Posts Tagged ‘công an’


Trung Quốc: Cái chết của Lưu Hiểu Ba nói lên tầm mức của sự áp bức

Thursday, July 13th, 2017

Washington – ngày 13 tháng 7 năm 2017 – Phản ứng trước cái chết của Ông Lưu Hiểu Ba, 61 tuổi, khôi nguyên giải Nobel hòa bình năm 2010 trong lúc bị nhà cầm quyền Trung Quốc cầm tù và cưỡng bức vì cổ xúy chế độ dân chủ, Freedom House đưa ra tuyên bố như sau:

Ông Michael J. Abramowitz, chủ tịch Freedom House, nói: “Cái chết của ông Lưu thể hiện mức tồi tệ  mới trong chính sách đàn áp của chính quyền Trung Quốc và hoàn toàn không để ý đến sức khoẻ và tính mạng của các tù nhân chính trị và tôn giáo ở Trung Quốc. “Nhà chức trách đã cưỡng bức Ông ta trong nhà tù, từ chối những yêu cầu khẩn cấp cần được chăm sóc y tế, tiếp tục giam giữ  vợ của ông trong tù, đó là những dấu hiệu của một nhà nước độc tài toàn trị, không tôn trọng quyền của công dân và không khoan nhượng đối với những bất đồng quan điểm chính trị. Chính phủ Trung Quốc làm đủ mọi cách không thương tiếc bịt miệng ông Lưu, nhưng họ không thể ngăn được hàng triệu người Trung Quốc khác tiếp tục hành động để bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người “.

Trung Cộng được đánh giá là một nước “không tự do” trong “báo cáo về tự do thế giới năm 2017”, “không có tự do” trong báo cáo tự do báo chí năm 2017 và không tự do trên mạng năm 2016.​

 FOR IMMEDIATE RELEASE

​​

 China: Death of Liu Shows Reach of Repression 

​​

Washington  –  July 13, 2017 —  In response to the death of 61-year old Liu Xiaobo, awarded the Nobel Peace Prize in 2010 while he was imprisoned and silenced by the Chinese government for his advocacy of democracy, Freedom House issued the following statement:

“The death of Liu represents a new low in the Chinese government’s repression and utter disregard for the health and life of political and religious prisoners in China,” said Michael J. Abramowitz, president of Freedom House. “Authorities silenced him in prison, denied him urgently needed medical care, and continue to hold his wife prisoner, all hallmarks of an authoritarian state with no respect for the rights of citizens and with intolerance of political dissent. China’s government worked without pity to silence Liu but it cannot stop millions of Chinese people who continue to take action towards securing fundamental human freedoms.”

China is rated Not Free in Freedom in the World 2017, Not Free in Freedom of the Press 2017, and Not Free in Freedom on the Net 2016.

Freedom House is an independent watchdog organization that supports democratic change, monitors the status of freedom around the world, and advocates for democracy and human rights.

Join us on Facebook and Twitter (freedomhousedc). Stay up to date with Freedom House’s latest news and events by signing up for our newsletter

19-3-2017: Hơn 6000 nạn nhân Formosa diễn hành sau thánh lễ cầu an

Sunday, March 19th, 2017

Giáo phận Vinh: Hơn 6000 nạn nhân Formosa cầu nguyện cho quốc thái dân an và diễu hành

Đăng ngày
 (Tin mừng cho người nghèo)

GNsP (19.03.2017) – Vào sáng ngày 19.03.2017, tại Giáo phận Vinh, hơn 6000 bà con giáo dân đến từ các giáo xứ: Phú Yên, Mành Sơn, Cẩm Trường đến giáo xứ Song Ngọc hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho các nạn nhân chịu thảm họa hủy diệt môi trường do Formosa xả thải.

Từ sáng sớm, bà con giáo dân ở ba giáo xứ Mành Sơn, Phú Yên và Cẩm Trường quy tụ tại sân nhà thờ của mỗi giáo xứ trên tay cầm cờ ngũ sắc, khởi hành từ giáo xứ và diễu hành đến giáo xứ Song Ngọc bằng các xe gắn máy đi trong trật tự và ôn hòa.

Vào lúc 7 giờ 30, hơn 5000 bà con giáo dân quy tụ tại sân nhà thờ giáo xứ Song Ngọc. Tại đây, bà con cầm các băng rôn khẩu hiệu với thông điệp: “Formosa cút khỏi VN”, “Trả lại biển xanh cho chúng tôi”…

Thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình bắt đầu vào lúc 8 giờ cùng ngày tại giáo xứ Song Ngọc do cha Fx. Phan Đình Giáo, Quản xứ giáo xứ Cẩm Trường chủ tế, cha Antôn Đặng Hữu Nam, Quản xứ giáo xứ Phú Yên giảng thuyết và cùng đồng tế có cha JB Nguyễn Đình Thục, Quản xứ giáo xứ Song Ngọc.

Bài chia sẻ Lời Chúa của cha Antôn Đặng Hữu Nam được soi sáng bởi bài Tin Mừng (Ga 4, 5-42). “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Trong bài chia sẻ, cha Quản xứ giáo xứ Phú Yên thông tin cho cộng đoàn một vài vấn đề thời sự đang nhức nhối trong xã hội Việt Nam như: nạn bạo lực học đường; nhà trường không còn là nơi an toàn cho trẻ nhỏ khi nhiều trẻ em bị xâm hại và lạm dụng tình dục trong chính trường học. Cha nhấn mạnh xã hội việt nam hiện nay nhiều anh hùng nhưng vắng bóng tình yêu, một xã hội đầy rẫy những bất công, gian dối và lừa lọc. Cha Antôn cũng kêu gọi, bà con giáo dân hãy mạnh mẽ đứng lên bảo vệ lãnh thổ quê hương Việt Nam trước nạn nội xâm và giặc ngoại xâm, hãy bảo vệ giống nòi Việt Nam, hãy đấu tranh cho Công Lý, Công bằng trong tinh thần ôn hòa, văn minh và đạo đức của người Kitô giáo… Người Công giáo không bao giờ mất hy vọng, bởi vì nếu chúng ta có chối bỏ Thiên Chúa thì Ngài luôn chờ đợi chúng ta.

H1H2H3H4H5H13H14H6H7H9

Trước khi kết thúc thánh lễ, cha Thục gửi lời cám ơn cha Quản xứ giáo xứ Cẩm Trường, giáo xứ Mành Sơn và giáo xứ Phú Yên đã thấu hiểu, đồng hành và hiệp thông với nỗi đau không chỉ riêng bà con giáo xứ Song Ngọc mà cho tất cả các nạn nhân Formosa đang gánh chịu thảm họa.

Cha JB Nguyễn Đình Thục kêu gọi cộng đoàn hãy mạnh mẽ đấu tranh cho Công lý và Hòa bình trong tình yêu thương, tha thứ cho những người đã ra tay hành hung đánh đập, chà đạp lên luật pháp để tước đoạt quyền khiếu kiện/khiếu nại của bà con ngư dân. Chỉ có tình yêu thương, lời cầu nguyện mới giúp con người gắn kết với nhau, đoàn kết với nhau đấu tranh cho quê hương Việ Nam không còn bị cai trị bởi những con người độc ác, gian tà và vô trách nhiệm.

Sau khi kết thúc thánh lễ, cha JB Nguyễn Đình Thục cùng với bà con xứ Song Ngọc tiễn cộng đoàn ngay khu vực Ủy ban Nhân dân xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và chia tay tại đây.

Trước cổng Ủy Ban nhân dân xã Quỳnh Ngọc, bà con giáo dân cả bốn giáo xứ Mành Sơn, Phú Yên, Cẩm Trường và Song Ngọc đã biểu tình, hô to các khẩu hiệu với thông điệp “cướp” lại quyền sống, “cướp” lại quyền được làm người, “cướp” lại nhân quyền, “cướp” lại tất cả những gì nhà cầm quyền cộng sản đã cướp và tước đoạt từ tay người dân trong suốt nhiều năm qua.
H15H12H10H11

Trong các thánh lễ hiệp ý cầu nguyện cho các nạn nhân Formosa, bà con giáo dân đã được tiếp thêm sức mạnh, sự can đảm để tiếp tục dấn thân trong hành trình kiếm tìm công lý, sự thật trong một xã hội đầy rẫy oan khiên, oan sai, chà đạp nhân phẩm và xem thường mạng sống.

Pv.GNsP

THÔNG BÁO VỀ TỐ CÁO NHỮNG THÀNH PHẦN VI PHẠM NHÂN QUYỀN VÀ THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM

Friday, January 13th, 2017

HÃY TỐ CÁO NHỮNG THÀNH PHẦN VI PHẠM NHÂN QUYỀN

VÀ THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM

(CHIẾU THEO ĐẠO LUẬT NHÂN QUYỀN MAGNITSKY) 

Kính thưa toàn thể đồng bào quốc nội và hải ngoại, 

Vào tháng 12, 2016, chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành đạo luật chế tài vi phạm nhân quyền mang tên “Đạo Luật Nhân Quyền MagnitskyToàn Cầu” (Global Magnitsky Human Rights Accountability Act),  được kèm với đạo luật chuẩn chi ngân sách Quốc Phòng năm 2017 (NDAA2017) mục đích cho phép Hoa Kỳ chế tài các cá nhân hoặc viên chức chính quyền tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới vi phạm nhân quyền và tham nhũng. Đạo luật có các điểm chính như sau:

  • Những tội danh sẽ bị chế tài:
  • Giết người (ngoài pháp luật), tra tấn, đàn áp những ai lên tiếng tố cáo, tranh đấu, cổ vũ, bảo vệ, hay khuyến khích các quyền tự do căn bản của con người bao gồm: tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do hội họp, quyền được xét xử công bằng và quyền được bầu cử dân chủ.
  • Thực hiện, cấu kết hoặc xúi giục tham nhũng, hối lộ, lạm dụng quyền thế để trục lợi cho cá nhân, chiếm hữu tài sản quốc gia hoặc của tư nhân cho riêng mình…
  • Những người ra lệnh, những đại diện, hoặc những ai gián tiếp tham gia các vi phạm nói trên đều phải chịu chế tài.
  • Những đối tượng chịu chế tài gồm: các cá nhân, kể cả viên chức chính quyền các quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam).
  • Những biện pháp chế tài bao gồm:
    1. Cấm nhập cảnh vào Hoa Kỳ (không cấp visa). Nếu đã được cấp visa hoặc các chứng từ khác, chính phủ sẽ thu hồi.
    2. Ngăn chận, cầm giữ tài sản tại Hoa Kỳ của cá nhân vi phạm hoặc các tài sản hiện đang được công dân Hoa Kỳ quản lý hoặc lưu giữ.
    3. Đóng băng (freeze) các chương mục tại Hoa Kỳ.
  • Cơ quan thi hành luật chế tài là Hành pháp Hoa Kỳ. Tổng thống có trách nhiệm thi hành luật này hoặc nếu có sự yêu cầu của các ủy ban đặc biệt Quốc Hội. Tổng thống có quyền bãi miễn.
  • Những thông tin về vi phạm được cung cấp bởi:
    1. Các Ủy Ban liên hệ của quốc hội Hoa Kỳ.
    2. Các quốc gia và các tổ chức NGO (phi chính phủ, phi lợi nhuận).
    3. Tin tức cần có bằng chứng rõ ràng (hình ảnh, nhân chứng, chi tiết…)

Nhiều quốc gia cũng đang hoặc sẽ áp dụng luật tương tự

Kính thưa đồng bào,

Trên 41 năm qua, đồng bào Việt Nam tại quê nhà đã gánh chịu những đàn áp, khủng bố của nhà cầm quyền CSVN; mạng sống bị coi rẻ; quyền con người bị tước đoạt; các nhà đấu tranh dân chủ bị bắt bớ, giam cầm bất công và tùy tiện; tài sản người dân bị cường quyền chiếm đoạt; tài sản quốc gia bị quan chức bỏ túi bằng tham nhũng, hội lộ, hoặc cưỡng chế; đời sống nhân dân thật khốn khổ; những kẻ gây tội vẫn ung dung ngự trị đất nước và cất giấu tài sản tại nước ngoài.

Đã đến lúc đồng bào không thể chịu đựng trước những hành động phi pháp và bất nhân nói trên. Những kẻ phạm tội phải được trừng trị và không được phép giấu diếm tài sản bất hợp pháp hoặc sống an hưởng ở Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào khác.

Vì thế, chúng tôi kêu gọi đồng bào mọi giới trong nước là những nạn nhân trực tiếp, và đồng bào định cư tại hải ngoại biết rõ tin tức về các cá nhân vi phạm, xin vui lòng cung cấp tài liệu để chúng tôi chuyển đến những cơ quan hữu trách hầu có những biện pháp thích đáng. Chúng tôi hoàn toàn giữ kín tên của quý vị. Các chi tiết cần được cung cấp như sau:

  • Tên người vi phạm – Tên nạn nhân – Tên nhân chứng (nếu có).
  • Ngày, giờ, địa điểm xảy ra sự kiện với các chi tiết, hoặc hình ảnh, video…

Quý vị có thể liên lạc với chúng tôi bằng những phương cách như sau:

  • Gửi thư đến: PO Box 262066, Tampa, FL 33685. Gọi điện thoại: 407-927-0014.
  • Gửi email đến: vac.usa@gmail.com hoặc lienlacqnhn@gmail.com
  • Vào website: org, bấm vào nút: Nhân Quyền Magnitsky, điền chi tiết vào các ô trống để tố cáo những kẻ vi phạm.
  • Hoặc liên lạc với các Cộng Đồng Người Việt tại địa phương nơi quý vị cư ngụ.

Chúng tôi rất mong quý đồng bào hợp tác để trừng phạt những kẻ đã gây khốn khổ cho người dân hầu ngăn chận những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 12 tháng 1, 2017

BS Võ Đình Hữu                    BS Đỗ Văn Hội                      Ông Lưu Văn Tươi

CT HĐĐB                              CT HĐCH                              CT. HĐGS

(Đã ký)                                   (Đã ký)                                   (Đã ký)

 

 

 

Đính kèm tài liệu về đạo luật này.

Website của quốc hội Hoa Kỳ

 

Phái Đoàn Người Việt Gặp Gỡ Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc tại New York

Thursday, July 7th, 2016

Tin New York – Nhân dịp tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31, vào lúc 11 giờ sáng Ngày thứ sáu 17 tháng 6 năm 2016, một phái đoàn người Việt Hải ngoại đã họp với văn phòng Cao Uỷ Nhân Quyền LHQ tại New York. Phái đoàn đã tiếp xúc với bà Nicole Bijerler, phụ tá đặc biệt Tổng Thư Ký LHQ (Assistant General Secretary  for Human Rights) về vấn đề Nhân Quyền.

Mời xem tiếp…

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM THÔNG BÁO KHẨN Số 2 (6-2016)

Tuesday, June 21st, 2016

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM

THÔNG BÁO KHẨN

Số 2 (6-2016)

V/v: Chùa Liên Trì sắp bị cưỡng chế giải tỏa vào ngày 23/6/2016.

 

Theo một nguồn tin đáng tin cậy được Hoà Thượng Thích Không Tánh xác nhận, Uỷ Ban Nhân Dân quận 2, Phường An Khánh Sài gòn đã họp nhiều lần và ra quyết định sẽ tiến hành cưỡng chế giải toả, xóa bỏ chùa Liên Trì tọa lạc tại 153 Lương Đình Của, Phường An Khánh, Quận 2, Sài gòn vào ngày 23/6/2016.

 

Hiện nay, sức khỏe của Hòa Thượng Thích Không Tánh không được tốt. Các tăng ni chỉ biết cầu nguyện trước hành động phá chùa cướp đất này của bạo quyền Cộng sản.

 

Việc giải tỏa Chùa Liên Trì của nhà cầm quyền đã có dự tính từ lâu nhằm triệt hạ những cơ sở tôn giáo độc lập không chịu nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Tuy nhiên, do áp lực của công luận của quốc tế, họ đã tạm thời chưa thực hiện chờ cơ hội thuận tiện.

 

Nay Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam xin trân trọng thông báo khẩn đến Quý Chức Sắc tôn giáo khắp nơi, quý vị thành viên Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, quý tổ chức dân sự, cộng đồng và đồng bào trong và ngoài nước biết trong tinh thần hiệp thông, đoàn kết bảo vệ tự do tôn giáo, bảo vệ nhân quyền có mặt trước chùa Liên Trì trong ngày 22 và 23-6-2016 để phản đối, ngăn chặn việc phá chùa cướp đất nói trên.

 

Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam trân trọng kêu gọi:

 

– Đồng bào trong và ngoài nước đồng loạt lên tiếng tạo dư luận để ngăn chận hành động đàn áp tôn giáo, triệt hạ cơ sở tôn giáo độc lập của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

– Các cơ quan quốc tế nhân quyền, các chính phủ tự do dân chủ trên thế giới khẩn thiết lên tiếng và hành động nhằm ngăn chận việc giải tỏa một cơ sở tôn giáo độc lập cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hiện nay.

Nguyện Cầu Hồn Thiêng sông núi phù trợ cho chúng ta.

 

Việt Nam ngày 21 tháng 6, 2016

 

TM Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam

Đồng Chủ Tịch:

 

–       Hòa Thượng Thích Không Tánh

–       Linh Mục Phan Văn Lợi

–       Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa

–       Chánh Trị Sự Hứa Phi

–       Đạo Huynh Lê Văn Sóc

 

Tổng Thư Ký: Lê Quang Hiển

Đính kèm: danh sách các chức sắc trong Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam đồng ký tên.

 

          Cao Đài:

– Chánh trị sự Hứa Phi (điện thoại: 0163.3273.240)

– Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (điện thoại: 0988.971.117)

– Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (điện thoại: 0988.477.719)

          Công Giáo:

– Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi (điện thoại: 0984.236.371)

– Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại (điện thoại: 0935.569.205)

– Linh mục An-tôn Lê Ngọc Thanh (điện thoại: 0993.598.820)

– Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc (điện thoại: 0122.596.9335)

– Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình (điện thoại: 01692498463)

          Phật Giáo:

– Hòa thượng Thích Không Tánh (điện thoại: 0165.6789.881)

– Thượng tọa Thích Viên Hỷ (điện thoại: 0937.777.312)

– Thượng tọa Thích Đồng Minh (điện thoại: 0933.738.591)

          Phật Giáo Hoà Hảo:

– Ông Nguyễn Văn Điền (điện thoại: 0122.870.7160)

– Ông Lê Quang Hiển (điện thoại: 0167.292.1234)

– Ông Lê Văn Sóc (điện thoại: 096.4199.039)

– Ông Phan Tấn Hòa (điện thoại: 0162.6301.082)

– Ông Tống Văn Chính (điện thoại: 0163.574.5430)

– Ông Bùi Văn Luốc (điện thoại: 0169.612.9094)

– Ông Hà Văn Duy Hồ (điện thoại 012.33.77.29.29).

 Ông Trần Văn Quang (điện thoại 0169.303.22.77)

          Tin Lành:

– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (điện thoại: 0121.9460.045)

– Mục sư Đinh Uỷ (điện thoại: 0163.5847.464)

– Mục sư Đinh Thanh Trường (điện thoại: 0120.2352.348)

– Mục sư Nguyễn Trung Tôn (điện thoại: 0162.838.7716)

– Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (điện thoại: 0906.342.908)

– Mục sư Lê Quang Du (điện thoại: 0121.2002.001)

​Xin bấm nghe video HT Thích Không Tánh lên tiếng.

https://youtu.be/uXkxKjD3ths

Phải Chăng Đây Không Phải Là Tội Ác của Hồ Chí Minh và Chế Độ Cộng Sản Việt Nam?

Tuesday, June 7th, 2016

Nguyễn Thu Trâm – Dẫu vẫn còn nhiều kẻ nô lệ cộng sản và những tên đầu sỏ cộng sản cứ tiếp tục sống trong u mê lầm lạc và tin tưởng một cách mù quán rằng chính chủ nghĩa cộng sản sẽ tạo ra một thiên đường ngay tại thế gian này và rằng chính chế độ công sản sẽ giải phóng con người ra khỏi sự đói rách lầm than và ra khỏi mọi sự áp bức bất công, bởi tại thiên đường cộng sản chủ nghĩa hoàn toàn không có giai cấp, mà nơi đó mọi con người đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, bình đẳng về phẩm giá và bình đẳng về mọi phương diện, kể cả quyền lực, bởi Xã Hội Chủ Nghĩa và Cộng Sản Chủ Nghĩa là giai đoạn phát triển tột cùng của nhân loại, ngoài ra sẽ không tồn tại bất cứ một chế độ xã hội nào khác nữa trong cộng đồng nhân loại.

Sau gần một thế kỷ ra đời, chủ nghĩa cộng sản với nội tại của nó đã tự chứng minh rằng Chủ Nghĩa Xã Hội và Chủ Nghĩa Cộng Sản không tồn tại trong xã hội loài người, mà nó chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng của một số kẻ mắc chứng hoang tưởng mà thôi. Ấy vậy mà cũng trong ngót một thế kỷ tồn tại đó, những “tín đồ” của sản phẩm hoang tưởng đó, với ước vọng đạt được nó, đã phạm phải vô số những tội ác, gây ra cái chết của hơn một trăm triệu người trên toàn thế giới. Trong đó chỉ riêng ở Việt Nam thôi cũng đã có hơn 10 triệu người đã vong mạng cũng do tội ác của chế độ cộng sản mà kẻ thủ ác không ai khác hơn là lãnh tụ Hồ Chí Minh và thuộc hạ.

ba me am con

Đến nay đã có nhiều tài liệu phơi bày những tội ác đó của Hồ và của các lãnh đạo cộng sản Việt Nam kế thừa sự nghiệp bần cùng hóa nhân dân, ngu hóa dân tộc để dễ bề cai trị của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh thành lập và lãnh đạo, từ cuộc cách mạng Cải Cách Ruộng Đất long trời lỡ đất từ 1949 đến 1956 cho đến vụ án Nhân Văn Giai Phẩm rồi vụ án “Xét Lại Chống Đảng” từ 1967 đến 1973 và đặc biệt là cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam nhân danh cuộc “Cách mạng Giải Phóng Dân Tộc, Thống Nhất Tổ Quốc” từ 1955 đến 1975 khiến hơn 5 triệu thanh niên cả hai miền Nam – Bắc đã bị giết trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàng, nồi da xáo thịt đó và hàng triệu người khác là dân sự của cả hai miền cũng vong mạng vì cảnh bom rơi đạn lạc, hàng triệu người khác thì bị thương tật, tàn phế do trực tiếp tham chiến hoặ là nạn nhân chiến cuộc. Với ngần ấy máu xương của đồng bào ruột thịt trong ròng rã 20 năm chiến tranh huynh đệ tương tàn đó để thắng lợi cuối cùng là một quê hương hoang tàn đổ nát, một dân tộc đói nghèo tăm tối kéo dài hơn 3 thập niên nữa, khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi tìm tự do, bởi sau khi thắng cuộc, trên đường đưa đất nước tiến lên thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa đó, hàng ngàn nhà tù, trại giam lại được xây dựng để đọa đày để giam giữ những người đòi hỏi công bình bác ái, đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền… Bởi thực chất cái gọi là “Cuộc Cách Mạng Dân Tộc, Dân Chủ Nhân Dân” mà Hồ Chí Minh và đảng cộng sản xúi dục đồng bào Miền Bắc tiến hành trong cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam trong suốt 20 năm từ 1955 đến 1975 thực chất chỉ là một cuộc chiến tranh giành quyền cai trị đất nước từ một chính phủ dân chủ của dân, do dân và vì dân sang một chánh phủ độc tài toàn trị vì quyền lợi của một nhóm lợi ích, ấy là tầng lớp cai trị, còn cái gọi là thiên đừơng Xã Hội Chủ Nghĩa và thiên đường Cộng Sản Chủ Nghĩa chỉ là một chiếc bánh vẽ mà thôi… Ấy là tội ác của chế độ cộng sản và của Hồ Chí Minh cùng nhóm lợi ích mà cả dân tộc Việt Nam dường như ai ai cũng đã quá tỏ tường…

Ngoài những tội ác nêu trên, còn nhiều hiện tượng xã hội là hệ lụy của “Cuộc Cách Mạng Dân Tộc, Dân Chủ Nhân Dân” và là hệ lụy của tiến trình xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, mà dường như ít được đề cập đến trong các hành vi thuộc phạm trù tội ác của Hồ và đảng cộng sản, mà trong hành trình đi tìm tự do, chính người viết đã mục sở thị và đã cảm nhận được như một nỗi đau thương bất tận của dân tộc mà mỗi con người Việt Nam còn chút tình yêu quê hương đất nước, còn chút lòng tự trọng dân tộc ít ỏi cũng không thể vô cảm, không thể làm ngơ đó là hình ảnh những “con dân của bác” những “thần dân của đảng cộng sản Việt Nam quang vinh” tha phương cầu thực suốt dọc đường gió bui…

phong 4 trai giam IDC
Hình ảnh Chụp Tại Phòng 4 – Nhà Giam Giữ Người Nhập Cư Trái Phép IDC – Bangkok

Có nhói lòng không khi từ vùng nông thôn đến thành thị của hai nước láng giềng Cambodge và Thái Lan, nơi người viết đã đi qua, nơi nào cũng tồn tại những những nhà thổ mà đa phần những người phải bán phấn buôn hương trong đó để cha mẹ đỡ phải đói nghèo, để anh em khỏi phải thất học lại là cháu con của bà Trưng, bà Triệu? Có ai hỏi từng hỏi rằng hơn 700 năm trước, Huyền Trân Công Chúa đã được:

“Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,

Vốn đà không mất lại thêm lời,

Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm,

Một gái Huyền Trân của mấy mươi.”

Còn ngày nay “con dân của bác và đảng” làm thân cây quế giữa rừng… để đất nước Đại Việt được gì? Để con Hồng cháu Lạc được gì hay chỉ là tiếng ô nhục ngàn đời không rửa sạch?

Cũng dọc đường gió bụi, người viết cũng từng gặp dễ có đến hàng trăm thậm chí là hàng ngàn nam, phụ, lão ấu người Việt la lết ở nhiều tụ điểm đông người cả ở xứ Miên lẫn xứ Thái để ăn xin mà không ít những cái bang xuyên quốc gia này có sự chăn dắt hẳn hoi của những đầu nậu là những kẻ buôn người chuyên nghiệp với những đường dây đưa người tàn tật, mù lòa, cùi hủi từ Việt Nam sang mà chúng gọi là “cóc” và những người chăn dắt để thu lợi nhuận theo tỷ lệ phần trăm từ những “con cóc” đó thì được gọi là “người chăn cóc” mà nhiều người cho rằng những kẻ chăn cóc này có cả một “công nghệ” biến những trẻ em Việt Nam nghèo khổ, nhưng vốn lành lặn, trở thành những đứa trẻ tật nguyền mù, què vĩnh viễn nhưng lại hoạt động như những chiếc máy in tiền cho những “người chăn cóc”… và vì có lắm bạc nhiều tiền, những kẻ đó đã bỏ các nhân viên Lãnh Sự Quán, Đại Sứ Quán Việt Nam ở nước sở tại vào túi để luôn luôn được hợp pháp với công việc “chăn cóc” siêu lợi nhuận này. Xin được hỏi rằng đây là nghiệp chướng của quê hương, của dân tộc hay đây chính là tội ác của lãnh tụ cộng sản họ Hồ và của đảng cộng sản?

Cũng tương tự như vậy, tại nhiều trung tâm thương mại ở Phnom Penh, ở Bangkok có rất rất nhiều cáo thị về những kẻ trộm cắp, móc túi với đầy đủ hình ảnh và danh tánh, cũng là “cháu con của bác và thần dân của đảng”. Xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, giống nòi Lạc Việt đã bao giờ ô nhục như thế này chưa? Xin một lần nữa được hỏi rằng đây là nghiệp chướng của quê hương, của dân tộc hay đây chính là tội ác của lãnh tụ cộng sản họ Hồ và của đảng cộng sản?

Và với 7 ngày phải vào nhà tù giam giữ những người nhập cư vào Thái Lan trái phép trước khi đến bến bờ tự do, người viết càng ngỡ ngàng đến không thể tin đây là sự thật khi được tận mắt nhìn thấy hàng trăm nam thanh nữ tú cũng là “cháu con của bác và thần dân của đảng” đã bị bắt, bị đưa vào trung tâm giam giữ người nhập cư trái phép này mà ngoài một số người đến đây để kiếm sống bằng những công việc nặng nhọc trong các công trường xây dựng, một số khác thì làm công việc hầu bàn ở các nhà hàng nhưng phần đa lại là những người đến bán phấn buôn hương hay trộm cắp, móc túi… Thật là đẹp mặt cho “đảng quang vinh và lãnh tụ vĩ đại”. Thật đẹp mặt cho một dân tộc có một nền văn hiến hàng ngàn năm. Bởi đâu? Do ai?

Xin thêm một lần nữa được hỏi rằng là nghiệp chướng của quê hương, của dân tộc hay chính là tội ác của lãnh tụ cộng sản họ Hồ và của đảng cộng sản?

Và đây:  Một vài hình ảnh về “cháu con của bác, thần dân của đảng” sang Thái Lan “Tác Nghiệp” bị bắt giam vào nhà tù IDC Bangkok

1

2

3

4

 

5

6

7

8

 

Một vài hình ảnh về “cháu con của bác, thần dân của đảng” sang Thái Lan “Tác Nghiệp” bị bắt giam vào nhà tù IDC

Người viết đã tâm nguyện rằng ngay khi đặt chân đến bến bờ tự do là bắt tay ngay vào loạt bài về những tội ác ít được người đời để ý này của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam, tiếc thay ở môi trường sống mới còn quá ngỡ ngàng, chưa hội nhập được kể cả văn hóa cũng như điều kiện làm việc: Khi còn tạm dung ở Thái Lan, mọi nhu liệu, mọi chương trình hoạt động trên computer đều hoàn toàn là sao chép, mà không có bản quyền, cho nên ngày rời Thái Lan để đi định cư, nhiều người đã khuyên người viết hãy chuyển computer về cho đồng bào trong nước sử dụng, vì ở Hoa Kỳ những người sử dụng computer với các nhu liệu sao chép, không có bản quyền đều là phạm pháp có thể gặp rắc rối với pháp luật. Vì vậy đến Hoa Kỳ trong thời gian đầu này, việc tự trang bị cho mình các phương tiện làm việc như cell phone, như laptop chỉ là chuyện “fiction”. Trong khi đó mượn tạm computer của những người quen để làm việc thì cũng không hề đơn giản vì thân ai có phận nấy đã đành, đa phần những computer của những người quen biết ở đây chỉ gồm những chương trình căn bản, mà thiếu khá nhiều nhu liệu và chương trình cần thiết cho công việc ngay cả như Microsoft office và các nhu liệu chuyên dụng cho ngành báo chí khác… Đó là những khó khăn đã ngăn trở người viết không thể thực hiện được những dự định về bài vở và điều này đã làm thất vọng không ít đối với quý tôn trưởng từng đặt nhiều hoài vọng vào người viết khi còn chưa đến được bến bờ tự do.

Kính mong được sự cảm thông và chia sẻ của quý tôn trưởng.

Tất nhiên tội ác của lãnh tụ cộng sản họ Hồ và thuộc hạ vẫn còn nhiều. Xin được tiếp tục trình bày thêm trong những bài viết tiếp theo.

Richmond, Virginia ngày 30 tháng 7 năm 2014

Nguyễn Thu Trâm

Việt Nam tiếp tục đàn áp biểu tình vụ cá chết (VOA 6/6/2016)

Monday, June 6th, 2016
Cuộc tuần hành ở Hà Nội ngày 5/6/2016 chỉ diễn ra một thời gian ngắn đã bị giải tán.

Cuộc tuần hành ở Hà Nội ngày 5/6/2016 chỉ diễn ra một thời gian ngắn đã bị giải tán.

Hàng chục người bị bắt giữ tại Hà Nội và Sài Gòn hôm qua (5/6) khi tham gia các cuộc tuần hành ôn hòa kêu gọi minh bạch hóa nguyên nhân khiến cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung từ đầu tháng tư tới nay.

Những người biểu tình dùng các trang mạng truyền thông xã hội để thống kê và truyền tin về các vụ bắt giữ tại hai thành phố lớn.

Các video được loan tải nhanh rộng trên Facebook chiếu cảnh công an Hà Nội dùng võ lực áp giải nhiều người tham gia biểu tình lên hai chiếc xe buýt chở về đồn trong khi một số người khác bị bắt tại Sài Gòn thậm chí trước khi họ tham gia tuần hành.

Tin cho hay tại Hà Nội có khoảng 30 người bị câu lưu sau khi cuộc tuần hành vừa khởi sự được chừng 15 phút thì bị lực lượng công quyền trấn dẹp.

Cái sợ lớn nhất của chế độ này đó là mọi người nhận thức và mọi người không sợ nữa. Chính vị vậy, đây là cơ hội khá tốt giúp những người lâu nay thờ ơ với cuộc sống cảm thấy đã đến lúc chính họ cũng phải nói, biến nỗi lo thường trực này thành việc mà tất cả cùng có thể lên tiếng.

Hình ảnh chia sẻ trên các trang mạng xã hội cho thấy đoàn người biểu tình ở Hà Nội xếp hàng dài tuần hành trong im lặng, tay cầm những biểu ngữ yêu cầu nhà nước trả lời nguyên nhân gây thảm họa môi sinh chưa từng có trước nay, kêu gọi bảo vệ môi trường, và phản đối công ty thép Formosa của Đài Loan ở Hà Tĩnh, nghi can chính trong đại án cá chết.

Internet đặc biệt là các trang mạng xã hội như Facebook, nơi người dân phát tán thông tin về các cuộc tuần hành cũng bị cản trở truy cập từ một ngày trước.

Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế lên án việc Việt Nam đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa đòi hỏi quyền lợi chính đáng và quyền được sống trong môi trường minh bạch-trong lành chứng tỏ một chính quyền cực kỳ vô trách nhiệm.

Phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á trong Human Rights Watch, ông Phil Robertson, nói với VOA Việt ngữ:

“Nhà nước Việt Nam đàn áp biểu tình, từ chối trả lời những câu hỏi rất chính đáng của người dân về thảm trạng đang diễn ra cho thấy một thái độ hết sức vô trách nhiệm, chứng tỏ nhà chức trách dùng quyền hành của mình để buộc mọi người câm lặng thay vì phải trả lời dân như bất kỳ một chính phủ nào khác thường làm. Thay vì điều tra và công bố nguyên nhân cho dân rõ, nhà cầm quyền Việt Nam lại đàn áp những người thực thi quyền tụ tập ôn hòa căn bản của công dân để yêu cầu trách nhiệm từ nhà chức trách. Người dân mất kế sinh nhai, những người bị ảnh hưởng cuộc sống vì thảm họa môi trường này họ phải được giải đáp thỏa đáng.”

Human Rights Watch mô tả hành động của chính phủ Việt Nam là ‘kinh khủng’ và kêu gọi để cho người dân được bày tỏ quan điểm, chấm dứt chiến dịch vi phạm nhân quyền qua việc sách nhiễu, đe dọa, giam giữ người biểu tình.

Nhà nước Việt Nam đàn áp biểu tình, từ chối trả lời những câu hỏi rất chính đáng của người dân về thảm trạng đang diễn ra cho thấy một thái độ hết sức vô trách nhiệm, chứng tỏ nhà chức trách dùng quyền hành của mình để buộc mọi người câm lặng thay vì phải trả lời dân như bất kỳ một chính phủ nào khác thường làm.

Các cuộc tuần hành, tọa kháng vì cá chết trên cả nước trong thời gian qua liên tục bị trấn dẹp bằng võ lực, nhiều nhà hoạt động bị quản thúc tại gia vì lý do giữ gìn trật tự xã hội với lực lượng an ninh được ghi nhận đông gấp nhiều lần người tuần hành.

Nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một người tham gia các cuộc biểu tình tại Nha Trang, cho rằng hành động trấn áp biểu tình xuất phát từ một mối lo sợ sâu xa từ nhà chức trách:

“Cái sợ lớn nhất của chế độ này đó là mọi người nhận thức và mọi người không sợ nữa. Chính vị vậy, đây là cơ hội khá tốt giúp những người lâu nay thờ ơ với cuộc sống cảm thấy đã đến lúc chính họ cũng phải nói, biến nỗi lo thường trực này thành việc mà tất cả cùng có thể lên tiếng.”

Dù giới hữu trách thành công trong việc quét nhanh, dẹp gọn các cuộc xuống đường tại nhiều miền đất nước, nhưng đó chỉ là thành quả trước mắt, khó lòng tránh được hậu quả lâu dài, theo nhận định của một người tham gia các cuộc tuần hành vừa qua tại Hà Nội. Anh Trần Quang Nam nói:

“Họ đạt được nhiệm vụ đấy nhưng lòng dân sẽ không yên. Trong lòng tất cả mọi người đều không hài lòng. Việc đấy càng kéo dài thì sức chịu đựng của người dân càng dồn nén lại. Rồi mọi người càng ngày càng hiểu ra bản chất của chính quyền hiện nay, đến một lúc nào đó người dân sẽ phản ứng dữ dội hơn.”

Việt Nam tiếp tục đàn áp biểu tình vụ cá chết

Sau gần 2 tháng trì hoãn đưa ra lời giải đáp, nhà chức trách Việt Nam hồi tuần trước công bố đã xác định được nguyên nhân gây cá chết hàng loạt từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, đến Thừa Thiên Huế, nhưng nói rằng còn phải chờ phản biện khoa học mới có thể thông báo ra công luận nguồn gốc sự việc là gì.

Các cuộc tuần hành vì vấn đề môi sinh được công luận trong và ngoài nước quan tâm không được phản ánh trên truyền thông chính thống, dù báo chí nhà nước thoạt đầu tập trung vào nghi phạm Formosa.

http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-tiep-tuc-dan-ap-bieu-tinh-vu-ca-chet/3363590.html

Tuyên bố chung: giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

Tuesday, May 24th, 2016

Nhận lời mời của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Đại Quang, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam để chào mừng sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và thúc đẩy tầm nhìn chung của họ cho tương lai. Nhân dịp chuyến thăm vào ngày 23 tháng năm năm 2016 trong cuộc họp giữa hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Việt Nam đã thông qua bản Tuyên bố chung này.

Hai bên hài lòng ghi nhận sự tăng trưởng nhanh chóng, có thực chất, và toàn diện của quan hệ Mỹ-Việt Nam trong năm qua, được mang đến bởi các đối tác toàn diện Mỹ-Việt Nam năm 2013 và Tuyên bố chung Tầm nhìn công bố trong chuyến thăm lịch sử tới Mỹ của Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2015.

Các lợi ích chung của Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp tục mở rộng thông qua tăng cường trao đổi các phái đoàn ở các cấp và duy trì cơ chế đối thoại; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ vào quan hệ thương mại và tăng cường đầu tư; tăng cường hợp tác trong giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, an ninh, quốc phòng, quan hệ giữa người với người, nhân quyền, nhân đạo, và các vấn đề di sản chiến tranh. Quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam ngày càng gia tăng đã góp phần tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và tôn trọng luật pháp quốc tế trong khu vực, xây dựng một khu vực dựa trên luật pháp. Cùng nhau, chúng ta đang giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, y tế toàn cầu, không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, gìn giữ hòa bình, và buôn bán động vật hoang dã.

Hướng tới mục tiêu đó, hai nước đã tái khẳng định nghĩa vụ của mình để tuân thủ các điều lệ của Liên Hợp Quốc, cam kết tôn trọng luật pháp quốc tế, hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của họ. Hoa Kỳ và Việt Nam cũng cam kết tăng cường và phát triển cộng đồng ASEAN, hợp tác với cộng đồng quốc tế để đối phó với những thách thức toàn cầu. Cả hai bên cam kết sẽ làm việc với nhau nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện trong các lĩnh vực sau:

Tăng cường Quan hệ chính trị và ngoại giao

Hai bên cam kết tiếp tục trao đổi phái đoàn các cấp, đặc biệt là ở cấp cao, tăng cường đối thoại giữa các cơ quan của Chính phủ hai nước. Hai bên có ý định mở rộng đối thoại cấp cao thường niên giữa hai Bộ Ngoại giao để thảo luận biện pháp tăng cường quan hệ đối tác toàn diện và thảo luận các vấn đề khác mà hai bên cùng quan tâm. Hai bên đồng ý rằng việc tăng cường tin cậy lẫn nhau đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho tình thân hữu bền vững, lành mạnh và lâu dài và hợp tác.

Thúc đẩy Quan hệ kinh tế

Hai quốc gia tập trung thúc đẩy hợp tác kinh tế, bao gồm thương mại, đầu tư, khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, và sự thay đổi khí hậu. Hai bên khẳng định rằng quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là lĩnh vực kinh tế và chiến lược quan trọng, sẽ thúc đẩy thương mại và đầu tư với nhau, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện, tạo công ăn việc làm. Hai bên khẳng định cam kết của mình để sớm phê chuẩn và thực hiện đầy đủ các thỏa thuận tiêu chuẩn cao cấp này, bao gồm các cam kết về đầu tư, tạo thuận lợi cho kinh doanh và phát triển, sở hữu trí tuệ, dệt may, dịch vụ, lao động và môi trường. Mỹ cam kết hỗ trợ Việt Nam thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực mạnh mẽ để thực hiện và đáp ứng các tiêu chuẩn cao của TPP có hiệu quả. Hai bên cũng khẳng định lại cam kết của họ để đảm bảo rằng tăng trưởng kinh tế toàn diện và tạo cơ hội cho tất cả, được đẩy mạnh bằng cách thúc đẩy sự đổi mới, doanh nghiệp và phát triển kinh tế bền vững. Hai bên nhấn mạnh rằng hợp tác phát triển tiếp tục là một động lực trong mối quan hệ song phương. Cả hai nước cam kết thúc đẩy thương mại song phương và đầu tư, sẽ tiếp tục làm việc theo hướng truy cập các mặt hàng công nghiệp, nông nghiệp, và thuỷ sản. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết sẽ tham khảo ý kiến ​​thông qua nhóm hành động song phương tăng cường một cách hợp tác và toàn diện về mong muốn của Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường. Cả hai nước đều hoan nghênh việc ký kết các hợp đồng thương mại lớn nhân dịp chuyến thăm viếng, như công ty VietJet mua 100 máy bay Boeing và động cơ Pratt & Whitney, cũng như một biên bản ghi nhớ về năng lượng gió giữa GE và chính phủ Việt Nam.

Tăng cường hợp tác giữa người và người.

Hai bên khẳng định ủng hộ việc tăng cường quan hệ giữa người với người để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, hợp tác và hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Hoa Kỳ hoan nghênh chính phủ Việt Nam chấp nhận cơ quan Peace Corps đến dạy tiếng Anh ở Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam hoan nghênh việc thành lập Trường Đại học Fulbright Việt Nam, đó sẽ là đại học Việt Nam có đẳng cấp thế giới. Cả hai bên hoan nghênh các thỏa thuận song phương cấp thị thực nhập cảnh một năm và nhiều lần cho du khách kinh doanh và du lịch ngắn hạn của hai nước. Cả hai bên đánh giá cao và ghi nhận sự thành công của cộng đồng người Mỹ gốc Việt và những đóng góp của họ vào việc thúc đẩy quan hệ song phương.

Tăng cường an ninh và Hợp tác Quốc phòng

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết của họ để tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước như đã nêu trong Bản ghi nhớ về Thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương năm 2011 và Tuyên bố Tầm nhìn chung Mỹ-Việt Nam về quan hệ quốc phòng ký kết năm 2015, ưu tiên hợp tác nhân đạo , di sản chiến tranh, an ninh hàng hải, gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Cả hai bên khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh, chống tội phạm xuyên quốc gia, và an ninh mạng. Việt Nam hoan nghênh quyết định của chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Việt Nam hoan nghênh Hoa Kỳ hỗ trợ an ninh hàng hải – kể cả thông qua Sáng kiến ​​An ninh Hàng hải (MSI), các chương trình giảm mối đe dọa, hợp tác và tài trợ quân sự nước ngoài – và mong muốn hợp tác với Hoa Kỳ để tăng cường khả năng hàng hải của Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký một thư ghi nhớ về ý định thành lập một nhóm hành động hợp tác nhân đạo và sáng kiến lưu trữ y tế (CHAMSI), sẽ thúc đẩy hợp tác về hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Mỹ tái khẳng định ủng hộ vai trò gìn giữ hòa bình của Việt Nam lần đầu tiên bằng cách hỗ trợ Việt Nam trong lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc vào năm 2017.

Cả hai nước đều bày tỏ sự hài lòng về nỗ lực chung của họ để thúc đẩy giải quyết các vấn đề di sản nhân đạo và chiến tranh. Đặc biệt, Hoa Kỳ đánh giá cao sự hợp tác tích cực của Việt Nam hỗ trợ sứ mệnh nhân đạo bằng cách cung cấp đầy đủ tin tức có thể về các quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh. Cả hai bên cam kết tiếp tục hợp tác loại bỏ các phế liệu chất nổ. Việt Nam hoan nghênh sự hợp tác dẫn đến kết thúc thành công giai đoạn đầu tiên việc xử lý chất dioxin tại sân bay quốc tế Đà Nẵng, với giai đoạn cuối cùng đã được tiến hành. Hoa Kỳ cam kết hợp tác với Việt Nam để thực hiện đóng góp đáng kể làm sạch ô nhiễm dioxin ở căn cứ không quân Biên Hòa.

Cổ vũ nhân quyền và cải cách pháp luật

Cả hai nước cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người phù hợp với hiến pháp riêng của họ và với cam kết quốc tế tương ứng. Hai nước hoan nghênh những kết quả của cuộc đối thoại tích cực, thẳng thắn và xây dựng về quyền con người, đặc biệt là vòng thứ 20 của Đối thoại Nhân quyền giữa Hoa Kỳ-Việt Nam vào tháng Tư năm 2016, để thu hẹp sự khác biệt và tiếp tục xây dựng lòng tin. Hoa Kỳ hoan nghênh những nỗ lực liên tục của Việt Nam trong việc cải thiện hệ thống pháp luật và thực hiện các cải cách pháp luật nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người theo Hiến pháp năm 2013. Việt Nam đã thông báo với Mỹ về kế hoạch điều chỉnh, sửa đổi, và dự thảo luật mới, trong đó có Luật về Tôn giáo và Tín ngưỡng, Luật về Lập Hội, Luật sửa đổi bổ sung trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi bổ sung hồ sơ pháp lý, Luật Ban hành Quyết định hành chính. Cả hai bên đều công nhận những đóng góp mà các tổ chức xã hội và tôn giáo tiếp tục thực hiện trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, và các dịch vụ xã hội ở cả hai nước. Cả hai bên khuyến khích hợp tác hơn nữa để đảm bảo rằng tất cả mọi người – không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, và khuynh hướng tình dục, và bao gồm cả người khuyết tật – được hưởng đầy đủ các quyền con người của họ. Hoa Kỳ và Việt Nam đã đón nhận một thư thỏa thuận về thực thi pháp luật và hỗ trợ tư pháp.

Tuyên bố về thách thức khu vực và toàn cầu

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết chia sẻ của họ để giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và hàng hải, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình ngoại giao và pháp lý, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS). Cả hai nước nhấn mạnh cam kết của các bên tranh chấp để tránh những hành động làm trầm trọng  thêm hoặc mở rộng tranh chấp, và xác nhận tầm quan trọng của việc thực hiện nghiêm chỉnh “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên” (DOC),  hành động để đẩy nhanh sự đàm phán với những kết quả thực tế để sớm kết thúc Quy tắc ứng xử (COC). Về vấn đề này, cả hai nước bày tỏ quan ngại nghiêm trọng về diễn biến gần đây ở Biển Đông đã gây ra những căng thẳng, lòng tin bị xói mòn và đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định. Cả hai nước đều công nhận sự cấp thiết của việc ủng hộ tự do hàng hải và hàng không và thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông, kêu gọi cam kết phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong việc giải quyết các tranh chấp, tái khẳng định sự chia sẻ Tuyên bố Sunnylands, và cam kết hợp tác chặt chẽ với các đối tác khác của ASEAN trong việc thực hiện Tuyên bố đó.

Mỹ tái khẳng định cam kết của mình để chủ động phối hợp và hỗ trợ Việt Nam trong việc tổ chức thành công APEC 2017.

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và thực hiện Hiệp định (khí hậu) Paris. Họ mong muốn giai đoạn đầu của Hiệp định được thực hiện, và cả hai đều cam kết sẽ chính thức gia nhập Hiệp định vào năm 2016. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết thực hiện một số hành động thiết thực để thúc đẩy làm dịu và thích ứng về khí hậu, cũng như tăng cường tính minh bạch và xây dựng khả năng trong quan hệ đối tác khí hậu giữa Mỹ-Việt Nam, bao gồm cả ở đồng bằng sông Cửu Long. Công việc sắp tới sẽ xây dựng trên các kết quả của sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong việc thực hiện chương trình Sáng kiến ​​Hạ lưu sông Mekong. Hoa Kỳ cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam ứng phó với nạn hạn hán tồi tệ nhất vừa qua trong hơn 90 năm và xâm nhập nước mặn, và trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong lưu vực sông Mekong. Là một đối tác phát triển của Ủy hội sông Mekong (MRC), Hoa Kỳ bày tỏ cam kết của mình để hỗ trợ hợp tác giữa các thành viên MRC và giữa các thành viên Ủy hội và các cơ chế khác trong khu vực trong việc sử dụng, quản lý và phát triển nguồn nước xuyên biên giới một cách hiệu quả và bền vững.

Hai nước đã bày tỏ sự ủng hộ cho một sự hợp tác hạt nhân dân sự mở rộng như tìm cách giảm thiểu phế thải từ ngành năng lượng toàn cầu, việc ký kết Thỏa thuận hành chính theo Hiệp định Mỹ-Việt về hợp tác trong hòa bình việc Sử dụng năng lượng hạt nhân (Hiệp ước “123”), và các tiêu chuẩn cao nhất về an toàn, an ninh và không phổ biến hạt nhân. Cả hai nước hoan nghênh kết quả thành công của năm 2016 Hội nghị thượng đỉnh an ninh hạt nhân và cam kết sẽ tiếp tục làm việc với nhau để tăng cường cấu trúc an ninh hạt nhân toàn cầu. Hai bên có ý định thành lập Uỷ ban hỗn hợp Hoa Kỳ-Việt Nam về hợp tác hạt nhân dân sự để tạo điều kiện cho việc thực hiện các Hiệp định 123.

Hai nước cam kết sẽ duy trì sự thành công trong hợp tác và lãnh đạo dưới Chương trình nghị sự An ninh y tế toàn cầu (GHSA), đặc biệt đối với sự hợp tác của các trung tâm hoạt động khẩn cấp và phát hiện ổ dịch và phản ứng ở người và động vật với, cũng như thực hiện một lộ trình quốc gia để đạt được từng mục tiêu GHSA. Mỹ cam kết hỗ trợ nâng cao năng lực của Việt Nam trong y học ven biển. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết sẽ làm việc cùng nhau trong khu vực và trên toàn cầu để ngăn chặn, phát hiện và ứng phó với các mối đe dọa đại dịch, cả hai nước khẳng định sẽ thực hiện sự đánh giá chung về những nỗ lực trong năm 2016.

Cả hai quốc gia cũng khẳng định lại cam kết cùng hành động chống buôn bán động vật hoang dã và bảo vệ đa dạng sinh học dưới sự hợp tác mới của Hoa Kỳ và Việt Nam để phòng chống buôn bán động vật hoang dã.

Làm sâu đậm thêm quan hệ đối tác dài hạn

Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện giữa Hoa Kỳ-Việt Nam, làm cho nó sâu đậm hơn, thực chất hơn, và hiệu quả hơn để phục vụ tốt hơn cho lợi ích của nhân dân hai nước vì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới.

BT lược dịch

Nguồn:

https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2016/05/23/joint-statement-between-united-states-america-and-socialist-republic

Tuyên bố của các tổ chức xã hội dân sự độc lập về thảm họa quốc gia

Friday, May 6th, 2016

TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỘC LẬP

VỀ THẢM HỌA QUỐC GIA TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG

29-04-2016

          A- Xét rằng:                 

          1- Bắt đầu từ ngày 6-4-2016, trên địa bàn các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế và một phần Quảng Nam đã xảy ra hiện tượng nhiều loài cá sống ở tầng đáy và vùng duyên hải (có cả cá voi) chết hàng loạt trôi vào bờ. Cá, ngao nuôi trong đầm gần biển và lồng bè trên biển cũng đồng số phận, gây ô nhiễm môi trường chưa từng thấy và hết sức nghiêm trọng. Song song đó, một thợ lặn thi công xây dựng đê chắn sóng ở cảng Sơn Dương (Hà Tĩnh) đã qua đời hôm 24-04. Ngày 26-04, 5 thợ lặn khác tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã phải vào bệnh viện sau khi lặn từ khu vực biển Vũng Áng lên. Ít nhất đã có hơn 20 trường hợp cấp cứu ở huyện Phúc Trạch (Quảng Bình) vì ăn các loại hải sản nghi nhiễm độc. Cũng khoảng 200 thực khách dự tiệc khai trương một nhà hàng tại huyện Quảng Trạch bị trúng độc sau khi thưởng thức các món cá biển.

          Từ cả tháng nay, hàng vạn ngư dân phải đưa thuyền lên bờ phơi nắng và nhịn đói, đời sống họ hoàn toàn bị đảo lộn; các đầm và bè cá bị mất hàng chục tỷ đồng. Trong khi chưa có thống kê chính thức về tổng mức thiệt hại, ước tính sơ khởi của Hà Tĩnh cho biết đã có 37 ngàn cá giống, 90 vạn tôm giống, 20 vạn ngao giống bị nhiễm độc mà chết, trị giá khoảng 4,7 tỷ đồng.

          Công luận cho rằng nguyên ủy của tất cả vụ việc chính là nhà máy gang thép Hưng Nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) do Đài Loan và Trung Quốc đầu tư dưới danh nghĩa tập đoàn Formosa. Nơi đây, hôm 04-04, một ngư dân đã phát hiện một đường ống xả thải khổng lồ chôn ngầm dưới biển đang phun rất mạnh một thứ nước màu vàng đục, có mùi hôi thối, ngửi vào thấy ngạt thở. Tập đoàn Formosa sau đó đã thừa nhận rằng hàng ngày họ xả 12.000m3 nước thải ra biển và gần đây, để cọ rửa hệ thống dẫn nước này, họ đã sử dụng 300 tấn hoá chất mà theo một số chuyên gia là có nhiều loại cực độc (Tuổi Trẻ 24-04-2016).

          2- Đang khi ấy thì nhà cầm quyền Cộng sản lại phản ứng hết sức khó hiểu. Nhiều quan chức trung ương lẫn địa phương hoặc đã đưa ra những cảnh báo muộn màng (ngày 20-04, thứ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường mới yêu cầu các địa phương có cá chết phải tuyên truyền rộng rãi để người dân không sử dụng chúng làm thực phẩm hay thức ăn gia súc); hoặc những trấn an giả dối (ngày 23-04, thứ trưởng Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn bảo rằng cá bị nhiễm độc đều đã chết và đã được chôn nên bây giờ bắt được cá sống thì có thể ăn, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cho biết nhiều loại thủy sản vẫn sinh trưởng bình thường trong các lồng bè ở Vũng Áng và người dân có thể yên tâm tắm ở vùng biển này); hoặc những tuyên bố mâu thuẫn (Thứ trưởng Bộ TN-MT khẳng định đường ống xả thải ra biển của Formosa đã được cấp phép, đang khi  Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường của bộ cho hay nhà máy này chưa được phép xả thải. Thanh Niên 23-4-2016).

          Dù thảm họa xảy ra từ hôm 06-04, nhưng đến ngày 26-04, đoàn công tác của Bộ Công thương mới đến kiểm tra công ty Hưng Nghiệp sau khi đã báo cho họ trước 4 ngày (RFA 23-04-2016). Còn Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn thì cho biết khu công nghiệp Vũng Áng có yếu tố nước ngoài nên đoàn công tác không vào kiểm tra được !?! Riêng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì ngày 22-04 mới đến Vũng Áng nhưng chỉ để đôn đốc dự án xây cảng Sơn Dương và còn khen Hà Tĩnh đi đúng hướng, chứ tuyệt không có một lời nào về tình trạng cá biển chết thảm chất đầy bờ bãi và tiếng kêu của dân chúng đang cất lên ngút trời. Còn tân chính phủ thì trong cuộc thị sát ở tỉnh Hà Tĩnh hôm 24-04, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng mới cam kết sẽ ‘xử lý nghiêm’ thủ phạm, và hôm sau, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mới chỉ thị các địa phương phải hỗ trợ ngư dân bị thiệt hại và nhanh chóng đưa ra kết luận để có biện pháp thích đáng. Tối 27-04, Bộ TN-MT đã tổ chức 1 cuộc gặp gỡ báo chí trong 10’ để chỉ đọc một thông cáo chính thức cho hay rằng vụ cá chết ở các tỉnh miền Trung chưa có bằng chứng liên can đến Formosa!

          3- Nhưng chính Formosa hiện bị xem là nghi can số một. Tập đoàn này, cuối năm 2012, đã được nhà cầm quyền giao cho 2000 ha đất tại Vũng Áng để xây nhà máy gang thép Hưng Nghiệp và 1,200 ha mặt nước để làm cảng Sơn Dương. Dự án đã khiến cho 3,000 gia đình bị thu hồi đất, giải tỏa nhà, ảnh hưởng đến cuộc sống của khoảng 20,000 người. Chưa hết, Formosa còn được dành nhiều ưu đãi: thuê đất 70 năm nhưng từ năm thứ 16 mới phải trả (80 đồng/m2); miễn nộp thuế thu nhập trong 4 năm và 9 năm sau đó giảm một nửa, được đem cả hàng chục ngàn nhân công từ Trung Quốc sang làm việc, được hoạt động như một đặc khu mà các cơ quan chức năng của Việt Nam không dễ vào để kiểm tra an toàn môi trường cũng như mọi hoạt động của nó. Đang khi đó, Vũng Áng cũng là một yếu huyệt về an ninh quốc phòng!

          Thế nhưng tập đoàn Formosa từng có những thành tích bất hảo. Năm 1998 họ đã đưa khoảng 5000 tấn chất thải độc hại kể cả thủy ngân vào thị trấn Sihanoukville – Campuchia, gây nên cuộc khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng ảnh hưởng đến hơn 1000 cư dân bản địa. Hồi tháng 09-2009, chính quyền Hoa Kỳ tại hai bang Texas và Louisiana đã buộc Formosa Plastics chi hơn 10 triệu đôla để xử lý vi phạm thải chất độc ra không khí và nguồn nước tại hai nhà máy của họ. Nên cũng trong năm này, tập đoàn bị trao giải “Hành tinh đen” do Ethecon, một cơ quan bảo vệ sinh thái ở Đức dành cho những cá nhân/tổ chức đã có những hành động phá hủy môi trường.

           Chính vì não trạng đó mà hôm 25-4, khi bị chất vấn vì sao từ khi nhà máy hoạt động, vùng nước quanh đường ống xả thải ngầm ra biển chẳng còn tôm cá hay sinh vật, ông Chu Xuân Phàm – giám đốc đối ngoại của Formosa – đã có những phát biểu đầy thách thức ngang nhiên và thừa nhận trắng trợn: Muốn bắt cá bắt tôm hay muốn xây dựng một ngành thép hiện đại, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được. Hồi xưa, khi giải phóng mặt bằng đã tính phương án hỗ trợ ngư dân chuyển sang nghề khác, sao cứ phải đánh bắt cá quanh vùng biển này?”.

          B- Từ những vụ việc trên, các tổ chức xã hội dân sự độc lập nhận định:

          1- Đây là một khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng, vì nó ảnh hưởng hết sức tai hại đến hiện tại cuộc sống của người dân và tương lai phát triển của đất nước:

          Việc ô nhiễm nước biển (mà rồi đây sẽ lan tới vịnh Hạ Long và mũi Cà Mau do dòng hải lưu chảy hai chiều theo mùa) đã và sẽ hủy diệt mọi sinh vật trong lòng Đông hải chưa biết đến bao lâu mới phục hồi, nó cũng giết chết ngành chăn nuôi hải sản của cư dân ven biển. Đang khi đó thì việc đánh bắt xa bờ từ lâu đã trở thành bất khả do sự hoành hành của Trung Quốc. Điều ấy khiến Việt Nam mất đi nguồn thực phẩm đã nuôi sống dân tộc từ hàng ngàn năm qua, và cũng mất luôn nguồn thủy sản xuất khẩu!

          Việc ô nhiễm nước biển cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất muối và nước mắm lẫn chất lượng của hai sản phẩm này, hai thứ gia vị quan trọng mà 90 triệu đồng bào phải sử dụng thường nhật. Điều này tạo nên một hiểm họa lớn lao cho sức khỏe của giống nòi dân Việt. Việc ô nhiễm nước biển ngoài ra còn phương hại đến ngành du lịch, vì dọc bờ biển miền Trung có rất nhiều khu nghỉ dưỡng. Và rồi đây, có người dân nào còn dám đi tắm biển?

          2- Đây là một thảm họa quốc gia lớn lao, vì từ nay buộc phải lên bờ sinh sống một giới đông đảo mà nhà cầm quyền từng gọi là cột mốc di động của chủ quyền quốc gia trên biển. Đông hải sẽ dễ dàng trở thành nơi Trung Quốc mặc sức tung hoành để cuối cùng chiếm trọn như mưu đồ từ lâu của họ. Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia ven biển với một kẻ thù trong biển và một kẻ thù ngoài biển.

          3- Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bảo bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo.

          4- Đây là một cơ hội để tái khẳng định: Mọi người sinh ra đều có quyền được sống trong một môi trường sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái. Quyền đó là một phần không thể thiếu trong tổng thể quyền con người, bao gồm quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được cung cấp thực phẩm, quyền có nước sạch và quyền được bảo đảm an toàn vệ sinh. Không có môi trường lành mạnh, con người không thể sinh tồn để thực hiện các quyền tự do và khát vọng của mình.

          Ngoài ra, môi trường là điều kiện tiên quyết để thụ hưởng quyền con người. Trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ nhân quyền, nhà nước phải bảo đảm mức độ an toàn cần thiết về môi trường để người dân sinh sống. Đây là bổn phận không thể tránh né của nhà cầm quyền. Thứ đến, trong các quyền con người, quyền được tiếp cận thông tin, quyền tham gia vào tiến trình ra quyết định và quyền tìm kiếm công lý khi xảy ra sự tàn phá môi trường là những quyền cơ bản để người dân xây dựng môi trường lành mạnh cho cuộc sống của mình. Đây là quyền bất khả xâm phạm của công dân.

          C- Do đó, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tuyên bố như sau:

  1. Tập đoàn Formosa phải chấm dứt ngay lập tức các hành động gây nên sự tàn phá môi trường; phải thực hiện mọi biện pháp tái lập môi sinh trong sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái cho con người lẫn các loài sinh vật tại các vùng biển bị tác hại; phải bồi thường mọi thiệt hại về môi trường cũng như sinh mạng và đời sống vật chất của người dân tại các vùng biển bị tác hại.
  2. Nhà cầm quyền cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ, cứng rắn, không vì lợi ích nhóm mà nhu nhơ với Formosa, không để Formosa thi hành việc xả thải gây ô nhiễm từ từ thay vì gây độc cấp tính như vừa qua, bởi lẽ hậu quả của biện pháp đối phó này sẽ là cá, người và biển chết chầm chậm; phải sẵn sàng xoá bỏ dự án Formosa, nếu những nguy hiểm tiềm tàng mà dự án gây ra không thể triệt tiêu được; kỷ luật các quan chức trung ương và địa phương vô trách nhiệm và có thể có tham nhũng, tiêu cực trong việc chấp thuận dự án Formosa và trong việc xử lý vụ đầu độc biển. Trước mắt, nhà cầm quyền phải ban bố tình trạng khẩn cấp về môi trường, nhanh chóng xác định nguyên nhân và thủ phạm gây ra hiểm họa, khởi tố hình sự vụ án đặc biệt nghiêm trọng này, công bố chính xác thiệt hại do vụ ô nhiễm gây ra, mời các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm trong việc điều tra ô nhiễm môi trường để có những đánh giá độc lập.
  3. Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, các tổ chức xã hội và chính trị độc lập, các cộng đồng tôn giáo, các nhà báo tự do, xin hãy tham gia bày tỏ thái độ bất khoan nhượng đối với những hành động gây tác hại môi trường sống lúc này cũng như trong tương lai (kể cả dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, dự án nhà máy điện nguyên tử và dự án các đập thủy điện…). Xin hãy tham gia cách ôn hòa nhưng quyết liệt vào mọi hình thức: viết bài, lên tiếng, hội luận, chụp hình với khẩu hiệu, nhất là biểu tình vào ngày 01-05 tới.

          Dân Việt chúng ta quyết không chọn con đường tăng trưởng kinh tế với cái giá hi sinh môi trường đất nước, quyền lợi dân nghèo, chủ quyền quốc gia. Dân Việt chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cầm quyền ngu dốt, tham lam, bán rẻ dân tộc vì tham vọng cá nhân, lợi lộc và phe đảng. Dân Việt chúng ta quyết không chịu chết thảm như những con cá nhiễm độc ở biển Đông lúc này!

          Việt Nam, ngày 29 tháng 4 năm 2016.

          Các tổ chức xã hội dân sự độc lập đồng ký tên

01- Bach Dang Giang Foundation. Đại diện: Ths Phạm Bá Hải.

02- Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: Giáo sư Phạm Xuân Yêm.

03- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Ts Nguyễn Quang A

04- Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ. Đại diện: Ms Nguyễn Hoàng Hoa

05- Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần tuý. Đại diện: Ông Lê Quang Hiển

06- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Ms Nguyễn Trung Tôn

07- Hội bảo vệ Quyền tự do Tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân

08- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng

09- Hội Cựu tù nhân Lương tâm. Đại diện: Bs Nguyễn Đan Quế, Lm Phan Văn Lợi.

10- Hội Dân oan đòi quyền sống. Đại diện: Bà Hồ Thị Bích Khương.

11- Hội Giáo chức Việt Nam. Đại diện: Nhà giáo Vũ Mạnh Hùng

12- Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam. Đại diện: Ts Phạm Chí Dũng

13- Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Đại Diện:  Bà Huỳnh Thị Xuân Mai

14- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Ks Đỗ Nam Hải. Nv Nguyễn Xuân Nghĩa.

15- Mạng lưới Blogger Việt Nam. Đại diện: Cô Phạm Thanh Nghiên.

16- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Lm Nguyễn Hữu Giải.

17- Nhóm Người Bảo vệ Nhân quyền. Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ

18- Phong trào Liên đới dân oan Việt Nam. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh

19- Tăng đoàn Giáo hội PGVNTN. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh.

20- Tổ chức Bảo vệ Tôn giáo và Sắc tộc. Đại diện: Ông Huỳnh Trọng Hiếu

          Cá nhân ký tên:

01- Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội.

02- Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, Đà Lạt.

03- Nhà báo tự do Nguyễn Minh Cần, Nga.

04- Nhà báo Kha Lương Ngãi, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn.

05- Nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu.

Tuyên Cáo của CĐNVQG/LBHK về thảm họa môi trường

Friday, May 6th, 2016

TUYÊN CÁO

VỀ THẢM HỌA MÔI TRƯỜNG, THẢM HỌA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM 

Trong những ngày gần đây đã xảy ra một đại hoạ chưa từng thấy trong lịch sử đất nước Việt Nam:

  • Từ đầu tháng 4/2016, nhiều tấn tôm cá đủ loại đã hàng loạt chết dọc theo bờ biển các tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, đến Quảng Nam. Hiện tượng này đang lan dần xuống phía Nam. Nhiều người đã trúng độc, và có người đã tử vong, do tiếp xúc với môi trường ô nhiễm. Hằng chục ngàn ngư dân thất nghiệp và đang chạm trán với nạn đói. Nhiều dấu hiệu cho thấy nguyên nhân là do hóa chất thải ra từ nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, Vũng Áng (Hà Tĩnh) của công ty Formosa Đài Loan với vốn đầu tư của Tàu Cộng. Hậu quả sẽ rất nghiêm trọng cho nền kinh tế, du lịch và an ninh của đất nước, nhất là cho sức khoẻ của dân tộc Việt Nam trong hiện tại và lâu dài trong tương lai .
  • Nhà cầm quyền CSVN đã phản ứng hết sức chậm chạp, lúng túng, không đưa ra được một giải pháp nào, bộc lộ hẳn tinh thần vô trách nhiệm, bao che tham nhũng, tùng phục ngoại bang, không màng đến quyền lợi của người dân. Thảm họa này chỉ là mặt nổi của nhiều thảm họa tiềm ẩn khác đến từ các dự án nhượng đất, nhượng biển, nhượng rừng, ban đặc quyền đặc lợi cho các công ty ngoại quốc thiếu trách nhiệm, đặc biệt là từ Tàu Cộng với phương châm nô lệ và bán nước “16 chữ vàng và 4 tốt”.
  • Đồng bào trong nước đã cấp tốc phản ứng bày tỏ sự quan tâm và bất mãn cùng độ trước đại hoạ ô nhiễm, nhưng đã bị nhà cầm quyền CSVN ngăn cấm, bắt bớ, đánh đập dã man.

Thảm họa ô nhiễm tại Vũng Áng và những tai hoạ ô nhiễm khác sẽ xảy ra trong tương lai rất gần đều là hậu quả tất yếu của chế độ CSVN độc tài, toàn trị và tham nhũng. Người dân không được quyền lên tiếng, quyền quản lý đất nước, quyền thay đổi chính thể bằng lá phiếu bầu cử tự do.

Trước những sự kiện này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ long trọng tuyên cáo:

  • Đòi nhà cầm quyền đảng CSVN phải (1) tức khắc chấm dứt hoạt động của nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, tại Vũng Áng, của tập đoàn Formosa, và (2) chấm dứt hoạt động của tất cả các cơ sở khác trên toàn quốc gây ô nhiễm trầm trọng cho môi sinh tác hại đến sức khoẻ và an ninh của dân tộc trong hiện tại và tương lai.
  • Đòi nhà cầm quyền phải (1) nhanh chóng làm sạch môi trường để trả lại sinh kế cho ngư dân, và (2) bắt buộc tập đoàn Formosa bồi thường mọi thiệt hại cho các nạn nhân hành nghề cá.
  • Triệt để ủng hộ đồng bào trong nước đang đồng loạt đứng lên đòi quyền hưởng môi trường trong lành, an cư lạc nghiệp, và quyền giải quyết tận gốc rễ chế độ hiện nay để có cuộc sống tự do và dân chủ.
  • Kêu gọi tất cả cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, đảng phái, và đồng bào mọi giới tại hải ngoại phản ứng nhanh chóng và thích đáng để cùng nhau liên kết tạo sức mạnh yểm trợ đồng bào trong nước sớm đạt được các mục tiêu nói trên.
  • Thỉnh cầu Cơ Quan Liên Hiệp Quốc, các quốc gia dân chủ trên thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, khẩn cấp can thiệp để bảo vệ sức khỏe của dân và phục hồi quyền làm người cho dân tộc Việt Nam.

Ngày 5 tháng 5 năm 2016

                        BS Võ Đình Hữu                   BS Đỗ Văn Hội          Ô. Lưu Văn Tươi

                        Chủ Tịch HĐĐB                    Chủ Tịch HĐCH        Chủ Tịch HĐGS 

Và các Cộng Đồng Thành Viên

Công Bố Thành Lập Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam

Saturday, April 23rd, 2016

BẢN CÔNG BỐ THÀNH LẬP

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

*** 

NHẬN ĐỊNH RẰNG:

  1.  Sau khi vi phạm Hiệp định Paris để xâm chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn thể dân tộc Việt với một chế độ độc tài toàn trị bạo ngược, tước bỏ mọi quyền tự do căn bản của người dân được long trọng quy định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10-12-1948.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tự cho mình là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước, biến hành pháp, lập pháp, tư pháp, quân đội, công an, báo chí thành công cụ tuyên truyền, khủng bố trấn áp thô bạo những ai tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nhân quyền và dân quyền và cho sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Hậu quả là Việt Nam chẳng có uy tín trên chính trường quốc tế và bị quốc tế thường xuyên lên án về thành tích vi phạm nhân quyền.
  1.   Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương kinh tế quốc doanh là chủ đạo, các công ty nhà nước là ưu tiên, mọi tài nguyên đất đai là sở hữu của nhà nước. Nền kinh tế ngày càng lụn bại, tài chánh ngày càng kiệt quệ, nợ công ngày càng dâng cao, cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Hàng triệu công nhân bị bóc lột sức lao động, hàng chục triệu nông dân bị cướp ruộng cướp đất, hàng triệu thị dân bị cướp nhà cướp cửa. Thực lực kinh tế quốc gia và điều kiện sinh sống của công dân đứng hàng gần chót thế giới.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương khống chế tinh thần của toàn thể xã hội, độc quyền thông tin, độc quyền giáo dục, khuynh loát mọi hình thức văn hóa và các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt trong lĩnh vực tâm linh, đảng cộng sản Việt Nam đã và đang tiêu diệt các tôn giáo chân truyền, thành lập các tổ chức tôn giáo quốc doanh nhằm phục vụ chế độ vô thần, đi ngược với truyền thống của dân tộc. Các tôn giáo không đóng được vai trò lương tâm và giáo dục cho xã hội. Vì thế, dối trá tràn lan, bạo lực tung hoành, văn hóa nghệ thuật và khoa học kỹ thuật chẳng có mấy thành tựu, thế hệ trẻ lớn lên trở thành công dân mất tự do và vô trách nhiệm, không có trí tuệ và đạo đức.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Namtự cho là người chủ tuyệt đối của đất nước, các cán bộ đảng viên biến mình thành những lãnh chúa ra sức bạo hành và tham nhũng. Lực lượng công an là công cụ bạo lực của đảng, ức hiếp và cướp bóc nhân dân, giết người vô tội, xã hội tràn đầy trộm cướp và lừa gạt, môi trường tràn đầy ô nhiễm và độc hại, nhân dân sống lo âu sợ hãi khắp nơi.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngày càng lệ thuộc Trung Cộng về ý thức hệ và chính trị, về kinh tế và tài chánh, về thương mại và kỹ thuật, khiến Trung Cộng chiếm nhiều phần lãnh thổ và lãnh hải, nhiều tài nguyên trên đất và trên biển, nhiều dự án kinh tế và thương mại. Ngoài ra, nhà cầm quyền liên tục đàn áp những công dân biểu tình chống quân xâm lược, bênh vực sự vẹn toàn lãnh thổ, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ chốngTàu và những công dân cảnh báo tai họa từ kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, nguy cơ mất nước quả thật gần kề.

Trước hiện tình bi thảm và nguy ngập đó của đất nước với bao thảm trạng và tệ nạn ấy của quốc gia, để thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn dân trong và ngoài nước, trong phiên họp ngày 28-1-2016 giữa nhiều lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, nhiều đại diện các tổ chức trong và ngoài nước, Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam được thành lập để đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của lịch sử: “Tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền –  chống đế quốc mới Trung Cộng xâm lược để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. 

NAY, HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

long trọng công bố trước quốc dân và công luận quốc tế:

  1. Hội đồng Liên kết Quốc nội và Hải ngoại Việt Nam là một tập hợp của đồng bào trong nước và cộng đồng Người Việt ngoài nước nhằm mục đích:
  • Tranh đấu khôi phục Nhân quyền và Dân quyền tại Việt Nam, thực thi đúng lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và hai Công ước Liên Hiệp Quốc về các quyền Chính trị, Dân sự, Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966.
  • Bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc và sự trường tồn của Dân tộc.
  1. Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại quyết tâm thực hiện các mục tiêu:
  • Góp phần tích cực, tạo sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong công cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho đồng bào và vẹn toàn lãnh thổ của đất nước.
  • Tạo được niềm tin cho các Hội Đoàn, Đoàn Thể, các tổ chức Xã Hội Dân Sự, các phong trào Dân Oan, Công Nhân và Tín Đồ trong nước, khiến họ sẽ tranh đấu tích cực hơn nhờ được Hội đồng Liên kết nói riêng và đồng bào hải ngoại nói chung quan tâm và hỗ trợ.
  • Đáp ứng nguyện vọng của toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước, đang mong muốn một phong trào vì dân chủ và nhân quyền dâng cao và thành tựu tương tự như Liên minh vì Dân chủ của Miến Điện đã thành công gần đây.
  • Vận động Liên Hiệp quốc, chính phủ các nước tự do và các tổ chức nhân quyền quốc tế yểm trợ, làm áp lực chặn đứng những hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền, can thiệp kịp thời cho bất cứ người dân Việt Nam nào bị sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ, giam cầm, xử án bất công.

Kính thưa toàn thể Đồng bào, 

Hơn bốn mươi năm qua, Cộng sản Việt Nam đã rước voi “Mác Lê” giầy mả Tổ, cõng rắn độc “Trung Cộng” cắn gà nhà Dân Tộc, khiến đất nước  trải qua một thời kỳ bi thảm ô nhục nhất trong lịch sử.

Toàn dân Việt Nam phải sống dưới ách thống trị bạo tàn của chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân, phản dân tộc, thế sự đảo điên, xã hội bần cùng, lòng người ly tán, nhân tâm uất hận. Đã thế, tập đoàn cầm quyền lại cam tâm khuyển mã ươn hèn tủi nhục, cúi đầu thần phục, xin làm chư hầu cho phương Bắc, đem lại “Đại Họa” cho Dân Tộc.

Tiền nhân đã viết lên những trang sử oanh liệt hào hùng bằng xương máu của biết bao thế hệ Việt Nam yêu nước. Một Lý Thường Kiệt đã đánh tan tành quân Tống năm 1075, Lê Đại Hành Phá Tống Bình Chiêm, Vua tôi nhà Trần 3 lần chiến thắng đạo quân Mông Nguyên hung hãn nhất trong lịch sử, Quang Trung Đại Đế đã “Đánh cho được để đen răng, Đánh cho được để dài tóc, Đánh cho xe giặc tan tành, Đánh cho quân thù tơi tả… Đánh cho Sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ…”. Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo: “Chỉ Nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền Văn hiến ngàn năm… Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng hào kiệt đời nào cũng có..”. Tập đoàn cầm quyền Cộng sản hèn với giặc ác với dân nhưng toàn dân Việt khí thế hào hùng bất khuất sẽ đứng lên đáp lời sông núi diệt kẻ nội thù, chống quân xâm lược.

Trước tình trạng Tổ Quốc Lâm Nguy Sơn Hà Nguy Biến, toàn thể nhân dân Việt nam trong và ngoài nước, không phân biệt nam nữ, sắc tộc, tôn giáo, địa phương, đảng phái, chính kiến, đoàn kết một lòng, quyết tâm thể hiện lòng yêu nước bảo vệ giang sơn gấm vóc.

Thanh niên sinh viên, Đồng bào dân Oan, Công nhân bị bóc lột đồng loạt đứng lên tranh đấu để giành lại tự do, đòi quyền sống, quyền làm chủ đất nước.

Kính Thưa toàn thể đồng bào,

Là con dân đất Việt lẽ nào chúng ta cam chịu cúi đầu khuất phục chấp nhận thân phận nô lệ, sống kiếp ngựa trâu, để tập đoàn Việt gian phản quốc ngang nhiên dâng hiến đất đai của Tổ Quốc, Dân Tộc bị tiêu diệt, Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới, thế hệ hôm nay sẽ đắc tội với Tổ Tông, với con cháu muôn đời sau.

– Không còn khốn khó thương đau nào hơn thống khổ hôm nay khi 90 triệu đồng bào sống trong ngục tù Cộng Sản!

– Không còn nhục nhã hờn căm nào bằng ô nhục căm hờn hôm nay khi giặc Tàu – Cộng ngang nhiên chiếm đoạt đất đai, biển đảo của chúng ta!

– Toàn dân hãy đứng lên giành quyền làm chủ của nhân dân, để chuyển đổi lịch sử, đón mừng mùa xuân dân tộc trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Toàn dân Việt phải tự quyết định số phận của chính mình và vận mệnh của đất nước chúng ta.

Đại Nghĩa Tất Thắng Hung Tàn

Chí Nhân Phải thay Cường Bạo

Nguyện cầu Hồn Thiêng Sông Núi

Phù trì Dân Tộc Việt Nam

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt.

Việt Nam Ngày 16-4-2016 

Nhằm ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương 10-3 Âm Lịch

Đồng Chủ Tịch:

– HT Thích Không Tánh, Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– LM Phan Văn Lợi, Đồng ChủTịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– CTS Hứa Phi (Cao Đài Chơn Truyền), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– Nhân sĩ Lê Văn Sóc (PGHHTT), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN).

– MS Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành) Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch HĐĐB Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– BS Đỗ văn Hội, Chủ Tịch HĐCH Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Lưu văn Tươi, Chủ Tịch HĐGS Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh, Chủ Tịch UB Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, Cố Vấn CĐNVQGLB

Hoa Kỳ.

– Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh, CT Phong Trào Diên Hồng Thời Đại.

– Phó TS Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây

Ninh Hải Ngoại.

– Nhân sĩ Cao Xuân Khải, PCT Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Tôn Giáo Việt Nam.

– Nhân sĩ Trần văn Đông, TTK Liên Hội Người Việt Canada.

– Nhân sĩ Trần Văn Bính, Hội Người Việt Tự Do Vancouver Canada, Ban Yểm trợ Truyền

Thông Khối 8406.

– BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, CT Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức.

***

Liên lạc:

Email: LienlacQnHn@gmail.com

Website: www.LienketQnHn.org

Thông Báo về “Vietnam War Summit”

Thursday, April 21st, 2016

THÔNG BÁO

Về “Vietnam War Summit”

(Hội Thảo Thượng Đỉnh Chiến Tranh Việt Nam)

tại Thư Viện LBJ, Austin, Texas

Kính thưa:

  • Quý vị Lãnh Đạo các Tôn Giáo, Cộng Đồng, Đoàn Thể,
  • Quý Thân Hào Nhân Sĩ, Truyền Thông Báo Chí và
  • Toàn thể Đồng bào tại Hoa Kỳ, hải ngoại.

Ngày 5 tháng 4, 2016, Thư Viện Lyndon Baines Johnson (LBJ) ở Austin, Texas thông cáo sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam được mệnh danh “Vietnam War Summit” (tạm dịch “hội thảo thượng đỉnh chiến tranh Việt Nam”) từ 26 đến 28 tháng 4, 2016, được Đại Học University of Texas bảo trợ nhằm đưa ra một “cái nhìn thật sự và rõ ràng về chiến tranh Việt Nam”.

Trong buổi hội thảo còn có sự hiện diện của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry với tư cách diễn giả chính. Ông sẽ trình bày sự quan hệ giữa chính phủ Hoa Kỳ và CS Việt Nam, về sự thay đổi kinh tế và xã hội của Việt Nam so với thời kỳ Ông phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ. Buổi hội thảo được tổ chức nhân dịp ngày 30-4 sắp tới và 1 tháng trước khi TT Obama đến thăm Việt Nam.

Ngoài ra, còn có các diễn giả khác như TS Henry Kissinger, cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ thời TT Nixon; Ô. Phạm Quang Vinh, đương kim đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ và Ô. Ken Burns, một nhà làm phim sẽ thực hiện bộ phim tài liệu gồm 10 phần về cuộc chiến tại Việt Nam.

Theo Ông giám đốc thư viện Mark K. Updegrove, mục đích buổi hội thảo nhằm vinh danh các nam nữ chiến binh Hoa Kỳ đã chiến đấu anh dũng tại Việt Nam đồng thời nghiên cứu sự phức tạp của cuộc chiến, để “soi ánh sáng vào cuộc chiến tranh Việt Nam, bài học và di sản của nó” (“Our goal is to shed definitive light on the Vietnam War, its lessons and legacy.”)

Đặc biệt trong danh sách những nhân vật tham dự, còn có một số cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, một số nhân vật  phản chiến nổi tiếng như Tom Hayden (chồng cũ của Jane Fonda cũng là một người phản chiến), ông Peter Arnett, một ký giả phản chiến.

Điều đáng ngạc nhiên là một cuộc hội thảo quan trọng về cuộc chiến tại Việt Nam lại không có một người Việt nào được mời tham dự để góp tiếng nói về vận mệnh của đất nước mình, ngoại trừ Dân Biểu Texas Hubert Vo, một người Việt Nam còn trẻ không trực tiếp tham gia cuộc chiến, như thế, đây có thể là một môi trường thông tin một chiều, thiếu trung thực, để các thành phần phản chiến và thân cộng có cơ hội tuyên truyền cho đảng CSVN hiện nay.

Để đáp ứng sự kiện này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ đề nghị:

1-       Người Việt tỵ nạn chúng ta cần có tiếng nói trong dịp này dưới nhiều hình thức, nêu rõ lập trường, lý do và những nguyên nhân đưa đến cuộc chiến tại Việt Nam. Ai đã gây ra cuộc chiến kéo dài 30 năm (1945-1975), làm thiệt mạng gần 4 triệu người dân Việt Nam, để cuối cùng một chế độ cộng sản vô thần tàn bạo ngự trị đất nước Việt Nam trên 40 năm qua.

2-       Chúng ta không chống cuộc hội thảo nhằm tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam, mà chỉ chống luận điệu một chiều, xuyên tạc của các tên phản chiến, thân cộng và những kẻ bán đứng miền Nam Việt Nam, và đại sứ CSVN tại Hoa kỳ đại diện cho một chính quyền không do dân bầu, hiện đang tiếp tục đàn áp và khống chế dân tộc Việt Nam bằng một chế độ độc tài toàn trị, đưa đất nước đến bờ vực thẳm.

3-       Chúng ta sẽ phải lên tiếng trước công luận đòi hỏi nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam, đòi thả tất cả các tù nhân chính trị hiện đang bị cộng sản giam cầm.

Để đạt muc tiêu này, chúng tôi đề nghị:

1-    Cùng ký vào bản lên tiếng của cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ và trên thế giới dưới hình thức tuyên cáo đăng  trên website, phổ biến trên báo chí và gửi cho ban tổ chức và Ngoại Trưởng John Kerry.

2-    Tổ chức và tham gia biểu tình trước thư viện LBJ trong những ngày có hội thảo.

– Đề nghị cộng đồng tại Austin đứng ra tổ chức và làm phối trí viên.

– Các cộng đồng Việt Nam tại Texas, các tiểu bang lân cận cùng hợp tác và tham dự.

– Đồng bào Việt Nam khắp nơi hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất.

Cộng Đồng Người Viêt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác cùng tất cả cộng đồng, đoàn thể, tổ chức, nhân sĩ và đồng bào tại Hoa Kỳ và hải ngoại nhằm phản bác bất cứ sự kiện phản chiến và thân cộng nào.

Trân trọng.

Hoa Kỳ ngày 15 tháng 4 năm 2016

BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu, 714-928-3038

BS Đỗ Văn Hội, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành , 407-234-3596

Ông Lưu Văn Tươi, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát, 407-491-9299

Xin bấm vào đường dẫn đến bản Tuyên Bố về vấn đề này và ký tên.

Tuyên bố về “họp thượng đỉnh chiến tranh VN”

 

Đính kèm chi tiết về cuộc hội thảo.

http://www.vietnamwarsummit.org

http://www.lbjlibrary.org/events/the-vietnam-war-summit

Ký Tên: Bản Tuyên Bố về”Gặp Mặt Thượng Đỉnh Chiến tranh Việt Nam”

DÂN TỘC VN SẼ CAM LÒNG SỐNG TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT như dân Tây Tạng như thế nầy sao???

Thursday, March 10th, 2016

NẾU CHÚNG TA IM LẶNG ĐỂ BỌN LÊ CHIÊU THỐNG VÀ TRẦN ÍCH TẮC Ở “LĂNG BA ĐÌNH” TIẾP TỤC LÀM TAY SAI CHO TÀU CỘNG THÌ ĐÂY LÀ SỐ PHẬN CỦA CHÚNG TA VÀ CON CHÁU CHÚNG TA..
.
 
MUỐN CHỐNG GIẶC NGOÀI PHẢI DIỆT THÙ TRONG LÀ TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC CS Ở BẮC BỘ PHỦ…
 
 
 
Bọn Chệt Cọng dùng quân dội đàn áp nhân dân Tây Tạng
 


On Wednesday, March 9, 2016 5:35 PM, ‘Mike Duong’ via 1 DĐKT <usaelection@googlegroups.com> wrote:



Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Thursday, February 18th, 2016

Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại… đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
*
Theo dòng thời gian Sau những tháng năm suy nghĩ, tôi cũng như rất nhiều người đã nghiệm ra rằng: Tình hình Việt Nam sẽ thay đổi, sự thay đổi vô cùng to tát, mát lòng dân, thuận ý Trời đó là sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam. Suy nghĩ này không đơn thuần chỉ là niềm hy vọng thông thường, lại càng không phải là những điều tiên đoán của một kẻ mù sò voi hay của một chiêm tinh gia mà là của một người được tạo hóa ban cho thứ cảm nhận cao cho những gì sắp xảy ra chung quanh cuộc sống. Với tâm nguyện luôn ước mong cho một Quê Hương sớm thoát khỏi ách tròng cộng sản đầy mụ mị trong nghèo đói, với một tâm hồn luôn đau đáu cho một đất nước đã chìm ngập trong mịt mù không tương lai đến các thế hệ kế tiếp của dân tộc thì sự trăn trở luôn thôi thúc bản thân suy nghĩ về vận mạng của đất nước cùng con đường giải cứu đồng bào ruột thịt sớm thoát khỏi ách nạn cộng sản này.
Ngoài nguyên lý bất di bất dịch là trên hành tinh này vạn vật sẽ thay đổi không ngừng. Sự hiện hữu, biến dạng và hủy diệt, đó là nguyên tắc sinh thải. Con người cũng vậy, có sinh phải có tử, triều đại, thể chế cũng không ngoại lệ, có hợp có tan, có trụ có biến.
Người cộng sản với não trạng vô cùng chủ quan và cường điệu cho rằng “CHXHCNVN muôn năm” hoặc “Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… là sai hẳn về phương diện khoa học lẫn các triết dẫn của tôn giáo. Khi những nguyên tắc rường cột cơ bản đã sai ắt mọi ngọn ngành chi nhánh theo đó sẽ sai theo một cách lô-gic. Ví như quỹ đạo bay của phi thuyền bị tính trật thì con tàu sẽ không đến điểm định, một chủ nghĩa sai lầm sẽ đưa xã hội xa mục đích là lẽ đương nhiên mà theo Duy Vật biện chứng thì những chuỗi kết quả sai lệch trong xã hội ấy không thuộc sự “can thiệp” của bất cứ đấng nhiệm mầu nào, hay còn gọi là đấng Tạo hóa mà chỉ đơn thuần theo tính toán của con người dựa trên các cơ sở khoa học.
Hãy đơn cử vài thí dụ để chứng minh cho sự sai lệch đã nêu ra, hỏi có ai ngờ được rằng cái nôi, đồng thời cũng được xem là cái thành trì vững chắc của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Bang Xô Viết sụp đổ khi trước đó nó đã phát triển rất nhanh, rất vững mạnh khiến 5 nước ở Đông Âu phải hướng theo. Cho đến khi khối cộng sản Đông Âu được mở đầu bởi Ba Lan vào năm 1989 và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Romania sau đó.
Sau khi các nước này lần lượt tan rã thì người ta mới dám nảy lên mầm suy nghĩ là rồi Liên Xô cũng sẽ sụp theo. Và cuối cùng đúng như người ta du đoán, cái nôi của chủ nghĩa, thành trì của chủ nghĩa đã sụp đổ vào cuối năm 1991 kèm theo một chuỗi các nước dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khối Liên Xô: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraina và Uzbekistan. Cộng sản đã bị bỏ rơi tại Albania và Nam Tư từ năm 1990 đến 1992, chia thành năm nước kế tục: Slovenia, Croatia, Cộng hòa Macedonia, Bosnia và Herzegovina, và Cộng hòa Liên bang Nam Tư (gồm Serbia, Montenegro và Kosovo). Tác động này cũng được cảm thấy ở hàng chục quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Chế độ Cộng sản đã bị bỏ rơi ở các nước như Campuchia, Ethiopia, Mông Cổ và Nam Yemen. Sự sụp đổ của các nước cộng sản đã dẫn đến tuyên bố kết thúc của Chiến tranh Lạnh. (1)
Ý nghĩa của những sự sụp đổ này nó lớn lao và quan trọng đến độ nhiều nhà nhận định thời cuộc của thế giới đã có cùng một nhận định: “Nhân loại đã đánh dấu sự kiện quan trọng nhất của Thế kỷ 20 là sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản ở đầu thế kỷ và sự chết của nó ở cuối thế kỷ”.
Giờ đây, thế giới chính thức còn lại vỏ vẹn 5 nước: Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn (Triều Tiên) và Lào và Cu Ba, trong đó 2 nước Lào và Cu Ba đang chuyển hướng dần theo khuynh hướng Dân Chủ. Riêng Việt Nam, nếu căn cứ trên thực tế xã hội thì không hẳn còn là một quốc gia theo cộng sản nguyên thủy vì trong kinh tế XHCN không hề có “Kinh tế thị trường”. Nghĩa là Kinh tế tập trung (quốc doanh) thì không có Kinh tế tư nhân. Hai thứ kinh tế này về mặt nguyên tắc thì kinh tế tư bản là đối nghịch toàn bộ với Kinh tế tập trung là Kinh tế CNXH. Các người chịu trách nhiệm về kinh tế nhà nước đã vì sự thua lỗ, mất mát của nền kinh tế này mà nhập nhằng đánh lận triết thuyết căn bản một cách khập khiểng và hy vọng rằng họ sẽ thành công, sẽ qua mắt được các con mắt của các chuyên gia kinh tế có tầm phân tích quán triệt. Người cộng sản đã cố tình lấp liếm một cách gượng ép:“Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” mà chúng ta thường nghe, thường thấy cũng như thường đặt dấu hỏi.
Tuy nhiên, cho dẫu họ có cố gắng bao biện như thế nào thì nhà nước vẫn cố giữ và có chế độ đặc biệt ưu đãi cho các thành phần kinh tế quốc doanh mà cơ bản của nó đã được cung cấp lượng vốn cực kỳ lớn nếu so với các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân. Các thành phần kinh tế quốc doanh này phải lệ thuộc sự chỉ đạo của đảng và do cán bộ của guồng máy quản lý, trong khi ai cũng biết là đảng CSVN đã quá tùy thuộc vào những lãnh đạo đảng bị giới hạn về kiến thức và trình độ kinh tế nên thực tế đã gây ra quá nhiều lỗi lầm trầm trọng bởi sự thiếu kém kiến thức ấy. Bên cạnh sự ưu đãi và từ sự thông đồng cùng nhau chia lợi cho nên nền kinh tế tập trung này luôn bị thua lỗ, thất thoát và lãng phí ghê gớm, đưa đến nợ âm lớn và dần dà sẽ được hợp thức hóa sự mất mát cực kỳ to lớn đó. Ai sẽ chịu trách nhiệm trong những nợ âm cùng những chuỗi mất mát to lớn này?. Khỏi phải cần câu trả lời thì ai cũng biết là người dân qua các khâu nộp thuế.
Ngoài khối dân chúng quốc nội làm việc, kinh doanh, mua sắm, tiêu dùng hàng hóa…phải đóng thuế, nguồn thu này còn có được từ bán rẻ tài nguyên quốc gia và từ những người Việt đi làm công hoặc định cư ở nước ngoài (còn gọi là Việt kiều) gởi về cho chế độ mỗi năm trung bình 10 đến 16 tỉ USD (10.000.000.000 – 16.000.000.000 USD). (2) Xin thưa rằng với số ngoại tệ cho không, không hoàn vốn, không lãi suất, nó tương đương xấp xỉ 1/10 tổng sản lượng quốc gia (GNP), tức tổng sản lượng thu nhập của VN. Số tiền này có thể gần đủ để chi trả cho toàn bộ cán bộ, đảng viên của đảng phái chính trị và guồng máy cầm quyền như Quân đội, Côn an, công nhân viên, quan chức nhà nước hàng năm.
Không có nguồn thu nhập ngoại tệ cực kỳ quan trọng trên thì chế độ hiện hành sẽ không thể đứng vững, nếu không muốn nói là sẽ khánh tận (bankrupcy) hoặc sẽ sụp đổ. Người Việt ở nước ngoài chỉ cần không cung cấp số ngoại tệ 10 đến 16 tỉ USD như nói trong 3 năm thì chế độ sẽ gặp phải khốn đốn, đưa đến nguy cơ bất ổn về mặt chi trả và sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn chính quyền cũng như xã hội. Nguồn huyết mạch trên, nó chiếm vị thế vô cùng quan trọng trong dòng lưu xã hội. Người Việt ở nước ngoài không gởi lượng kiều hối ấy thì chế độ sẽ chết, gia đình sẽ vô cùng khó khăn…Đây là một nan đề mà mãi cho đến hôm nay chúng ta vẫn chưa có bài toán giải quyết như thế nào cho ổn thỏa!. Tuy nhiên, đó không phải là con đường bế tắc cho người Việt ở hải ngoại. Những nhà đấu tranh, những nhân sĩ vận động cho chính trị, chính sách có thể tăng cường phương pháp làm việc của mình bằng cách vận động và lên tiếng cho chính quyền sở tại, nơi quốc gia mình đang cư ngụ để có yêu cầu (hay yêu sách) ĐỀ NGHỊ QUỐC GIA SỞ TẠI GIỚI HẠN hoặc CẤM CHUYỂN GỞI NGOẠI TỆ ĐẾN VN, hay KIỂM SOÁT THẬT GẮT GAO VIỆC GỞI NGOẠI TỆ ra những nước “đặc biệt cần quan tâm” như tham nhũng, độc tài và khủng bố.. Cộng đồng người Việt nên ủng hộ việc làm này của các nhà đấu tranh như các Luật sư, Nghị sĩ, Dân biểu, Nghị viên, Thị trưởng Thành phố v.v…
Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại…đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
Trở lại vấn đề sụp đổ của cộng sản, kẻo không chữ nghĩa, lý luận kinh tế và con số sẽ làm quí vị nhức đầu đi mất. Với nhận thức của người Việt hôm nay, nói chung sự hiểu biết về cộng sản là khá phổ quát. Tuy nhiên, thông tin vẫn còn rất giới hạn cho số dân châm lấm tay bùn, thấp cổ bé họng hoặc cư trú vùng sâu vùng xa. Cho nên người Việt ở quốc nội nên thông truyền cho nhau rộng khắp hơn, cụ thể hơn về đảng CSVN cùng những tiêu cực mà đảng đã làm, cũng như đánh động sự lo sợ về hiểm họa nô lệ Tàu cộng, về việc mất nước. Được như vậy thì vấn đề nội công, ngoại kích mới được kết hợp một cách nhuần nhuyễn.
Với con số hơn 4 triệu rưỡi người Việt ở khắp các quốc gia trên thế giới cùng tài năng về tinh thần lẫn của cải của họ sẽ là những LỰC đáng kể. Ngày nào số lượng người đông đảo này còn thì đảng CSVN vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và bất lợi. Ngày nào đảng cộng sản và guồng máy còn đàn áp với dân chúng trong nước thì đảng cũng sẽ còn gặp phải nhiều phản ứng quyết liệt của người Việt ở nước ngoài.
Dòng thời gian 40 năm, thiết nghĩ đã quá đủ cho một thể chế mụ mị và hung bạo đã tàn phá con người và đất nước một cách khủng khiếp. Để tránh được những tai họa hủy diệt đó cũng như nhằm tránh được hiểm họa nô lệ Tàu cộng, giờ đây người Việt yêu Quê Hương, yêu Tổ Quốc nên thức tỉnh ngay nếu chúng ta không góp phần trách nhiệm của mình cho sự thay đổi của đất nước là chúng ta mang trọng tội với tiền nhân đã dày công dựng nước và giữ nước, với lớp con cháu của các thế hệ nối tiếp. Chúng ta phải thể hiện thái độ dứt khoát không thể để đảng CSVN muốn làm gì thì làm.
Sự chuyển mình của thế giới qua nhận thức Tàu cộng cùng sự nguy hiểm của nó về nhân phẩm nhân sinh, chất độc hại tung ra thế giới, mổ cướp nội tạng dã man, ngang ngược lấn chiếm biển đảo không thuộc chủ quyền của họ, đe dọa an ninh của các quốc gia lân bang. Trật tự cho một Thế giới mới sẽ dấy nên trào lưu BÀI TÀU CỘNG – BOYCOTT CHINA nhằm bảo tồn hành tinh này, đó là quan điểm và hành động của nhân loại văn minh.
Cộng sản Việt Nam rồi cũng sẽ chẳng khá gì hơn khi đảng đã hiện nguyên hình lòi mặt chuột đục phá đất nước chứ chẳng giúp được gì nhiều cho tiến trình phát triển quốc gia mà thế giới đã chửi xéo “Việt Nam là một quốc gia không muốn phát triển!”. Giờ đây, đảng bị xem là kẻ thù của cả dân tộc quốc nội lẫn hải ngoại. Không bạn bè, không đồng minh, không thân hữu ngoài đàn anh Trung cộng nhưng oái ăm thay, người đồng chí duy nhất cũng luôn rình mò, mưu mẹo, toan tính trở mặt và luôn chực hờ cướp giựt và thôn tính.
Cộng sản VN cô đơn và thất thế hơn bao giờ hết, số phận của nó cũng chẳng may mắn gì hơn thằng đàn anh, thằng ông nội Tàu cộng đang bị bao vây, tứ bề thọ địch. Chủ không vững thì tôi tớ cũng lung lay. Người Việt hãy giữ vững chính nghĩa, giữ vững niềm tin xây dựng lại đất nước trong một ngày không xa.

Tuyên Cáo Về Tình Hình Việt Nam 2016

Wednesday, January 20th, 2016

TUYÊN CÁO

VỀ TÌNH HÌNH VIỆT NAM NĂM 2016 (Có bổ túc chữ ký)

(Muốn ký vào Tuyên Cáo, xin vào ô bên phải ====>)

Bổ túc chữ ký sẽ được công bố vào ngày 1/1/2017

_____________________

         Xét rằng:

1-     Đảng cộng sản đã hiện diện trên đất nước Việt Nam hơn 70 năm qua, gây ra nhiều đau thương tang tóc cho Dân tộc Việt Nam. Các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản trước đây đều lần lượt từ bỏ chế độ bất nhân và sai lầm này để chuyển đổi sang chế độ dân chủ tự do, chỉ còn lại một số nhỏ trong đó có Việt Nam.

2- Sau 40 năm kể từ ngày 30-4-1975, đất nước vẫn còn nằm dưới gọng kềm cai trị độc tài, độc đảng. Đảng cộng sản Việt Nam liên tục tước bỏ mọi quyền căn bản của con người, đàn áp những nhà đấu tranh vì tự do dân chủ, tự do tôn giáo và toàn vẹn lãnh thổ. Đảng cộng sản Việt Nam đã làm cho văn hóa suy đồi, kinh tế lụn bại, xã hội đầy dẫy tệ đoan, tài sản của nhân dân bị cường quyền vơ vét.

3-   Đại hội đảng thứ XII năm 2016 cho thấy không có dấu hiệu cải tổ về chính trị cũng như kinh tế, càng tỏ rõ sự lệ thuộc vào Trung cộng, nguy cơ mất nước không thể tránh khỏi. Đại hội đảng cộng sản chỉ là cơ hội để tập đoàn lãnh đạo tranh giành quyền lực, chia chác quyền lợi, hoàn toàn không vì lợi ích của nhân dân và đất nước Việt Nam.

4-   Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn tách rời quần chúng, xem đất nước là của riêng, nhân dân chỉ là nô lệ cho tập đoàn cai trị. Một số đảng viên có đầu óc cải cách muốn thay đổi đều bị trù dập hoặc loại trừ.

          Bởi các lẽ ấy, chúng tôi gồm đại diện một số cộng đồng, đoàn thể, tôn giáo trong và ngoài nước  ký tên dưới đây khẩn thiết tuyên cáo:

1-  Đòi hỏi đảng cộng sản Việt Nam phải tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân, đặc biệt là các quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội; phải trả tự do ngay lập tức tất cả tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị và tôn giáo.

2-   Đòi hỏi đảng cộng sản Việt Nam phải trả lại quyền cai trị đất nước cho toàn dân bằng một cuộc bầu cử thật sự dân chủ và công bằng được quốc tế giám sát, bầu ra một quốc hội của dân, do dân và vì dân như các nước tự do trên thế giới, đặc biệt tại Đài Loan, Miến Điện và Venezuela trong những ngày gần đây.

3-   Kêu gọi các đảng viên, cán bộ cộng sản hãy thức tỉnh vì vận mệnh của đất nước, hãy đứng về phía nhân dân, phục vụ quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc.

4-  Kêu gọi Đồng bào trong và ngoài nước liên kết chặt chẽ tạo thành sức mạnh  tổng hợp nhằm tranh đấu cho một chế độ dân chủ tự do, phồn vinh an lạc, bảo vệ được sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc.

5-  Thỉnh cầu công luận quốc tế và chính phủ các nước tự do dân chủ trên thế giới hỗ trợ cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

          Kính thưa toàn thể Đồng bào,

          Đã đến lúc toàn dân cần phải đồng tâm hiệp lực, liên kết trong ngoài, từ Tín đồ đến Chức sắc, từ các Tổ chức dân sự đến các Đảng phái chính trị, từ giới thường dân đến giới trí thức, từ các Đoàn thể đến các Cộng đồng, Đồng Bào chúng ta không còn sự chọn lựa nào khác mà phải đứng lên giải nguy cho Quốc gia Dân tộc.

          Ý Dân là Ý Trời ! Bất cứ chính quyền nào, thế lực nào đi ngược lòng dân, phản lại ý Trời chắc chắn phải bị diệt vong.  

Công bố ngày 21 tháng 1 năm 2016,

                        Đồng ký tên sau đây:

 

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM (QUỐC NỘI)

  • LM Giuse Đinh Hữu Thoại, đồng Chủ Tịch
  • Hòa Thượng Thích Không Tánh, đồng Chủ Tịch
  • Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa, đồng Chủ Tịch
  • Chánh Trị Sự Hứa Phi (Cao Đài), đồng Chủ Tịch
  • Chánh Trị Sự Nguyễn Bạch Phụng, Thành Viên
  • Chánh Trị Sự Nguyễn Kim Lân, thành Viên
  • Ông Lê Văn Sóc, Hòa Hảo, đồng Chủ Tịch.
  • LM Phêrô Phan Văn Lợi, thành viên
  • LM Nguyễn Công Bình, thành viên
  • MS Nguyễn Mạnh Hùng, thành viên

KHỐI 8406

  • LM Phê rô Phan Văn Lợi, đồng Đại Diện.
  • Ông Nguyễn Chính Kết, Đại Diện Hải Ngoại.

HỘI CỰU TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM (QUỐC NỘI)

  • BS Nguyễn Đan Quế, Chủ Tịch
  • LM Phêrô Phan Văn Lợi, đồng Chủ Tịch
  • Ông Phạm Bá Hải, Điều Phối Viên

TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển

LIÊN HIỆP HỘI THÁNH EM CAO ĐÀI HẢI NGOẠI: Phó Trị Sự Trần Viết Hùng, Tổng Thư Ký – Ông Sinh Cẩm Minh, Trưởng Ban Ngoại Vụ – Ông Phạm Văn Đức, Trưởng Ban Nội Vụ

– Cựu Chánh Trị Sự Bùi Văn Y, Trưởng Ban Giám Sát

TẬP HỢP VÌ NỀN DÂN CHỦ VIỆT NAM: Bs Nguyễn Quốc Quân

PHONG TRÀO GIÁO DÂN VIỆT NAM HẢI NGOẠI: Ông Phạm Hồng Lam, Điều Hợp Viên Ban Thường Vụ.

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA LIÊN BANG HOA KỲ : BS Võ Đình Hữu, CT HĐĐB – BS Đỗ Văn Hội, CT HĐCH – Ông Lưu Văn Tươi, CT HĐGS – Ông Nguyễn Văn Tánh, Cố Vấn – Ông Trần Văn Giỏi, Chủ Tịch CĐNVQG Connecticutt – LS Nguyễn Thanh Phong, PCT Nội Vụ HĐCH – Trung Tá Trần Quốc Anh, PCT Ngoại Vụ HĐCH – Ông Trần Công Thức, TTK HĐCH

TỔNG HỘI CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HẢI NGOẠI: Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch – Ông Nguyễn Trung Châu, Cựu Chủ Tịch, Cố Vấn

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC: BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ Tịch

LIÊN HỘI NGƯỜI VIỆT CANADA: Ông Trần Văn Đông, TTK

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO LIÊN BANG ÚC CHÂU: Luật sư Võ Trí Dũng, Chủ Tịch

ỦY BAN NHÂN QUYỀN HELSINSKI: Luật Sư Tạ Quang Trung, Cố Vấn – Ông Trần Tử Thanh, Cựu Tù Nhân Vì Lương Tâm (do Ân Xá Quốc Tế và Human Rights Watch phong tặng)

HỘI ÁI HỮU CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM: Ông Cao Xuân Khải, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ

CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM DC, MARYLAND VÀ VIRGINIA: Ông Đoàn Hữu Định, Chủ tịch

HỘI DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI: Ông Phạm Trần Anh

HỘI ĐÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM: Ông Rong Nay, Phó Chủ Tịch

HỘI BẢO VỆ DI SẢN VIỆT NAM CỘNG HÒA ̣(Canada):Ông Ngô Anh Võ, Chủ Tịch

LM Đinh Xuân Long (Giáo Phận Charlotte, NC)

MS Ngô Đắc Lũy (Hội Thánh Tin Lành Mennonite)

Nguyễn Thu Trâm: Nhà báo độc lập, Trưởng Phân Bộ Báo Chí Hội AHCTNCTTGVN

Ông Huỳnh Hiệp (Hòa Hảo)

Truyền Hình Việt Nam Hải Ngoại OVM 4TV: Ông Nguyễn Đình Toàn, Giám Đốc

Ông Lý Hiền Tài: Cựu Dân Biểu VNCH, Chủ Tịch LMDCVN thuần túy.

Ông Cao Xuân Thức: Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh  Nam California và Đồng Hương Hướng Phương.

BS Bùi Quang Dũng, PCT Hội Đồng Đại Biểu CĐ LBHK

Đốc Sự Trần Xuân Thời, Cố Vấn: CĐ LBHK

Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Cố Vấn, CĐ LBHK

KS Đỗ Như Điện, Cố Vấn HĐCH CĐ LBHK, Cựu Chủ Tịch Hiệp Hội Người Việt San Diego

CĐVN Arkansas, AR: Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh,

CĐVN Arizona, AZ; Chủ tịch: DS. Đặng Thế Khương

CĐVN Southern California, CA; Chủ tịch: KS Trương Ngải Vinh

CĐNVQG Nam Cali; Chủ Tịch: NV Bùi Phát

CĐNVQG Charlotte, N. Carolina: Chủ Tịch Cô Nguyễn Thu Hương

CĐNVQG Greenville, S. Carolina, CT Ô. Võ Phương.

CĐNVQG Columbia, SC: CT Ông Nghiệp Nguyễn

CĐNVQG Raleigh, NC: CT Ông Huyền Nguyễn

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm  

CĐNVQG Sacramento, CA, Chủ tịch: Ô. Đỗ Thiện Thịnh

CĐNVQG Stockton, CA, Chủ Tịch: Ô. Nguyễn Hữu Hiến

CĐNVQG Colorado, CO, Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Trọng Cường

CĐNVQG Connecticut, Chủ Tịch: Ô. Trần Văn Giỏi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu: Ô. Lê Thanh Liêm

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch: Ông Phạm Quốc Hưng

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch HĐĐD: Ô. Châu Ngọc An

CĐVN Tampa Bay, FL; Chủ tịch: Ô. Trần Công Thức

CĐVN Jacksonville, FL; Chủ tịch: Ô. Eric  Nguyễn

CĐVN South Florida, FL; Chủ tịch: KTS Nguyễn Đức Huy

CĐVN Pensacola, FL; Chủ tịch: Ô. Bùi Lý

CĐVN Georgia, GA, Chủ Tịch: Ông Young Huynh,

CĐNVQG Ilinois, IL, CT Ô. Lưu Toàn Trung

CĐNVQG Massachusetts, MA; Chủ tịch: Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn

CĐNVQG St Louis, MO; Chủ tịch: Ô. Cường Nguyễn

CĐNVQG South New Jersey, NJ; Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm

CNVN New Jersey, NJ: Chủ Tịch: Bà Lê Ánh Nguyệt

CĐNVQG New Hampshire, NH; Chủ Tịch: Ô. Lê Hà Dũng

CĐNVQG New Mexico, NM: Ô. Lương Thông,

CĐNVQG Minnesota, MN; Chủ tịch: Ô. 

CĐNVQG Louisiana, LA; Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh

CĐNVQG New York, NY; Chủ tịch: LS Nguyễn Thanh Phong

CĐNVQG Oklahoma City, OK; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh

CĐNVQG Allentown, PA; Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo

CĐNVQG Philadelphia, PA; Chủ tịch: ô. Vũ Trực

CĐNVQG Pennsylvania, PA; Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm

CĐNVQG Pittsburgh, PA; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Hoa

CĐNVQG Lancaster, PA; Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan

CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA ; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh

CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải

CĐNVQG  TP Lebanon, PA; Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Hải

CĐNVQG TP York, PA ; Chủ tịch: Ô. Vũ Ngọc Hải 

CĐNVQG TP Easton/Bethlehem, PA.  Chủ Tịch: Ô. Đỗ Đức Chiến,

CDNVQG Nashville và Middle Tennessee, TN; Chủ Tich: Ô. Bùi Văn Kiệt

CĐNVTD West Tennessee; Chủ Tịch: Ông Đặng Q. Dũng

CĐNVQG Houston, TX; Chủ tịch: TT Trần Quốc Anh

CĐNVQG Dallas, TX; Chủ tịch: LS. Phạm Quang Hậu

CĐNVQG Utah: Ông Nguyễn Văn Thành, chủ tịch

GHI CHÚ:

Danh sách này được hoàn tất kể từ ngày 18-1-2016 đến 22 giờ ngày 20-1-2016.

BỔ TÚC KÝ TUYÊN CÁO (1) ngày 26-1-2016

(Chúng tôi vẫn nhận ký tên vào tuyên cáo, xin bấm vào: KÝ TUYÊN CÀO)

Ô. Phạm Hữu Sơn, Chủ Tịch CĐNVQG Bắc Cali

TS Nguyễn Quang A, đại diện Diễn Đàn Dân Sự Việt Nam

MS Nguyễn Công Bình, Việt Nam

Phật Giáo: Thượng Toạ Thích Viên Hỷ, Thành Viên Hội Đồng Liên Tôn VN .

Phật Giáo Hoà Hảo Thuần Túy: Cụ Nguyễn Văn Điền – Hội Trưởng Trung Ương GHPGHHTT

  • Ông Lê Quang Hiền (chánh thư ký TU.Phat Giao Hoa Hao Thuan Tuy ) cung deu la Thanh Vien Hoi Dong Lien Ton VN

Phật Giáo: HT. Thich Không Tánh : Phó Viện Trưởng kiêm Tổng Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội Tăng Đòan GHPGVNTN.

– Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm thi Anh Em bau toi la Chủ Tịch Ban Cố Vấn

Mục Sư Lê Quang Du (Vi Anh Le) Việt Nam

Bà Bạch-Y :  Hội Dân Oan    Lâm-Đồng

Trương-Kim :  thành-viên Hội-Tù Nhân Lương-Tâm  Việt-Nam.

Khối 8406 Quốc Nội

Phong Trào Cách Mạng Hoa Sen, Chủ tịch: Nguyễn Bá Đăng (Hà Nội, Việt Nam)

Người Hà Nội (VDP, Hà Nội Việt Nam)

Ô. Vương Kỳ Sơn, Nhà Biên Khảo: 1-Giám đốc Đài – Báo – TV Việt Nam Tự Do New Orleans. 2. Chủ Tịch Ủy Ban Yểm Trợ Khối 8406 New Orleans. 3. Đại Diện: Việt Nam Linh Thiêng – Quỹ Việt Linh Corporation..

Ô. Minh Đức, Diễn Đàn Người Dân Việt Nam

Ô. Lê Thành Lập

Ô. Hoàng Hùng, seattle wa

Ô. Đông H. Nguyễn,

Ô. Võ Hiền

Ô. Trần Quán Niệm, NJ Hoa Kỳ

Ô. Nguyên Vũ

Ô. Nguyễn Trí Dương, y/c giải tán đảng CSVN

Ô. Huỳnh Thúc Khải, (Chủ bút blog Lời Hằng Sống.)

Ô. Thomas Lương, Hoa Kỳ

Ô. Long Phạm,

Ô. Nhật Nguyễn, Hoa Kỳ

Ô. Hùng Nguyễn, Cali, Hoa Kỳ

Ô. Hoàng Độ, Florida, Hoa Kỳ

Bà Thu Nguyễn, Florida Hoa Kỳ

Ô. Lập Phan

 

GHI CHÚ: Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận ký tên vào bản tuyên cáo, email: lienlacqnhn@gmail.com)

 

Ủy Ban Liên Lạc Quốc Nội và Hải Ngoại

PO Box 262066, Tampa, Florida 33658

Điện thoại: 407-927-0014. Email: lienlacqnhn@gmail.com

KHỐI 8406 HOA KỲ: Ông Vũ Hoàng Hải

KHỐI 8406 HOA CANADA:Ông Trần Ngọc Bính

 

  • Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam : Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh.
  • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.
  • Phong Trào Phụ Nữ Hành Động Cứu Nước: Bà Trần Thị Hồng Khương.
  • Linh Mục Nguyễn Văn Lý: Cố Vấn Hội Đồng Kiên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.
  • HT Thích Minh Tuyên: Cố Vấn Hội Đồng Kiên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.
  • TT Thích Thiện Minh: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Cố Vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.
  • Linh Mục Nguyên Thanh, Cố Vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.
  • Diên Hồng Thời Đại Việt Nam: Ô Phan Kỳ Nhơn.
  • Liên Minh Dân Chủ Tự Do Cho Việt Nam: Ô Huỳnh Hưng Quốc.
  • Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo Và Nhân Quyền Việt Nam: HT Thích Nguyên Trí.
  • Mặt Trận Toàn Dân Dựng Cờ Dân Chủ: Ô Cao Xuân Khải.
  • Hội Đồng Liên Kết Tranh Đấu Dân Chủ và Nhân quyền Cho Việt Nam: Ô Lạc Việt.
  • Phong Trào Liên Đới Dân Oan: Trần Ngọc Anh.
  • Hội Dân Oan Đòi Quyền Sống: Hồ Thị Bích Khương.
  • Liên Minh Dân Chủ: Ô Nguyễn Hữu Ninh.
  • Văn Đàn Thời Đại: Nhà Thơ Cao Nguyên.
  • Câu Lạc Bộ Thi Văn Hải Ngoại: Nhà Thơ Vũ Lang.
  • Hội Thanh Niên Dân Chủ: Ô Trần Long.

Cong Dong NVQG Tacoma/ Pierce County.

Chu tich

Bs Nguyen Xuan Dung

Hoi Cao Nien Tacoma va Vung phu can

Hoi Truong

Tran Minh

 

 

 

 

 

TUYÊN CÁO Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67

Monday, December 14th, 2015

TUYÊN CÁO

Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67

(10-12-1948 / 10-12-2015) 

NHẬN ĐỊNH 

  • Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã du nhập và duy trì chủ nghĩa Cộng Sản bất nhân tại đất nước Việt Nam. Kể từ năm 1954 ở miền Bắc và từ tháng 4, 1975 tại toàn cõi Việt Nam, đảng CSVN áp đặt một chế độ độc tài, toàn trị, khống chế hoàn toàn xã hội Việt Nam; xóa bỏ các quyền tự do căn bản của con người; áp dụng một chế độ bất công, xử dụng các điều khoản của bộ luật Hình Sự nhằm áp chế người dân, nhất là những nhà tranh đấu vì dân chủ, tự do, công lý và vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam;
  • Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam có nhiệm vụ tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khi gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977; đã cam kết thực hiện 14 điểm cải thiện nhân quyền khi ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016. Nhưng cho đến nay, CSVN đã không thực hiện những gì đã hứa hẹn và cam kết, tiếp tục vi phạm nhân quyền trầm trọng, xem thường dư luận quốc tế, bất chấp ước vọng dân chủ tự do của nhân dân Việt Nam.

VÌ CÁC LÝ DO ĐÓ, Chúng tôi, đại diện các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại long trọng tuyên bố:

  • Cực lực lên án và tố cáo nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam về sự ngoan cố và những vi phạm quyền làm người của nhân dân Việt Nam;
  • Đòi hỏi đảng CSVN:
    1. Tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các quyền dân sự khác; tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam;
    2. Thiết lập một hệ thống tư pháp độc lập, xét xử công bằng; Hủy bỏ các điều khoản bất công của Bộ Luật Hình Sự; thực thi những điều cam kết khi gia nhập Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.
    3. Trả tự do tức khắc và vô điều điện tất cả tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm và những công dân hiện đang bị sách nhiễu, tù đày, quản chế tại gia dưới mọi hình thức.
    4. Trao trả quyền cai trị cho nhân dân Việt Nam.
  • Kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước hãy đoàn kết đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam;
  • Yêu cầu Liên Hiệp Quốc giám sát và điều tra tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam; thỉnh cầu các quốc gia dân chủ trên thế giới hỗ trợ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cho một chế độ tự do, dân chủ, và pháp trị.

Làm tại New York, ngày 10 tháng 12, 2015

  • BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội, Ông Lưu Văn Tươi: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ
  • Ông Nguyễn Văn Tánh: Trưởng Ban Điều Hợp.
  • Ông Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada.
  • Ông Trần Viết Hùng: Tổng Thư Ký Liên Hiệp Hội Thánh Em Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại và các thành viên từ Canada
  • Ông Huỳnh Hiệp: Phật Giáo Hòa Hảo, tử Virginia, Hoa Kỳ
  • MS Ngô Đắc Lũy: Hội Thánh Tin Lành Mennonite, đại diện Hội Đồng Liên Tôn Quốc Nội.
  • Mr Joe L Ramos USP4GG Coordinator For New York
  • Mr Bert Aguilera President CEO Filaid Foundation INE
  • Tập Hợp Chiến Sĩ VNCH tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá GS Nguyễn Xuân Vinh.
  • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí.
  • Ô. Nguyễn Trung Châu, cựu Chủ Tịch Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại
  • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.
  • Tập Hợp vì Dân Chủ Việt Nam: BS Nguyễn Quốc Quân.
  • Các Cộng Đồng Việt Nam tại Úc Châu, Âu Châu, Canada, Hoa Kỳ
  • Đài SBTN.
  • Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại
  • Ông Đoàn Hữu Định Chủ Tịch Cộng Đồng DC&MD &VA.
  • DS Nguyễn Đức Nhiệm Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia TB/PA .
  • Trung Tá Trần Quốc Anh Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston .
  • Ông Nguyễn Thanh Bình Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia MA
  • Cô Huỳnh Duyên Trinh, TTK/HDQT/ CDVN/MASS và Chủ tịch CDVN thành Phố Worcester.
  • Ông Trần Văn Giỏi Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Connecticut
  • Bà Lê Ánh Nguyệt Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Tự Do, New Jersey.
  • Ông Vũ Trực Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG thành phố Philadelphia
  • Ông Trần Quán Niệm Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG Nam NJ
  • Ông Nguyễn Đình Toàn, GĐ đài OPM4TV
  • BS Bùi Quang Dũng, PCT Hội Đồng Đại Biểu
  • Đốc Sự Trần Xuân Thời, Cố Vấn
  • Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Cố Vấn
  • Ô. Phạm Thế Vinh, Chủ Tịch CĐVN Arkansas, AR
  • Đặng Thế Khương, Chủ Tịch CĐVN Arizona, AZ
  • Ô. Phạm Hữu Sơn, Chủ Tịch CĐNVQG Bắc California, CA
  • KS Trương Ngải Vinh, Chủ tịch CĐVN Southern California, CA
  • Cô Nguyễn Thu Hương, Chủ Tịch CĐNVQG Charlotte, N. Carolina
  • Ô. Võ Phương, Chủ Tịch CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  
  • Ô. Nghiệp Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG Columbia, SC: CT
  • Ô. Huyền Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG Raleigh, NC: CT
  • Ô. Phạm Thanh Liêm, Chủ Tịch Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA 
  • Ô. Đỗ Thiện Thịnh, Chủ Tịch CĐNVQG Sacramento, CA,
  • Ô. Nguyễn Hữu Hiến, Chủ Tịch CĐNVQG Stockton, CA, 
  • Ô. Nguyễn Trọng Cường, Chủ Tịch CĐNVQG Colorado, CO,  
  • Ô. Lê Thanh Liêm, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu CĐVN Florida, FL
  • Ông Phạm Quốc Hưng, Chủ Tịch CĐVN Central Florida, FL
  • Ô. Châu Ngọc An, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện CĐVN Central Florida, FL
  • Ô. Trần Công Thức, Chủ Tịch CĐVN Tampa Bay, FL \
  • Ô. Eric  Nguyễn, Chủ Tịch CĐVN Jacksonville, FL
  • KTS Nguyễn Đức Huy, Chủ Tịch CĐVN South Florida, FL
  • Ô. Bùi Lý, Chủ Tịch CĐVN Pensacola, FL
  • Bà Đặng T. K. Hạnh, Chủ Tịch CĐVN Georgia, GA
  • Ô. Lưu Toàn Trung, Chủ Tịch CĐNVQG Ilinois, IL,
  • Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn, Chủ Tịch CĐNVQG Massachusetts, MA
  • Ô. Cường Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG St Louis, MO
  • Ô. Lê Hà Dũng, Chủ TịchCĐNVQG New Hampshire, NH
  • Ô. Lương Thông, Chủ Tịch CĐNVQG New Mexico, NM
  • KS Lê Hồng Thanh, Chủ Tịch CĐNVQG Louisiana, LA
  • LS Nguyễn Thanh Phong, Chủ Tịch CĐNVQG New York, NY
  • Ô. Nguyễn Khắc Vinh, Chủ Tịch CĐNVQG Oklahoma City, OK
  • Ô. Ngô Thế Bảo, Chủ Tịch CĐNVQG Allentown, PA
  • Ô. Nguyễn Hoa Chủ Tịch CĐNVQG Pittsburgh, PA
  • Ô. Võ Văn Loan, Chủ Tịch CĐNVQG Lancaster, PA
  • Ô. Nguyễn Văn Thanh, Chủ Tịch CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA
  • CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải
  • Ô. Nguyễn Hải, Chủ Tịch CĐNVQG  TP Lebanon, PA
  • Ô. Vũ Ngọc Hải , Chủ Tịch CĐNVQGTP York, PA
  • Ô. Đỗ Đức Chiến, , Chủ Tịch CĐNVQG TPEaston/Bethlehem, PA
  • Ô. Bùi Văn Kiệt, Chủ Tịch CDNVQG Nashville và MiddleTennessee, TN
  • Ông Đặng Q. Dũng, Chủ Tịch CĐNVTD West Tennessee
  • Phạm Quang Hậu, Chủ Tịch CĐNVQG Dallas, TX

Đính kèm:

Tài liệu vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam 

REFERRENCES:

1. Amnesty International Report 2014/15 | Amnesty International
2. World Report 2015: Vietnam | Human Rights Watch
  1. Special Report: Public Insecurity Deaths in Custody and Police Brutality in Vietnam
4. Vietnam 2014 human rights report – US Department of State
  1. Reports of human rights in Vietnam by Vietnam Human Rights Network

 

“Nhóm Lợi Ích” Đang Tàn Phá Việt Nam (Đại Dương)

Wednesday, December 2nd, 2015

Đại-Dương

Gần 30 năm thực thi chính sách “Đổi Mới”, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang nằm trong số 20 quốc gia có khả năng vỡ nợ lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản công khai tiến hành kế hoạch kỹ-nghệ-hoá quốc gia từ năm 2001 đến 2020 mà bây giờ (năm 2015) thừa nhận không thể đạt tới mục tiêu.

Dĩ nhiên, đất nước lụn bại do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng, giới chuyên gia quốc tế và trong nước đã dí tay vào trán các “nhóm lợi ích” như thủ phạm chính.

Thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” được giới lãnh đạo chóp bu của Việt Nam đề cập từ sau Đại hội XI (năm 2011), nhưng, chỉ nói đến hiện tượng xảy ra trong xã hội mà chưa xác định đích danh của từng “nhóm lợi ích”.

Giới phân tích quốc nội xem xét qua lăng kính triết học, chính trị, kinh tế, xã hội các thủ đoạn thu lợi bất chính của “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích”: (1) Lợi dụng và lạm dụng quyền lực kinh tế, chính trị; (2) Lợi dụng yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản hồi tháng 1-2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm” cũng như Phòng, chống tham nhũng.

Vì không dám chỉ mặt, đặt tên nên đã thất bại trong Hội nghị Trung ương 6 hồi tháng 10-2012 khi tất cả Uỷ viên Trung ương không đồng ý thi hành kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và 1 đồng chí trong Bộ Chính trị như yêu cầu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ai cũng biết đồng chí đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà khi tiếp xúc với cử tri sau Hội nghị, Chủ tịch Trương Tấn Sang chỉ dám gọi “đồng chí X”.

Cuộc chiến chống “lợi ích nhóm” vô vàn khó khăn, không hữu hiệu vì chiến tuyến không rõ rệt nên dẫn tới tình trạng “ta chống ta”.

Bộ Chính trị không dám công khai danh tính nên các “nhóm lợi ích” tiếp tục lộng hành làm cho Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng Việt Nam 31/100 điểm không thay đổi trong giai đoạn 2012-2014.

Việt Nam và cộng đồng quốc tế đều biết rõ khu vực kinh tế nhà nước là gánh nặng quá sức của quốc gia, ổ tham nhũng, lắm đại án, làm ăn thua lỗ. Nhưng, Bộ Chính trị vẫn quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”.

Dù đang ở trong tình trạng bội chi ngân sách, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn bơm 8 tỉ USD cho đầu tư và chắc chắn phần lớn được rót vào các doanh nghiệp Nhà nước.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Quản lý Kinh tế Trung ương chỉ trích Chính phủ “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc như 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới”.

Như thế, các “nhóm lợi ích” đã có ảnh hưởng từ thượng tầng lãnh đạo bất chấp tới quyền lợi tối cao của dân tộc.

Dưới bàn tay thao túng của các “nhóm lợi ích” làm cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái.

Tăng trưởng GDP 8.5% của năm 2007 giảm xuống 5.9% vào năm 2011 và 5.4% của 2013.

Tỷ lệ nợ công trong GDP của Việt Nam tăng với tốc độ khá nhanh, từ mức 52% của năm 2010 lên 60% năm 2014 so với trần 65% do Quốc hội đề ra.

Nhưng, một số chuyên gia quốc tế ước tính nợ công của Việt Nam đã lớn hơn GDP.

Các “nhóm lợi ích” bất chấp nguy cơ vỡ nợ nên vẫn phát hành khối lượng lớn trái phiếu vào giai đoạn 2013-2014 đã khiến nợ công tăng nhanh chóng.

Áp lực trả lãi vay của Chính phủ sẽ gia tăng mạnh kể từ năm 2018, tăng 17% so với năm trước, và tiếp tục lên 20% và 23% vào 2 năm sau.

Nợ của Chính phủ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, vay ODA chiếm 80% bằng 49% GDP, và 20% còn lại do bảo lãnh cho ngân hàng và địa phương, chiếm 11% GDP.

Tất cả các khoản vay trực tiếp, vay ưu đãi (ODA=Viện trợ Phát triển Chính thức), trái phiếu chứng khoán đều tăng lãi suất hơn gấp đôi kể từ năm 2017 trong khi dư nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ ở mức 191 tỉ USD vào năm 2020, gấp đôi năm 2015.

GDP danh nghĩa (nominal) của Việt Nam ước tính chỉ có 204 tỉ USD vào năm 2015 đang đối diện với nguy cơ phá sản rất lớn.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ tụt hậu nên đã phát động chiến dịch chống-tham-nhũng từ năm 1998. Nhưng, tới nay tham nhũng vẫn sống mạnh, sống hùng, lan tràn khắp mọi khía cạnh đời sống.

Tất cả những phát biểu đao to búa lớn, các cuộc hội thảo rầm rộ, nhiều bài tham luận tràng giang đại hải chỉ mang lại vài kết quả rất khiêm nhường trong chiến dịch chống-tham-nhũng.

Thất bại được báo trước này do những “đỉnh cao trí tuệ loài người” quen thói dối người, dối mình, chỉ nói nửa sự thật.

Hùng hổ buộc tội “nhóm lợi ích”, nhưng, chưa chỉ ra được ai và ở đâu để trừng trị.

Hà Phong trên Hà Nội mới Online ngày 31-03-2012 phê bình bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện; (2) Tính minh xác, tính minh định, phạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật.

Thực sự, Bộ máy Nhà nước gồm đảng, chính phủ, đoàn thể vô cùng đồ sộ và phình to vô tội vạ không những ăn hết tiền thuế do dân đóng mà còn giành giật phần lớn thành quả phát triển của toàn dân.

Không ai có quyền và khả năng áp lực để đảng Cộng sản Việt Nam phải tinh giản Bộ máy Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, kể cả các chính phủ ngoại quốc và định chế quốc tế.

Đúng ra, các chính phủ và định chế bên ngoài Việt Nam không có trách nhiệm hốt rác vì đó thuộc về nghĩa vụ của mỗi công dân trên quê hương hình cong như chữ S.

Đảng Cộng sản từ khi thành lập cho tới lúc lên cầm quyền vẫn không thay đổi bản chất độc tài, đảng trị, hành động bất minh nên tất cả vị trí lãnh đạo từ trung ương tới địa phương đều lọt vào tay đảng viên.

Như thế, đảng Cộng sản vốn là một “nhóm siêu lợi ích” sản sinh nuôi dưỡng và bảo kê, bảo vệ cho các “nhóm lợi ích” lớn, nhỏ tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chống các “nhóm lợi ích” sẽ không có hiệu quả nếu đảng Cộng sản còn cầm quyền.

Đại-Dương

Tuyên Cáo Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam – Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Monday, November 2nd, 2015

Tuyên Cáo

Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam,

Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Theo tin tức quốc tế, chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình sẽ đến Việt Nam ngày 5 và 6 tháng 11 năm 2015 và sẽ đọc diễn văn trước quốc hội CSVN trong bối cảnh:

  • Trung Cộng vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền ngụy tạo trên Biển Đông và xây dựng các đảo nhân tạo trên các bãi đá ngầm chiếm đoạt của Việt Nam ở Quần Đảo Trường Sa. Để thách thức chủ quyền bất hợp pháp này, Hoa Kỳ đã đưa chiến hạm Lassen tuần tra trong vùng 12 hải lý chung quanh các đảo nói trên, được sự hỗ trợ của các nước đồng minh trong đó có Liên Hiệp Âu Châu.
  • Các quốc gia vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương cùng Hoa kỳ lập liên minh chống sự bành trướng của Bắc Kinh;
  • Tòa án Liên Hiệp Quốc ở La Hayes tuyên bố có thẩm quyền xét xử đơn kiện của Phi Luật Tân về những đòi hỏi chủ quyền bất hợp pháp của Trung Cộng tại Biển Đông;
  • Sắp sửa có họp thượng đỉnh G-20 tại Thổ Nhĩ Kỳ và APEC tại Philippines;
  • Trung Cộng đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chia rẽ nội bô, trong lúc họ vẫn đàn áp những người tranh đấu cho tự do và nhân quyền; gia tăng áp bức các dân tộc Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông…
  • CSVN chuẩn bị tổ chức Đại Hội đàng lần thứ 12 trong tình trạng nội bộ tranh chấp gay go, nhưng chính sách đàn áp nhân quyền, cấm cản người dân Việt Nam bày tỏ lòng yêu nước trước sự lâm nguy của Đất Nước vẫn tiếp tục mạnh bạo.
  • Nhiều chỉ dấu cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đã lệ thuộc quá nhiều vào Trung Cộng qua mưu toan đưa đất nước vào ách thống trị của Bắc Kinh.

Xét rằng:

  • Trung Cộng là kẻ thù số một của nhân dân Việt Nam. Trung Cộng đã chiếm đất đai, biển đảo của Việt nam, dùng võ lực chiếm Hoàng Sa Trường Sa, khống chế Việt Nam bằng mọi hình thức về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường…
  • Trung Cộng chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng, tự tuyên bố chủ quyền hơn 80% vùng Biển Đông; gây hấn tại biển Hoa Đông; xây các đảo nhân tạo trong vùng tranh chấp ở Quần Đảo Trường Sa bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Chính phủ Hoa Kỳ vừa có hành động thích ứng rất đáng ca ngợi khi đưa chiến hạm vào vùng biển xung quanh các đảo nhân tạo do Trung Cộng chiếm giữ ở Trường Sa, cương quyết thực hiện quyền tự do lưu thông hàng hải trên vùng biển quốc tế.
  • Các cuộc tiếp đón trọng thể của lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đối với Tập Cận Bình sẽ mang ý nghĩa chấp nhận sự thống trị của Trung Cộng đối với VN và hợp thức hóa những lời tuyên bố xấc xược của Trung Cộng và đặc biệt là của Tập Cẩn Bình vể chủ quyền trên Biển Đông,

Vì thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ phối hợp cùng các Cộng Đồng trên thế giới, long trọng tuyên cáo:

  • Cực lực phản đối sự có mặt của Tập Cận Bình tại Việt Nam nhằm khống chế đất nước và dân tộc Việt Nam;
  • Lên án đảng CSVN tiếp tay dâng đất dâng biển cho Trung Cộng;
  • Nhiệt liệt ủng hộ những cuộc đối kháng, biểu tình chống Tập Cận Bình, chống Trung Cộng bất cứ hình thức nào tại quốc nội do dân chúng và những người yêu nước khởi xướng.
  • Kêu gọi đồng bào quốc nội hãy mạnh dạn đứng lên phản đối sự hiện diện của Tập Cận Bình; Kêu gọi đồng bào hải ngoại tổ chức, hoặc tham gia những cuộc biểu tình phản đối Tàu Cộng và Việt Cộng; tích cực tẩy chay hàng hóa Trung Cộng;
  • Kêu gọi các quốc gia tự do trên thế giới hãy có thái độ mạnh mẽ chống lại sự bành trướng của nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Kinh và hỗ trợ nhân dân Việt Nam đấu tranh giành Độc Lập Tự Do Dân Chủ cho Quê Hương Việt Nam.

 

Hoa Kỳ ngày 2 tháng 11 năm 2015

BS Võ Đình Hữu                                BS Đỗ Văn Hội                            Ô. Lưu Văn Tươi

CT Hội Đổng Đại Biểu                       CT Hội Đồng Chấp Hành             CT Hội Đồng Giám Sát

 

Hội Đồng Cố Vấn: Bs Trương Ngọc Tích – Đốc Sự Trần Xuân Thời – ĐT Nguyễn Xuân Sơn

Ô. Nguyễn Văn Tánh – GS Phạm Văn Thanh – KS Lê Hồng Thanh

Cố Vấn Hội Đồng Chấp Hành: Ông Nguyễn Trung Châu, Ô. Nguyễn Khắc Vinh, KS Đỗ Như Điện, Ô. Bùi Quang Lâm

Các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia:

CĐVN Arkansas, AR: Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh,

CĐVN Arizona, AZ; Chủ tịch: Ô. Đặng Thế Khương

CĐNVQG Bắc California: Ô. Phạm Hữu Sơn

CĐVN Southern California, CA; Chủ tịch: KS Trương Ngải Vinh

CĐNVQG Nam Cali; Chủ Tịch: NV Bùi Phát

 

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm  

CĐNVQG Sacramento, CA, Chủ tịch: Ô. Đỗ Thiện Thịnh

CĐNVQG Stockton, CA, Chủ Tịch: Ô. Nguyễn Hữu Hiến

CĐNVQG Charlotte, N. Carolina: Chủ Tịch Cô Nguyễn Thu Hương

CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  CT Ô. Võ Phương.

CĐNVQG Columbia, SC: CT Ông. Nghiệp Nguyễn

CĐNVQG Raleigh, NC: CT Ông Huyền Nguyễn

CĐNVQG Colorado, CO, Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Trọng Cường

CĐNVQG Connecticut, Chủ Tịch: Ô. Trần Văn Giỏi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu: Ô. Lê Thanh Liêm

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch: Ông Phạm Quốc Hưng

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch HĐĐD: Ô. Châu Ngọc An

CĐVN Tampa Bay, FL; Chủ tịch: Ô. Trần Công Thức

CĐVN Jacksonville, FL; Chủ tịch: Ô. Eric  Nguyễn

CĐVN South Florida, FL; Chủ tịch: KTS Nguyễn Đức Huy

CĐVN Pensacola, FL; Chủ tịch: Ô. Bùi Lý

CĐVN Georgia, GA, Chủ Tịch: Bà Đặng T. K. Hạnh

CĐNVQG Ilinois, IL, CT Ô. Lưu Toàn Trung

CĐNVQG Massachusetts, MA; Chủ tịch: Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn

CĐNVQG St Louis, MO; Chủ tịch: Ô. Cường Nguyễn

CĐNVQG South New Jersey, NJ; Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm

CĐNVQG New Hampshire, NH; Chủ Tịch: Ô. Lê Hà Dũng

CĐNVQG New Mexico, NM: Ô. Lương Thông,

CDVN New Jersey, NJ: Chủ Tịch: Bà Lê Ánh Nguyệt

CĐNVQG Minnesota, MN; Chủ tịch: Ô. Lê Đình Thăng

CĐNVQG Louisiana, LA; Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh

CĐNVQG New York, NY; Chủ tịch: LS Nguyễn Thanh Phong

CĐNVQG Oklahoma City, OK; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh

CĐNVQG Allentown, PA; Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo

CĐNVQG Philadelphia, PA; Chủ tịch: ô. Vũ Trực

CĐNVQG Pennsylvania, PA; Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm

CĐNVQG Pittsburgh, PA; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Hoa

CĐNVQG Lancaster, PA; Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan

CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA ; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh

CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải

CĐNVQG  TP Lebanon, PA; Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Hải

CĐNVQG TP York, PA ; Chủ tịch: Ô. Vũ Ngọc Hải 

CĐNVQG TP Easton/Bethlehem, PA.  Chủ Tịch: Ô. Đỗ Đức Chiến,

CDNVQG Nashville và Middle Tennessee, TN; Chủ Tich: Ô. Bùi Văn Kiệt

CĐNVTD West Tennessee; Chủ Tịch: Ông Đặng Q. Dũng

CĐNVQG Houston, TX; Chủ tịch: TT Trần Quốc Anh

CĐNVQG Dallas, TX; Chủ tịch: LS. Phạm Quang Hậu

CĐNVQG Utah, UT; Chủ Tịch: Ông Nguyễn Văn Thành

Danh sách các tổ chức và Cộng Đồng ủng hộ tuyên cáo sẽ được phổ biến sau.

Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, CT Đại Tá Nguyễn Văn Quí

Liên Hội Người Việt Canada, TTK: Ô. Trần văn Đông

CĐVN DC/Maryland/Virginia, CT Ông Đoàn Hữu Định, Đồng CT: Ô. Thomas Phạm.

CĐNVQG Lausane, Thụy Sĩ – CT Ô. Trần Xuân Sơn

CĐNVQG Tacoma và Pierce County, Wa, CT: BS Nguyễn Xuân Dũng

Hội Cao Niên Tacoma và Vùng Phụ Cận: Pht Ông Trần Minh

Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Vùng Hoa Thịnh Đốn, CT: Dr. Tạ Cự Hải

Thẳng Tiến Việt Nam: Đại diện: Nguyễn Sơn Hà, Thái Thanh Thuy

CĐ Người Mỹ Gốc Việt Sacramento, CA

Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn CS tại Đức Quốc, CT: BS Hoàng thị Mỹ Lâm.

 

(xin liên lạc với chúng tôi để bổ túc danh sách)

Nhà báo Bùi Tín đã giác ngộ và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN

Thursday, October 29th, 2015

Nhà báo Bùi Tín và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN mà ông là cựu đại tá bộ độ “Cụ hồ”(Thay một lời trăng trối gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)

Tác giả: Bùi Tín

Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là “sao mà ngu lâu thế!”, nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.

Năm nay tôi tự làm “cuộc kỷ niệm” độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người – gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

Giác ngộ là hai chữ tôi nghe rất nhiều lần khi được tuyên truyền về Đảng CS, về chủ nghĩa CS. Các vị đàn anh giải thích con người tốt phải là con người giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là nhận ra lý tưởng cho cuộc đời minh. Tuổi trẻ cần có lý tưởng, hiểu rõ con đường cần chọn, hiểu rõ tổ chức cần tham gia, không bỏ phí cuộc đời minh. Đó là con đường Cộng Sản, dẫn đến độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân, họ rao giảng triền miên như thế, chúng tôi cũng cả tin là thế thật.

Theo học các chương trinh và lớp học cho đảng viên mới, cho cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp của đảng, bao giờ giảng viên cũng nhắc đến hai chữ giác ngộ. Học, học nữa, học mãi để nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ của mỗi người. Đảng viên phải có trình độ giác ngộ cao hơn quần chúng ngoài đảng. Đảng viên mới luôn được học kỹ tấm gương của anh thanh niên Lý Tự Trọng, với nét nổi bật nhất là giác ngộ CS từ tuổi thiếu niên, rồi biết bao tấm gương của những chiến sỹ CS ưu tú, bất khuất trong các nhà tù thực dân ở Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum…giác ngộ cách mang cao, nhà tù, máy chém không nao núng, biến nhà tù thành trường học nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bất khuất, kiên cường.

Trong các bản khai lý lịch cá nhân, mỗi đảng viên thường kể lại bản thân mình được giác ngộ ra sao, được ai giác ngộ, giác ngộ đến mức nào, và luôn kết luận với lời hứa không ngừng học tập, tu luyện, tự phê bình và phê bình để không ngừng nâng cao trinh độ giác ngộ của bản thân.

Tôi kể ra như thế để thấy hai chữ giác ngộ có tác dụng sâu sắc ra sao đối với mỗi đảng viên CS. Hai mươi nhăm năm nay, tôi hồi tưởng lại quãng đời 44 năm là đảng viên CS, theo dõi chặt chẽ thời cuộc hằng ngày trong nước và thế giới, tôi không khỏi cảm thấy chua chát và cay đắng về hai chữ giác ngộ.

Giác ngộ hình như là một chữ Đảng CS mượn của Đạo Phật. “Giác” là nhận thấy, cảm nhận, thấy rõ, “ngộ” là tỉnh ra, nhận ra lẽ phải, chân lý để làm theo.

Sau khi là con người tự do, là nhà báo tự do, kết thân với nhiều nhà báo tự do của thế giới, các nhà báo tự do Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Ba Lan, Tiệp…, tôi tìm đọc các kho tư liệu lưu trữ quý ở Paris, Moscow, London, Washington… rồi suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, của riêng mình, không sùng bái bất cứ một người hay một học thuyết nào. Từ đó tôi giác ngộ không biết bao nhiêu điều mới mẻ, và lần này tôi thật sự có cảm giác sâu sắc về hạnh phúc tinh thần tiếp cận được ngày càng nhiều sự thật, lẽ phải, chân lý. Tôi đã tự giác ngộ mình.

Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác.

Như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản kiểu mác-xít đều là những học thuyết chủ quan, lầm lẫn, hoàn toàn nguy hại trong thực tế, cổ xuý đấu tranh giai cấp cực đoan và bạo lực, đi đến chiến tranh, khủng bố, đổ máu, hận thù. Giữa thủ đô Washington, tôi cùng anh Cù Huy Hà Vũ đã viếng Tượng đài Kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, trong đó có hàng triệu nạn nhân đồng bào Việt ta. Tượng đài nhắn nhủ toàn nhân loại hay cảnh giác với chủ nghĩa CS, tai họa của toàn thế giới.

Tháng 5/2015, Tổng thống Ukraine, một nước cộng sản cũ, đã ký Luật cấm tuyên truyền về chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như trong thời kỳ trong Liên bang Xô Viết từ 1917 đến 1991, coi đó là thời kỳ bi thảm, sai lầm và Tội Ác. Các tượng đài, di tích thời kỳ ấy đều bị phá bỏ. Các sự kiện ấy giúp tôi khẳng định việc thoát đảng CS của tôi là chuẩn xác và giúp tôi thấy Dự thảo văn kiện sẽ đưa ra Đại hội XII sắp đến là lạc hậu, lẩm cẩm và cực kỳ nguy hại cho đất nước, cho nhân dân, cho chính Đảng CS ra sao.

Tôi không thể hiểu vì sao, sau khi Giáo sư Trần Phương, từng là Phó Thủ tướng, là uỷ viên Trung ương Đảng, đã chứng minh rành mạch rằng chủ nghĩa Mác, Lênin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS đều là ảo tưởng sai lầm, nguy hại, hay vì sao sau khi đương kim Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã công khai cho rằng: “Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tim cho mất công! “, vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ khẳng định trong văn kiện Đại hội XII rằng “kiên định chủ nghĩa Mác, Lênin, kiên định chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa CS là lập trường không thể thay đổi “, một thái độ ngoan cố, cổ hủ, tối tăm, buộc toàn đảng phải đi theo sự lẩm cẩm dai đẳng nguy hại của minh.

Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật.
Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của minh. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

Mới đây, có 2 sự kiện minh họa rõ thêm bản chất con người thật HCM. Nhà báo Trần Đĩnh từng gần gũi ông Hồ kể lại ông từng cho rằng không thể giết bà Năm – Cát Hanh Long để mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất, bà lại là ân nhân của đảng CS, – ông còn văn hoa nói: “Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa”. Vậy mà theo Trần Đĩnh, chính ông Hồ đã viết bản Cáo trạng kết án Bà Năm: “Địa chủ ác ghê”, ký tên CB (của Bác- Bác Hồ) trên báo Nhân Dân của Đảng. Cũng theo Trần Đĩnh, ông Hồ đã cải trang, mang kính râm đích thân đến dự cuộc xử bắn bà Năm.

Vậy ông Hồ là con người thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, lá mặt lá trái, tử tế hay không tử tế? đạo đức hay vô đạo đức?

Nhà triết học uyên bác bậc nhất nước ta Trần Đức Thảo trước khi từ giã cõi trần đã kể trong cuốn Những lời trăng trối (do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ghi âm) rằng ông đã gặp ông Hồ, quan sát, nghiên cứu sâu về tư tưởng, hành vi, đạo đức của ông Hồ, và đi đến kết luận vững chắc rằng ông Hồ là “con Người muôn mặt, lắm mưu mô, nhiều tham vọng quyền lực, nhiều điều bí hiểm, lắm tên nhiều họ, ẩn hiện khôn lường, lắm vợ, nhiều con, rất phức tạp”, là một “Tào Tháo của muôn đời”.

Ông Trần Đức Thảo cho rằng đảng CS kêu gọi cả nước học tập đạo đức HCM, vậy là muốn biến cả nước thành Tào Tháo hết cả ư!
Thế thật thì nguy cho dân tộc ta quá ! Ý kiến của nhà triết học này thật thỏa đáng.

Tôi có nhiều lý do để quí trọng ông Hồ. Tôi từng gặp ông khá nhiều lần, khi là phóng viên thời sự quốc tế, vào Dinh Chủ tịch dự chiêu đãi ông Lưu Thiếu Kỳ, ông Alexei Kosigyn hay các nhà báo Pháp, Nga, Trung Quốc. Năm 1957 khi ông vào Vinh thăm bộ đội Quân khu IV tôi được giao chuẩn bị bài nói chuyện của ông trước cán bộ quân khu, khen ngợi thành tích giúp dân gặt lúa, chống bão, lụt và diễn tập ở giới tuyến, ông liếc qua bản viết, khen đãi bôi: “Chú văn hay chữ tốt nhỉ!” rồi đút vào túi. Hơn nữa, cha tôi có quan hệ mật thiết với ông Hồ. Ông từng ngỏ lời mời cha tôi ra tham chính từ những ngày đầu Cách mang tháng Tám. Cha tôi lưỡng lự, do quan niệm Nho giáo “Trung thần không theo hai Vua”, nhưng ông Hồ vẫn cử ông Bộ trưởng Tư pháp Vũ Trọng Khánh, rồi ông Vũ Đình Huỳnh mang thư riêng đến. Chính ông Hồ đề cử cha tôi thay Cụ Nguyễn Văn Tố làm nhiệm vụ Chủ tịch Quốc hội sau khi Cụ Tố bị lính Pháp bắn chết. Nhưng tôi không thể vì những chuyện riêng tư ấy mà làm sai lạc sự đánh giá công bằng, khách quan, chuẩn xác của chính mình.

Không một học thuyết nào, không một cá nhân lãnh tụ nào có thể được đặt trên dân tộc và nhân dân. Do yêu nước thật lòng, thương đồng bào Việt mình thật lòng nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận dứt khoát, sòng phẳng rằng ông HCM là một nhân vật tiêu cực trong lịch sử VN. Ông có phần trách nhiệm lớn làm cho đất nước lâm vào chiến tranh, do ông chọn con đường CS của Đệ Tam Quốc tế nên mới bị thế giới Dân chủ sớm đặt VN ta trong Chiến lược Be bờ ngăn chặn CNCS (Containment of Communism Strategy). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông dựng lên thật ra không phải là chế độ dân chủ, mà còn là chế độ độc đoán toàn trị do đảng CS độc quyền cai trị, đến nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, tự do ứng cử và bầu cử, tự do xuất nhập cảnh, tự do tôn giáo, không thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh, đảng CS nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn thêm quyền thứ tư là ngôn quyền.

Các tổ chức xã hội dân sự tự phát đang lớn mạnh cùng các nhà dân chủ từ lão thành đến trẻ tuổi đang cùng các cựu đảng viên CS đã thoát đảng tự đặt cho mình nghĩa vụ trước Dân tộc và Lịch Sử chung sức mở ra Kỷ Nguyên Dân chủ và Tự Do cho nước Việt Nam ta.

Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các đảng viên CS nhân các cuộc họp Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ, đảng bộ cơ sở đến Đại Hội toàn quốc hãy thắp sáng lên ngọn đèn Giác ngộ mới mẻ, manh dạn xoá bỏ những điều giác ngộ cũ kỹ, lạc hậu, giáo điều, lẩm cẩm, mê muội rất có hại, như kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mác-xít, sùng bái nhân vật HCM, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng lạc lõng, tệ hại.

Đó chính là sự giác ngộ cần thiết cấp bách hiện nay. Trong các cuộc họp bàn, góp ý vào các văn kiện dự thảo, chớ bị lừa dối khi nghe lãnh đạo tuyên truyền rằng các văn kiện đã tiếp thu hàng triệu ý kiến xây dựng, đã được nhất trí cao, không cần bổ sung, sửa chữa gì nhiêu, “do kẻ xấu và bọn phản động xúi giục”. Cần nhận rõ nội dung các văn kiện mới là điều kiện sinh tử của đảng, quan trọng hơn vấn đề nhân sự nhiều, vì vận mệnh đất nước, quyền lợi của toàn dân phụ thuộc vào học thuyết chính trị, vào đường lối đối nội, đối ngoại, vào các quốc sách chính trị, kinh tế tài chính, đối ngoại, xã hội và văn hoá đạo đức. Kiên quyết từ bỏ, gột rửa những điều giác ngộ cũ, nhận rõ đó chỉ là những học thuyết sai lầm tệ hại trong thực tế cuộc sống, những tà thuyết đã bị thế giới nhận diện, lên án, loại bỏ, ta không có một lý do nào để gắn bó, quyến luyến, tiếc thương.

Xin các bạn chớ sợ mình đơn độc, thiểu số trong các cuộc họp. Chân lý ban đầu bao giờ cũng là thế. Các bạn chính là những hạt kim cương trong khối quặng đen. Hãy dũng cảm thắp lên ngọn đèn giác ngộ mới, tiên tiến. Các bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc sâu lắng khi dần dần chính kiến của bạn được lan tỏa trở thành chân lý, sự giác ngộ của số đông.

Buổi tâm sự về hai chữ giác ngộ xin tạm ngừng ở đây, mong có ích trong khêu gợi những ý kiến mới mẻ trong tư duy của các bạn về hiện tình đất nước, về con đường cần chọn cho dân tộc, cho Quê hương, để đất nước phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mỗi công dân, mỗi gia đình chung hưởng.

Bùi Tín, VOAs Blog

Tái bút: Xin đề nghị các mạng blog tự do, lề trái, và bạn đọc có điều kiện nhân bản bài viết này và gửi cho các đảng viên CS quen biết, nhân Đại hội Đảng các cấp thảo luận các văn kiện dự thảo cho Đại Hội Đảng Toàn quốc lần thứ XII đầu năm 2016. Xin đa tạ. B.T

Tuyên Cáo chống Tập Cẩm Bình Đến Hoa Kỳ

Tuesday, September 22nd, 2015

Xin ký tên vào ô bên tay phải ——->

*

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA TẠI HẢI NGOẠI

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

______________________________________________________

TUYÊN CÁO

NHÂN DỊP TẬP CẨM BÌNH VIẾNG THĂM HOA KỲ

Chủ tịch Trung Cộng Tập Cẩm Bình sẽ viếng thăm Hoa Kỳ từ ngày 22 đến 28 tháng 9 năm 2015 và sẽ được Tổng Thống Obama tiếp đón vào ngày 25/9/2015.

Theo thông cáo báo chí từ tòa Bạch Ốc: “cuộc viếng thăm này là đáp lại việc Tổng Thống Obama đến thăm Trung Cộng tháng 11 năm 2014.  Cuộc thăm viếng của Tập Cẩm Bình sẽ tạo cơ hội mở rộng sự hợp tác Mỹ – Trung trên cấp độ toàn cầu, cấp vùng và những vấn đề lợi ích hỗ tương, đồng thời hai vị sẽ nêu lên những bất đồng một cách xây dựng.  Tổng Thống và bà Obama sẽ khoản đãi Tập Cập Bình và phu nhân vào tối 25 tháng 9.”

Xét rằng: Nhà cầm quyền TC đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng như sau:

  • Vi phạm nhân quyền trầm trọng đối với dân tộc Trung Hoa, nhất là giáo phái Pháp Luân Công; tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân;
  • Đàn áp các dân tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Nội Mông…
  • Chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng trong đó có Việt Nam;
  • Tự tuyên bố chủ quyền 80% vùng Biển Đông; xâm lăng bất hợp pháp các đảo và hải phận Biển Đông; xây các đảo nhân tạo và 3 đường bay bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây ra thảm họa môi trường và nguy cơ bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Tấn công và ăn cắp các dữ kiện bí mật thương mại và cá nhân của Hoa Kỳ gây ra tổn thất nghiêm trọng về kinh tế và nền an ninh của Hoa Kỳ;
  • Lấn chiếm đất đai của Việt Nam với sự tiếp tay của đảng Cộng Sản Việt Nam; gây tác hại trên nhiều lãnh vực như kinh tế, môi trường, xã hội, văn hóa… đe dọa sự tồn vong của Việt Nam.
  • Chính phủ của Tổng Thống Obama đã áp dụng một chính sách không đủ mạnh trước nguy cơ bành trướng và mối đe dọa của Trung Cộng đối với quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và các nước khác.

Vì thế, người Việt Nam trên toàn thế giới long trọng:

Tuyên Cáo

  • Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận quốc tế những vi phạm nhân quyền và mưu đồ bành trướng của Trung Cộng;
  • Thỉnh cầu Tổng Thống Obama và các quốc gia tự do cần có thái độ cương quyết để bảo vệ nền dân chủ cho Trung Hoa; quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và toàn thế giới.

Hoa Kỳ ngày 25 thán 9, 2015

Đại Diện các Cộng Đồng, Đoàn Thể, Tổ Chức:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

 

VIETNAMESE COMMUNITY OVERSEAS

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

____________________________________________________________________

 

DECLARATION

ON THE CHINESE PRESIDENT XI JINPING’S VISIT TO THE UNITED STATES

Chinese President Xi Jinping will visit to the US from September 22nd to 28th, 2015 and will be hosted by President Obama on September 25th, 2015.

According to the White House Press release, this visit “reciprocates President Obama’s State Visit to China in November 2014. President Xi’s visit will present an opportunity to expand U.S.-China cooperation on a range of global, regional, and bilateral issues of mutual interest, while also enabling President Obama and President Xi to address areas of disagreement constructively. The President and Mrs. Obama will host President Xi and Madame Peng Liyuan at an official State Dinner on the evening of September 25.”

Whereas, The Chinese Administration had implemented erroneous activities as listed below:

  1. Serious violation of the Human Rights against the people of China, especially to Falun Gong group, and deprivation of all basic rights from the people;
  2. Suppression of Tibetan, the Uighurs at Xinjiang, and he Inner Mongolian etc..
  3. Endless expansion with negative effects to the neighbor countries including Vietnam;
  1. Self-declaration of sovereignty of 80% of East Seas (South China Sea); illegal invasion of the East Sea islands and waters; construction of artificial islands and three airports regardless international law and condemnation; causing environmental disasters and instability for the Southeast Asia and Asia-Pacific regions;
  1. Cyber-attack and stealing business and personal confidential data that causes serious damage to the U.S economy and poses major threat to the U.S. homeland security.
  2. Land encroachment of Vietnam with the support of The Vietnamese Communist Party that caused adverse effect in many areas such as land, economy, social, culture, etc…, and threatened the existence of Vietnam as an independent country.
  3. The Obama Administration has enforced a weak policy against the aforementioned illegal expansion and China’s threat to the fundamental rights and national security of America and foreign countries.

Therefore, the Vietnamese community overseas solemnly declared:

  • We, vehemently denounce and condemn to the world the Chinese  serious human rights violations and illegal expansion;
  • We, supplicate President Obama and all democratic countries to take strong actions to protect the freedom, democracy, fundamental rights for Chinese people and safety for the U.S and the other countries.

 

Washington DC, September 22nd , 2015

Representatives of Communities, Organizations:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    106-Quoi Nguyen, Jacksonville, Florida, USA.

    107- Tri dang, Toronto, ont, Canada.

    108- D.Q. Nguyen, Oklahoma city, OK, USA

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

Trách nhiệm của người cầm bút – Nguyễn Vũ Bình

Thursday, September 17th, 2015

Thu, 09/17/2015 – 10:39 — nguyenvubinh

     Trong bất cứ xã hội nào, người cầm bút luôn là những người được tôn trọng. Với đặc trưng nghề nghiệp, phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, để người dân tham khảo từ đó đưa ra các quyết định phù hợp cho bản thân và gia đình. Ở các xã hội dân chủ, với các định chế tự do ngôn luận và tự do báo chí, việc phản ánh trung thực hiện thực khách quan, sự thật là công việc thường ngày của những người cầm bút. Có thể có lúc này lúc khác, họ phải đối mặt với hiểm nguy, phải cân nhắc sự lợi hại trong việc đưa tin trung thực, hoặc có những quyết định dũng cảm để nói ra sự thật. Tuy nhiên, đó chỉ là những trường hợp cá biệt mà thôi.

Ngược lại, đối với các xã hội độc tài, nhất là độc tài toàn trị cộng sản, những người cầm bút không có may mắn như vậy. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, dưới tác động của những thay đổi lớn từ khi hội nhập nền kinh tế, dưới sức ép của quốc tế, với sự đấu tranh kiên trì của những người  bất đồng chính kiến và quan trọng nhất với sức lan tỏa của hệ thống Internet toàn cầu, của các mạng xã hội, đặc biệt là mạng xã hội Face books, nhà cầm quyền Việt Nam đã phải từng bước thỏa hiệp và nhường lại một phần không gian cho truyền thông phi chính thống. Chúng ta nhận thấy, các báo, tạp chí thậm chí các kênh thông tin bằng âm thanh, hình ảnh của người dân, của phong trào dân chủ đã xuất hiện và đi vào hoạt động (chủ yếu trên Internet) khá đều đặn, ổn định. Không những vậy, với mạng xã hội face books, mỗi người dân lại trở thành những người thông tin, thậm chí viết bài chủ động với các thể loại vô cùng phong phú, đa dạng. Có thể nói, tự do ngôn luận ở Việt Nam đã có bước thay đổi về chất, mặc dù chưa được hoàn toàn chuyển hóa thành tự do báo chí. Chính vì vậy, vấn đề trách nhiệm của người cầm bút cần được đặt ra. Tất nhiên, chúng ta đều hiểu, những người cầm bút chỉ là hình ảnh tượng trưng, bao gồm những người viết bài và những người đưa thông tin bằng âm thanh, hình ảnh, vv…

Có thể nói, trách nhiệm lớn nhất, quan trọng nhất của người cầm bút là phản ánh sự thật, nói lên sự thật hay còn gọi là phản ánh trung thực hiện thực khách quan. Đây là tiêu chí số một, không cần bàn cãi đối với bất cư người cầm bút có lương tri nào. Tuy nhiên, ở các xã hội cộng sản nói chung, và cộng sản Việt Nam nói riêng, ngoài những vấn đề về sinh hoạt, việc hiểu được sự thật không phải là một việc dễ dàng. Bởi vì, tất cả sự thật đã bị bưng bít, bị bóp méo phục vụ cho việc tuyên truyền. Không những thế, mọi hoạt động của con người, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều nằm trong sự kiểm soát và nhào nặn của hệ thống tuyên truyền kéo dài gần một thế kỷ. Chính vì vậy, để giải thích được  sự vận hành của sự thật, ăn khớp với các diễn biến đang diễn ra là một việc cực kỳ khó khăn. Có thể có những ví dụ sinh động, năm 1997, ở tỉnh Thái Bình, có trên 95% đảng bộ (xã) đạt danh hiệu đảng bộ trong sạch vững mạnh. Nhưng cũng năm đó, trên 70% số xã của tỉnh Thái Bình đã tham gia khiếu kiện tập thể về sự tham nhũng của các quan chức, đảng viên các địa phương. Sự kiện này đã gây chấn động cả nước về quy mô và tính chất phản kháng của người dân đối với nhà cầm quyền địa phương trên khắp địa bàn tỉnh Thái Bình. Một ví dụ khác, mới chỉ cách đây hơn một năm, chúng ta còn hân hoan với các con số về tăng trưởng, về số tiền và dự án đầu tư vào Việt Nam, vv… nhưng đùng một cái, các thông tin được tiết lộ, số nợ công của chính phủ và doanh nghiệp nhà nước đã gấp rưỡi, gấp đôi GDP và hoàn toàn không có khả năng thanh toán. Còn một ví dụ giản dị hơn mà người dân rất hay được chứng kiến. Đó là vấn đề tăng giá xăng dầu, chỉ mới tối hoặc ngày hôm trước, có quan chức lên ti vi khẳng định giá xăng dầu sẽ không tăng, thì ngày hôm sau, giá đã tăng ngất ngưởng.

Tóm lại, người cầm bút muốn phản ánh được sự thật thì cần phải có những hiểu biết, những kiến thức và bản lĩnh để tìm ra, phát hiện sự thật bị vùi lấp, bóp méo để đưa đến cho người dân, bạn đọc. Người dân cần những sự thật như thế, để hiểu được tại sao số phận họ và con em họ lại nghiệt ngã, bế tắc và tăm tối như vậy.

Một trách nhiệm quan trọng không kém của người cầm bút là đứng về phía nhân dân, bảo vệ sự thật. Chúng ta đều biết, đối với xã hội độc tài toàn trị cộng sản, nói lên sự thật, phơi bày sự thật là đối kháng lại với nhà cầm quyền hiện nay. Đồng thời, nói lên sự thật cũng đồng nghĩa với việc đứng về phía người dân, những người bị áp bức. Nhưng bất kỳ ai cũng sẽ gặp phải sự xuyên tạc, chụp mũ và đàn áp của nhà cầm quyền khi nói lên sự thật. Vì vậy, cần phải bảo vệ sự thật mà bản thân họ đã phản ánh, và đó là quá trình gian khổ, không hề dễ dàng. Nhận thức được điều này, mới giúp người cầm bút đi tới cùng đến với sự thật, đến với nhân dân.

Gần đây, có một nhà báo của tờ Thanh Niên điện tử đã bị mất chức do việc viết bài trào phúng trên trang face books cá nhân của mình. Đây là việc xử lý hoàn toàn cảm tính, không theo các quy định pháp luật vì việc chia sẻ trên mạng xã hội face book là việc cá nhân, không liên quan tới đơn vị công tác, tới công việc. Vậy nhưng, trên 700 tờ báo chính thống, và hàng chục vạn nhà báo có thẻ ở Việt nam đã không dám đứng lên bênh vực đồng nghiệp. Điều lạ là những nhà báo nhân dân, phi chính thống và cộng đồng mạng lại vạch ra những sai trái trong việc xử lý nhà báo này. Việc bảo vệ nhà báo này, chính là bảo vệ sự thật, đứng về phía người bị áp bức phi lý, đó cũng là trách nhiệm của người cấm bút.

Trong bối cảnh người dân ít nhiều được cất lên tiếng nói như hiện nay, sự hiểu biết, bản lĩnh và nhất là lập trường dứt khoát đứng về phía người dân sẽ giúp cho người cầm bút tạo lập được vị thế và uy tín trong lòng độc giả. Những người có trách nhiệm với ngòi bút của mình, cũng chính là có trách nhiệm với lương tâm, nhân cách của họ và họ xứng đáng được tôn vinh trong giai đoạn bùng nổ truyền thông phi chính thống hiện nay./.

Hà Nội, ngày 16/9/2015

N.V.B

Một chút lịch sử gửi tuổi trẻ Việt Nam: Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ – Tự Do Rồi

Tuesday, September 15th, 2015

Phạm Cao Dương – Nhân dịp đầu năm Ất Mùi – 2015, một chút lịch sử gửi tuổi trẻ Việt Nam: Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ – Tự Do Rồi

Thứ Năm, ngày 22 tháng 1 năm 2015

Hoàng Ðế Bảo Ðại
Do sự phức tạp của thời thế và sự nóng nảy muốn giành độc lập nhất thời của chính người Việt, lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đã không những không biến chuyển như mọi người  mong muốn mà còn đầy rẫy những ngộ nhận, từ đó oan khuất cần phải được giải toả và làm sáng tỏ. Đây là một việc làm vô cùng khó khăn mà một cá nhân khó có thể làm nổi. Tuy nhiên, tuy gọi là khó nhưng những người quan tâm và hiểu biết ít nhiều vẫn phải làm để sau này sẽ có người tiếp tục và điều chỉnh. Vì là một khoa học, sử học luôn luôn tiến bộ. Những gì gọi là đúng ngày hôm nay có thể sẽ cần phải được ít ra là điều chỉnh và bổ khuyết ngày mai, không có gì gọi là chân lý vĩnh cửu trong môn học này. Người học sử không thể chủ quan nhất định điều mình nói, viết ra hay được học mãi mãi là đúng, là chân lý bất di bất dịch.


 
Trong bài này cũng như một số bài trước, người viết xin gửi tới các bạn đọc, đặc biệt là các nhà tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ, một vài nhận định về những gì Hoàng Đế Bảo Đại và vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập là nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim cùng với các bộ trưởng của ông, đã làm,  trong một thời gian ngắn ngủi hơn ba tháng của năm 1945, từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 6 tháng 8 năm 1945, để xây dựng một chính thể dân chủ lâu dài cho đất nước và ban hành các quyền tự do cho người dân từ cách nay ngót 70 năm bằng những đạo luật không phải là không  tiến bộ. Đây là một việc làm mà 70 năm sau với ít nhất ba thế hệ đã qua đi một cách uổng phí, với hàng triệu sinh mạng đã bị hi sinh cùng với máu và nước mắt của người dân lành vô tội, người ta vẫn chưa muốn làm hay chưa làm được.
 
Bốn bước tiến đã được Vua Bảo Đại thực hiện trong thời gian này gồm có:
Thứ nhất:  Ban hành dụ “Dân vi Quý”
Thứ hai:  Đích thân tham khảo ý kiến của các quan lại, các thân hào, nhân sĩ có uy tín để thành lập một chính phủ mới
Thứ ba:  Thành lập các hội đồng chuyên môn để mọi người có thể tham gia việc soạn thảo hiến pháp và các sinh hoạt quan trọng của quốc gia
Thứ tư:  Ban hành các đạo dụ liên quan đến các quyền tự do cơ bản của người dân
 
Sau đây là những chi tiết liên hệ tới bốn bước tiến kể trên:
 
Khẩu hiệu “Dân Vi Quý” của Hoàng Đế Bảo Đại
 
Đây là khẩu hiệu của vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn mà ai đã từng học sử Việt Nam đều biết và cũng là bước tiến đầu tiên của vị hoàng đế này trên đường thực hiện chế độ dân chủ của ông.  Khẩu hiệu này được trích dẫn từ sách Mạnh Tử, một trongTứ Thư của các Nhà Nho ta thời xưa[1], nguyên văn là “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là “Dân là quý, sau đó là xã tắc, vua là nhẹ”, được nhà vua chính thức đưa ra trong Dụ Số 1, mở đầu cho một giai đoạn mới trong triều đại của ông.  Dụ này được ban hành ngày 17 tháng 3 dương lịch năm 1945, nguyên văn như sau:
 
Dương Lịch ngày 17 tháng 3 năm 1945
 
Nước Nhật muốn hoàn toàn thực hiện chương trình sây nền thịnh vượng chung ở Đại-Đông-Á đã giải phóng cho nước Nam ta, và Trẫm tuyên bố Việt Nam độc lập rồi.
Nay Trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ lấy quyền lợi cho Tổ-quốc và giáng dụ rằng
1)      Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “DÂN VI QUÍ’
2)      Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.
3)      Trẫm sẽ tái định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân.
 
           Nhận định về đạo dụ này, Nguyễn Tường Phượng trong bài “Một Đạo Dụ, Một Chế Độ” đăng trên Tri Tân Tạp Chí số ra ngày 20 tháng 4 năm 1945, trên trang đầu, đã viết như sau:
 
           “Ba điều ban bố trên đáng ghi vào lịch sử xứ này, thật là trên thuận lòng giời, dưới đẹp lòng dân, quốc dân rất trông mong ở sự thi hành triệt để khác nào như đói mong ăn và khát mong uống vậy.
           “Nếu một khi nhà nước dùng được người tài, đức vẹn hai ra gánh vác, đảm đương những trọng trách, lại thêm vào đấy cái chính sách thân dân, thể tất đến dân nguyện thời nền tảng quốc gia xứ này có thể phục hưng.
           “Được như vậy, đạo dụ ngày 17 tháng ba đáng ghi vào trang đầu lịch sử của nước Việt-Nam độc lập.”
 
           Còn Luật Sư Bùi Tường Chiểu, trong bài “Đạo Dụ Số 1 Của Đức Bảo Đại Hoàng Đế” đăng trên Thanh Nghị, số 107, “Số Đặc-San Chính Trị”, ra ngày 5 tháng Năm 1945, cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của đạo dụ này. Ngay những dòng mở đầu ông viết:
 
           “Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này.”

rồi nhấn mạnh hơn đến ba chữ Dân Vi Quý, ông phân tích:
           “Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là đức Bảo-Đại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành.  Như thế là trong nền chính trị đức Bảo-Đại Hoàng-Đế đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới.”

           Cuối cùng đi xa hơn nữa, vị luật gia này còn nói tới hiến pháp. Ông viết:
           “Xong chúng ta có thể căn cứ vào điều thứ 3 của bản Dụ mà nói rằng đức Bảo-Đại sẽ tuyên bố các cơ quan chính trị mới mà trong câu cơ quan ấy sẽ có một cơ quan có quyền lập pháp. Muốn tổ chức một cách phân minh các cơ quan hành chính, lập pháp và tư pháp, tất nhiên phải có một đạo hiến-luật để ấn định rõ ràng những quyền hành của các cơ quan chính trị.”

           Đúng như vậy, Hoàng Đế Bảo Đại sau đó đã từng bước tiến hành những biện pháp mang tính cách dân chủ để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều. Sau đây là những nét chính của những nỗ lực này.

Đặt nền tảng cho việc xây dựng chế độ mới và sửa soạn cho những công trình tái dựng đất nước lâu dài (sửa lại chính thể và toàn bộ guồng máy chính quyền)
 
Đây là bước tiến thứ hai trong tiến trình xây dựng chế độ dân chủ bằng cách tạo dịp cho người dân mà đại diện là các nhân sĩ, trí thức và chuyên viên các ngành được tham gia việc nước, đồng thời thực hiện khẩu hiệu Dân Vi Quý của Hoàng Đế Bảo Đại.  Bước đầu tiên là việc Vua Bảo Đại tham khảo ý kiến các quan lại, trí thức nhằm thành lập chính phủ đầu tiên cho nước Việt Nam độc lập thay thế cho Nội Các Phạm Quỳnh đã từ chức.  Với bước tiến thứ hai, vào khoảng từ trung tuần tháng sáu đến thượng tuần tháng bảy, vừa nhằm chiêu dụ nhân tài, vừa nhằm tạo cơ hội cho người dân được góp phần vào việc đặt nền tảng và thiết lập các cơ chế căn bản cho mọi phạm vi sinh hoạt lâu dài của đất nước, bốn hội đồng đã được thành lập qua ba đạo dụ và một đạo sắc. Bốn hội đồng này gồm có:
 
Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp, do Phan Anh làm Thuyết Trình Viên gồm có các ông Phan Anh, Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hoè, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Huy Lai, Đặng Thái Mai, Vương Quang Nhường, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Văn Sâm, Nhượng Tống, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Thinh và Nguyễn Trác (Dụ số 60 ngày 7 tháng 7 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 7 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính, do Vũ Văn Hiền làm Thuyết Trình Viên, gồm có các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Ân, Trần Văn Chương, Phạm Khắc Hoè, Lê Quang Hộ, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoát, Trần Văn Lý, Trần Đình Nam, Nguyễn Khắc Niêm, Đặng Như Nhơn, Dương Tấn Tài, Nguyễn Hữu Tảo, Trịnh Đình Thảo và Phan Kế Toại (Dụ số 70 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 9 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Cải Cách Giáo dục, do Hoàng Xuân Hãn làm Thuyết Trình Viên, gồm có Bà Hoàng Thị Nga, các ông Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Kha Vạng Cân, Nguyên Văn Chi, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Thành Giung, Ngụy Như Kontum, Bùi Kỷ, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Quang Oánh, Ưng Quả, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Đạo Thúy và Nguyễn Xiển (Dụ số 71 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 10 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Thanh Niên. Hội Đồng này gồm có
Chủ Tịch: Hoàng Đạo Thúy
Phó Chủ Tịch: Trần Duy Hưng, Bắc Chi Bộ
Phó Chủ Tịch: Tạ Quang Bửu, Nam Chi Bộ
Cố Vấn Bắc Chi Bộ:  Bà Nguyễn Thị Thục Viên, các ông Nguyễn Xiển, Phạm Thành Vinh, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Xuân Phương, Trần Văn Quý, Phan Huy Quát, Ngụy Như Kon-tum, Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tường Bách.
Cố Vấn Nam Chi Bộ: Bà Nguyễn Đình Chi, các ông Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thủ, Tôn Quang  Phiệt, Kha Vạng Cân, Nguyễn Tư Vinh, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Kinh Chi và Thái Can (Sắc số 65 ngày 15 tháng 6 năm 1945)[2]
 
Khi đọc danh sách các hội viên được đề nghị tham gia các hội đồng kể trên để trình lên Hoàng Đế Bảo Đại phê duyệt, Phạm Khắc Hoè tỏ ý thắc mắc là có tên những người ông “chưa từng thấy bao giờ” nên đã hỏi Trần Trọng Kim và được Trần Trọng Kim cho biết là các danh sách này “đã được toàn thể Nội các và nhất là các ông bộ trưởng thuyết trình viên đồng ý cả rồi, tuy chưa hỏi được ý kiến của tất cả những người hữu quan, song chắc họ vui lòng nhận cả, vì lúc này ai mà chẳng sẵn sàng ra thờ vua giúp nước” và nói thêm “Vậy ông chịu khó xin Hoàng Đế phê chuẩn đi cho kịp thời, đừng nên hỏi đi hỏi lại nữa.”  Kết quả, theo lời Phạm Khắc Hoè, là“chỉ mấy phút sau, bốn dự thảo của nội các trở thành ba đạo dụ và một đạo sắc chính thức.”[3]  Những lời đối thoại này cho ta thấy tính cách hữu hiệu và làm việc chạy theo thời gian của Trần Trọng Kim và nội các của ông dù đó mới chỉ là ban hành được những đạo dụ hay đạo sắc để làm nền tảng pháp lý cho những bước kế tiếp trong tương lai.  Nó cũng nói lên tính cách hữu hiệu của chế độ quân chủ chuyên chế và sự tin tưởng của Hoàng Đế Bảo Đại vào vị thủ tướng và nội các đương thời, vì bình thường những quyết định liên hệ đến thể chế và những cơ chế tương lai trong một quốc gia  dân chủ bình thường không thể nào có thể thực hiện được trong vòng trên dưới hai tháng tính từ ngày Nội Các Trần Trọng Kim họp phiên họp đầu tiên, ngày 8 tháng 5, đến ngày 10 tháng 7,  ngày đạo dụ cuối cùng trong bốn đạo sắc dụ này được đệ trình, rồi được vị nguyên thủ quốc gia phê chuẩn trong có“mấy phút sau”.  Một thời gian kỷ lục.  Cũng nên để ý là các vị bộ trưởng được Trần Trọng Kim nói đến ở đây là Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Hiền và Bộ trưởng Giáo Dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn.   Cả ba, ngoài bằng cấp chuyên môn, đều là những chuyên viên hàng đầu của Việt Nam thời đó.   Họ là những người từ lâu đã tìm hiểu, nghiên cứu và viết những những bài tham khảo bàn về những lãnh vực riêng của mình và là những cây bút nòng cốt của tờ Thanh Nghị, một thứ “think tank” của chính phủ đương thời.   Đây cũng là dịp để họ thi thố tài năng và thực thi hoài bão mà từ lâu họ đã từng thai nghén.  Cũng nên nhớ là thành ngữ  “thờ vua giúp nước” cho đến thời điểm này vẫn chưa trở thành lạc hậu. Thế nhưng họ vẫn bị Phạm Khắc Hoè cản trở và mỉa mai. (Chú thích)
 
“Tuần lễ của các Tự Do”
 
Đây là sự ban hành một số những đạo dụ ấn định những nguyên tắc liên hệ đến các quyền tự do căn bản của người dân.  Ba đạo dụ sau đây đã được báo Thanh Nghị số 117, ra ngày 21 tháng Bảy năm 1945[4] ghi nhận theo thứ tự thời gian gồm có:
1.     Dụ số 73, ngày 26 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 5 tháng 7 dương lịch năm 1945 về tự do lập nghiệp đoàn.
2.     Dụ số 78, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do lập hội.
3.     Dụ số 79, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do hội họp.
 
Cả ba đạo dụ này đã được ban hành trong một thời gian ngắn là thượng tuần tháng bảy năm 1945 và Thanh Nghị đã gọi tuần  lễ này là “Tuần của các Tự Do.”
Về chi tiết, báo Thanh Nghị tóm tắt như sau:
 
Tự do lập hội: Từ nay phàm người công dân Việt Nam ai nấy đều có quyền lập những hội có mục đích chính trị, văn hóa, tôn giáo hay xã hội, ngoài những hội có mục đích kiếm lợi.   Chỉ cần mục đích của hội không trái với pháp luật, luân lý hoặc là có hại đến nền duy nhất và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.  Nhưng cần phải báo trước với nhà chức trách ít nhất là 30 ngày trước khi hoạt động
 
Muốn phân biệt các hội do đạo Dụ số 78 với các hội có mục đích kiếm lợi phải xét xem các hội viên có chia lãi cho nhau hay không?   Nếu chia lãi thì tất phải theo những luật lệ hiện hành về các hội buôn.
 
Nhiều người hội họp với nhau nhiều lần cũng lại không họp thành một hội vì không có điều lệ để hội viên theo.   Cho nên trong tờ khai phải đính theo cả bản điều lệ của hội mình định sáng lập.
 
Hội có thể tự giải tán (theo điều lệ hay theo ý muốn toàn thể hội viên) hay bị toà án giải tán, nếu mục đích trái với pháp luật, luân lý, hại tới quốc gia, nếu không khai báo cho đúng thể lệ (chưa kể những sự trừng phạt về tội hình những người có trách nhiệm).  Tài sản của hội khi đó sẽ phân phát theo điều lệ của hội, theo quyết định của đại hội đồng của hội hay theo lệnh của toà.
 
Có hai thứ hội: hội thường và hội được Hội Đồng Nội Các công nhận là một hội có ích lợi chung.   Hội thường có quyền tố tụng, thu nhập tiền đóng góp của hội viên, có quyền mua, quyền sở hữu và quản lý nhà hội quán, quản trị những bất động sản mà bộ Nội Vụ và Tài Chính cho phép mua.  Còn hội được chính quyền công nhận là có ích lợi chung thì ngoài những quyền này còn có quyền được nhận những tặng dữ.
 
Tự do hội họp: Người dân được quyền tự do hội họp nhưng Dụ số 72 phân biệt hai thứ hội họp là hội họp trong tư gia có tính cách gia đình hay lễ nghi và các hội họp ở những nơi công cộng.
 
Đối với các hội họp trong gia đình hay lễ nghi hay những hội họp của các hội tư nhóm họp trong tư gia với số người tham dự không quá 30 người, người triệu tập không cần phải khai báo. Các cuộc hội họp khác cũng được tự do nhưng phải khai báo với nhà chức trách.  Tất cả các cuộc hội họp ở các nơi công cộng như họp ở ngoài đượng phố, trong các công viên hay các thị xã đều phải xin phép trước. Giờ họp không được quá 12 giờ đêm trừ khi có phép riêng. Ngoài ra một nhân viên hành chánh hay tư pháp cũng có quyền tới dự.
 
Tự do lập nghiệp đoàn: Việc lập nghiệp đoàn cũng được coi như quyền tự do của người dân với những quy luật được ấn định trong Dụ số 73, theo đó, để tránh không cho những hội kiếm lợi giả danh làm nghiệp đoàn với mục tiêu trốn thuế, các nghiệp đoàn bị cấm không được chia lời cho các đoàn viên và khi giải tán thì của cải không được đem chia cho các đoàn viên.  Đồng thời để bảo vệ những người trong nghề, dụ này cấm không cho nghiệp đoàn cưỡng ép những người này  phải gia nhập hay bắt đoàn viên phải ở lại trong nghiệp đoàn vĩnh viễn nhưng ngược lại cho phép nghiệp đoàn được từ chối không nhận một người làm đoàn viên theo điều lệ của mình.  Mặt khác, nghiệp đoàn có tư cách pháp nhân trong việc bảo vệ các quyền lợi của mình, có quyền sở hữu các động sản hay bất động sản nếu xin phép, có quyền liên kết với nhau để thành lập các liên đoàn và về phía chính quyền, chính quyền có quyền cử nguời kiểm soát việc quản lý tài chánh của nghiệp đoàn hay liên đoàn.  Cuối cùng vì nghiệp đoàn là một tổ chức có thể dùng để tranh đấu nên người sáng lập bắt buộc phải có quốc tịch Việt Nam và phải ở trong nghề ít nhất một năm.
 
Vì ba đạo luật kể trên đã được ban hành trong thượng tuần tháng 7 năm 1945 nên tác giả của bài báo gợi ý gọi tuần lễ này là “Tuần Lễ Của Các Tự Do”.  Mặt khác nếu người ta theo dõi những cuộc hội họp của người dân ở cả hai miền Trung và Bắc đã diễn ra liên tiếp từ ngày 10 tháng 3, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, đặc biệt là ở Huế và Hà Nội với hàng vạn người tham dự một cách tự do, thoải mái, thì sự ban hành các đạo dụ này “đã làm hợp pháp một tình trạng riêng của các tỉnh ở Bắc Bộ Việt Nam vì từ  sau ngày 9 tháng 3 các hội, các đoàn mọc lên như nấm, các cuộc hội họp công khai tự do vô cùng”.[5]
 
Kết Luận
 
Tất cả các công trình lớn lao kể trên đã được Hoàng Đế Bảo Đại, Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn và trong một thời gian kỷ lục chưa tới ba tháng ngắn ngủi kể từ ngày 8 tháng 5 khi chính phủ này được trình diện đến ngày 6 tháng 8 năm 1945 khi chính phủ này từ chức và được Hoàng Đế Bảo Đại cho phép, ngắn hơn nữa nếu tính đến ngày 9 tháng 7, ngày các Dụ số 78 về Tự Do Lập Hội và số 79 về Tự Do Hội Họp được nhà vua chấp nhận. Đây là một phần của một cuộc cải cách rộng lớn hơn bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt đương thời, gọi theo Sử Gia Na Uy Stein Tonnesson là “từ trên xuống”, còn gọi theo Vũ Ngự Chiêu thì đó là một cuộc cách mạng cũng từ trên xuống: “cách mạng từ trên xuống”. Cả hai sử gia này đều có lý vì tính cách nhanh chóng ít ai có thể ngờ của nó. Câu hỏi được đặt ra ở đây là làm sao nó có thể xảy ra được trong một chế độ quân chủ chuyên chế đã từng tồn tại cả ngàn năm như vậy? Có ba sự kiện người ta có thể nghĩ tới để trả lời câu hỏi này. Đó là ý muốn của người cầm đầu hay đúng hơn vị nguyên thủ quốc gia, ước vọng và khả năng của những người lãnh nhiệm vụ thực hiện cuộc cải cách theo ý muốn của vị nguyên thủ quốc gia ấy và cuối cùng là sự đón nhận của dư luận đương thời. Cả ba sự kiện này Đế QuốcViệt Nam ở thời điểm đương thời đều có đủ. Từ Vua Bảo Đại đến Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng đều là những người được huấn luyện đầy đủ, có kiến thức và nhất là có thực tâm, tha thiết với nền độc lập và sự tiến bộ của nước nhà.  Điều đáng tiếc là biến cố 19 tháng 8 đã xảy ra, Việt Minh cướp chính quyền và tất cả đều đã bị dẹp bỏ, điển hình là ngày 22 tháng 9 năm 1945, 20 ngày sau khi tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ các nghiệp đoàn trong toàn cõi Việt Nam[6] và Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên Giáp ký NghịĐịnh ngày 14 tháng 9 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức trong khi cùng ngày lại ký một nghị định khác “cấp năng lực pháp luật”[7] cho hội “Văn Hoá Cứu Quốc Việt Nam” (Việt Minh)[8].  Cuối cùng thì sau 70 năm, cho đến tận ngày hôm nay khi bài này được viết, bất chấp mọi sự hy sinh, gian khổ, máu và nước mắt của hàng triệu đồng bào,Tự Do và Dân Chủ, Công Bằng và Bác Ái vẫn nguyên vẹn chỉ là niềm mơ ước hầu như còn lâu mới đạt được của người dân Việt.

Phạm Cao Dương
Viết để tưởng niệm các học giả Trần Trọng Kim,
Hoàng Xuân Hãn, những người đã góp phần xây
dựng nền giáo dục mới cho nước Việt Nam độc lập
và một thế hệ trí thức mới đã đứng ra làm việc nước
 




[1]Đoàn Trung Còn, dịch giả, Tứ Thư, Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Quyển Bảy, “Chương Sau: Tận Tâm”Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 2000, tr. 263.-  Nguyễn Đức Lân (dịch và chú giải),  Tứ
Thư Tập Chú, “Mạnh Tử, ChươngXIV, Tân Tâm, Chương Cú Hạ”. Hà nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 1999, tr. 1346.-  Nguyễn Hiến Lê, Mạnh Tử. Saigon: Cảo Thơm, 1975; Nhà Xuất Bản Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, Los Alamitos, CA, tr. 58. – Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng Trọn Bộ. Houston: Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm, tr. 463.-Bàn về khẩu hiệu này, Phạm Khắc Hoè, Ngự Tiền Tổng  Lý Văn Phòng của Vua Bảo Đại và là người thân Việt Minh nằm trong Đại Nội bên cạnh nhà vua cho là do một người nào đó “mớm” cho nhà vua chứ Bảo Đại không thể có ý tưởng đó được.   Nhận xét này nhiều phần không đúng nếu ta để ý tới căn bản giáo dục mà Bảo Đại nhận được xuyên qua Phụ Đạo Lê Nhữ Lâm từ hồi ông mới 6 tuổi rồi sau đó theo ông sang Pháp trong suốt thời gian ông ở Pháp để dạy ông về đạo làm vua theo truyền thống Việt Nam trong đó có Khổng Giáo, tiếp theo là những gì ông làm trong thời kỳ cải cách trước đó và những gì ông viết trong hồi ký sau này của ông.   Xem thêm Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1987, tr. 22-23.
[2]Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đình Huế…, dẫn trên, tr. 41-43.
[3]  – như trên -, tr. 41.
[4]Trong mục “Đời Sống Đông Dương qua bài báo nhan đề“Mấy Đạo Dụ về Tự Do”, tr. 23-25.
[5]- như trên-, tr. 25
[6]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, số  2, 6 Tháng Mười 1945, “Mục Lục Công Báo ngày 6 tháng 10 năm 1945”
[7]Tư cách pháp nhân
[8]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, dẫn trên.

 

Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Sunday, August 23rd, 2015

ỦY BAN VẬN ĐỘNG

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Email: lienketHN@gmail.com

________________________________________

 THÔNG BÁO 

Về Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại 

Kính gửi:

–          Quý vị Lãnh Đạo Tinh Thần các Tôn Giáo;

–          Quý vị Lãnh Đạo các Cộng Đồng, Tổ Chức Quân, Dân, Cán, Chính VNCH, các Tổ Chức Đảng Phái Chính Trị, Tổ chức dân sự Văn Hóa, Chính Trị, Truyền Thông, Nghề Nghiệp, Thương Mại, Tôn Giáo, Thanh Niên, Ái Hữu;

–          Quý vị Đồng Hương tại Hải Ngoại;

–          Và quý Đồng Bảo tại Quốc Nội (để kính thông báo)

Thưa quý vị,

Năm 2015 đánh dấu 40 năm Cộng Sản miền Bắc chiếm trọn miền Nam Việt Nam, áp đặt một chế độ độc tài toàn trị lên hai miền Nam Bắc. Cho đến ngày hôm nay, hơn 90 triệu đồng bào trong nước vẫn phải sống dưới ách kìm kẹp của đảng Cộng Sản trong khi thế giới đã thay đổi sâu rộng: Làn gió dân chủ lan tràn khắp toàn cầu; chủ nghĩa Cộng Sản đã cáo chung; các chế độ Cộng Sản tan rã khắp nơi chỉ còn tồn tại trong bất ổn định ở bốn Quốc gia trong đó có Việt Nam (Trung Cộng, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam).

Tại Quốc Nội, cuộc đấu tranh của đồng bào đòi tự do dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ ngày càng dâng cao bất chấp thường xuyên bị đàn áp, bắt bớ, giam cầm.

Họa xâm lăng Việt Nam từ phương Bắc đã thành hiện thực, nguy cơ mất nước đã đến gần.

Tại Hải Ngoại, trong 40 năm qua Người Việt tỵ nạn đã có nhiều nỗ lực kết hợp nhưng chưa thành công vì hoàn cảnh chưa thích hợp.  Ai cũng biết Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại cần có tiếng nói chung trước Quốc tế và cần có một tập thể vững mạnh để hỗ trợ hiệu quả cho cuộc đấu tranh của đồng bào quốc nội.

Vì thế nhu cầu kết hợp là cần thiết và cấp bách.

Chúng tôi gồm đại diện các Cộng Đồng, Tổ Chức, Đoàn Thể, Hội Đoàn, Nhân Sĩ trên thế giới đã gặp gỡ, trao đổi, nghiên cứu và vận động suốt một năm qua để tiến đến việc tổ chức một Hội Nghị Liên Kết nhằm thực hiện các mục tiêu nói trên.

MỤC ĐÍCH HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Mục đích của Hội Nghị nhằm kết hợp các Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại thành một cơ cấu Đại diện chính danh cho tiếng nói chung của người Việt tại hải ngoại nhắm hai mục tiêu: Đối phó với tình hình đất nước và; Thực hiện các công tác của người Việt ở nước ngoài.

Thành phần tham dự Hội Nghị bao gồm: các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, Canada, Á Châu v.v… đã được bầu ra hợp pháp và hoạt động bất vụ lợi; các Tổ chức và Đảng phái đấu tranh có lập trường Quốc gia rõ rệt; các Tổ chức cựu Quân nhân, Cảnh sát; các tổ chức dân sự như Tôn giáo, Văn hóa, Truyền thông, Nghề nghiệp, Thanh niên, Ái hữu v.v…

NGUYÊN TẮC LIÊN KẾT:

Để công tác liên kết thành công, chúng tôi xin đề ra những nguyên tắc căn bản như sau:

1-      Cộng Đồng địa phương là đơn vị căn bản trong Hội Nghị, tương tự như các quốc gia hội viên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Ban Đại Diện Cộng Đồng các Châu lục có thể đại diện cho Cộng Đồng địa phương (có giấy ủy quyền) nếu Địa phương không về dự được. Các tổ chức Tôn Giáo, Chính trị và Xã hội có thể cử đại diện tham dự.

2-      Có lập trường Quốc Gia không chấp nhận Chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản bất cứ dưới hình thức nào. Minh bạch không hòa hợp và hòa giải với Cộng Sản.

3-      Kết hợp trong tinh thần “vì quyền lợi tối thượng của Đất Nước, của Cộng Đồng, không vì quyền lợi cá nhân, tổ chức, đảng phái, tôn giáo hay giai tầng xã hội…”

4-      Mọi cá nhân tham dự trong các cơ cấu được thành lập phải phục vụ cho quyền lợi chung không vì quyền lợi riêng của Tổ chức mình đại diện.

5-      Gạt bỏ những tỵ hiềm cá nhân, tổ chức và đảng phái. Hợp tác chân thành, trong tinh thần tương thân tương ái, trao đổi hòa nhã, tôn trọng nguyên tắc dân chủ.

6-      Ứng dụng phương thức khoa học, thường xuyên liên lạc bằng những phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại viễn liên (teleconference calls), skype, paltalk, Webcam…

7-      Trong thời gian lâm thời 1 năm, Ủy Ban Liên Lạc Phối Hợp được Hội Nghị thành lập có nhiệm vụ thực hiện các công tác của Cộng Đồng hải ngoại. Ủy ban này có trách nhiệm tổ chức Đại Hội Liên Kết lần thứ II rộng lớn hơn sau 1 năm để thành lập Cơ cấu Đại diện duy nhất và thống nhất toàn cầu.

8-      Mọi điều đi ngược lại với những nguyên tắc này đều không được cứu xét.

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỀM TỔ CHỨC HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Hội Nghị được tổ chức trong 2 ngày:

11 và 12 tháng 10, 2015 (Chủ Nhật và Thứ Hai)

Tại Khách Sạn Courtyard Marriott – Dunn Loring Fairfax

2722 Gallows Rd, Vienna, VA 22180-7133 (703) 573-9555 

Lý do tổ chức tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ vì nơi đây được công nhận là Trung tâm quyền lực ảnh hưởng của Thế giới. Giá cả khách sạn, sinh hoạt phải chăng, lưu thông dễ dàng.

CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT HỘI NGHỊ:

* Chủ Nhật 11 tháng 10, 2015:

Sáng: 10:00 am – 12:00 pm. Lễ Khai mac

Chiều: Hội thảo các nguyên tắc, văn bản của Hội Nghị

Tối: Cơm thân mật hội ngộ.

* Thứ Hai 12 tháng 10, 2015:

Sáng: tiếp tục Hội Nghị, thành lập Ủy Ban Phối Hợp

Trưa: bế mạc

Cơm trưa – giới thiệu Ủy Ban Phối Hợp và các công tác trong tương lai.

Thư mời và chi tiết tham dự Hội Nghị sẽ được phổ biến và gửi đến quý vị sau.

Rất mong được toàn thể quý vị hưởng hứng, tham dự, góp ý kiến và hỗ trợ cho Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại được thành công.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 22 tháng 8, năm 2015

Thay mặt Ban Vận Động

BS Đỗ Văn Hội,                 Ô. Đoàn Hữu Định.         Ô. Nguyễn Văn Tánh

Chủ Tịch HĐCH                     Chủ Tịch                                 Cựu Chủ Tịch CĐNVQG HKỳ

CĐNVQG/ Liên Bang HKỳ   CĐVN DC. MD. VA.            Trưởng Ban Điều Hợp

Liên lạc:

LienketHN@gmail.com

BS Đỗ Văn Hội:         407-234-3596hoivando@gmail.com

Ô. Đoàn Hữu Định:    703-475-6186CongdongthudoHTD@gmail.com

Ô. Nguyễn Văn Tánh:       347-481-8283Tanhnguyen1947@yahoo.com

Mọi yểm trợ xin đề:

CDVN DC. MD, VA

Memo: Hội Nghị Liên Kết

Và gửi về:

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Declaration On the subject of removing neck strap and not allowing to display the yellow flag with three red stripes

Wednesday, August 12th, 2015

Declaration

On the subject of removing neck strap with yellow flag symbol and not allowing to display the yellow flag with three red stripes when Ambassador Ted Osius meeting with the Vietnamese American Communities.

During the meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese-American Communities in the Southern and Northern California last mid-July, a couple incidents have occurred that made the Vietnamese-Americans and other Vietnamese communities around the world quite discontented with.

Summary of incidents:

  1. In these meetings, the US Ambassador to Vietnam Ted Osius asked not to display the yellow flag with three red stripes in the hall because of “diplomatic reason” and his ambassadorial position. However he always wore on the pin showing 20th anniversary of diplomatic relations between (Communist) Vietnam – US containing Vietnam Communist flag, the flag that the Vietnamese refugees abroad does not recognize and that belongs to the Communist Party and does not represent the country and the people of Vietnam. The current communist authorities in Vietnam were not elected freely by the people. Also, they seriously violated human rights and other rights of their people.

2- In particular at the meeting in San Jose, besides not allowing display of yellow flag with three red stripes, the organizers also requested Miss Do Minh Ngoc to remove her neck strap made of yellow flag with three red stripes and the US flag.

  1. The organizers did not notify in advance that there will be no yellow flag with three red stripes allowed so that the people can decide whether to attend the meeting or not. The Vietnamese community was caught by surprise of such rule, and because of courtesy for the Ambassador, the meeting goers had reluctantly agreed to stay.

Whereas:

1. The town hall meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese Americans, presenting and acquiring opinions from the Vietnamese Americans are useful dialogue and appreciated by our community. However, unfortunately above mentioned incidents had offended the Vietnamese Community.

  1. Wearing a symbolic neck strap is the freedom of expression under the US Constitution and the International Covenant on Political Freedom and Civil Rights of the United Nations. Removing that symbol is an act of violations of human and civil rights and freedom of expression.
  2. The yellow flag with three red stripes symbolizes the “Heritage and Freedom” of the Vietnamese Americans that had been officially recognized by many cities, counties and states in America. Denying this symbol means going against the aspiration of the Vietnamese Community in the United States in particular, and against others in the world in general.
  3. Wearing a pin with the Communist flag when meeting with the Vietnamese people who once fled the Communists is an indelicate act; it could be seen as provocative to them.
  1. If because of diplomatic reasons and the duty that Ambassador must act like that, why his predecessors did not question about the yellow flag with three red stripes when meeting the Vietnamese American Community?
  2. The above incidents really offended the Vietnamese Community in the United States and throughout the world.

Therefore, the Federation of Vietnamese American Communities of the USA:

  1. Oppose the above incidents; withstand the US government if it does not allow its diplomatic officials to be photographed with Vietnamese Community with its traditional yellow flag with three red stripes.
  2. Request the authorities to investigate, publish and have appropriate discipline toward those who have instructed to remove the neck strap of Miss Do Minh Ngoc; and also to offer her a public apology.
  3. Recommend all the Vietnamese Communities should have necessary political attitudes toward any government or individual that:
  4. Advocate and assist the Communist regime and ignore the interest of over 90 million people in Vietnam that need freedom and democracy;
  5. Offend the symbol, the yellow flag with three red stripes, of the Vietnamese refugees abroad.

Executed in the United States on August 11, 2015

Huu Dinh Vo, M.D.: Chairman, Board of Representatives   Huu Dinh Vo
Hoi Van Do, M.D.: Chairman of the Executives                   Hoi Van Do
Thanh Van Pham, M.A: Chairman of Board of Supervisors Thanh Van Pham

Contact:

Dr. Hoi Van Do

Tel. 407-234-3596

Email: Hoivando@gmail.com

Đôi Chân Bằng Đất Sét (của Trung Cộng)

Monday, July 27th, 2015

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

Hí họaTập Cận Bình đả hổ Chu Vĩnh Khang, cựu bộ trưởng bộ công an Trung cộng.
Bài đọc suy gẫm: Nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có “Đôi chân bằng đất sét”, câu nói nổi tiếng của cựu Thủ tướng Chu Dung Cơ, thời Giang Trạch Dân nắm quyền bên tàu.  Blog Mười Sáu thân mời quý độc giả theo dõi bài viết về Tập Cận Bình và chính sách cải cách của ông ta liệu có thành công qua nhận xét của tác gỉa Chu Chi Nam và Vũ văn Lâm.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Bạc Hy Lai (trái), cựu Bí thư thành ủy Trùng Khánh, Từ Tài Hậu (giữa, chết), Phó chủ tịch quân ủy trung ương, và (phải) Chu Vĩnh Khang trước vành móng ngựa với mái tóc bạc trắng.
 
Tập cận Bình và chương trình cải cách.
Tập cận Bình sinh năm 1953, tại Bắc kinh, nhưng quê quán thực của ông ở Thiểm tây, cha là Tập trọng Huấn (1913 – 2002), là một Phó Thủ tướng trước đây. Tập cận Bình là người ít nói, ít phát biểu, có nhiều người còn cho ông là người không có lập trường rõ rệt. Ông từng làm Bí thư thành phố  Thượng Hải, được Giang Trạch Dân chọn lựa và hậu thuẫn để trở thành người kế thừa của Hồ Cẩm Đào với ý định trong tương lai, khi họ Đào không còn quyền, ông lên ngôi, thì họ Giang dễ khống chế ông.
Tập cận Bình từng bước trở thành Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau đó lần lượt vào năm 2010 ông được bầu vào chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, n ăm 2012 tr ở th ành Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực của đảng cộng sàn Tàu.
Có lẽ tất cả những kế hoạch, dự đoán của họ Giang từ ngày họ Tập lên ngôi đều trở nên mây khói ?
Chương trình cải cách của Tập cận Bình.
Tháng 8/2013, họ Tập ra Văn kiện được mang tên là « Văn kiện số 9 «, trong đó có 7 cái « Không «, bắt buộc đảng viên, công chức từ dưới lên trên phải tuân theo. Đó là: Không được tự do phát biểu ý kiến riêng ngoài ý kiến chính thức của đảng, không chấp nhận ảnh hưởng từ nước ngoài, không chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, tính phê bình, và không chấp nhận tư tưởng độc lập.
Thêm vào đó, để ngăn cản sự trốn chạy ra nước ngoài của cán bộ, họ Tập thâu hồi tất cả những hộ chiếu của họ, thành lập ủy ban gồm 3 người, kiểm soát lẫn nhau, nếu có 1 trong 3 người xuất ngoại «  Không chính đáng «, thì 2 người còn lại phải vạ lây. Họ Tập mệnh danh chương trình cải cách này là một chương trình « Trẻ trung hóa vĩ đại «, dựa trên giấc mơ của Trung quốc, niềm tự hào của dân tộc, dựa trên chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cũng từ đó, họ Tập đã tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, từ Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy hội, Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, Chủ tịch Ủy ban thanh lọc Nhà nước v.v…
Họ Tập đã thanh trừng từ trên xuống dưới, bắt đầu phong trào « Giết hổ và đập ruồi « , loại khỏi Đảng, khỏi Nhà nước 182,000 công chức từ thấp đến cao, bắt đầu bằng vụ đưa ra tòa Bạc hy Lai, rồi khai trừ Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội ra khỏi đảng vào ngày 30/06/2014. Ngày 29/7/2014, Đảng cộng sản Trung quốc tuyên bố điều tra Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba, trong đảng.
Đó là sơ qua một vài vụ thanh trừng to lớn.
Hình ảnh những người tự thiêu phản đối chính sách đàn áp, Hán hóa người dân Tây Tạng của chính quyền Bắc Kinh gây chấn động thế giới
Ngoài ra họ Tập còn đàn áp dã man dân Duy ngô nhĩ, dân phần lớn theo đạo Hồi ở vùng tây bắc, trấn áp Tây Tạng, gửi thông điệp cứng rắn đối với Đài loan, dẹp tất cả những hy vọng của dân Hồng kông mong muốn có một cuộc bầu cử tự do trong tương lai, theo kiểu dân cử, dân bầu, chứ không phải là một cuộc bầu cử « Đảng cử, dân bầu «,được áp đặt từ Bắc kinh.
Nhưng thật ra bản chất của cuộc cải cách này là một cuộc cải cách giật lùi hay đúng hơn chỉ là một cuộc tranh quyền, thâu tóm quyền hành vào tay một người, trái lại nguyên tắc lãnh đạo tập thể, để lại từ hồi Đặng tiểu Bình, và tương đối được tuân thủ  và  áp dụng bởi Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào.
Độc tài từ cổ chí kim trên thế giới là một chế độ cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, nhất là với 2 chế độ độc tài phát xít và cộng sản. Cái loa có nghĩa là khai thác tối đa nghệ thuật tuyên truyền. Kiểu nói như Goebel, Bộ trường Tuyên truyền của Hitler: « Một sự việc dù không phải là sự thật, nhưng chúng ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, sau đó không nghi nữa và cuối cùng cho đó là sự thật. » Bưng bít thông tin, chỉ cho dân nghe những thông tin, dù không phải sự thật, nhưng có lợi cho chế độ.
Với Hitler thì khơi dậy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bài trừ Do thái, đưa ra lý thuyết không có một tý gì là khoa học, theo đó « Chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết nhất, tài giỏi nhất. Đó là chủng tộc của dân Đức, xứng đáng để thống trị thế giới «. Cộng sản thì khơi dậy những bản năng xấu xa, ghen tỵ của con người, qua lý thuyết bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ tất cả những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp được truyền thừa hàng ngàn năm lịch sử nơi con người. Thêm vào đó cả 2 chế độ phát xít và cộng sản đều vẽ ra một thiên đàng, một bên là thế giới thiên đàng của giòng giống Aryen, dân tộc Đức. Bên kia là thiên đàng cộng sản.
Cai trị dân với cái còng và cái súng là khủng bố, bỏ tù những thành phần không cùng chính kiến, đường lối với họ, và nếu sự chống đối trở nên có ảnh hưởng mạnh mẽ thì sẽ bị vu khống, thủ tiêu và hãm hại.
Ngày nay, ở một vài nước cộng sản còn lại, vì kinh nghiệm cộng sản đã thất bại ê chề sau hơn 70 năm áp dụng, thì họ trở về chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kiểu phát xít.
Từ đó chúng ta xét bản chất thực của chương trình cải cách Tập cận Bình: Đó là chương trình cải cách giật lùi, trở về thời quân chủ phong kiến, quyền hành tập trung vào tay một người, ngày xưa là ông vua, ngày nay là Tổng bí thư. Hiện nay họ Tập nắm hết trong tay mọi quyền hành.
Vì vậy bản chất thật cuộc cải cách của họ Tập chỉ là một cuộc tranh quyền mà ngày hôm nay người ta thấy rõ là giữa Giang trạch Dân, cựu Tổng bí Thư, được phe nhóm tài phiệt Thượng hải và Hồng kông ủng hộ và phe nhóm Tập cận Bình, được mang nhãn hiệu là chống tham nhũng, trẻ trung hóa và trong sạch hóa chế độ, thực hiện giấc mơ Trung quốc.
Người Tàu có câu châm ngôn « Giết gà để dọa khỉ «, thực chất là họ Tập giết cả gà lẫn khỉ, khi chúng không theo mình, và dung túng cả gà lẫn khỉ, khi chúng theo mình. Hỏi rằng ở nước Tàu hiện nay, trong những người đảng viên, từ cấp dưới lên đến ngay Tập cận Bình, có ai là không tham nhũng. Cũng như họ Tập ra lệnh thâu hồi tất cả những người có hộ chiếu ra nước ngoài, lập ra tổ 3 người trong cơ quan đảng và nhà nước để kiểm sóat lẫn nhau về việc xuất ngọat. Trong khi đó thì chính con gái họ Tập hiện nay đang học ở Hoa kỳ, tại trường đại học Harvard. Việc thanh trừng 182 000 nhân viên đảng và nhà nước đi đến chỗ ai cũng sợ, có những cơ quan nhà nước, người cầm đầu bị thanh trừng, người dưới không dám lên kế vị, vì ai cũng tham nhũng, sợ bị chỉa mũi dùi vào mình.
Họ Tập không những trở về thời quân chủ phong kiến, mà còn trở về thời kỳ xấu xa nhất của chế độ cộng sản Tàu, thời kỳ « Cách mạng Hồng vệ binh «, khơi dậy lòng hận thù của của những giai tầng xã hội, đề cao tinh thần dân tộc cực đoan. Tập cận Bình hiện nay là hình ảnh những tên bạo chúa tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại, như vua Kiệt, Tần thủy Hoàng, Mao trạch Đông của Tàu, như Néron, Staline của thế giới, cho rằng: « Kẻ nào không theo Ta, thì có nghĩa là chống Ta «, « Ta chính là Nhà nước và Pháp luật « .
Ngày xưa vua cho rằng mình thay trời để trị dân, ngày hôm nay họ Tập cho rằng mình có một sứ mạng cao cả, dẫn dắt dân tộc Tàu thực hiện ước mơ của mình, trẻ trung hóa chế độ, mang lại hạnh phúc cho mọi người dân và sự kính nể đối với những nước trên thế giới.
Vẽ ra những ước mơ, cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, đây không phải là riêng của Tập cận Bình, mà là của tất cả giới lãnh đạo cộng sản. Ngày hôm nay Tập cận Bình đang trở về phương pháp này với dân Tàu. Vì vậy thực chất đây là một cuộc cải cách giật lùi.
Chương trình cải cách cuả Tập cận Bình sẽ thành công ?
Một câu hỏi đến với chúng ta là liệu chính sách cải cách của Tập cận Bình sẽ thành công hay không ?
Có nhiều người cho rằng sẽ thành công, viện những lý do: Với sức mạnh kinh tế hiện nay, theo như bản thống kê mới nhất của Quĩ Tiền tệ thế giới, tổng sản lượng kinh tế tính theo khả năng mua sắm, thì Trung cộng hiện nay là 17 632 tỷ $, đã qua mặt Hoa kỳ là 17 416 tỷ, cũng như Ấn độ, với tổng sản lượng là 7 277 tỷ, đã qua mặt Nhật, với 4,788 tỷ. ( Theo Bản Tường trình của FMI – tháng 10/2014). Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ là sản lượng tính theo đầu người hàng năm của Hoa Kỳ và của Nhật là gấp 4 hay 5 lần của Trung cộng. Ngoài ra hiện nay Trung cộng có một dự trữ gần 4,000 tỷ $, hiện là nước có nền thương mại lớn nhất thế giới, hàng hóa Trung cộng có mặt trên khắp 5 châu.
Đây là một điều hay, nhưng cũng có mặt trái của nó, đó là đừng nghĩ với kinh tế, tiền bạc là có thể giải quyết được tất, nhiều khi mang hại vào thân, ngay ở cả mức độ quốc gia, vì mức độ giầu nghèo quá chênh lệch ở Trung cộng, thêm vào đó giới giầu có, quyền lực thì càng ngày càng muốn giầu có thêm, nhiều quyền lực thêm, trước sự đau khổ của dân.
Chúng ta có thể giản tiện hóa vấn đề, ví một quốc gia như một gia đình. Một gia đình giầu có, có nhiều con cái với nhiều thân thuộc, bộ hạ, vấn đề chia gia tài giữa các con, sau khi người cha chết, có thể đưa đến việc các con cấu xé lẫn nhau. Trung cộng hiện nay đang bị “ nạn “ tương tự qua việc chuyển quyền hành. Những đại gia, vừa giầu có, vừa có quyền, đang tìm cách tiêu diệt lẫn nhau như việc Giang trạch Dân, Chu vĩnh Khang, Từ tài Hậu, Bạc hy Lai v.v… tìm cách đảo chính Tập cận Bình, cũng như sau đó tìm cách ám sát nhiều lần, nhưng không thành, theo như nhiều nguồn tin đáng tin cậy.
Điều này chứng tỏ tình hình Trung cộng không ổn như người ta tưởng.
Thêm vào đó, họ Tập lại thâu tóm quyền hành một cách rất mau lẹ. Vừa mới lên ngôi, họ Tập đã gặp Obama vào năm 2013, chính một nhân viên của Phủ Tổng thống Hoa kỳ đã tuyên bố: “ Chúng tôi rất ngạc nhiên là ông Tập cận Bình đã thâu tóm quyền hành mau lẹ như vậy “.
Chương trình cải cách của họ Tập chỉ là một chương trình bế quan tỏa cảng vào cuối thời nhà Minh, nhà Thanh, vì vậy nó sẽ không thành công, mà còn có thể đi đến chỗ làm sụp đổ chế độ cộng sản ?
Có người lại cho rằng sức mạnh của Trung cộng hiện nay chỉ là cái vỏ, chỉ là “ Một con hổ giấy “, nhãn hiệu mà Mao dùng để chỉ Hoa kỳ trước đây. Thật vậy, không nói đâu xa, ngay chính Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng của Trung cộng cũng nói: “ Trung cộng chỉ là anh khổng lồ chân bằng đất sét.”
Lý do đầu tiên và quan trọng trong sự thất bại của Tập cận Bình là ông đã đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại.
Thật vậy, nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: văn minh trẩy hái, văn minh du mục, văn minh định cư nông nghiệp, và văn minh thương mại, rồi tới văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay.
Mỗi một thời văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã. Với hai 2 nền văn minh đầu, đó là chế độ gia tộc và bộ lạc. Với văn minh định cư nông nghiệp, đó là chế độ quân chủ phong kiến; và ngày hôm nay là mô hình tổ chức dân chủ tự do và kinh tế thị trường.
Có người bảo rằng họ Tập muốn trở về thời kỳ cộng sản của Mao. Nhưng chúng ta biết, mô hình tổ chức nhân xã của cộng sản chỉ là mặt trái của mô hình quân chủ phong kiến, cũng là một chế độ cá nhân, độc đảng, độc tài, nó đã dùng khoa học, kỹ thuật và thông tin tuyên truyền để củng cố chế độ.
Lý do thứ nhì của sự thất bại, đó là như Khổng Tử đã nói:
“Để cai trị dân tốt thì phải dựa trên công lý và lòng thành tâm.”
Đằng này họ Tập không dựa trên công lý để chống tham nhũng, nhưng chỉ nhằm vào người nào tham nhũng không theo ông, còn những người theo ông thì dung túng. Họ Tập thâu hồi tất cả những chiếu kháng, hạn chế tối đa sự xuất ngoại, nhưng chính gia đình ông xuất ngoại, con gái ông đang học ở Hoa kỳ.
Lý do thứ ba của sự thất bại đó là ông đã phá hủy tất cả những luật bất thành văn, được để lại bởi Đặng tiểu Bình, nhằm thực hiện những cuộc trao quyền một cách êm thắm, tránh đổ máu. Những luật bất thành văn này đã được thực hiện bởi 2 người trước ông là Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào. Ngày 29/7/2014, họ Tập ra thông cáo điều tra Chu vĩnh Khang, quản thúc ông tại gia, tịch thu tài sản của những người họ hàng thân thích với ông này, lên tới 300 người, với tài sản là 14,5 tỷ $.
Ngày xưa thì có việc chu di tam tộc, quả là ác ôn và đổ máu. Nhưng ngày hôm nay, dù không đổ máu, nhưng tịch thu hết gia sản, rồi hôm nay bị thẩm vấn, ngày mai bị tra hỏi bởi công an, mặc dầu sống nhưng nhiều khi khổ hơn là chết. Chính vì vậy mà có người cho rằng lịch sử Tàu là một chuỗi dài tranh quyền, cướp nước và trả thù.
Những gia đình, gia tộc bị họ Tập thanh trừng, bằng bất cứ giá nào cũng tìm cách trả thù. Phim ảnh không nói lên tất cả, nhưng cũng nói lên một phần nào lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Phim chưởng Tàu là một chuỗi dài những cuộc trả thù thiên thu bất tận.
Chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng
Trở về với ý kiến cho rằng chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng trước đậy.
Thật vậy, nước Tàu có một nền văn minh lớn và rất sớm, nhưng sau đó nước Tàu bị tụt hậu, vì rất nhiều nguyên do, nhưng trong đó có một nguyên do chính, đó là chính sách bế quan tỏa cảng vào cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh và chính sách mở cửa nhập cảng vội vã tư tưởng Marx Lénine của đảng cộng sản, cặn bã của văn hóa, văn minh tây phương mà những nước này đã chối bỏ.
Nước Tàu là một nước lớn, dân tộc Tàu có một nền văn minh rất sớm:
Năm 105, đời nhà  Hán ( 206 trước Tây Lịch – 219 sau Tây Lịch), nước Tàu đã phát minh ra giấy.  Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy ( 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu. Mãi sau này Johannes Gutenberg (1400 – 1468), người Đức dựa vào những phát minh trên đã phát minh ra máy in và có thể nói đây là một trong những nguyên do chính giúp Âu châu phát triển, vì nhờ máy in mà sự hiểu biết, trí thức được lan rộng, lúc đầu là ở trong nhà thờ, in kinh thánh, sau đó được quảng bá ra ngoài.
Năm 1000, đời Bắc Tống (916 – 1125), phát minh ra địa bàn và thuốc súng. ( Theo « La Formidable Histoire de l’Economie mondiale de l’Egypte antique à la Chine de 2014 – báo Capital – hors série – Juin – Juillet 2014 « )
Tuy nhiên văn minh Tàu bị khựng lại vì rất nhiều nguyên do, mà trong đó là chế độ quân chủ, kéo dài quá lâu, từ chế độ quân chủ phong kiến tản quyền sang chế độ quân chủ tập quyền, từ thời nhà Chu ( 1134 – 770 trước Tây Lịch ) cho tới ngày hôm nay với chế độ cộng sản ( 1949 – ?), chỉ là mặt trái của chế độ này. Người ta nói Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình và ngay Tập cận Bình là những ông hoàng đế đỏ, cũng không sai.
« Cải cách giật lùi, đi ngược lại đà tiến bộ của con người, của nhân loại « của Tập cận Bình có thể thành công ngắn hạn, nhờ kích thích tinh thần quốc gia cực đoan, tôn quân, bản tính gió chiều nào theo chiều ấy của người Tàu, như trường hợp điển hình, ông Chu Bân, con của Chu vĩnh Khang, đã đứng về phía họ Tập, tố cáo bố mình. Tuy nhiên nếu thành công cũng chỉ là ngắn hạn; nhưng dài hạn, thật dài, thì có hại cho Tàu, gương cuối đời của 2 triều đại nhà Minh và nhà Thanh còn ngay trước mắt.
Hoàng cung Tử Cấm Thành do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt xây lên. Dưới: Súng thần công (nòng 21-25 cm) và đạn đá thời Hồ Quý Ly được tìm thấy ở vùng Thanh Hóa, Việt Nam.
 
 
Thực ra nói đến chính sách bế quan tỏa cảng của Tàu thì đã có từ lâu, có thể từ thời lập quốc, qua quan niệm nước Tàu là trung tâm của vũ trụ ( Trung hoa), Hán là dân tộc văn minh nhất, còn những dân tộc chung quanh chỉ là man di, mọi rợ. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài này, chúng tôi không thể đi xa, đi sâu, chỉ xin nói sơ về sự thất bại của chính sách bế quan tỏa cảng cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh :
Nhà Minh ( 1368 – 1643), do Chu nguyên Chương lập ra, sau khi đánh đuổi nhà Nguyên ( 1278 – 1368), một chế độ của người Mông cổ mà sử còn gọi là chế độ Nguyên Mông, chế độ ngoại tộc, không phải là Hán tộc. Chính vì vậy mà Chu nguyên Chương và tất cả vua quan sau này của nhà Minh có một chính sách bế quan tỏa cảng, bài ngoại rất cao, rất tàn ác với những dân tộc không phải là Hán. Đây là kinh nghiệm máu xương của dân tộc Việt nam trong vòng 20 năm bị lệ thuộc nhà Minh từ năm 1407 tới 1427. Quân đội của Trương Phụ nhà Minh không những tàn ác với dân Việt, mà còn tìm cách tiêu hủy tất cả những gì có tính chất đặc th ù dân tộc Việt, qua việc đốt sách vở, bắt tất cả những người có đầu óc mang về Tàu. Việc 2 người Việt nam, ông Nguyễn An, một trong những kiến trúc sư chính, xây lên Tử cấm Thành ( thành Bắc Kinh), một người khác, ông Hồ nguyên Trừng, con của Hồ quí Ly, bị bắt qua Tàu, làm đến chức Bộ Công, xây dựng quân cụ thời vua Minh Anh Tông, đã làm ra súng đại bác ( thần công), cũng là từ đó. Theo sử sách thì « Quân Minh khi làm lễ tế súng, đều phải tế Trừng ».
Có người nói thời Minh không có chuyện bế quan tỏa cảng, dẫn sự việc Trịnh Hòa, một hoạn quan thời Minh với lệnh của triều đình, đóng 62 chiếc thuyền, chiều dài cả 100m, chiều ngang 40m, chở 37000 hải quân, đem nhiều vàng, đồ gốm, lụa, đi từ cửa biển Lưu gia cảng, tây bắc Thượng Hải, vào năm 1405, qua Phúc kiến, có thể nói là một cuộc hành trình vòng quanh thế giới vào lúc bấy giờ, vì đã qua cả chục nước, có nhiệm vụ quảng bá sức mạnh của nhà Minh và đồng thời buôn bán, trao đổi hàng hóa. Đấy là bề ngoài của sự việc, bên trong có người cho là Trịnh Hòa còn có nhiệm vụ tìm vua Huệ đế, mà vua Minh Thành Tổ nghi là đã trốn ra nước ngoài, ở những nước chung quanh hoặc các đảo ngoài biển.
Sự  việc là vua Minh thái Tổ, Chu nguyên Chương, lập người con trưởng tên là Tiêu làm thái tử, không dè Tiêu chết sớm, vua bèn lập con của Tiêu, tên là Kiến Văn, lên làm thế tôn. Khi Chu nguyên Chương chết, Kế văn lên làm vua, tức Huệ đế, được 4 năm. Không dè người chú, lúc đó đang trấn thủ ở đất Yên xưa kia, mang quân về đảo chánh, thành công, lên ngôi vua tức Minh thành Tổ. Minh thành Tổ nghi Huệ đế trốn ra nước ngoài nên làm ra đoàn tầu Trịnh Hòa, để đi kiếm. Điều này nói lên sự tranh quyền, giữ quyền ở Tàu rất là khủng khiếp, cũng chẳng khác nào như thời Tập cận Bình hiện nay. Vì nhiều lý do, trong đó có lý do là sau khi Minh thành Tổ chết, việc tìm kiếm Huệ đế không được đặt ra, nên ngân sách cho đoàn tàu Trịnh Hòa dần dần bị cắt giảm.
Ngày hôm nay, giới lãnh đạo cộng sản Tàu, nhắc nhiều đến Trịnh Hòa và đoàn tàu, nhất là trong khuôn khổ tranh chấp biển Đông, muốn nói lên sức mạnh hải quân của Tàu từ xưa, nhưng họ cố ý hay vô tình quên đi sự tranh quyền nội bộ nằm ngay sau lưng.
Triều đại nhà Minh chỉ thịnh lúc ban đầu, nhưng sau đó đi vào suy thoái ( 1436 – 1623), rồi bước sang chỗ diệt vong ( 1623 – 1660).
Đại tài tử Hồng Kông Lưu Đức Hòa thủ vai Khang Hy trong bộ phim Lộc Đỉnh Ký của nhà văn Kim Dung. (Phải) Vua Khang Hy đang uy hiếp Vi Tiểu Bảo do Lương Triều Vỹ đóng.
Trong thời gian suy thoái và diệt vong này, nhà Minh đã chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng cao độ: Hạm đội của Trịnh hòa không còn nữa, đó là về mặt biển, về mặt đất liền thì tăng cường tu bổ Vạn lý trường thành. Bên ngoài thì bế quan tỏa cảng, bên trong thì bài xích những chủng tộc khác qua văn hóa, giáo dục, bắt đầu bằng chủng tộc Mông, triều đại đã cai trị nước Tàu trước đó. Sau này từ  thời Mao thì kỳ thị, coi thường dân tộc Mãn, dân tộc đã đánh bại chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Minh, hay nói đúng hơn là đánh bại nhà Minh, cai trị xứ Tàu sau đó, cũng như tất cả các dân tộc khác như Hồi, Mông, Tạng.
Dân tộc Mãn Thanh là một dân tộc sống ở phía đông bắc nước Tàu.
Hai người được coi là sáng lập nền tảng cho nhà Thanh chính là Nỗ nhĩ cáp Xích, Hoàng thái Cực.
Nỗ nhĩ cáp xích (1559 – 2626), ông sinh ra trong một gia đình quí tộc Mãn châu ở vùng đông bắc nước Tàu. Theo chính sách phên dậu của nhà Minh dùng những bộ tộc làm hàng rào, phên chắn cho triều đình trung ương, gia đình ông được nhà Minh phong cho chức Đô đốc vùng Kiến châu, cha truyền con nối. Ông là người dũng cảm, được viên Tổng trấn vùng đông bắc, nhà Minh, tuyển ông vào đội cận vệ. Từ đó, nhờ can đảm, nhờ những liên hệ gia đình trước đó, cùng những liên hệ mới, ông đã qui tụ những chân tay bộ hạ của bộ tộc mình trước kia, nay bị những bộ tộc khác tiêu diệt, rồi thống nhất 8 bộ lạc Mãn, để lên làm khả hãn, như Thành cát tư Hãn của bộ tộc Mông cổ trước đó. Ông đã lập ra thể chế « Bát Kỳ «, tiêu biểu bằng 8 lá cờ, từ màu vàng, sang màu trắng, màu lam, mà người ta có thể hiểu là 8 bộ tộc, 8 vùng chiến thuật, từ Hoàng kỳ, Bạch Kỳ, Lam Kỳ v.v…Tám Kỳ này lấy những quyết định quan trọng theo cách bỏ phiếu đa số, nhất là việc kế vị ngôi vua.
Nỗ nhĩ cáp xích lên ngôi Hoàng đế năm 1616, dần dần trở  lên lớn mạnh, thống lãnh cả một vùng đông bắc, có lúc lên đến cả sáu bảy vạn quân. Năm 1619, vua Minh sai Binh bộ thị lang Dương Cảo, lãnh 16 vạn quân, thẳng tiến phía đông bắc nhằm tiêu diệt ông, gồm 4 cánh quân : tây lộ, bắc lộ, đông lộ và nam lộ. Bình tĩnh nhận định tình hình, phân tích sự việc, phân tích từng cánh quân của địch, ông đã cho quân Bát kỳ, chỉ có 6 vạn, nhanh chóng chiếm bờ sông Tát nhĩ Hử, chờ cánh quân chủ lực Tây lộ của quân Minh tới. Quả như điều ông tiên đoán, trong trận này ông đã phá tan quân chủ lực của nhà Minh. Những cánh quân tiếp đến, ông tiêu diệt từng cánh một.
Ông chết vào năm 1626, nhưng người ta có thể nói là ông đã gây dựng tất cả những nền móng, để nhà Thanh đánh vào trung nguyên, lập nên nghiệp lớn cho con cháu ông sau này.
Người kế thừa ông là Hoàng thái Cực (1592 – 1643), người con thứ 8 của ông. Ông kế thừa sự nghiệp và chí lớn của cha, chủ trương học hỏi tinh thần dũng mãnh, chiến lược hành quân thần tốc của người Mông cổ, sự uyên bác của người Tàu, nên các vị vua kế nghiệp ông về sau rất thông hiểu văn hóa Trung hoa. Ông cũng nhất quyết đánh xuống trung nguyên, kết thúc chế độ nhà Minh.
Một sự kiện lịch sử nhỏ chứng tỏ sự thất bại của chính sách xây Vạn lý trường thành, bế quan tỏa cảng của triều Minh : Ngày 27/10/1629, Hoàng thái Cực xuất binh, vòng qua thành tuyến Liêu đông, đốt phá Vạn lý trường thành, ở phía tây bắc, vòng đến Hà bắc, tiến vào đốt phá thành Bắc kinh.
Nước Tàu ngày hôm nay, Tập cận Bình có xây bao nhiêu bức tường lửa ( Fire wall) đi chăng nữa, cũng không thể nào cấm được những nguồn thông tin trung thực, những luồng tư tưởng Tự Do, Nhân Bản từ bên ngoài. Sẽ có ngày không xa người dân Tàu sẽ  nổi dậy giành lại quyền sống, lật đổ  chế  độ  cộng sản, như ngày xưa người Mãn đã phá Vạn lý trường thành và lật đổ nhà Minh.
Khang Hy là ông vua thứ nhì đời nhà Thanh, sau khi nhà Thanh chiếm được toàn cõi nước Tàu, được coi là một trong 10 vị Đại Hoàng đế của Tàu. Ông không những tỏ ra thao lược về chính trị và quân sự, mà ông còn giỏi cả về văn hóa, nghệ thuật. Chỉ cần người ta nói đến Tự điển Khang Hy, được làm ra thời ông, bằng Hán văn, gồm 47 035 chữ, hay người ta nói đến đồ gốm Khang hy, vừa đẹp về sắc gốm, vừa đẹp về hình tượng vẽ ở trên, cũng đủ chứng minh ông là một vị hoàng đế lớn.
Tuy nhiên cũng như nhà Minh, chỉ có ba bốn vị vua đầu thì khá, nhưng sau đó thì đi vào thoái trào.
Người ta có thể nói giống như nhà Minh, nhà Thanh đi từ chỗ suy thế (1795 – 1850), rồi tới thế diệt vong ( 1850 – 1911).
Thời nhà Minh, khi quân Minh bị Lê Lợi đánh đuổi về Tàu năm 1427, thì liền sau đó là tới thời suy thoái, bắt đầu vào năm 1436.
Với nhà Thanh, sau khi quân nhà Thanh bị Nguyễn Huệ đánh bại ở Việt Nam, năm 1789, thì nhà Thanh cũng bước vào thời kỳ suy thoái.
Thời kỳ suy thoái của nhà Thanh có thể nói là bắt đầu vào cuối đời vua Càn Long, cầm quyền 60 năm từ năm 1735 đến 1795.
Càn long vào cuối đời, có thể vì một phần già yếu, không lo triều chính như lúc còn trẻ, thêm vào đó, lại tiêu xài hoang phí, qua những cuộc du ngoạn phương nam, rất tốn kém. Bên cạnh là Tể tướng Hòa Thân, một con người tham nhũng khét tiếng; có người nói, tài sản của họ Hòa hơn cả ngân khố quốc gia.
Điều này làm chúng ta liên tưởng đến chế độ cộng sản hiện nay của Tập cận Bình: tham nhũng từ trên xuống dưới, không chỉ thủ tướng mà cả cựu và đương kim tổng bí thư, xuống đến tận hang cùng ngõ hẻm, đến một anh cán bộ đảng tầm thường cấp xã. Vào thời Càn Long, còn có những ông quan liêm khiết, chính trực, vì còn trọng Nho giáo, Khổng giáo, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu.
Ngày hôm nay tại Tàu, sau khi chạy theo lý thuyết Mác – Lê, theo duy vật chủ nghĩa, vứt bỏ mọi giá trị tốt đẹp cổ truyền, lại thực hiện lời dạy của Đặng tiểu Bình: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết. Chỉ cần là mèo biết bắt chuột. », từ dân cho chí quan, chạy theo vật chất, không còn chút liêm sỉ, làm giàu, bằng bất cứ thủ đoạn, phương tiện gì, ngay cả giết người, lừa đảo, dối trá.
Thời kỳ diệt vong của chế độ nhà Thanh bắt đầu từ 1850, khi ông vua Hàm Phong, chồng bà Từ Hy, lên ngôi năm 1850 cho tới cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.
Nguyên sự kiện ông vua này chán nản trước tình hình, vận nước, bị liệt cường xâu xé, như chúng ta lấy sự kiện Hồng kông đang nổi tiếng qua những cuộc biểu tinh của sinh viên học sinh hiện này. Vùng đất này bị nhượng cho nước Anh trước đó 8 năm, 1842, rồi tới chiến tranh Nha Phiến, Liệt cường xâu xé. Ông đã cùng một thái giám, ban đêm thường lẻn ra khỏi thành, chơi bời nơi tửu điếm, lầu xanh đến nỗi bị mắc bệnh giang mai, rồi chết sớm.
Con của ông với bà Từ Hy, lên ngôi tức vua Đồng Trị, do 2 người Thái hậu nhiếp chính, Đông cung tức bà Từ An, Tây cung tức bà Từ Hy. Sau đó Từ Hy tìm cách vu khống Từ An, loại bà này, nắm toàn quyền nhiếp chính. Từ đây, nước Tàu đời nhà Thanh quả đi vào thời kỳ diệt vong : không những ngoại loạn, mà còn nội ưu. Sau vua Đồng Trị là vua Quang Tự, người cháu, con người em gái của bà, nhưng bà Từ Hy vẫn toàn quyền nhiếp chính. Ông vua này đã chống đối bà, chủ trương cải cách mạnh cùng với một số trí thức cải cách lúc bấy giờ, như Khang hữu Vi, Lương khải Siêu, cùng một người thầy của vua Quang Tự, ông Đồng Hòa, quyết định biến pháp, năm 1898 : ban hành hiến pháp và nhiều luật lệ mới, để canh tân nước Tàu theo gương nước Nhật và nước Nga. Tuy nhiên cuộc biến pháp này chỉ kéo dài 100 ngày rồi bà Từ Hy trở lại dẹp tan, mặc dầu vậy vua Quang tự vẫn ngồi vì cho tới khi chết năm 1908, rồi bà chết theo. Vua Phổ Nghi lên, ba năm sau, thì có cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chấm dứt triều đại nhà Thành.
Cuối đời nhà Thanh, với bà Từ Hy và phe Triều đình bảo thủ, cũng cố dựng lên những bức tường để ngăn chặn tư tưởng tự do từ bên ngoài, nhưng phòng tuyến đã bị chọc thủng qua nhân vật vua Quang Tự, ngay trong triều, để đi đến chỗ xụp đổ.
Chúng ta thấy 2 chính sách bế quan tỏa cảng của 2 triều đại cuối, nhà Minh, nhà Thanh đều thất bại, hoặc vì nội loạn ngoại ưu, hay ngoại loạn nội ưu.
Thời suy thoái và thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản Tàu
Trở về với nước Tàu hiện nay có người hỏi đâu là thời suy thoái và đâu là thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản ?
Đây là câu hỏi khó trả lời vì chế độ cộng sản chưa chấm dứt. Tuy nhiên một cách ước đoán, chúng ta có thể nói:
 Biểu tình Thiên An Môn 1989 có lúc lên tới cả triệu người theo Wikipia. (Dưới) Sinh viên thực hiện biểu tượng cho Tự Do – Dân Chủ ngay tại quảng trường.
 
 
Hình ảnh lịch sử nổi bật, quan trọng của thế kỷ 20:  Cảnh 1 sinh viên đứng cản trước xe tăng đang tiến vào Thiên An Môn yêu cầu đoàn xe quay trở lại,  không đàn áp nhân dân với phong trào hợp lý yêu cầu cải cách, dân chủ cho đất nước.  Link: Người biểu tình vô danhWikipidea.
 
Thời kỳ suy thoái của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 1989 tới 2014, với sự đàn áp dân, sinh viên và học sinh bằng xe tăng và súng. Chắc chắn có nhiều người khó chấp nhận  với nhận định này vì nhìn vào bề ngoài và thực tế thì nền kinh tế Tàu trong giai đoạn này đã tăng trưởng một cách dài hạn và vượt bực, đã đưa tổng sản lượng quốc gia của nước Tầu lên hàng nhất nhì thế giới. Nhưng theo như câu nói của Chu Dung Cơ, cựu thủ tướng dưới thời Giang Trạch Dân, thì nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có đôi chân bằng đất sét. Sau biến cố Thiên an môn, những thành tựu ban đầu do chính sách tương đối cởi mở về tư tưởng và chính trị dưới thời Hồ diệu Bang và Triệu tử Dương, nhằm đưa nước Tàu trên con đường phát triển ổn định và quân bình đã bị hủy bỏ và hoàn toàn đi ngược lại. Vì vậy, mặc dù nước Tàu đạt được một số thành quả ngoạn mục về kinh tế qua chính sách « Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa «, nói nôm na dễ hiểu là chính sách kinh tế tư bản rừng rú kiểu mèo trắng mèo đen của Đặng tiểu Bình, kiếm tiền, làm giầu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn và hậu quả. Đằng sau những cao ốc chọc trời, xa lộ thêng thang, xe lửa cao tốc là những bất công chồng chất trong một xã hội bất ổn, vô đạo đức, vô nhân tâm, người người giết nhau như bầy thú chỉ vì chút ít tiền hay tranh giành địa vị. Ngoài ra những vấn nạn: mâu thuẫn chủng tộc, Tạng, Hồi, Mông, Mãn, Hán, ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, thực phẩm độc hại đang giết hại lần mòn hàng tỷ dân Tàu. Đúng như lời ông François Mittérand, Tổng thống Pháp lúc bấy giờ, đã bình luận về vụ đàn áp Thiên an môn 1989:« Một chính quyền dùng súng bắn vào dân, học sinh, sinh viên là một chính quyền dùng súng bắn vào tương lai của mình. » Ngọn lửa Thiên an Môn vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân, trong tâm khảm của hàng triệu thanh thiếu niên, trong lòng của nhửng người mẹ, người cha, chỉ chờ một biến cố nhỏ là có thể bùng cháy kết thúc một chế độ gian xảo, cực ác trong lịch sử nhân loại.
Thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 2014, khi xẩy ra vụ Bạc Hy Lai, bị bắt và bị đưa ra tòa, bề ngoài là vì tham nhũng, nhưng theo tin tức đáng tin cậy, thì là âm mưu đảo chính Tập cận Bình, rồi liền sau đó có những vụ ám sát nhưng không thành, khiến cho Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội, cùng một số tướng lãnh bị khai trừ khỏi Đảng. Rồi Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba trong Đảng, bị tuyên bố điều tra.
Nhưng thời kỳ diệt vong này kéo dài bao lâu, người ta chưa thể biết.
Cần lưu ý một điều là chế độ cộng sản, khác với 2 chế độ vừa kể, không chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng lúc ban đầu từ năm 1949, khi họ cướp được chính quyền, mà phải nói là từ ngày thành lập năm 1921, đảng cộng sản Tàu đã chủ trương mở cửa, đón nhận những tư tưởng nước ngoài. Nhưng có một điều không may mắn, đáng buồn cho dân tộc và nước Tàu, đó là giới lãnh đạo này chưa đủ trình độ trí thức để biết rõ đâu là cái hay cái đở của văn hóa, văn minh đông phương, đâu là cái hay cái dở của văn hóa, văn minh tây phương, vội vứt bỏ toàn bộ văn hóa đông phương, kiểu như Mao trạch Đông tuyên bố: «  Khổng tử là con chó giữ nhà cho bọn phong kiến «, vội nhập cảng lý thuyết Marx, Lenin, cặn bã của văn hóa tây phương.
Giới sĩ phu, trí thức cộng sản Tàu và Việt Nam nên suy ngẫm điều này! (1)
Trở về chính sách cải cách của Tập cận Bình, được che dấu dưới những mỹ từ, nào là chống tham nhũng, lấy lại niềm tin của dân, thực hiện giấc mơ Trung quốc; nhưng bản chất thực là sự đấm đá nội bộ, tranh quyền, trở về chính sách bế quan tỏa cảng, kiểm soát những nhà đối lập mạnh mẽ hơn, cấm dân phát biểu tự do, kiểm sóat dân truy cập Internet v.v…, đây cũng là bắt đầu thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản, như một số người đưa ra giả thuyết này.
Người dân Hồng Kông thắp nến tưởng niệm Thiên An Môn làm Bắc Kinh nhức nhối, khó chịu.
Nhưng đâu là chỉ dấu của sự diệt vong ?
Chỉ dấu đầu là sự thanh trừng nội bộ một sống một còn, khi Tập cận Bình tuyên bố: « Tôi không màng đến sự sống chết, tôi không lưu tâm đến việc tiếng tăm của tôi còn hay mất, tôi quyết tâm chống tham nhũng. »
Chỉ dấu thứ nhì là sự nổi dậy của dân Hồng kông. Tất nhiên Hồng Kông không đòi độc lập, nhưng sớm muộn, dân Hồng Kông sẽ đòi tự do, dân chủ, dân cử và dân bầu, chứ không phải là đảng cử dân bầu. Một khi ước vọng này được thực hiện, thì nó sẽ là một vết dầu loang, loang ra những vùng lân cận, như Tây Tạng, Tân cương, Quảng Đông, Quảng tây và tới ngay cả Bắc Kinh.
Đến lúc đó, chế độ cộng sản còn đứng vững không ? Đảng cộng sản Tàu còn tồn tại không ?
Câu trả lời là chế độ cộng sản rất khó tồn tại và đứng vững. Nhưng đó cũng chỉ là dự đoán tương lai. Chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi.
Paris ngày 14/11/2 014
 Chu chi Nam và Vũ văn Lâm
(1)  Xin xem thêm những bài về Tàu và Tập cận Bình, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

World Bank: Việt Nam nợ công 110 tỷ USD

Tuesday, July 21st, 2015

Nguồn: VNExpress

Số liệu này cao hơn mọi công bố từ trước tới nay của các cơ quan Việt Nam, và như vậy mỗi người dân đang gánh trên 1.200 USD nợ công, tương đương hơn nửa năm thu nhập.
no-cong-JPG-1893-1437464150.jpg

Theo số liệu của WB, mỗi người dân Việt Nam gánh hơn 1.200 USD nợ công. Ảnh:Reuters

Ngân hàng Thế giới (WB) – nhà tài trợ đa phương lớn nhất hôm qua công bố về nợ công Việt Nam với số liệu bất ngờ. Tính đến cuối năm 2014, tổng nợ công của Việt Nam, bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương ước tính là 2,35 triệu tỷ đồng (khoảng 110 tỷ USD).  Nếu xét về tỷ lệ tương đối so với GDP (186,2 tỷ USD), thì nợ công theo tính toán của WB tương đương 59% – xấp xỉ số liệu được Bộ Tài chính đưa ra. Nhưng nếu xét riêng số tuyệt đối, nợ công theo tính toán của WB cao hơn bất kỳ số liệu nào được nêu ra trước đó.

Bản tin nợ công tháng 11/2014 của Bộ Tài chính cho biết cuối năm 2013, nợ công của Việt Nam gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ nước ngoài của doanh nghiệp tự vay tự trả không tính nợ chính quyền địa phương đạt hơn 1,5 triệu tỷ đồng, tăng so với mức gần 890.000 tỷ đồng cuối năm 2010.

Theo WB, toàn bộ dữ liệu về nợ công Việt Nam được thu thập từ các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ. Nếu dựa trên con số này và mức dân số cuối năm 2014 là 90,7 triệu người, bình quân mỗi người dân Việt Nam “gánh” gần 1.212,8 USD nợ công.

Đồng hồ nợ công của Economist ghi nhận vào cuối năm ngoái, mỗi người Việt Nam gánh 914,1 USD nợ và hiện tại là 997,9 USD.

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tính tới cuối năm ngoái là hơn 2.000 USD một năm.

no-cong-JPG-5172-1437464150.jpg

Nguồn: MOF/VinaCapital

Trong một báo cáo mới công bố, Công ty Quản lý quỹ VinaCapital – đơn vị đang đầu tư hơn một tỷ USD tại Việt Nam đánh giá bức tranh tài khóa trong nước đang gặp nhiều vấn đề, đặc biệt là nợ công. “Tình hình nợ công ngày càng tệ trong những năm gần đây”, công ty này cho biết.

Tỷ lệ nợ công trên GDP đã giảm về 50,8% vào năm 2012, nhưng dự báo tăng lên 60,3% năm 2015 và có thể tiến tới 64,9% trong năm tới – tiệm cận với ngưỡng an toàn 65% GDP.  Chính phủ phát đi thông tin sẽ giảm chỉ tiêu này về 60,2% vào năm 2020, nhưng VinaCapital vẫn đặt câu hỏi làm thế nào để nợ công leo lên gần mốc 65% GDP trong năm tới và sau đó có thể giảm về 60,2%.

Các chuyên gia nước ngoài nhận định Việt Nam vay nợ cao chủ yếu do nhu cầu tài trợ ngân sách lớn. Bội chi đã tăng từ mức 4,9% GDP năm 2008 lên 5,3% GDP năm 2014. Nửa đầu năm 2015, ngân sách tiếp tục thâm hụt khoảng 99.000 tỷ đồng (4,5 tỷ USD).

Tình trạng này diễn ra khi chi tiêu của Chính phủ ngày càng tăng trong lúc nguồn thu không ổn định do Việt Nam đang trong lộ trình giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp và giá dầu sụt giảm. Ngoài ra, WB cho rằng chính sách nới lỏng tài khóa để ngăn ngừa suy thoái kinh tế mạnh hơn đã dẫn tới nới rộng đáng kể thâm hụt tài khóa.

So sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN đang cạnh tranh về thu hút đầu tư, VinaCapital đánh giá Việt Nam kiểm soát tài khóa kém nhất so với các “ông hàng xóm”. Điều này thể hiện qua mức thâm hụt cao nhất so với Thái Lan, Indonesia, Philippines, trong đó thu ngân sách của Việt Nam trên GDP giảm từ mức 26,3% năm 2009 về 20,1% năm 2014, còn các quốc gia khác lại tăng.

tham-hut-ngan-sach-JPG-6625-1437464151.j

Tỷ lệ bội chi ngân sách của Việt Nam so với các nước trong khu vực. Nguồn: VinaCapital

Chuyên gia kinh tế Sebastian Eckardt của WB nhận xét nợ công có xu hướng tăng sẽ gây áp lực lên nguồn trả nợ. Nghĩa vụ thanh toán nợ công (tổng thanh toán nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã tăng từ 22% năm 2010 lên gần 26% tổng thu ngân sách năm 2014. Chi trả lãi vay hiện chiếm gần 7,2% chi ngân sách, lấn át các khoản chi tiêu khác.

Ngoài ra, nghĩa vụ nợ tiềm tàng từ doanh nghiệp Nhà nước và khu vực ngân hàng cũng trở thành mối nguy cơ rủi ro tới tính bền vững của nợ công. Ngoài các khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh đã được tính toán, WB cho rằng vẫn còn nhiều khoản nợ tiềm ẩn chưa được thống kê một cách đầy đủ. “Các khoản nợ này ước tính có quy mô khá lớn, tính rủi ro cao và có thể đe dọa tới ổn định tài khóa”, WB cảnh báo.

Để kiềm chế áp lực nợ công, bà Victoria Kwakwa – Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam khuyến nghị Chính phủ cần củng cố tài khóa phù hợp với tăng trưởng để giảm bớt nhu cầu bù đắp thâm hụt ngân sách, đồng thời phải hợp lý hóa nguồn chi và cải thiện hiệu quả đầu tư công.

Lấy ví dụ về Hy Lạp, bà Kwakwa cho hay Việt Nam sẽ không rơi vào tình trạng tệ như vậy, nhưng cũng cần có những giải pháp ngay từ lúc này, trong đó chú trọng tới công tác thu thập thông tin và cập nhật nợ của khu vực doanh nghiệp Nhà nước để có đánh giá rủi ro kịp thời.

“Câu chuyện xảy ra tại Hy Lạp không phải chỉ sau một đêm mà đã diễn ra trong thời gian dài. Do đó, Việt Nam cần thu thập thông tin tốt, số liệu tin cậy sẽ là nền tảng quan trọng cho việc hoạch định chính sách, ra quyết định chính sách”, bà nhấn mạnh.

Phương Linh

Phân Ưu: Cụ Lê Quang Liêm qua đời

Friday, July 17th, 2015

PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn:

Cụ LÊ QUANG LIÊM, 

Cu Le Quang Liem

Hội Trưởng Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam.

sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.  

Vừa mệnh chung lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia ở Thủ Đô Saigon.

Thượng thọ 96 tuổi.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Chân thành phân ưu cùng Tang Quyến và Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Xin Cầu Nguyện cho Hương Linh Cụ sớm về cõi Niết Bàn.

Trân trọng

TM. CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ

BS Võ Đình Hữu

BS Đỗ Văn Hội

GS Phạm Văn Thanh

Ban Cố Vấn: 

BS Trương Ngọc Tích 

Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn

Ông Trần Xuân Thời 

Ông Nguyễn Văn Tánh

Cùng toàn thể các Cộng Đồng Thành Viên

——————————————–

Tóm Tắt Tiểu Sử Cụ Lê Quang liêm

Cụ Lê Quang Liêm là Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam. Cụ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An , huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cụ tạ thế lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia hưởng thọ 96 tuổi.

Cụ sinh ra và lớn lên trong gia đình đại điền chủ và là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến tháng giêng năm Canh Thìn (1940) Cụ đã quy y với Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Cụ từng là chiến sĩ chống Pháp, sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và là Dân Biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa:

1945-1946: Đoàn Trưởng Bảo An Phật Giáo Hòa Hảo quận Chợ Mới, tỉnh An Giang

1946-1947: Chính Trị Viên Đại Đội I, Chi Đội 30, Bộ Đội Nguyễn Trung Trực

1948-1952: Tham Mưu Trưởng Nghĩa Quân Cách Mạng Dân Xã Đảng do cụ Lê Quang Vinh lãnh đạo.

1953-1955: Sáp nhập vào Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, cấp bậc Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 525

1956-1957: Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 12

1958-1959: Tham Mưu Phó Quân Đoàn II

1960-1962: Trưởng Phòng 4 Bộ Tư Lệnh Hành Quân

1963-1964: Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang

1964-1965: Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang

1966-1967: Chỉ Huy Trưởng Hậu Bị Quân Vùng 4 Chiến Thuật, kiêm Thanh Tra Tòa Đại Biểu Vùng 4

1968-1969: Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến;

1972-1975: Dân Biểu Quốc Hội, Chủ Tịch Ủy Ban Định Chế, Chủ Tịch Ủy Ban Canh Nông;

Sau 1975 cụ bị nhà cầm quyền Cộng sản cầm tù trong nhiều nhà giam khác nhau.

2006 Cụ là thành viên sáng lập và là Cố vấn của Khối 8406.

Về hoạt động giáo sự:

1967-1975: Cố vấn kiêm Đại Diện Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Gíao Hội Phật Gíao Hòa Hảo, Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo.

Từ tháng 02-2000 đến hiện nay: Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo Thuần Túy.

Tháng 12-2000, cụ cùng Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh và Linh mục Chân Tín, viết một bản lên tiếng phản đối chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Cộng sản, đòi hỏi nhà cầm quyền phải “tôn trọng quyền tự do tôn giáo thực sự của các tôn giáo, nhất là các quyền căn bản của các Giáo Hội. Các Giáo Hội phải được hoàn toàn độc lập và tự do trong việc lựa chọn, huấn luyện, chỉ định các chức vụ tôn giáo tùy theo nhu cầu của từng Giáo Hội”.

Tháng 2/2001, tại Huế, cụ Liêm gặp gỡ Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Thượng Tọa Thích Chân Trí, và cùng ba vị lãnh đạo tôn giáo này thành lập Hội Đồng Liên Tôn.

2013-1015 cụ cùng nhiều tu sĩ 5 tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành và Phật giáo Hòa Hảo đồng sáng lập Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Đến tận cuối đời cụ Lê Quang Liêm vẫn một lòng cùng vì nước vì dân theo Thầy giữ trọn Tứ Ân.

Nguyễn Quang Duy – Soạn

Melbourne Úc Đại Lợi

17-7-2015

USCIRF Urges President to Designate Vietnam as a CPC in Letter

Sunday, June 28th, 2015

1/21/10: USCIRF Urges President to Designate Vietnam as a CPC in Letter

FOR IMMEDIATE RELEASE
January 21, 2010WASHINGTON, D.C. – The U.S. Commission on International Religious Freedom sent the following letter to President Obama urging him to designate Vietnam as a “Country of Particular Concern.”

*****
January 6, 2010

President Barack Obama
The White House
1600 Pennsylvania Avenue, NW
Washington, D.C. 20500

Dear Mr. President:

We are writing today to respectfully ask your Administration to consider reviewing current policy regarding Vietnam. Human rights conditions in that country continue to deteriorate and the Vietnamese government has taken active steps to repress, intimidate, and imprison free speech, democracy, religious freedom, labor activists, and the lawyers who defend them. We urge the Administration to consider designating Vietnam as a “Country of Particular Concern” (CPC) under the International Religious Freedom Act of 1998 and signaling to Congress its support for quick passage of the Vietnam Human Rights Act (S. 1159/H.R. 1969). We believe these two measures will provide your Administration with the necessary tools, incentives, and funding to effectively advance U.S. interests in freedom and human rights in Vietnam.

In your inaugural address, you eloquently said that those who “cling to power through corruption and deceit and the silencing of dissent…are on the wrong side of history…we will extend a hand if you are willing to unclench your fist.” Though the U.S. and Vietnam share a tragic history, the U.S. has extended substantial trade benefits, development assistance, and humanitarian project funding to Vietnam in recent years. The U.S. granted Vietnam Permanent Normal Trading Relations in December 2006, paving the way for Vietnam to join the World Trade Organization. Over the past three years, however, Vietnam has imprisoned dozens of dissidents and taken steps to silence dissent and ban independent religious and human rights organizations.

The U.S. Commission on International Religious Freedom (USCIRF) and its staff have traveled to Vietnam five times since 2003, most recently in May 2009. Sadly, it is our belief that the human rights situation in Vietnam will deteriorate even more next year in advance of the 11th National Party Congress. Additional political, economic, and political incentives are needed at this time to advance vital U.S. interests and protect human rights.

It is our belief that the CPC designation is a flexible diplomatic tool that, when used previously for Vietnam, brought about some tangible results without hindering advances on other bilateral interests. We believe it can be used now with similar results. Targeted diplomatic action, when coupled with positive political incentives and possible economic sanctions, produced real human rights improvements in Vietnam. The current policy of quiet diplomacy and increased trade has not brought about the same results.

As a senator, you worked closely with USCIRF on Vietnam. In a letter to the previous Administration, you cited numerous cases of religious freedom and human rights abuses and asked that the State Department be a “strong voice on behalf of the human rights of the Vietnamese people.”

Designating Vietnam as a CPC and signaling support for passage of the Vietnam Human Rights Act is the type of strong voice needed at this time. We hope your Administration can establish clear policies and use all available diplomatic tools to support the hopes and aspirations of the Vietnamese people for both greater freedoms and prosperity.

Sincerely yours,

Leonard Leo
Chair

cc: Kurt M. Campbell, Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
Michael H. Posner, Assistant Secretary for Democracy, Human Rights and Labor
Samantha Power, Special Assistant to the President and Senior Director for Multilateral Affairs and Human Rights
Ambassador Jeffrey A. Bader, Special Assistant to the President and Senior Director for East Asian Affairs

Click here to view the pdf version of the letter.

USCIRF is an independent, bipartisan U.S. federal government commission. USCIRF Commissioners are appointed by the President and the leadership of both political parties in the Senate and the House of Representatives. USCIRF’s principal responsibilities are to review the facts and circumstances of violations of religious freedom internationally and to make policy recommendations to the President, the Secretary of State and Congress.

To interview a USCIRF Commissioner, contact Tom Carter, Communications Director at tcarter@uscirf.gov. This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it , or (202) 523-3257.

Source: http://www.uscirf.gov/index.php?option=com_content&task=view&id=2938&Itemid=1

Saturday, January 30, 2010

Nam Bắc Phân Tranh Sau 1975 – Nguyễn Tường Tâm



Thuyền nhân Việt Nam tại trại tị nạn Hồng Kông

Nguyễn Tường Tâm

Không ai có thể xóa bỏ một đoạn đời mà mình kiêu hãnh, vì thế sự ngăn cách của hai thế hệ trưởng thành sau 1954, đã từng, dù không hoàn toàn tự nguyện, tham gia vào cuộc chiến nam bắc phân tranh 1954 -1975 là một điều tự nhiên. 35 năm sau ngày đất nước thống nhất về mặt địa dư, không những sự phân cách trong lòng người vẫn còn mà đôi khi còn tiến tới sự phân tranh không kém mãnh liệt. Chính bởi thế ngay trong tập thể những người Việt bỏ nước ra đi trốn chế độ cộng sản cũng có sự phân tranh mãnh liệt giữa người Việt miền bắc và người Việt miền nam.Trong thời gian tôi ở trại tỵ nạn Màn Dìn ở Hồng Kông (1989), trong trại có xuất bản bản tin hàng tuần. Một hôm ban lãnh đạo hội cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trong trại mà chủ tịch là cựu thiếu tá Hùng, khóa 20 Võ Bị, hiện ở Nam Cali, cho người mời tôi tới họp khẩn. Khi tới nơi anh em cho biết trong số báo sắp ra tuần này có một bài của mấy người miền bắc chửi anh em cựu quân nhân VNCH và hỏi ý kiến tôi xem sẽ phải đối phó ra sao. Suy nghĩ một hồi tôi nói để tôi gặp ông đại diện cao ủy tỵ nạn nói chuyện với ông ta xem sao. Trong văn phòng cao ủy của trại, ngoài ông cao ủy còn thì nhân viên là thuyền nhân, trong đó có cả thuyền nhân miền bắc. Những thuyền nhân làm trên mấy văn phòng của trại hay văn phòng cao ủy đa số là thông dịch viên (interpreter). Thông dịch viên có thể nói là những “viên chức tỵ nạn cao cấp nhất” trong trại, là những người có ảnh hưởng rất lớn tới các chương trình của trại. Bởi thế mấy thông dịch viên người miền bắc mới đưa mấy bài chửi các cựu quân nhân VNCH vào tờ báo. Những thông dịch viên người miền nam không muốn (hay không dám) trực tiếp cá nhân đương đầu với mấy thông dịch viên miền bắc vì sợ đầu gấu miền bắc trả thù nên thông báo tin tức để hội cựu quân nhân có kế hoạch đối phó.

Hôm sau gặp đại diện cao ủy tỵ nạn, một thanh niên khoảng 30 tuổi người Anh, tôi đề cập tới vấn đề tờ báo thì ông cao ủy cho biết rằng Hồng Kông là xứ tự do, ngay cả cộng sản cũng được quyền hoạt động. Đã dự trù luận điểm này từ trước nên tôi lý luận rằng tôi đồng ý với ông là Hồng Kông là xứ tự do, nhưng trại tỵ nạn này là trại của những người tỵ nạn cộng sản và ngân sách của Liên Hiệp Quốc tài trợ cho những nạn nhân cộng sản. Sẽ thực là vô lý khi dùng ngân sách tỵ nạn cộng sản để nuôi cán bộ cộng sản và hỗ trợ các hoạt động của họ. Họ có thể hoạt động và vận động cho cộng sản ở Hồng Kông bên ngoài trại tỵ nạn cộng sản chứ không thể ở bên trong trại tỵ nạn cộng sản này. Ông đại diện cao ủy đuối lý và phải chấp nhận cho xé bài báo đó trước khi cho phát hành. Ngoài ra tôi còn yêu cầu ông phải cho một đại diện của người tỵ nạn miền nam làm phiên dịch trong ủy ban để kiểm soát các ấn loát phẩm trước khi cho phổ biến. Ông ta đồng ý và hội cựu quân nhân đã đưa cho tôi tên một cựu sĩ quan để đưa vào làm (dĩ nhiên có lương như chúng tôi).

Trước đó trong văn phòng cao ủy tỵ nạn vẫn có mấy thông dịch viên người miền nam nhưng họ không tham gia việc biên soạn bản tin của trại. Một yêu cầu thứ ba mà hội cựu quân nhân VNCH đề nghị tôi đòi hỏi là yêu cầu Cao Ủy Tỵ Nạn sa thải hai thông dịch viên người miền bắc đó. Dĩ nhiên đòi hỏi này không được ông cao ủy chấp thuận. Ngay khi nghe yêu cầu của anh em cựu quân nhân tôi đã thấy đòi hỏi này khó được chấp thuận vì vô lý nhưng tôi vẫn đưa ra với đại diện Liên Hiệp Quốc. Sau đó, cũng chiều ý ban đại diện hội Cựu Quân Nhân VHCH, tôi đề nghị đại diện Liên Hiệp Quốc cho di chuyển hai thông dịch viên đó sang khu vực hoàn toàn chỉ có người miền bắc, đối diện với khu vực hỗn hợp nam bắc của chúng tôi. Lý luận của tôi vừa hơi có tính cách đe dọa vừa có vẻ có thiện ý xây dựng là nếu không di chuyển hai thông dịch viên đó thì tôi e rằng sẽ có đổ máu cho hai anh đó và tôi không nghĩ là tôi có thể giúp giảm căng thẳng giữa hai phe trong trại.

Vị đại diện Liên Hiệp Quốc cho biết ông không thể di chuyển hai thông dịch viên đó nhưng ông sẽ cho hai thông dịch viên đó biết nguy cơ để tự quyết định. Mấy hôm sau vị đại diện Liên Hiệp Quốc gặp tôi cho biết ông ta đã thuyết phục nhưng hai thông dịch viên đó không chịu chuyển trại. Tôi hiểu rằng đây là thái độ của hai anh thách thức người miền nam. Và tôi cũng biết ngay rằng người miền nam trong trại không đủ hung dữ để thực hiện ý muốn bằng bạo động. Với thái độ lo ngại bất an trong trại, vị đại diện Liên Hiệp Quốc thuyết phục tôi rằng, “Ông hãy bảo với người miền nam của ông đừng bạo động. Lâu nay người miền nam các ông được tiếng là tốt, có cơ hội đi tỵ nạn. Trong khi như ông biết đấy, người miền bắc đâu có cơ hội tỵ nạn như các ông. Họ là những người xấu”. Nói tới đó tôi thấy đôi mắt ông long lanh như có nước. Tôi đã cộng tác và chứng kiến lòng tốt của nhiều người ngoại quốc trong khi giúp đỡ thuyền nhân Việt Nam tại Hong Kong, nhưng chính thuyền nhân Việt Nam lại chia rẽ, chém giết lẫn nhau. Đôi mắt long lanh như có nước của thanh niên trẻ người Anh này làm tôi xúc động, và hơi xấu hổ. Tôi nói với ông, tôi sẽ cố gắng nhưng tôi không bảo đảm kết quả.

Cách sống của người hai miền cũng cách biệt quá nhiều khiến chính quyền Hông Kông phải có chính sách tách biệt hai nhóm người để bảo vệ các thuyền nhân miền nam. Có lẽ trại tỵ nạn duy nhất ở Hồng Kông có một số nhỏ thuyền nhân miền bắc được cho ở chung với người miền nam trong một khu vực không có ngăn cách là trại Màn Dìn nơi tôi ở.

Trại Màn Dìn là một trại lớn có lẽ đứng thứ nhì sau trại White Head (trại Đầu Bạc). Tôi cũng nên kể thêm rằng sau này sang Mỹ, tôi mới biết trại Màn Dìn chính là trại có đoàn người khá đông từ San Jose, Hoa Kỳ, dẫn đầu bởi nhà báo Đỗ Văn Trọn và ca sĩ Mai Hân, theo bà Thanh Hải, dự định vào thăm các thuyền nhân nhưng không được vào trại nên đã ngồi ở trên đường dẫn vào trại để cầu nguyện cho thuyền nhân. Trại Màn Dìn có hai khu nam bắc riêng biệt với cổng an ninh ngăn cách. Khu miền Nam có 21 căn nhà, mỗi căn chứa khoảng 200 người. Cái khu miền nam này là khu vực duy nhất tại Hồng Kông có gần một nửa là người miền bắc ở chung với người miền nam mà không có hàng rào ngăn cách. Số người miền bắc được cho ở chung này kém về số lượng nên không gây ra đe dọa cho an ninh. Tuy nhiên cũng khiến người miền nam “hơi” lo ngại.

Đầu tiên là sự lo ngại bị thuyền nhân miền bắc cướp bóc, kể cả cướp bóc những giấy tờ quan trọng cho cuộc thanh lọc tỵ nạn. Sự lo ngại của thuyền nhân miền nam sau này cũng tới cực điểm khiến trại phải kêu gọi những ai có giấy tờ hay tài sản gì quý cần đưa trại giữ hộ thì mang nộp, khi nào cần thì lên lấy lại. Tuy hướng dẫn chung như vậy nhưng chủ đích chỉ nhằm bảo vệ thuyền nhân miền nam tránh sự cướp bóc của người miền bắc. Tình hình đe dọa cướp bóc căng thẳng tới độ trại phải cho cảnh sát mang bàn tới đặt tại từng căn nhà, ra lệnh mọi người ở nguyên chỗ ở của mình, rồi những ai có giấy tờ hay tài sản quý giá mang tới bàn nạp cho cảnh sát. Điều buồn cười là tuyệt đối không có thuyền nhân miền bắc nào có giấy tờ hay tài sản gì cần gửi cảnh sát, chỉ có thuyền nhân miền nam. Ngoài tài sản, cái mà thuyền nhân miền bắc muốn cướp của người miền nam là các giấy tờ tuỳ thân và các chứng minh bị cộng sản đàn áp của họ như giấy cựu quân nhân, giấy ra trại cải tạo v…v. Lúc bấy giờ với những giấy tờ chứng minh sự đàn áp đó thuyền nhân miền nam có nhiều hy vọng đi tỵ nạn hơn cho nên thuyền nhân miền bắc vì ganh tỵ, muốn cướp để thủ tiêu các giấy tờ đó để biến cơ hội đi tỵ nạn giữa thuyền nhân hai miền giống nhau.

Chính sách rõ ràng của Hồng Kồng là tách rời các thuyền nhân miền nam ra khỏi thuyền nhân miền bắc, nên tình trạng ở chung này chỉ là tạm thời chờ cho trại Đảo Bò, một hòn đảo hoang trước kia, được xây cất thành một trại khang trang có tên là trại Tai A Châu. Khi trại Tai A Châu được hoàn tất, lập tức Hong Kong cho chuyển người miền nam ra đó. Đó là trại dành riêng cho người miền nam. Vì người miền nam được tiếng có kỷ luật nên trại Tai A Châu cho phép thuyền nhân được ra khỏi trại đi chơi trên đảo hay ra bờ biển bất cứ lúc nào, dù là ban đêm.

Công việc chuyển khoảng bốn ngàn thuyền nhân miền nam từ trại Màn Dìn ra trại Tai A Châu phải từ từ trong khoảng một tuần. Để bảo đảm an toàn, họ khoanh vùng trong trại cho di chuyển từng khu vực nhỏ. Di chuyển theo lối cuốn chiếu, khởi đầu là từ bên trong cùng. Khi được gọi tên mang hành lý đi thì cũng có người được gọi tên trước, người được gọi sau. Khoảng cách nhiều lắm chỉ mấy tiếng đồng hồ thôi, nhưng những ai chậm được gọi cũng rất hoang mang hồi hộp, chỉ sợ bị người miền bắc thừa cơ hội người miền nam còn ít tới trấn lột, cướp bóc.

Cuối cùng cũng có một gia đình người miền Trung bị lọt danh sách. Gia đình này hiện đang ở San Jose. Có lẽ vì văn phòng trại tưởng đó là gia đình miền bắc. Đây là gia đình của một cựu sĩ quan cảnh sát miền nam. Ông ta cũng là một võ sư nổi tiếng ở Huế trước 1975. Khi các thuyền nhân miền Nam khác trong khu vực nhỏ của ông được gọi đi hết rồi, ông ta sợ quá không dám trở về chỗ ở nữa. Trong khi chờ đợi, mấy anh em miền nam đưa ông ta tới chỗ tôi ở để họp về trường hợp của ông. Chúng tôi quyết định một mặt liên lạc với đại diện Liên Hiệp Quốc để cho gia đình ông ấy đi trong cùng đợt với những người đã được gọi tên, một mặt tôi bảo ông ấy cứ ở gần chỗ với tôi thì không đến nỗi nào nguy hiểm bởi vì ít ra là trên cái giường ba tầng của gia đình tôi cũng đã từng tiếp nhiều anh chị em miền bắc.

Một lần, có lẽ vào năm 1991, tất cả anh chị em miền bắc thấy cơ hội đi tỵ nạn của họ có vẻ khó khăn đã quyết định biểu tình. Ban chỉ đạo biểu tình kéo tới chỗ gia đình tôi họp để hỏi ý kiến, vì trong đời họ chưa bao giờ thấy một cuộc biểu tình nào, nên họ không biết làm thế nào để tổ chức một cuộc biểu tình. Tôi cũng nhìn thấy một mối nguy về an ninh cho người miền nam là người miền bắc cảm thấy bực bội với người miền nam vì người miền nam thờ ơ với ý muốn biểu tình của họ. Bà vợ tôi thấy tình hình bắt đầu có vẻ hơi căng thẳng như vậy nên bảo nhỏ với tôi không nên liên hệ với công việc chuẩn bị biểu tình của người miền bắc. Vợ tôi nói, biểu tình thì người miền bắc có đánh gia đình mình đâu mà anh cần tham gia. Tôi bảo vợ tôi đừng sợ. Thứ nhất, nếu tôi không giúp họ thì ai giúp? Thứ nhì, nếu tôi không giúp họ thì thế nào cũng đi tới căng thẳng có thể đổ máu giữa hai nhóm người nam, bắc vì một bên cần biểu tình, một bên không.

Tôi phải giải thích cho người miền bắc: Mục tiêu, đối tượng và phương cách biểu tình cũng như là những việc cụ thể cần làm trước, trong và sau khi biểu tình. Tôi giải thích cho họ về mục tiêu biểu tình là đánh động dư luận qua giới truyền thông, báo chí. Đối tượng là giới truyền thông, báo chí chứ không phải ban chỉ huy trại, như vậy không có gì phải bạo động cả. Dĩ nhiên là giới truyền thông không được vào trại nhưng họ sẽ đứng trên con đường ở đỉnh núi dẫn vào trại và họ trông thấy cuộc biểu tình. Ngoài ra ban chỉ đạo biểu tình phải viết một thỉnh nguyện thư gửi cho đại diện Liên Hiệp Quốc. Thỉnh nguyện thư này cũng sẽ được chuyển ra ngoài cho giới truyền thông. Họ hỏi tôi trong lúc biểu tình thì phải làm gì. Mặc dù đã biết trước là trong đời người miền bắc chưa bao giờ biểu tình nhưng tôi vẫn thấy buồn cười trước câu hỏi này. Tôi phải nói với họ rằng đâu có làm gì ghê gớm đâu, chỉ cần kéo dài thời gian biểu tình và trong suốt thời gian đó đoàn người chỉ hô lớn những đòi hỏi thôi. Tiếp đó họ nêu vấn đề là họ sợ rằng người miền nam trong trại sẽ không tham gia biểu tình với họ. Tôi giải thích cho họ biết rằng, trong xã hội tự do, chỉ những ai có quyền lợi hay quan tâm tới vấn đề họ mới biểu tình thôi. Trong trường hợp này vì người miền nam sẽ được chấp nhận cho đi tỵ nạn hết (đó là chính sách của Liên Hiệp Quốc vào thời điểm đầu của cuộc thanh lọc vào khoảng 1991) cho nên họ không có lý do gì để tham gia thì quý anh chị cũng đừng bận tâm. Nếu không có sự giải thích trước như vậy thì chắc chắn chuyện người miền bắc muốn biểu tình, người miền nam không muốn sẽ đưa tới chém giết đổ máu. Với sự giúp sức của tôi, cuộc biểu tình của anh chị em miền bắc tại trại Màn Dìn diễn ra êm đẹp, không có người miền nam tham dự nhưng không có đổ máu giữa hai bên. Trong khi ở nửa trại bên kia, số thuyền nhân miền bắc đông hơn nhưng không tổ chức biểu tình được vì không có người miền nam giúp sức góp ý. Bây giờ nghĩ lại, tôi không biết đó có phải là cuộc biểu tình đầu tiên của thuyền nhân miền bắc tại Hông Kông hay không?. Trước đó dường như thuyền nhân miền bắc chỉ biết bạo loạn chứ không biết biểu tình.

Ngày đầu tiên, 21 tháng 6-1989, cũng như mọi thuyền tỵ nạn khác, thuyền của tôi được cảnh sát Hông Kông kéo vào đậu trong bãi tỵ nạn có tên là Đảo Bò. Đây là một trong đám đảo nhỏ. Trước kia được chủ nhân dùng để nuôi heo và bò cho nên thuyền nhân chúng tôi gọi là Đảo Bò. Tên thực của đảo là Tai A Châu. Vào tháng 6/1989, đây là trại tiếp nhận đầu tiên trong khi chờ chính quyền sắp xếp đủ chỗ chứa trong đất liền. Vì số người Việt tỵ nạn tới mỗi ngày không dưới 300 người nên trong đất liền Hông Kông không xây kịp chỗ chứa. Những người mới tới thường phải ở đây khoảng 2 tuần lễ. Ngay lúc vừa được cảnh sát đưa mấy người đại diện thuyền lên bờ làm thủ tục nhập trại, tôi đã thấy thuyền cấp cứu chở đi bệnh viện một nạn nhân bị cướp bởi chính thuyền nhân khác. Sợ quá, suy nghĩ một hồi tôi quyết định liều đứng dậy yêu cầu chính quyền trại bảo vệ. Tôi nói với người mà sau này tôi biết là trung sĩ nhất thường vụ quản lý trại rằng: “Tôi là một sĩ quan miền nam, tôi có khả năng tự vệ chống lại cướp, nhưng đây là Hồng Kông, một xứ sở có luật pháp nên tôi phải tôn trọng luật pháp Hồng Kông và tôi yêu cầu được bảo vệ tránh bị cướp như trường hợp vừa rồi”. Ông ta nhìn tôi mặt lạnh như tiền. Tôi thấy “không ăn” rồi. Ngay lập tức tôi quyết định lập lại yêu cầu nhưng cố nhét làm sao để có chữ “Quân đội Hoa Kỳ” (US Army). Tôi nói tiếp, “Tôi là cựu sĩ quan liên lạc của quân đội Hoa Kỳ” và lập lại yêu cầu. Khi nghe tới chữ US Army tôi thấy mắt ông ta nhấp nháy, tôi biết là “ăn tiền”. Ông ta nhìn tôi từ đầu tới chân rồi bảo tôi ở lại trong khi mấy người đại diện của các thuyền kia được đưa trở lại thuyền của họ. Thực sự tôi biết có cái chức “sĩ quan liên lạc” (liason officer) là trước kia trong thời gian ở bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 1, tôi có thời gian ngắn được gửi sang bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn 1/5 Cơ Giới Hoa Kỳ (1/5 Mechanized Division) để làm sĩ quan liên lạc hành quân.Toàn bộ 25 người thuộc ba gia đình trên con thuyền của tôi được đưa vào một khu biệt lập hẳn với mấy ngàn thuyền nhân khác. Khu vực này có những dẫy chuồng heo, và thuyền nhân được cho ở trong mấy cái chuồng heo đó. Cũng giống như ở nhà quê Việt Nam, mỗi chuồng heo vuông vức mỗi cạnh khoảng 4 m. Trong đó còn dấu vết của máng ăn, rãnh nước để rửa chuồng, chỗ hốt phân heo. Cứt heo và cám heo vẫn còn. Chúng tôi phải lấy nước rửa chuồng heo để ở. Thỉnh thoảng vẫn thấy những con dòi bò cạnh chỗ nằm. Nhưng dù sao cũng hơn mấy ngàn thuyền nhân khác là chỗ này còn có mái che là mái chuồng heo. Tới nơi tôi thấy toàn bộ thuyền nhân người Việt gốc Hoa đã ở trong khu vực này. Tất cả những thuyền nhân Việt gốc Hoa đều được cho ở riêng để bảo vệ. Ngay khi vừa rời Việt Nam, giữa người Việt và người Việt gốc Hoa đã có sự chia rẽ rồi, cho dù là họ sinh đẻ đã nhiều đời tại Việt Nam. Thuyền chúng tôi là những người miền nam duy nhất được bảo vệ chung với người Việt gốc Hoa. Một kỷ niệm nho nhỏ. Chỗ chuồng heo đó là chỗ duy nhất các phái đoàn hay phóng viên báo chí tới thăm đảo có thể tới gặp thuyền nhân để làm phóng sự, phỏng vấn. Những chỗ khác toàn là rừng hoang nên các đoàn khách đâu biết đường đi mà tới thăm được. Một hôm có một cô người nhỏ nhắn, xinh xinh, trạc ba mươi tuổi tới phỏng vấn thuyền nhân. Cô ta giới thiệu là làm cho chương trình Việt Ngữ đài BBC. Tôi ngưỡng mộ lắm. Vì từ trong tù cải tạo tôi đã ước mơ được làm cho đài BBC hoặc VOA. Lúc đó chỉ là một ước mơ viển vông thôi. Nhưng đời có ai ngờ nếu mình cứ mơ những giấc mơ “viễn vông” và cố thực hiện nó thì cũng có cơ may thành đạt. Còn hơn là không mơ gì cả. Thế là 10 năm sau, 1989-1999, sau thời gian học đại học Hoa Kỳ, tôi đã trúng tuyển vào ban Việt Ngữ đài VOA và sang thủ đô Washington làm việc trong một toà building lớn có vài ngàn nhân viên ở cạnh trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ.

Trên đảo ngoại trừ vài kiến trúc của chủ đảo mà cảnh sát đang xử dụng để quản lý trại không có một kiến trúc nào khác. Trừ một số nhỏ nằm trong các chuồng heo cũ, tất cả thuyền nhân phải căng lều nằm ngoài trời. Lều do trại phát. Những ngày sau đó tôi chứng kiến 100 phần trăm tất cả những thuyền nhân mới tới đảo đều bị người miền bắc cướp. Cướp khủng khiếp tới độ gần như công khai mà cảnh sát không làm gì được vì nạn nhân không dám khai báo và làm nhân chứng.

Người miền bắc chiếm đa số trong tổng cộng khoảng 6 ngàn người trên đảo. Họ tự động phân chia ra ở từng khu vực riêng rẽ: Khu Hải Phòng, khu Đồ Sơn, khu Hà Nội, khu Quảng Ninh. Dân miền bắc khác địa phương cũng không sống hợp nhất với nhau. Tôi không biết trước khi người cộng sản chiếm miền bắc năm 1954 thì người miền bắc có óc kỳ thị địa phương nặng nề như thế không. Nhóm nào đông thì nhóm đó chế ngự trại. Nhóm Quảng Ninh là đông nhất, có nghĩa là mạnh nhất. Thời gian tôi vừa tới trại thì cũng là lúc còn dư âm của anh chàng Hoa Hùng, một xếp đầu gấu người miền bắc vừa được chuyển vào đất liền. Hoa Hùng đi thì không có tay nào làm trùm của trại mà có nhiều băng nhóm nổi lên theo danh xưng địa phương. Mỗi băng nhóm hùng cứ một khu vực. Người Việt gốc Hoa, vì biết tiếng Hoa để giải thích với trại nên họ được bảo vệ ở một khu vực riêng ngay khi mới tới. Riêng người miền Nam thì không ai bảo vệ và cũng không có nhóm đầu gấu nào để đương đầu với các nhóm đầu gấu miền bắc. Người miền nam hiền quá và trở nên một cộng đồng bơ vơ giữa một xã hội không luật lệ.

Hai tuần lễ sau, khi gia đình tôi và một số người vừa được chuyển tới trại khác thì tại trại Đảo Bò xẩy ra bạo động làm rung động Hồng Kông và xấu mặt người Việt Nam. Cuộc bạo động gây ra bởi người miền bắc. Cuộc bạo động không lý do nhưng mức độ khiến các thuyền nhân người Việt gốc Hoa và miền nam ghê sợ và người Hồng Kông khinh bỉ. Người miền bắc chiếm trại, chiếm các kho thực phẩm. Cảnh sát Hồng Kông phải rút ra khỏi đảo. Kể từ lúc đó người miền bắc hoàn toàn làm chủ trên đảo và họ tự do cướp bóc, hãm hiếp.

Trong bài báo “Vietnam Refugees Riot in Hong Kong” do BARBARA BASLER, viết đặc biệt cho tờ The New York Times xuất bản ngày mùng 3 tháng 9-1989, tác giả đã viết, “HONG KONG, Sept. 2— Chủ nhật tuần trước, 1,000 người Việt nam đã bạo động trên đảo Tai A Châu, và mặc dù đã xử dụng hơi cay, một toán nhỏ cảnh sát tại đó đã không thể phục hồi được an ninh và buộc phải rút ra khỏi đảo. Sau một đêm bị tấn công, cướp bóc và 5 vụ hãm hiếp, hòn đảo, nơi có 5,500 người Việt nam bị tạm giữ, đã được cảnh sát chiếm lại khi các phi cơ trực thăng chuyển hơn 350 cảnh sát chống bạo động tới. Cảnh sát đã bắt 12 người và một người bị truy tố tội hãm hiếp. Đảo không có điện, không chỗ đi tiêu tiểu … Các thuyền nhân phải sống trong những lều tạm, giữa các đống rác và phân người … Các giới chức nói, “Trật tự hoàn toàn bị tan vỡ.”

Bản tin vắn tắt đã thấy rùng mình. Nhưng sẽ rùng mình hơn khi đã từng ở đó và may mắn được ra đi trước đó không lâu rồi được nghe chính những bạn bè, người quen của mình thuật lại ngay sau biến cố đó. Sau này mấy người miền nam kể lại với tôi rằng khi đổ quân vào tái chiếm lại đảo, cảnh sát chống bạo động và đại diện Liên Hiệp Quốc đã tìm cách cứu những người Việt gốc Hoa và người miền nam ra khỏi đảo trước. Cuộc giải cứu như giải cứu con tin bị bắt cóc. Có lẽ người đầu tiên được giải cứu là cựu thiếu tá Sơn, cựu giảng viên trường Võ Bị Đà Lạt. Lý do trại biết tới ông Sơn là vì ông làm phiên dịch cho một cơ quan thiện nguyện và cảnh sát cũng cần những người như ông để phân biệt đâu là người miền nam. Trên đường tiến vào chiếm trại, cảnh sát gọi đích danh để tìm kiếm ông Sơn và những thông dịch viên khác. Người Việt gốc Hoa thì được giải cứu hầu như toàn bộ vì họ nói được tiếng Hoa. Người miền nam thì được giải cứu ít thôi vì cảnh sát không phân biệt được ai là người miền nam, ai là người miền bắc. Chỉ những người được các phiên dịch viên như ông Sơn xác nhận, hay biết tiếng Anh để tự giới thiệu thì mới được cho lên thuyền cấp cứu rời đảo. Người miền bắc tuyệt đối không được cho lên thuyền cấp cứu.

Bản tin cho biết cảnh sát có bắt một số nghi can nhưng tôi biết rồi những người này cũng sẽ được thả ra ngay sau đó bởi vì luật lệ Hồng Kông rất là văn minh, dân chủ, muốn kết tội một người thì phải có đầy đủ bằng chứng, cần rất nhiều thời gian điều tra, với lời khai của rất nhiều nhân chứng. Thì giờ và ngân quỹ đâu mà họ điều tra và nạn nhân nào giám khai báo khi trong trại băng đảng bạn bè và thân quyến của nghi can còn đầy rẫy. Bản tin nói rằng có 5 vụ hãm hiếp. Nhưng bạn bè tôi cho biết những cuộc hãm hiếp nhiều hơn như thế nhiều lần. Họ còn nói rằng phụ nữ Việt gốc Hoa thì bị hãm hiếp gần như 100 phần trăm. Phụ nữ miền nam thì bị hiếp ít hơn. Nhưng tất cả các phụ nữ đều sợ hãi phải làm cho đầu tóc bù xù, bôi đất lấm lem lên mặt cho xấu đi. Người phụ nữ bạn với gia đình tôi trong tấm hình dưới đây đã thuật chị phải bôi mặt cho lem luốc, xấu đi hầu thoát nạn. Chị tên là Đinh Thị Thu Vân, hiện ở Hoa Kỳ.Cuộc chiếm đảo của đầu gấu miền bắc còn man rợ hơn nữa khi mấy ngày sau cảnh sát Hồng Kông phát hiện ra sự kiện là người miền bắc còn đi “ị” cả vào mấy bồn chứa nước ăn cung cấp cho chính thuyền nhân.

Những hành động và cung cách sống như vậy khiến các người ngoại quốc cũng như viên chức Hồng Kông hoạt động trong trại đánh giá thuyền nhân miền bắc thấp hơn thuyền nhân miền nam thật nhiều.

Sau hai tuần ở Đảo Bò, gia đình tôi cùng với 1,600 người khác được chuyển tới trại Thuyền Châu. Trại này cũng vẫn là tạm thời để chờ trong đất liền xây xong trại mới. Trại Thuyền Châu gồm bốn cái phà nhỏ, mỗi cái chứa được 400 người. Vì thế thuyền nhân gọi đây là trại Phao Nổi. Diện tích dành cho mỗi gia đình thật hẹp. Gia đình tôi 6 người được một diện tích bằng một chiếc chiếu nhỏ. Chỉ đủ chỗ cho vợ chồng tôi nằm ôm thùng quần áo. 4 đứa con và cháu phải mắc võng nằm ngay sát trên mặt vợ chồng tôi. Chúng tôi sống như thế trong bốn tháng.

Các phao này được để cặp bờ một đảo rất nhỏ cách đất liền Hồng Kông một eo biển hẹp có thể bơi qua dễ dàng. Eo biển này là đường lưu thông nườm nượp của các chiếc tầu cao tốc nối liền Hông Kông và Macau. Nhưng mỗi buổi tối, đều có những toán thanh niên miền bắc bơi vào đất liền đi ăn cắp đồ ở Hồng Kông. Liên Hiệp Quốc và cảnh sát Hồng Kông biết nhưng họ khuyên răn thiếu điều muốn năn nỉ rằng: “Xin quý vị đừng bơi như thế, rất là nguy hiểm cho mạng sống của quý vị”. Thế nhưng các đầu gấu với sự hỗ trợ của chính gia đình họ đã hàng đêm thực hiện những phi vụ phạm pháp như vậy. Những vụ trấn lột diễn ra hàng ngày nhưng cảnh sát không làm gì được vì nạn nhân không dám khai báo. Đầu gấu trừng phạt nhau mỗi đêm. Chúng để đối phương đứng ở giữa, chúng đứng vòng tròn xung quanh. Kẻ thù bị đánh, đá văng từ bên này sang bên kia. Chúng không cho ai đứng xem. Nạn nhân bị đánh gần chết được trực thăng chở đi cấp cứu trong đất liền mà khi trở về trại không ai dám chỉ hung phạm.

Trong hoàn cảnh ghê gớm đó người miền nam chỉ biết im lặng chịu đựng. Ngay gia đình tôi có một thùng bìa nhỏ, trước là thùng đựng cơm hộp do trại phát, nay gia đình tôi dùng để đựng quần áo vớ vẩn (thuyền nhân còn có gì hơn ngoài mấy bộ áo quần trại tiếp tế) nhưng bọn đầu gấu tưởng gia đình tôi có vàng nên một đêm vợ tôi ngủ say chúng cũng lấy được. Nếu thức giấc mà thấy chúng ăn cắp đồ của mình thì cũng chỉ cười trừ thôi chứ la lên thì cũng chẳng có ai tiếp cứu mà không khéo chúng lại đập cho vỡ sọ.

Tình hình phân chia nam bắc trong các trại tỵ nạn ở Hông Kông trầm trọng tới độ họ đối xử với nhau như hai dân tộc khác nhau. Người miền bắc hiếp đáp người miền nam. Người miền nam khiếp sợ người miền bắc. Sau khoảng hai tháng ở trại phao nổi, trong đất liền có một số chỗ, trại xắp xếp đưa số người miền nam tách rời khỏi số miền bắc. Nhưng họ phải làm kín đáo để người miền bắc đừng bạo động. Sáng hôm chuyển trại, họ bảo tất cả các thuyền nhân mang hết đồ đạc tập trung trên sân để nghe đọc danh sách chuyển trại vào đất liền. Nghe thấy vậy ai cũng vui mừng. Trại làm rất dân chủ. Khi được gọi tên họ hỏi thuyền nhân có muốn chuyển trại không? Ai mà không muốn sớm được vào một trại nào đó trong đất liền để có cuộc sống ổn định hơn. Đến khi gọi được nửa số người rồi thì người miền bắc đã biết ngay đó là kế hoạch trại cho di chuyển người miền nam đi trại khác tách biệt với người miền bắc. Họ ngồi buồn so trong khi những người miền nam có tên được gọi đi thì tay xách nách mang khuôn mặt hí hửng.

Gia đình tôi được gọi lên sau cùng. Họ cũng hỏi tôi có muốn chuyển trại không. Tôi trả lời “Không!”. Ngay sau đó gia đình tôi mang hành trang trở lại ngồi với nhóm miền bắc để ở lại phao nổi. Nhìn thấy gia đình tôi mang đồ trở lại ngồi với toán người miền bắc, tất cả các cặp mắt đều đổ dồn về gia đình tôi. Người miền nam không hiểu tại sao gia đình tôi lại chọn ở lại. Người miền bắc thì thấy vui mừng. Ít ra họ cũng thấy đỡ cô đơn vì còn có một gia đình miền nam ở lại với họ.

Sáng hôm sau, trong chuyến tầu đầu tiên đưa nhân viên từ đất liền ra làm việc, anh cán sự xã hội Hùng trông thấy tôi còn ở trại tròn mắt ngạc nhiên. Nhưng anh không dám hỏi tôi vấn đề đó giữa lúc tôi đang đứng với đông người miền bắc, anh bèn mời tôi vào văn phòng của anh đặt trong một thùng sắt chuyển hàng (container). Hùng là cựu trung úy Thủy Quân Lục Chiến Trần Như Hùng của VNCH, định cư tại Úc, tình nguyện sang phục vụ giúp dân tỵ nạn Hồng Kông. Một lần tôi hỏi Hùng tại sao lại sang tình nguyện công tác tại Hồng Kông thì Hùng làm tôi cảm động và kính trọng, “Ông hỏi thế thì coi thường tôi quá!”. Vào văn phòng, anh cẩn thận đóng kín cửa rồi hỏi tôi: “Sao ông còn ở lại?”. Tôi cho biết, tôi mà đi nữa thì số gần một ngàn rưởi thuyền nhân miền bắc này ai giúp đỡ họ, họ không nói được tiếng Anh thì trại làm sao làm việc với họ. Hùng hỏi tiếp, “Thế ông không sợ họ sao?”. Tôi trả lời, “Tôi ở lại giúp họ thì làm sao họ lại hại tôi?”. Ngày nay Hùng lấy bút hiệu Quốc Việt đang làm trưởng ban Việt Ngữ của đài phát thanh SBS Radio của chính phủ Autralia tại Melbourne. Có một lần Hùng chụp cho tôi một tấm hình tôi ngồi giữa đám thanh niên đầu gấu miền bắc. Tôi cười nói đùa, đây là tấm hình đặc biệt lắm đó nghe. Mới đây, Hùng liên lạc được với tôi và nói sẽ cố tìm lại tấm hình đó gửi cho tôi nhưng cuối cùng anh tìm không ra.

Như tôi đã trình bày, vì muốn bảo vệ người miền nam nên Hồng Kông có chính sách tách rời thuyền nhân miền nam khỏi người miền bắc. Nhưng tình hình đặc biệt thiếu người phiên dịch tại trại Thuyền Châu khiến trại phải hội ý với tôi. Thực sự ra nếu chỉ cần một người phiên dịch thì trại có thể thuê ở ngoài vào một cách dễ dàng. Nhưng qua thời gian giúp trại một cách thiện nguyện, trại biết tôi là người có thể giúp họ liên lạc với thuyền nhân miền bắc một cách hữu hiệu nên trại muốn tôi ở lại. Nhưng họ không thể bảo vệ an ninh cho tôi nên họ không giám trực tiếp yêu cầu tôi ở lại vì lỡ có chuyện gì xảy ra cho tôi thì ai chịu trách nhiệm. Trại chỉ mật bàn hỏi tôi làm cách nào để chuyển người miền nam ra đi một cách an toàn, không sợ người miền bắc có cảm tưởng bị bỏ rơi mà nổi loạn.

Đồng thời họ cho tôi biết là nếu người miền nam đi hết thì không có ai phiên dịch cho người miền bắc, họ sẽ rất khó điều hành trại. Trước tình hình đó tôi cho họ biết tôi sẵn sàng ở lại để giúp trại điều hành. Tôi nói với trại rằng người miền bắc cũng là đồng bào của tôi, tôi phải giúp họ nếu cần thiết. Cho nên toàn bộ kế hoạch di chuyển số người miền nam hôm đó hoàn toàn do tôi đề nghị. Cái kế hoạch chuyển trại mau lẹ và an toàn đó tôi học được trong nhà tù cải tạo. Mỗi lần người cộng sản di chuyển tách rời một số tù cải tạo chúng tôi đi trại khác thì họ không cho biết ai đi ai ở, và sẽ đi đâu. Họ cứ kêu tất cả mang hết hành trang lên sân ngồi chờ. Rồi ai được gọi tên thì người đó ôm hành trang đứng sang khu vực khác.

Tại trại Phao Nổi (Thuyền Châu), công việc chính thức thiện nguyện của tôi là phiên dịch bệnh xá dưới quyền của một bác sĩ trẻ người Anh. Mỗi ngày ông ấy từ trong Hồng Kông ra khám bệnh cho thuyền nhân. Bệnh xá do tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới của Âu châu phụ trách (Medecins Sans Frontières). Các thuốc men rất tốt và đầy đủ và mỗi ngày có một chuyến tầu đưa thuyền nhân có bệnh nặng vào bệnh viện tối tân của Hồng Kông điều trị. Khi cấp cứu sẽ có tầu cao tốc hoặc trực thăng chở bệnh nhân tới bệnh viện trong đất liền. Thuyền nhân được chữa trị tại bệnh viện y hệt như mọi người Hồng Kông giầu có nhất. Có thể nói, trên mọi lãnh vực, Hồng Kông là thiên đường của người Việt tỵ nạn. Nhưng vấn đề này sẽ được đề cập tới trong một loạt bài khác. Một điều đáng xấu hổ là tất cả các trường hợp cấp cứu bằng tầu cao tốc hay trực thăng trong thời gian tôi công tác toàn là nạn nhân của những vụ đâm chém, cướp bóc của đầu gấu miền bắc.

Người miền bắc dường như cũng không quen tôn trọng luật pháp và kỷ luật. Ngày nào cũng có một đoàn dài người xếp hàng chờ khám bệnh xin thuốc, mà chỉ xin thuốc trụ sinh thôi, trong khi họ không có bệnh gì cả. Mặc dù bác sĩ đã giải thích, kêu gọi mọi người không cần xin thuốc dự trữ vì ở bệnh xá luôn luôn đủ thuốc tốt và khi cần sẽ đưa đi cấp cứu trong bệnh viện trong đất liền. Nhưng lời giải đáp, kêu gọi hàng ngày đó vẫn không hữu hiệu. Mỗi ngày hàng đoàn người vừa xếp hàng, vừa chen lấn, xô cả cửa của phòng khám khiến ngay vị bác sĩ cũng phải lúc thì đứng chèn cửa, ngăn không cho đoàn người tràn vào, lúc thì ngồi xuống khám bệnh. Tôi nói với bác sĩ là tôi không giúp gì được ông ta trong việc giữ cửa ngăn chặn sự chen lấn bạo động của thuyền nhân vì họ sẽ đánh cả tôi. Một thời gian sau, quá sức mệt mỏi bởi tình trạng vô kỷ luật của thuyền nhân miền bắc tôi phải xin bác sĩ cho tôi nghỉ việc. Mấy ngày đầu ông ấy tới làm việc vẫn kêu tôi lên giúp vì không có phiên dịch. Sau đó tôi sợ quá phải viết cho ông ấy miếng giấy như van xin, ““Please! Please!” đừng gọi tôi lên nữa vì tôi sợ quá không thể tiếp tục giúp ông được”. Sau đó ông ta phải thuê phiên dịch từ ngoài Hông Kông vào mỗi ngày.

Từ ngày cặp thuyền vào trại hoang dã là Đảo Bò cho tới khi rời khỏi trại tỵ nạn ở Bataan, Phi luật Tân, tổng cộng 3 năm 8 tháng, trong số những người hoạt động thiện nguyện lúc đầu, sau đó được Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc trả trợ cấp 180 đô Hồng Kông, tương đương 25 đô Mỹ một tháng, có thể nói tôi là người miền nam duy nhất có quan hệ thân thiết với người miền bắc. Hầu như tất cả mọi người miền nam đều tránh né người miền bắc. Có giao thiệp thì cũng chỉ là bề mặt, xã giao, thiếu cái thân tình. Riêng duy nhất tôi thì không. Tại sao vậy ? Thứ nhất, trong tận cùng suy nghĩ, tôi luôn luôn thấy rằng sự quảng giao là tấm áo giáp bảo vệ mình trong mọi tình huống. Thứ nhì, tôi là người bản chất khá cởi mở, không thành kiến. Tôi có thể và thích giao du với người của mọi miền, mọi giới khác nhau, từ dân sự tới quân đội, từ người trí thức tới những tay anh chị. Thêm nữa, tôi gốc người Hà Nội 1954 nên dễ tiếp cận với người miền bắc.

Chính nhờ lúc nào tôi cũng có mối quan hệ thân thiện với người miền bắc, được họ thương mến, kính trọng, tin tưởng, mà trong tất cả những trại tôi ở có thể nói tôi là người duy nhất giúp tránh được các xô xát có thể đưa tới đổ máu tập thể như đã từng xảy ra rất nhiều lần ở những trại khác. Đó là một đóng góp âm thầm mà không ai biết trừ bà vợ tôi. Chưa đổ máu thì làm sao mà biết ai là người đã giúp ngăn chặn những chuyện đó từ trong trứng nước. Đóng góp đó quan trọng cho một tập thể có khi tới bẩy ngàn người. Và thành thực mà nói, đóng góp đó quan trọng cho cả chính gia đình tôi. Đôi khi nghĩ lại tôi thấy cũng vui và cũng nhớ khá nhiều những anh chị em miền bắc có gắn bó tình cảm với tôi, kể cả bảo vệ tôi. Không kể những lần điện thoại thăm hỏi, tôi và vợ tôi đã một lần tới Canada thăm một gia đình miền bắc và họ còn hẹn kỳ tới trước khi sang chúng tôi nên báo trước để họ liên lạc rủ các anh chị em khác tới gặp vợ chồng tôi cho vui.

Như là một quy luật, để giải quyết những mâu thuẫn xã hội, điều hữu hiệu nhất là giải quyết sau hậu trường, dựa vào sự thân thiết cá nhân trước khi mâu thuẫn bùng nổ. Ngay cả trong chính trường quốc gia hay quốc tế, cá tính của người lãnh đạo và cảm tình họ dành được đối với quần chúng cũng làm giảm căng thẳng chính trị quốc nội và quốc tế. Mầu da và cách cư xử của tổng thống Obama đã giúp giảm căng thẳng và gia tăng thân thiện giữa Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Phi châu và nam Mỹ đã là một ví dụ sinh động. Một khi mâu thuẫn đã nổ ra rồi thì nắm lại tình hình rất khó và chắc chắn sẽ có nhiều tổn thất. Tại trại tị nạn Bataan ở Philipines, một buổi tối một đầu gấu miền bắc gặp tôi nói rằng nghe nói tối hôm trước anh em cựu quân nhân miền nam có cuộc họp định tấn công anh em miền bắc, em muốn hỏi anh xem có đúng không. Nếu đúng như vậy thì bọn em sẽ tấn công trước. Đây là một câu hỏi nhưng cũng là một đe dọa họ mượn tôi chuyển tới anh em miền nam. Dĩ nhiên câu hỏi đó được tôi giải toả dễ dàng.

Người miền bắc dường như có thói quen hành động không theo kỷ luật. Một lần tại trại Phao Nổi, không biết làm sao mà ban chỉ huy trại mang cơm từ trong đất liền ra chậm. Gần như tất cả hơn một ngàn người miền bắc lên biểu tình ngay tức khắc. Không có người miền nam. Nhưng họ không biết cách biểu tình, mà cũng chẳng ai trong số đó biết tiếng Anh để tiếp xúc thảo luận với trại. Họ chỉ còn một cách là dàn hàng ngang ném đá tấn công ban chỉ huy trại. Ban chỉ huy trại là những người dân sự có lẽ thuộc sở xã hội. Họ không hiểu tại sao mà thuyền nhân lại dữ tợn như vậy và họ sợ quá cố thủ trong khu vực ban chỉ huy có hàng rào kẽm gai. Thấy nguy cấp tôi đi lên yêu cầu đồng bào miền bắc dừng ném đá để tôi vào thương thuyết với trại. Khi vừa thấy tôi, mấy người trong ban chỉ huy trại nói ngay: Tôi chờ ông từ nẫy tới giờ. Tôi cho ban chỉ huy trại biết là thuyền nhân họ muốn được phát cơm ngay không chậm trễ và ban chỉ huy trại đồng ý sẽ gọi máy vào đất liền yêu cầu chuyện đó. Chuyện thật đơn giản.

Không quen thuộc với pháp luật và luật lệ của trại nhưng người miền bắc quen thuộc với kỷ luật của đầu gấu, của mafia.

Trong các trại cấm (closed camp) ở Hồng Kông, trại Whitehead (Đầu Bạc) là trại lớn nhất chứa gần 30,000 người, trong đó đại đa số là thuyền nhân miền bắc. Dĩ nhiên thuyền nhân hai miền được cho ở riêng có hàng rào và các con đường ngăn cách xa nhau. Trong khu miền nam tôi không nghe nói có đầu gấu hay du đãng, ăn cướp.

Tình hình ở khu vực thuyền nhân miền bắc thì trái lại: các đầu gấu hoàn toàn cai trị. Đây là một nét rất đặc thù của cộng đồng thuyền nhân miền bắc. Chính bởi thế, tôi nghe nói, trong trại miền bắc rất là ngăn nắp, kỷ luật và sạch sẽ, cái ngăn nắp, kỷ luật của một chế độ độc tài. Trong khi trại miền nam thì rất là vô tổ chức và rác rến vứt bừa, bản chất của chế độ dân chủ. Trại có trả một trợ cấp nhỏ cho một số thuyền nhân làm lao công dọn vệ sinh hàng ngày. Nói về kỷ luật và sạch sẽ thì cảnh sát rất thích trại miền bắc. Tại những trại đó thuyền nhân không nghe lệnh đầu gấu thì nhừ đòn.

Các người miền bắc đi làm việc cho trại như thông dịch, giáo viên, vệ sinh viên v…v. đều phải đóng góp cho ban lãnh đạo thuyền nhân là các đầu gấu. Các thuyền nhân buôn bán trong trại cũng phải nạp “thuế” cho đầu gấu. Tại trại của người miền nam thì tuyệt đối không có tình trạng đầu gấu cai trị và thu thuế như thế. Đối với người miền bắc họ thấy việc điều hành trại như thế là bình thường. Một chú em đầu gấu miền bắc thuật với tôi như vậy và nói rằng, “Em hỏi anh nếu không thu tiền như thế thì làm sao trả lương cho những thằng trật tự trong trại.” Trái lại trại miền nam không cần có “trật tự viên”. Vì là đầu gấu điều hành trại nên mọi sinh hoạt đều phải theo lệnh họ. Một khi họ hô biểu tình là tất cả phải tham gia. Nhưng đã là đầu gấu cai trị thì dĩ nhiên có tình trạng bạo động tranh dành quyền lực. Tình hình đầu gấu và bạo động tràn lan trong khu vực của thuyền nhân miền bắc được mô tả trong hai bản tin dưới đây:

Trong bản tin Cảnh sát Hông Kông bố ráp trại tị nạn (Hong Kong Police Raid Refugee Camp) đăng trên tờ The Washington Post ngày 30 /12/1989, “phát ngôn viên chính phủ Timithy Li cho hay cảnh sát đã bắn hơi cay sau khi thuyền nhân Việt nam nổi lửa đốt các chăn mền và ném đá để ngăn cản không cho lục soát các vũ khí tự chế. Cảnh sát cho hay 27 thuyền nhân bị bắt cùng với hơn 700 vũ khí bị tịch thu”. Một cộng đồng biết thượng tôn luật pháp sẽ không ngăn cản cảnh sát trong hoạt động ngăn ngừa tội phạm như trong bản tin.

Bản tin ngày 20 /2/1990 cũng của tờ The Washington Post loan tải, “truyền hình chiếu cảnh cảnh sát trang bị mũ bảo hiểm và khiên, bắn hơi cay và người ta có thể thấy khói bốc lên từ những đám cháy quanh trại. (www.korchinatnc.com/HongKong) Khi đêm xuống, …. Các nhóm băng đảng thuyền nhân người Việt thù địch nhau, nhiều người từng trải qua nhiều năm chiến đấu trong quân đội, tập trung tại những khu vực riêng. Quanh trại vang lên tiếng mài bén các thanh kim loại thành các thanh kiếm và xà mâu (spears) dài, kiểu thời trung cổ. Ngày càng có bạo động hàng đêm.” Đọc bản tin thì không thấy nói gì tới người miền bắc hay miền nam mà chỉ đề cập tới người Việt nói chung. Nhưng những ai đã ở trong trại tỵ nạn Hồng Kông trong thời gian đó khi đọc bản tin này đều biết ngay đây là những trại của người miền bắc.

Trong một lần một phái đoàn khoảng hơn một chục cô thầy giáo người miền bắc từ trại tỵ nạn Whitehead sang thăm (giao lưu) có ở qua đêm tại trại Tai A Châu của người miền nam chúng tôi, các cô thầy miền bắc được đi lại thoải mái trong trại, kể cả ban đêm ra bãi biển mà không sợ hãi điều gì. Các cô thầy ngạc nhiên thích quá buột miệng, “Các anh chị ở trại này thích quá. Ở trại của chúng em không thể an ninh như thế này!”

Trong một lần khác đi cùng với phái đoàn giáo chức miền nam ở trại miền nam Tai A Châu sang thăm trại White Head của người miền bắc. Khi vừa tới trại, đoàn được dự một cuộc thuyết trình ngắn cho biết tình hình an ninh ở trại đó không được bảo đảm. Đoàn được ban quản trị trại dặn dò cẩn thận là không được lang thang vào trong trại dù là có gặp người quen. Lang thang vào trong trại có thể gặp nguy hiểm bởi đầu gấu. Đoàn chỉ được ở quanh quẩn nơi phòng dưỡng bệnh của bệnh xá thôi. Nghe vậy mọi giáo chức trong đoàn đều ớn lạnh. Khi vào phòng ở trong khu bệnh xá, tôi thấy có một thanh niên duy nhất và được bệnh xá giới thiệu là người trông nom khu vực này.

Tôi chợt nghĩ ngay tay này cũng phải là một đầu gấu có hạng đây. Anh ta sống sung túc. Có đầy đủ máy hát, loa, đài, những cái vào thời đó và nhất là trong trại tỵ nạn là thứ rất xa xỉ. Như vậy anh ta phải kiếm được khá nhiều bổng lộc với tư cách một trong các đầu gấu có hạng. Buổi tối, ngồi quây quần trên giường anh ta nói chuyện. Tôi vờ hỏi anh ta ở đây một mình không sợ đầu gấu sao thì anh ta liền nhấc tấm nệm ngay dưới chỗ anh ta ngồi để khoe hai thanh kiếm nhọn, lưỡi cong, dài khoảng 1 mét, anh ta nói, “Em phải có cái này đấy chứ!”. Sau đó anh ta vừa vấn điếu thuốc vừa hỏi chúng tôi có dùng không. Các cô thầy giáo trong đoàn sợ quá. Tôi vội chồm lên với tay lấy điếu thuốc đưa lên miệng rít một hơi. Ém khói hẳn hoi. Xong rồi từ từ nhả khói ra. Tỏ vẻ đê mê. Thực ra đây là lần đầu tiên tôi thử sì ke nên chẳng thấy hương vị gì cả: Không phê mà cũng không một chút khó chịu. Nhưng tôi giả là một tay chơi, gật gù nói với anh ta,“Đã quá! Lâu lắm mới có cái này đây!”. Các cô thầy giáo trong đoàn nhìn cách cư xử giang hồ của tôi phục lắm.

Một hôm tôi và mấy người bạn ngượng muốn độn thổ khi một thiện nguyện viên người Âu châu tới làm việc ở trại thuật với chúng tôi rằng hôm trước cô ta tới làm thiện nguyện ở trại miền bắc, mấy thuyền nhân cũng quấn quít lấy cô ấy rồi bất chợt có một thuyền nhân giựt sợi giây chuyền vàng của cô ta đeo ở cổ chân. Đứng quanh cô ấy rất đông người mà không một ai can thiệp. Tội phạm ở trại của người miền bắc có tính cách tập thể như vậy.

Trại của người miền bắc hoàn toàn khác trại của người miền nam.

So sánh với trại miền nam, trại miền bắc có sự khác biệt lớn:

– Trại miền bắc hoàn toàn do đầu gấu cai trị và dĩ nhiên bằng luật giang hồ: Đã tường thuật ở trên.

– Thuyền nhân miền bắc có thể ẩu đả chém giết nhau một cách tập thể chỉ vì một quyền lợi rất nhỏ. Tình trạng bạo động tập thể của những trại miền bắc đã được một số báo tiếng Anh mô tả. Bài báo “Vietnam Refugees Riot in Hong Kong”viết bởi BARBARA BASLER, đặc biệt cho tờ The New York Times xuất bản ngày mùng 3 tháng 9-1989, viết: “HONG KONG, Sept. 2— Trong cuộc bạo động quan trọng lần thứ nhì trong một tuần lễ, một người Việt nam bị giết ngày hôm nay và 11 người khác bị thương, khởi đầu bởi một cuộc cãi nhau về một món nợ đánh bạc … Cảnh sát tin rằng cuộc bạo loạn ngày hôm nay bắt đầu từ một cuộc cãi vả giữa những người Việt đánh cá kết quả một trận bóng chuyền trong trại. Không ai đứng ra xác nhận danh tánh người bị giết trong cuộc bạo động.” (bài báo này được in trên trang 13 ấn bản ngày mùng 3 tháng 9-1989 của bộ The New York edition)

– Người từng ở trong trại đọc tới câu cuối của bản tin vừa nêu hiểu ngay rằng không ai dám đứng ra xác nhận danh tánh người bị giết vì sợ đầu gấu. Luật của đầu gấu, của mafia mọi nơi là “im lặng tuyệt đối, nếu không thì sẽ bị xử theo luật giang hồ”.

– Trong trại ỵị nạn của người miền bắc đầy rẫy tội phạm đủ loại.

Trên tờ The Seattle Times xuất bản ngày Chủ Nhật 15 tháng 12-1996, bài “Hong Kong Camp For Viet Refugees Is Land Of Lives In Limbo” viết bởi Kristin Huckshorn thuộc “Knight-Ridder Newspapers” viết rằng, “HONG KONG

– Một trại tỵ nạn được điều hành bởi Liên Hiệp Quốc và đông kẻ nghiện hút, tội phạm, kết hôn giả (mail-order brides) và các trẻ em bị bỏ mặc (neglected children) đã trở thành một di sản xấu xa (an ugly legacy) của truyện dài (saga) thuyền nhân người Việt … Đó là trại the Pillar Point. Bài báo viết tiếp: “Thực ra, những người tỵ nạn, hầu hết là người miền bắc, đã liên tục bị từ chối cho đi định cư trong 8 năm qua, hầu hết vì án phạt nghiện hút hay tội phạm hình sự từ tội trộm cắp nhỏ cho tới sát nhân. Liên Hiệp Quốc và các quốc gia khác thường ngăn cấm chấp nhận cho đi định cư những thành phần này … Hơn 90 phần trăm những người tỵ nạn đàn ông nghiện hút, hầu hết là những người dùng heroin. Những người khác là thành viên băng đảng và buôn ma túy. Hầu hết những người này được hưởng quy chế tỵ nạn trước giữa năm 1988, khi mà tất cả các thuyền nhân Việt Nam khi tới nơi thì tự động được quy chế tỵ nạn … Thực sự ra trại này (Sek Kong) đầy bạo động và tội phạm. Nhân viên an ninh đi tuần suốt ngày, liên lạc với nhau qua máy bộ đàm cá nhân. Cảnh sát Hồng Kông thỉnh thoảng bố ráp các căn nhà với lệnh toà để tìm ma túy.

– Trại miền nam cũng có du đãng, nhưng du đãng miền nam khác đầu gấu miền bắc rõ ràng nhất ở điểm họ không được gia đình, bà con hay lối xóm hỗ trợ, vì vậy họ ít hơn, yếu hơn, bị tách rời khỏi cộng đồng và không có khả năng cai trị cộng đồng, do đó không gây được tội phạm tập thể như đầu gấu miền bắc. Trong bản tin của tờ The Washington Post ngày 30 /12/1989 trích dẫn ở trên, “… cảnh sát đã bắn hơi cay sau khi thuyền nhân Việt nam nổi lửa đốt các chăn mền và ném đá để ngăn cản không cho lục soát các vũ khí tự chế”. Nội dung này cho thấy gia đình và cộng đồng miền bắc đã hỗ trợ, và bảo vệ các đầu gấu qua hành động phi pháp là ngăn cản cảnh sát trong công tác truy lùng vũ khí để phòng ngừa tội phạm. Tình trạng này không thể có được ở cộng đồng thuyền nhân miền nam.

– Điểm khác biệt nữa giữa hai cộng đồng là trong cộng đồng người miền nam có một tập thể tương đối trí thức, so với các thành phần khác, được cộng đồng tương đối kính trọng, chấp nhận vai trò hướng dẫn cộng đồng, đó là tập thể các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Dưới sự lãnh đạo của thành phần này thì du đãng không thể tự tung tự tác như các đầu gấu trong trại miền bắc.

– Và một điểm khác biệt quan trọng là người miền nam tương đối quen sống với tinh thần thượng tôn luật pháp hơn. Luật pháp xã hội chủ nghĩahoàn toàn khác với luật pháp phương tây đã được áp dụng tại miền nam cho nên người miền bắc không có tinh thần thượng tôn luật pháp. Người miền bắc hành động theo cảm tính nhiều hơn, điều gì thấy có lợi cho bản thân là họ làm, bất kể cái hại cho cộng đồng.

Tình trạng tội phạm ở trại của người miền nam.

Bạo động, tội phạm v…v. là một hiện tượng xã hội ở mọi nơi, mọi thời, mọi sắc tộc. Nhưng tuỳ từng nền văn hoá mà hiện tượng đó có hình thái và mức độ khác nhau. Trại miền nam cũng có du đãng (miền bắc gọi là đầu gấu), nhưng hoạt động của du đãng miền nam có mức độ hạn hẹp hơn đầu gấu miền bắc rất nhiều.

Vụ hành hung người lớn nhất ở trại miền nam mà tôi biết là vụ xảy ra ở trại Tai A Châu một cựu đại úy hiệu trưởng trường trung học của trại bị du đãng đánh trọng thương và sau đó được đưa đi trại khác để bảo vệ an ninh.

Cũng có vụ xung đột giữa thanh niên người Việt gốc Hoa và thanh niên miền nam, và một vụ xung đột với cảnh sát bị cảnh sát bắn lựu đạn cay khoảng 15 phút. Tất cả tình trạng bạo động trong trại miền nam chỉ ở mức độ như vậy chứ không lan rộng sang bạo động tập thể, kéo dài hay không có trấn lột, cướp bóc, hãm hiếp và nhất là không có giết người.

Tham gia giải quyết những bạo động nhỏ và có tính cách cá nhân như thế để ngăn ngừa các bạo động tập thể trầm trọng có sự đóng góp của những người thuộc thành phần thuyền nhân lãnh đạo trại, trong đó cũng có khi có sự đóng góp của tác giả bài viết này.

Xin kể sơ hai ví dụ. Trước khi gia đình tôi được chuyển trở lại trại Tai A Châu sau khi trại này được xây cất xong, một số thanh niên miền nam và thanh niên Việt gốc Hoa ra ở trước đã xung đột với nhau khiến một tu sĩ trẻ phật giáo người miền nam bị gẫy tay. Khi gia đình tôi được chuyển ra đó, thì ngay buổi tối, một nhóm thanh niên miền trung (miền nam) khoảng 20 người, người lớn nhất khoảng trên 30 tuổi (nay tôi quên tên rồi), mời tôi sang khu họ ở là Khu D, trên tầng 3 của một trong các dẫy nhà ghép bằng sắt. Họ trình bày tình hình trong thời gian trước khi tôi tới và nói rằng “Chúng em có nghe anh sẽ qua nên chúng em chờ anh đây!” Người thanh niên ngoài 30 tuổi trưởng toán nói thêm, vũ khí chúng em đã chuẩn bị sẵn rồi. Họ muốn tôi đồng ý và lãnh đạo (?) một trận “quyết đấu” với thanh niên Việt gốc Hoa.

Tôi hơi ngạc nhiên tại sao họ lại trông chờ tôi để quyết định một chuyện thế này. Tôi chưa bao giờ chỉ huy bạo động trong trại. Tôi cũng chưa bao giờ xúi ai hay nhóm nào bạo động. Nhưng lực lượng của nhóm thanh niên miền trung này tôi biết hết nên không có gì phải lo ngại. Tôi phải giải thích với nhóm thanh niên là “chúng mình là người miền nam đi tị nạn chính trị. Nếu chúng mình đâm chém nhau thì đều mang hình ảnh xấu hết và sẽ không ai cho mình đi tỵ nạn chính trị nữa. Mọi chuyện đối với thanh niên Việt gốc Hoa anh em hãy để tôi xử trí. Chuyện xích mích giữa hai bên phải chấm dứt”. Sau đó tôi gặp mấy thanh niên có uy tín của người Việt gốc Hoa bảo họ ngăn chặn không cho thanh niên Việt gốc Hoa chặn đường đánh thanh niên miền nam là xong. Trường hợp tương tự nếu xảy ra trong trại miền bắc thì chắc chắn sẽ có quyết đấu một mất một còn ngay.

Khi hoạt động cộng đồng, có những lúc vì cộng đồng mình phải kìm hãm tự ái cá nhân để nhịn nhục, tạo dĩ hoà vi quý. Trong trại có chương trình giáo dục phổ thông và cơ sở trường học khang trang từ lớp 1 tới lớp 12 do thuyền nhân điều hành, Liên Hiệp Quốc tài trợ. Liên Hiệp Quốc cũng tài trợ một chương trình dậy tiếng Anh cho người lớn.

Tôi và anh bạn trung úy Nguyễn Cửu Hùng, hiện ở Nam Cali là hai người xây dựng nên chương trình với sự yểm trợ và chỉ đạo của một ủy viên giáo dục người Mỹ tên là Paul thuộc cơ quan tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Chương trình có tới 700 học viên và gần 15 giáo viên thuyền nhân do hai chúng tôi tuyển chọn. Lúc lập chương trình thì không ai biết cách lập, nhưng khi chương trình chạy xuông sẻ thì lập tức có kẻ tới tranh dành. Chuyện thường tình ở mọi nơi, mọi thời. Một hôm tôi, anh Hùng và ông Paul đang họp thì một người tỵ nạn Việt gốc Hoa, nghe nói trước kia là cựu thông dịch viên của lực lượng đặc biệt Mỹ tự động tới ngồi cùng bàn. Lại nghe nói anh ta giỏi võ nữa chứ.

Trong trại thì ai cũng biết nhau nên chuyện đó không có gì là lạ. Trong lúc chúng tôi vừa dừng bàn thảo thì anh bạn thông dịch viên gốc Hoa này xin phát biểu ý kiến. Anh ta nói rằng, “Chúng tôi là người Việt gốc Hoa, ở trong trại cũng đông, chúng tôi không muốn chịu sự chỉ huy của người Việt trong chương trình này”. Nghe vậy, ba người chúng tôi chưng hửng. Ông “xếp” Paul của chúng tôi mặt hơi xanh nhìn anh thông dịch viên như không hiểu anh ta nói gì. Anh trung úy Hùng bạn tôi, nhị đẳng thái cực đạo, cũng ngạc nhiên nhìn anh bạn người Hoa sững sờ luôn. Riêng tôi, sau khoảng 15 giây ngạc nhiên, tôi ôm chầm lấy vai anh người Hoa và bảo với “xếp” Paul, “Anh này là bạn thân của tôi. Anh ta giỏi lắm. Tôi nghĩ ông nên trao chương trình này cho anh ta”. Đến lượt Paul lại không hiểu tôi muốn nói gì. Nhưng 5 giây sau có lẽ Paul hiểu nên bảo anh ta là ông ấy sẽ mời anh ta gặp ông ấy tại văn phòng vào tuần tới. Mọi chuyện vui vẻ. Anh người Hoa ra về.

Cuộc họp kết thúc. Hơn tuần sau gặp lại anh người Hoa, tôi hỏi anh ấy đã gặp ông Paul chưa thì anh ấy cho biết không hiểu sao chưa thấy ông Paul gọi. Tôi nghĩ thầm, “Paul là tôi đây này chứ Paul nào! Chẳng bao giờ anh được gọi đâu!”.Hôm họp, sau khi anh người Hoa đi, Paul hỏi tôi sẽ đối xử với anh ta ra sao thì tôi nói gọn, “Ông hãy quên anh ta đi! Anh ta sẽ chẳng bao giờ dám lên văn phòng đòi gặp ông để yêu sách nữa đâu”. Nếu tình huống này xảy ra tại trại miền bắc thì diễn biến và kết thúc sẽ hoàn toàn khác, không êm thắm như thế này.

Tại Hồng Kông còn có một trại mở là trại Pillar Point. Trại này chứa những thuyền nhân tới trước tháng 6/1988 là thời gian thuyền nhân Việt Nam đương nhiên được tư cách tỵ nạn. Sau thời gian này tất cả những thuyền nhân tới Hồng Kông đều bị nhốt vào trại cấm (closed camps) để chờ thủ tục thanh lọc xác định tư cách tỵ nạn tùy từng trường hợp.

Ngoài một số thuyền nhân mới được thanh lọc chấp nhận qui chế tỵ nạn đang chờ đi nước thứ ba, đại đa số thuyền nhân trong trại này là người miền bắc đã tới Hồng Kông từ trước tháng 6/1988 nhưng vẫn chưa được nước nào nhận vì là thành phần có án tù. Là một trại mở (open camp), các thuyền nhân trong trại Pillar Point được tự do ra vào. Trong trại này hầu hết là thành phần nghiện hút và tội phạm. Tôi đã một lần vào đó tìm người quen giữa ban trưa mà nhìn những thuyền nhân miền bắc trong đó cũng cảm thấy rờn rợn, không biết mình có thể bị trấn lột lúc nào. Sau đó tôi không dám bén mảng vào trong trại đó nữa.

Tình hình an ninh trong trại này được mô tả theo bản tin của AFP ngày 14/6/1999, (Riot at Vietnamese refugee camp in Hong Kong; 17 injured- http://www.catholic.org.tw/) như sau: “Bạo động trong một trại tỵ nạn người Việt tại Hồng Kông; 17 người bị thương”. Theo bản tin, cảnh sát Hồng Kông đã dùng lựu đạn cay để dẹp một cuộc bạo động trong một trại tị nạn khiến ít nhất 17 người bị thương. Khoảng 200 thuyền nhân Việt Nam đang tìm sự bảo vệ tại một đồn cảnh sát gần trại tị nạn Pillar Point cho hay họ sợ bị các thuyền nhân khác tấn công. Cảnh sát trang bị chống bạo động đã chiến đấu trong hơn một tiếng đồng hồ để dập tắt một cuộc đánh nhau giữa hàng trăm người tỵ nạn trong trại vào ngày hôm trước, Chủ Nhật 13/6/99. Cảnh sát cho hay có bốn thuyền nhận bị bắt và 17 vũ khí tự chế bị tịch thu. 11 trong 17 người bị thương được cho nhập bệnh viện trong đó có một em bé 9 tháng tuổi. Các người trong trại cho hay trại Pillar Point đã bị các nhóm băng đảng chiếm giữ. Đó là thành phần tạo ra những rối loạn. Một thuyền nhân cho biết các người trong trại bị buộc phải nạp cho các thuyền nhân đã ở trước tới 300 đô la Hông Kông, tương đương 39 đô la Mỹ để trả tiền bảo vệ.

Báo chí cũng cho hay các thuyền nhân trong trại đổ lỗi cho những phần tử nghiện hút trong trại tạo ra những bất an. Họ nói rằng các nhóm băng đảng kiểm soát đĩ điếm, cờ bạc và nghiện hút. Đồng thời từ lâu vẫn có sự thù địch giữa các thuyền nhân miền nam và miền bắc trong trại.” Bản tin không nói ai là thuyền nhân miền bắc, ai là thuyền nhân miền nam, nhưng những ai đã ở tại Hồng Kông thì đều biết nạn nhân là các thuyền nhân miền nam hay Việt gốc Hoa miền nam, còn thủ phạm là các thuyền nhân miền bắc. Chính đầu gấu miền bắc đã thu 39 đô la Mỹ tiền bảo vệ như trong bản tin.Tại một trại chuyển tiếp khác dành để tạm thời chứa những thuyền nhân đã được cấp quy chế tỵ nạn chờ được đưa đi Phi luật tân để được các quốc gia đệ tam phỏng vấn tuyển chọn, những người miền bắc cũng trấn lột những thuyền nhân miền nam. Những người ở trại này chỉ ở tạm thời 2 tuần lễ thôi cho nên người miền nam họ nín thở qua sông để chờ ngày ra đi, không dám phản ứng gì. Thậm chí không dám kể với ai. Khi tôi hỏi thăm thì mới vỡ lẽ ra là 100 phần trăm đều bị người miền bắc trấn lột.

Không những trấn lột người tỵ nạn miền nam, người miền bắc còn ra Hồng Kông ăn cắp của người Hồng Kông, thường là của các siêu thị. Một hôm một cô gái trẻ đẹp miền bắc hỏi vợ chồng tôi, “Cô chú không đi chợ à?”. Chúng tôi thành thật trả lời là không có tiền thì cô ta giọng thản nhiên, “Đi chợ đâu cần tiền cô chú!”. Tôi ngạc nhiên giả bộ muốn đi, hỏi tiếp, thế đi chợ làm sao. Cô ta thản nhiên cho biết, “Đi ăn cắp trong các siêu thị đó mà chú!”. Cô ta còn hướng dẫn, đi thành một toán 3 , 4 người. Vào siêu thị giả bộ hỏi mua đồ lung tung. Tốt nhất là hỏi xem các tấm vải để bọn nó (người bán) phải giăng rộng tấm vải ra, như thế tấm vải sẽ che mắt nó (người Hồng Kông). Những đứa khác tha hồ mà ăn cắp.

Sau đó, mỗi khi gia đình chúng tôi đi siêu thị, tôi thấy nhân viên siêu thị đi theo bén gót. Tôi thấy nhục nhưng thông cảm với họ. Là người Việt ở Hồng Kông mình bị nhục vì hành vi ăn cắp, quậy phá của những người miền bắc trong suốt gần hai chục năm trời (tính theo thời điểm cuối năm 1992 là năm gia đình tôi được cấp quy chế tỵ nạn và ra ở trại chuyển tiếp ở Hồng Kông) kể từ khi người miền bắc ăn theo người người miền nam đặt chân “tỵ nạn” tới Hồng Kông.

Không phải khi đã tới nơi an toàn là Hồng Kông người miền bắc mới quậy phá. Trên đường vượt biên, một lần tôi dừng thuyền tại một thị xã nhỏ của Trung Quốc. Năm 1989, Trung Quốc còn nghèo lắm. Nhiều nơi còn nghèo hơn Việt Nam cộng sản nữa. Lên bờ đi vào thị xã, tôi thấy một toán thuyền nhân miền bắc hơn một chục nam, nữ, lớn bé. Có cả mấy tay thanh niên mặc quần đùi, cởi trần một cách rất là “mất dạy”, xâm trổ khắp thân mình, lang thang trong phố xá của người ta. Trong khi mình là người đang đi tỵ nạn, cần được người ta thương và giúp đỡ. Trông thấy trong một quán tạp hóa nhỏ có toán thuyền nhân người Việt nên chúng tôi cũng bước vào. Quán thì nhỏ, hàng thì ít, họ tới trước nên chúng tôi đứng chờ họ mua. Tôi thấy họ mở hết lọ này tới lọ kia hỏi chủ quán lung tung. Rồi tôi thấy bà chủ quán tiếp họ mà mặt không vui, cứ nhìn tôi lắc đầu hoài. Tới khi toán người miền bắc đi ra, không mua gì, tôi thấy bà chủ quán tiếp toán của tôi rất bình thường. Bà ấy không nói được tiếng Anh, và chúng tôi thì không nói được tiếng Tầu nhiều. Nhưng nhìn cử chỉ tôi biết là bà chủ quán như cảm thấy vừa thoát nạn khi toán người miền bắc ấy đi ra.

Người miền bắc đi vượt biên quá dễ dàng. Nếu bị bắt họ không bị tù vì tội vượt biên như người miền nam. Đường đi lại ngắn, không nguy hiểm. Nhiều khi họ lấy nguyên chiếc tầu sắt của nhà nước để chở cả trăm người trong một chuyến đi với đầy đủ thức ăn nước uống. Họ đi một cách rất an toàn. Nhiều người miền bắc kể với tôi, “Đi vượt biên mà xếp hàng như đi hành quân ấy”. Vì thế họ đến Hồng Kông rất đông. Theo trang web “Vietnamese people in Hong Kong – Wikipedia, the free encyclopedia” cao điểm vào năm 1989 có tới khỏang 300 người đổ tới Hồng Kông một ngày. Bởi vì họ đi quá dễ dàng nên tại những trại tị nạn ở Hồng Kông họ chiếm đa số. Vì thế trong suốt những năm dài có trại tị nạn ở Hồng Kông, với số đông áp đảo, tính tình hung hãn và dường như kết quả của nền giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa (?), người miền bắc luôn luôn làm chủ tình hình, bắt nạt, cướp bóc, trấn lột người miền nam và người Việt gốc Hoa. Đối với nội bộ địa phương với nhau thì họ cũng chia rẽ, chém giết nhau để tranh dành quyền lực. Và phe nào thắng thế trong trại cũng đều “cai trị” rất là độc đoán, áp dụng luật mafia chứ không áp dụng luật bình thường văn minh của Hồng Kông. Một lần tôi hỏi một chú em người miền bắc, được người nhà bảo lãnh đi Mỹ, “Anh thấy em hiền như thế này lúc ở trong trại thì gia đình em sống làm sao?”. Chú ấy hiền lành trả lời, “Trong trại thì em cũng phải “gấu” chứ, nếu không thì chúng nó bắt nạt chết!”

Nhưng cũng có một lần người miền nam quá uất ức phản công. Đó là lần duy nhất người miền nam thắng thế nhưng đó lại là lần gây tử vong nhiều nhất trong lịch sử tỵ nạn Hồng Kông khiến dư luận Hồng Kông cũng như những người ngoại quốc thiện nguyện làm việc trong các trại tỵ nạn bàng hoàng và ghê sợ người Việt nam nói chung. Nội vụ được mô tả trong bản tin “18 người Việt thiệt mạng vì bạo động trong trại tỵ nạn” (18 Vietnamese Die in Violence at Refugee Camp-By BARBARA BASLER,-Published: Tuesday, February 4, 1992) Theo bản tin của Barbara Basler, ngày Thứ Ba, mùng 4/2/1992, nhà chức trách cho hay, mười tám thuyền nhân Việt Nam đã thiệt mạng và 128 thuyền nhân khác bị thương trong một trại tỵ nạn ở Hồng Kông vào tối thứ Hai khi các phần tử bạo động đã nổi lửa đốt một căn nhà lớn (Hut) trong một cuộc đụng độ bắt đầu từ việc tranh nhau nước nóng.

Bộ trưởng an ninh Alistair Asprey cho hay, hoả hoạn đã được gây ra bởi những người Việt nam nhét những tấm mền đang cháy qua các cửa sổ vào trong một căn nhà. Đây là cuộc tấn công cố tình nhắm vào một nhóm người trong căn nhà đó.

Nhà chức trách cho hay các người thiệt mạng trong đó có ít nhất một em nhỏ, là những thuyền nhân đã tự nguyện hồi hương và đang chờ thủ tục. Nội vụ là một thương vong lớn nhất từ trước tới nay tại trại tỵ nạn Hồng Kông, khởi đầu lúc 11 giờ trưa tại một khu vực nằm cạnh khu vực các người tự nguyện hồi hương tại trại Sek Kong. Nhà chức trách cho hay 17 trong các nạn nhân bị đốt chết cháy và một người khác bị chết sau đó tại bệnh viện. Trong số 55 người được điều trị tại bệnh viện, 7 người ở tình trạng trầm trọng. Nhà chức trách tin rằng số tử vong sẽ còn thêm. Nhà chức trách nói rằng nhiều trăm thuyền nhân tham gia trong cuộc đánh nhau giữa các băng đảng miền bắc và miền nam. Họ đánh nhau bằng các vũ khí dao kiếm tự chế. Những người thiệt mạng là người miền bắc. Ông Asprey nói rằng cuộc tranh cãi về nước nóng trong lúc xếp hàng chờ được xử dụng đã được cảnh sát ngăn chặn nhưng lại bộc phát sau đó vào buổi tối. Khi cảnh sát cố ngăn chặn vụ đánh nhau thì hàng trăm người Việt Nam từ khu vực kế cận phá hàng rào ngăn cách tham gia ẩu đả khiến cảnh sát phải rút ra ngoài và gọi tăng viện.

Sau đó có khoảng 400 cảnh sát được gọi tới giúp chấm dứt bạo động bằng cách bắn 33 quả lựu đạn cay vào trại. Lính cứu hỏa phải mất tới 90 phút mới dập tắt được ngọn lửa. Thống đốc Hồng Kông ông David Wilson, và các viên chức an ninh hàng đầu đã tới trại bằng trực thăng vào sáng hôm sau … Thống đốc đã ra lệnh tách rời số thuyền nhân hai miền nam, bắc Việt nam này ra hai địa điểm khác nhau. Có khoảng 2000 (hai ngàn) thuyền nhân miền bắc sẽ được di chuyển sang trại khác. Hầu hết các thuyền nhân ở Hồng Kông tới từ miền bắc Việt Nam.”

Ỷ số đông, người miền bắc hiếp đáp người miền nam như thường lệ. Nhưng lần này những người bị hiếp đáp đã phản công. Những người miền trung (nam) ở trong khu vòng rào đã xô ngã hàng rào để tràn sang khu người miền bắc. Họ bao vây bên ngoài căn nhà chứa khoảng 200 người (căn nhà nào cũng chứa số người như thế), đồng thời họ lấy mền (rất nhiều, do trại phát) tẩm dầu (trong trại có dầu hôi để nấu ăn), tung vào căn nhà để đốt. Những ai từ trong nhà chạy ra đều bị họ đánh, chém hung bạo. Kết quả tử vong như bản tin đã loan. Thống đốc Hồng Kông đã chỉ thị tách rời 2,000 thuyền nhân miền bắc đi chỗ khác chính là để tránh một sự trả thù của người miền bắc.

Hôm sau, nhân viên ngoại quốc làm thiện nguyện trong trại kể chuyện đó với chúng tôi và họ kết luận, lâu nay họ tưởng người miền nam hiền và tốt, nhưng chuyện đó cho thấy người miền nam cũng như người miền bắc. Chúng tôi nghe mà không nói nổi một lời! Vợ một người bạn gốc miền trung, nên theo dõi chi tiết nội vụ, sau đó cho tôi hay trong nội vụ những người miền trung cũng tàn nhẫn quá. Số người chết và bị thương đa số là đàn bà con nít, không chạy ra được. Còn những tên đầu gấu thực sự thì hầu như chạy thoát được cả. Chị này cũng cho biết tiếp, trong thời gian sau đó, hàng ngày được chở ra bệnh viện Hồng Kông khám bệnh, những người miền trung không dám lên tiếng sợ bị nhận giọng là người miền trung sẽ bị đầu gấu miền bắc trả thù.

Vào cuối chương trình tỵ nạn, 1992, Hồng Kông chỉ chấp nhận cho những thuyền nhân được công nhận tỵ nạn tạm trú trong 2 tuần lễ để làm thủ tục đi nước thứ ba thôi. Thời gian đó chỉ đủ để cao uỷ tỵ nạn chuyển số thuyền nhân đó sang trại Bataan ở Phi luật tân trong ít nhất là 6 tháng để họ học cách sống để hội nhập vào các quốc gia phương tây, đồng thời xin quốc gia thứ ba phỏng vấn để thu nhận họ.

Tại trại Bataan lúc đó có 12 vùng, trong đó chỉ có 1 vùng là có người tỵ nạn miền bắc. Mặc dù số lượng ít ỏi như vậy nhưng họ rất đoàn kết chặt chẽ cho nên họ áp đảo được du đãng miền nam. Một lần cảnh sát Phi luật tân trong trại cùng với ông đại diện cao ủy tỵ nạn đi lùng khắp trại để tìm một người bị bắt cóc. Suốt một ngày trời tìm đôn tìm đáo, tới mãi xế chiều nhà chức trách mới giải cứu được thanh niên bị bắt cóc khỏi một căn nhà ở ngay gần văn phòng trại. Thanh niên này là một du đãng miền nam. Tối hôm trước cậu ta trấn lột chiếc đồng hồ của một thanh niên miền bắc. Thế là hôm sau đầu gấu miền bắc tập trung kéo tới tận nơi cư trú của cậu du đãng miền nam này bắt trói thúc ké, cho khoác bên ngoài một cái áo măng tô rồi hai bên có hai đầu gấu cặp cổ đi kèm cứ như là ba người bạn thân đi ngoài đường. Cuộc bắt cóc như thế vượt qua được các trạm kiểm soát từ vùng nọ sang vùng kia để rồi đem nhốt đối thủ vào trong nhà đánh cho một trận nhừ tử tới chiều mới thả. Nếu ở ngoài đời thì cậu du đãng miền nam này có thể đã bị thủ tiêu rồi.

Phương cách hoạt động của đầu gấu miền bắc cho thấy họ được gia đình hỗ trợ (bởi thế họ đông hơn), đoàn kết hơn, hành động tập thể hơn và liều mạng hơn. Gia đình miền nam không hỗ trợ khi con em họ trở thành du đãng nên số lượng du đãng miền nam không nhiều bằng miền bắc nếu hai bên có số dân cư tương tự. Hôm sau viên sĩ quan cảnh sát trưởng vùng tôi ở gặp tôi cho biết tin về vụ bắt cóc hôm trước và nói với tôi rằng, “Ông biết bắt cóc ở Phi luật tân là một tội nặng lắm. Đã vậy bọn chúng lại cả gan nhốt kẻ bị bắt cóc ở ngay gần trụ sở cảnh sát chúng tôi. Tôi thắc mắc là không biết mạng lưới của bọn chúng sâu rộng cỡ nào và bọn chúng muốn thách thức cảnh sát chúng tôi hay sao?” Tôi nói với vị cảnh sát đó rằng đó là vụ thanh toán nhau giữa hai băng ăn cướp thôi, chứ chúng không định thách thức các ông đâu. Và bọn chúng cũng không nhiều đâu. Sau đó khi ông ta hỏi tôi về phương cách đối phó, tôi đề nghị để mặc kệ cho hai nhóm thanh toán nhau, không điều tra vụ bắt cóc. Như vậy là dẹp yên được một phe. Sau đó gọi bên thắng tới nói cho biết “danh sách và mọi hoạt động đã bị cảnh sát ghi nhận rồi. Nếu muốn yên thì không được quậy phá. Nếu quậy phá thì sẽ bị bắt hết”. Giải pháp đó mang lại yên bình cho trại tỵ nạn Bataan trong thời gian 6 tháng gia đình tôi ở trại đó, trước khi đi Mỹ.

Hầu hết các thuyền nhân miền bắc không được vào Mỹ.Theo chính sách tiếp nhận những người được quy chế tỵ nạn, tất cả những ai có thân nhân bảo lãnh đều phải được phỏng vấn trước tiên bởi quốc gia của người thân nhân nạp đơn xin bảo lãnh. Ví dụ tôi có mẹ ở Pháp đã nạp đơn bảo lãnh thì sau khi đậu thanh lọc, tôi phải được phỏng vấn trước tiên bởi nước Pháp. Và khi nước Pháp nhận thì tôi phải đi Pháp chứ không có quyền chọn lựa nước khác.

Nguyên tắc thứ nhì là tất cả những cựu quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa sau khi đậu thanh lọc đều phải được Mỹ phỏng vấn trước tiên. Khi nào Mỹ từ chối thì mới được đi phỏng vấn với các nước khác.

Nguyên tắc kế tiếp là tất cả những thuyền nhân miền bắc đều không được Mỹ nhận cho phỏng vấn, tức là Mỹ từ chối không nhận người miền bắc (dĩ nhiên trừ một số ít có thân nhân ruột thịt như cha mẹ anh chị em tại Mỹ bảo lãnh).

Đó là lý do các thuyền nhân miền bắc quy tụ đông đảo tại các nước Canada, Úc và Anh. Đặc biệt lúc đó Hồng Kông còn là thuộc địa của Anh cho nên tất cả những thuyền nhân miền bắc phạm tội tại Hồng Kông nếu bị các quốc gia khác từ chối thì Anh quốc phải nhận hết trước khi trao trả Hồng Kông lại cho Trung Quốc. Đó là lý do Anh quốc nhận nhiều thuyền nhân miền bắc có tiền sử tội phạm nhất.

Cách sống, tức là văn hóa, khó có thể thay đổi. Một cộng đồng dân chúng khi di cư (immigrate) mang theo họ tất cả nền văn hóa mà từ đó họ trưởng thành. Người miền bắc trưởng thành trong nền văn hóa xã hội chủ nghĩa khi di cư sang các quốc gia đông âu, qua diện lao động hay du sinh, hoặc tới Hồng Kông dưới dạng thuyền nhân, lẽ dĩ nhiên mang theo họ tất cả tính chất giả trá, lừa lọc, tham lam, bạo động, và tàn bạo của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Rồi từ các “căn cứ địa” đó, họ du nhập nền “văn hóa đầu gấu” tới các quốc gia thâu nhận họ như Tây Đức, Anh, Pháp, Canada và Úc. Mới đây trong thượng tuần tháng 1/2010, một bản tin của đài BBC cho biết một chiếc xe hơi đã mang bỏ bên đường xác chết của một thanh niên khiến cảnh sát Anh phải yêu cầu ai biết danh tánh của thanh niên nạn nhân hãy cung cấp cho cảnh sát. Bản tin này làm người ta nhớ lại một tin trong bài “Nam Bắc Phân Tranh sau 1975 bài số # 3” trong đó một nạn nhân thiệt mạng trong một cuộc giao tranh giữa hai nhóm đầu gấu miền bắc trong trại tị nạn khiến cảnh sát Hồng Kông cũng phải yêu cầu ai biết danh tánh nạn nhân thì cung cấp cho cảnh sát. Nhưng cũng như bản tin ở Anh Quốc, không ai dám làm điều đó. Vì quy luật chung của đầu gấu là “im lặng tuyệt đối.” Ai vi phạm sẽ bị xử theo luật giang hồ.

Ngay khi còn ở trại tỵ nạn, với nguyên tắc nhận người tỵ nạn như thế, tôi đã thấy trước là ba nước nhận nhiều thuyền nhân miền bắc nhất là Canada, Úc và Anh, nhất là Anh quốc, sẽ gặp rất nhiều khó khăn về mặt tội phạm.

Canada và Mỹ gần nhau, những thuyền nhân từng ở cùng trại với nhau nay phải chia đôi Mỹ và Canada thường hay giữ liên lạc với nhau. Khoảng một năm sau khi tới Mỹ, tạm ổn định cuộc sống, tôi tìm cách bắt liên lạc với cô học trò tiếng Anh của tôi hồi ở trong trại, khi hỏi về cuộc sống thì đã được cô nói tiếng lóng cho biết là đi làm công hái cần sa rồi. Những năm sau đó theo dõi báo chí, thấy đã có mấy vụ người Việt tại Úc bị bắt vì chuyển lậu cần sa về Việt Nam. Tin tức về người Việt tại Anh quốc cũng có mức độ tội phạm tương tự.

Tại mấy nước cựu cộng sản đông Âu và Nga, những năm trước không có nạn trồng và bán cần sa nhưng có nạn buôn lậu, đặc biệt tại đông Đức là buôn lậu thuốc lá và băng đảng thanh toán nhau vì tranh dành thị trường. Sự thanh toán tàn bạo tới độ có vụ nạn nhân bị bắt cóc mang đi giết rồi chặt nhỏ thi hài ra thủ tiêu. Tất cả tình trạng tội phạm và phương cách phạm tội của người Việt tại Canada, Úc, Anh và các nước đông Âu qua tin tức báo chí làm tôi nhớ lại “văn hóa đầu gấu” của người miền bắc trong trại tị nạn Hồng Kông. Nền văn hóa đầu gấu của miền bắc có năm biểu hiện: Kiếm tiền bất hợp pháp bằng mọi giá, cướp bóc, thanh toán nhau, tàn bạo và chế ngự cộng đồng bằng luật giang hồ (tranh dành quyền lực). Năm biểu hiện này dường như quyện chặt lấy nhau từ trong nước ra tới hải ngoại.

Sự khác biệt văn hóa bắc nam thể hiện rõ nét qua hiện tượng ở hải ngoại, người miền bắc đi vào con đường kiếm ăn bất hợp pháp một cách tập thể, một điều không thấy trong cộng đồng người miền nam. Dĩ nhiên tội phạm thì ở đâu cũng có nhưng tội phạm tập thể, rủ nhau kéo đàn kéo lũ từ trong nước ra để làm ăn phi pháp thì chỉ có cộng đồng người miền bắc. Người miền nam vượt biên ra hải ngoại, nói chung là đông hơn người miền bắc nhiều, nhưng họ đi làm để nuôi con cái ăn học, và bản thân họ đa số cũng cắp sách trở lại trường học, cho dù khi đặt chân được tới nước ngoài, đa số tuổi khá cao, nhất là so với các thuyền nhân miền bắc.

Cho nên người miền nam ở hải ngoại đông hơn người miền bắc nhiều lần nhưng tỉ lệ phạm pháp lại thấp hơn rất nhiều lần, không gây một tai tiếng nào tại quốc gia họ định cư. Cái đặc tính ham học và làm ăn đàng hoàng có văn hóa đó đã mang lại sự kính trọng của người bản xứ. Con cái thành phần miền nam đã tạo được nhiều thành quả về học vấn và công tác, kể cả đạt được những chức vụ cao trong chính phủ nước người như là ông Đinh Việt cựu thứ trưởng bộ Tư Pháp Liên Bang Hoa Kỳ, Luật sư Lưu Tường Quang cựu Tổng Giám Đốc Đài Phát Thanh Quốc Gia Úc Châu (SBS), ông Vũ Khanh Thanh, nghị viên tại Anh Quốc (Councillor for the London Borough of Hackney ) và còn nhiều viên chức cao cấp khác nữa.

Tóm lại người miền nam và con cái họ, chỉ sau thời gian ngắn tới trường học, họ đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội mới và được người bản xứ kính nể. Trong khi con cái người miền bắc ở nước ngoài không tạo được những thành quả gây ấn tượng bằng một phần nhỏ con em miền nam. Một nhà báo nổi tiếng của miền bắc đang tị nạn chính trị tại London, một người bạn thân vong niên với tôi trong trại tù Z30D vì tội chống đảng, một lần điện thoại nói với tôi thế này: “Em biết đấy, đám miền bắc khác người miền nam. Chúng có chăm lo cho con cái đi học đâu. Ở bên này (Anh Quốc) chúng toàn làm những chuyện bất hợp pháp”. Điều buồn cười là nhà văn miền bắc này chính cống là người Hà Nội cho tới sau 1975 và là một trong vài cán bộ được đảng huấn luyện giỏi nhất miền bắc để đảm nhiệm những công tác cần trình độ cao tương đương với giới trí thức phương tây (vì an ninh cho ông ấy tôi xin miễn nêu tên).

Từ trên Những bi can người Việt liên quan đến vụ cần sa khác vẫn chưa thụ án. Người Việt trồng cần sa với quy mô lớn và đa quốc gia trong EU. Một cơ sở trồng cần sa của người Việt tại Pudapest bị cảnh sát Hungari phá hủy (nguồn: Vietinfo.eu)

Tại Canada, trình trạng tội phạm của người Việt gia tăng với tốc độ đáng sợ. Theo trang mạng Sherdog.net, bài “Vietnamese gangs stranglehold over the Canadian marijuana industry” viết rằng 95 phần trăm hoạt động trồng cần sa do cảnh sát khám phá tại Vancouver được điều hành bởi các nhóm người Việt. Bài báo viết tiếp, các nhóm trồng cần sa này là những gia đình, hợp tác với nhau để kiếm tiền… Các nhóm người Việt là những người trồng nhiều cần sa nhất trên toàn quốc …

Việc trồng cần sa có lợi nhuận khổng lồ (tremendous profit)… Người Việt trồng cần sa đã phát triển khắp các vùng Edmonton, Calgary, Saskatoon, Winnipeg, Toronto và Montreal… Một người Canada gốc Việt hoạt động cộng đồng hàng đầu (community leader) nói rằng nhiều người bàn tán về việc các gia đình gốc Việt tham gia trồng cần sa. Ông nói nguyên văn, “Nhiều người trong số họ (người Việt) cảm thấy đó là cách dễ kiếm tiền và vì thế họ đã đi vào nghề đó..” Sự tham gia của các nhóm gia đình người Việt vào việc kinh doanh bất hợp pháp này cũng gia tăng nhiều. Trong năm 1997 số nghi can gốc Việt liên quan tới hoạt động cần sa tăng từ 2% lên tới 36%. Các ghi nhận cho thấy con số người Việt trồng cần sa là đông nhất. Những người Việt từ Âu Châu và Úc châu đang được tuyển mộ để chăm sóc cây cần sa …

Cảnh sát tại Anh quốc cho hay 75 phần trăm cơ sở trồng cần sa bị khám phá do các nhóm băng đảng người Việt điều hành…Tại Anh Quốc cảnh sát đã lục soát từ giữa năm 2005 tới 2006, 802 cơ sở trồng cần sa tại London, trong đó 2/3 cho tới ¾ các cơ sở đó là do các băng nhóm người Việt điều hành … Phương pháp trồng cần sa được dùng tại Canada hiện đang được lặp lại tại Anh quốc. Nhật báo The Vancouver Sun ra ngày Thứ Năm, mùng 10-12-2009 đăng bài “The RCMP’s gangster ‘hit list’: …” công bố ngày thứ Sáu, mùng 10-6-2005 viết rằng Nhóm băng đảng Á châu nổi tiếng nhất tại Vancouver là nhóm “Big Circle Boys-BCB). Bài báo viết tiếp, các nhóm người Việt kiểm soát 85% hoạt động trồng cần sa tại vùng Lower Mainland và hầu hết các thương vụ ma túy tại Vancouver Island, bắc Nanaimo. Thành viên nhóm BCB can dự vào những vụ giết người, cho vay nặng lãi, buôn người, thu hụi chết, cướp bóc và xuất cảng xe hơi ăn cắp sang Á châu. Các nhóm băng đảng người Việt nổi tiếng tàn nhẫn và bạo động bất chợt. Các nhóm tội phạm Á châu khác chìm hơn (more low-key) và không muốn làm cảnh sát chú ý, nhưng sẽ dùng bạo động và giết người như giải pháp cuối cùng để bảo vệ quyền lợi bất hợp pháp của chúng.

Tại Úc châu, cảnh sát cho hay các tay buôn cần sa người Việt đã đi Canada để học hỏi cách trồng loại cây này. Người ta tin rằng chúng sẽ dùng kiến thức học được để trồng và bán cần sa tại Việt Nam.

Tại Anh quốc tình trạng tội phạm của người Việt miền bắc cũng được nêu đích danh. Bài Archive for March 24th ,2009, “A Viet Member of the British Empire” viết rằng, mới đây, người Việt tại Anh quốc đã nổi tiếng trên báo chí truyền thông Anh quốc do các hoạt động tội phạm trồng cần sa và buôn người.

Ngay cả người miền bắc cũng xác nhận tình trạng tội phạm của họ. Trong bài “Người Việt tại Vacsava trồng cần sa” đăng trên mạng Đàn Chim Việt ngày mùng 2 tháng 1-2009, phần góp ý, ông Nguyễn Dũng viết rằng dân Việt Nam tại Anh Quốc, phần nhiều từ Hải Phòng cũng trồng và buôn bán cần sa ma túy. Một người khác tên là Tâm thì viết, thực lòng mà nói những người Việt Nam trồng cần sa ở Anh, Canada và một vài nước khác đã bị bắt hầu hết đều là người miền bắc Việt Nam, cho dù tôi cũng là người miền bắc thì tôi cũng không thể chối cãi điều đó, nhưng xin bà con thông cảm, bởi vì sống trong một chế độ mà nhà cầm quyền chà đạp lên tất cả để giữ độc quyền cai trị, thì người dân họ cũng học theo cái xấu đó để mà tồn tại. Chính vì thế mà họ coi thường luật pháp và thượng tôn đồng tiền.Theo ông Nguyễn Dũng, một di dân gốc bắc ở trên, người dân miền bắc học theo cái xấu của đảng “để tồn tại.” Như vậy nguyên nhân của tình trạng tội phạm của người miền bắc phải là vấn đề văn hóa chứ không phải vấn đề kinh tế. Vả lại nếu nguyên nhân của tội phạm là vấn đề kinh tế thì người di dân gốc miền nam cũng phải có mức độ và hình thức tội phạm tương tự.

Làm giầu nhanh chóng bằng mọi giá, kể cả bất hợp pháp, bạo động, đâm chém là mộng ước lớn hiện nay của cộng đồng người miền bắc hải ngoại. Nghề trồng cần sa đáp ứng mộng ước bất hợp pháp đó của người miền bắc bởi thế họ đang đua nhau tràn sang Anh quốc, bất kể mọi nguy hiểm. Trong bài “ Những bước đổi đời gian nan” của Huỳnh Tâm đăng ngày 28/10/2009 trên trang mạng Đàn Chim Việt tác giả viết “Trước khi chia tay, chúng tôi hỏi lý do vì sao phải đến Anh mà không qua Đức, Bỉ hay Hà Lan. Tất cả đều nói giống nhau: “Chúng tôi đến Anh là vì nơi đó tìm kiếm việc làm dễ hơn, lương cũng cao hơn và sẽ có giấy tờ cư trú hợp pháp, cũng như nơi ăn ở đã có chủ lo hết”. Qua tìm hiểu, công việc lương cao, chủ bao là trồng cỏ hay bán sản phẩm quốc cấm, còn nữ có khả năng phải làm trong ngành buôn hương bán phấn, dịch vụ mới phát triển tại Anh quốc do người Việt làm thầu.”

Đồng thời người miền bắc đang mở một chiến dịch phổ biến trồng cần sa hầu như khắp Âu châu và cả ở Hoa Kỳ. Nhưng riêng tại Hoa kỳ lâu nay cũng có một vài âm mưu phổ biến kỹ nghệ bất hợp pháp này sang thành phố Seattle, Hoa Kỳ, kế cận thành phố Vancouver của Canada. Nhưng chiều hướng này khó thành công vì hai lý do: 1- Tại Hoa Kỳ, tội trồng cần sa bị trừng phạt nặng hơn ở Canada và Anh quốc rất nhiều. 2-Người miền bắc ở Hoa Kỳ rất ít nên họ không tìm được đồng minh như ở các quốc gia khác.

Trồng cần sa là một nghề rất hấp dẫn và một khi đã đâm đầu vào rồi thì khó bỏ, bởi vì nó quá dễ và quá có lời. Kiếm vài triệu dễ như chơi. So với một kỹ sư tại Mỹ, trung bình lương 50 ngàn đô một năm. Một đời làm việc trung bình 30 năm mới kiếm được 1 triệu rưỡi. Trừ thuế 30 phần trăm thì còn lại hơn 1 triệu. Sau khi trừ chi phí đời sống thì cuối đời còn được bao nhiêu. Nhưng đi vào trồng cần sa thì tất cả mọi người đều trở thành triệu phú trong chớp mắt. Người quen của tôi từ Việt Nam kể chuyện rằng có người trong nước mới đi xuất cảnh lao động không biết làm gì mà gửi tiền về nhà nhiều quá. Thân nhân của họ ở Việt Nam mua căn nhà bốn, năm tỉ dễ dàng như lấy tiền trong túi. Tôi bảo rằng những người xuất cảnh lao động mà nhiều tiền như thế thì chỉ có nước trồng cần sa, buôn ma túy thôi chứ làm gì có nước nào kiếm tiền dễ như thế.

Một lần sang Canada thăm một cặp vợ chồng quen trong trại tị nạn. Thấy họ sống sung túc trong một ngôi nhà khang trang mua bằng tiền mặt và đã trả hết nợ, có nghĩa là không vay ngân hàng, tôi hết sức ngạc nhiên và cũng đoán thầm nghề nghiệp của họ. Ở chơi được nửa ngày họ mới thật tình thổ lộ hết công việc. Hiện nay thì chị vợ mở tiệm nails chủ yếu chỉ để tạo bề mặt rửa tiền. Anh chồng không phải làm gì cả. Họ thú thật đã có bạc triệu. Mấy triệu thì tôi không biết và không tiện hỏi chi tiết nhưng chính miệng anh ta nói ra là “triệu”. Anh ta cho biết bây giờ đã giải nghệ. Tôi không tin, cười hỏi, “Giải nghệ thật không?”. Anh ta thú thật rằng, giải nghệ là bản thân anh ta không còn trực tiếp trồng thôi, chứ căn nhà cơ sở của anh ta vẫn còn và anh ta kêu người chăm nom rồi chia lời. Vài ba tháng anh ta tới thu vài chục ngàn đô tiền chia lợi tức.

Một năm không phải làm gì cả mà thu lợi tức bốn chuyến như thế thì cuộc sống khoẻ quá. Lợi tức hơn một bác sĩ làm việc cật lực. Anh ta bảo tôi nếu muốn thì mua một căn nhà ở Canada rồi anh ta sẽ kêu người lo giúp cho. Lúc đó tôi không phải làm gì cả mà cứ vài tháng đi du lịch sang Canada thu vài chục ngàn đô. Anh ta trình bày tiếp, trong làm ăn mọi việc tự nó sẽ hình thành một hệ thống kín từ A tới Z. Mình không phải bận tâm. Mỗi khâu đều có dịch vụ. Từ người Realtor chuyên mua nhà tới anh constructor sửa nhà để thành cơ sở trồng cần sa, tới luật sư lo về pháp lý khẩn cấp mỗi khi bị cảnh sát khám phá, đã tự nhiên trở thành một hệ thống mắt xích hoàn hảo. Khi nghe như thế thú thực lòng tôi cũng chao đảo. Huống chi là mấy người nghèo đói ở Việt Nam. (còn tiếp-Kết luận: Chia rẽ bắc nam sẽ còn kéo dài)

Nguyễn Tường Tâm

Ghi chú: danh từ “Người miền bắc” trong loạt bài này chỉ những người bắc còn ở lại Hà nội sau năm 1954 và những người vào miền nam sau ngày 30-4-1975, kể cả con cháu họ, cho dù sinh trưởng tại miền nam sau đó.

ooOoo

    Zlikwidowana plantacja konopi indyjskich
Kryminalni z Piaseczna zabezpieczyli ponad 500 doniczek z krzewami konopi, z których można było uzyskać nawet do kilkudziesięciu kilogramów marihuany. Jest to jedna z największych plantacji jaką w ostatnim czasie zlikwidowano na tym terenie. Wartość zlikwidowanej plantacji wstępnie oszacowano na kilkaset tysięcy złotych.Policjanci codziennie walczą z przestępczością narkotykową i wszelkimi jej przejawami. Poza zatrzymywaniem osób mających związek z środkami odurzającymi równie ważnym ogniwem pracy kryminalnych jest znajdowanie i eliminowanie samych narkotyków. Każda zabezpieczona przez funkcjonariuszy „działka” nigdy więcej nie trafi już na rynek.

Kryminalni w trakcie działań ukierunkowanych na zwalczanie przestępczości narkotykowej pozyskali informację dotyczącą nielegalnej uprawy konopi na terenie powiatu. Realizując działania operacyjne ujawnili nielegalną plantację konopi indyjskich. Wczoraj o 6.30 nad ranem funkcjonariusze z wydziału kryminalnego weszli na teren posesji w Tarczynie. Na parterze, piętrze i poddaszu willi policjanci zabezpieczyli ponad 500 doniczek z krzakami konopi indyjskich. Rośliny miały wysokość od kilkudziesięciu centymetrów do 1 metra. Na poddaszu budynku policjanci zabezpieczyli kilkadziesiąt zużytych doniczek oraz około metra sześciennego krzewów z których były zdjęte liście i kwiatostan. Pomieszczenia były specjalnie przystosowane do uprawy narkotyków.

Policjanci do sprawy zatrzymali mężczyznę i dwie towarzyszące mu kobiety narodowości wietnamskiej. Organizatorem całego procederu był 37-letni Phan D.H. Policjanci w chwili zatrzymania mężczyzny zabezpieczyli w jego miejscu zamieszkania około 20 gram marihuany. Narkotyki były ukryte w różnych miejscach, w opakowaniu po prezerwatywach, w plecaku, w puszce po orzeszkach, w zwoju folii aluminiowej.

Śledczy wstępnie szacują, że po odpowiedniej obróbce na rynek mogło trafić nawet kilkadziesiąt kilogramów suszu roślinnego o wartości czarnorynkowej sięgającej do kilkuset tysięcy złotych. Zatrzymany mężczyzna będzie odpowiadał za posiadanie i uprawę narkotyków. Sprawa jest rozwojowa, niewykluczone są dalsze zatrzymania.

(źródło: KSP)




 

Nguyễn Phú Trọng đi thăm Hoa Kỳ nói lên điều gì?

Thursday, June 25th, 2015

Lê Dủ Chân (Danlambao)  Theo tin của BBC thì Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm Hoa Kỳ từ ngày 7 đến ngày 9 tháng Bảy năm 2015. Trong chuyến đi này ông Trọng sẽ hội đàm với Tổng Thống Barack Obama tại Nhà Trắng. Hai bên dự kiến sẽ có tuyên bố chung về tầm nhìn của quan hệ đối tác toàn diện và sâu rộng giữa hai nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và tầm nhìn chung Việt-Mỹ về quan hệ quốc phòng, định hướng hợp tác quốc phòng thời gian tới.
Tại Washington DC, ông Trọng dự kiến cũng sẽ dự chiêu đãi do Ngoại Trưởng John Kerry chủ trì, gặp Đại diện Thương mại Michael Froman hoặc Bộ trưởng Thương mại Penny Pritzker, Bộ trưởng Nông nghiệp Tom Vilsack cũng như các cựu chiến binh, chức sắc tôn giáo và nhân sỹ, trí thức Mỹ. Tiếp xúc với các nghị sĩ đảng Dân Chủ và Cộng Hòa tại Thượng Viện và Hạ Viện Mỹ, gặp thượng nghị sĩ John McCain, gặp gỡ đại diện doanh nghiệp Mỹ.
Tại New York, ông Trọng sẽ gặp lãnh đạo đảng cộng sản và bạn bè cánh tả Mỹ, vợ chồng cựu Tổng Thống Bill Clinton, gặp đại diện Việt kiều và đại diện du học sinh Việt Nam. Ngoài ra ông Trọng sẽ gặp Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và tiếp xúc với nhóm trí thức quan tâm tới Việt Nam của trường đại học Harvard.
Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam tới Hoa Kỳ, chắc hẳn các đảng viên đảng cộng sản Việt Nam chưa bao giờ nghĩ đến có một ngày Tổng Bí Thư của mình đi thăm nước Mỹ. Qua chuyến đi này của ông Nguyễn Phú Trọng nhân dân Việt Nam trong đó có mấy triệu đảng viên đảng cộng sản thấy được gì?
1- Chủ nghĩa cộng sản đã phá sản trong tư tưởng của ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam ngày nay.
Thật vậy, nếu như đảng cộng sản Việt Nam còn kiên trì tư tưởng Mác Lê thì nước Mỹ, hang ổ của tên đế quốc tư bản sừng sỏ nhất thế giới, là nơi để ông Nguyễn Phú Trọng, đảng trưởng đảng cọng sản Việt Nam, đem bom đạn, lưỡi lê giáo mác và tư tưởng đấu tranh giai cấp đến để giải phóng chứ dứt khoát không phải là nơi để ông ta đến để cầu xin hợp tác và học hỏi như những gì đã diễn ra hôm nay.
2- Ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam hôm nay dù không nói ra nhưng đã mặc nhiên công nhận đường lối, chính sánh chống Mỹ cứu nước của đảng trong quá khứ là sai lầm.
Đảng cộng sản Việt Nam phải trả lời sao đây với nhân dân miền Nam Việt Nam trước tháng 4/1975 và nhân dân trên cả nước sau tháng 4/1975 với chủ trương“đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào, đánh đến người việt cuối cùng cũng đánh” của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản trong 70 năm qua, trước sự kiện ông Nguyễn Phú Trọng tổng bí thư của đảng ta qua thăm nước Mỹ với mục đích hoàn toàn không khác gì các vị lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm trong quá khứ.
3- Ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam hôm nay nhận ra được rằng con đường bán nước cho Tàu không cứu vãn được chế độ, ngược lại nó sẽ làm cho chế độ sụp đổ nhanh hơn. 
Nhân dân Việt Nam chắc chắn sẽ vùng lên lật đổ chế độ Việt gian để bảo vệ tổ quốc của mình trước nguy cơ mất nước, mất chủ quyền về tay Tàu cộng. Muốn cứu chế độ, con đường duy nhất đảng cộng sản phải đi là hợp tác với Mỹ để một mặt ngăn chặn lòng tham vô đáy của Trung cộng và mặt khác xoa dịu sự phẫn nộ càng ngày càng cao trong quần chúng nhân dân.
4- Sự tranh chấp quyền lực giữa hai phe ngả về Mỹ hoặc đi theo Tàu trong nội bộ đảng đã nhất thời ngã ngũ và mẫu số chung của hai phe là kéo dài quyền lãnh đạo của đảng bất kể dưới chế độ nào.
Đảng cộng sản Việt Nam giờ đây đang như một người đánh mất nhân thân của mình. Lý tưởng cộng sản cũng như quốc gia, dân tộc họ không còn tâm trí để lo đến nữa, mọi nỗ lực của họ hôm nay là bằng mọi giá phải duy trì cho được quyền lực mà họ đã giành được trong 70 năm nay dù phải hy sinh quốc gia, dân tộc hay lý tưởng của mình.
Hiện nay có ba thế lực có ảnh hưởng quyết định trên sự tồn tại của đảng cộng sản Việt Nam, đó là nhân dân Việt Nam, Tàu và Mỹ. Đối với Tàu và Mỹ dù ngả về bên nào thì đảng cộng sản cũng có nguy cơ bị thế lực còn lại là nhân dân lật đổ. Theo Tàu bị lật đổ vì tội bán nước, ngả Mỹ thì bị lật đổ vì tự do, dân chủ và nhân quyền, chỉ khác nhau ở chổ nhanh hay chậm, hòa bình hay bạo động, an toàn hay không an toàn.
Chuyến đi thăm Mỹ lần này của Nguyễn Phú Trọng cho thấy lãnh đạo cấp cao của đảng cộng sản Việt Nam đã thấy được vấn đề này và mục đích của nó là tạo sự quân bình giữa ba thế lực nêu trên để kéo dài tuổi thọ của đảng thêm được ngày nào hay ngày ấy.
 
5- Lời nói của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” hôm nay đã được chứng minh một cách rỏ ràng và cụ thể qua chuyến thăm nước Mỹ lần này của Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Tháng Tư chửi Mỹ hà rầm
Tháng Bảy đi Mỹ nâng tầm bang giao
Bắt thang lên hỏi trời cao
Tin người cộng sản được bao nhiêu phần?
Phú Trọng đi Mỹ vì dân?
Thưa không! Vì đảng, vì thân, vì Tàu.
 
23/06/2015

THÔNG CÁO BÁO CHÍ Về kết quả cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc tại New York ngày 20/6/2015 

Tuesday, June 23rd, 2015

BTC 15_Logo

New York, 20/6/2015 – Vào ngày thứ Bảy 20/6/2015, cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 30 do Cơ Quan Quốc Tế Di Dân tổ chức đã diễn ra rất tốt đẹp tại thành phố New York, Hoa Kỳ dưới bầu trời trong sáng đầy nắng ấm, mặc dù buổi sáng sớm có mưa lâm râm. Đây là lần thứ 16 Cộng Đồng người Việt tỵ nạn tham dự.

Banner va comm small

Đoàn diễn hành trải dài trên đại  lộ số 6 (6th Ave) – một đại lộ nổi tiếng của thành phố New York với nhiều cao ốc, còn được gọi là Đại Lộ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (Avenue of America) – từ đường 44 đến đường 56, tức 12 bloc đường phố. Từ 9 giờ sáng, các đội hình của đoàn Việt Nam đã bắt đầu tập họp trên đường 43, giữa đại lộ 5 và 6. Đúng 12 giờ trưa, các đội hình bắt đầu di chuyển.

Có nhiều quốc gia tham dự cuộc diễn hành quốc tế hàng năm này, năm nay có Tibet, Abania và Việt Nam. Nhưng có lẽ đoàn Việt Nam được xem là đông nhất, nhiều màu sắc nhất, nhiều ý nghĩa và có nhiều giải thưởng nhất trong những năm có chấm điểm.

Cac chu tich cd

Mặc dù gặp khó khăn về nơi tạm trú do khách sạn của nhà Mạnh Thường Quân quá cố Trần Đình Trường nay đã thuộc chủ nhân mới, số đồng hương Việt Nam tham dự năm nay khá đông (khoảng 600). Nhiều phái đoàn đến từ nơi xa xôi như Cộng Đồng  Houston (Texas) với tân Chủ Tịch Trần Quốc Anh lái xe hơn 30 giờ; phái đoàn tử Georgia đi 20 tiếng bẳng xe bus với trên 120 thành viên; Cộng Đồng DC, Maryland và Virginia với hơn 50 thành viên dong ruổi 6 giờ suốt đêm trên xe bus; Boston, Mass 50 thành viên cùng võ đường Tây Sơn với 7 giờ lái xe. Phái đoàn từ Louisiana, Kansas, phái đoàn từ Weschester, NY với võ đường Ocean Dragon Martial Art. Phái đoàn Florida gồm Ông chủ tịch Lưu Văn Tươi và phu nhân; Bà Đồng Thanh cựu chủ tịch đã trên 80 tuổi vẫn hiện diện cùng Hoa Hậu Phu Nhân 2015 Xuân Trà. Từ thành phố Pomona, Cali, BS Võ Đình Hữu, chủ tịch Hội Đồng Đại Biểu, CĐNVQGLBHK đáp máy bay suốt đêm về cho kịp giờ khai mạc. Tại địa phương New York, ngoài các vị trong Ban Tổ Chức (LS Nguyển Thanh Phong, Ông Nguyễn Văn Tánh, Cô Tara Thu, Ông Nguyễn Sơn Hà, Ông Lê Thanh Diệu…), còn có nhiều đồng hương tham dự trong đoàn diễn hành hoặc với tư cách khán giả hai bên đại lộ. Ngoài ra còn có phái đoàn tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo v.v.., phái đoàn Nhà Bảo Tồn Văn Hóa từ Canada.

xe hoa 2

Cộng Đồng Việt Nam năm nay tham dự với xe hoa chủ đề “Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh” trang trí lộng lẫy nhằm nói lên tinh thần bất khuất, từng đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ gìn bờ cõi, và đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn đất nước hiện đang lâm nguy trước họa xâm lược của Tàu Cộng từ phương Bắc. Phái đoàn diễn hành Việt Nam rất dài gồm đủ mọi thành phần tuổi tác, trẻ già, nam phụ lão ấu, nhất là giới trẻ, màu sắc rực sỡ, có cả các cụ già 80-90, có cụ dùng lăn hoặc walker để đi diễn hành. Cờ Quốc Gia màu vàng ba sọc đỏ tung bay trong gió, gương mặt mọi người rạng rỡ.

Đặc biệt phái đoàn từ Nam California với các văn nghệ sĩ như  MC Nam Lộc, Diễm Liên, Thế Sơn. Bắc Cali có Bà Chung Ngọc Nhi hướng dẫn với MC Thái Hà, Hoa Hậu Asian American Jenny Chung. Hoa Hậu từ Georgia, Hoa Hậu Phu Nhân 2015 từ Florida v.v.di dau

cam co lon med

dienhanh

Hầu hết các vị Chủ Tịch cộng đồng Đông Bắc Hoa Kỳ đều có mặt cùng các thành viên: CĐ New Hampshire (Ông Cao Xuân Khải và phái đoàn); CĐ Mass (Ô. Nguyễn Thanh Bình và phái đoàn), Cộng Đồng Connecticut với Ông Trần Văn Giỏi, Cộng Đồng New Yersey (với Chủ tịch Lê Ánh Nguyệt), Nam New Jersey (Ông bà Trần Quán Niệm và Hội Phụ Nữ), Cộng Đồng Philadelphia (Ông Vũ Trực), CĐ Pennsylvania (DS Nguyễn Đức Nhiệm), CĐ Hoa Thịnh Đốn (Ông Thomas Phạm, Ông Nguyễn Văn Đặng và các thành viên), Cộng Đồng Georgia (Ô Trần Mãn), Đoàn Phụ Nữ Cờ Vàng với áo dài màu cờ đến tử nhiều nơi như DC, New Jersey, Massachusetts v.v.. Trước giờ diễn hành, các vị chủ tịch CĐ, đoàn thể, tôn giáo cũng như các anh chị em Văn Nghệ Sĩ đã phát biểu cảm tưởng trước các cơ quan truyền thông như SBTN, VNA-TV 57.3 (Ông Du Miên và chuyên viên), OVM4TV (với Ông Nguyễn Đình Toàn), SBTN Boston với Ô. giám đốc Hà Văn Tải, đài Việt Nam Hải Ngoại New Jersey (với ông Nguyễn Tường Thược), báo Người Đẹp (Ô. Lưu Nguyễn), báo Việt Mỹ, TV Atlanta và nhiều nơi khác.

Vào tối thứ Bảy, một tiệc kỷ niệm 30 năm Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế và 40 năm viễn xứ, được tổ chức có văn nghệ giúp vui với ca sĩ Diễm Liên, Thế Sơn, MC Thái Hà và Nam Lộc, các ca sĩ địa phương tại hội trường nhà thờ Most Precious Blood Church rất hào hứng, quy tụ trên 200 thực khách.

Tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế năm nay Cộng Đồng người Việt tỵ nạn chứng tỏ sự kiên trì quyết tâm giữ gìn văn hóa ở hải ngoại và ngọn cờ chính nghĩa Tự Do vẫn tung bay trên nền trời thành phố New York. Ban Tổ Chức đã tốn nhiều công sức tạo nên kết quả hôm nay với sự tham dự đông đảo và sự nhiệt tình ủng hộ của các đồng hương, cộng đồng và mạnh thường quân khắp nơi về tinh thần lẫn vật chất. Người Việt tỵ nạn hải ngoại nhất quyết giữ vững truyền thống ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm không để cho CSVN có cơ hội chen vào.

Ban tổ chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế chân thành tri ơn tất cả các cộng đồng, các tổ chức đoàn thể, các mạnh thường quân, các văn nghệ sĩ và đồng thương đã hỗ trợ tài chánh, yểm trợ tinh thần và tham dự ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế 2015 năm nay. (BTC tổng hợp từ TQN) 

BAN TỔ CHỨC

Cố Vấn và Bảo Trợ: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

Trưởng Ban Tổ Chức: LS Nguyễn Thanh Phong Chủ Tịch CĐNVQY/NY.

Điều Hợp Tổng Quát: Ô. Nguyễn Văn Tánh Cựu Chủ Tịch CĐNVQG/HK.

Đồng Trưởng Ban Tổ Chức:

– Ô. Đoàn Hữu Định:  Chủ Tịch Cộng Đồng MD & VA và DC

– Ô. Cao Xuân Khải: Chủ Tịch Cộng Đồng New Hampshire

– Ô. Nguyễn Thanh Bình: Chủ Tịch Cộng Đồng Massachusetts

– Ông Trần Văn Giỏi: Chủ Tịch Cộng Đồng Connecticut

– DS Nguyễn Đức Nhiệm: Chủ Tịch Cộng Đồng Pennsylvania

– Ông Lưu Văn Tươi: Chủ Tịch Cộng Đồng TB/Florida

– Ô. Trần Quán Niệm: Chủ Tịch Cộng Đồng Nam New Jersey

– Ô. Vũ Trực: Chủ Tịch Cộng Đồng Philadelphia, PA

– Cô Lê Ánh Nguyệt: Chủ Tịch CĐ Việt Nam Tự Do New Jersey

 

Thành Viên Ban Điều Hợp:

Đặc Trách Truyền Thông:   Ô. Nguyễn Đình Toàn – Phó Ban Điều Hành: Cô Tara Thu &

Ô. Lê Thanh Diệu – Thủ Qũy:  Ô. Nguyễn Sơn Hà.

Một bài văn hay 30-4 của nữ sinh lớp 12

Thursday, May 14th, 2015
Sent: Thursday, May 14, 2015 8:57 AM
Lê Trần Thu Nguyệt – Lớp 12/A4 – Trường THCS III – Quận… TP/HCM
Môn Văn Học – Đề bài: “Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới của xã hội đất nước, có thứ nào đôi khi có thể sẽ tốt hơn, nếu: (theo suy nghĩ của bạn)…?” 
Bài Làm 
Sáng ngày 30 tháng 4 – Trôi theo dòng người tấp nập Tôi ngược lên cầu Thị Nghè rẽ trái đường Nguyễn Bỉnh Khiêm định vào đại lộ Lê Duẩn xem lễ duyệt binh chào mừng “Đại Thắng”, nhưng đến trước thảo cầm viên là cảnh sát công an ách lại kiểm ra, chỉ có giấy mời mới vào được khu vực trung tâm hành lễ.
Lỡ đi rồi biết làm sao, đứng bên lề đường trưa nắng như thiêu đốt, một chiếc xe bus quân đội đời mới dừng lại mở cửa hơi lạnh từ trong xe hắt ra mát rượi nhiều người đứng tuổi trên xe bước xuống, quân phục “Giải Phóng Quân” mới tinh một màu xanh lá với huân, huy chương lủng lẳng đầy ngực xếp hàng đủng đỉnh oai vệ đi sau người cầm cờ hướng vào khán đài.
Khát nước, bước qua bên kia đường mua ly nước mía, mắt tôi chợt dừng lại dưới đất cách vài bước chân ngồi bên cột đèn đường hứng cái nắng chói chang gay gắt là một bóng người lớn tuổi đen đúa cụt cả đôi chân cái nón vải sùm sụp trên đầu và chiếc áo rằn ri lá cây rừng bạc màu nắng gió trước mặt là cái lon sắt cũ kỹ đựng tiền lẽ.
Cầm ly nước mía tự nhiên đôi chân tôi bước lại, ngồi xuống 2 tay bê ly nước tôi ngỏ lời: Thưa, cho cháu mời bác ly nước và cũng không quên bỏ vào cái lon sắt tờ bạc mười ngàn đồng, ngạc nhiên bên trong cái lon sắt nằm chèo queo là cái huy chương bằng kim loại cũ mèm, tôi cầm lên ngắm nghía hỏi khẽ: bác là thương binh? Bác ấy cười móm mém: Thưa cô, tôi là phế binh chế độ cũ QL/VNCH, cái huy chương đó là “Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu” kỷ niệm trận ĐăkTô, Tân Cảnh.
Đứng ở đây xa quá không xem được gì nhiều. Tôi mua vé vào Thảo Cầm Viên kề bên, ngồi trên thảm cỏ xanh dưới bóng cây trốn cái nắng mang theo trong lòng một thứ gì đó nằng nặng, không dưng tự nhiên bỗng thấy vương vấn một thoáng ngậm ngùi…
Rồi tự hỏi: Sao cũng là người Việt Nam cũng chiến binh như nhau nhưng ngày “đại thắng” thống nhất non sông, dân tộc chứng kiến 2 số phận “Vinh Nhục” đôi đường tương phản đến não lòng như vậy?.
Rồi như tự trả lời cho chính mình: Nếu ngày xưa sau khi bị chia đôi 2 miền đất nước vào năm 1954 sao Miền Bắc, Bác Hồ không làm như miền Nam là “tuyên chiến” nhưng tuyên chiến với đói nghèo lạc hậu với nhược tiểu của một quốc gia vừa thoát tròng 100 năm nô lệ, 2 miền Bắc Nam cùng thi đua nhau, Sài Gòn ông Ngô Đình Diệm thì dựa vào viện trợ của Mỹ và các nước tư bản để phát triển cùng nhịp điệu với các quốc gia Đông Nam Á. Hà Nội thì ông Hồ Chí Minh dựa vào Liên Xô, Trung Quốc và khối Đông Âu viện trợ xây dựng lại miền Bắc sau cơn đói tang thương Ất Dậu, chưa cần thiết phải tuyên chiến đánh nhau và với vị trí đắc địa nhìn ra Biển Đông trên “đại lộ” hàng hải quốc tế thì sau hơn 60 năm (kể từ 1954) nếu sáng suốt và khôn khéo thì hôm nay chí ít 2 miền Bắc Nam đã như là Hàn Quốc – Đài Loan hay Singapore, kinh tế phát triển bao nhiêu thì xã hội kiến thức văn minh con người cũng cao theo chừng ấy và lúc này sau bao nhiêu năm, là lúc người dân 2 miền sẽ biết phải làm như thế nào để tương thích với tầm cao trí tuệ, để nhân danh nhân quyền nhất trí bằng một cuộc biểu quyết thống nhất trong êm đềm văn minh như Đông và Tây Đức trước kia và sẽ bầu tổng thống và Quốc Hội mà nhân sự là tổng hợp nhân tài trộn lẫn của cả 3 miền Trung Nam Bắc trong công bằng quang minh chính trực.
Và như vậy là hoàn toàn không có mấy triệu người, một thế hệ thanh niên rường cột quốc gia nằm xuống, không có biết bao cảnh tang thương đoạn trường do khói lửa chiến tranh bom đạn từ nước ngoài mang vào gây ra và quan trọng là đôi khi qua cuộc bầu cử thống nhất bởi trí tuệ văn minh nhân quyền đích thực của toàn dân phát triển qua 60 năm không bị chiên tranh hôm nay có thể Việt Nam không phải là một nước CS/XHCN mà được toàn dân chọn lựa là một quốc gia đa nguyên tự do dân chủ như đa phần các quốc gia trong LHQ hiện nay và vì vậy chắc chắn không có hình ảnh ngày lễ “Thống Nhất” duyệt binh mà có Bác thương binh QL/VNCH miền Nam ngồi bên vệ đường nắng bụi cùng cái huy “Anh Dũng Bội Tinh” và nhất là sẽ có gần trăm triệu người cùng chung vui chứ chẳng có triêu người nào buồn…
Tóm lại có rất nhiều thứ, nhưng một thứ lớn nhất “có thể sẽ làm cho xã hội tốt hơn rất nhiều so với ngày nay, nếu không có cuộc chiến tranh phát xuất từ miền Bắc vào miền Nam” gây ra.
Con gái tôi dưới nhà đi lên hỏi: Ba thấy bài viết con ra sao mà Thầy con nói “rất muốn cho em điểm 9 bài văn này, nhưng không thể”? mà con thì không thể nào hiểu nổi?
Tôi im lặng chỉ cười buồn nhìn con mình cắp cặp lên lầu chuẩn bị làm lại bài mới dù muốn nói với con: Hơn ba triệu đảng viên CSVN trong đó hàng chục ngàn Thạc Sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư mà họ còn không muốn hiểu thì một học sinh 17 tuổi như con thì làm sao hiểu được… Một mai không còn chủ nghĩa CS trên đất nước mình ắt con sẽ hiểu mà không cần đến ai để giải thích.
14/05/2015

 

VÌ SAO GỌI NGÀY 30-4 LÀ NGÀY QUỐC HẬN VÀ THÁNG 4 LÀ THÁNG TƯ ĐEN?

Monday, March 30th, 2015

Thiện ý (viết ngày 30-4-2012)

Đúng ngày này của 37 năm về trước, ngày 30-4-1975, đánh dấu cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam đã chấm dứt nhanh gọn, phi lý và bất ngờ cho cả hai bên nội thù tham chiến, sau 21 năm diễn ra khốc liệt(1954-1975). Thế nhưng đây chỉ là sự kết thúc một giai đoạn của cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc –Cộng tại Việt Nam. Cuộc nội chiến ấy vẫn tiếp diễn từ sau ngày 30-4-1975 đến nay đã 37 năm và vẫn đang tiếp tục. Vì cuộc chiến ấy vẫn chưa phân thắng bại. Và vì vậy hàng năm cứ đến ngày 30-4, Việt cộng thì ăn mừng như một chiến thắng, còn Việt quốc thì tưởng niệm như một “ngày quốc hận” và coi cả Tháng 4-1975 là “Tháng Tư Đen”.Vì sao Việt quốc lại gọi ngày 30-4-1975 là“ngày quốc hận” và tháng 4 -1975 là “Tháng Tư Đen”?

         Để trả lời câu hỏi này, nội dung bài viết lần lượt trình bầy:
–       Ý nghĩa từ ngữ “Ngày Quốc hận” và “Tháng Tư Đen”.
–       Chúng ta hận ai, hận cái gì và hận để làm gì?

I/- Ý NGHĨA TỪ NGỮ “NGÀY QUỐC HẬN” VÀ “THÁNG TƯ ĐEN”

     Chúng tôi không biết cá nhân hay đoàn thể Việt quốc nào ở hải ngoại lần đầu tiên đã dùng từ ngữ “Quốc hận” để gọi ngày 30-4-1975 và “Tháng Tư Đen” để chỉ tháng 4-1975 . Nhưng điều đó không quan trọng bằng ý nghĩa của từ ngữ này đã nói lên được điều gì?
    Theo suy luận của chúng tôi,thì cụm từ “Ngày Quốc hận 30-4” diễn tả nỗi đau uất hận của những người Việt quốc gia từng sống ở Miền Nam Việt Nam trước 30-4-1975, dưới chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa.Vì ngày ấy đánh dấu chế độ tự do dân chủ non trẻ ở Miền Nam Việt Nam bị cưỡng tử, khiến cho gần 20 triệu dân quân Miền Nam Việt Nam lúc đó mất hẳn vùng đất tự do, rơi vào ách thống trị chế độ độc tài toàn trị Việt cộng.
         Chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử, có nghĩa là đã bị bắt buộc phải “chết bất đắc kỳ tử”, khi mà chế độ ấy cơ thể còn khỏe mạnh, không thể chết được hay ít ra chưa thể chết được, còn có thể cứu vãn được tình hình để hồi phục và tồn tại.Bị cưỡng tử vì chính quyền, quân, dân của chế độ có chính nghĩa ấy vẫn còn thừa khả năng chiến đấu để tự tồn, trước một đối phương Việt cộng phi chính nghĩa lúc đó đang ở thế cùng lực kiệt, thực sự không có khả năng để chiến thắng như vậy.
         Vậy mà, đối phương ấy đã được các thế lực khuynh đảo quốc tế sắp xếp cho đóng vai kẻ thắng trận, trong một cuộc chiến tranh Quốc- Cộng kéo dài 21 năm (1954-1975), chỉ vì nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực.Thật là điều bất công, phi lý khi họ đã cho phe “Tà cộng” thắng “Chính quốc”; quốc tế và đồng minh Hoa Kỳ đã làm ngơ bỏ mặc Việt Nam Cộng Hòa, trước hành động xâm lăng của Việt cộng, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình choViệt Nam ngày 27-1-1973 dù có những cam kết đa phương và bảo đảm quốc tế.
        Như thế bảo sao người Việt quốc gia ở Miền Nam Việt Nam không uất hận. Chính vì vậy ngày 30-4-1975 đã là “Ngày Quốc Hận” và Tháng Tứ năm 1975 đã là “Tháng Tư Đen”đối với người Việt quốc gia ở hải ngoại cũng như trong nước. Bởi vì ngày ấy, tháng ấy đã diễn ra những sự kiện đen tối cho Việt quốc (bao gồm chính quyền quốc gia, người Việt quốc gia trong chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa) và là ngày tháng khởi điểm đưa Việt Nam vào một giai đoạn “Đen tối nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam thời cận đại”.
       Đến đây , vấn đề đặt ra là: Chúng ta, những người Việt quốc gia hận ai, hận cái gì và hận để làm gì?

II/- CHÚNG TA HẬN AI, HẬN CÁI GÌ VÀ HẬN ĐỂ LÀM GÌ?

     1.-Trước hết chúng ta hận ai và hận cái gì?
     Về mặt khách quan, Việt quốc hận đối phương Việt cộng và hận cả người bạn đồng minh Hoa Kỳ năm xưa, nay lại đang là đối tác làm ăn với cựu thù Việt cộng.
    Về mặt chủ quan, người Việt quốc gia hận những người lãnh đạo hàng đầu về chính trị cũng như quân sự có trách nhiệm trước sự sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa và có thể hận với chính mình nữa.
       Thật vậy, người Việt quốc gia ở hải ngoại 37 năm qua và có thể cho đến lúc chết vẫn mang trong lòng mối hận người, hận mình, với tính chất và cường độ hận khác nhau.
       Mối hận hàng đầu là đối với đối phương Việt cộng. Với đối tượng này, tính chất và cường độ mối hận phải được diễn đạt bằng ngôn từ căm hận hay thù hận. Căm hận hay thù hận Việt cộng là điều tất nhiên, vì là đối phương, kẻ thù chính trong một cuộc chiến phi nghĩa do họ phát động, tiến hành đã gây nhiều hận thù trong chiến tranh. Và sau cuộc chiến tiếp tục gây nhiều thù hận vì đã xích hóa nhân dân cả nước dưới chế độ độc tài cộng sản hà khắc, tàn bạo, phi nhân.Trong chế độ này, Việt cộng đã xử dụng “Chuyên chính vô sản” cướp đoạt mọi tài sản của nhân dân Miền Nam (bị miệt thị là “Dân ngụy”), đầy ải, lăng nhục hàng trăm ngàn quân, dân, cán chính chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tù “Tập trung cải tạo”. Trong khi cha, mẹ, vợ con họ ở nhà bị Việt cộng phân biệt đối xử như những công dân hạng hai, bị bạc đãi, xua đuổi khỏi các thành thị hay các vùng đất mầu mỡ, đẩy đến các vùng kinh tế mới nơi đèo heo hút gió, đồi núi khô cằn hay bùn lầy nước đọng; phải bỏ lại tất cả nhà cửa, đất đai tài sản và các tiện nghi khác nơi các thành thị hay nông thôn, nhường lại tất cả cho giai cấp mới, giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản thụ hưởng.
         Không căm hận và thù hận sao được, khi khởi đi từ Tháng Tư Đen 1975, Việt cộng đã đưa cả đất nước và dân tộc  vào một thời kỳ bi thảm và đen tối nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam.Bởi vì từ đó, Việt cộng đã phá nát tài sản quốc gia, của nổi cũng như của chìm, nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang, làm băng hoại toàn diện đất nước về vật chất cũng như tinh thần. Những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và nền đạo đức luân lý xã hội cổ truyền đã bị đảo lộn, phá hủy, thay vào đó cái gọi là “Nền đạo đức cộng sản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa” vô luân, vô thần. Mọi tôn giáo, tín ngưỡng của người dân đều bị bài bác và tìm cách tiêu diệt qua các hành động chống phá các giáo hội và đàn áp, khủng bố các tín đồ dưới nhiều hình thức tinh vi, thâm độc.Mọi tầng lớp nhân dân bị bác đoạt các dân quyền và nhân quyền cơ bản. Đời sống của quảng đại quần chúng nhân dân bị đói khổ lầm than và sự cách biệt giầu nghèo giữa thiểu số giai cấp thống trị cán bộ đảng viên cộng sản với tuyệt đại đa số nhân dân ngày một sâu sắc. Hệ quả là sau 37 năm cầm quyền, Việt cộng đã làm tan hoang đất nước,lòng người ly tán, hận thù và đói nghèo, di hại toàn diện và lâu dài cho nhiều thế hệ Việt Nam tương lai phải gánh chịu.
      Hận kẻ nội thù Việt cộng là như thế, còn đối với người bạn Hoa Kỳ đồng minh năm xưa thì sao, chúng ta hận gì?
        Tất nhiên là có hận, nhưng mối hận có khác về tính chất và cường độ được diễn đạt bằng ngôn từ “Oán hận” hay “Uất hận”. Nó tương tự như mối hận của một người tình bị phụ bạc sau những năm chăn gối mặn nồng tưởng như chung thủy. Vì sao hận và hận cái gì?
       – Câu trả lời chi tiết thì đã được nhiều người đưa ra,còn câu trả lời tổng quát thì đã được Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống dân cử cuối cùng nền Đệ nhị chế độ Việt Nam Cộng Hòa đưa ra trong bài diễn văn từ nhiệm ngày 21-4-1975 trước khi kịp “lưu vong”, rằng“Họ đã bỏ rơi chúng tôi.Họ bán rẻ chúng tôi. Họ đâm sau lưng chúng tôi. Thật vậy, họ đã phản bội chúng tôi. Một nước đồng minh lớn đã không làm tròn lời hứa với một nước đồng minh nhỏ…”. Đây là những lời tố cáo muộn màng của người lãnh đạo cao nhất chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sau 9 năm cầm quyền, chẳng thay đổi được gì, chỉ bầy tỏ nỗi uất hận của cá nhân và cũng là mối uất hận chung của quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa trước sự phản bội của Hoa Kỳ.
       Sự bầy tỏ uất hận trên đây của cố Tổng Thống Thiệu có tính đổ lỗi cho Hoa Kỳ,song vẫn không tránh khỏi mối hận thứ ba của người Việt quốc gia đối với cá nhân Ông Thiệu và tập đoàn lãnh đạo chính trị cũng như quân sự chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Vì chính họ đã là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30-4-1975, đã tạo tiền đề cho ngoại bang để cho Việt cộng đóng vai kẻ chiến thắng trong cuộc chiến, dù chỉ là chiến thắng giả tạo (Chiến thắng biểu kiến như chúng tôi phân tích trình bầy trong “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới”) song thực tế đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho nhân dân, dân tộc và đất nước Việt Nam như mọi người đã biết.
      Oán hận và uất hận vì với trách nhiệm lãnh đạo, họ đã để mất Miền Nam Việt Nam vào tay Việt  cộng một cách dễ dàng, chóng vánh và hầu hết trong số họ đã kịp cao bay xa chậy di tản ra hải ngoại trước khi chế đô Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử,để lại sau lưng hàng trăm ngàn quân, dân, cán chính cho đối phương Việt cộng hành hạ, xỉ nhục trong các trại tù “Cải tạo” nhiều năm sau đó. Nhất là đã đẩy gần 20 triệu nhân dân Miền Nam Tự Do rơi vào ách thống trị cộng sản độc tài và độc ác, cùng chia khổ và bị xích hóa với nhân dân Miền Bắc trong gông cùm của cái gọi là “Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam” kéo dài cho đến hôm nay đã 37 năm qua.
     Trên đây là những mối “Hận người”, còn với “chính mình” thì sao?
     Có lẽ chúng ta cũng phải xét mình để tự “hận mình”, song với tính chất và cường độ có khác, được diễn tả bằng từ “Ân hận”. Tùy vị trí trong xã hội Miền Nam, trong tương quan với cuộc chiến để có “mối ân hận khác nhau”. Ân hận rằng nếu như ngày ấy, ở vị trí ấy mình nên làm thế này, không nên làm thế kia thì có thể đã góp phần xây dựng và củng cố chế độ, chính quyền, quân đội, xã hội ở Miền Nam ngày một vững mạnh, để không thể xẩy ra “Ngày Quốc Hận 30-4-1975”, ngày cuối cùng của một “Tháng Tư Đen”.
    Chặng hạn là người chỉ huy lãnh đạo các cấp chính quyền, quân đội “ân hận” vì đã không quan tâm đúng mức và dồn hết tâm lực cho cuộc chiến chống cộng bảo vệ chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa và phần đất Miền Nam tự do. “Ân hận” vì đã lợi dụng vị trí lãnh đạo, chức quyền mua quan bán chức, nuôi dưỡng linh ma lính kiểng để thủ lợi, tham nhũng, đục khoét của công để làm giầu bất chính,tập trung vào các hoạt động hưởng thụ, ăn chơi trong lối sống tương phản với cuộc chiến đấu gian nguy của những người lính tham chiến trực tiếp với Việt cộng và đời sống thiếu thốn của gia đình họ; Ân hận vì đã cấu kết bè phái để tranh danh đoạt lợi, ám hại những người công chính, coi lợi ích cá nhân và phe nhóm cao hơn lợi ích chống cộng,khoán trắng việc chống cộng cho Hoa Kỳ và coi việc chống cộng thắng bại là trách nhiệm của Hoa Kỳ,do Hoa Kỳ hoạch định, tài trợ mọi mặt.
   Chẳng hạn là những thương gia ân hận vì đã chậy theo lợi nhuận, móc ngoặc, mua chuộc hủ hóa các viên chức chính quyền quân sự cũng như dân sự, môi giới buôn bán vũ khí và cung cấp lương thực cho Việt cộng….
   Chẳng hạn, là bậc cha mẹ đã ân hận vì đã tìm cách chậy chọt cho con làm lính ma, lính kiển, được về phục vụ hậu phương xa chiến trường lửa đạn. Là thanh niên ân hận vì đã tìm cách chốn lính khi đến tuổi thi hành nghĩa vụ trai thời loạn.
  Chẳng hạn là những người gốc Việt cộng, hay ngưỡng vọng Việt cộng, hay “Nằm vùng”,ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” sớm muộn nay đã “phản tỉnh” thì ân hận vì những nhận thúc, hành động sai lầm trong quá khứ làm lợi cho Việt cộng, hại cho Quốc gia ngày ấy….và di hại nghiệm trọng, toàn diện, lâu dài cho đất nước, dân tộc cho đến hôm nay, sau 37 năm Việt cộng thống trị cả nước. và cả sau này chưa biết bao giờ mới khắc phục được.
    2.- Đến đây, chúng ta mang mối “Hận” để làm gì?
         Theo suy luận của chúng tôi, đối với Việt cộng, chúng ta “căm hận” không phải nuôi chí phục thù rửa hận theo kiểu “Răng đền răng, mắt đền mắt” thời Trung Cổ ở Tây Phương; cũng không phải tìm cách diệt đến tên Việt cộng cuối cùng, vì không phù hợp với bản chất nhân đạo và lý tưởng chiến đấu của Việt quốc (mà dù ai đó  có muốn thế cũng không thể làm được).
        Nhưng điều chúng ta có thể, đã và đang làm và chắc chắn làm được để “phục thù”Việt cộng là kiên trì đấu tranh vương đạo như đã kiên trì đấu tranh 37 năm qua nhằm tiêu diệt toàn bộ chế độ độc tài toàn trị Việt cộng  để thiết lập chế độ dân chủ pháp trị đa nguyên tại Việt Nam. Thắng lợi sau cùng này của cuộc đấu tranh  sẽ khẳng định sự tất thắng của chính nghĩa quốc gia và như thế là chúng ta đã rửa được mối “Quốc hận 30-4-1975”
       Đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ năm xưa, nay lại là “Đối tác” làm ăn với Việt cộng, song cũng đang là đồng minh với chúng ta về mục tiêu hiện thực lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, mối “oan hận” của chúng ta chỉ nên coi là bài học kinh nghiệm để có cách ứng xử thận trọng và khôn ngoan hơn trong tương lai sao cho có lợi cho sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho Quê Mẹ Việt Nam. Đó là bài học kinh nghiệm về tinh thần độc lập tự chủ, sức mạnh đoàn kết và luôn chủ động trong tổ chức, chiến lược, chiến thuật đấu tranh chính trị, ngoại giao, truyền thông, để huy động được sức mạnh nội lực (trong nước) cũng như ngoại lực (quốc tế), nhưng luôn dựa trên sức mình là chính để chống cộng và thắng cộng.
        Đối với những người lãnh đạo có trách nhiệm đã để chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, mối hận của chúng ta đến nay sau 37 năm dường như đã được cảm thống và tha thứ phần nào đối với những người còn sống hay đã khuất. Nghĩ lại, trong bối cảnh Miền Nam vào những năm tháng cuối cùng trước khi rơi vào tay Việt cộng, Hoa kỳ với ý đồ bỏ cuộc và cố tình tạo tiền đề thuận lợi cho Việt cộng cưỡng tử Việt Nam Cộng Hòa càng nhanh càng tốt, để khỏi phải dính líu thêm nữa, rút ngắn thời gian đi vào thế chiến lược quốc tế mới, thì cá nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tập đoàn lãnh đạo chính trị cũng như quân sự chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lúc đó cũng chẳng làm được gì hơn là trốn chậy để bảo toàn tính mạng, trừ khi họ dám chọn cái chết hào hùng để trở thành anh hùng bất tử như các vị Tướng Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ. Tiếc rằng phần đông họ đã không chọn con đường như vậy, mà đã chọn con đường thà“Sống nhục hơn chết vinh”.Thôi thì công tội của họ xin hãy đề lịch sử mai này phán định công minh.
     Riêng mối hận mình, mỗi người trong chúng ta hãy tự xét mình xem có điều gì “ân hận” về những gì nên làm đã không làm hay không nên làm mà đã làm có lợi hay có hại cho Việt quốc, có lợi cho Việt cộng trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng hôm qua. “Ân hận”để tự rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng vào cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho Quê Mẹ Việt Nam hôm nay, để chỉ nên làm những gì có lợi , tránh làm những gì có hại cho cho sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước. Có như vậy chúng ta mới rửa được “Quốc hận 30-4-1975”, ngày cuối cùng của “Tháng Tư Đen”,để đưa cất những ngày, tháng, năm này đi vào những trang  lịch sử đen tối nhất của dân tộc, đất nước, mở ra những trang sử mới tươi sáng cho Tổ Quốc Việt Nam.
   Thế nhưng thực tế sau 37 năm mất nước (VNCH),qua các sinh hoạt nơi các cộng đồng Người Việt Quốc Gia nhiều nơi ở hải ngoại, đã có những dấu hiệu đáng buồn và đáng tiếc, là nhiều người vẫn chưa rút được bài học kinh nghiệm của quá khứ. Dường như họ vẫn coi lợi ích cá nhân, bè phái cao hơn lợi ích chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa cho Quê Mẹ Việt Nam. Vì lợi ích cá nhân và bè phái, họ đã chống nhau, căm thù nhau có lúc, có nơi cường độ mạnh mẽ hơn cường độ chống cộng rất nhiều.Họ là ai? Là những bạn bè, chiến hữu trong cuộc chiến chống cộng hôm qua, từng bị Việt cộng đầy ải xỉ nhục trong các trại tù “Cải tạo” sau cuộc chiến và từng kề vai sát cánh đấu tranh chống cộng hôm nay.Thế nhưng họ đã quên quá khứ, quên tình bè bạn chiến hữu để “bôi mặt đá nhau”. Miệng họ nói chống cộng, chống cộng mạnh miệng hơn ai hết, nhưng hành động của họ hoàn toàn phản tác dụng. Dường như họ chỉ dùng chống cộng như chiêu bài để có thế chống phá lẫn nhau để thủ thắng? Dường như họ căm thù Việt cộng nhưng không biết cách nào “Phục thù”, nên đã trút căm thù trên bạn bè chiến hữu của mình cho vơi bớt đi niềm hân thù bị dồn nén chất chứa trong lòng?- Đó là những điều nghịch lý, nhưng xem ra lại là một thực tế đã và đang xẩy ra khiến nhiều người Việt quốc nặng lòng với sự nghiệp chung không khỏi lo ngại công cuộc “Rửa hận” , “phục hận” Việt Cộng sau 37 năm, rồi đây sẽ ra sao?- Còn phải mất bao nhiều năm tháng nữa chúng ta mới thành đạt mục tiêu tối hậu này?
Thiện Ý
Houston, 30 tháng 4 năm 2012.

Kẻ xấu đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam

Monday, March 30th, 2015

The ALM

Tác giả: Uwe Siemon-Netto

Người dịch: Trần Văn Minh

01-12-2013

H1Một phụ nữ Việt đang than khóc bên cạnh xác chồng, được tìm thấy trong số 47 người khác tại một ngôi mộ tập thể gần Huế. Ảnh Corbis

Vào lúc cao điểm của chiến tranh Việt Nam, Ralph White đã tìm cách gia nhập Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ nhưng bị từ chối vì mắt bị chấn thương khi chơi tennis trước đó. Tuy nhiên, khi cuộc chiến đầy biến động gần tới hồi kết thúc hồi tháng 4 năm 1975, ông White khi ấy 27 tuổi, đang ở Sài Gòn, đã làm đúng với phương châm người lính thủy quân lục chiến “luôn luôn trung thành” – chỉ với phương cách dân sự.

Bằng cách khuyến dụ, thuyết phục và khéo léo qua mặt các thủ tục hành chánh, White đã tìm được một phương cách tuyệt vời để cứu thoát 112 nhân viên Việt Nam của Ngân hàng Chase National Bank và những người gia đình của họ: ông chỉ đơn giản nhận bảo trợ tất cả những người đó, trước sự chứng kiến của các thẩm phán Mỹ đang làm nhiệm vụ khẩn cấp tại sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Trong khi đối mặt với thất bại sắp xảy ra của đồng minh Hoa Kỳ là người Việt ở miền Nam, người công dân Mỹ này đã đạt được một chiến thắng tuy nhỏ bé nhưng thật nổi bật.

Bốn ngày sau đó, vào ngày 30 tháng 4, xe tăng T-54 của Liên Xô đã hoàn tất cuộc chinh phục của cộng sản đối với miền Nam Việt Nam bằng cách cán qua cổng rào của dinh tổng thống ở Sài Gòn. Ở bên trong, Tổng thống miền Nam, Việt Nam là ông Dương Văn Minh (Big Minh) đề nghị chuyển giao quyền hành. Đại tá Bắc Việt Bùi Tín trả lời: “Không có chuyện chuyển giao quyền lực… Ông không thể chuyển giao cái mà ông không có”.

Đối với tôi, một người Đức, những lời này nghe có vẻ giống các điều khoản của Đồng Minh áp đặt lên đất nước chúng tôi năm 1945, khi tôi còn là một đứa trẻ: đầu hàng vô điều kiện. Sự trớ trêu là trong khi vào cuối Đệ Nhị Thế chiến, một chính phủ rõ ràng là độc ác đã bị buộc phải đầu hàng theo cách này, thì điều trái ngược lại xảy ra 30 năm sau ở Sài Gòn: một chế độ độc tài toàn trị với các đặc điểm vô nhân đạo đến tận cùng đã uy hiếp một đối thủ nhân đạo hơn nhiều – mặc dù có những khuyết điểm – vào tình thế đầu hàng vô điều kiện, và được thế giới hoan hô.

Sau thời gian tường thuật về Việt Nam cho một nhà xuất bản lớn nhất của Tây Đức trong khoảng thời gian 5 năm, tôi kết luận rằng: kẻ xấu đã thắng. Không có lý do để vui mừng. Tuy nhiên, khi Tổng thống Gerald Ford tuyên bố tại Đại học Tulane ở New Orleans rằng chiến tranh Việt Nam “đã chấm dứt, ít nhất là đối với Hoa Kỳ”, một tuần trước khi miền Nam, Việt Nam cuối cùng đã bị tiêu diệt, ông đã nhận được sự hoan hô nồng nhiệt.

Đáng lẽ ra các phản ứng này nên được kềm lại trước số phận tăm tối của số lượng lớn những người Việt bị chuyển giao. Đối với họ, hành trình tử nạn thực sự chỉ mới bắt đầu với chiến thắng của cộng sản. Khoảng từ 200.000 tới 400.000 người đã bị chết chìm trong khi chạy trốn khỏi đất nước của họ trên những chiếc thuyền đánh cá và thuyền chắp vá tạm bợ, theo Cao ủy LHQ về người tị nạn. Khoảng 65.000 người đã bị hành quyết. Một triệu người bị đẩy vào các trại tập trung, ở đó, 165.000 người bị tra tấn hay bị bỏ đói đến chết. Trong số những người bị giết gồm có 30.000 người trong danh sách tình báo viên của CIA bị sót lại tại tòa đại sứ, theo tường trình của National Review.

Tính theo tỷ lệ, Ralph White thành công vượt trội so với chính phủ Hoa Kỳ: anh đã đem được tất cả người của mình ra, như đã dự tính khi anh tình nguyện chuyển từ Bangkok đến Sài Gòn để làm quyền tổng giám đốc cho chi nhánh Chase ở Việt Nam hai tuần trước khi Sài Gòn thất thủ. Trong báo cáo với cấp trên của mình tại Chase sau này, ông viết rằng “việc duy trì mối liên lạc giữa ngân hàng Mỹ và tòa đại sứ để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong kế hoạch di tản” là “mục đích duy nhất” cho sứ mạng của anh.

“Đọc lại báo cáo của mình làm cho tôi khá tự hào về người đàn ông 27 tuổi này,” Ông White, người bây giờ là một nhà văn ở Litchfield, Connecticut cho biết.

Gần bốn thập niên sau sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, tôi gặp một câu chuyện cảm động về một công dân Mỹ dũng cảm và trung thành với những giá trị của mình như bất cứ người lính nghiêm chỉnh nào. Patricia Palermo là một cô gái tiếp viên hàng không tóc vàng của hãng máy bay Pan Am từ Nebraska, tình nguyện làm tiếp viên trưởng cho các chuyến bay liên tục từ Guam đến Sài Gòn, đưa “những chàng trai trẻ má hồng và tinh thần phấn khởi” ra mặt trận, như cô nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. “Khi tôi thấy họ một lần nữa 12 tháng sau đó, họ trông giống như những người đàn ông 50 tuổi. Nhiều người bị thương và tàn phế, một số bị đánh thuốc mê. Họ không được phép lên máy bay cho đến khi sau những ‘người trở về’ khác đã được xếp vào khoang hàng hóa – những người nằm trong quan tài kẽm”.

Palermo hiện đang sống ở New York, cho biết trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại rằng bà bị tác động tình cảm dữ dội về các chuyến bay này đến nỗi bà đã loại ra khỏi tâm trí của mình cho đến năm 1980, khi bà xem trên truyền hình về tường thuật trực tiếp cuộc diễu hành đầu tiên vinh danh các cựu chiến binh Việt Nam. “Tôi lập tức lao ra khỏi nhà và cùng tham gia”, bà nhớ lại.

Phần đáng ghi nhớ nhất trong sự nghiệp hàng không của mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi Pan Am đem ít nhất 2.000 trẻ sơ sinh, hầu hết là người Mỹ gốc Á đang chờ được nhận làm con nuôi ở Hoa Kỳ, ra khỏi Sài Gòn. “Chúng tôi không được phép rời khỏi máy bay vì hỏa lực địch, nhưng chúng tôi có thể thấy một số bà mẹ tuyệt vọng ném con em của họ qua hàng rào tại Tân Sơn Nhất để được phi hành đoàn chúng tôi đưa đến nơi an toàn. Tôi nhớ một ai đó đưa cho tôi hai em bé giấu trong một cái giỏ. Một lần tôi đếm được hơn 400 trẻ sơ sinh trên chiếc máy bay Boeing 747 của chúng tôi. Trẻ sơ sinh ở khắp mọi nơi, ngay cả trong các ngăn để hành lý phía trên chỗ ngồi, và chúng nó rất yên lặng, luôn luôn yên lặng…. “

Tôi đã chứng kiến sự sụp đổ của Sài Gòn trên truyền hình trong căn chung cư của tôi ở Paris với nỗi đau buồn và tức giận vô cùng. Tôi ngạc nhiên trước việc thi hành hoàn hảo Chiến dịch Gió lốc, đã di tản 1.373 người Mỹ cuối cùng, cộng với 5.595 người Việt Nam và người các nước khác, chủ yếu bằng máy bay trực thăng từ một bãi đáp trên nóc nhà của văn phòng tùy viên quân sự ở Tòa Đại sứ Mỹ ngày 29 và 30 tháng 4. Tôi đã ở đó bảy năm trước trong dịp Tết Mậu Thân và theo dõi từ bên kia đường cuộc tấn công bị đánh bại của cộng sản vào Tòa Đại sứ. Bây giờ họ sắp sửa chiến thắng; vì thế tôi đau buồn.

Tuy nhiên, cơn giận của tôi chủ yếu hướng về các sinh viên và trí thức, những người cổ vũ chiến thắng của cộng sản là một hành động giải phóng. Họ hành xử như thế ở khắp mọi nơi: bên kia sông Seine ở Bờ trái; ở đất nước của tôi, Tây Đức; và ở Hoa Kỳ. Chứng kiến một biển cờ Việt Cộngmàu xanh đỏ trên TV làm cho tôi cảm thấy muốn mửa, bởi vì đối với tôi, những màu sắc này tiêu biểu cho các vụ thảm sát tàn khốc mà tôi đã chứng kiến ở Việt Nam.

Chẳng hạn như, một đêm ở Tây Nguyên, tôi đã tình cờ gặp những xác chết bị chặt chân tay của một ông xã trưởng, vợ ông và 12 đứa con của họ, tất cả đã bị các tay sai cộng sản tra tấn. Theo như những người dân làng nói với tôi, gia đình đó đã bị giết chết bởi vì ông xã trưởng vẫn trung thành với chính quyền Sài Gòn. Đó là vào năm 1965. Trong năm 1967 là năm bầu cử, Việt Cộng đã thi hành ít nhất 100.000 hành vi khủng bố như thế chống lại dân thường để ngăn cản họ không đi bỏ phiếu.

Khi xướng ngôn viên Pháp thông báo sự kết thúc của miền Nam Việt Nam, tự nhiên tôi với lấy một cuốn sách nằm trên bàn cạnh giường ngủ của tôi ở khách sạn Continental Palace ở Sài Gòn và tôi mang theo tới Paris: “Hai nước Việt Nam”. Tôi đã từng gặp tác giả cuốn sách, nhà khoa học chính trị Pháp Bernard B. Fall, nhiều lần ở Sài Gòn và Washington trước khi ông bị giết bởi một quả mìn Việt Cộng. Đối với tôi, ông là một trong những chuyên gia sắc bén nhất về Đông Dương. Một đoạn trong cuốn sách của ông đã ám ảnh tôi từ đó đến giờ. Fall trích lời một chiến lược gia chủ yếu của Bắc Việt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã qua đời ngày 4 tháng 10 [năm 2013] ở tuổi 102, nói với các chính ủy của một trong những sư đoàn của ông: “Kẻ thù (có nghĩa là phương Tây) … không có… các phương tiện tâm lý và chính trị để chống lại một cuộc chiến tranh kéo dài”.

Giáp chưa bao giờ nghi ngờ khả năng quân sự của Mỹ, nhưng tin rằng ông đã tìm thấy gót chân Asin của hệ thống dân chủ, như Fall giải thích: “Trong tất cả các khả năng, Giáp kết luận, công luận trong các nền dân chủ sẽ đòi hỏi chấm dứt sự ‘đổ máu vô ích’, hay cơ quan lập pháp của họ sẽ yêu cầu được biết trong bao lâu nữa họ sẽ phải bỏ phiếu gia tăng không ngừng tín dụng khi không có một chiến thắng rõ ràng trước mặt. Đây là những điều luôn luôn bắt ép các nhà lãnh đạo quân sự của các quân đội dân chủ phải hứa hẹn một kết thúc nhanh chóng cho cuộc chiến – để ‘đưa các chàng trai về nhà vào dịp Giáng sinh’ – hoặc buộc các chính trị gia dân chủ phải đồng ý với hầu hết các loại thỏa hiệp nhục nhã, thay vì chấp nhận ý tưởng về chiến dịch chống du kích bán thường trực”.

Phải chăng sự thể thảm khốc này nảy sinh từ thất bại của Washington trong việc đáp trả, như đã hứa, “với lực lượng quân sự đáng kể” đối với bất kỳ vi phạm nào của Bắc Việt trong việc thi hành Hiệp Định Paris 1973, tôi tự hỏi? Hiệp định đã cho phép Hà Nội giữ lại 80.000 quân chính quy ở miền Nam, nhưng không có gì xảy ra khi con số đó tăng lên đến 200.000. Khi thảm kịch Việt Nam diễn ra quá tàn khốc, tôi cũng tự hỏi làm thế nào chúng tôi trong giới truyền thông, bao gồm đại đa số trong chúng tôi không đứng về phía Việt Cộng (một cách công khai hay âm thầm), đã không làm cho độc giả của chúng tôi nhận ra những bằng chứng không thể chối cãi nhất, rằng hầu hết người dân miền Nam không bao giờ ủng hộ cộng sản: từ đầu, chúng tôi, các phóng viên, đã nhìn thấy họ chạy trốn Việt Cộng.

Họ chạy trốn không phải vượt qua sông Bến Hải vào Bắc Việt, cũng không vào cái gọi là vùng giải phóng – “giải phóng” bởi những người cộng sản. Cho đến cuối cùng, những người tị nạn đổ xô về phần thu hẹp của đất nước dưới quyền kiểm soát của Sài Gòn; 2 triệu người đổ vào thành phố Đà Nẵng. Những con đường về Sài Gòn đã quá đông đúc với những gia đình chạy trốn đến nỗi làm chậm lại bước tiến quân của Bắc Việt, và khi mọi chuyện lắng dịu, “thuyền nhân” không những ra đi từ phía Nam với số lượng khổng lồ mà còn từ các cửa khẩu phía Bắc. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam có một cuộc di cư hàng loạt khỏi đất nước như vậy – không phải trong những ngày dưới quyền Trung Hoa, Pháp hay Mỹ.Và điều này được cho là giải phóng? Bằng cách nào đó, lúc đó tôi nghi ngờ và bây giờ đã tin, lối lập luận đó là một trong những thiệt hại của chiến tranh Việt Nam. Và cũng như sự trung thực trí thức.

Một hình ảnh lóe sáng trên màn hình TV ở Paris đã ghi khắc trong tôi nhiều thập niên vì đã đâm sâu vào suy tư của tôi. Hình ảnh cho thấy Phó Tổng thống Miền Nam Nguyễn Cao Kỳ đang cầm lái chiếc trực thăng UH-1A (Huey) hạ cánh trên boong của hàng không mẫu hạm USS Midway. Tôi đã được biết ông Kỳ khá rõ và thích ông. Đúng thế, ông là tướng lãnh hào nhoáng của Không lực Việt Nam, một con công như nhiều nhà quân sự trong suốt lịch sử. Nhưng ông không phải là anh hề quanh co như thường được mô tả.

Sáu năm trước, tháng 5 năm 1969, Kỳ và tôi đã đi du hành với nhau từ Paris đến vào Sài Gòn, nơi tôi làm phóng sự về các cuộc đàm phán hòa bình của Việt Nam và ông dẫn đầu đoàn đại biểu Sài Gòn. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi lủng củng một cách bất thường, có lẽ bởi vì cả hai chúng tôi biết rằng mọi chuyện đã không diễn ra tốt đẹp ở Paris cho phía của ông; rõ ràng là một nhận thức sai lầm ở Hoa Kỳ và các nơi khác về Tết Mậu Thân năm 1968 đã phá vỡ ý chí của Mỹ để mang cuộc xung đột này đến một kết luận chiến thắng.

“Nhưng chúng tôi đã thắng vào dịp Tết!” Kỳ nổi giận. “Tại sao người Mỹ nghĩ khác đi?”

Tôi trả lời: “Tôi biết, thưa Thiếu tướng, tôi ở Huế trong thời gian ông giành chiến thắng. Nhưng công chúng tại Hoa Kỳ và Âu châu đã nhận được thông tin khác nhau”.

Tại Huế, tôi đã đứng bên mép một ngôi mộ tập thể, chứa thi thể của ít nhất 1.000 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị những người cộng sản tàn sát. Một nhóm truyền hình Mỹ lảng vảng quanh hiện trường một cách vô định. “Tại sao bạn không quay phim cảnh này?” Đồng nghiệp của tôi, Peter Braestrup, báo The Washington Post, hỏi họ. Người quay phim của họ trả lời: “Chúng tôi đến đây không phải để tuyên truyền chống cộng sản”.

Tôi đã nói với Kỳ điều này, và ông ta đã không bình luận. Ông ta biết tôi biết rằng chiến thắng quân sự của Mỹ và VNCH vào dịp Tết đã bị biến thành một thất bại chính trị khi Walter Cronkite tuyên bố chiến tranh không thể thắng trên CBS trong một chuyến thăm ngắn sau Tết. Điều này trái ngược hẳn với những gì nhiều người trong chúng tôi, phóng viên chiến trường, đã chứng kiến và tường thuật từ Huế. “Nếu tôi mất Cronkite, tôi mất Trung Mỹ”, Tổng thống Lyndon B. Johnson được cho là đã nói như thế. Tôi chia sẻ cảm giác mất mát của Tổng thống và không bao giờ tha thứ thần tượng Cronkite về hành động bất cẩn báo chí của ông.

Ông Kỳ nhìn chằm chằm vào cánh cửa dẫn đến buồng lái của chiếc máy bay Air France.

“Tại sao ông cứ nhìn vào đó?” Tôi hỏi ông.

“Tôi chỉ muốn trở lại làm một phi công,” ông nói khẽ.

Cuộc chạy thoát của ông đến Midway bằng chiếc Huey đánh dấu sự nghiệp bay của ông kết thúc.

Một vài năm trước đây, tôi dạy một lớp báo chí cao cấp tại Đại học Concordia, Irvine, California. Chúng tôi tập trung vào cộng đồng tị nạn người Việt lớn mạnh và thành công tại Quận Cam. Sinh viên Kellie Kotraba, bây giờ là một nhà báo thành công ở Missouri, đã xem qua nghiên cứu của một nhóm gồm tám nhà nghiên cứu nổi tiếng dẫn đầu bởi bác sĩ tâm thần Richard F. Mollica của đại học Harvard, có tiêu đề “Sự bất thường cơ cấu não bộ và di chứng sức khỏe tâm thần nơi những cựu tù nhân chính trị miền Nam Việt Nam, những người đã sống sót sau chấn thương đầu và tra tấn”.

Nghiên cứu, được Hiệp hội Y khoa Mỹ công bố, cho thấy hàng ngàn tù nhân chính trị trước đây hiện đang sống tại Hoa Kỳ vẫn phải chịu đựng nặng nề từ hậu quả của tra tấn gây ra cho họ trong thời gian bị giam cầm nhiều thập niên trước đây. “Phải trên 100.000 người như họ,” Mollica nói với Kotraba, người sau đó đã yêu cầu Tòa Đại sứ Việt Nam tại Washington bình luận. Cô nhận được một lời từ chối qua điện thư từ tùy viên báo chí của Tòa Đại sứ, Tùng Phạm, với lời lẽ: “Thông tin nói rằng các tù nhân của trại cải tạo (sic) đã (sic) bị tra tấn là hoàn toàn không đúng sự thật”.

Chuyện này chẳng có gì lạ. Đáng ngạc nhiên hơn là một thực tế rằng các nghiên cứu của Mollica ít được chú ý trong giới truyền thông Mỹ khi nghiên cứu được công bố năm 2009, và khi tôi cung cấp những câu chuyện hấp dẫn của Kotraba cho nhiều nhà xuất bản, các biên tập viên của họ không mấy thích thú.

Tôi tự hỏi: tại sao các biên tập viên Mỹ làm ngơ trước thông tin về sự khổ đau ở quy mô lớn như vậy đang xảy ra, hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam? Có một sự tương đồng mạnh mẽ giữa những gì đã xảy ra ở một số trong 300 ngục tù cộng sản ở Việt Nam với các trại tập trung ở vùng chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Âu châu. Tôi vừa đọc xong một bản dịch tiếng Pháp về trường hợp của Cha Andrew Nguyễn Hữu Lễ, một linh mục Công giáo hiện đang sống ở New Zealand, về 13 năm của cha trong điều kiện giam giữ của cộng sản, 2.020 ngày cha trải qua trong cùm sắt – gây ra những vết thương mưng mủ với giòi bọ nảy nở.

Trong “Je dois vivre” (“Tôi phải sống”), Lễ mô tả chi tiết khủng khiếp như thế nào về bạn tù Đặng Văn Tiếp, một cựu đại úy quân đội VNCH và là thành viên của Quốc hội, đã bị giết chết trong sự vui mừng của đám đông quan chức cộng sản và vợ con họ hò hét đầy phấn khích. Ông bị bắt buộc phải uống một lượng lớn nước. Sau đó, tù nhân tay sai Bùi Đình Thi, cai tù tàn bạo nhất trong trại tù Thanh Cẩm, nhảy lên bụng của Tiệp cho đến khi nổ tung và ruột đổ ra ngoài. Tiệp chết.

Thi từng là một đại úy trong quân đội VNCH. Kẻ bị giam cầm tại Thanh Cam gọi ông là “Kapo”, một thuật ngữ được sử dụng cho những “kẻ được tin dùng” trong các trại tập trung của Đức Quốc xã. Giống như một số cựu Kapo Đức Quốc xã, ông đã tới Hoa Kỳ. Ông đã bị phát hiện tại Garden Grove, California, bị bắt giữ và bị trục xuất. Theo tin tức sau cùng, ông sống ở quần đảo Marshall.

Trong cuốn sách của mình, Lễ mô tả các nỗi ám ảnh thường xuyên của ông, trong đó gồm đau bụng dữ dội. Nỗi ám ảnh là một triệu chứng mà nhiều cựu chiến binh Mỹ biết quá rõ. Khi tôi làm việc với vai trò tuyên úy tập sự trong số những người này tại các trung tâm y tế Cựu Chiến binh ở St. Cloud, Minnesota, Tôi đã gặp một người làm bánh từ St. Paul, ông có cơn ác mộng cứ tái diễn. Mỗi ngày, ông mơ màng về một sự kiện gần Đà Nẵng. Ông đang ngồi ở ghế sau của một chiếc xe tải quân sự và thấy một cậu bé kéo chốt một quả lựu đạn, sẵn sàng liệng vào xe tải, có lẽ sẽ giết chết toàn bộ tiểu đội.

Người lính đã giết đứa trẻ. Nhưng rồi, đêm đêm, ông nhìn thấy khuôn mặt méo mó của cậu bé đã chết. “Đứa bé ấy khoảng 8 tuổi,” người cựu chiến binh nói, “bây giờ tôi có con sinh đôi và trong giấc mơ của tôi, khuôn mặt của đứa trẻ khoác lên hình ảnh con tôi”. Đây là một trong những câu chuyện buồn nhất tôi được nghe trong thời gian tập sự của tôi, đó là một phần của giáo dục thần học mà tôi đã bắt đầu vào khoảng giữa đời, có lẽ để trả lời cho những kinh nghiệm làm phóng viên ở Việt Nam.

Nhưng có điều gì đó tồi tệ hơn mà tôi tìm thấy trong số những cựu chiến binh Việt Nam: hầu hết mỗi thành viên của ba nhóm chăm sóc mục vụ mà tôi hướng dẫn, cùng với một nhà tâm lý học, đã bị xem là một kẻ sát hại trẻ em trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi từ giã chiến tranh. Một người thậm chí còn được yêu cầu không trở lại nhà thờ cho đến khi tóc của ông mọc trở lại, và xin xuất hiện trong bộ quần áo dân sự.

Hầu hết những người trong nhóm của tôi tin vào Thiên Chúa, nhưng nghĩ rằng Chúa đã bỏ rơi họ ở Việt Nam. Vì vậy, họ đã “quẳng Chúa đi”, theo kiểu họ gọi. Tôi đã viết một luận án thần học cho các cựu chiến binh Việt Nam với tựa đề “Sự tha thứ của Chúa”, nhắc nhở họ về cái nhìn sâu sắc của nhà thần học tử đạo người Đức Dietrich Bonhoeffer. Ông nói rằng loài người được kêu gọi để “chịu đau khổ với Chúa trong một thế giới vô thần”, mà trong trường hợp của họ hàm ý Chúa đang đau khổ với họ và luôn hiện diện với họ trong đau khổ – cả ở Việt Nam và sau khi họ trở về. Vì vậy, Chúa không bỏ rơi họ nhưng là người cùng chịu đau khổ với họ. Nhiều người trong số bệnh nhân tìm thấy ý nghĩ này hấp dẫn.

Cho đến hôm nay, tôi nghe các cựu chiến binh Việt Nam hỏi: “Phải chăng sự hy sinh của chúng ta vô ích?” Là một phóng viên chiến trường lớn tuổi, tôi không thể trả lời câu hỏi này một cách sáng tỏ. Nhưng là một nhà thần học tôi có câu trả lời. Trong bài tiểu luận nổi tiếng, “Ngay cả binh lính cũng có thể được giải thoát”, Martin Luther so sánh công việc của binh sĩ với bác sĩ giải phẫu, có thể phải cắt bỏ chân tay của bệnh nhân để cứu các phần còn lại của cơ thể. Thông thường bệnh nhân chết trong vài ngày hoặc vài tháng sau khi phẫu thuật. Nhưng liệu điều này có nghĩa là ca giải phẫu vô ích?

Là một phóng viên chiến trường, tôi thấy đại đa số các binh sĩ Mỹ và Việt Nam tận tình với công việc phục vụ người khác. Kẻ xấu đã thắng; điều này là sự thật. Là một nhà thần học, tôi phải nói thêm: con người không phải là chủ thể của lịch sử, và lịch sử luôn luôn rộng mở cho tương lai. Có thể sẽ mất nhiều thập niên nữa cho đến khi chúng ta nhìn thấy sự hy sinh của những người lính ở Việt Nam (thời xưa) đơm hoa kết trái và chế độ cộng sản biến mất, như các chế độ độc tài khác đã từng biến mất trong quá khứ. Có lẽ tới khi đó, thế giới sẽ khám phá ra rằng máu của người Mỹ và các đồng minh đổ ra ở Việt Nam trở thành hạt giống của một chiến thắng đặc biệt hơn chiến thắng mà họ đã bị từ chối ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tác phẩm mới nhất của Uwe Siemon-Netto là “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam”.

Nguồn: Anh Ba Sàm

Posted by adminbasam on 07/01/2015

Nghị Quyết SCR-29 Black April Memorial Month – Tưởng Niệm Tháng Tư Đen tại TB California

Wednesday, March 18th, 2015
Nghị Quyết SCR-29 Black April Memorial Month –
Tưởng Niệm Tháng Tư  Đen tại TB California

Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang California Janet Nguyễn vừa đệ trình Nghị Quyết số 29 “Tưởng Niệm Tháng Tư Đen” (SCR-29 Black April Memorial Month.) Nghị Quyết 29 này do Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn là tác giả chính, cùng một số vị dân cử tại Thượng Viện và Hạ Viện tiểu bang California làm đồng tác giả:
SCR-29 Black April Memorial Month.(2015-2016)
CALIFORNIA LEGISLATURE— 2015–2016 REGULAR SESSION
Relative to Black April Memorial Month.
SENATE CONCURRENT RESOLUTION No. 29
LEGISLATIVE COUNSEL’S DIGEST
 Introduced by Senator Nguyen
(Principal coauthor: Assembly Member Travis Allen)
(Coauthors: Senators Bates, Huff, Morrell, Nielsen, and Vidak)
(Coauthors: Assembly Members Chu, Harper, Kim, Lackey, McCarty, and Wilk)
March 10, 2015
Relative to Black April Memorial Month.
LEGISLATIVE COUNSEL’S DIGEST
SCR 29, as introduced, Nguyen. Black April Memorial Month.
This act would proclaim the month of April 2015 as Black April Memorial Month, in recognition of the 40th anniversary of the fall of Saigon.
Fiscal Committee: no
————————————————————————————————————————
WHEREAS, April 30, 2015, marks the 40th year since the Fall of Saigon on April 30, 1975, to communism; and
WHEREAS, For many Vietnam and Vietnam-era veterans who were directly involved in the war and Vietnamese Americans who have settled in the United States, the Vietnam War was a tragedy full of great suffering and the loss of American, Vietnamese, and Southeast Asian lives; and
WHEREAS, The combined United States and South Vietnamese fatalities among servicemen and women during the Vietnam War reached more than half a million, with approximately 800,000 additional troops being wounded in combat. Millions of Vietnamese civilians suffered casualties and death as a result of the extended conflict; and
WHEREAS, After the fall of Saigon, millions of Vietnamese and their families fled Vietnam to surrounding areas and the United States, including, but not limited to, former military personnel, government officials, and those who had worked for the United States during the war; and
WHEREAS, In the late 1970s to mid-1980s thousands of Vietnamese risked their lives by fleeing Vietnam aboard small wooden boats. These emigrants reached refugee camps in Thailand, Malaysia, Indonesia, the Philippines, and Hong Kong; while approximately one-half of the people fleeing Vietnam in search of freedom and democracy perished at sea; and
WHEREAS, According to the United States Census for 2010, more than 580,000 Vietnamese live in California, with the largest concentration of Vietnamese residents found outside of Vietnam residing in the County of Orange; and
WHEREAS, Human rights, religious freedom, democracy, and protection against threats of aggression are important concerns of Vietnamese Americans and the Vietnamese communities worldwide stemming from the human rights abuses that continue to occur in Vietnam in the following areas, but are not limited to, child labor, human trafficking, religious and political persecution, suppression of the press, unlawful deprivation of life, forced disappearances, and land restitution; and
WHEREAS, The 2013 United States Department of State Report on Human Rights Practices in Vietnam estimates more than 120 political detainees are being held, and diplomatic sources report there are approximately 4,000 prisoners incarcerated in four reeducation centers; and
WHEREAS, We must teach our children and future generations important lessons from the Vietnam War and the continuing situation in Vietnam, including how the plight of the Vietnamese refugees following the end of war serves as a powerful example of the values of freedom and democracy; and
WHEREAS, We, the people of California, should actively rededicate ourselves to the principles of human rights, individual freedom, sovereignty, and equal protection under the laws of a just and democratic world. Californians should set aside moments of time every year on April 30 to give remembrance to the soldiers, medical personnel, and civilians who died during the Vietnam War in pursuit of freedom and democracy; and
WHEREAS, Vietnamese American communities throughout California will commemorate April 30, 2015, as Black April, a day of remembrance and rededication to the principles of freedom, including freedom of religion, freedom of expression, freedom of press, and Internet freedom; now, therefore, be it
Resolved by the Senate of the State of California, the Assembly thereof concurring, That in recognition of the great tragedy and suffering and lives lost during the Vietnam War, the month of April 2015 shall be proclaimed Black April Memorial Month, a special time for Californians to remember the lives lost during the Vietnam War era, and to hope for a more humane and just life for the people of Vietnam; and be it further
Resolved, That the Secretary of the Senate transmit copies of this resolution to the author for appropriate distribution.
 

Chuyện 30-4: Con Người muốn làm con bò

Tuesday, March 17th, 2015

(Câu chuyện thật của một bác sĩ Việt Nam sau ngày 30-4-1975)

Hoàng Lân

Tôi là một bác sĩ y khoa. Thời chiến ở miền Nam, hầu hết các bác sĩ đều phải vào quân đội, nhiệm vụ săn sóc sức khỏe cho quân nhân và gia đình, đôi khi làm dân sự vụ khám bệnh miễn phí cho người dân. Trên mặt trận, ngoài việc điều trị thương binh, có lúc tôi gặp bộ đội hoặc cán bộ cộng sản bị thương và bị bắt, tôi vẫn chăm sóc cho họ mà không cần biết trước mặt mình là ai, bạn hay thù.

trinh dien
(Hình minh họa)

​Sau  ngày 30 tháng 4 năm 1975, như số phận nổi trôi của đất nước, như hoàn cảnh của hầu hết người dân miền Nam, tôi được lệnh phải trình diện chính quyền mới được gọi là “chính quyền cách mạng” để được đi “cải tạo” trở thành “người mới xã hội chủ nghĩa”. Theo thông cáo của ủy ban quân quản, các sĩ quan như tôi cần mang theo tiền bạc đủ cho 30 ngày ăn. Mọi người hăm hở tranh nhau “đăng ký” mong rằng sẽ được về sớm sau một tháng.

Sau thời gian dài được gạn lọc, tra hỏi, và khi đã hoàn tất “9 bài học căn bản” tôi được tàu đổ bộ cũ của hải quân VNCH đưa từ Trà Nóc (Cần Thơ) xuống vùng U Minh, thuộc An Giang Rạch Giá Cà Mau với  nhiệm vụ dựng lên những lán trại dành cho các toán tù cải tạo khác xuống trụ lâu dài. Chỗ ở chúng tôi là những căn chòi xiêu vẹo mất nóc, xung quanh trống trơn dựng trên các mô đất cao chống ngập, chúng tôi phải cấp tốc sửa chữa che mưa che nắng, đêm đêm rắn bò dưới chiếu nằm không dám nhúc nhích.

rung tram 2

Rừng u minh (ảnh minh họa)

TuCaiTao2 
Hình phạt tại trại tù cải tạo (hình minh họa)

Mỗi ngày chúng tôi phải rời trại thật sớm lên rừng tràm xa 5 cây số, trở về trước 5 giờ chiều. Ở đây trời sập tối rất nhanh, muỗi  bay vo vo trên đầu như chuồn chuồn, chúng liều mạng bám vào da thịt hút máu không thế đuổi kịp. Mỗi ngày mỗi người chúng tôi phải mang về nhà 3 cây tràm từ 5 đến 10 thước, bề tròn khoảng một ôm nhỏ dùng làm cột trại chờ đón các toán khác.

Rừng tràm U minh dầy đặc, ẩm thấp, tối tăm, đầy dẫy sinh vật rắn, rết, bò cạp.. cực độc. Đường lưu thông chỉ là những con kinh rạch ngang dọc được đào trước đây sâu tới ngực, ngang cỡ vài mét, lâu ngày không xử dụng nước màu đen sẫm như nước cống, bốc mùi sình hôi hám, ruồi nhặng bay vo ve.

Chúng tôi chui vào rừng đẫm nước màu đỏ của cây tràm, dùng rựa đốn mỗi người 3 cây, cùng xúm nhau kéo từng cây ra bờ kinh. Trong rừng có loại dây leo gọi là dây “trại” giống  như dây mây, dẻo dai, tôi dùng bó 3 cây thành một rồi đẩy xuống lòng kinh. Tuy nặng nhưng cây nổi dưới nước, tôi quàng vào cổ rồi cố sức kéo bồng bềnh theo dòng kinh, chẳng khác gì con trâu kéo cày bì bõm dưới ruộng nước.

Một hôm trời mưa tầm tã, tôi trầm mình dưới dòng kinh hôi hám cố kéo khối cây về trại cho kịp ngày. Trên bờ, hai bộ đội du kích lầm lì tay cầm súng AK như sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ tù nhân nào có ý trốn trại.

Lúc đó tôi cảm thấy buồn và nhục. Một người bình thường cũng không thể bị đối xử như vậy huống chi một bác sĩ như tôi. Ít ra trong xã hội tôi cũng giúp ích được cho bệnh nhân, chăm sóc sức khỏe cho nhiều người, chưa nói được kính trọng, nâng niu.

Vậy mà hôm nay dưới chính quyền được gọi là cách mạng, hứa hẹn mang hạnh phúc ấm no về với nhân dân. Sự thật phũ phàng cho thân phận người dân miền Nam được xếp vào thành phần “Ngụy”, từ nông thôn đến thành thị, tất cả đều hưởng một cuộc “đổi đời” đích đáng. Tôi không cầm được giọt nước mắt, nước mắt chan hòa lẫn với nước mưa lạnh giá, cố nuốt trôi đi nỗi chua xót đắng cay của kiếp con người.
bo an co 2​Bò gặm cỏ

Cùng lúc ấy trên bờ kinh có đàn bò đang gặm cỏ. Những con bò thư thái, bình yên hình như chúng không biết cảnh đau lòng xung quanh, của loài người mà chúng từng hợp tác kéo cày sản xuất lúa gạo. Chúng vẫn ung dung, lâu lâu ngước nhìn những con người đang hì hục kéo cây dưới dòng kinh rồi tiếp tục cúi đầu nhai cỏ.

Trước cảnh đàn bò ăn cỏ, cảnh bộ đội cầm AK sẵn sàng nhả đạn, nhìn số phận của mình và các bạn tù, tự nhiên tôi có ý tưởng muốn được đổi đời, một cuộc đời mới hạnh phúc hơn: tôi muốn được trở thành con bò để được tự do gặm cỏ, lâu lâu ngước nhìn thế thái nhân tình mà không phải lo âu, tủi nhục như chúng tôi hiện nay.

Một làn gió mạnh thổi tạt qua. Những hạt mưa nặng trĩu làm da mặt tôi buốt rát, tôi chợt tỉnh. Tôi đang là con người, đang được “cải tạo” để trở thành người của xã hội mới.

*

Joan Baez

Ca sĩ Joan Baez

Năm 1979 khi ca sĩ Joan Baez phỏng vấn trên đảo tỵ nạn Nam Dương, tôi thuật lại câu chuyện “muốn làm con bò” ở trên cùng một vài câu chuyện tôi trực tiếp kinh nghiệm dưới chế độ ở Việt Nam sau 1975. Joan Baez cũng hỏi nhiều người tỵ nạn khác. Tất cả đều thuật lại những câu chuyện tương tự nhưng khác hoàn cảnh, tất cả đều nói lên tiếng nói như nhau: chế độ ở Việt Nam sau 1975 thật sự chỉ là một chế độ tàn bạo, nhà cầm quyền khéo léo che dấu từ lâu nay đã lộ rõ. Người ca sĩ từng hoạt động phản chiến, từng ca ngợi Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, từng chống Hoa Kỳ có mặt tại miền Nam đã phải cảm động. Bà thức tỉnh, bà cùng nhiều trí thức thế giới đăng thư ngỏ trên tờ Washington Post phản đối nhà cầm quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam làm bừng tỉnh lương tâm nhân loại.

Ca sĩ Joan Baez (phản chiến trước 1975)

Hôm nay tôi viết lại câu chuyện này trên đất nước người, không còn phải cực khổ như xưa, nhưng tôi có thể hình dung được vẫn còn biết bao nhiêu đồng bào của tôi tại quê nhà đang muốn được làm con bò như tôi trước đây.

Hoàng Lân

Tháng 3, 2015.

Kháng thư của Hội đồng Liên tôn Việt Nam: Phản đối nhà cầm quyền Huế cấm TPB gặp nhau tại chùa Phước Thành

Saturday, March 14th, 2015
Phản đối nhà cầm quyền Huế cấm TPB gặp nhau tại chùa PhướcThành

VRNs (13.03.2015) – Sài Gòn – Như VRNs đã loan, sáng ngày 10.03.2015, nhà cầm quyền cộng sản tỉnh Thừa Thiên-Huế đã đến gặp các Tăng sĩ tại chùa Phước Thành (đường Phan Chu Trinh), cưỡng bức quý Thầy hủy bỏ buổi gặp gỡ “Tri ân Quý Thương binh VNCH” được tổ chức vào ngày 15.03 tới, có sự tham dự của một số thành viên Hội đồng Liên tôn Việt Nam (HĐLTVN).
Đây là việc làm có dấu hiệu lạm dụng quyền lực, vi phạm pháp luật và văn hóa người Việt. HĐLTVN nhấn mạnh: “Nhà cầm quyền tỉnh Thừa Thiên dựa vào luật pháp nào để cấm đoán nhân dân thực hiện việc tập trung gặp gỡ nói trên, và dựa vào luật pháp nào để tự cho phép mình tới chùa hăm dọa sẽ ra tay ngăn chận rồi còn tịch thu giấy mời gởi các thương binh?”
150309012

Kháng thư của Hội đồng Liên tôn Việt Nam

về việc nhà cầm quyền tỉnh Thừa Thiên cấm đoán cuộc gặp gỡ Thương binh VNCH tại chùa Phước Thành, Huế

Kính gởi:
– Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước
– Các chính phủ dân chủ, các cơ quan nhân quyền Liên Hiệp Quốc và quốc tế.
– Nhà cầm quyền Cộng sản VN
Theo trang mạng Truyền thông Chúa Cứu Thế (11-03-2015), sáng ngày 10-03-2015, nhà cầm quyền cộng sản tỉnh Thừa Thiên-Huế đã đến gặp các Tăng sĩ tại chùa Phước Thành (đường Phan Chu Trinh), cưỡng bức quý Thầy hủy bỏ buổi gặp gỡ “Tri ân Quý Thương binh VNCH” được tổ chức vào ngày 15-03 tới, có sự tham dự của một số thành viên Hội đồng Liên tôn Việt Nam. Buổi gặp gỡ này sẽ quy tụ hơn 200 quý ông Thương binh VNCH sống ở vùng Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, theo sáng kiến của Hòa thượng Thích Không Tánh, Tổng vụ trưởng Từ thiện thuộc Tăng đoàn GHPGVN Thống nhất. Nhà cầm quyền cộng sản cho rằng việc tập trung gặp gỡ như thế không hay, chẳng được phép, nếu cứ tiến hành thì sẽ dùng bạo lực để ngăn chận. Ngoài ra, công an còn đi gặp nhiều thương binh, tịch thu giấy mời và bắt cam kết không đến chùa Phước Thành.
Trước vụ việc này, Hội đồng Liên tôn Việt Nam thấy cần phải lên tiếng trước công luận quốc tế và quốc nội như sau:
1- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong thông điệp đầu năm 2014, có khẳng định một nguyên tắc pháp luật mà cả hầu hết nhân loại đều công nhận: “Người dân được làm những gì pháp luật không cấm. Còn nhà cầm quyền chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”. Thủ tướng còn kêu gọi xây dựng một nhà nước pháp quyền. Vậy xin hỏi: nhà cầm quyền tỉnh Thừa Thiên dựa vào luật pháp nào để cấm đoán nhân dân thực hiện việc tập trung gặp gỡ nói trên, và dựa vào luật pháp nào để tự cho phép mình tới chùa hăm dọa sẽ ra tay ngăn chận rồi còn tịch thu giấy mời gởi các thương binh?
2- Toàn dân Việt đang hướng về ngày kỷ niệm 40 năm đảng Cộng sản Việt Nam cai trị toàn thể đất nước. Đảng luôn lớn tiếng kêu gọi “hòa giải hòa hợp” dân tộc, quên đi hận thù. Vậy việc nhà cầm quyền tỉnh Thừa Thiên cấm đoán Hội đồng Liên tôn và các Tăng sĩ chùa Phước Thành quy tụ các thương binh Việt Nam Cộng Hòa phải chăng là hành động thực hiện lời kêu gọi đó? Hay thực chất chỉ là nuôi mãi lòng căm thù đối với những cựu chiến binh đã bị đọa đày suốt 40 năm qua mà nay cũng chẳng còn có thể gây nguy hại cho chế độ cộng sản!
3- Đất nước đang trong cảnh đương đầu với ngoại thù Tàu cộng xâm lược (biến cố Gạc Ma năm 1988 với 64 anh hùng vị quốc vong thân sắp được kỷ niệm vào ngày 14-03 tới là sự nhắc nhở đầy đau thương và sôi sục). Vậy phải chăng việc cấm đoán cuộc gặp gỡ nói trên là hành động “ổn định xã hội” và “thu phục nhân tâm” để “đoàn kết toàn dân” chống kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc?
4- Là những người tu hành, có bổn phận rao giảng lẫn thực hiện việc xóa bỏ hận thù, việc chăm sóc những kẻ bất hạnh, việc tri ân những người đã hy sinh tính mạng hay một phần thân thể cho Tổ quốc, Hội đồng Liên tôn chúng tôi cương quyết tiến hành việc tập trung gặp gỡ các Thương binh VNCH. Chúng tôi hy vọng rằng mọi sự sẽ được xuôi thuận, để làm sạch hơn chút ít bộ mặt nhân quyền lem luốc của Việt Nam mà Đặc phái viên Liên Hiệp quốc về tự do tôn giáo vừa trình bày cho thế giới thấy tại Hội đồng Nhân quyền LHQ hôm 11-03 mới rồi.
Làm tại Việt Nam ngày 13-03-2014
Hội đồng Liên tôn VN
Công giáo:
– Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi (đt: 0984.236.371)
– Linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại (đt: 0935.569.205)
– Linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh (đt: 0993.598.820)
– Linh mục Phaolô Lê Xuân Lộc (đt: 0122.596.9335)
Phật Giáo:
– Hòa thượng Thích Không Tánh (đt: 0165.6789.881)
– Thượng toạ Thích Viên Hỷ (đt: 0937.777.312)
– Thượng tọa Thích Đồng Minh (đt: 0933.738,591)
Tin Lành:
– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (đt: 0121.9460.045)
– Mục sư Đinh Uỷ (đt: 0163.5847.464)
– Mục sư Đinh Thanh Trường (đt: 0120.2352.348)
– Mục sư Nguyễn Hồng Quang (đt: 0978.207.007)
– Mục sư Phạm Ngọc Thạch (đt: 0912.000.709)
– Mục sư Nguyễn Trung Tôn (đt: 0906.342.908)
– Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (đt: 0906.342.908)
– Mục sư Lê Quang Du (đt: 0121.2002.001)
Cao Đài:
– Chánh trị sự Hứa Phi (đt: 0163.3273.240)
– Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (đt: 0988.971.117)
– Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (đt: 0988.477.719)
Phật giáo Hoà Hảo:
– Hội trưởng Lê Quang Liêm (đt: 0199.2432.593)
– Ông Phan Tấn Hòa (đt: 0162.6301.082)
– Ông Tống Văn Chính (đt: 0163.5745.430)
– Ông Lê Văn Sóc (đt: 096.4199.039)
– Ông Tống Văn Chính (đt: 0163.574.5430)
– Ông Bùi Văn Luốt (đt: 0163.688.8220)

Kiến nghị phản đối chuyến thăm HK của TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng

Tuesday, March 10th, 2015

KIẾN NGHỊ KÍNH GỬI QUỐC HỘI VÀ TỔNG THỐNG HOA KỲ 

V/v Chính phủ Hoa Kỳ chính thức mời Ông Nguyễn Phú Trọng,

Tổng Bí Thư đảng CSVN viếng thăm Hoa Kỳ

Theo tin từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, chúng tôi được biết Chính phủ Hoa Kỳ sẽ chính thức mời ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam đến thăm Hoa Thịnh Đốn trong năm 2015.

XÉT RẰNG:

  • Đảng CSVN đã phạm nhiều tội ác đối với dân tộc Việt Nam kể từ 1945 cho đến nay.
  • Chính quyền và quốc hội tại Việt Nam hiện nay do đảng CSVN thành lập, mà không do người dân bầu cử một cách dân chủ, vì thế đảng CSVN không đại diện cho nhân dân Việt Nam.
  • Chế độ tại Việt Nam hiện là một chế độ độc tài toàn trị, tước bỏ mọi quyền tự do của người dân trong đó có tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do bầu cử, tự do lập hội v.v.. Gần đây, nhà cầm quyền đã gia tăng đàn áp, bắt bớ, giam cầm, tù đày.. những nhà tranh đấu ôn hòa cho nhân quyền và tự do dân chủ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các tổ chức Quốc Tế Nhân Quyền đã thường xuyên phúc trình những vi phạm trầm trọng nhân quyền của CSVN.
  • Ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam – không đại diện cho người dân tại Việt Nam nên không có tư cách gì để được chính phủ Hoa Kỳ tiếp đón như một quốc khách hay khách đặc biệt.

BỞI VẬY: Chúng tôi, những người Mỹ gốc Việt trân trọng thỉnh cầu Tổng Thống và Quốc Hội Hoa Kỳ:

  • Cứu xét và hủy bỏ việc mời Ông Nguyễn Phú Trọng đến thăm Hoa Kỳ cho dù với bất cứ tư cách nào.
  • Trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Hoa Kỳ cần giữ tư thế của một quốc gia đứng đầu thế giới về tự do dân chủ và tôn trọng nhân quyền, do đó nhân quyền phải được xem là điều kiện quan trọng.

Chúng tôi sẽ tổ chức những cuộc biểu tình phản đối khi ông Nguyễn Phú Trọng đến thăm viếng Hoa Kỳ với bất cứ với lý do nào.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 10 tháng 3, năm 2015

Ký tên

Vào góc trên bên phải để ký kiến nghị: 

Cám ơn quý vị.

========================

English Version

PETITION TO THE PRESIDENT AND THE NATIONAL CONGRESS OF THE UNITED STATES OF AMERICA

Re: The United States’ official invitation to Mr. Nguyen Phu Trong, General Secretary of the Vietnamese Communist Party to visit the USA this year

According to the US State Department, we learned that the United State has formally invited . Mr. Nguyen Phu Trong, General Secretary of the Vietnamese Communist Party to visit the United State in 2015.

WHEREAS:

1. The Vietnamese Communist Party has been committed many crimes against the people of Vietnam from 1945 to the present.
2. The government and parliament in Vietnam are currently established by the Vietnamese Communist Party, not from the people election in a democratic manner, thus the Vietnamese Communist Party does not represent the people of Vietnam.
3. The regime in Vietnam is a totalitarian one; it stripped all the rights and freedoms of citizens, including freedom of religion, freedom of speech, freedom of the press, freedom of election, freedom of association, and so on. Recently, the government has increased repression, arrest, detention, imprisonment.. of peaceful activists for human rights and democracy. The U.S. State Department and International Human Rights organizations have frequently reported the serious human rights violations by the Vietnamese Government.
4. Mr. Nguyen Phu Trong as a General Secretary of the Vietnamese Communist Party does not deserve US national or special guest .

Therefore: We, the Vietnamese American community in the USA respectfully request the President and the Congress:

1. Review and cancel the invitation to Mr. Nguyen Phu Trong to visit the United States whether with any position.
2. Regarding the relationship between the United States and the Republic of Socialist Vietnam, the United States should hold a position as the world leader on democracy and human rights, therefore the human rights issue must be considered as an important condition.

We will organize protests against Nguyen Phu Trong’s visit to the United States.

Thank you for your consideration,
United States on March 10, 2015
Sign

Please use the upper right box to sign

Thank You

———————

Kính thưa quý vị, 

Theo tin từ bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, NT John Kerry đã ngỏ lời mời TBT đảng CSVN là Nguyễn Phú Trọng chính thức thăm Hoa Kỳ, thời gian chưa rõ, có thể vào tháng 09/2015. 

http://news.yahoo.com/vietnam-party-chief-u-trip-still-odds-over-084045187.html 

Đảng CSVN là một đảng tội ác đối với dân tộc Việt Nam, người Việt tại Hoa Kỳ cũng như trên thế giới không thể chấp nhận việc chính phủ Hoa Kỳ mời một nhân vật đầu sỏ của một đảng tội ác chính thức đến Hoa Kỳ như một quốc khách hoặc với loại khách đặc biệt. 

Để phản đối chuyến thăm này, mời quý vị  ký tên, yêu cầu chính phủ và quốc hội Hoa Kỳ hủy bỏ cuộc mời này. Trên góc phải của trang nhà này có khung ký tên xin bấm vào sign now, quý vị sẽ thấy bản kiến nghị bên trái, và chi tiết ký tên bên tay phải. 

cdlbhk.org

Xin quý vi vui lòng ký tên thật đông đảo để nói lên nguyện vọng của người Việt tỵ nạn CS của chúng ta. Hãy vận động bạn bè, bà con cùng ký vào bản kiến nghị này. 

Kính mời quý vị hãy hành động ngay.

Trân trọng 

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Đau lòng cho đất nước: Xuân Ơi! Đảo Đã Đi Rồi

Friday, February 20th, 2015

Xuân Ơi! Đảo Đã Đi Rồi
Thuyền Neo Cửa Biển Dân Ngồi Bến Câu

(Nguồn: Diễn Đàn Cấp Tiến)

Thế hệ Nối Tiếp chuyển.

Ông James Hardy, Chủ Bút đặc trách Châu Á Thái Bình Duơng của Tuần Báo Quốc Phòng IHS Jane’s Defence, hôm 15/2/2015 nói về việc Trung Quốc ồ ạt xây dựng trên 4 đảo họ chiếm của Việt Nam năm 1988: Tư Nghĩa, Gaven, Gạc Ma và Chữ Thập.

“Chúng ta có thể thấy rằng đây là cả một chiến dịch bài bản, được lên kế hoạch kỹ lưỡng, nhằm tạo ra một chuỗi pháo đài phòng thủ trên không và trên biển xuyên qua phần trung tâm của quần đảo Trường Sa”.

Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef) nguyên thủy 380m2, TQ đã đắp thành đảo nhân tạo rộng 75.000m2 hay bằng 14 sân chơi football.

Ảnh chụp ngày 30/3/2014 vẫn là một bãi đá ngầm bé li ti.

Khoảng 4 tháng sau, ảnh chụp ngày 7/8/2014 thì đã trở thành một hòn đảo nhân tạo lớn.

Khoảng 5 tháng sau nữa, ảnh ngày 30/1/2015 cho thấy có 2 cầu tàu, 1 nhà mái cement, 1 bãi đáp trực thăng, phi đạo, và các tòa nhà.

Đá Gaven, Đá Gạc Ma (Johnson South Reef), Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef, đã xây phi đạo) đều được TQ xây dựng tấp nập để hình thành một hàng rào quân sự hùng mạnh mà không ai có thể thách thức, để khống chế Biển Đông.

Đó là lý do tại sao TQ ngay bây giờ đã từ chối đưa vấn đề Biển Đông vào chương trình nghị sự cho tháng Mười Một năm nay tại Mã Lai của Hội Nghị Các Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN Mở Rộng ADMM+ gồm Bộ trưởng Quốc phòng 10 nước ASEAN và 8 đối tác gồm Mỹ, Nga, Ấn, Nhật, Nam Hàn, Trung Quốc, Úc và Tân Tây Lan – Rõ là một điều nực cười, quốc phòng mà không được nói an ninh.

TQ chỉ câu giờ đẩy đưa chuyện COC/Quy Tắc Ứng Xử để giảm áp lực, chứ TQ không muốn bị ràng buộc và không muốn đa phương.

Tuy có bờ biển dài, nhưng Việt Nam đang dần trở thành một quốc gia lăn lóc (landlocked).

image1.jpeg

image2.jpeg

image3.jpeg

image4.jpeg

image5.jpeg

image6.jpeg

image7.jpeg

image8.jpeg

image9.jpeg

image10.jpeg

image11.jpeg

image12.jpeg

image13.jpeg


Like · ·

www.goo.gl/AaOejy
www.goo.gl/TS3mjU

Xã Hội Dân Sự tại Nông Thôn Việt Nam

Thursday, February 19th, 2015

Bài của Đoàn Thanh Liêm.

Trong khoảng mười thế kỷ tự chủ, cha ông chúng ta đã xây dựng được một xã hội tương đối phát triển, ổn định và hài hòa. Nhất là tại các vùng nông thôn, thì các thuần phong mỹ tục vẫn được củng cố, duy trì qua bao nhiêu thế hệ. Kể cả sau khi bị mất chủ quyền vào tay người Pháp vào giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, thì cái lề thói sinh họat truyền thống tốt đẹp trong mỗi gia đình, cũng như ngoài xã hội Việt nam vẫn không bị phá hoại, mai một hư hại đi là bao nhiêu.

Từ ngàn xưa, cha ông chúng ta vẫn thường nêu cao khẩu hiệu “Phép vua thua lệ làng”, ngay dưới thời quân chủ phong kiến mà quyền hành của nhà vua được coi như tuyệt đối (Absolute monarchy).Vào thời đó, tại các miền nông thôn đã có chế độ “Xã thôn tự trị” (Community Autonomy), tức là tại các làng xã, chính quyền và dân chúng địa phương được dành nhiều quyền tự trị rông rãi, chứ không bị quá ràng buộc, lệ thuộc vào chính quyền ở trung ương tại kinh đô do nhà vua điều khiển. Mỗi làng xã đều có ngân sách riêng để tự mình lo trang trải các chi tiêu của địa phương, và như vậy là các hương chức có quyền thâu thuế để nộp vào ngân sách của làng. Dĩ nhiên là họ cũng có trách nhiệm thâu thuế cho chính quyền cấp tỉnh,cũng như cấp trung ương. Tức là cũng có 3 cấp chính quyền tương tự với ở các quốc gia văn minh ngày nay trên thế giới.

Phân tích chi tiết hơn về sinh họat xã hội tại nông thôn từ hồi trước 1945, ta thấy người dân phần đông được sống thoải mái trong bầu không khí yêu thương gắn bó của dòng tộc và tình liên đới tương trợ lẫn nhau của xóm giềng. Cái nếp sống thanh bình thân ái đó mà được duy trì lâu ngày, đó là nhờ nơi đức độ và uy tín của các bậc tôn trưởng là những vị lãnh đạo tinh thần tại hạ tầng cơ sở nông thôn trong xã hội cổ truyền Việt nam từ ngàn xưa, mà ngay dưới thời Pháp thuộc thì cũng vẫn còn giữ vững được. Các vị tôn trưởng này gồm một số quan chức đã hồi hưu, các vị đồ nho vốn là thầy dậy học cho các sĩ tử ở địa phương, các vị tu sĩ Phật giáo, Công giáo, và một số những nhân sĩ “xuất thân từ những dòng họ vốn có danh giá và được trọng vọng tại địa phương” v.v…Đây chính là những thành phần cốt lõi, rường cột của cộng đồng địa phương tại mỗi xóm làng ở nông thôn nước ta từ ngàn xưa. Chính cái tập thể giới lãnh đạo này từ nhiều thế hệ đã duy trì được nếp sống an vui, trật tự, điều hòa và nhân ái tại hạ tầng cơ sở nông thôn của chúng Và nhờ các vị tôn trưởng này, mà Xã hội Dân sự ở nông thôn đã giữ vững được vị thế và vai trò quan trọng của mình trong cộng đồng dân tộc. Như ta đã biết, khái niệm về Xã hội Dân sự (XHDS) mới chỉ được phổ biến thông dụng trong mấy chục năm gần đây, nhất là sau khi chế độ toàn trị cộng sản bị sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô từ năm 1989 trở đi. Đó là một khu vực cùng tồn tại song hành với khu vực Nhà nước và khu vực Thị trường, để tạo thành cái Không gian Xã hội ( The Social Space = The State + The Marketplace + The Civil Society). Và theo định nghĩa như vậy, ngay trong xã hội cổ truyền ở nước ta hay tại Trung hoa, trước khi đảng cộng sản nắm trọn quyền hành để thiết lập nên một chế độ độc tài chuyên chế toàn trị (totalitarian dictatorship = nhằm chiếm lãnh độc quyền không những về chính trị, kinh tế, xã hội, mà còn cả về mặt văn hóa, tinh thần và tâm linh nữa), thì XHDS vẫn tồn tại trong sinh họat thường ngày của các cư dân tại mỗi địa phương. Tức là từ khi đảng cộng sản chiếm được trọn bộ quyền hành rồi, thì họ đã chi phối không những bộ máy Nhà nước, guồng máy kinh tế, mà còn khống chế, lũng đoạn toàn bộ khu vực XHDS nữa. Ta sẽ phân tích chi tiết khía cạnh này trong phần tiếp theo sau đây, khi so sánh tình hình ở nông thôn ở hai giai đoạn trước và sau năm 1945 kể từ khi đảng cộng sản lên nắm chính quyền.

I – Như ta đã biết, trước khi người Pháp xâm chiếm nước ta, thì ngay đến giữa thế kỷ XIX, nền kinh tế Việt nam hoàn toàn là nền kinh tế nông nghiệp và tuyệt đại đa số nhân dân ta đều sinh sống tại nông thôn. Thời đó hầu như chưa có kỹ nghệ, mà chỉ có tiểu thủ công nghiệp, cũng như buôn bán nhỏ lồng trong đại bộ phận là sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ, kỹ thuật thô sơ và năng xuất còn rất thấp. Đa số người dân suốt đời quanh quẩn trong phạm vi làng quê được bao bọc bằng lũy tre xanh vây xung quanh làng, do vậy mà họ quen biết lẫn nhau, gắn bó thân thiết với nhau và có tình liên đới tương trợ lẫn nhau mỗi khi “tắt lửa tối đèn”, hay gặp khi “trái gió trở trời, tai trời ách nước” v.v… Gia đình nào thì cũng phải lo việc “Hiếu, Hỷ” tức là việc tang ma, giỗ chạp cho cha mẹ, ông bà, hay đám cưới đám hỏi cho con cháu ; mà thường gọi là việc “Quan, Hôn, Tang, Tế”.

Và mỗi lần như vậy, thì bà con lối xóm cùng nhau xúm vào giúp đỡ gia chủ trong mọi chi tiết thông thường của những loại biến cố thuộc sinh họat gia đình thường xuyên như thế này. Họ giúp đỡ nhau bằng cách cho mượn chén bát, nồi niêu, bàn ghế, giúp làm lều rạp che mưa chắn nắng, giúp cả việc nấu nướng để đãi ăn cho cả hàng trăm thưc khách. Và nhất là còn cho khách từ xa đến trú ngụ tại nhà mình, bởi lẽ căn nhà của gia chủ thường không bao giờ đủ rộng rãi để có thể chứa được số đông bà con của chính họ từ phương xa mà đến vào các dịp lễ nghi như vậy.

Người nông dân lại còn giúp đỡ nhau ngay cả trong việc xây cất, sửa chữa nhà cửa và cả trong việc đồng áng theo thể thức “Vần công, đổi công cho nhau”, nay cho nhà này, mai lại đến nhà mình v.v… Nhờ các việc giúp đỡ lẫn nhau như vậy (mutual assistance), mà bà con trở thành gắn bó, liên kết thân mật chặt chẽ với nhau (social cohesion). Từ đó, nếp sống cộng đồng có cơ được an vui, phấn chấn và mỗi thành viên cảm thấy thoải mái, thân thương với môi trường sinh hoạt đấy ắp tình người, tình xóm giềng, nghĩa đồng hương.

Đến nỗi mà nhân gian có câu :”Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “Thứ nhất cận lân, thứ nhì cận thân”, tức là có ý nhắc nhở lẫn nhau là : “Cần phải xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp, thân thiết với bà con láng giềng kề sát với mình”, giống như người Mỹ thường nói đến : Good neighborhood.

Và như đã ghi ở trên, chính các bậc tôn trưởng được mọi người rong xóm làng tín nhiệm, cảm phục và mến yêu vừa do đức độ, tài năng của bản thân, và cũng vừa do uy tín của các bậc tiền nhân trong dòng tộc của họ, mà vốn đã từng có công đức lớn lao đối với dân làng, thì các vị đó đã đóng vai trò của giới lãnh đạo cho toàn thể cộng đồng địa phương xóm làng. Các nhân vật này, ta có thể còn tìm thấy dấu tích của họ như đã được ghi chép khá trung thực, chính xác trong các cuốn gia phả của nhiều dòng họ, mà hiện nay con cháu bao nhiêu đời sau vẫn cò lưu giữ được. Khảo sát cặn kẽ gia phả của những dòng họ danh giá nhu thế tại địa phương, chúng ta còn có thể thấy rõ được những công trạng to lớn, những đóng góp tuyệt vời của các bậc “sĩ phu quân tử” này đối với địa phương cơ sở mà dòng tộc của họ đã lâu đời lập nghiệp và sinh sống tại đó. Các nhân sĩ này cũng còn được liệt kê trong những cuốn Địa dư chí của mỗi địa phương. Và nhiều nơi, dân làng lại còn lập miếu thờ các “bậc tiên hiền”, để ghi nhớ công đức của các vị đã đóng góp nhiều cho sự phát triển và hưng thịnh của địa phương. Trên một phạm vi rộng lớn hơn, ta có thể tham khảo nơi cuốn “Bách Việt tiên hiền chí” do nhà biên khảo Trần Lam Giang mới công bố cách nay vài ba năm.

Dĩ nhiên, nông thôn của chúng ta thời xưa cũng chẳng phải là cõi thiên đàng với mọi sự đều tuyệt vời, hoàn hảo. Mà vẫn còn nhiều mặt trái với những hủ lậu, tham nhũng áp bức do giới cường hào ác bá gây ra.Các khuôn mặt tiêu cực này đã được khắc họa rõ nét trong văn học như là “Bá Kiến trong tác phẩm Chí Phèo”, “Nghị Hách trong Giông Tố” và nhiều thứ” tham quan, lại nhũng khác” v.v…Nhưng nói chung, thì xã hội cổ truyền ở làng quê vẫn còn bảo tồn được nhiều tính cách lành mạnh, hòa nhã, nhân ái và lương hảo theo đúng với truyền thống đạo đức của dân tộc. “Sơn hà xã tắc, tôn ti trật tự”, cũng như nền nếp sinh họat “trên thuận dưới hòa” vẫn được người dân coi trọng. Tình trạng an hòa ổn định tại hạ tầng cơ sở nông thôn như thế này, một phần lớn đó là nhờ nơi công lao, đức độ và uy tín của các bậc tôn trưởng của mỗi địa phương như đã ghi ở trên.

Nhưng tiếc thay, sau năm 1945 kể từ khi người cộng sản lên nắm chính quyền, thì họ đã phá tan tành cái nền nếp truyền thống tốt đẹp đó ở nông thôn của nước ta. Trong cơn hăng say điên lọan của cuộc cách mạng đẫm máu với khẩu hiệu “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, đảng cộng sản đã phát động một cuộc tàn sát, tiêu diệt toàn bộ hệ thống lãnh đạo tại nông thôn, và thay vào đó là tầng lớp cán bộ của họ, mà được đào tạo trong tinh thần “Hận thù giai cấp, Bạo lực cách mạng, Vô sản chuyên chính”.

II – Kết quả là sau trên 60 năm người cộng sản nắm giữ độc quyền trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và cả đến văn hóa, tâm linh trên cả nước, thì Xã hội Dân sự tại nông thôn đã hòan toàn bị phá nát hoang tàn.Tại làng quê, không còn thấy bóng dáng của một vị tôn trưởng vốn được người dân mến thương và thần phục như xưa nữa. Đầu tiên là cuộc “Cải cách ruộng đất” rập theo khuôn mẫu của Trung quốc,chính quyền cộng sản Việt nam đã gửi các “Đội cải cách” xuống tận các thôn xóm để phát động cuộc đấu tố rất man rợ, sắt máu làm tiêu diệt mọi thành phần có tên tuổi ở địa phương. Chỉ trong có mấy năm, mà chiến dịch này đã hạ sát, bỏ tù hàng mấy trăm ngàn người, tịch thu mọi tài sản ruộng đất, nhà cửa của các nạn nhân bị quy kết là thuộc thành phần địa chủ. Các đội cải cách này có toàn quyền sinh sát đối với các nạn nhân, nên dân gian mới nói :” Nhất Đội, nhì Trời”, tức là họ còn có quyền thế hơn cả ông Trời nữa.Có thể nói trong lịch sử mấy ngàn năm, chưa bao giờ nông thôn Việt nam lại bị tàn phá kinh hoàng như trong đợt cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950 như thế này. Đây rõ rệt là một cuộc “Đại khủng bố” nhằm tiêu diệt toàn bộ hệ thống lãnh đạo Xã hội Dân sự tại thôn quê miền Bắc nước Tiếp theo là chiến dịch “Tập thể hóa ruộng đất” được phát động cũng tàn bạo, quyết liệt không kém việc cải cách ruông đất nói trên. Tất cả các thửa đất tư hữu của người dân đều bị cưỡng bức xung vào “hợp tác” và nông dân bị biến thành người làm công, làm “nông nô”, được trả lương rất thấp kém, đến độ không thể nuôi sống cho riêng bản thân mình, nói chi đến cưu mang cho cả gia đình.Vì thế mà nông dân phải tìm cách làm thêm nhiều nghề vụn vặt hầu đắp đỗi qua ngày.

Rốt cuộc là cả hai chiến dịch Cải cách và Tập thể hóa ruộng đất này đã phá tan hoang tất cả nền nếp sinh hoạt của hương thôn mà cha ông chúng ta đã phải dầy công khó nhọc suốt bao nhiêu thế hệ mới gây dựng ra được.Vì kinh tế suy xụp, người dân lâm vào cảnh bần cùng đói kém, lại cộng thêm với cuộc chiến tranh Nam Bắc mỗi ngày một leo thang khủng khiếp, khiến cho tình trạng xã hội càng thêm tiêu điều, khốn khổ. Vì thế, có thể nói là khu vực Xã hội Dân sự truyền thống đã bị tan rã, vô hiệu hóa để mặc cho cán bộ nhà nước, cũng như các tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản như Đoàn Thanh Thiếu niên, Hội Phụ nữ,Mặt Trận Tổ quốc v.v…tha hồ mà tung hoành “ múa gậy vườn hoang, một mình một chợ, dọc ngang nào biết trên đầu có ai”!

Vì chủ trương”Bạo lực cách mạng, Chuyên chính vô sản, Tranh đấu giai cấp, Dân chủ tập trung”… rất là cực đoan, quá khích đến độ cuồng tín theo sách lược của Staline, Mao Trạch Đông, cho nên các cán bộ, viên chức cộng sản ở nông thôn không hề có được uy tín và sự mến phục của quần chúng nhân dân, như trường hợp của các vị tôn trưởng tại làng quê hồi trước 1945 như đã mô tả chi tiết ở trên.Thành ra tại các miền quê nơi thôn xã đã có tình trạng “trống vắng lãnh đạo” (the vacuum of leadership), khiến cho người dân không còn có thể sinh họat theo lối “an cư lạc nghiệp”, như trong cảnh thanh bình, yên ấm thuở xưa. Và khu vực Xã hội Dân sự đã bị tê liệt, tan rã không còn sinh khí năng động, phấn khởi mà lại an hòa với tình nghĩa đôn hậu, chân chất của xóm làng trước đây nữa. Có thể nói tình trạng xã hội bế tắc, hoang tàn như vậy là một vết thương rất ư trầm trọng, đã hằn sâu trong lòng dân tộc Việt nam, mà chế độ cộng sản đã gây ra từ trên nửa thế kỷ nay. Và phải mất nhiều thế hệ nữa, thì dân tộc ta mới có thể lần lần phục hồi, củng cố tái thiết lại . Bởi vì cái lòng hận thù, uất ức vốn bị dồn nén từ bao nhiêu năm nay trong các gia đình ở nông thôn chúng ta, thì không thể ngày một ngày hai mà giải tỏa, dẹp bỏ hết ngay đi được.Cũng như về mặt tích cực, ngay trong số con cháu của những “danh gia vọng tộc” ngày trước, thì cũng phải mất nhiều năm nữa họ mới gây dựng và quy tụ lại với nhau, hầu nối tiếp được cái sứ mạng cao quý, mà tổ tiên của họ đã có thời hoàn thành một cách xuất sắc, như đã được ghi lại trong sử sách cũng như trong lời truyền tụng của dân

* *

Công cuộc tái kiến thiết và phục hồi lại Xã hội Dân sự hiện đang được thực hiện tại các nước Đông Âu và Nga từ 20 năm nay, kể từ ngày chế độ cộng sản sụp đổ, để trả lại quyền tự quyết cho nhân dân các quốc gia này được nhận lấy trách nhiệm hàn gắn những hận thù đổ vỡ trong xã hội, và tạo ra được một bàu không khí phấn khởi, nô nức nơi mọi tầng lớp quần chúng trước vận hội mới của đất nước mình. Và đây mới rõ ràng là một hành trình của mỗi dân tộc đó để” trở về lại với cuộc sống bình thường” của chính mình (the return to the normal way of life), như nhà xã hội học Max Weber đã từng viết ngay từ đầu thế kỷ XX.

Đó cũng là một kinh nghiệm quý báu cho dân tộc Việt nam chúng ta, để chuẩn bị bước sang giai đoạn “hậu cộng sản”trong một tương lai không còn xa vời nữa vậy./

California, Tháng 11 năm 2008

Đoàn Thanh Liêm

Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình và vụ chạy án rúng động trong nội bộ cấp cao ngành Kiểm sát

Thursday, February 12th, 2015

Trích từ: Chân dung Quyền Lực

http://chandungquyenluc.blogspot.com/2015/01/nguyen-hoa-binh-chay-an-vo-chong-lien-ty.html

Cách đây 1 tuần, chúng tôi nhận được những tài liệu hết sức đắt giá về một vụ chạy án chấn động trong nội bộ cấp cao ngành kiểm sát, liên quan trực tiếp đến Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình. Qua quá trình thẩm tra, chúng tôi xác nhận đây là thông tin xác thực, xin tổng hợp và tóm tắt với độc giả.

Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình là người nắm quyền sinh sát mà lại rất gian manh, không chỉ kiếm tiền qua con trai Nguyễn Tuấn Anh mà còn thông qua Viện phó Nguyễn Hải Phong và Phó thủ trưởng cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao Lại Viết Quang, chỉ đạo Quang mượn tay vợ chồng “Liên – Tỷ” (tức bà Trần Thị Bích Liên và ông Vương A Tỷ, địa chỉ 118/10 đường 1-5, phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là chủ của công ty TNHH V.A.T) để làm 2 dự án tại Lâm Đồng với tổng giá trị lên đến 750 tỷ đồng. Tháng 8/2013, vì có hành vi gian dối, lừa đảo, bà Liên bị ông Vũ Văn Diến, Viện trưởng VKSND tỉnh Lâm Đồng phê chuẩn lệnh tạm giam để điều tra về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của nhiều người. Trước nguy cơ bị lộ nguồn vốn bí mật, ông Nguyễn Hòa Bình đã chỉ đạo Viện phó Nguyễn Hải Phong và Phó thủ trưởng cơ quan điều tra Lại Viết Quang trực tiếp dàn xếp với cấp dưới là ông Vũ Văn Diến.
Dự án “Chợ Trung tâm Bảo Lộc” đang chuẩn bị khánh thành và dự án “Khách sạn và Văn phòng cho thuê” với tổng trị giá 750 tỷ chuẩn bị khởi công của dàn lãnh đạo Viện KSND Tối cao

Tháng 11/2013, Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình phát đi chỉ thị miệng yêu cầu đình chỉ vụ án vợ chồng “Liên – Tỷ” nhưng ông Viện trưởng Viện KSND tỉnh Lâm Đồng Vũ Văn Diến vẫn phớt lờ, tiếp tục phê chuẩn lần 2, gia hạn thêm 4 tháng tạm giam để mở rộng điều tra theo đề xuất của ông Lê Tự Mật, Phó Viện trưởng Viện KSND huyện Đức Trọng.
Bà Trần Thị Bích Liên, GĐ công ty V.A.T
Vì bị khinh thường, Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình đã vô cùng tức giận, lập tức chỉ đạo Viện phó Nguyễn Hải Phong ra tay “bằng biện pháp mạnh” với Viện trưởng Viện KSND tỉnh Lâm Đồng Vũ Văn Diến. Tháng 3/2014, kế hoạch đã hoàn chỉnh và đích thân Phó thủ trưởng cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao Lại Viết Quang trực tiếp chỉ đạo. Ông Vũ Văn Diến và đàn em Lê Tự Mật dễ dàng sa vào cạm bẫy chết người khi mọi chứng cứ về việc nhận tiền chạy án, ăn chơi trác táng đã bị tay chân của ông Lại Viết Quang ghi âm, ghi hình đầy đủ. Ngày 6/6/2014, Lại Viết Quang đã gửi đến nhà riêng Lê Tự Mật lá thư nặc danh in bằng tờ giấy A4 kèm theo đĩa USB chứa các đoạn ghi âm, ghi hình trên.
Lá thư được ông Lại Viết Quang, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện KSND Tối cao gửi đến nhà riêng ông Lê Tự Mật, nội dung ghi rõ về nguồn vốn của dự án chợ Bảo Lộc “của anh em bọn anh” và đe dọa: “Nếu anh sử dụng chứng cứ này để minh oan cho bà Liên và thu hồi vốn thì quá dễ và nhanh chóng. Nhưng cuộc đời chú, sự nghiệp, công danh… sẽ ra sao
Thế là rõ, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao đã xác nhận vốn đổ vào dự án của vợ chồng “Liên-Tỷ” là “của anh em bọn anh” và muốn được xử lý êm thấm, không ồn ào vụ này. Hãy xem những nội dung mà ông Lại Viết Quang nhấn mạnh là “một số file đặc trưng để chú biết trách nhiệm của mình phải làm gì… để cả nhà cùng được vui”:
Các nội dung ghi âm:
  • 07:25 ngày 22/3/2014: Tay chân của ông Lại Viết Quang trong vai trò người chạy án, tạm gọi là “L” (mà các ông Lại Viết Quang, Lê Tự Mật, Vũ Văn Diến là những người trong cuộc biết rõ là ai) khôn khéo mớm lời để Lê Tự Mật gợi ý: “trước mắt phải đưa cho bác hai trăm”. “L” đồng ý phương án này. Giọng ông Mật: “hôm tết anh đưa cho em “một trăm” em mang đến cho ổng”; “thôi giờ cố gắng đưa cho bác 200 để em khỏi mất uy tín với bác”…

          Nghe ghi âm:

  • 16:24 ngày 25/3/2014: Ông Lê Tự Mật báo cho “L” bên cơ quan điều tra “lộn số liệu” trong bản kết luận, Mật sẽ làm việc để bên cơ quan điều tra đính chính lại; “L” hẹn đưa “ấy” cho “nó” để “nó” nộp cái khoản kia; Mật đồng ý và cho rằng nếu không thì bên kia sẽ “chọt” mấy ổng có ý kiến sẽ rất mất công.

          Nghe ghi âm:

  • 09:36 ngày 26/3/2014: Ông Lê Tự Mật thông báo: “” đã nộp tiền, “L” bảo nó mang phiếu qua cho Mật; Mật cho “L” biết đã làm “lệnh” sẵn; “L” nhắc lại: trong số 200 triệu có xấp 5 chục lẻ sắp lộn, không khéo em lộn đấy”.

          Nghe ghi âm:

Các nội dung ghi hình:
  • 06:44 ngày 26/3/2014: “L” đưa 200 triệu cho ông Lê Tự Mật và bảo: “đưa cho anh Diến” (ông Vũ Văn Diến, Viện trưởng Viện KSND tỉnh Lâm Đồng) để “bác Diến bác vui vẻ tí”. Lê Tự Mật bảo “dạ, như vậy cho khỏi mất uy tín, còn anh em mình tính sau”; Tiếp đó ông Mật cho biết: “Rất sợ lằng nhằng vì bên công an nó rất mạnh, còn Tòa với Viện không mạnh bằng, công an có chân trong thường vụ, nếu nó dùi thì lắm chuyện lắm, sợ vậy nên mới hối anh làm cho sớm rồi tính sau”.
Ông Lê Tự Mật nhận gói tiền 200 triệu đồng chạy án để chuyển cho ông Vũ Văn Diến, Viện trưởng Viện KSND Tỉnh Lâm Đồng (ảnh cắt từ clip)

Ông Lê Tự Mật hứa: “em làm luôn, nếu được chiều em cho nó ra”; “L” nói: “Em cố cho nó ra trong ngày hôm nay đi, mai em hãy làm việc với mấy thằng công an chứ không thì rắc rối, phức tạp”; Mật nói: “Nếu hôm nay ông Diến ổng có ở cơ quan thì em làm luôn”; Tiếp theo Mật dặn dò: “nếu cho ra mà “anh” có “đón nó” thì đón ở ngoài đường lộ, tự động nó đi bộ ra, đừng vô trong kẻo lộ”.

  • 13:27 cùng ngày 26/3/2014: Quay cảnh bắt đầu buổi ăn nhậu của dàn lãnh đạo Viện KSND tỉnh Lâm Đồng tại một quán bia ôm.
Dàn lãnh đạo Viện KSND tỉnh Lâm Đồng
Dễ dàng nhận diện khuôn mặt các lãnh đạo Viện KSND Tỉnh Lâm Đồng còn mặc nguyên đồng phục ngành Kiểm sát trong một quán bia ôm (ảnh cắt từ clip)
Trước sự đe dọa cáo chung của sinh mạng chính trị, ông Viện trưởng Viện KSND tỉnh Lâm Đồng Vũ Văn Diến và đàn em Lê Tự Mật xem như đã bị chiếu bí, phải thực hiện mọi mệnh lệnh của Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình. Đây chính là nguyên nhân của quyết định số 02/KSĐT ngày 14/8/2014 nhằm đình chỉ vụ án hình sự bà Trần Thị Bích Liên dẫn đến việc trả lại các dự án mà tổng trị giá lên tới 750 tỷ đồng, trong đó chủ yếu từ nguồn vốn bí mật của ông Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình, Viện phó Nguyễn Hải Phong và Phó thủ trưởng cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao Lại Viết Quang.
Với cú ra tay thần sầu của ông Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình, vợ chồng bà Trần Thị Bích Liên đã hoàn toàn trắng án sau biên bản giải quyết thi hành án ngày 15/1/2015 (trang 1)
Với cú ra tay thần sầu của ông Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình, vợ chồng bà Trần Thị Bích Liên đã hoàn toàn trắng án sau biên bản giải quyết thi hành án ngày 15/1/2015 (trang 2)
Với cú ra tay thần sầu của ông Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình, vợ chồng bà Trần Thị Bích Liên đã hoàn toàn trắng án sau biên bản giải quyết thi hành án ngày 15/1/2015 (trang 3)
Thế là từ một vụ án hình sự chiếm đoạt tài sản được chuyển thành dân sự và cuối cùng trắng án, vợ chồng bà Trần Thị Bích Liên tiếp tục thực hiện dự án Chợ Trung tâm Bảo Lộc và chuẩn bị bắt tay vào dự án Khách sạn và Văn phòng cho thuê có tổng giá trị lên đến 750 tỷ tại cùng địa điểm trung tâm thành phố Bảo Lộc. Một lần nữa, bao nhiêu vốn liếng của người dân vô tội đã bị băng đảng của ông Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình cướp trắng.
Vẫn chưa hả hê, hệ thống “truyền thông chính thống” gồm các tờ báo Bảo vệ Pháp luật của Viện KSND Tối cao, Công lý của TAND Tối cao và Người bảo vệ Quyền lợi của Hội luật gia TPHCM (nơi nhận rất nhiều tiền để bào chữa cho bà Liên) liên tục tung chưởng, bẻ cong sự thật, đổi trắng thay đen nhằm bênh vực bà Liên, ông Tỷ với những lời lẽ vô cùng đanh thép.
Ông Lại Viết Quang, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện KSND Tối cao, người đích thân giăng bẫy chiếu bí ông Vũ Văn Diến, Viện trưởng VKSND tỉnh Lâm Đồng
Như vậy trong vụ chạy án thần không biết, quỷ không hay này, để bảo vệ bí mật nguồn vốn 750 tỷ, Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình đã dùng bàn tay nhớp nhúa chỉ đạo Viện phó Nguyễn Hải Phong và Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra Viện KSND Tối cao Lại Viết Quang ra tay “chiếu bí” ông Vũ Văn Diến, Viện trưởng VKSND Tỉnh Lâm Đồng.
Ai cũng biết, việc chạy án trong ngành Công an, Tòa án và Kiểm sát là chuyện hết sức bình thường từ cấp địa phương lên tới trung ương. Nhưng việc ông Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình chỉ đạo Viện phó tối cao Nguyễn Hải Phong và Phó thủ trưởng cơ quan điều tra VKS Lại Viết Quang gài bẫy cấp dưới để khống chế, thu lợi bất chính là điều vô cùng hèn hạ và đã đi đến tận cùng của giới hạn.
Một lần nữa, được nhìn thấy chân dung của Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình, độc giả có thể tự đánh giá là ông Nguyễn Hòa Bình đã NHÚNG CHÀM HAY CHƯA ???
Nguồn: Ban Chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng Nhân Dân

Chân dung Quyền lực: Mũi thuyền xé sóng – Mũi Cà Mau

Thursday, February 5th, 2015

Đọc báo trong nước

25.1.15

Xin kính gửi đến quý độc giả bài viết của tác giả Trần Hồng Tâm đăng tải trên trang mạng Đàn Chim Việt về những thăng trầm trong sự nghiệp của ông Nguyễn Tấn Dũngvà nhận địnhcủa tác giả đối với các lãnh đạo trong thời điểm hiện tại và tương lai sắp tới.

ông Nguyễn Tấn Dũng
Để tiện theo dõi câu chuyện, tôi có đôi dòng về cấu trúc thượng tầng quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN).
Năm năm Đại hội đại biểu một lần, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương (BCH –TU). Từ đó, BCH –TU bầu Tổng Bí thư, và các Ủy viên Bộ Chính trị (BCT). Nói một cách lý thuyết thì BCH –TU là cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng. Điều 36 mục 3, Điều lệ Đảng viết: “Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị.” 
Bài học Trần Xuân Bách
Tháng Ba năm 1990, Nguyễn Văn Linh ra tay trừng trị Trần Xuân Bách. Trong BCT lúc đó có đến ba nhân vật cấp tiến: Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch và Võ Văn Kiệt. Cả hai ông Thạch và Kiệt thúc thủ. Ông Bách đơn thương độc mã, chống đỡ trong vô vọng dưới trận đòn của Nguyễn Văn Linh.
Cuối cùng, ông Bách không những bị đuổi ra khỏi BCT mà còn bị trục xuất ra khỏi BCH –TU. Lần đầu tiên trong lịch sử ĐCSVN có một Ủy viên Bộ Chính trị bị kỷ luật nặng đến như thế.
Cũng trong khoảng thời gian đó, ông Linh còn lạm quyền, vi phạm nguyên tắc, điều lệ đảng, tùy tiện không cho hai Ủy viên Trung ương vào phòng họp. 

Hội nghị Trung ương 6, Khóa XI

Giữa năm 2012, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng định lặp lại thủ đoạn này với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ông Trọng dùng bài “Phê và tự phê” trong nội bộ BCT. Ông Dũng cùng hàng trợ lý không khoanh tay chịu trận, không để cho Tổng Bí thư lấn sân. BCH – TU là cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng mới đủ thẩm quyền quyết định.
Tháng Mười năm 2012, Hội nghị BCH – TU 6 khai mạc. Ông Trọng tuyên bố: “Bộ Chính trị đã thống nhất 100% đề nghị BCH – TU cho được nhận một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị.”
Cùng lúc, blog Quan Làm Báo ra đời, tung những thông tin cá nhân tấn công Nguyễn Tấn Dũng. Thậm chí, còn tung tin gia đình ông Dũng đã bắt đầu di tản khỏi Việt Nam.
Hội nghị BCH – TU 6 bế mạc. Thế cờ lật ngược. Ông Dũng bình an. Ông Trọng diễn một màn bi hài chưa từng có trong lịch sử: Khóc trên kênh truyền hình quốc gia, xin BCH – TU cho Bộ Chính trị một hình thức kỷ luật nhưng không được.
Từ đó, uy tín cá nhân của ông Trọng lao xuống vực trong khi uy tín của Thủ tướng Dũng bắt đầu có dấu hiệu khôi phục.
Hội nghị Trung ương 7, Khóa XI
Tháng Năm năm 2013, Hội nghị BCH – TU 7 khai mạc. Tổng Bí thư đích thân đứng ra giới thiệu hai đồng chí: Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị.
Cuộc bầu bán vô cùng gian nan, kéo dài đến ba giờ sáng vẫn không ngã ngũ. Bầu chính thức, bầu lại, rồi bầu bổ sung. Cả hai ứng cử viên trên vẫn không hội đủ số phiếu quy định, nhưng Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Kim Ngân đắc cử ngoài dự kiến.
Lại một chuyện chưa từng có trong lịch sử của ĐCSVN đã xảy ra ở Hội nghị này. Ý kiến của Tổng Bí thư Trọng không trọng lượng. Hay nói một cách khác, ông không được các Ủy viên Trung ương tôn trọng.
Những ngày cuối tháng Sáu, 2013, Quốc hội Việt Nam họp lấy phiếu tín nhiệm, ông Dũng chỉ đạt 42.14% phiếu tín nhiệm cao. Cuối tháng 11 năm 2014, Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm lần hai: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chiếm tỉ lệ 64,39% tín nhiệm cao.
Ông thở phào nhẹ nhõm. Nếu hai năm liền ông đạt tỷ lệ dưới 50%, các đấu thủ sẽ gây sức ép bắt ông phải từ chức. Giờ đây, cơn giông tố đã qua. Ông lấy lại được sự quân bình.
Hội nghị Trung ương 10, Khóa XI
Tháng Giêng 2015, tại Hội nghị 10, Trung ương lấy phiếu tín nhiệm các Ủy viên Bộ Chính trị. Kế quả bị giấu kín, coi đó là bí mật quốc gia. Nhưng có tin đồn: Thủ tướng Dũng đạt số phiếu tín nhiệm cao nhất.
Người ta không phải mất quá nhiều thời gian và công sức để xác minh tính chân thực của thông tin trên. Vài ngày sau blog Chân Dung Quyền Lực công bố kế quả. Lời đồn đoán trên đây là chính xác. Nếu chỉ tính riêng phiếu “tín nhiệm cao” thì ông Dũng đứng đầu. Nếu tính tổng số phiếu “tín nhiệm cao” và “tín nhiệm” thì ông Sang cao hơn, nhưng chỉ hơn đúng một phiếu.
Điều này khẳng định rằng, sự nghiệp chính trị của ông Dũng chưa thể kết thúc ở cuối nhiệm kỳ này. Hoặc ông vẫn giữ chức Thủ tướng, hoặc ông sẽ lên làm Tổng Bí thư khóa XII. Ở lại chức thủ tướng có lẽ không mấy khó khăn, nhưng leo lên tổng bí thư thì vô vàn những gian nan, rủi ro và cạm bẫy đang rình rập ông phía trước.
Bài học Võ Văn Kiệt
Năm 1995, uy tín của ông Kiệt trong đảng và trong dân rất cao. Tổng bí thư Đỗ Mười ở tuổi 80. Ông Kiệt trở thành ứng cử viên cho chức tổng bí thư vào Đại hội VIII. Điều này đã làm cho Trung Quốc và đặc biệt là Nguyễn Văn Linh không loại trừ một thủ đoạn nào để loại ông Kiệt ra khỏi sân chơi.
Bắt đầu bằng việc bôi xấu vợ ông Kiệt, bà Phan Lương Cầm. Hình bà Cầm mang gói quà được truyền tay nhau: “Ông xem, nó chỉ đi để lấy quà”, và lời đồn thổi về chuyên cơ chở bà Cầm mang nhiều hàng hóa. Ông Linh công khai: Bà Cầm tham nhũng.
Ông Kiệt lấy vợ, ông Linh cho là “ẩu”, “không thèm hỏi ai”, “không chấp nhận được”. Ông Kiệt chơi tennis, ông Linh cho là “xa rời lối sống và đạo đức cách mạng”, “tốn kém” và “học đòi”. Ông Kiệt có con ngoài giá thú, ông Linh chỉ mặt từng đứa một. Ông Linh công khai: “Tham nhũng đâu cần chống ở đâu, cứ chống ngay trong nhà Thủ tướng”.
Ông Linh dựng một nhân vật cũng gốc miền Tây, Nam Bộ, Nguyễn Hà Phan vào Bộ Chính trị. Từng là đệ tử ruột, nay Nguyễn Hà Phan trở thành người đối đầu trực tiếp với Võ Văn Kiệt. Tháng 1 năm 1994 tại hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông Phan đưa ra một bản thống kê mười sáu điểm chệch hướng của ông Kiệt.
Một vây cánh bền vững gồm: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Hà Phan được dựng lên để cô lập và loại Võ Văn Kiệt ra khỏi sân chơi.
Tất cả những hoạt động trên mới làm giảm uy tín, chứ chưa thể kết liễu sự nghiệp chính trị của ông Kiệt. Cho đến khi ông Kiệt công bố “Thư gởi Bộ Chính Trị”. Lá thư này được cho là do Nguyễn Trung, thư ký của ông, chấp bút.
Đối thủ của ông Kiệt đã không bỏ lỡ cơ hội. “Thư gởi Bộ chính trị” bị hình sự hóa. Ông Lê Hồng Hà bị khám nhà, hưởng hai năm tù giam vì tội tàng trữ lá thư. Tiến sỹ Hà Sỹ Phu hưởng một năm tù giam vì tội chuyên chở lá thư. Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù treo vì tội đọc lá thư.
Người chống đối lá thư này mạnh nhất là Nguyễn Hà Phan. Phan kết tội ông Kiệt là “nối giáo cho giặc”, “không vững vàng”, “chệch hướng 100%”. Lê Khả Phiêu người đập lại lá thư này bằng hàng loạt bài đanh thép trên tờ “Quân đội nhân dân” đã trở thành Tổng Bí thư sau đó.
Người ta phải dàn xếp để Nguyễn Văn Linh không “đao to búa lớn” với ông Kiệt như từng làm với Trần Xuân Bách. Nhưng sự nghiệp chính trị của ông Kiệt coi như đã cáo chung.
Bài học Trường Chinh
Tháng Bảy năm 1986, Lê Duẩn trước khi chết, chỉ định Trường Chinh thay ông làm Tổng Bí thư. Khác với những người đồng chí chỉ đổi mới bằng đầu môi chóp lưỡi, Trường Chinh thay đổi từ trong nhận thức. Ông công khai tuyên bố đoạn tuyệt với “Quan liêu bao cấp”, xóa bỏ lệnh “Ngăn sông cấm chợ”. Ông mời gọi những chuyên gia giỏi, có tấm lòng về giúp việc, viết lại toàn bộ văn kiện Đại hội VI.
Uy tín của ông lên cao, đặc biệt những đảng viên gốc miền Nam, sau cuộc “Hội đàm Đà Lạt”. Ông nắm chắc ghế Tổng Bí thư ở Đại hội VI tháng 12 năm 1986.
Lê Đức Thọ thèm muốn ghế tổng bí thư từ Đại hội III, năm 1960. Đi đến đâu ông cũng bảo lũ đàn em: “Giờ đến lượt tao”. Nhưng bóng của Lê Duẩn quá lớn, ông không thể vượt qua. Giờ đây Lê Duẩn chết, cơ hội để ông thực hiện giấc mơ. Bất hạnh thay, uy tín cá nhân của ông không cao. Hơn nữa, trong hơn một phần tư thế kỷ làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, vô tình hay cố ý, ông đã sản sinh ra bao kẻ thù chính trị.
Lê Đức Thọ nhìn chiếc ghế tổng bí thư đang từ từ tuột khỏi tầm tay, vô phương cứu vãn. Bất ngờ, hai giờ đêm trước ngày khai mạc Đại hội VI, ông cùng Phạm Văn Đồng đến nhà riêng Trường Chinh và bảo: “Anh mà không rút lui thì Đảng ta tan nát mất”. Trường Chinh lặng lẽ rút lui, rồi qua đời do bị té cầu thang hai năm sau đó.
Những liệt sỹ của Đổi Mới
Từ Đại hội VI đến nay, ĐCSVN đã thay đổi nhiều theo chiều hướng phức tạp. Càng về sau, càng phức tạp, không thể chọn ra được những người tài đức. Nguyễn Văn Linh thủ đoạn và thành kiến. Đỗ Mười bảo thủ và gia trưởng. Lê Khả Phiêu thủ cựu và bè phái. Nông Đức Mạnh non kém toàn diện. Nguyễn Phú Trọng giáo điều và lạc hậu. Ngược lại, những nhân vật có uy tín, có tấm lòng và có tài năng, thường chết ngay ở loạt đạn đầu.
Trường Chinh kiến trúc sư của Đổi Mới chết tươi trong trong tay Lê Đức Thọ và Phạm Văn Đồng. Trần Xuân Bách kêu gọi đổi mới kinh tế phải song song với đổi mới chính trị, chết thê thảm duới tay đao phủ Nguyễn Văn Linh. Võ Văn Kiệt người dấn thân cho Đổi Mới chết dần chết mòn trong bàn tay lông lá của một bầy đoàn bảo thủ giáo điều đứng đầu là Nguyễn Văn Linh.
Nhìn lại ba “liệt sỹ của phong trào Đổi Mới”, người quan sát nhận ra cả ba nạn nhân đều có điểm chung: Ba ông cùng chọn trợ lý là những chuyên gia giỏi chuyên môn, có tâm huyết, nhưng lại vắng bóng những nhà mưu lược.
Nếu Trường Chinh và ban tham mưu đánh giá đúng, và hiểu rõ ý đồ Lê Đức Thọ, hẳn ông không bị động mà chấp nhận rút lui một cách dễ dàng như vậy. Nếu Trường Chinh quyết mang vấn đề ra trước Đại hội, để đại biểu quyết định. Có lẽ sự nghiệp chính trị của ông kết thức ở một ngả khác và ĐCSVN không thể nằm gọn trong tay của nhóm vừa bảo thủ vừa thủ đoạn.
Trần Xuân Bách cũng mắc sai lầm tương tự. Ông cùng ban tham mưu không đấu tranh đến cùng để đưa sự việc ra trước Ban Chấp hành Trung ương, không thể để một mình Nguyễn Văn Linh thao túng, lạm quyền, vi phạm vào điều lệ Đảng một cách trắng trợn. Nếu Ban Chấp hành Trung ương giải quyết vụ Trần Xuân Bách, có lẽ kết quả hoàn toàn khác. Tại sao ông Bách và nhiều Ủy viên Trung ương lại không nắm lấy vũ khí “Điều lệ Đảng” đứng lên bảo vệ quyền lợi sinh mạng chính trị cho mình mà chỉ biết nghiến răng chịu đựng.
Trường hợp Võ Văn Kiệt có hơi khác. Ban tham mưu của ông không đánh giá đúng tình hình. Công bố lá thư vào một tình huống mà ông Kiệt đang bị bao vây bởi cánh bảo thủ, và ở vào một thời điểm trước đại hội, khi mà các phe nhóm đang tính sổ với nhau, là một sai lầm chiến lược.
Bó đũa chọn lấy cột cờ
Trình độ nhận thức của các Ủy viên Bộ Chính trị hiện tại rất yếu, không theo kịp bánh xe lịch sử, cứ loay hoay bám víu lấy một mớ lý thuyết bảo thủ đã cũ nát. Hình như một mình Nguyễn Tấn Dũng có những thay đổi từ nhận thức trong thời gian gần đây, nhất là từ vụ Giàn khoan HD 981. Thảng hoặc, ông có những phát biểu khá táo bạo, hợp với lòng dân hơn.
Khi nói về mối quan hệ Việt – Trung, ông bảo: “Không thể đánh đổi chủ quyền quốc gia lấy tình hữu nghị viển vông”, hay “không có chuyện nhà anh cũng là nhà tôi.” Hai câu nói này không thể nằm ngoài tai của Trung Nam Hải.
Cho đến giờ, chưa một ai đụng đến, chỉ ông Dũng dám nói “Người dân được làm tất cả những gì luật pháp không cấm”. Ông công khai đề nghị phải có luật biểu tình, được đưa thông tin lên mạng, tôn trọng quyền được biết của dân. Ông ủng hộ gia đình Đoàn Văn Vươn v.v.
Trong BCT, ông là người có học vấn thấp nhất, trưởng thành từ chiến tranh. Nhưng những bài phát biểu của ông đỡ mùi bảo thủ, mùi giáo điều, mùi dậy dỗ, mùi trịch thượng, mùi rao giảng. Nó mang chút hơi hướng của nhân văn, của khai phá, vượt xa những ủy viên mang học hàm học vị đầy mình.
Tuy vậy, những lời phát biểu có thể thành mục tiêu để đối phương khai thác. Bài học của Bộ trưởng Đinh La Thăng đã chứng minh. Ông Thăng chỉ phê bình nhà thầu Trung Quốc vô trách nhiệm gây ra tai nạn chết người tại công trường xây dựng ở Hà Nội, nhưng bị quy chụp kích động tư tưởng bài Hoa.
Nếu cần, cánh bảo thủ có thể chụp mũ ông những tội không thua kém gì Trần Xuân Bách hay Võ Văn Kiệt.
Lí lịch của ông rõ ràng, không mù mờ ám muội như Lê Đức Anh. Đời tư của ông cũng trong sạch, không ngoại tình, tai tiếng như Lê Khả Phiêu, hay Nông Đức Mạnh.
Ngôi nhà thờ họ của ông ở Rạch Giá bị dư luận rùm beng một thời. Thực ra, nó cũng chỉ bằng cái gác xép của những quan chức khác. Con cái ông học hành thành đạt, còn tốt hơn nhiều lần những kẻ mượn quyền lực danh vọng của cha anh để ăn chơi quậy phá.
Ông Trọng ngậm ngùi khóc lóc xin kỷ luật mà BCH không cho. Ông Sang bóng gió “đồng chí X”, “bầy sâu”, “cay đắng lắm”. Nguyễn Sinh Hùng dí dỏm, hài hước. Phùng Quang Thanh ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời, và nhu nhược với Trung Quốc. Phạm Quang Nghị mang thành tích dọn vệ sinh thủ đô đi ngoại giao.
Ông Dũng vượt lên như một người thuyền trưởng. Liệu ông có thể đưa con thuyền vượt qua sóng gió. Liệu ông có thể trở thành mũi thuyền rẽ sóng ra khơi như một câu thơ mà tôi thuộc từ hồi còn bé, hình như của Xuân Diệu, viết về Việt Nam, về đất mũi Cà Mau quê hương ông:
Tổ quốc tôi như một con thuyền
Mũi thuyền xé sóng – mũi Cà Mau
Tháng Giêng 2015
Trần Hồng Tâm
Nguồn: Đàn Chim Việt

THÔNG CÁO BÁO CHÍ về ngày Vận Động Nhân Quyền và Vẹn Toàn Lãnh Thổ cho Viêt Nam tại New

Tuesday, December 16th, 2014

BAN TỔ CHỨC NGÀY VẬN ĐỘNG NHÂN QUYỀN, TỰ DO DÂN CHỦ

VÀ VẸN TOÀN LÃNH THỔ CHO VIỆT NAM

1809 Paulding Ave, Bronx, NY 10462.

347-481-8283, tanhnguyen1947@yahoo.com –          407-234-3596, hoivando@gmail.com

 

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

 

Nhân kỷ niệm 66 năm ngày công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã tổ chức ngày Vận Động Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ và Vẹn Toàn Lãnh Thổ Cho Việt Nam trong hai ngày 12 và 13 tháng 12, 2014 tại thành phố New York Hoa Kỳ  kết quả sơ lược  như sau:

Gặp Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

lhq2

 

Lúc 10 giờ sáng thứ Sáu 12 tháng 12, 2014, một phái đoàn người Việt hải ngoại đã găp ông Stephano Sensi, Human Rights Officer, đại diện Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền tại văn phòng Liên Hiệp Quốc thành phố New York.

Phái đoàn gồm có: đại diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ (BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội), Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu (LS Võ Trí Dũng), Tổ chức Nhân Quyền Cho Việt Nam.PAC (BS Nguyễn Thể Bình), đại diện các tôn giáo: Ông Bùi Văn Y (Cao Đài từ New Orleans, LA), MS Ngô Đức Lủy, MS Nguyễn Thanh Nhàn (Giáo hội Mennonite); Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Việt Nam (Ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải), đài SBTN Boston. Một số vị khác không đến được vào giờ chót do sức khỏe hoặc thời tiết khắc nghiệt như: Hòa Thượng Thích Vân Đàm và Thích Trí Lãng, Ông Huỳnh Văn Hiệp (Hòa Hảo), LM Phạm Văn Chính… (Chúng tôi không được phép phổ biến hình có ông đại diện văn phòng Cao Ủy NQ/LHQ).

Phái đoàn lần lượt trình bày những vi phạm nhân quyền có hệ thống của nhà cầm quyền CSVN trên mọi lãnh vực từ tôn giáo đến tự do ngôn luận, báo chí, tệ nạn bạo hành của công an, các điều luật bất công do đảng cộng sản tự đặt nhằm khống chế và đàn áp người dân Việt Nam, về các tù nhân chính trị tại Việt Nam.

Phái đoàn đã trao cho vỉ đại diện Cao Ủy Nhân Quyền tập hồ sơ bao gồm: Hồ sơ về  đáp trả của CSVN những khuyến cáo của HĐNQ LHQ (UPR); Hồ sơ vi phạm nhân quyền mới nhất của CSVN; Hồ sơ bạo hành và tra tấn của công an đối với những người tranh đấu cho nhân quyền (do Hội Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam cung cấp); Kiến nghị của cộng đồng người Việt hải ngoại đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam; Kiến Nghị của Hội Đồng Liên Tôn về đàn áp tôn giáo tại Việt Nam; Kiến nghị của các Tổ Chức Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam về bạo hành và tra tấn của công an; Hồ sơ đàn áp tôn giáo Cao Đài tại Việt Nam (do dại diện Cao Đài trao); Tường trình của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do tại Việt Nam (do ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trình bày). Phái đoàn đã trao đổi với vị đại diện nhiều vấn đề quan trong về nhân quyền dưới chế độ CSVN.

Buổi gặp gỡ đã kết thúc vào lúc 12 giờ trưa cùng ngày.

Gặp các Tòa Đại Sứ tại Liên Hiệp Quốc

Một số phái đoàn đã vào gặp các tòa đại sứ tại Liên Hiệp Quốc để tố cáo nhưng vi phạm nhân quyền của nhà cấm quyền CSVN và trao hồ sơ tương tư như tại văn phòng đại diện Cao Ủy NQ.

Gặp tòa đại sứ Canada lúc 2:00 chiều. Phái đoàn gồm có BS Phạm Hữu Trác, ông Trần Việt Hùng từ Canada hướng dẫn cùng với các vị mục sư Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài.

Gặp tòa đại sứ Hoa Kỳ lúc 3:00 chiều. Phái đoàn gồm Ông Lưu Văn Tươi, chủ tịch CĐVN Florida hướng dẫn cùng với phái đoàn từ Massachusetts. Ông  Larry M. Dinger Đại Sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc và Bà Peggy Kerry phụ tá đã tiếp rất niềm nở.

 

Gặp tòa đại sứ Úc Châu lúc 4:30 pm.  Phái đoàn gồm LS Võ Trí Dũng, chủ tịch CĐ Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu, LS Võ Minh Cương, cựu chủ tịch hướng dẫn. cùng với phái đoàn Tổng Hội Cưu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam.

 

Biểu tình ngày Quốc Tế Nhân Quyền trước trụ sở LHQ

Lúc 1 giờ trưa ngày 12/12/2014 dưới thời tiết lạnh giá trên dưới 30 độ F (0 độ C). một cuộc biểu tình đã diễn ra trước tòa nhà Liên Hiệp Quốc tại New York nhằm tố cáo những vi phạm nhân quyền và đàn áp người dân của nhà cầm quyền CSVN cũng như phản đối nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh lấn chiếm đất đai và biển Đông.

Tham dự gồm đại diện cộng đồng, tôn giáo, đoàn thể và đồng hương từ Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu cùng với cộng đồng Phi Luật Tân, Trung Hoa Tự Do (Pháp Luân Công), Tây Tạng, truyền thông báo chí như SBTN Boston, DC, Việt TV, Việt Nam Hải Ngoại, đài truyền hình NDTV của Trung Hoa Tự Do vân vân

Cuộc biểu tình kết thúc vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày sau cuộc họp báo ngắn

 

Hội thảo tình hình Việt Nam, Biển Đông và Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều thứ Bày 13/12/2014 tại khách sạn Hampton Inn JFK.

Tham dự gồm các đại diện cộng đồng, tôn giáo, đoàn thể Việt Nam từ Hoa Kỳ, Úc Châu, Canada.

Sau phần khai mạc, Linh mục Phan Văn Lợi đại diện Hội Đồng Liên Tôn từ Huế qua skype  gửi lời chào mừng và nói lên hiện tình tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam. Anh Đặng Chí Hùng, người từng công bố hồ sơ sự thật của đảng CSVN và Hồ Chí Mình, và từng bị công an CSVN truy sát vừa thoát khỏi Việt Nam, lên tiếng chào mừng và hứa hợp tác để giải thể chế độ CSVN. Ông Nguyễn Văn Hải, tức Điếu Cày, đại diện cho Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do tại Việt Nam (một tổ chức không được phép của nhà cầm quyền), trình bày những sự kiện anh đã tường trình trong văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiêp Quốc.

Các diễn giả gồm: nhà Báo Phạm Trần, trình bày tình hình mới nhất của Biển Đông nơi Trung Cộng đang công khai lấn chiếm hầu hết vùng biển này với sự xây dựng các căn cứ, các đảo nối, sân bay nhằm khống chế toàn vùng Đông Nam Á. Ông cũng dẫn chứng cụ thể về sự tiếp tay của đảng CSVN với đảng cộng sản Trung Cộng. BS Đỗ Văn Hội trình bày vai trò quan trọng của cộng đồng Người Việt tại hải ngoại đối với dất nước như các cộng đồng hải ngoại trên thế giới đối với chính quốc như Trung Hoa, Do Thái, các nước Đông Âu và Nga, Tây Tạng.. . Giáo sư BS Nguyễn Quyền Tài đề nghị thành hình cơ chế tiếng nói chung của người Việt Nam tại hải ngoại. BS Võ Đình Hữu trình bày sự thành hình của công đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ trên 20 năm qua. LS Võ Trí Dũng trình bày lịch sử trên 30 năm thành hình Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu. Ông Nguyễn Văn Tánh, cựu chủ tịch CĐNVQGHK nêu lên phương thức phối hợp các hoạt động của người Việt trên khắp thế giới.

Sau thuyết trình là phần thảo luận sôi nồi. Các tham dự viên đều đồng ý nên thành hình một cơ cấu chung cho cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại nhằm tạo tiếng nói chung về các vấn đề liên quan đến Viêt Nam, tạo niềm tin của các đồng hương tại hải ngoại và sự hỗ trợ của họ, vận động quốc tế cho các vấn đề Việt Nam và Biển Đông..

Hội nghị cũng công bố bản Tuyên Cáo lên án nhà cầm quyền CSVN không tôn trọng quyền lảm người của nhân dân Việt Nam, đồng thời tố cáo tham vọng bành trướng tại Biển Đông và Đông Nam á.

Buổi hội thảo kết thúc vào lúc 4 giờ sau phần xổ số gây quỹ sinh hoạt cho Cộng Đồng Liên Bang Hoa Kỳ.

New York ngày 14 tháng 12, 2014

Ban Báo Chí

Ghi chú: Đây chỉ là bản tường trình tổng quát, bản tường trình chi tiết sẽ được phổ biến sau.

———————————————-

 

Ban Tổ Chức ngày Vận Động Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ và Toàn Vẹn Lãnh Thổ cho Việt Nam gồm có:

 

Trưởng ban tổ chức: LS Nguyễn Thanh Phong, chủ tịch CĐNVQG New York, Trưởng ban điều hợp: ông Nguyễn Văn Tánh. Các đồng trưởng ban tổ chức là quý Ông: Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch CĐVN Washington DC, MD & VA; Ông Nguyễn Thanh Bình, CT CĐNVQG Massachusetts; Ông Cao Xuân Khải, CT CĐNVQG New Hampshire;  Ông Trần Văn Giỏi, CT CĐNVQG Connecticut; Ông Trần Quán Niệm, CT CĐNVQG Nam New Jersey; Ông Lưu Văn Tươi, CT CĐVN Florida; DS Nguyễn Đức Nhiệm, CT CĐNVQG Pennsylvania; Ông Vũ Trực, CT CĐNVQG Philadelphia; Bà Lê Ánh Nguyệt, CT CĐVN New Jersey.

 

Cố vấn và hỗ trợ: Tập Thể Chiến Sĩ VNCH tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá GS Nguyễn Xuân Vinh; Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quý. Cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di. Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.Tập Hợp vì Dân Chủ: BS Nguyễn Quốc Quân. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu; BS Đỗ Văn Hội. Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc Châu; Đại diện các tôn giáo; Với sự hợp tác của đài SBTN cũng như các cơ quan truyền thông khác.

Bài giảng tại quốc nội: cộng sản là dối trá, lừa gạt… Đừng để bị lừa gạt

Thursday, December 4th, 2014
Bài giảng của Linh mục Giu-se Nguyễn văn Toản tại Saigon
Bài giảng tại quốc nội: cộng sản là dối trá, lừa gạt…
Đừng để bị lừa gạt. Kính chuyển để theo dõi và nhận định. 

Xin bấm vào để nghe
 
Lm_ToanSG04.png 
Bài giảng của Linh mục Giu-se Nguyễn văn Toản tại Saigon , ngày 1 tháng 12 năm 2014 trong 
thánh lễ cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình
 
Lm_ToanSG01.png
Cám ơn cha Nguyễn văn Toản đã vượt qua sợ hãi,  công khai vạch trần sự dối trá của nhà cầm quyền CS VN, Chúa sẽ phù hộ, che chở cho cha – Cha Toản chỉ nói sự thật cho 500 người nghe tại nhà thờ ở Saigon, còn chúng ta, dù bất cứ tôn giáo nào, yêu chuộng sự thật cũng sẽ tiếp tay với cha phổ biến (Share) rông rãi cho mọi người khắp thế giới cùng nghe sự thật.
Lm_ToanSG03.png
Tiếng nói bất khuất từ Sài Gòn: Người dân đang sống trong dối trá và bị chế độ lừa gạt
 
VRNs (01.12.2014) – Sài Gòn – Tin Mừng: Mc 13, 33-37
Kính chào ông bà và anh chị em, cách riêng, kính chào ông bà và anh chị em không phải là người Công Giáo đang tham dự Thánh Lễ cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình hôm nay.
Đoạn Tin Mừng theo Thánh Máccô chúng ta vừa nghe đọc trong Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, có tới 5 cụm từ “phải tỉnh thức”, “phải canh thức” được lặp đi lặp lại trong lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Và đó cũng là cụm từ chìa khóa cho bài Tin Mừng hôm nay. Đó là sứ điệp chính mà Chúa Giêsu gửi tới, không chỉ cho các môn đệ của Ngài, không chỉ cho mỗi người chúng ta, nhưng còn cho mọi người, như chính lời Chúa Giêsu nói: “Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là ‘phải canh thức’.” 
Phải canh thức! Vâng, kính thưa ông bà và anh chị em. Đức Giêsu nhắc nhở mọi người phải canh thức, bởi vì: Anh em không biết giờ Con Người đến. Anh em phải canh thức, vì anh em không biết thời tận cùng của thế giới thụ tạo này. Anh em phải canh thức, phải tỉnh thức vì anh em không biết thời tận cùng của đời anh em – ngày anh em sẽ trút hơi thở cuối cùng, bỏ lại mọi thứ để ra đi với hai bàn tay trắng. Do đó, anh em phải canh thức! Anh em phải tỉnh thức!
 

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Toản, Dòng Chúa Cứu Thế
Đức Giêsu đang nhắc nhở mọi người về thực tại của thế giới thụ tạo này, trong đó, thân phận con người cũng như thế giới này thật hữu hạn. Thế giới này, trong đó có con người chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Chỉ có Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa, Ngài mới là vĩnh cửu và chỉ có Ngài mới là chủ của vạn vật lịch sử. Con người chỉ là phàm nhân trước mặt Thiên Chúa, như lời tác giả sách Thánh Vịnh thưa lên:
“Nào phàm nhân sống mãi được sao?
Mà chẳng phải đến ngày tận số?
Kìa họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,
Nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,
Nơi họ ở muôn đời muôn kiếp” (Tv 49).

Vâng, kính thưa ông bà và anh chị em, những lời ấy cho ta cảm tưởng, tác giả sách Thánh Vịnh đang quá bi quan về thân phận con người. Nhưng không! Hôm nay, Đức Giêsu Ngài đã nhắc nhở và cho ta biết về thân phận thật của thụ tạo, của mỗi người chúng ta: Con người, như người đầy tớ chờ đợi ông chủ trở về. Ông chủ ấy chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa, Ngài sẽ đến gặp chúng ta trong ngày tận cùng của thế giới này, trong ngày tận cùng của đời ta. Con người, bất kể họ là ai, họ sẽ phải đối diện với cái chết. Khi ấy là lúc mà ông chủ là Thiên Chúa trở về – lúc ấy, ngày ấy thật bất ngờ, không ai biết trước được. Do đó, chúng ta được mời gọi: Hãy canh thức! Hãy tỉnh thức!
Canh thức, tỉnh thức thế nào đây. Có nghĩa là đừng có ngủ, đừng có ngủ mê! Nhưng chắc chắn Đức Giêsu không nói tới cái thức, cái ngủ về thể lý. Vậy, Đức Giêsu nhắc nhở phải canh thức điều gì, phải tỉnh thức ra sao? Thưa ông bà và anh chị em!
Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe đọc hôm nay, nằm trong trình thuật Đức Giêsu đang ở thành Giêrusalem và Ngài nói về ngày sụp đổ của thành, cũng như Ngài nói về ngày tận thế – ngày tận cùng của thế giới này.
Khi nhắc mọi người phải canh thức, phải tỉnh thức, trước đó, Đức Giêsu đã nhắc:“Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính Ta đây! và họ sẽ lừa gạt được nhiều người.” Sau đó, Ngài cảnh báo: “Trước khi ngày tận cùng đến, người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng; tại các hội đường, anh em sẽ bị đánh đòn, anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết”. Ngài nói tiếp: “Anh em đừng sợ, đừng lo phải nói gì”. Cũng trong trình thuật này, Tin Mừng thánh Luca còn viết thêm: khi điều đó xảy đến, “Anh em hãy ngẩng đầu và đứng vững”.
Vâng, kính thưa cộng đoàn, thái độ canh thức, tỉnh thức trước tiên mà Chúa Giêsu mời gọi mọi người là: “hãy coi chừng, kẻo bị người ta lừa gạt”. Chúa Giêsu cho biết: Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Ngài nói với tổng trấn Philatô, Ngài đến để làm chứng cho sự thật: “Chính vì lẽ này mà tôi đã sinh ra, và chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho sự thật. Phàm ai thuộc về sự thật, thì nghe được tiếng tôi”. Do đó, phủ nhận sự thật, bóp méo sự thật để đi trong sự giả trá, để lừa gạt là chống lại Thiên Chúa, chống lại Đấng Tạo Hóa.
Trong môi trường chúng ta đang sống, trong xã hội của chúng ta đã và sẽ có những người, những nhóm người nhân danh Tin Mừng để lừa gạt người khác. Đã và đang có nhóm người dùng mọi chiêu bài để bóp méo lịch sử, lừa gạt người dân, lừa gạt nhiều thế hệ, kéo cả một dân tộc đi vào con đường sai lầm.
Chúng ta đang sống trong một xã hội lấy chủ thuyết cộng sản – chủ thuyết đặt trên nền tảng của gian dối, lừa gạt:
Sau một thời gian đã biết thế nào là xã hội chủ nghĩa, thế nào là cộng sản: Mikhail Gorbachyov, nguyên Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Bang Sô Viết nói: “Tôi đã bỏ một lửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà nói rằng, đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.
Đã có kinh nghiệm sống trong xã hội cộng sản Đông Đức, Thủ tướng Đức đương thời, bà Angela Merkel nói: “Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối”.
Tổng Thống Nga đương nhiệm, ông Putin nói: “Ai tin Cộng Sản, là không có cái đầu. Ai làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.”
Kính thưa ông bà và anh chị em, những con người sống trong xã hội được coi là khai sinh ra chủ nghĩa cộng sản, họ đã phải tuyên bố về nó như thế. Dân tộc của họ đã từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, cho nó vào quá khứ để đi con đường văn minh, chân thật hơn.
VIỆT NAM
Tại Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản đã thống trị hơn một nửa thế kỷ tại Miền Bắc và gần 40 năm tại Miền Nam này. Người dân đã và vẫn đang bị lừa gạt, bao thế hệ đã và đang sống trong sự dối trá.
Vâng, nếu tôi và bao bao bạn trẻ, tôi tin rằng, có nhiều nhiều bạn đang ngồi trong ngôi nhà thờ này không được tiếp xúc với sự thật lịch sử từ các trang mạng internet; nếu thế hệ trẻ không được đọc những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Nhật Kỳ một Thằng Hèn của nhạc sĩ Tô Hải; Bên Thắng Cuộc của nhà báo Huy Đức, Đèn Cù của Trần Đĩnh; Và nếu thế hệ trẻ ngày nay không được các thế hệ cha ông mình kể lại, không lắng nghe những người trong cuộc nói cho biết, thì bản thân tôi, bao người trẻ đã và vẫn còn bị lừa gạt nhiều điều.
Chúng tôi bị lừa gạt về cái gọi là thắng lợi 30-4-1975. Nếu không biết đâu là sự thật thì người ta vẫn tin rằng: Đồng bào Miền Nam đói khổ, bị chính quyền bù nhìn câu kết với Đế Quốc Mỹ đàn áp, bóc lột người dân tới tận xương tủy. Đồng bào Miền Bắc hãy làm cuộc giải phóng cho đồng bào Miền Nam…
Nếu người dân không được tiếp xúc với những nguồn tin lề trái, mà chỉ đọc, chỉ nghe, chỉ nhìn những gì đảng cho đọc, đảng cho nghe, đảng cho thấy thì cứ tưởng rằng, Hoàng Sa, Trường Sa vẫn nguyên vẹn thuộc quyền sử dụng của Việt Nam. Sự thật là người ta đã để cho Trung Cộng chiếm gần hết. Người ta cứ tin rằng, Đất nước ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Sự thật là Ải Nam Quan nay không còn. Hàng km đất biên giới phía Bắc đã cho Trung Cộng thuê với thời hạn cả 50 năm trở lên.
Và nếu ta không chịu tìm hiểu, không phóng tầm mắt ra các nước xung quanh, các nước Phương Tây, nhiều người vẫn còn bị lừa gạt rằng: Chủ nghĩa Tư Bản đang giãy chết. Chủ nghĩa Tư bản độc ác. Các ông chủ Tư bản bóc lột người lao động như vắt chanh bỏ vỏ; còn chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao trí tuệ của loài người… Chủ nghĩa xã hội là khoa học, là tiến bộ…
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Có thể tôi và nhiều anh chị em chúng ta ngồi đây, đã biết, đã không bị lừa gạt bởi những gì chủ nghĩa cộng sản tuyên truyền. Có thể tôi và anh chị em không là nạn nhân, nhưng rất, rất có thể chúng ta lại trở thành người đã để cho sự giả dối, lừa gạt đi vào trong suy nghĩ, hành động của mình. Sống trong một xã hội lấy chủ nghĩa giả dối, lừa gạt làm nền tảng thì có thể chúng ta đã bị ảnh hưởng bởi điều đó. Chúng ta thấy tình trạng học giả lấy bằng thật, làm giả lấy công thật, làm hàng giả, bán hàng giả… trong lãnh vực nào cũng có cái giả.
Một xã hội đặt trên nền tảng của sự lừa lọc, giả dối để rồi cả xã hội ấy người người làm giả, nói dối. Nói như nhạc sĩ Tô Hải viết trong cuốn Nhật Ký Thằng Hèn của ông: “tao, mày, nó, chúng tôi, các anh, chúng nó… đều làm dối, nói dối, khen nhau dối, và từ trên xuống dưới đều dối nhau là “Đừng có nói… đó là… nói dối!” Hay như đại tá, nhà văn Nguyễn Khải thú nhận trong tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”:“Người Cộng Sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm. Nói dối không hề biết xấu hổ, không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng phải nói dối theo.”
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Chúa Giêsu Ngài là sự thật, Ngài đến làm chứng cho sự thật và phàm ai thuộc về sự thật, thì nghe được tiếng Ngài”. Hôm nay, Chúa Giêsu cảnh báo mọi người:“Anh em hãy coi chừng, kẻo bị người ta lừa gạt.”
Đừng để cho người ta lừa gạt để rồi phải sống trong sự giả dối. Đừng để sự giả dối đi vào trong suy nghĩ, hành động của mình mà trở thành kẻ lừa gạt người khác. Đó là thái độ sống tỉnh thức trước tiên Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hôm nay.
Thái độ sống tỉnh thức kế tiếp Chúa Giêsu mời gọi ta, đó là: “Đừng sợ!”
Đức Giêsu cảnh báo: “Phần anh em, anh em hãy coi chừng! Người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng; tại các hội đường, anh em sẽ bị đánh đòn; anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết”. Nhưng “anh em đừng sợ đừng lo phải nói gì”.
Có nhiều nỗi sợ hãi trong cuộc đời ta, nhưng có nỗi sợ đến từ sự đe dọa, bắt bở, đàn áp, bỏ tù của những kẻ mạnh, của những người có chức có quyền, có vũ lực trong tay.
Một trong cách thức mà chế độ Cộng Sản ở đâu cũng áp dụng, đó là làm cho người dân luôn sống trong nỗi sợ hãi. Nhà cầm quyền đã dùng người dân để theo dõi nhau, người này theo dõi người kia, nhà này theo dõi nhà nọ. Dẫn đến mất niềm tin, nghi ngờ nhau, mang đến nỗi sợ hãi để rồi chỉ còn làm cách lén lút, dù điều đó là điều tốt.
Chính quyền dùng bạo lực, dùng nhà tù để tạo nên nỗi sợ hãi cho người dân. Để rồi người dân chỉ còn biết nghe theo, làm theo; dù lương tâm cho biết, đó là điều trái với đạo lý, trái đức tin của mình.
Điều này không chỉ xảy ra trong xã hội chúng ta trước đây, mà ngày nay, hiện tại vẫn đang xảy ra: Nhà cầm quyền dùng người dân theo dõi người dân. Dùng những người ăn không ngồi rồi, theo dõi người bất đồng chính kiến… Dùng nhiều cách thức khác nhau để mang đến nỗi sợ hãi: triệt hạ kinh tế, sách nhiễu gia đình, khủng bố tinh thần, thể xác; giả dạng côn đồ đánh đập, bắt bớ bỏ tù… Tạo ra nỗi sợ hãi cho những người bất đồng chính kiến, những người bằng đường lối ôn hòa, muốn dấn thân thúc đẩy tự do, dân chủ, công bằng, đa nguyên đa đảng cho Việt Nam.
Nhà cầm quyền làm cho người dân sợ hãi đến nỗi có người không dám nói tới hai từ “chính trị”, không dám bàn tới chính trị. Những cụm từ: dân chủ, quyền con người, đa nguyên đa đảng… trở thành những cụm từ kỵ. Kỵ không phải vì điều gì khác mà kỵ vì quá sợ, vì sợ hãi.
Sợ hãi trước sự thật đang xảy ra cho dân tộc, sợ hãi không còn dám liên đới, lên tiếng cho những con người nghèo khổ đang bị gạt ra bên lề xã hội, đang chịu bao cảnh nỗi oan khiên. Điển hình là những vụ việc xảy ra được nêu lên trước thánh lễ mà Cha Thoại đã nêu lên: vụ việc của nhà báo Trương Minh Đức, giảng viên Phạm Minh Hoàng, người ta hành hung, đe dọa; đến cả ông Tổng lãnh sự Pháp người ta còn kẹp cổ ông… nhằm đe dọa ông.
Vụ án nhiều mờ ám của anh Hồ Duy Hải, và phiên tòa sắp tới ngày 12.12 xử bà Bùi Minh Hằng, hay việc lên tiếng cho tình trạng bị tù oan sai của anh Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, của luật sư Lê Quốc Quân, chị Tạ Phong Tần, ông Trần Huỳnh Duy Thức… và nhiều vụ việc khác nữa.
Vâng, nhiều người dân biết đó, biết họ chỉ lên tiếng những vấn đề của đất nước, lên tiếng cách ôn hòa nhằm thúc đẩy tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy những điều tốt đẹp cho Việt Nam nhưng đã bị nhà cầm quyền xử cả chục năm tù giam. Biết đó, nhưng sợ! Sợ nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền làm cho người dân sợ hãi đến nỗi không dám lên tiếng, không dám nói tiếng nói của lương tâm,  của lương tri, không dám lên tiếng, không dám liên đới với anh chị em của mình.
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Trong ngày Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, Chúa Giêsu trấn an ta: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục.” Và Ngài cũng nói với chúng ta, nói cho những ai thành tâm thiện chí: “Phúc cho những ai chịu bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ”.
Chúng ta cám ơn Chúa, vì đã và đang ngày càng có nhiều người vượt qua nỗi sợ hãi để có thể bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình cách công khai về các vấn đề trong xã hội Việt Nam. Họ đã và sẵn sàng chịu sự sách nhiễu, hành hung, trấn áp, ngồi tù bởi nhà cầm quyền, để có thể nói điều lương tâm, lương tri mách bảo.
Cám ơn Chúa, vì đã có bao thế hệ cha ông chúng ta là các thánh tử đạo Việt Nam đã trung kiên với đức tin mình lãnh nhận, dù các ngài có gặp gian nan khốn khó; dù các ngài có bị bắt bở, chịu bỏ tù, dù có phải hy sinh mạng sống mình, các ngài đã vượt lên nỗi sợ hãi để sống đức tin, làm chứng cho đức tin – đức tin chân thật mà các ngài đã lãnh nhận.
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Hôm nay là ngày cuối cùng trong tháng mà Hội thánh mời gọi con cái mình nhớ tới các bậc tiền nhân đã qua đời, để cầu nguyện cho các ngài. Lúc này đây, tôi nhớ tới hình ảnh của cha Giuse Vũ Ngọc Bích và thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn trong Nhà Dòng chúng tôi. Năm 1954, khi người dân Miền Bắc ồ ạt chạy vào Nam để trốn chế độ cộng sản, thì cha Giuse Vũ Ngọc Bích và Thầy Marcel Văn đã can đảm tình nguyện từ Nam trở ra Bắc.
Cha Giuse Vũ Ngọc Bích đã âm thầm, chịu bao đau khổ để giữ đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cơ sở của DCCT, nhờ vậy mà DCCT còn có cơ sở tại Hà Nội như ngày hôm nay.
Đối với thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn. Sau khi vừa ra Hà Nội, trong một lần ra ngoài phố, tình cờ thầy nghe vài người đang nói những điều sai sự thật về xã hội Miền Nam. Thầy Văn đã tiến lại nói với họ: Điều các ông vừa nói không đúng sự thật. Tôi sống trong đó, mới từ trong đó ra nên tôi biết rõ Miền Nam. Thầy Marcel Văn không phải không biết sự nguy hiểm khi nói những điều ấy, nhưng thầy đã vượt qua nỗi sợ hãi để làm chứng cho sự thật. Thầy Macen Văn đã bị bắt đem đi và chết trong nhà lao Yên Bình thuộc tỉnh Yên Bái vào năm 1959.
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, ngày chúng ta cầu nguyện cho Công Lý Hòa Bình trên quê hương đất nước chúng ta, Lời Chúa nhắc nhở mọi người: Phải canh thức, phải tỉnh thức! Phải canh thức, tỉnh thức bởi sự hữu hạn của thế giới thụ tạo; bởi mỗi người chúng ta sẽ có ngày gặp lại ông chủ của mình là Thiên Chúa.
Và thái độ canh thức, tỉnh thức mà hôm nay Chúa Giêsu mời gọi đó chính là hãy cẩn thận, đừng để bị lừa gạt: đừng để rơi vào tình trạng biến cái xấu thành tốt, cái giả thành thật, cái sai thành đúng! Thiên Chúa, Ngài là Đấng chân thật và Ngài mời gọi ta đi trong đường lối chân thật.
Ta được mời gọi “đừng sợ”. Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn ta. Hãy đứng vững và ngẩng đầu lên, bởi sự sống, sự chết của chúng ta nằm trong tay Thiên Chúa. Thiên Chúa mới là người xét xử ta. Hãy can đảm sống Đức Tin, sống những giá trị của Tin Mừng. Đừng để cho nỗi sợ biến chúng ta thành những người thờ ơ trước nỗi đau khổ của anh chị em mình, trước vận mạng của dân tộc. Đừng để nỗi sợ hãi biến chúng ta thành những người đánh mất lương tri mà Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa đã ban cho chúng ta.
Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng đã nhắc nhở ta phải canh thức, phải tỉnh thức; xin Ngài ban cho ta ơn khôn ngoan, lòng can đảm, vượt qua nỗi sợ hãi để ta có thể sống trong sự thật và biết làm chứng cho sự thật giữa xã hội mà ta đang sống hôm nay. Amen!
Lm. Giuse Nguyễn Văn Toản, DCCT
Attachments area
Preview YouTube video Bài giảng của Linh mục Giu-se Nguyễn văn Toản tại Saigon

Bài giảng của Linh mục Giu-se Nguyễn văn Toản tại Saigon

THƯ MỜI THAM DỰ Ngày “Vận Động Nhân Quyền, và Vẹn Toàn Lãnh Thổ Cho Việt Nam”

Tuesday, November 4th, 2014

THƯ MI

Ngày “Vận Động Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ và Vẹn Toàn Lãnh Thổ Cho Việt Nam”

Nhân Kỷ Niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền năm 2014 tại New York, Hoa Kỳ

Trân trọng kính mời QUÝ VỊ ĐỒNG HƯƠNG

Tham dự ngày “Vận Động Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ và Vẹn Toàn Lãnh Thổ Cho Quê Hương Việt Nam” do Cộng Đồng Người Việt Tại Hải Ngoại sẽ tổ chức nhân kỷ niệm 66 năm ngày công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12, 1948, trong hai ngày 12 và 13 tháng 12, 2014 tại New York, nhằm nói lên nguyện vọng của người dân Việt Nam trong và ngoài nước:

  • Tố cáo các vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trước dư luận quốc tế;
  • Đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho 90 triệu người dân Việt Nam;
  • Tố cáo mưu đồ bành trướng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh tại Biển Đông và Đông Á;
  • Hội thảo tìm giải pháp cho vấn đề Việt nam và vai trò của Cộng Đồng Người Việt tại hải ngoại đối với đất nước.

Chương trình tổng quát như sau:

Thứ Sáu 12 tháng 12, 2014:

Từ 10 am – 12:30 pm:

  1. Gặp Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (phái đoàn Cộng Đồng Hải Ngoại)
  2. Gặp tòa đại sứ các nước quan trọng tại Liên hiệp quốc như: Mỹ, Pháp, Anh, Úc, Canada, Đức.. (phái đoàn từ các quốc gia liên hệ)

Từ 1 giờ đến 3 giờ 30 chiều: Biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc Góc đường 1st Ave và 42nd E. Street, New York.

7:00 pm – 10:00 pm: Cơm thân mật hội ngộ – Xổ số gây quỹ hoạt động CĐ/LBHK

Thứ Bảy 13 tháng 12, 2014:

  • 10:00 am – 4:00 pm:
    1. Hội thảo tình hình Việt Nam.
    2. Vai trò của Cộng Đồng Việt Nam tại Hải Ngoại đối với đất nước.

Địa điểm: Hampton Inn JFK Airport: 144-10 135th Avenue, Jamaica, New York 11436

718-322-7500 Ghi chú: Vì số phòng có giới hạn với giá hạ với tên nhóm: Vietnamese American Communities (160MK kể cả thuế) xin vui lòng gọi Hotel để dành phòng, sau đó xin thông báo cùng chúng tôi. Lấy phòng online xin đề code VAC.

Khách sạn Hampton JFK, New York

Trân trọng kính mời.

Ngày 4 tháng 11, năm 2014

– Trưởng Ban Tổ Chức: LS Nguyễn Thanh Phong, Chủ Tịch CĐNVQG New York,

– Trưởng Ban Điều Hợp: Ông Nguyễn Văn Tánh, Cựu Chủ Tịch CĐNVQG Hoa Kỳ

 Xin vui lòng liên lạc:

  • Ô. Nguyễn Văn Tánh: 347-481-8283; tanhnguyen1947@yahoo.com ((tổng quát; ghi danh tham dự, khách sạn)
  • Đỗ Văn Hội: 407-234-3596; hoivando@gmail.com (ghi danh vào Cao Ủy NQ/LHQ; hội thảo)
  • Cô Bội Ngọc: 407-463-4327;   Boingoc@bellsouth.net  (ghi danh khách sạn; vé số gây quỹ)
  • Cô Tara Thu: 917-862-9969; Tarathu@gmail.com (tổng quát; khách sạn)
  • Website: CDLBHK.org, rồi bấm: Nhân Quyền, Ngày vân động NQVN

Yểm trợ tài chánh xin đề: NY-VACA và gửi về 1809 Paulding Ave, Bronx, NY 10462.

Memo: Quốc Tế Nhân Quyền 2014.

Xin bấm vào đây để xem chi tiết:

CHI TIẾT NGÀY VẬN ĐỘNG ĐỘNG NHÂN QUYẾN CHO VIỆT NAM

 

Điếu Cày: Tôi sẽ kiện (chính quyền CS) Việt Nam ra toà án quốc tế

Tuesday, October 28th, 2014
Blogger Điếu Cày đang giở những bức thư của bạn tù được ông khâu vào áo và mang qua Mỹ.

Blogger Điếu Cày đang giở những bức thư của bạn tù được ông khâu vào áo và mang qua Mỹ.

Nhà bất đồng chính kiến vừa được Việt Nam phóng thích tuyên bố sẽ kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do. Blogger Điếu Cày cho biết ông tin rằng ông sẽ “thắng kiện”. Ngoài ra, nhà báo tự do này còn cho biết ông phải đặt gánh nặng của phong trào “lên trên lợi ích của gia đình”. Mời quý vị theo dõi toàn bộ cuộc phỏng vấn sau đây với blogger Điếu Cày dành cho VOA Việt Ngữ chiều 27/10:

VOA: Ông mặc một chiếc áo cộc tay và đi đôi dép tổ ong để sang Mỹ. Vì sao ông lại ăn mặc giản dị như vậy?

Blogger Điếu Cày: Tôi ở trong nhà tù, bị đưa ra ngoài, có thế nào thì mặc như thế. Họ đưa tôi ra khỏi nhà tù và từ Trại giam số 6, Thanh Chương, Nghệ An, thì họ đưa thẳng tôi ra sân bay Nội Bài.

VOA: Chính quyền Việt Nam nói gì trước khi thả ông không?

Họ cũng yêu cầu tôi viết một cái đơn xin tha tù trước thời hạn. Thế nhưng tôi có một nguyên tắc bất di dịch là không nhận tội để được ra tù cho nên là tôi không viết.

Blogger Điếu Cày: Trước đó, Bộ Công an Việt Nam có vào, tham mưu của Bộ Công an Việt Nam có vào, có nói với tôi, đề nghị tôi viết đơn, xin nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập về báo chí. Họ cũng yêu cầu tôi viết một cái đơn xin tha tù trước thời hạn. Thế nhưng tôi có một nguyên tắc bất di dịch là không nhận tội để được ra tù cho nên là tôi không viết.

Sau đó tôi có được gặp Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng nói với tôi rằng chính phủ Hoa Kỳ đã yêu cầu chính phủ Việt Nam phải thả tôi ra vô điều kiện, kể cả tôi ở Việt Nam hoặc đi sang Hoa Kỳ. Nhưng hiện tại, hai chính phủ mới đạt được thỏa thuận là tôi ra tù sẽ nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập.

Và tôi cũng nhận được một số sự ủy thác của anh em ở trong trại giam, kể cả anh em tù chính trị và anh em tù hình sự ủy thác cho tôi cho nên tôi đồng ý nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập.

VOA: Dũng, con trai ông và cả chị Tân, vợ cũ của ông, cho biết là gia đình không nhận được một lời từ biệt nào trước khi ông ra đi. Ông có thể nói rõ hơn về chuyện này không?

Blogger Điếu Cày: Về những việc như thế này, chúng tôi là người ở trong nhà tù, việc đàm phán giữa hai bên hoặc những người đi trước có kinh nghiệm như thế nào rồi, có thông tin gì rồi thì chúng tôi hoàn toàn không biết. Một người tù khi anh bị đặt vào hoàn cảnh như thế thì anh chỉ có thể đưa ra các quyết định đối phó trong hoàn cảnh đó với những kinh nghiệm mà anh có được, với những thông tin ít ỏi mà anh có được thôi.

Ở trong tù, chúng tôi luôn phải trả giá bằng những phương pháp thử và sai. Còn khi mà xuất cảnh ra sân bay, tôi cũng nghĩ là họ sẽ để cho tôi được gặp con tôi, gặp vợ tôi ở sân bay nhưng thực tế thì họ không cho tôi gặp mà đẩy thẳng ra máy bay luôn.

Vấn đề thứ nhất là đối với chính phủ Việt Nam, thì họ chỉ đưa ra cho tôi có một sự lựa chọn, là đi học tại Hoa Kỳ, chứ không có lựa chọn là ở lại Việt Nam, và ra tù.

VOA: Có tin nói rằng ông bị ép buộc đi Mỹ. Thông tin này đúng hay sai, thưa ông?

Blogger Điếu Cày: Thực ra thì nó có hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất là đối với chính phủ Việt Nam, thì họ chỉ đưa ra cho tôi có một sự lựa chọn, là đi học tại Hoa Kỳ, chứ không có lựa chọn là ở lại Việt Nam, và ra tù.

Anh em tù chính trị thì chúng tôi có thảo luận và thống nhất với nhau rằng “anh sẽ phải đi thay chúng tôi, để làm những gì chúng tôi ủy nhiệm”. Vì vậy, lựa chọn này, không phải là riêng của cá nhân tôi, mà còn là lựa chọn của anh em ở cùng với tôi, qua thảo luận đã ủy nhiệm cho tôi. Điều đó đã được thể hiện qua lá thư của anh Trương Duy Nhất.

VOA: Sau khi ông tới Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói ông được đi Mỹ vì ‘lý do nhân đạo’. Phản ứng của ông ra sao đối với tuyên bố này?

Blogger Điếu Cày: Tôi thấy cái tuyên bố này hoàn toàn sai, không có cái gì gọi là nhân đạo ở đây cả, bởi vì tòa án Việt Nam vẫn chưa hoàn thành thủ tục pháp lý để mà buộc tội câu lạc bộ nhà báo tự do. Chúng tôi bị bắt, bị xử sơ thẩm. Chúng tôi đã kháng cáo phúc thẩm, và đã đưa ra bằng chứng thuyết phục nhưng phiên tòa phúc thẩm đó đã không làm được một cái việc duy nhất, đó là chứng minh tội phạm đối với chúng tôi. Và đã không chứng minh được tội phạm, không công bố được chứng cứ, không đưa ra được kết luận mà lại cứ y án.

Việc đưa chúng tôi vào trại giam là hoàn toàn trái pháp luật, và quả thực nó trái pháp luật đối với ngay chính pháp luật của họ. Bởi vì cho đến giờ này, chúng tôi vào tù ngần ấy năm rồi nhưng vẫn chưa có quyết định thi hành án, chưa có bản án phúc thẩm. Tôi đã yêu cầu nhiều lần là phải công bố quyết định phúc thẩm, phải công bố quyết định thi hành án thì mới đưa tôi được vào trại giam. Vì vậy, khi mà anh Khải là tham mưu của Bộ Công an xuống và nói với tôi là viết một đơn xin tha tù trước thời hạn thì tôi nói rằng các anh chưa hoàn thành thủ tục đưa chúng tôi vào tù thì làm sao có thể làm thủ tục đưa tôi ra tù được. Vì vậy tôi không viết đơn xin tha tù. Anh ấy nói đây chỉ là một thủ tục pháp lý thì tôi nói rằng thủ tục pháp lý thì cũng phải tôn trọng pháp luật thì anh mới làm thủ tục pháp lý được. Cuối cùng thì đến ngày đi, họ cũng lặng lẽ đưa tôi ra, không hề tuyên đọc quyết định tha tù hay đình chỉ thi hành án như là Bộ Ngoại giao đã tuyên bố. Tôi cũng không phải ký bất kỳ giấy tờ gì để ra tù.

Vụ án này khi tôi sang đây là nhờ ủy nhiệm của anh em, và tôi cũng còn một trách nhiệm nữa trong chuyến đi này, đó là bắt đầu vụ án CLB nhà báo tự do ở một tòa án khác.

Tôi sẽ tìm kiếm các nguồn lực, các tổ chức quốc tế để giúp đỡ chúng tôi đưa vụ đó ra tòa quốc tế. Tôi tin rằng, về mặt pháp lý, chúng tôi sẽ thắng kiện.

VOA: Tức là ông sẽ đưa vụ việc ra trước một tòa án quốc tế nào đó phải không, thưa ông?

Blogger Điếu Cày: Đúng thế. Đây là một vấn đề pháp luật và là một sai lầm cơ bản của pháp luật mà ngay tòa án Việt Nam sai lầm với chính pháp luật Việt Nam , với chính hiến pháp Việt Nam, vi phạm các công ước quốc tế. Họ không có đủ chứng cứ để buộc tội chúng tôi. Vụ án đã bị vỡ, bị sụp đổ rồi nhưng họ cố tình giam nhốt chúng tôi. Vì vậy mà chúng tôi phải đi ra ngoài này để bắt đầu vụ án đó tù một tòa án khác, tòa án của cộng đồng quốc tế.

Chúng tôi từng bước một sẽ tiến hành việc đó. Tôi sẽ tìm kiếm các nguồn lực, các tổ chức quốc tế để giúp đỡ chúng tôi đưa vụ đó ra tòa quốc tế. Tôi tin rằng, về mặt pháp lý, chúng tôi sẽ thắng kiện.

VOA: Một số nhà hoạt động cho rằng chính phủ Việt Nam đang sử dụng các tù nhân bất đồng chính kiến vào một cuộc mặc cả với Mỹ. Ông có nghĩ rằng mình là một con bài trong cuộc trao đổi này hay không?

Blogger Điếu Cày: Quan hệ ngoại giao giữa hai chính phủ với nhau, là một người tù, tôi hoàn toàn không có thông tin gì cho nên tôi không được biết. Tôi cũng không biết đổi tôi để lấy cái gì vì hoàn toàn tôi không được biết những thông tin đó.  Một người phải ở trong tù đối với tôi là sáu năm sáu tháng và hai ngày nên bảo tôi phải bình luận về quan hệ ngoại giao giữa hai nước hoặc có những vấn đề liên quan đến tôi thì quả thật là tôi chưa đủ thông tin để mà bình luận.

Trong lựa chọn ra đi này, gia đình tôi tiếp tục bị chia cắt, nhưng mà tôi cũng phải đặt gánh nặng của phong trào, của anh em, lên trên lợi ích của gia đình.

VOA: Sau nhiều năm con cái tranh đấu cho tự do của ông khi ông ở trong tù, ông có ý định đưa gia đình mình sang Mỹ đoàn tụ với mình không?

Blogger Điếu Cày: Đó cũng là cái điều khi mà tôi lựa chọn ra đi, tôi đã phải suy nghĩ rất nhiều tại vì ai cũng muốn đoàn tụ với gia đình. Thế nhưng, trên vai tôi còn gánh nặng ủy thác của anh em, của anh em tù chính trị, và kể cả anh em tù hình sự. Tôi đã đi qua 11 nhà tù, tôi phải thay anh em cất lên tiếng nói, để bảo vệ họ. Dù họ là tù nhân, họ có thể mất một số quyền công dân nhưng quyền con người, họ vẫn còn đầy đủ. Tôi muốn rằng, những trại giam, phải thực thi pháp luật đầy đủ, và phải đối xử với họ như đối xử với những con người.

Chính vì vậy, trong lựa chọn ra đi này, gia đình tôi tiếp tục bị chia cắt, nhưng mà tôi cũng phải đặt gánh nặng của phong trào, của anh em, lên trên lợi ích của gia đình. Tôi nhận sự ủy thác của anh em để đi tiếp. Còn gia đình tôi, tôi cũng rất mong muốn sớm được đoàn tụ.

Điếu Cày: Tôi sẽ tranh đấu cho ngày trở về

Wednesday, October 22nd, 2014

Video: Lý Tri Anh
CTV Danlambao – Trên 200 đồng hương người Việt đã có mặt tại sân bay để chào đón blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, một tù nhân lương tâm nổi tiếng vừa bị chế độ CSVN cưỡng bức trục xuất khỏi Việt Nam.

Mặc dù thông tin Điếu Cày đến Mỹ chỉ được loan báo trước đó không lâu, nhưng đông đảo người dân và các cơ quan truyền thông đã có mặt từ sớm khiến phi trường Los Angeles đông một cách bất thường.
Chị Lý Tri Anh, một gương mặt hoạt động tích cực trong cộng đồng cho biết: Tất mọi người đến đây vì yêu mến và cảm phục tinh thần của blogger Điếu Cày – một người đấu tranh tiên phong trong phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.
Điếu Cày và nụ cười chiến thắng.
Ảnh: Lý Tri Anh

Một tấm biểu ngữ lớn nền vàng, chữ đỏ có nội dung “Cộng đồng Việt Nam Nam – Cali welcome blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải” đã được chuẩn bị sẵn.

Sau hơn 6 năm 6 tháng tù đày, hình ảnh Điếu Cày xuất hiện lần đầu tiên trong chiếc áo thun đơn sơ, chân vẫn còn mang dép nhựa, khuôn mặt thì xanh xao gầy gò khiến nhiều người không khỏi xúc động.
Trước sự đón tiếp nồng nhiệt của đông đảo đồng bào, Điếu Cày tỏ ra rất cảm động. Trong lời phát biểu đầu tiên, anh dõng dạc nói:
“Đây là thắng lợi của giá trị tự do, dân chủ. Đây là kết quả những nỗ lực không ngừng nghỉ của anh em chúng ta suốt bao năm qua… để chúng tôi có được tự do như ngày hôm nay”.
 
“Đây cũng là thông điệp hiệu quả nhất để gửi đến những anh em tù nhân còn đang nằm trong nhà tù cộng sản”. 

Hãy tin tưởng rằng anh em không đơn độc, bên ngoài vẫn có các chính phủ, các tổ chức và bạn bè quốc tế luôn luôn quan tâm, ủng hộ và bảo vệ. Anh em hãy mạnh mẽ và cố gắng lên.

“Tôi sang đây là để đấu tranh ngày trở về, và không chỉ đấu tranh cho tôi mà cho tất cả đồng bào ở đây”.

Điếu Cày bị ‘vây hãm’ bởi giới truyền thông 
và đồng bào khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ
Sau thời gian ngắn ngủi tiếp xúc với đồng bào, do sức khỏe suy yếu vì phải đi một chặng đường dài, Điếu Cày được hai nhân viên ngoại giao đưa lên xe về khách sạn để nghỉ ngơi.
Trong nhiều năm trở lại đây, hiếm có sự kiện nào diễn ra một cách nồng nhiệt và sôi nổi như buổi chào đón blogger Điếu Cày tối nay. Trên các mạng xã hội tràn ngập những lời chúc và niềm hứng khởi chào đón cuộc hành trình trong chiến thắng của Điếu Cày.

 

Đề tài 4: GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM VÀ BIỂN ĐÔNG

Tuesday, July 8th, 2014

HỘI THẢO TÌNH HÌNH VIỆT NAM & BIỂN ĐÔNG

Ngày 22/6/2014 tại New York, Hoa Kỳ

Do CĐNVQG Liên Bang Hoa Kỳ & CĐNVQG New York tổ chức

__________ooo__________

Đề tài 4:

GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM VÀ BIỂN ĐÔNG  

(Trình bày và đúc kết trong cuộc Hội Thảo)

(Quý vị có toàn quyền xử dụng, chỉ xin nêu xuất xứ)

 

MỐI NGUY HẠI CỦA TC TẠI BIỂN ĐÔNG VÀ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Sự bành trướng của TC tại Biển Đông, Á Châu Thái Bình Dương đã quá rõ ràng, thực tế, không còn mơ hồ hoặc tưởng tượng. Ảnh hưởng của sự bành trướng này rất tai hại cho các quốc gia trong vùng, kể cả Hoa Kỳ, Úc Châu và toàn thế giới. Nếu không có giải pháp, con đường hải lưu huyết mạch và toàn vùng Biển Đông sẽ bị TC khống chế. Bàn cờ Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương sẽ thay đổi dưới ảnh hưởng của TC.

Hiện nay đang thành hình trục NGA – TRUNG CỘNG; thế giới hiện đang tiến về thế lưỡng cực đối đầu, đe dọa cho nền an ninh và tự do của thế giới. Một quốc gia muốn bảo đảm an ninh và phát triển không thể đứng giữa.

Riêng Việt Nam, hậu quả sẽ rất trầm trọng. Có thể sẽ mất nước về tay Trung Cộng trong một ngày rất gần nếu không có giải pháp thích đáng.

CHÍNH SÁCH HOA KỲ TẠI BIỂN ĐÔNG (tóm lược)

Hoa Kỳ đang chuyển trục về Á Châu với 60% lực lượng hải quân sẽ đóng tại đây. Trước kia Hoa Kỳ luôn luôn tuyên bố đứng ngoài các tranh chấp tại Biển Đông, nhưng gần đây đã thay đổi, ngày càng gần lại với ASEAN và Việt Nam. Hoa Kỳ sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam với điều kiện về nhân quyền.

Hoa Kỳ đứng sau các hoạt động liên kết giữa các nước Á Châu Thái Bình Dương, cam kết bảo vệ các quốc gia đồng minh (Nhật, Phi Luật Tân, Đại Hàn…). Vì ngân sách hạn chế, lấy kinh nghiệm trong quá khứ, Hoa Kỳ không muốn trực tiếp sa lầy vào các cuộc chiến tranh, mà chỉ giúp các quốc gia tự bảo vệ (Nam Hàn, Nhật, Phi, Tân Gia Ba…).

NHỮNG NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CHO GIẢI PHÁP VIỆT NAM

1- Đoàn Kết Dân Tộc: Chỉ có đoàn kết Dân Tộc mới có thể cứu nguy và xây dựng đất nước. Đảng CSVN không thể tạo được sự đoàn kết toàn dân, họ chỉ đoàn kết cho đảng CS mà thôi.

2- Người Việt Nam phải tháo gỡ được sợi dây trói khỏi bàn tay TC. Nếu còn đảng CSVN, đất nước vẫn không thể thoát khỏi sợi dây trói này của TC, lý do:

a. Đảng CSVN lệ thuộc vào TC do quá khứ lịch sử (nợ viện trợ, những lời hứa hẹn, cam kết, những hiệp ước mật giữa hai đảng Cộng Sản). Như vậy, đảng CSVN đã bị trói buộc vào TC.

b. Vì đảng CSVN muốn tồn tại nên phải dựa vào TC, một nước cùng chủ nghĩa (như Bắc Hàn) – Nhưng nước đàn anh TC lại chiếm hữu tài sản đất đai, biển, đảo, của đàn em CSVN, thật sự là tài sản của dân tộc Việt Nam.

c. TC có ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam (sát biên giới, nợ cũ, các mật ước). TC muốn Việt Nam  phải là lá chắn, tức chư hầu của TC như Bắc Hàn (tương tự Nga muốn Ukraina làm chư hầu)

d. Đảng CSVN cai trị Việt Nam bằng chính sách toàn trị – chính quyền CSVN không do dân bầu, mà do “đảng cử – dân ‘bị bắt buộc phải’ bầu”, không đại diện cho dất nước và dân tộc Việt Nam, nên người Việt Nam nếu muốn thoát khỏi ách TC (thoát Trung), thì phải thoát khỏi ách cai trị của CSVN (thoát Cộng).

e. Việc giải thể chế độ CSVN phải do chính người dân trong nước thực hiện với sự hỗ trợ của Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn hải ngoại và của quốc tế.

3- Phương pháp giải thể: Có một số ý kiến

  1. Ôn hòa: một số người chủ trương ôn hòa, hoàn toàn không đổ máu bằng cách thương lượng, hợp tác, hòa giải… Giải pháp này không thể thành công, vì CS không bao giờ chịu từ bỏ quyền bính, không muốn chia xẻ quyền lực với bất cứ ai ngoài người của đảng. “Cộng sản không bao giờ thay đổi mà phải bị giải thể”, nhiều cựu đảng viên CS nổi tiếng đã tuyên bố như vậy.
  2. Một số nhân vật hoặc một số bộ phận đang cầm quyền thức tỉnh, muốn cải cách, muốn thay đổi, do áp lực từ bên trong hoặc bên ngoài đưa đến tiến trình dân chủ hóa như Gorbachev ở Liên Xô trước đây. Hiện nay tại Việt Nam chưa thấy có ai, hoặc có mà chưa lộ diện.
  3. Hoặc do người dân trong nước cùng với sự thức tỉnh của lực lượng quân đội, công an, cán bộ đảng viên đòi hỏi nhà cầm quyền phải nhượng bộ, tổ chức bầu cử tự do. Trong tiến trình này, đôi khi có đổ máu, ít nhiều  tùy theo mức độ ngoan cố của đảng cầm quyền như đã xảy ra tại các nước Đông Âu thập niên 80-90, hoặc Ukraina mới đây.

4-      Phương thức giải thể: Vận động – Áp lực – Phản kháng

  1. Áp lực chính trị, ngoại giao, xã hội, môi trường từ bên trong, bên ngoài.
  2. Áp lực kinh tế, trao đổi thương mại (điều kiện để được hưởng các quy chế)
  3. Thúc đẩy người dân can đảm không còn sợ đảng CSVN; phát triển và tham gia các tổ chức xã hội dân sự.
  4. Vận động sự thức tỉnh của quân đội, công an, cán bộ, đảng viên hãy đứng về phía người dân, không bảo vệ đảng CSVN (quan trọng).
  5. Vận động quốc tế áp lực về nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam.
  6. Vận động đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước:

i.      Tại hải ngoại: tạo sự đoàn kết cộng đồng từ dưới lên trên (từ thành phố, đến tiểu bang, đến liên bang, đến quốc gia, đến toàn hải ngoại)

ii.      Tại quốc nội: Liên kết các tổ chức xã hội dân sự đòi hỏi những quyền lợi thiết thực từ nhỏ đến lớn (theo nấc thang) như công bằng xã hội, cơm ăn áo mặc, chống bất công…

iii.      Lấy mục tiêu: “Lòng yêu nước chống ngoại xâm – nhân quyền cho mọi người – công bằng xã hội – công lý – cơm no áo mặc..” làm mẫu số chung trong đấu tranh.

5-      Tiến trình giải thể: Giải thể chế độ CSVN và chống TC, cái nào trước, cái nào sau? 

Phải làm song song. Một mặt chống sự bành trướng của TC, mặt khác thúc đẩy dân chủ hóa Việt Nam. Nếu TC chiếm VN lúc này, về sau rất khó lấy lại (ít ra là trong tương lai gần). Cần cấp tốc đưa TC ra tòa án quốc tế, ra LHQ, Hội Đồng Bảo An (do chính quyền hiện tại thực hiện).

GIẢI PHÁP CHO BIỂN ĐÔNG

1-      TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆT NAM

–          Việt Nam không thể tách rời khỏi mắt xích chiến lược ở Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương. Nếu Việt Nam mất vào tay TC, không có thế lực nào có thể ngăn cản được sự bành trướng của TC tại vùng này. Vì vậy, các quốc gia trong khu vực cần giúp đỡ, liên kết với Việt Nam (dĩ nhiên với một Việt Nam dân chủ, tự do).

–          Để góp phần trong chiến lược an ninh Á Châu Thái Bình Dương, Việt Nam phải trở thành một nước dân chủ, tự do, mở rộng bang giao quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng luật  pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng nhân quyền, liên minh với các nước trong vùng và các thế lực tự do dân chủ có ảnh hưởng lớn, như thế mới có thể ngăn chặn được sự bành trướng của TC và lấy lại  những gì đã mất.

2-      KẾT HỢP CÁC QUỐC GIA TRONG VÙNG ĐÔNG NAM Á & TBD

Sự đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam là then chốt để giải quyết vấn đề Biển Đông.

Thiết lập các LIÊN MINH AN NINH HỖ TƯƠNG trong khu vực để bảo vệ lẫn nhau: Hiện đã có Liên Minh Mỹ-Nhật, Mỹ-Phi, Nhật-Úc… Liên minh Úc-Nhật-Ấn Độ đang thành hình. Việt Nam chưa có liên minh với bất cứ nước nào (ngoại trừ phụ thuộc vào TC), vì VN vẫn còn là một nước độc tài, cộng sản, hiện đang bị cô lập, TC lấn lướt.

3-      LUẬT PHÁP QUỐC TẾ 

Luật pháp quốc tế là vũ khí hòa bình để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Áp dụng luật pháp quốc tế về biển, các định chế quốc tế: Tòa án quốc tế, Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Bảo An LHQ, UNCLOS (Công Ước Quốc Tế về Luật Biển 1982, có hiệu lực kể từ 1994) rất ích lợi trong vụ tranh chấp ở Biển Đông; VN & TC đã ký; Hoa Kỳ chưa thông qua. Chúng ta cần vận động Thượng Viện HK chuẩn nhận Công Ước này.

HẢI NGOẠI CẦN LÀM GÌ?

Người Việt tại hải ngoại sẽ giúp ích rất nhiều cho giải pháp Biển Đông và Việt Nam.

  1. Tạo sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng từ địa phương đến cấp cao hơn (thành phố, tiểu bang, liên bang, quốc gia và thế giới) để hỗ trợ các giải pháp. Cộng đồng bao gồm các tôn giáo, tổ chức, hội đoàn, đoàn thể, tổ chức chính trị… tất cả cùng bắt tay nhau xây dựng cộng đồng vững mạnh, có chính danh, có uy tín với đồng hương và tư thế với quốc tế.
  2. Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn tại Hải Ngoại cần thành hình cơ cấu đại diện chung, có tiếng nói mạnh, chính danh, hợp pháp để xúc tiến công tác vận động quốc tế và hỗ trợ quốc nội.
  3. Tạo sức mạnh qua lá phiếu bầu cử nơi định cư, tham gia vào các sinh hoạt chính trị của địa phương cũng như trung ương của quốc gia cư ngụ.
  4. Xây dựng giới trẻ tiếp nối những công tác đấu tranh của bậc cha anh đi trước. Khuyến khích giới trẻ đi vào dòng chính của quốc gia cư trú.
  5. Cần bảo vệ chính nghĩa quốc gia chống lại sự xâm nhập của cộng sản và tay sai nằm vùng trong cộng đồng, trên mạng ảo toàn cầu tạo chia rẽ giữa các tôn giáo, đoàn thể, đánh phá các vị lãnh đạo cộng đồng…
  6. Vận động quốc tế cho Việt Nam và Biển Đông:
    1. Vận động nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam nơi các quốc gia mình cư ngụ qua các cơ quan dân cử hành pháp, lập pháp…
    2. Áp lực buộc CSVN phải chấp nhận chế độ dân chủ (như Đông Âu và Miến Điện)
    3. Chỉ bán vũ khí sát thương nếu Việt Nam chấp nhận đi đến dân chủ.
    4. Vận động kinh tế: hạn chế gửi tiền về Việt Nam, đặt điều kiện để VN vào TPP (Trans-Pacific Partnership = Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương)
    5. Vận động quốc tế chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh kể cả cấm vận kinh tế như tại Ukraina, vì TC xâm chiếm Biển Đông bất hợp pháp bằng võ lực.
    6. Hợp tác với các dân tộc bị TC áp bức để chống lại Trung Cộng.
  7. Vận động tài chánh cho các sinh hoạt của cộng đồng.
  8. Hỗ trợ tài chánh các phong trào đấu tranh dân chủ tại Quốc Nội.
  9. Đẩy mạnh công tác thông tin, báo chí để phổ biến các sinh hoạt cộng đồng đến các đồng hương.
  10. Chuyển thông tin vào trong nước, phá vỡ thông tin độc quyền của CSVN.
  11. Chống Trung Cộng: cần có kế hoạch cụ thể, khả thi, áp dụng đồng loạt trong các cộng đồng; vận động các sắc dân khác cùng tham gia: làm bumper stickers, tẩy chay hàng hóa, vận động quốc tế…. Cộng đồng khắp nơi cần thành hình Ủy Ban chống Trung Cộng, có kế hoạch, có phối hợp chặt chẽ.

Nói tóm lại, giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Biển Đông đòi hỏi sự hợp lực của toàn dân trong và ngoài nước với sự cộng tác của quốc tế trong khu vực và toàn vùng Á Châu Thái Bình Dương. Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn sẽ góp phần không nhỏ trong giải pháp cứu nước khỏi bàn tay cai trị của đảng CSVN và sự xâm lăng của Trung Cộng.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York tổ chức.

Cdnvqg.lbhk@gmail.com

Website: CDLBHK.ORG

(*) Xin chú ý: đây chỉ là phần tổng quát giải pháp cho Việt Nam và Biển Đông. Giải pháp này cần được khai triển thành kế hoạch chi tiết trong những buổi hội thảo riêng biệt. Riêng về các mặt lý thuyết như tư tưởng, chủ trương, đường lối, không phải là mục tiêu của bài trình bày này. Một chủ trương căn bản và quan trọng của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia là không chấp nhận chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản bất cứ dưới hình thức nào.

—————————————————————

 

Danh sách các tham dự viên đóng góp ý kiến (Xin xem video 4):

 

–          Ô. Lương Phúc Thọ, PCT CĐNVQG New York

–          Ô. Châu Ngọc An CT CĐVN Trung Tâm Florida

–          Ô. Lưu Văn Tươi: CT CĐVN tiểu bang Florida

–          Ông Trần Văn Giỏi, CT CĐNVQG Connecticut

–          Ông Lương Thông, CT CĐVN New Mexico

–          Ông Nguyễn Đình Cương, CĐNVQG Tucson, AZ

–          LS Trần Sơn Hà, PCT CĐNVQG Nam Cali

–          Nhà báo Phạm Trần, Hoa Thịnh Đốn

–          Bà Lê Thị Nga, Chủ Tịch Nhà Việt Nam, Tampa, FL

–          Bà Tuyết Nga, Orlando, Florida

–          LS Kim Thành, Nam California

Vì thì giờ giới hạn, nên nhiều vị không thể phát biểu trong cuộc Hội thảo, xin quý vị vui lòng gửi email về chúng tôi, chúng tôi rất cám ơn.

Cdnvqg.lbhk@gmail.com

 

Một vài Website về chính sách Hoa Kỳ tại Biển Đông và Việt Nam.

State Dept. on South China Sea

Maritime Disputes in East Asia

State’s Russel on ASEAN Senior Officials Meeting

Why the United States Needs to Join the Law of the Sea Convention Now

Background Briefing En Route Ho Chi Minh City, Vietnam

Kerry, Japanese Foreign Minister Kishida After Meeting

07 February 2014

U.S. DEPARTMENT OF STATE, Office of the Spokesperson – February 7, 2014 REMARKS

 

Translate »