chứ lị! Từ 51, tôi phụ trách ngoại thành cơ mà”. Yên trí là tôi biết rõ địa thế vùng này, anh kể tiếp: Dừng xe lại, hai bố con ra xe, ông cụ dẫn anh đến một đoạn đường, hình như một bên có rặng ổi, rồi bảo: “Con ơi, con nhớ những lời bố dặn đây! Tới đây, đánh dấu một vụ án mạng, một vụ oan khuất khủng khiếp mà Trần Quốc Hoàn (ủy viên Bộ chính trị, bộ trưởng công an) là chính danh thủ phạm. Con hãy ghi nhớ, khi có dịp thì nói lên sự thật…
Như vậy có thể khẳng định về việc ông Hồ và bà Xuân có người con và sau này bà Xuân bị thủ tiêu là sự thật.
Thứ 3, ngoài hai nhân chứng là ông Nguyễn Minh Cần và ông Vũ Thư Hiên thì chính người Trung cộng đã biết việc này và coi nó như một vết nhơ mà đảng cộng sản Việt Nam và ông Hồ Chí Minh muốn giấu nhẹm đi đề che đậy sự thật ông Hồ là người nhiều vợ con và không có trách nhiệm với gia đình mình. Chính tác giả Hà Cẩn tôi đã giới thiệu ở trên cũng vẫn trang 134 có viết tiếp về những người vợ của ông Hồ: “Ngoài người con gái với người phụ nữ tên Thuần, Hồ chủ tịch cũng còn có người con trai khác mà mẹ của anh ta bị chết một cách đầy ngờ vực trong một tai nạn giao thông tại Hà Nội.”
Điều này càng khẳng định thêm về sự thật mới quan hệ của ông Hồ và bà Xuân dẫn đến kết quả có con trai và bà Xuân bị giết. Tác giả Hà Cẩn không nói rõ thủ phạm là ai nhưng khi đề cập đến vụ án “đầy ngờ vực” cho thấy ngay cả đồng chí của ông Hồ cũng đặt dấu hỏi về ông Hồ và đảng cộng sản trong cái chết của bà Xuân.
Thứ 4, khi nghiên cứu về Hồ Chí Minh một sử gia, đảng viên đảng cộng sản Ba Lan – ôngConstatin Kostadinov cũng đã viết tại trang 90 cuốn sách “Những người con của lãnh tụ như sau: “Một người con trai của chủ tịch Hồ Chí Minh có tên Nguyễn Tất Trung được nuôi nấng bởi trợ lý riêng của chủ tịch nhưng đã không nối nghiệp cha làm chính trị….”
Cuốn sách được viết năm 1982 và in năm 1984 bởi nhà xuất bản Cách Mạng ở Ba Lan. Chính việc này cũng khẳng định về cuộc tình và kết quả của ông Hồ với bà Xuân.
Kết luận: Qua 4 dân chứng chúng ta có thể thấy mối tình của ông Hồ và bà Xuân là có thật và được kết thúc bằng một số phận người con không được thừa nhận và cái chết bi đát của bà Xuân cũng như em gái bà.
Một người phụ nữ Nùng khác – Nông Thị Trưng
Một phụ nữ cũng người sắc tộc thiểu số, Tầy, khá xinh đẹp tên Nông Thị Ngác. Lý do câu chuyện tình đặc sắc này được nổi bật những năm sau này là do cuộc phỏng vấn của tờ báo Xuân tại Việt Nam vào khoảng năm 1997. Nhà báo có phỏng vấn bà Nông Thị Ngác, một chứng nhân sống nói về ‘Bác Hồ’. Bà Ngác đã không dấu giếm chi cả những gì đã xảy ra trong thời gian ông Hồ tại hang Pác Bó vào đầu thập niên 40. Bà kể hằng ngày Ngác đến ‘học tập’ với ông Hồ ròng rã cả năm. Hồ căn dặn Ngác không nên gọi Hồ bằng ‘Bác’ mà hãy gọi là ‘Chú Thu’ và xưng ‘Cháu’. Thế thì sau đó chú cháu tiếp tục học tập…
Khi ông Hồ cướp chính quyền thành công, trở thành người lãnh tụ chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam, người nữ cán bộ gương mẫu mà ông Hồ yêu quý, tức Nông Thị Ngác, lại được cất chức làm Chánh Án Tòa Án Nhân Dân tỉnh Cao Bằng…. Ông Hồ yêu quý Ngác đến độ đặt cho người nữ cán bộ này một tên nữa là Nông Thị Trưng, ý giống như Trưng Trắc, Trưng Nhị vậy. Tin Nông Thị Ngác là ai cũng đã được người dân trong nước bàn tán. ‘Chú Thu’ và ‘Cháu Trưng’ cũng đã được nhắc tới trong các sách tuyên truyền của cộng sản, nhất là các tác giảTrần KhuêThép Mới
Thép Mới kể lại trong “Năng Động Hồ Chí Minh” (trang 48) rằng sau 20 năm ngày rời Pác Bó, ông Hồ trở lại, 1961, lúc này coi như sự nghiệp khá thành công, ông có thời giờ về thăm lại người cũ, cảnh xưa. Khi vào nhà thăm gia đình bà Ngác, ông Hồ tiếp xúc với ông Dương Đại Lâm, người mà trước đây ông Hồ đã gởi gắm Ngác vào gia đình (không nhắc Ngác đang ở đâu), các cháu vây quanh HCM thân mật… Tác giả còn nhấn mạnh một trong các cháu đã trở thành ‘thanh niên tuấn tú’ góp phần xây dựng đất nước.
Cùng sách trên, Thép Mới ghi (trang 43): “Bác trực tiếp hỏi chuyện, nghe kể về hoàn cảnh gia đình và bản làng đau khổ, rất thương, nhận làm cháu nuôi, đặt cho bí danh là Trưng, Nông Thị Trưng. Trưng ở với vợ chồng Đại Lâm, tên tục là Sù, hàng ngày được đến lán Bác một giờ để Bác chỉ bảo…” Như vậy rất rõ, Nông Thị Ngác có bí danh là Nông Thị Trưng.
Để chứng minh cho mối quan hệ của bà Ngác với ông Hồ tôi xin được trình bày những tài liệu sau đây.
Đầu tiên, trong “Ho Chi Minh”, tác giả William Duiker – một người thiên tả, trang 575, viết:“In April 2001, the ralatively unknown government official Nong Duc Manh, widely rumored to be the illegitimate son of Ho Chi Minh, was elected general secretary of the VCP” (Vietnamese Communist Party- 14).
Số 14 để người đọc lật ra sau cuốn sách đọc tiếp footnote 14: Nong Duc Manh has denied these rumors, but he concedes that his mother, a member of the Tay ethnic minority, served as Ho’s servant after the latter’s return to Vietnam during the early 1940s…”
Tạm Dịch: “Vào tháng 4, 2001, người vô danh tên Nông Đức Mạnh chính thức nhậm chức trong cơ quan chính quyền, dư luận xôn xao bàn tán rộng rãi cho rằng Mạnh là con trai rơi của Hồ Chí Minh, và ông ta đã được chọn làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam.Nông Đức Mạnh phủ nhận những tin đồn này, nhưng ông ta lại công nhận rằng mẹ ông, một thành viên của dân tộc thiểu số Tầy, bà là người phục vụ ông Hồ sau khi ông Hồ trở về Việt Nam vào đầu thập niên 1940.”
Chúng ta cũng biết ông Nông Đức Mạnh sinh vào đầu thập niên 40. Báo Time phỏng vấn Mạnh vào 2002 và ghi ông ta được 61 tuổi. Như vậy thì ông Mạnh phải ra đời vào cuối 1941 hoặc 1942. Sau ngày sách của Duiker xuất bản, 2000, và cuộc phỏng vấn của báo Time, website của “Đảng CSVN” đã xóa hoàn toàn tiểu sử của ông Nông Đức Mạnh trước đó ghi rõ Nông Đức Mạnh con của “nhà cách mạng Nông Văn Lai và bà Hoàng Thị Nhị.
Vấn đề đặt ra là tại sao khi có cuốn sách của Duiker và Time phỏng vấn ông Mạnh thì tiểu sử phải bị xóa bỏ trong khi ông Mạnh là người đứng đầu đảng, việc minh bạch cha mẹ mình trên website của chính phủ có gì sai? Đó chính là việc minh chứng cho ông Mạnh chinh là con của bà Ngác và ông Hồ bị cố tình giấu giếm đi.
Thứ hai, cũng liên quan đến sự việc ông Hồ có con với và Ngạc và có con trai, tác giả người Nga, Mikhail Vasaep cũng đề cập tới trong cuốn sách của mình đã được tôi giới thiệu ở phần trên trong trang 372 “Cũng có những nguồn tin đáng tin cậy từ KGB cho biết có một người con trai của Hồ Chí Minh với người phụ nữ tên Nông Thị Trưng được nuôi nấng bời một gia đình người dân tộc thiểu số tại Cao Bằng…
Như vậy có thể khẳng định thêm thông tin ông Hồ có con với bà Nông Thi Trưng (Ngác) là hoàn toàn có thật. Và người con đó chính là ông Mạnh với những thông tin được nêu ra từ W. Duiker.
Thứ ba, khi đề cập đến vấn đề quan hệ với bà Nông Thi Trưng thì tác giả Constatin Kostadinovđã giới thiệu ở trên trong cuốn “Những người con của lãnh tụ” xuất bản năm 1984 tại Ba Lan có viết tại trang 92 “Thật ra trong một nghiên cứu cho thấy chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có một mà có những hai con trai nhưng đến nay chưa biết số phận chính trị có giống như người con mang tên Nguyễn Tất Trung hay không…”
Chúng ta nên nhớ vào thời điểm cuốn sách của ông Kostadinov ấn hành thì ông Mạnh chưa có những dấu ấn trên chính trường (năm 1984) nên nhận xét của ông Kostadinov rõ ràng là hợp lý. Nhưng cũng cho thấy về đứa con của ông Hồ không chỉ một mà là 2 con trai.
Thứ tư, chính tác giả Hà Cẩn trong cuốn sách của mình đã được giới thiệu ở trên cũng từng viết tại trang 135 “Bi kịch tình ái của Hồ Chủ Tịch không chỉ dừng lại ở những bà vợ không được thừa nhận mà còn kể cả 2 người con trai của Chủ Tịch. …”
Đến đây ta có thể khẳng định tác giả Hà Cẩn đã ám chỉ về Nguyễn Tất Trung và ông Nông Đức Mạnh là con của ông Hồ Chí Minh. Nhưng dù cho có là ai đi nữa thì tác giả cũng khẳng định ông Hồ có nhiều con và có nhiều vợ không được thừa nhận.
Kết luận: Qua 4 dẫn chứng trên chúng ta có thể thây được ông Hồ và bà Ngác có một mối quan hệ già nhân ngãi non vợ chồng và có con trai là sự thật. Và sản phẩm đó chính là ông Nông Đức Mạnh.
Vài mối tình ngoài lề cần tìm hiểu thêm
Ngoài 5 người phụ nữ để lại dấu ấn bằng con cái và thảm kịch, có hôn thú như nêu trên thì còn có nhiều người phụ nữ từng là người tình của ông Hồ hay được ông ta thích thú. Điều này cho thấy ông ta không hề “hết mình lo cho dân tộc” như đảng cộng sản và ông ta tự bốc thơm mình. Và quan trọng hơn một người có nhiều vợ lại có nhiều người tình như vậy khó có thể là“vị thánh” được. Những câu chuyện về Huỳnh Thị Thanh XuânPhương Mai hay vợ ôngChu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu… chưa có nhiều tài liệu kiểm chứng nên tôi không nêu ra ở đây. Trên nguyên tắc tôn trọng sự thật và không đi sâu vào bôi nhọ cá nhân nên tôi chỉ nêu lên những gì đã có bằng chứng khách quan nhất.
Ngoài ra bạn đọc cũng nên tìm hiểu cho mình về sự thật về những người tình của ông Hồ sau đây khi đã có những nguồn tin khách quan nói đến.
Một trong những người phụ nữ Tây Phương có cô Marie Bière. Thành Tín tức Bùi Tín ghi trong “Về Ba Ông Thánh”, xuất bản 5/1995, (trang 149): “Theo tài liệu Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Biere nào đó…” Cũng theo Bùi Tín nói về tài liệu tham khảo của Sophia Judge, một nữ sử học gia Hoa Kỳ rành tiếng Việt đã bỏ nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về ông Hồ, nhất là 2 năm tại Moscow… Ông Hồ có người tình tên Vera Vasilieva. Vera có con gái riêng, và cô này kể cho bà Sophia nghe. “Về Ba Ông Thánh”, (trang 151): “Vào dịp đại hội 7 của quốc tế cộng sản, cô ta mới 10 tuổi, nhưng còn nhớ ông Hồ thường ghé chơi nhà mẹ cô ta và một số lần ngủ lại trên ghế dài vào năm 1934…”
Theo tài liệu của bà Sophia JudgeBùi Tín, cùng sách trên (trang 153): “Anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm. Ông còn để lại khi về nước một va-ly áo quần ông sắm cho vợ ông toàn là loại sang, cô bé Nga này lấy ra dùng bao nhiêu năm mới hết!” Hồ Chí Minh còn ‘yêu’ cả vợ của Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu khi đang dan díu với người phụ nữ Nga Vera này.
Ngoài ra, trong “Ho Chi Minh” tác giả William Duiker có ghi một phụ nữ trẻ khác tên Lý Sâm, lúc đó là vợ của Hồ Tùng Mậu, đồng chí của ông Hồ: Lý Sâm và HCM đã bị cảnh sát Hongkong bắt tại một phòng hotel khi hai người đang trong phòng ngủ, lúc 2 giờ sáng ngày 6, tháng 6, 1931.”
Sau khi bị tù tại Hongkong, Hồ có tên mới là Tống Văn Sơ. Sau khi rời khỏi HongKong HCM đổi nhiều tên họ khác nhau để tiếp tục hoạt động. Có những nguồn tin cho biết khi ông trở về lại Nga, đàn anh cũng đã tìm cho ông Hồ một người phụ nữ Nga để làm vợ…
Trong cuốn “Con Rồng Việt Nam” tác giả cựu hoàng Bảo Đại ghi “Hồ Chí Minh có một người vợ Nga và có chung một người con gái, nhưng ông ta không bao giờ nhắc đến”(trang 205). Sở dĩ cựu hoàng Bảo Đại biết chuyện này nhờ những dịp đi ‘công tác’ với Võ Nguyên Giáp vào 1945. Ông Giáp đã kể lại một số sự thật về HCM, lúc này Bảo Đại mới biết rõ HCM là tên quốc tế cộng sản nên tìm đường lưu vong.
Kết luận chung: Như vậy qua 6 phần chúng ta thấy ông Hồ có rất nhiều vợ, người tình và con cái chứ không phải là một “vị Thánh” như ông ta và đảng cộng sản tung hô cả đời không vợ con mà chỉ lo cho dân tộc. Đây chính là một trong những hành động nói lên sự xấu xa của người cha không nhận con, người chồng không nhận vợ, người lãnh tụ nói dối dân tộc về mình.
B. Bản chất của sự việc?
Có thể nói chuyện tình ái và chuyện có nhiều vợ con cũng chẳng là chuyện to tát. Ngày nay việc sống như vậy càng dễ được chấp nhận hơn. Các vị lãnh tụ có vợ nọ con kia là điều không quá xa lạ nhưng họ dám thừa nhận hoặc được pháp luật các nước đó phanh phui ra. Nhưng điều này với ông Hồ và đảng cộng sản lại khác. Xin được nói rõ ở đây.
Thứ nhất, đối với cá nhân ông Hồ khi ông ta có vợ con mà ông ta không chịu nhận họ, thậm chí còn làm ngơ với cái chết của họ như trường hợp bà Xuân là một tội ác. Như vậy ông ta thật là một người cha và người chồng xấu.
Thứ hai, đối với dân tộc ông Hồ cũng là kẻ lừa dối khi ông ta sinh thời không chịu công khai về vợ con mình mà để yên cho đảng cộng sản tự tung, tự tác bốc thơm ông ta không có vợ con, chỉ dành hết tâm huyết cho dân tộc và đất nước.
Thứ ba, chính đảng cộng sản cũng phải chịu trách nhiệm với ông Hồ Chí Minh về việc cùng ông ta bưng bít sự thật về những lý lịch bất minh của ông Nông Đức Mạnh và ông Nguyễn Tất Trung. Nhất là đối với một người từng giữ chức Tổng bí thư như ông Mạnh là vi phạm pháp luật. Hãy nhìn sang Mỹ để thấy ông Obama công khai lý lịch của mình từ cái giấy khai sinh cho thấy đảng cộng sản không tôn trọng pháp luật và coi thường nhân dân Việt Nam.
Thứ tư, chúng ta có thể thấy sự việc ông Hồ không công khai vợ con cho thấy trong chế độ cộng sản luôn luôn tồn tại khái niệm dối lừa mà đến cả một chuyện cỏn con như chuyện có vợ con cũng bị bưng bít sự thật. Đó là sự tồi tệ của chính thể cộng sản cần phải dẹp bỏ.
Vậy bản chất sự việc không thừa nhận vợ con của ông Hồ và hành động bưng bít của đảng cộng sản ở đây nói lên điều gì? Đó chính là muốn tiếp tục lừa dối dân tộc về một con người thánh thiện giả tạo như ông Hồ để tiếp tục giữ quyền độc tài đối với dân tộc Việt Nam. Tôi đã gặp nhiều người cho đến nay vẫn bị nhồi sọ với luận điệu “Cả đời Bác không vợ con chỉ lo cho nhân dân…” Bài viết này của tôi chỉ có mục đích nên lên sự thật về chuyện ông Hồ có nhiều vợ con mà ông ta không thừa nhận. Chính ông ta và đảng cộng sản đã lợi dụng điều này để lừa dối dân tộc.
Hoàn thiện và chỉnh sửa 01/09/2012
______________________________________
P/S:
Kính thưa Dân Làm Báo và bạn đọc!
Đây là bài viết cuối cùng trong loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ  của tôi về ông Hồ Chí Minh. Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn tới Dân Làm Báo đã nỗ lực hết mình trong việc cho đăng tải những bài viết của tôi nhằm trả lại sự thật cho lịch sử đang bị đảng cộng sản bưng bít, bẻ cong để phục vụ cho mục đích độc tài cai trị của mình. Nỗ lực của Dân Làm báo hết sức đáng ghi nhận như một cây cầu kết nối tác giả và bạn đọc đến những sự thật không thể chối bỏ về nhân vật gian ác, bán nước và giết người hàng loạt… như ông Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, riêng cá nhân tôi trong thời gian viết bài đã được sự ủng hộ của rất nhiều bạn đọc mà tôi không thể nhớ hết tên khi đọc comment. Những bạn đọc đó là những độc giả thông minh nhất mà chúng ta đang cần để góp ý cho tôi nói riêng hoặc giúp cho những ai bị nhồi sọ sẽ có ngày tỉnh ra khỏi u mê. Sự đóng góp của bạn đọc là vô giá với những bài viết của tôi. Nếu không có bạn đọc ủng hộ, góp ý thì những bài viết của tôi không đem lại những thành công nhất định về nội dung và dư luận như hiện nay. Chính tôi đôi khi đã tìm thêm được nhiều gợi ý cho những bài sau này khi ở các bài viết trước được nhiều tác giả bổ sung tu liệu.
Xin chân thành cảm ơn bạn đọc ủng hộ nói chung và đặc biệt là những người có đóng góp nhiều nhất cho bài viết của tôi như: Loạt bài của tác giả Lê Nguyên. Bài đóng góp của tác giả Truyền Tấn, Bác Dân Nam với những bài viết và link hay, tác giả Lite_Breeze với những kiến thức về Trung cộng sâu rộng, còm sĩ 1NXX với những đóng góp thông tin phản biện giàu sức nặng và những thông tin pháp lý để tôi tiến hành việc chuẩn bị đưa tội ác Hồ Chí Minh ra công luận quốc tế… Ngoài ra là rất, rất nhiều còm sĩ mà tôi chưa biết mặt, chưa gặp, chưa biết tên thật nhưng đã có những đóng góp tích cực cho loạt bài viết của tôi thêm hoàn thiện: Trực ngôn, BN, PHO, IlluminatiMINDCONTROL, HS-TS-VN, xoathantuong, bác 2 què 1 công dân xứ @, Ju Mong, VN buồn, Hàn sĩ, tieu phu dat quang, MỘT BẠN ĐỌC, Người cảm nhận, Lớp 13, Changkho_thuychung12345632, Người Trẻ Sài Gòn, Lê cửu Long, Danhaiphong, Vitcondaudat, Sinh năm 1980, YVN, Con cháu bác Thiệu, SongBachDang, titanic, em16, SuthatLSVN, Hạ trùng nguyên, Thêm chữ cho Nghĩa, Dân Viêt, Dân Việt Nam, Usa, HK, HKK, Rebecca TSNV, 9xsaigon, Hung Le, Thu Trâm, Dân Chủ, Người Dân, saigon, HT Thich su that… và rất, rất nhiều còm sĩ tôi không thể nhớ và liệt kê ra hết được.
Trong thời gian tới, tôi xin giành thời gian để viết một số bài về các lãnh tụ cộng sản khác như Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ… để cho nhân dân ta thấy được bản chất thật sự của đảng cộng sản Việt Nam. Ngoài ra mục đích lớn nhất của tôi là chuẩn bị đưa Hồ Chí Minh và tội ác của ông ta ra Liên Hiệp Quốc và công luận quốc tế.
Ngay sau bài này, tôi sẽ gửi tới bạn đọc một bài “CÁO TRẠNG” tội ác của đảng cộng sản và ông Hồ để bạn đọc góp ý trước khi tôi đi đến các bước tiếp theo cùng tôi đứng lên trả lại sự thật cho nhân dân Việt Nam. Khi có kế hoạch cụ thể tôi xin cùng người đại diện của mình trình bày trên Dân Làm Báo để bạn đọc góp ý, giúp đỡ và ủng hộ.
Xin chân thành cảm ơn Dân Làm Báo và bạn đọc!
________________________________
Đã đăng:

Thông Bạch của Chùa Giác Hoa, Sài gòn

Saturday, March 16th, 2013

 

Phật lịch 2556                                                                                                  Số: 03/VHĐ/TB/VT
THÔNG BẠCH

Khâm tuân Lời Kêu Gọi của Đức Tăng Thống

V/v: cần phải thay đổi Hiến pháp để chuyển sang dân chủ cho Việt Nam

Kính bạch chư Tôn đức,
Kính thưa Quí Đồng bào, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước,
Kính thưa Liệt quí vị,
Đã 68 năm qua, Đảng Cộng sản cai trị đất nước bằng chế độ độc tài, gây ra bao cuộc chiến tranh, tan nát trên đất nước nầy; làm cho dân tộc phải gánh chịu không biết bao nhiêu chết chóc, đau thương, ly tán, đói nghèo; làm cho tình người khô cạn, văn hoá, giáo dục xuống cấp, đạo đức suy đồi, tham nhũng, hối lộ trở thành quốc nạn, thanh niên nam nữ phải đi làm thuê, làm mướn khắp nơi trên thế giới, người Việt không còn được ai tôn trọng. Nay hoạ mất nước lại gần kề.
Để nói lên những bức xúc nầy, năm 1994, Hoà thượng Thích Quảng Độ, Tổng thư ký Viện Hoá Đạo GHPGVNTN, đã gửi cho Tổng Bí thư Đỗ Mười bản “Nhận Định về những Sai lầm tai hại của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Dân tộc và Phật giáo”. 
Năm 2001, Đại Lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo đã đưa ra “Lời Kêu Gọi Dân chủ hoá Việt Nam”bằng sách lược gồm 8 điểm, mong thay đổi vận mạng đất nước và dân tộc.
Ngày 05.3.2013, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN, Đại Lão Hoà thuợng Thích Quảng Độ đã thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện lại một lần nữa, cất lời kêu gọi cần phải thay đổi Hiến pháp hiện nay để chuyển từ chế độ độc tài sang nền dân chủ đa nguyên đa đảng vì:  “ Dân chủ là nền tảng phát triển kinh tế, đem lại no cơm ấm áo, hạnh phúc và tự do cho toàn dân”.
 
“Qua Lời Tuyên bố, Đức Tăng Thống đã nhân danh Hội Đồng Lưỡng Viện tán thán sự can đảm, cấp thời và đề cao hai văn kiện vừa tung ra trong nước : “Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp” viết ngày 19.1.2013 đăng trên Mạng Bauxite Việt Nam với 72 chữ ký và “Lời tuyên bố của các Công dân Tự do” gợi ý từ bài viết của Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, công bố ngày 28.2.2013 trên Mạng DânLàmBáo với 5 yêu sách : Bỏ điều 4 trên Hiến pháp và tổ chức Hội nghị Lập hiến / Ủng hộ đa nguyên đa đảng / Đòi hỏi một nhà nước tam quyền phân lập / Phi chính trị hóa quân đội / và Quyền tự do ngôn luận của người công dân. 
Trong chế độ độc tài, độc đảng tại Việt Nam, tuy cũng có Hiến pháp, Luật pháp, nhưng không phải dùng để bảo vệ cho người dân, bảo vệ đất nước, mà chỉ bảo vệ chế độ độc tài Cộng sản. Với bản Hiến pháp không minh bạch, nhiều bất công, Nhà cầm quyền có thể nhân đó, tuỳ tiện đặt ra những điều luật mơ hồ để đàn áp nhân dân, duy trì thể chế độc tài, độc đảng. Rất nhiều điều mâu thuẫn, phi lý trong Hiến Pháp:
– Điều 4 ghi rằng:
“Đảng cộng sản Việt Nam… đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc…. là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội….”
Điều này đã hợp pháp hoá cho Đảng Cộng sản quyền kéo dài chế độ độc tài, độc đảng triền miên trên đất nước.
– Và Điều 83 ghi rằng:
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam….”. 
Đem so với Điều 4, thì Đảng Cộng sản và Quốc hội, tổ chức nào lớn hơn? Đó là sự mâu thuẫn rất lớn.
Sau những Điều 68, 69… đề cập về nhân quyền trong Hiến pháp, có những câu thòng: “theo qui định của pháp luật” , nhân đó, Nhà cầm quyền có thể viện dẫn để đàn áp, chà đạp mọi nhân quyền, khiến cho người dân không còn một chút nào về các quyền tự do báo chí và ngôn luận, tự do hội họp và lập hội, tự do tư tưởng và tín ngưỡng, tự do cư trú và đi lại…
Với những câu thòng sau các điều khoản đó, buộc Hiến Pháp phải theo Luật pháp. Lẽ ra, Luật pháp là bộ luật sau, phải dựa theo tinh thần Hiến pháp mới đúng. Điều nghịch lý này đã tạo điều kiện cho Nhà cầm quyền mặc tình đàn áp nhân dân trên mọi lãnh vực mà lẽ ra người dân có quyền được hưởng.
Đó là nguyên nhân vì sao trong Hiến pháp tuy có ghi các điều khoản về các quyền tự do, dân chủ, nhưng trên thực tế, người dân Việt Nam không được hưởng một quyền nào cả. Trong nước có đến 700 tờ báo, 100 đài phát thanh, nhưng không có một tờ báo, một đài phát thanh tư nhân nào, tất cả đều do Nhà cầm quyền làm chủ. Cũng không có một đảng phái chính trị nào khác được tồn tại ngoài đảng Cộng sản. Các tổ chức, hội đoàn dân sự đều bị áp đặt vào trong Mặt Trận Tổ Quốc là tổ chức ngoại vi, công cụ của đảng Cộng sản, để kiểm soát.
Hiến pháp hiện hành chứa đựng nhiều điều mâu thuẫn, phi lý, như một bản thảo chưa hoàn chỉnh.
Vì sự mù mờ, không rõ ràng, đầy phi lý của Hiến pháp và Luật pháp, Nhà cầm quyền độc tài muốn suy diễn thế nào cũng được, nên mới có việc Đảng Cộng sản chưa thắng cử lần nào, nhưng vẫn ngang nhiên lãnh đạo đất nước suốt 68 năm qua, bên cạnh những cuộc bầu cử được dàn dựng cho có vẻ dân chủ để đánh lừa nhân dân và dư luận quốc tế.
Gần đây, để đàn áp các thành phần tôn giáo, nhân sĩ, trí thức, công nhân, nông dân, sinh viên học sinh, những người lên tiếng, biểu tình, tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền, ngoài lực lượng công an, Nhà cầm quyền lại dùng đến cả các nhóm xã hội đen, hoặc bằng những hành động đen tối, phi pháp khác để đàn áp, nên nhiều người than thở rằng: Việt Nam tuy “có cả rừng luật nhưng lại dùng luật rừng”.
Trong các khẩu hiệu, văn bản, Nhà cầm quyền đã đặt tổ quốc, dân tộc đứng sau đảng: “Đảng và Tổ quốc, “Đảng, nhà nước và nhân dân”, “Công an nhân dân phục vụ cho Đảng, tổ quốc và dân tộc”. Nay, bản Dự thảo Hiến pháp mới, lại còn muốn bắt “Quân đội trung với Đảng, hiếu với Dân”, Đảng trước rồi mới đến Dân sau… Điều đó chứng tỏ Đảng Cộng sản đã thiếu tôn trọng tổ quốc và dân tộc Việt Nam.
Hiến pháp là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước. Hiến pháp phải do toàn dân quyết định. Hiến pháp không để bảo vệ một tổ chức, đảng phái chính trị nào.
Phải có một Hiến pháp theo tinh thần dân chủ, tự do, nhân quyền theo tiêu chuẩn văn minh. Căn bản của Hiến Pháp mới là phải: Bỏ điều 4 Hiến pháp hiện nay. Phải tôn trọng Nhân quyền và Dân quyền. Phải thực hiện tam quyền phân lập. Sở hữu đất đai phải thuộc về tư nhân, tập thể và nhà nước. Quân đội phải trung thành với tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với Đảng. 
Nói một đàng, làm một nẻo, Nhà cầm quyền Cộng sản kêu gọi toàn dân góp ý sửa đổi Hiến pháp nhưng lại đang ra sức dùng báo đài để tuyên truyền một chiều theo ý riêng và đe doạ những người ký tên yêu cầu thay đổi Hiến pháp. Vừa kêu gọi góp ý lại vừa bóp miệng người ta.
Dùng công an để đe doạ, bắt người dân ký ủng hộ bản Dự thảo Hiến pháp là việc làm sai nguyên tắc. Trong quá khứ, cũng như lần này, bằng nhiều thủ thuật, Nhà cầm quyền đã đạt được con số 80%, hay 90% số phiếu, chữ ký ủng hộ, để tuyên truyền, đánh lừa người dân và dư luận quốc tế. Đâu có biết rằng, con số phần trăm phiếu ủng hộ, được Nhà cầm quyền độc tài đưa ra càng lớn, càng chứng tỏ sự đe doạ, khủng bố, đàn áp người dân càng nhiều.
Hiến pháp để phục vụ cho toàn dân, phải do dân quyết định. Không một tổ chức, đảng phái nào được đứng trên Hiến pháp.
Nhà cầm quyền Cộng sản hãy nhìn rõ thực tế đất nước đang lạc hậu, dân tộc đói nghèo, đạo đức suy đồi, các tệ nạn tham nhũng, lạm quyền làm khổ nhân dân vì nạn độc tài độc đảng, nhất là nguy cơ ngoại xâm, mất nước đang hiện ra trước mắt mà hãy quay lại với dân tộc, thay đối Hiến pháp sang dân chủ mới mong đưa đất nước khỏi đổ vỡ, dân tộc thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo, mới mong có ngày theo kịp với các nước trong khu vực và thế giới, nhất là bảo vệ toàn vẹn được lãnh thổ, lãnh hải trước nạn ngoại xâm.
Chỉ khi nào chuyển sang thể chế dân chủ đa nguyên đa đảng, đất nước mới thoát khỏi đói nghèo, người dân mới được hạnh phúc, như lời Tuyên Bố của Đức Tăng Thống: “Dân chủ là nền tảng phát triển kinh tế, đem lại no cơm ấm áo, hạnh phúc và tự do cho toàn dân”. 
Viện Hoá Đạo khâm tuân và tiếp lời Đức Đệ Ngũ Tăng Thống, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ: “Kính xin chư liệt vị và đồng bào các giới trong và ngoài nước hãy ra tay chặn ngăn các nẻo dữ, dóng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, đánh lên hồi trống đại hùng khai mở Ðường Lành trong năm còn mới này. Ðường Lành ấy là con đường dân chủ đa nguyên đưa tới sự ổn định, phát triển, và an lạc”.
Cầu mong toàn dân Việt Nam chân cứng đá mềm.
Chùa Giác Hoa, Sài Gòn, ngày 13.3.2013
Viện Trưởng Viện Hoá Đạo
GHPGVNTN
(ấn ký)
Tỳ kheo Thích Viên Định

 

HAY TÂM SỰ CỦA MỘT TRÍ THỨC VIỆT NAM TRƯỚC HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

Thursday, March 14th, 2013

 

 TÂM THƯ CỦA MỘT BÁC SĨ TỪ VIỆT NAM
Tôi đã thật sự xúc động khi đọc những dòng tâm huyết của BS Nguyễn Quý Khoáng , một đứa con Tây Ninh , vùng Cao Xá , một thầy thuốc Nhân Ái của Bệnh Viện Tây Ninh trước năm 1990 . Hiện nay BS Khoáng học đạo và tu tập theo nhóm Dược Sĩ Lê Thị Vui tại Saigòn… ….Tôi thiết tha yêu cầu các bạn Hải Ngoại phổ biến rộng rãi bức tâm thư nầy trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài ……..
MỆNH LỆNH TỪ TRÁI TIM
( HAY TÂM SỰ CỦA MỘT TRÍ THỨC VIỆT NAM
TRƯỚC HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC)
                                                                BS NGUYỄN QUÝ KHOÁNG
                                                 (Việt Nam, ngày 10 tháng 03 năm 2013)
          
           Trước tình hình đất nước  ngày càng xuống dốc về xã hội, văn hoá, kinh tế, chính trị  v…v, nhất là tương lai Đất nước rất đen tối trước hoạ xâm lăng của Trung Quốc, là người trí thức Việt Nam, tôi tự thấy lương tâm bị cắn rứt khi cứ im lặng chấp nhận những điều chướng tai gai mắt diễn ra hàng ngày cũng như nghe những lời than vãn của đồng bào mình.
     Mục sư Martin Luther King có nói:
-“Kẻ nào chấp nhận cái ác mà không phản đối chắc chắn là tiếp tay cho cái ác lộng hành” (He who accepts evil without protesting against it is really cooperating with it) và
-“Cuộc đời của chúng ta bắt đầu chấm dứt khi chúng ta lặng thinh trước những  vấn đề sống còn” (Our lives begin to end the day we become silent about things that matter).
Tôi luôn tự hỏi mình: Nếu mọi người dân, nhất là các trí thức, vì sợ hãi cho bản thân và gia đình mình, cứ tiếp tục im lặng trước hiện tình của Đất nước thì tương lai Nước ta sẽ đi về đâu? Chắc chắn sẽ rất đen tối ! Trước lời kêu gọi của Nhà Nước cho phép dân chúng góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 đến tháng 9 năm 2013 tới, nếu một số đông trí thức vẫn lặng thinh thì xem như chúng ta chấp nhận bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội đưa ra nghĩa là vẫn “rượu cũ trong bình mới”, nghĩa là “vũ như cẩn”, vậy trách nhiệm với Đất Nước của chúng ta ở đâu? Gỉa sử đến một ngày, Đảng CSVN trưng cầu ý dân kêu gọi sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc, thì chẵng lẽ chúng ta vẫn cứ im lặng hay sao? Lúc đó, liệu chúng ta còn giữ được mạng sống,vợ con, nhà cửa và của cải không? Gương nước Tây Tạng còn sờ sờ trước mắt.
      Tôi đã cảm động đến rơi nước mắt khi nghe VIỆT KHANG hát bài “VIỆT NAM, QUÊ HƯƠNG TÔI ĐÂU?” và một trong những hình ảnh người dân đi biểu tình chống Trung Quốc trong những năm qua khiến tôi xúc động , nhất là hình một cô gái Việt Nam khóc trong tuyệt vọng. Tôi có cảm nghĩ như cô đang hết sức đau lòng khi thấy người dân Việt bày tỏ lòng yêu nước mà lại bị chính quyền do mình “bầu” lên ngăn cản, đạp vào mặt, bắt bớ, giam cầm…
Chính vì các lý do trên mà mặc dù rất ghét chính trị, tôi tự thấy không thể tiếp tục lặng thinh được nữa.Tôi mong muốn sự lên tiếng của mình sẽ đóng góp một phần nhỏ cho sự thay đổi của Đất nước, cho tương lai của các con cháu chúng ta. Thay đổi hay không là tuỳ theo Đảng và Nhà nước có thật lòng lo cho dân, cho Nước không? Còn nếu một ngày xấu trời nào mà Nước Việt chúng ta chịu chung số phận của Nước Tây Tạng thì tôi cũng tự thấy mình đã làm hết sức rồi và sẽ không thẹn với lương tâm trước khi nhắm mắt. Nếu có ngày đó thật thì quả là sống không bằng chết vì mất Tổ quốc là mất tất cả!
      Đối với tôi, cuộc đời chỉ có ý nghĩa khi mình sống có ích cho người khác. Chính vì lý do đó, mặc dù có giấy bảo lãnh đi Canada đoàn tụ gia đình năm 1982, tôi đã chấp nhận ở lại quê hương để làm công tác của một Thầy thuốc hầu xoa dịu bớt đau khổ của bệnh nhân cũng như đào tạo thêm các bác sĩ về X Quang, Siêu âm.Thành thật mà nói, đến giờ phút này, tôi chưa bao giờ hối tiếc về sự chọn lựa đó. Công tác tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Tây Ninh từ 1977 đến 1983 rồi tại Bệnh viện An Bình,Tp Hồ Chí Minh từ 1983 đến 2009 tổng cộng là 32 năm, tôi được mời vào Đảng CSVN 2 lần nhưng tôi đã từ chối vì không thích làm chính trị, không thích theo bất cứ một phe phái nào. Tôi chỉ thích làm chuyên môn và dạy học mà thôi.
       Cách đây không lâu, tôi đã ủng hộ Kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp 1992 do 71 nhân sĩ  trí thức công bố ngày 19 tháng 1 năm 2013 tại Hànội với số thứ tự trong danh sách những người ký tên là 7035.Tôi biết khi làm việc này, tôi có thể gặp nhiều rủi ro nhưng không sao vì tôi đã sẵn sàng, đến chết là cùng chứ gì!
       Xưa kia, tôi đã chọn ở lại quê hương để phục vụ bệnh nhân và các thế hệ thầy thuốc trẻ, giờ đây, tôi nói lên chính kiến của mình để xây dựng và bảo vệ Đất nước vì đối với tôi, cuộc đời mỗi người như một quyển tiểu thuyết đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố, quan trọng là quyển sách đó có hay không chứ không phải nó có dầy hay không!
       Nếu có một ngày tôi bị bắt, công an sẽ hỏi tôi (như đã từng hỏi những Bloggers, những người bất đồng chính kiến, những người biểu tình…) là ai đã xúi dục, cho bao nhiêu tiền…thì tôi đã có sẵn câu trả lời: Không ai có thể xúi dục được tôi, không ai mua chuộc được tôi mà CHÍNH LƯƠNG TÂM TÔI ĐÃ MÁCH BẢO, CHÍNH TRÁI TIM TÔI ĐÃ THÚC DỤC TÔI LÀM THẾ!
       Cuối cùng, xin cầu mong đất nước Việt Nam  chúng ta được độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự.

Thông Cáo Báo Chí: Biểu Tình Phản Đối Nhà Cầm Quyền CSVN Vi Phạm Nhân Quyền

Thursday, December 6th, 2012
New York, ngày 10 tháng 12 năm 2012 – Cách đây 64 năm, cộng đồng quốc tế đã công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, trong đó Điều 1 ghi nhận: “Tất cả mọi người sinh ra được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi”. Mọi quốc gia có nghĩa vụ và trách nhiệm tuân thủ pháp luật quốc tế, tôn trọng, bảo vệ và thực thi các quyền con người.
Ngày 30 tháng tư năm 1975, Cộng Sản Việt Nam từ miền Bắc đã chiếm miền Nam Việt Nam, buộc hàng triệu người phải rời khỏi đất nước vì họ không thể sống dưới một chế độ độc tài độc đoán của Đảng Cộng sản Việt Nam, một chế độ mà các quyền cơ bản của con người không được tôn trọng. Tất cả các quyền tự do đều bị cấm đoán hoặc hạn chế. Nhà nước cộng sản Việt Nam là một trong các chính quyền vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất trên thế giới. Họ đàn áp, bắt bớ, giam cầm công dân một cách bất công và có hệ thống.
Nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp những người bất đồng chính kiến, bỏ tù các bloggers vì đã bày tỏ quan điểm chống tham nhũng, đòi dân chủ, tự do, đòi một xã hội đa nguyên, kể cả các nhạc sĩ như Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, và các nhà báo. Các tổ chức nhân quyền quốc tế thường xuyên lên án.
Hiện nay, chính quyền cộng sản Việt Nam đang vận động để trở thành thành viên của cơ quan nhân quyền hàng đầu thế giới – đó là Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Nếu được vào, họ sẽ lợi dụng để che giấu sự hủy bỏ nhân quyền, đánh lừa dư luận, tiếp tục khủng bố những người bất đồng chính kiến vì dân chủ và nhân quyền và tiếp tục đàn áp người dân Việt Nam.
Vì thế, nhân kỷ niệm lần thứ 64 ngày công bố bản Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền,
Chúng tôi, đại diện Cộng đồng người Mỹ gốc Việt vùng Đông Bắc Hoa Kỳ và Cộng Đồng NVQG Liên Bang Hoa Kỳ tổ chức cuộc biểu tình bất bạo động trước trụ sở chính của Liên Hiệp Quốc cho các mục tiêu như sau:
1- Phản đối nhà cầm quyến cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền trầm trọng.
2- Đòi cộng sản Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền, thả tất cả các tù nhân chính trị, tôn giáo và
     ký giả.
3- Thỉnh cầu tất cả các quốc gia thành viên LHQ không bỏ phiếu cho chính quyền cộng sản Việt
     Nam trở thành một thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.
Liên lạc:
–        Peter Nguyen, Esq: 917-887-2061. Email: nyvaca@gmai.com
–        BS Đỗ Văn Hội: 407-234-3596. Email: hoivando@gmail.com
–        Tara Thu Nguyen 347-545-2882. Email:tarathu@gmail.com
Địa chỉ nơi biểu tình:
Công Viên: Ralph Bunche Park,  Manhattan New York City, ngay trước trụ sở LHQ, trên đại lộ 1st Avenue giữa đường E. 42 St. và E. 43 St.
Địa chỉ trụ sở Liên Hiệp Quốc:
760 United Nations Plaza, New York, New York 10017

THÔNG BÁO Biểu Tình, Tọa Kháng và Tuyệt Thực Trước Tòa Đại Sứ CSVN tại Washington D.C.

Wednesday, November 28th, 2012
THÔNG BÁO 
Biểu Tình, Tọa Kháng và Tuyệt Thực Trước Tòa Đại Sứ CSVN tại Washington D.C. và Cuộc Vận Động Quốc Hội Hoa Kỳ nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2012
 
Kêu gọi đồng hương khắp nơi cùng nhau đoàn kết thành
“Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói”
lên án nhà cầm quyền CSVN chà đạp nhân quyền
Kính thưa quý đồng hương, quý hội đoàn, tổ chức, chính đảng, và quý cơ quan truyền thông bạn:
Chiến dịch “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói”, với chỉ tiêu là 100,000 chữ ký từ đồng bào trong và ngoài nước vì nhân quyền cho Việt Nam nhân ngày Quốc Tế Nhân Quyền, đến ngày hôm nay đã vượt trên 100,000!  Mục đích thỉnh nguyện thư là gửi Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Châu Âu và các Quốc Gia Tự Do kêu gọi sự quan tâm và can thiệp của quốc tế trước tình hình vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Việt Nam.
Để đánh dấu Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2012 và nói lên sức mạnh của “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói”, SBTN và các đoàn thể sẽ tổ chức 2 sinh hoạt đấu tranh tại Washington D.C. như sau:
1.    Biểu Tình, Tọa Kháng và Tuyệt Thực 24 Giờ vì Nhân Quyền Việt Nam
·         Thứ Bảy, ngày 8 tháng 12, 2012 lúc 10 giờ sáng đến 12 giờ trưa: biểu tình, tuần hành.
·         Từ 11 giờ trưa Thứ Bảy, ngày 8 tháng 12 đến 11 giờ trưa, Chủ Nhựt, ngày 9 tháng 12, 2012: tọa kháng, tuyệt thực 24 giờ
·         Địa điểm: Trước tòa Đại Sứ CSVN (cũng là nơi cư ngụ của quan chức CSVN) tại Sheridan Circle,Washington D.C.
·         Chương trình với sự tham gia của nhiều phái đoàn người Việt đến từ khắp nơi Hoa Kỳ; phát biểu và tâm tình của các nhà đấu tranh trong nước, các vị lãnh đạo trong cộng đồng, giới trẻ; văn nghệ đấu tranh; và cuộc tuyệt thực 24 giờ của các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các vị đại diện trong cộng đồng, giới trẻ và nhạc sĩ Trúc Hồ.
2.    Cuộc Vận Động Quốc Hội Hoa Kỳ vì Các Nhà Đấu Tranh Nhân Trong Nước
·         Thứ Hai, ngày 10 tháng 12, 2012 (Ngày Quốc Tế Nhân Quyền) lúc 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều.
·         Địa điểm: Quốc Hội Hoa Kỳ và các văn phòng làm việc.
·         Chương trình gồm các buổi gặp gỡ giữa nhiều phái đoàn cộng đồng người Việt đến từ khắp nơi Hoa Kỳ và các Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ Quốc Hội.
Đài SBTN cùng với các hội đoàn, cơ quan truyền thông, tha thiết kêu gọi đồng hương khắp nơi cùng tham gia vào chiến dịch “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói” qua hai sinh hoạt cụ thể trên để phản đối các bản án phi lý gần đây, đồng thời đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải tôn trọng những quyền căn bản của người dân, đã được công nhận trong bản tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà Việt Nam đã ký kết.
Chúng tôi cũng kêu gọi sự hợp tác của tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí, hội đoàn, tổ chức để cùng tham gia và quảng bá phong trào này.
Xin quý đồng hương khắp nơi trong và ngoài nước tiếp tục ký tên vào thỉnh nguyện thư tạiwww.DemocracyForVietnam.net
Ban Tổ Chức
Đỗ Hồng Anh 703-373-5157
Hoàng Tứ Duy 202-470-0845
Võ Thành Nhân 301-257-8496
Đặng Vũ Chấn  703-538-2773

Cuộc biểu tình phản đối đại quy mô của sinh viên, học sinh Tây Tạng

Monday, November 12th, 2012
Posted on November 10, 2012 by HieuLe

Sinh viên, học sinh Tây Tạng xuống đường thứ Sáu ngày 9-11-2012 tại Rebkong

Tại 1 quận lỵ yên tĩnh của khu tự trị Tây Tạng, khoảng 5 ngàn sinh viên, học sinh xuống đường biểu tình sau 3 cái chết tự thiêu xảy ra liên tục chỉ nội trong tuần này.

Nguồn tin cho biết, có hàng ngàn sinh viên, học sinh Tây Tạng tại quận lỵ yên tĩnh Rebkong (theo tiếng Trung Quốc là Tongren) thuộc tỉnh bang Qinghai đã xuống đường hôm thứ sáu (ngày 9-11-2012) đòi hỏi các quyền lợi lớn hơn sau khi một con số kỷ lục của vụ tự thiêu phản đối lại sự cai trị của nhà cầm quyền Trung Quốc tại Tây Tạng đã xảy ra hàng chuỗi trong các khu vực dân cư đông đúc trong tuần này.

Theo các nguồn tin khác nhau cho biết, các sinh viên, học sinh hô to các khẩu hiệu kêu gọi “sự bình đẳng giữa các dân tộc và tự do ngôn ngữ” và cũng yêu cầu sự quay về lại của nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, người từng sống lưu vong tại Ấn Độ kể từ khi ông chạy thoát sau một cuộc nổi dậy không thành công chống lại sự cai trị của Trung Quốc vào năm 1959.

Các người dân bên trong Tây Tạng đã gửi đi nhiều hình ảnh về cuộc biểu tình đến các nhóm khác nhau bên ngoài Tây Tạng, trong đó có 1 số hình ảnh với các sinh viên, học sinh giơ cao các sách giáo khoa bằng tiếng Tây Tạng.

Cuộc xuống đường của sinh viên, học sinh Tây Tạng thứ Sáu ngày 9-11-2012 tại Rebkong

Những người biểu tình từ các trường học địa phương được thêm sự tham gia của các sinh viên đến từ Đại học Sư phạm Malho và Viện Dạy nghề Malho, đã tụ họp nhau tại Quảng trường Dolma phía trước Tu viện Rongwo tại tỉnh lỵ Rongwo, thủ phủ của quận lỵ Rebkong, thuộc khu tỉnh bang tự trị Tây Tạng Malho (Huangnan).

Tại quảng trường, họ niệm lời cầu nguyện và hô vang các khẩu hiệu khi mỗi lúc càng có nhiều người dân Tây Tạng địa phương gia nhập vào đám đông.

Đêm thắp nến

Các nguồn tin cũng cho biết, trong khi đó, gần một ngàn sinh viên Tây Tạng từ trường Đại học Dân tộc Qinghai tại thủ phủ Xining trong tỉnh bang Qingha, đã tụ tập vào tối thứ Sáu để cầu nguyện cho những người Tây Tạng đã hy sinh trong các cuộc phản đối thách thức lại sự cai trị của Trung Quốc.

Các sinh viên đã thắp nến suốt trong một giờ đồng hồ từ 6:10 đến 7:20 chiều tối, sau đó tất cả phải giải tán sau khi các quản lý viên của trường đại học nài nỉ họ nên kết thúc cuộc biểu tình.

Các nguồn tin cũng cho hay, lực lượng an ninh Trung Quốc đã được đặt trong tình trạng khẩn trương 24/24, làm nhiệm vụ tại các khu yếu điểm trong các thị trấn và làng mạc của Rebkong nhưng không có báo cáo nào cho biết có sự đàn áp lên các cuộc biểu tình.

“Tôi đã gọi về khu vực và được biết rằng có khoảng 3.000 đến 4.000 sinh viên, học sinh xuống đường vào buổi sáng sớm này. Họ đã hô to các khẩu hiệu kêu gọi sự trở về của Đức Đạt Lai Lạt Ma, kêu gọi quyền bình đẳng dân tộc, và quyền tự do ngôn ngữ”, ông Drugyam cho biết, một người Tây Tạng hiện đang sống lưu vong tại Mỹ

Phát biểu với RFA, những người biểu tình mô tả đường phố khu vực đều dầy đặc với lực lượng an ninh Trung Quốc, với cảnh sát thường phục, và các loại xe quân sự, nhưng hết thảy họ đều nói là không có ghi nhận 1 động thái nào được xem thực hiện để đàn áp các cuộc biểu tình.

“Tuy nhiên vẫn có vài em sinh viên, học sinh bị đánh đập và 1 số bị thương được đưa đi bệnh viện.”, một nguồn tin khác cho hay.

Chính phủ Tây Tạng lưu vong có trụ sở tại Ấn Độ và Trung tâm Nhân quyền và Dân chủ Tây Tạng (TCHRD) đã cho hay có 5.000 sinh viên, học sinh đã tham gia vào cuộc biểu tình ngày thứ Sáu, được ghi nhận là ngày thứ hai liên tiếp sau các cuộc biểu tình tại Rebkong, mà các sinh viên, học sinh này ngày trước đã tổ chức tham dự 1 lần.

Cờ Trung Quốc bị kéo xuống

Một ngày trước đó, khi hàng ngàn dân làng Tây Tạng phản đối tiếp theo sau cuộc tự thiêu phản đối lần thứ ba tại khu vực làng trong tuần này, khoảng 700 học sinh đã kéo hạ các lá cờ Trung Quốc mà đã được trương lên trên mái nhà trường học của họ tại thị trấn Dowa và ngay cả tại văn phòng chính phủ của thị trấn.

“Trong khoảnh khắc ngay sau khi có cuộc phản đối này, đã có 7 xe vận tải quân sự đến từ quận lỵ Rebgong, nhưng dân địa phương và sinh viên, học sinh đã chận đứng lại các xe tải không cho di chuyển vào thị trấn Dowa ,” TCHRD nói trong một tuyên bố, lúc trích dẫn các địa chỉ liên lạc địa phương.

“Đối mặt trước một đám đông người biểu tình Tây Tạng, những chiếc xe vận tải quân sự này đã lùi đi, quay về lại quận lỵ Rebkong.”

Tình trạng căng thẳng

Self Immolation in Rebkong .....Only 23 years old: Name Tamdin TsoCăng thẳng gây nên tại quận lỵ Rebkong đã bùng sáng lên vào hôm Chủ nhật (ngày 4-11-2012) khi một nghệ nhân cổ truyền Dorje Lhundrub, 25 tuổi, tự thiêu đến chết giữa lúc anh ta chống đối lại sự cai trị của Trung Cộng. Tiếp theo sau đó là sự gây tử vong tự thiêu của một bà mẹ trẻ Tây Tạng, Tamdrin Tso, 23 tuổi, vào hôm thứ tư (ngày 7-11-2012) và của một cậu bé thiếu niên, Kalsang Jinpa ngày thứ năm (ngày 8-11-2012)

Cũng trong ngày thứ Tư, 7-11-2012, tại khu Ngaba (Tên Trung Quốc là Aba) thuộc tỉnh bang Sichuan, 3 chú tiểu đã cùng lúc tự thiêu tập thể, được ghi nhận đây là cuộc tự thiêu tập thể đầu tiên 3 người, và lại thêm một vụ tự thiêu khác xảy ra tại khu vực tự trị Tây Tạng.

Các vụ tự thiêu đã nâng tổng số lên đến 69 vụ kể từ tháng 2 năm 2009 khi bắt đầu xảy ra các cuộc biểu tình bốc lửa.

Theo lời của các nhóm tổ chức Tây Tạng, các cuộc biểu tình gần đây nhất được cho là đã được chủ định thời gian, để gửi một tín hiệu mạnh mẽ đến Đảng Cầm quyền Cộng sản Trung Quốc mà đang tiến hành Đại hội Đảng lần thứ 18 tại Bắc Kinh cho một sự thay đổi nguồn máy lãnh đạo 10 năm một lần.

Ban Quản lý Trung ương Tây Tạng, một tên hiệu dùng gọi chính phủ Tây Tạng lưu vong, nói rằng các cuộc tự thiêu đây là nhằm nhấn mạnh “sự đàn áp chính trị, nền kinh tế xuống dốc, sự hủy hoại môi trường, và sự đồng hóa văn hóa.”

“Các nhà lãnh đạo Trung Quốc mà được lựa chọn trong kỳ Đại hội Đảng lần thứ 18 phải thừa nhận rằng chính sách cứng rắn của Trung Quốc tại Tây Tạng đã hoàn toàn thất bại và chỉ thông qua đối thoại có thể được tìm thấy một giải pháp hòa bình và lâu dài “, ông Lobsang Sangay, thủ lãnh chính phủ lưu vong, cho biết.

“Chúng tôi chắc chắn tin tưởng rằng việc chấm dứt đàn áp sẽ có hiệu quả chấm dứt chu kỳ tự thiêu”, ông còn nói.

Các hạn chế ở Lhasa

Trong khi đó, nhà đương cục Trung Quốc đã thắt chặt mọi hạn chế đi lại của người dân Tây Tạng tại thủ đô khu vực, Lhasa, Nhóm Ủng hộ Tây Tạng Tự Do có trụ sở tại London cho biết hôm thứ Sáu.

“Người dân Tây Tạng đã bị cấm vào Quãng trường Potala, thông thường đây là khu vực công cộng.”

“Các báo cáo chưa được xác nhận cũng cho thấy rằng khi Quốc hội bắt đầu, người dân Tây Tạng tại Lhasa đã bị bắt giữ, như một biện pháp phòng ngừa, và cũng cho rằng những hạn chế đi lại đã được đưa vào “khu dân cư cũ” của Lhasa, nơi mà phần lớn người Tây Tạng sinh sống tại đó,” Tây Tạng Tự Do cho biết.

Phát biểu hôm thứ năm (ngày 8-11-2012) tại Chiến dịch Quốc tế cho Tây Tạng có trụ sở tại Washington, nhà Giám đốc Đối Ngoại về Chính sách Dân chủ và Nhân quyền, ông Ellen Bork, nói rằng 60 năm “chiếm đóng và kiểm soát” của Trung Quốc tại Tây Tạng đã không thay đổi được những gì mà người dân Tây Tạng muốn.

“Chính sách Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua đã không nghiền nát được tính chính thống tiêu biểu của Tây Tạng,” ông Bork nói.

Bản tin từ RFA, ban Tây Tạng ngữ.

HieuLe-TuDoDanChu chuyển ngữ

Share This Post(Visited 233 times, 129 visits today)

LHQ tố cáo Việt Nam vi phạm luật quốc tế khi bắt giam những nhà hoạt động cho Dân chủ

Sunday, November 11th, 2012
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.11.2012
Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ tố cáo Việt Nam vi phạm luật quốc tế khi bắt giam những nhà hoạt động cho Dân chủ
 
 
PARIS, ngày 8.11.2012 (Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam) – Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ vừa gửi văn bản Fax tới văn phòng Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam tại Paris cho biết việc bắt giam bốn nhà hoạt động cho dân chủ Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung  Lê Thăng Long vi phạm luật quốc tế, nên lên tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam hãy trả tự do cho bốn người cũng như chấp nhận sự đền bù cho họ khi so chiếu với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam tham gia ký kết năm 1982.
 
Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam đã đệ nạp cho Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ ở Genève trường hợp bốn người nói trên sau khi được tin họ bị đem ra xử trong một phiên tòa giả trá tại thành phố Hồ Chí Minh tháng giêng năm 2010 với những án tù nặng nề từ 5 đến 16 năm tù, kèm theo 3 đến 5 năm quản chế khi mãn hạn, vì tội “lật đổ chính quyền” (điều 79 trong bộ Luật Hình sự). “Tội” thực sự của các bị cáo chỉ là các lời kêu gọi ôn hòa cải tổ chính trị. Tất cả đều chống lại án lệnh, ngoại trừ Nguyễn Tiến Trung (bị tuyên án 7 năm tù). Ngày 11.5.2010, phiên phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tp Hồ Chí Minh giữ nguyên án cho Luật sư Lê Công Định (5 năm tù giam) và Trần Huỳnh Duy Thức (16 năm tù) ; Lê Thăng Long được giảm từ 5 năm xuống 3 năm rưởi, và được trả tự do hồi tháng 6 năm nay, 2012, sáu tháng trước khi mãn hạn.
Vào tháng 3 đầu năm nay, 2012, dưới sự hướng dẫn của ông Võ Văn Ái, Phái đoàn Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam đã đến Genève vận động can thiệp cho những tù nhân chính trị và tù nhân vì lương thức Việt Nam. Ủy ban gặp gỡ Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ và các cơ cấu “Thủ tục đặc biệt” thuộc Cao ủy Nhân quyền LHQ, kể cả các Báo cáo viên Đặc nhiệm LHQ về Tự do Ngôn luận và Ý kiến, về Tự do Tôn giáo và Tín ngưỡng, về Tự do Lập hội và biểu tình ôn hòa.
 
Theo thủ tục LHQ, Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ đã chuyển đạt tin tức cùng hồ sở do Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam cung cấp đến chính quyền Việt Nam ngày 15.3.2012. Việt Nam hồi đáp qua thư viết ngày 13.7.2012 bác bỏ mọi luận điểm của hồ sơ, rồi tuyên bố các người bị giam tù do họ vi phạm pháp luật Việt Nam. Tại cuộc họp của Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ hôm 29.8.2012 nhằm xem xét các trường hợp, và cuối cùng thông qua Ý kiến 27/2012 tuyên bố rằng, việc giam giữ Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn tiến trung và Lê Thăng Long là “trái phép và vi phạm các điều 9, 19 và 21 trong Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia ký kết”.
 
Qua Ý kiến 27/2012, Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ bác bỏ luận điệu chính quyền Việt Nam nại cớ bắt giam chiếu theo luật pháp Việt Nam, bởi vì “cho dù việc cấm cố chiếu theo luật pháp Việt Nam, nhưng Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ cần được bảo đảm rằng luật pháp ấy phải phù hợp với luật pháp quốc tế”.
 
Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ cũng tố cáo một số điều luật trong bộ Luật Hình sự Việt Nam, như “lợi dụngcác quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước” (điều 258) quá “mơ hồ đưa tới hệ quả khép tội không những cho những ai sử dụng bạo lực cho mục tiêu chính trị, mà còn khép tội cho cả những ai chỉ hành xử quyền chính đáng cho tự do ngôn luận và ý kiến”.
 
Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ cũng không tìm thấy chứng cớ gì việc bốn bị can tham gia các hoạt động bạo động để có thể kết án họ có “những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (điều 79 của bộ Luật Hình sự), rồi Tổ Hành Động nhấn mạnh rằng “bảo vệ và biểu tỏ ý kiến, kể cả khi những ý kiến ấy không đồng quan điểm với chính sách của chính quyền, đều được Điều 19 trong Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị bảo vệ”.
 
Kết luận, Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ kêu gọi Việt Nam “trả tự do cho Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung và Lê Thăng Long cũng như chấp nhận sự đền bù cho họ khi so chiếu với các điều 9, đoạn 5, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”.
 
Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam hoan nghênh Ý kiến 27/2012. Ủy ban cũng cực lực tố cáo những điều luật mơ hồ và hổ lốn trong chương « An ninh quốc gia » của bộ Luật Hình sự chưa hề được thay đổi kể từ năm 1994, là năm Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ đến Việt Nam điều tra. Ủy ban hậu thuẫn Tổ Hành động trong lời kêu gọi trả tự do cho bốn người nói trên, mà còn yêu sách trả tự do cho tất cả  những người tù bất đồng chính kiến hay vì lý do tôn giáo, như các bloggers Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, các nhạc sĩ Việt Khangvà Trần Vũ Anh Bình, cũng như Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ mà Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ đã công nhận ngài bị bắt giam trái phép qua Ý kiến 18/2005 của LHQ.
2012-1108a.jpg
Từ trái sang phải : Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định

Công an bắt dân oan biểu tình (Hà Nội)

Friday, November 9th, 2012

VRNs (08.11.2012) – Sài Gòn – Từ Hải Phòng, nhà dân quyền Phạm Thanh Nghiên cho biết: “Tin tôi vừa nhận được: Đêm qua, 29 người Dân Oan khiếu kiện đã bị một lực lượng lớn công an (ước tính lên đến gần 200 người) cưỡng chế và bắt đi. Hiện 29 người này đã bị đưa đến TT Bảo trợ xã hội 1 (Thôn Đồng Dầu, xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội) .Một trong số những người bị bắt cho tôi biết, đây là nơi “giam giữ” những người tàn tật, cơ nhỡ, lang thang không nơi nương tựa”.
TT Bảo trợ xã hội 1, đường đi từ Hồ Gươm tới Trung tâm khoảng 15km, đường đi lại khá dễ dàng, đi qua Cầu Đuống rẽ trái ra Quốc lộ 3 khoảng 2km là tới.
Facebooker Aqua Pham nói: “Sáng nay đi làm qua vườn hoa Mai Xuân Thưởng (Hà Nội) thấy lực lượng trật tự an ninh, cảnh sát cơ động đông chưa từng thấy, có tới hơn chục xe chờ sẵn, có cả xe 30 chỗ, cả xe cảnh sát gắn còi, xe cơ động mạnh. Không biết có chiện gì xảy ra?”
Được biết ngày hôm qua (07.11.2012), nông dân ở nhiều địa phương thuộc Miền Bắc đã xuống đường đòi công lý cho chính mình. Bà Lê Hiền Đức cho biết: “Các dân oan và thương binh mới gửi ảnh và nhờ tôi đăng tải, họ vẫn phải tiếp tục biểu tình ở khắp nơi có trụ sở của các cơ quan nhà nước để yêu cầu giải quyết các vấn đề họ khiếu kiện. Các thương binh cũng cho biết: họ gửi ảnh cho các báo nhưng không báo nào đăng tải về sự việc của họ, hình như các báo của nhà nước không hề quan tâm đến số phận của những người đã từng đổ xương máu ra để có các trụ sở tòa báo như hôm nay cho các nhà báo ngồi làm việc. Nếu đúng như vậy thì sự vô ơn của giới báo chí đã đến mức khó chấp nhận được”.
Dân oan Bùi Hằng cho biết: “Bà con thông báo họ là dân oan các tỉnh trong những ngày qua kéo ra Hà Nội khiếu kiện. Những người này không có tiền ngủ nhà trọ nên trong đêm qua . Lợi dụng đêm tối chính quyền đã càn quét và bắt cóc tất cả 29 người đưa về Đông Anh- Hà Nội giam giữ. Nhiều người bị đánh đập tàn nhẫn. Họ gọi điện tứ tung cầu cứu …”
Đây các số điện thoại của dân oan bị bắt đưa về Đông Anh, hà Nội: 01693768054 – 0163947030 – 01992295804.
Quý vị nào có thể, xin liên lạc để nâng đỡ tinht hần các anh chị em bị bắt bớ này.
Công an mặc sắc phục đang đứng chen với dân, sẳn sàng chờ lệnh bắt thêm người
Mật vụ cũng nghênh ngang trước mặt dân để đe dọa dân
Mặt trận, phụ nữ, cựu chiến binh cũng sẳn sàng theo lệnh công an
Xe bus đậu ở đường Thụy Khuê, sẳn sàng chở dân đi Đông Anh
Nông dân Dương Nội đi kêu oan, đòi đất
Bà con nông dân Văn Giang đang ngồi tại 105 Quán Thánh
Cờ xanh đỏ tái xuất hiện sau một thời gian dài bị bỏ đi
Dân phòng gây gỗ, ép thương binh thu băng rôn
PV.VRNs
* Ảnh: Vì sự an toàn của các nhà báo nhân dân, VRNs sẽ tạm thời không ghi tác giả các tấm ảnh.
Translate »