Posts Tagged ‘Bảo Vệ Chủ Quyền’


Bản tin ngày 2/7/2017

Saturday, July 1st, 2017

Tin tức ngày 2 tháng 7, 2017 (LH, VOA)

Bấm để xem…

Mời tham gia ban tổ chức chống Tập Cận Bình và Tàu Công

Tuesday, March 21st, 2017

THƯ MỜI

Tham gia Ban Tổ Chức

Chống Tập Cận Bình và Trung Cộng

nhân Họp Thượng Đỉnh Hoa Kỳ – Trung Cộng 2017

Kính gửi:

  • Quý vị lãnh đạo Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam
  • Quý vị lãnh đạo Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc
  • Quý vị lãnh đạo các Cộng Đồng, Hiệp Hội Người Việt tại Âu Châu
  • Quý vị lãnh đạo Liên Hội Người Việt tại Canada
  • Quý vị lãnh đạo các Tổ Chức, Đoàn Thể đấu tranh, Nhân Sĩ tại hải ngoại

Kính thưa quý vị,

Tin tức báo chí sau chuyến công du của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Tillerson tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Cộng cho thấy sẽ có cuộc họp thượng đỉnh giữa TT Donald Trump và Tập Cận Bình, ngày giờ và địa điểm tuy chưa được chính thức xác nhận, những nguồn tin bán chính thức cho biết rất có thể cuộc họp sẽ diễn ra trong hai ngày 6 và 7 tháng 4, 2017 tại Mar-a-Lago Resort, Palm Beach, Florida.

Chương trình nghị sự cuộc gặp thượng đỉnh này bao gồm:

  • Vấn đề Bắc Hàn sở hữu vũ khí hạt nhân và thái độ khiêu khích của Kim Jung Un.
  • Thương mại mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng mà T.T. Trump trước đây từng lên án TC dùng mánh lới bất chính làm giàu gây thiệt hại cho nhân dân Hoa Kỳ.
  • Hành động lấn chiếm và thái độ bất chấp luật pháp quốc tế của Trung cộng tại Biển Đông.
  • An ninh tại Á châu Thái Bình Dương và nhiều vấn đề quan trọng khác trên thế giới.

Trước sự kiện quan trọng này và trước tham vọng bành trướng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh tại Biển Đông cũng như đối với Việt Nam, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ sẽ phối hợp cùng cộng đồng địa phương, các cộng đồng người Việt khắp nơi tại Hoa Kỳ và trên thế giới cũng như đồng bào tại quốc nội để bày tỏ lập trường qua nhiều hình thức như sau:

  • Tổ chức biểu tình tại địa điểm họp thượng đỉnh (chúng ta cần chờ tin chính thức).
  • Biểu tình chống Tàu Cộng tại Việt Nam (đồng bào quốc nội tổ chức).
  • Công bố Tuyên Cáo lên án nhà cầm quyền CS Bắc Kinh với chữ ký của các cộng đồng, tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nước (có thể thực hiện ngay).
  • Đăng OPEN LETTER trên một tờ báo lớn tại Hoa Kỳ như Washington Times, Washington Post, hoặc New York Times…. Chi phí cho nguyên trang lớn khoảng từ 5,000 MK đến 100,000 MK. Thư ngỏ sẽ tạo ảnh hưởng quốc tế rất lớn. Công tác này có thể thực hiện ngay nếu có tài chánh và phải làm gấp ít nhất 1 tuần trước ngày đăng.

Một ban tổ chức sẽ được thành lập bao gồm đại diện các cộng đồng người Việt trên khắp thế giới và các tổ chức đấu tranh có uy tín. Chúng tôi kính mời các vị lãnh đạo Cộng Đồng Úc Châu, Âu Châu, Canada và các tổ chức đấu tranh và đoàn thể chính trị cùng tham gia.

Kính thưa quý vị,

Trung Cộng đã chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974, chiếm Trường Sa (đảo Gạc Ma) của Việt Nam năm 1988, lấn chiếm hầu hết vùng Biển Đông mà họ áp đăt chủ quyền theo đường lưỡi bò bất hợp pháp, thiết lập các căn cứ quân sự tạo ra mối nguy hại to lớn cho nền an ninh của Á Châu Thái Bình Dương. Ngoài ra, TC hiện đang chiếm dần lãnh thổ Việt Nam dưới nhiều hình thức như tầm ăn dâu với sự tiếp tay của đảng CSVN, chắc chắn sẽ hoàn toàn khống chế Việt Nam trong một ngày rất gần nếu toàn dân không có hành động mau chóng.

Đây là nỗi uất hận chung của toàn thể dân tộc Việt Nam, của tất cả những ai còn lòng yêu nước, còn quan tâm đến nền độc lập, tự do, dân chủ và sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước. Vì thế, chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam khắp nơi hãy trực tiếp hay gián tiếp tham gia chiến dịch chống Tập Cận Bình và Tàu Cộng này. Để có thể thực hiện các công tác nói trên chúng ta cần có phương tiện tài chánh xin quý vị và đồng bào vui lòng yểm trợ.

Chúng tôi kính mời quý vị lãnh đạo tôn giáo, cộng đồng, tổ chức, đoàn thể, nhân sĩ vui lòng tham gia thành lập ban tổ chức để cùng nhau thực hiện các công tác nêu trên. Xin quý vị vui lòng khẩn liên lạc với chúng tôi để bàn chi tiết.

Trong lúc chờ đợi, mọi yểm trợ xin gửi về: Dr. My Hanh Tran, PO BOX 262066, Tampa, FL 33685. Check xin đề: Fed.vac-USA. Tài chánh này chỉ được dùng cho công tác chống Tàu Cộng hiện tại cũng như trong tương lai.

Về chi tiết cuộc biểu tình chống Tập Cận Bình, Ban tổ chức sẽ thông báo nơi cư ngụ, phi trường và các chi tiết khác sau khi có tin chính thức.

Trân trọng​,

​Hoa Kỳ ngày 21/3/2017

  1. CĐNVQG/LBHK

 

BS Võ Đình Hữu        BS Đỗ Văn Hội          Ông Lưu Văn Tươi     Ô. Nguyễn Văn Tánh

CT HĐĐB                  CT HĐCH                  CT HĐGS                   Cố Vấn

 

Xin liên lạc: drhvo@yahoo.com  714-928-3038; hoivando@gmail.com  407-234-3596; Tuoiluu4905@gmail.com  407-491-9299; tanhnguyen1947@yahoo.com   347-481-8283

19-3-2017: Hơn 6000 nạn nhân Formosa diễn hành sau thánh lễ cầu an

Sunday, March 19th, 2017

Giáo phận Vinh: Hơn 6000 nạn nhân Formosa cầu nguyện cho quốc thái dân an và diễu hành

Đăng ngày
 (Tin mừng cho người nghèo)

GNsP (19.03.2017) – Vào sáng ngày 19.03.2017, tại Giáo phận Vinh, hơn 6000 bà con giáo dân đến từ các giáo xứ: Phú Yên, Mành Sơn, Cẩm Trường đến giáo xứ Song Ngọc hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho các nạn nhân chịu thảm họa hủy diệt môi trường do Formosa xả thải.

Từ sáng sớm, bà con giáo dân ở ba giáo xứ Mành Sơn, Phú Yên và Cẩm Trường quy tụ tại sân nhà thờ của mỗi giáo xứ trên tay cầm cờ ngũ sắc, khởi hành từ giáo xứ và diễu hành đến giáo xứ Song Ngọc bằng các xe gắn máy đi trong trật tự và ôn hòa.

Vào lúc 7 giờ 30, hơn 5000 bà con giáo dân quy tụ tại sân nhà thờ giáo xứ Song Ngọc. Tại đây, bà con cầm các băng rôn khẩu hiệu với thông điệp: “Formosa cút khỏi VN”, “Trả lại biển xanh cho chúng tôi”…

Thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình bắt đầu vào lúc 8 giờ cùng ngày tại giáo xứ Song Ngọc do cha Fx. Phan Đình Giáo, Quản xứ giáo xứ Cẩm Trường chủ tế, cha Antôn Đặng Hữu Nam, Quản xứ giáo xứ Phú Yên giảng thuyết và cùng đồng tế có cha JB Nguyễn Đình Thục, Quản xứ giáo xứ Song Ngọc.

Bài chia sẻ Lời Chúa của cha Antôn Đặng Hữu Nam được soi sáng bởi bài Tin Mừng (Ga 4, 5-42). “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Trong bài chia sẻ, cha Quản xứ giáo xứ Phú Yên thông tin cho cộng đoàn một vài vấn đề thời sự đang nhức nhối trong xã hội Việt Nam như: nạn bạo lực học đường; nhà trường không còn là nơi an toàn cho trẻ nhỏ khi nhiều trẻ em bị xâm hại và lạm dụng tình dục trong chính trường học. Cha nhấn mạnh xã hội việt nam hiện nay nhiều anh hùng nhưng vắng bóng tình yêu, một xã hội đầy rẫy những bất công, gian dối và lừa lọc. Cha Antôn cũng kêu gọi, bà con giáo dân hãy mạnh mẽ đứng lên bảo vệ lãnh thổ quê hương Việt Nam trước nạn nội xâm và giặc ngoại xâm, hãy bảo vệ giống nòi Việt Nam, hãy đấu tranh cho Công Lý, Công bằng trong tinh thần ôn hòa, văn minh và đạo đức của người Kitô giáo… Người Công giáo không bao giờ mất hy vọng, bởi vì nếu chúng ta có chối bỏ Thiên Chúa thì Ngài luôn chờ đợi chúng ta.

H1H2H3H4H5H13H14H6H7H9

Trước khi kết thúc thánh lễ, cha Thục gửi lời cám ơn cha Quản xứ giáo xứ Cẩm Trường, giáo xứ Mành Sơn và giáo xứ Phú Yên đã thấu hiểu, đồng hành và hiệp thông với nỗi đau không chỉ riêng bà con giáo xứ Song Ngọc mà cho tất cả các nạn nhân Formosa đang gánh chịu thảm họa.

Cha JB Nguyễn Đình Thục kêu gọi cộng đoàn hãy mạnh mẽ đấu tranh cho Công lý và Hòa bình trong tình yêu thương, tha thứ cho những người đã ra tay hành hung đánh đập, chà đạp lên luật pháp để tước đoạt quyền khiếu kiện/khiếu nại của bà con ngư dân. Chỉ có tình yêu thương, lời cầu nguyện mới giúp con người gắn kết với nhau, đoàn kết với nhau đấu tranh cho quê hương Việ Nam không còn bị cai trị bởi những con người độc ác, gian tà và vô trách nhiệm.

Sau khi kết thúc thánh lễ, cha JB Nguyễn Đình Thục cùng với bà con xứ Song Ngọc tiễn cộng đoàn ngay khu vực Ủy ban Nhân dân xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và chia tay tại đây.

Trước cổng Ủy Ban nhân dân xã Quỳnh Ngọc, bà con giáo dân cả bốn giáo xứ Mành Sơn, Phú Yên, Cẩm Trường và Song Ngọc đã biểu tình, hô to các khẩu hiệu với thông điệp “cướp” lại quyền sống, “cướp” lại quyền được làm người, “cướp” lại nhân quyền, “cướp” lại tất cả những gì nhà cầm quyền cộng sản đã cướp và tước đoạt từ tay người dân trong suốt nhiều năm qua.
H15H12H10H11

Trong các thánh lễ hiệp ý cầu nguyện cho các nạn nhân Formosa, bà con giáo dân đã được tiếp thêm sức mạnh, sự can đảm để tiếp tục dấn thân trong hành trình kiếm tìm công lý, sự thật trong một xã hội đầy rẫy oan khiên, oan sai, chà đạp nhân phẩm và xem thường mạng sống.

Pv.GNsP

Biểu tình tại Sacramento chống chủ tịch Thượng Viện Calif. bóp nghẹt tự do ngôn luận

Wednesday, March 8th, 2017
 Sacramento: Hình ảnh đồng hương biểu tình phản đối Thượng Viện California vi phạm quyền tự do ngôn luận của TNS Janet Nguyễn
Kính thưa quý đồng hương,

Hôm nay ngày 6/3/2017, đông đảo đồng hương California đến trước Thượng Nghị Viện để phản đối họ chà đạp quyền tự do ngôn luận của TNS Janet Nguyễn khi bà phát ngôn phản đối vinh danh tên Tom Hayden khi tên phản chiến nầy ra Hà Nội nịnh hót tụi VC.

Ðồng hương mang nhiều biểu ngữ binh vực TNS Janet và phản đối, y/c Thượng Viện phải quét sạch rác rửi, những tên tội phạm ẩn nấp trong Thượng Viện . Ðồng hương cũng vào trong TV và phân phối thư phản đối của cộng đồng đến từng văn phòng Thượng Viện và Hạ Viện . Vì đây là xứ tự do cho nên cái gì người dân không đồng ý là phải lên tiếng phản đối trong tinh thần thượng tôn luật pháp . Tiếng nói người dân luôn được lắng nghe và không hề bị đàn áp, bắt bớ gì cả.

TNS Janet Nguyễn đã xuất hiện và rất cảm động trước sự hỗ trợ, thương mến của đồng bào . Janet đã phát biểu cám ơn đồng hương. Janet nói bà là con là cháu của cộng đồng và đồng hương đến đây không chỉ bênh vực riêng Janet Nguyễn mà đến đây để bênh vực lẽ phải, quyền tự đo ngôn luận … Nhiều TNS khác cũng đi theo và phát biểu ủng hộ TNS Janet Nguyễn .


Xin gởi đến quý vị một số hình ảnh ghi nhận được,

Vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
vietlist.us
Vietlist.us

Chính Phủ “Không Giống Ai” Trong Lịch Sử Hoa Kỳ – Hà Nhân Văn

Wednesday, January 25th, 2017

 Là một ngôi sao lớn ở Hollywood, tỷ phú D. Trump mở đầu với “kịch bản” lạ lùng! Nội các của ông “không giống ai” trong 240 năm lịch sử lập quốc Hoa kỳ (1776-2016), ông là đại kịch sĩ đã đành mà còn lành nghề chơi phé, nhà poker số 1! Khó kiếm được ai như D. Trump, mùa tranh cử vừa qua có lúc gần cháy túi (vụ chộp vào chỗ kín của người đẹp), Trump vẫn thản nhiên “cạn láng” rồi (về chính trị), tẩy sất rồi, ông vẫn lao tới tố! Chưa có một nội các nào tập trung tả, hữu, tiền, hậu, 4 ông đại tướng 4 sao thứ dữ TQLC với nền nếp cố hữu chỉ có công không được lùi, lội từ biển lên bờ như “Mad Dog” J. Mattis. Lại thêm một hải cẩu “Seal Zinke”, Biệt đội 4 trên sa mạc A Phú Hãn, Iraq, kể cả Syria! Ông Hải cẩu này chắc hẳn giữ chắc “tay hòm chìa khóa” của chìm của nổi vô tận của Uncle Sam từ núi đồi Montana đến Wyoming, N. S. Dakota, Nebraska, Arizona. Thật là trời định, chủ tịch UB Tham mưu liên quân QL Mỹ lại do một Đại tướng TQLC do TT Obama bổ nhiệm! Một tướng 4 sao giám đốc cục an ninh quốc gia cũng do TT Obama bổ nhiệm.
Như chúng ta đã biết, TQLC Mỹ như là một chuỗi dài truyền kỳ (legendary) và huyền thoại (myth) của quân lực Mỹ, lại thêm LLĐB Alpha và các “thần linh” biển cả, sa mạc The Seal! Ối chà! Đương kim chỉ huy trưởng TT huấn luyện Seal, trung tâm huấn luyện duy nhất là một chàng Đại tá Mỹ gốc VN! Bất ngờ khác, trong cảnh quang mùa Giáng Sinh, ông D. Trump bồi thêm một “cú” trực quyền vào mặt thương trường TH Đỏ. Bất ngờ ông Trump lập Hội đồng thương mại quốc gia Mỹ! Bất ngờ có thể nói làm Bắc Kinh choáng váng! Tân TT Trump bổ nhiệm tác giả “Death by China” làm Chủ tịch, giáo sư kinh tế ĐH Irvine, Nam Cali., nổi tiếng quốc tế lên án tội ác thương mại của Trung Cộng trên toàn cầu!

QUÝ CHÚC TÂN NIÊN
Nhân dịp Tân niên 2017, bản báo và Hà Nhân Văn trân trọng quí chúc độc giả đồng hương, một năm mới an khang, toàn gia mạnh khỏe. Quí cụ ông, quí cụ bà thân tâm an lạc trong tuổi vàng. Một văn hào Pháp nói: “Cuộc đời chẳng ra cái quái gì. Nhưng cũng chẳng có gì giá trị cho bằng cuộc đời” (La vie ne vaut rien, mais rien ne vaut la vie). Ở vào tuổi cao niên mới cảm thấy rõ rệt không gì quý cho bằng cuộc đời mà cuộc đời về già chỉ có sức khỏe là đáng quí hơn tất cả.



Ai dám ngờ, quí cụ ta sống vào ngày tháng này lại được nghe tân Tổng thống Donald Trump hướng về Bắc Kinh “chửi” ông Ba Đỏ là “ăn cắp”! Ông Ba Đỏ cho phát ngôn viên dọa “sau ngày 20-1-2017 này, D. Trump sẽ biết tay ta”! Năm 2017 này là năm đối đầu Mỹ Trung chăng? Trong hơn 20 năm qua, từ China Daily đến The Global Times và phát ngôn viên Hồng Lỗi, Hoa Xuân Oánh, rỉ rả chửi Mỹ với nhiều thậm từ hơn nhiều. Vậy ông D. Trump trả miếng là đồ ăn cắp thì cũng là “ông mất của nọ bà chìa của kia”! Chiếc “tàu ngầm tí hon” không người lái nổi lên ở hải phận quốc tế, tàu khảo cứu của hải quân Hoa Kỳ chưa kịp vớt lên thì chiến hạm TC đã chộp ngay, cách Subic Bay 50 dặm.

Hãy nghĩ lại, thượng đỉnh Hàng Châu G20, bộ Ngoại Giao Bắc Kinh làm nhục ông Obama như thế nào. Đón rước và tiếp đãi 20 phái đoàn nguyên thủ quốc gia G20 là bổn phận của nước chủ nhà “đăng cai“ luân phiên. Bắc Kinh chơi luật rừng thô bạo, không đưa cầu thang lớn bắc lên cửa lớn để khách bước xuống đã là thiếu lịch sự. TT Obama và phái đoàn phải đi cửa sau, báo chí Hoa ngữ gọi là “Hậu Môn”, cửa sau. Bộ Ngoại Giao Mỹ thiếu gì người đọc được Hoa ngữ, vậy báo Hoa ngữ Bắc Kinh dùng chữ “hậu môn” còn “đểu cáng thô tục hơn” là 2 chữ ăn cắp mà ông Trump nổi giận sử dụng.


GIÁN ĐIỆP VÀ ĂN CẮP



Các nước Đông Tây gián điệp lẫn nhau là việc thường tình. Nhưng TC tổ chức gián điệp khác với KGB Liên Xô và phản gián Nga hiện nay. Theo sự mô tả cuả báo chí Hồng Kông vừa qua (Dec 17, 2016), TC không tổ chức gián điệp qui mô như Nga và các nước Tây Âu. Từ thời Giang Trạch Dân, TC đơn giản hóa ngành gián điệp ở ngoại quốc: chính yếu là Tân Gia Ba, Đài Loan, Thái Lan và ngay tại Hoa Kỳ: mỹ nhân kế và bỏ đô la mua tài liệu khoa học và siêu kỹ thuật của Mỹ, hơn 30 năm qua đã rất hiệu quả! Họ bỏ công, không quản ngại dài lâu và tốn phí đi tìm các kỹ sư, cao học, nhất là cao học (Master) và tiến sĩ người Hoa làm tại các đại công ty kỹ nghệ Hoa Kỳ, họ móc nối mua chuộc, nhất là mỹ nhân kế (phụ người Hoa xinh đẹp đã được huấn luyện về nghiệp vụ tình báo và mỹ nhân kế). Họ dụ dỗ mua chuộc, thu lượm các tài liệu mật về khoa học và kỹ thuật, nhất là những phát minh mới của các đại công ty.

Tân Gia Ba và Đài Loan là 2 mục tiêu chính. Thí dụ, họ đã dùng mỹ nhân kế lôi kéo được một Thiếu tướng Quân đội Đài Loan. Thiếu tướng này là một chuyên gia thượng thặng về siêu điện toán và mã số. Nhờ vậy, qua mỹ nhân kế, gián điệp Bắc Kinh thâu tóm được các tài liệu tối mật của Mỹ rồi TC dựa vào đó chế tạo theo. Thí dụ, Đài Loan mua F.16 của Mỹ, họ dùng mỹ nhân kế quyến rũ được một tướng lãnh trẻ 2 sao và đã đánh cắp được toàn bộ hình đồ của máy móc F.16 rồi dựa vào F.16 của Mỹ, họ chế tạo phản lực cơ J.20 v.v…

Tài liệu của The Economist trước đây cho biết, thí dụ về radar cực kỳ tối tân của Hoa Kỳ và phản lực cơ tàng hình. Cuối cùng, một cách kỳ công, họ vẫn đánh cắp được qua các kỹ sư và chuyên gia thượng thặng người Hoa làm cho các đại công ty kỹ nghệ tiền tiến Hoa Kỳ, nên vào năm 2015 chẳng hạn, Hoa Kỳ có thứ gì kỹ thuật cao thì TC cũng có thứ đấy. Thí dụ, hội chợ quốc tế Nam Ninh tháng 8, 2016 vừa qua, Bắc Kinh cho một số máy bay tàng hình biểu diễn, kể cả loại “drones” của Hoa Kỳ. Đó là lý do họ theo dõi và bám sát chiếc tàu ngầm “tí hon” không người lái cũng gọi là drone, tàu khảo cứu của hải quân Mỹ thả xuống đáy biển thuộc hải phận quốc tế.

Khi chiếc drone này vừa nổi thì khu trục hạm của TC lao tới ngay và chộp liền vào trưa thứ năm, ngày Nov. 16, cách Subic Bay 57 dặm theo phát ngôn viên HQ Hoa Kỳ. Nhà phân tích quân sự ĐH Khoa học chính trị và luật Thượng Hải Ne Lixing, đây là một thử thách giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Cộng; và đây cũng là dấu chỉ thách đố giữa Mỹ, Nhật và TC, Ne Lixing nói: “Đây là quyền lợi cốt lõi của TQ” (China’s core interests). Đó cũng là dấu chỉ rõ, Bắc Kinh trắc nghiệm phản ứng của Hoa Kỳ. Bộ Tổng tư lệnh TBD lên tiếng ngay nhưng nhẹ nhàng, lịch sự yêu cầu chiến hạm TC trả lại ngay chiếc drone của Mỹ. Bất ngờ, rất bất ngờ, TT đắc cử D. Trump mạnh mẽ lên tiếng trên twister của ông lại cáo buộc “TC ăn cắp”. Bộ NG Trung Cộng trả lời lịch sự lắm. TC sẽ hoàn trả ngay. Nhưng Tổng quân ủy của QĐND TC (gọi là Giải phóng quân) qua phát ngôn viên Hua Chunyung (Hoa Xuân Oánh) lại nói thêm rằng, đây là chủ quyền của họ! Dù vậy, Bắc Kinh giải quyết ổn thỏa và hiểu rằng, không thể giỡn với tân TT D. Trump” (xem: Drone seizure of latest times with Beijing – The Washington Times, Dec. 20, 2016). Đã có nhiều dấu hiệu ông Trump “tougher times with China”. Do đó, lái buôn quốc tế H. Kissinger lên đài NBC lớn tiếng khuyên tân tổng thống nên hòa hoãn và hợp tác với Bắc Kinh! Xin chờ xem.

TRUMP VÀ DÂN CHỦ MỸ

Bầu cử Tổng thống ngày 8-11 vừa qua, bà Clinton thắng đối thủ Trump 2 triệu 800,000 phiếu (tính số chẳn) nhưng bà thua ông Trump đến 36 phiếu cử tri. Như vậy ông Trump đã thắng lớn. Nền dân chủ Mỹ khác khá nhiều so với Tây phương, Nhật Bản và Úc.

Bởi đây là một liên bang gồm 50 nhà nước. Ta dịch “state” là tiểu bang chỉ là dịch theo ý. The State là một nhà nước, tiếng Pháp là l’État. Chính phủ quốc gia VN ra đời ngày 8-3-1949 do cựu Hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng, quốc hiệu là État du VN hay State of VN. Phải nói là, Hoa Kỳ có 51 chính quyền, một liên bang và 50 bang lớn hay nhỏ đều bình đẳng như nhau, chỉ khác là số dân biểu hạ nghị viện nhiều hay ít, tùy theo dân số, gọi là “Representative” hay Congressman. Mỗi bang lớn hay nhỏ đều được bầu 2 nghị sĩ (nhiệm kỳ 6 năm, không giới hạn). Tiểu bang Delaware chỉ bằng 1 quận (county) của tiểu bang Penny., dân số Delaware chỉ đủ bầu một dân biểu với 2 thượng nghị sĩ y như tiểu bang Montana, Wyoming, Idaho v.v… Từ thời lập quốc cách nay 240 năm mới chỉ có 13 tiểu bang. Để các tiểu bang lớn như New York, Pennsy… không thể trùm lấp lên các tiểu bang nhỏ như Vermont, Delaware … Cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ căn cứ theo số phiếu cử tri đoàn của các tiểu bang. Duy trì cho đến nay, tiểu bang Cali. lớn nhất, cử tri đoàn tính theo số dân biểu liên bang cộng 2 nghị sĩ. Cư tri đoàn Cali là 55, trong khi tiểu bang Montana, Delaware chỉ có một dân biểu cộng 2 TNS nên cử tri đoàn chỉ có 3 thành viên. Ứng cử viên nào thắng số phiếu tiểu bang thì cũng thắng luôn cử tri đoàn.



Thời lập quốc, các quốc phụ sợ rằng bầu cử Tổng thống có thể dân chúng bị lầm, bị tuyên truyền, có thể “tay sai ngoại bang len lén vào” hoặc mắc trọng tội mà che giấu hay những điều không xứng khác (unfit to be US President) nên hiến pháp định rằng, sau tổng tuyển cử, ngày 19 tháng 12 cùng năm, đại cử tri đoàn các tiểu bang bầu lại một lần nữa, bầu bất cứ ai mà thành viên Đại cử tri đoàn lựa chọn. Có thể bầu một người ngoài 2 ứng cử viên đã bầu (một thắng một bại). Ngày 19-12, các thành viên Đại cử tri đoàn lên thủ phủ tiểu bang của mình và bỏ phiếu. Thí dụ tiểu bang Texas thì lên Austin, N. Virginia thì xuống thủ phủ Richmond.

Đây mới là lần bầu cử chính thức. Đúng 50 tiểu bang tiến hành bầu cử đồng loạt ngày 19-12. Kết quả bầu cử đại cử tri đoàn ngày 19-12 vừa qua: ông D. Trump được 304 phiếu, mất 2 phiếu so với ngày 8-11, bà Clinton mất 5 phiếu, bầu cử ngày 8-11, bà Clinton được 332 phiếu (thua ông Trump 74 phiếu, không phải là nhỏ). Có thể nói ông Trump đã đại thắng. Kỳ này, 19-12, bà Clinton mất 5 phiếu, chỉ còn 327 phiếu. Ngày 6-1-2017 tới đây, quốc hội liên bang họp khoáng đại do Phó TT Biden và CT Hạ viện Paul Rayan đồng chủ tọa. Phó TT Biden tuyên đọc kết quả bầu cử đại cử tri đoàn 19-12, quốc hội bỏ phiếu thông qua. Bấy giờ ứng cử viên D. Trump mới chính thức đắc cử tổng thống Hoa Kỳ thứ 45 (tổng thống chín nút). Giả dụ cuộc bỏ phiếu của Đại cử tri đoàn ngày 19-12 không ứng cử viên nào được 270 phiếu hiến pháp qui định, quốc hội tiến hành bầu: hạ nghị viện bầu tổng thống, thượng nghị viện bầu phó tổng thống.

TỐI CAO PHÁP VIỆN CAN THIỆP
Đúng 12 giờ trưa ngày 20-1, tân tổng thống và phó tổng thống tuyên thệ nhập chức ngày đăng quang do Chính Nhật (the Chief Justice) Chủ tọa, tân TT phải để tay trên cuốn kinh Thánh và thề. Trường hợp TT John Kennedy bị ám sát ở Dallas năm 1960, Phó TT Lyndon Johnson cấp tốc bay xuống ngay Dallas tháp tùng thi hài cố TT và Đệ Nhất phu nhân Jacqueline bay về thủ đô. Ngôi tổng thống không thể để bỏ trống dù là một thời gian rất ngắn vì ông còn là Tổng tư lệnh quân lực Hoa Kỳ (bao gồm cả Vệ binh quốc gia – National Guard và Tuần duyên – Coast Guard, trực thuộc bộ giao thông vận tải).

Phó TT Johnson mời một bà Chánh án liên bang (bạn ông) lên máy bay, chủ tọa lễ tuyên thệ. Đệ nhất phu nhân áo còn vấy máu ông chồng. Trên phi cơ Air Force One không có cuốn kinh thánh nào, may mắn, phòng của TT còn để trên bàn sách Thánh mà TT thường đọc. Phó TT Johnson đặt tay trên cuốn sách Thánh, do bà chánh án ở Allas chủ tọa lễ tuyên thệ. Phó TT Johnson lên ngôi TT Hoa Kỳ trên máy bay!

Chánh Nhất, Tối cao pháp viện ngồi ghế chánh thẩm xử án TT. Thí dụ, TT Clinton bị quốc hội bãi nhiệm (impeach) qua vụ án bê bối tình dục ở phòng Bầu dục tòa Bạch ốc. Thượng nghị viện họp khoáng đại, Chánh Nhất Tối cao pháp viện chủ tọa phiên xử. Thượng viện Mỹ im lặng như tờ, rất trang nghiêm. Chánh Nhất Remquist bước lên ghế Chánh thẩm, cả thượng viện đồng loạt đứng lên chào. Im lặng một chút, ông Tối cao Remquist tuyên án một câu, phiên xử đã xong. Ông Tối cao Remquist đứng dậy rời phòng. Tất cả các TNS lặng lẽ cùng rời phòng. TT Clinton được tha bổng!
Trường hợp Phó TT Al Gore, cựu Đại úy TQLC từng chiến đấu ở VN, làm phó 8 năm cho ông Clinton. Ông ra tranh cử với ông Bush trẻ, thắng ông Bush trẻ trên nửa triệu phiếu phổ thông, ông Bush trẻ thắng phiếu cử tri đoàn, chỉ được 271 phiếu nhờ phiếu cử tri đoàn Florida, nơi em ruột ông đang làm thống đốc. Đòi đếm lại lần thứ 2, Tối cao pháp viện can thiệp: ngưng đếm lại phiếu. Nhờ vậy ông Bush trẻ đắc cử với 271 phiếu cử tri đoàn, ông cũng thắng cử như vậy trong cuộc bầu cử Đại cử tri đoàn. Do vậy, dư luận gọi ông Bush trẻ đắc cử là do Tối cao pháp viện!

LIÊN BANG HOA KỲ
Liên bang Hoa Kỳ khác khá nhiều liên tỉnh bang Canada, liên bang Đức quốc và liên bang Cộng hòa Nga Sô hiện nay.
Chỉ có 50 tiểu bang mới được bầu Tổng thống, Phó TT, Thượng nghị viện và Hạ nghị viện liên bang. Các lãnh thổ hải ngoại không bầu TT, Phó TT và lưỡng viện quốc hội liên bang, ngoại trừ những ai là công dân Mỹ (citizen). Thí dụ như Puerto Rico, Guam, US Virgin, US East Samor. Dân lãnh thổ hải ngoại cũng là dân Mỹ (nationality) nhưng không phải là công dân, tự bầu Thống đốc, Phó TĐ và quốc hội của lãnh thổ (territories) trực thuộc bộ nội vụ liên bang.

CHẶN ĐỨNG TC Ở TBD
Không mấy ai quan tâm đến cuộc bổ nhiệm dân biểu Montana làm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Hoa Kỳ. Thường thường dư luận và kể cả báo chí không mấy quan tâm đến Bộ Nội Vụ, chỉ như một tổng cục điền địa, hầm mỏ và tài sản chìm của liên bang. Thí dụ như N and S Dakota, Montana, Wyming, sa mạc Arizona, Nebraska, W. Virginia, Pennsy … Liên bang làm chủ có thể nói mênh mông, bất tận! Lấy Alaska làm thí dụ. Tổng thống Johnson có con mắt viễn kiến tuyệt vời, ông lấy ngân sách ra 150,000 đô la vàng mua lãnh thổ Alaska của Hoàng đế Nga Tsar với diện tích rộng nhất so với các tiểu bang khác như Pennsy, New York, với 586,400 dặm vuông. Quốc hội nổi giận, các tiểu bang nổi giận lên án Johnson “điên” xài phí ngân sách quá lớn để mua miền đất hoang vô dụng, tuyết đá phủ kín … Tổng thống bị đưa ra quốc hội luận tội để cách chức. May mắn ông được chánh án TCPV và 4 Tối cao phụ thẩm công lý (Associate Justices) tha bổng! Do vụ mua Alaska, TT Johnson bị thất cử nhiệm kỳ 2. Sau đệ II Thế chiến, nhất là sau cách mạng CS Bôn Sơ Vích Nga tháng 10-1917 và sự thành lập Liên bang Sô Viết và Đệ Tam quốc tế CS, Hoa Kỳ bừng tỉnh, “hú vía” với Alaska trong tay Mỹ! Alaska trở thành tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ ngày 31-1-1959. Tài nguyên của Alaska vô giá, mênh mông dưới lòng đất, ngoài các giếng dầu và hơi đốt, Alaska còn nhiều nguồn mỏ quí và hải sản! Các hoàng đế Alaska là nhất hạng trên thế giới. Tài sản của Alaska cũng như các tiểu bang chia làm 2 phần, một của tiểu bang và một của liên bang do Bộ Nội Vụ quản trị. Nhiều tiểu bang phải thuê đất của liên bang.

 

Hơn 2 thập niên qua, TC đổ tràn vốn vào các tiểu bang, đầu tiên với danh nghĩa đầu tư hợp tác phát triển, các công ty TC thuê đất cuả các quận, thành phố và tiểu bang để xây nhà, dạng cao ốc, họ mua các bệnh viện, trường học, nhà thờ, có nghĩa là phải thuê đất mà các cơ sở trên tọa lạc. Nhưng theo luật liên bang chỉ thuê với đất liên bang. Thậm chí họ mua lại các công ty kỹ nghệ của Mỹ, thí dụ công ty chế tạo loại phi cơ nhỏ Cessna ở Minnesota! Nhờ vậy, kỹ nghệ cao của TC học được kỹ thuật cao của Hoa Kỳ, ngoại trừ kỹ nghệ quốc phòng vào loại tối mật. Hoa Kỳ có thứ kỹ thuật nào, Hoa Lục có thứ ấy. Thí dụ tủ lạnh và điện toán. Nhưng liên bang Mỹ phát hoảng, nhiều công ty TC lại thuê đất của quận, thành phố (vốn sở hữu của liên bang).



Cứ đà này, không bao lâu nữa, như tằm ăn dâu, TC sẽ làm chủ một phần lớn đất đai, sông suối của Hoa Kỳ. Bất giác, liên bang khám phá ra, đại gia TC đang lùng kiếm thuê đất đai mà dưới lòng đất là tài nguyên vô giá. Họ mua nhà thờ Mỹ đâu phải để thờ phụng Thiên Chúa mà là kinh doanh “buôn thần bán thánh”, nhà thờ là nơi trốn thuế, là chốn cộng đồng, họp bạn đồng hương làm ăn! Một đại công ty TC có tổng trụ sở ở Thẩm Quyến dự trù bỏ ra cả trăm tỷ $US đầu tư xây một con đường xe lửa liên bang cao tốc từ SFC chạy ngang các tiểu bang đến nhà ga trung ương, thủ đô Washington DC! Tốc độ từ 700 đến 900 km giờ. Xe lửa cao tốc này sẽ cạnh tranh với kỹ nghệ hàng không Mỹ.

Đường xe lửa cao tốc này sẽ đè bẹp một số hãng hàng không trên lộ trình từ Tây qua Đông. TC kẹt to! Đường cao tốc này họ rất khôn ngoan quỷ quyệt hợp tác chung với tư bản Hoa Kỳ. Đường này phải đi qua lãnh thổ của các tiểu bang, tiểu bang không cho thuê là vô phương! Đường cao tốc qua đất đai, cầu đường của liên bang phải do Bộ Nội Vụ gật đầu. Chưa đủ, còn phải do quốc hội liên bang OK! Hoa Kỳ lo ngại rằng tư bản TC sẽ nhảy vào Cali, Alaska và các đảo của Mỹ ở TBD nhưng là vùng biển bao la Micronesia mà số trước tôi đã đề cập! Quần đảo Madras Islands như hòn đảo thần tiên. Saipan và Guam, Nhật Bản chiếm đóng từ năm 1941-1944.

Trong thời chiến tranh lạnh, đây là căn cứ chiến lược tối mật của Hoa Kỳ. Vài thập niên nay, lợi dụng các đảo Micronesia được độc lập trở thành một Liên Bang Cộng Hòa Dân Chủ do Bộ Nội Vụ Hoa Kỳ bảo trợ, TC đổ vốn vào đây, mua chuộc, đầu tư, thuê đất, lập cơ sở, càng ngày càng lộ liễu công khai. Hãy tưởng tượng ai về đảo thần tiên Saipan, thủ đô của Micronesia, đâu đâu ta nghe thấy tiếng chó sủa (miền Bắc VN gọi là chó cắn ma, chó sủa bóng ma) sáng sáng nghe tiếng gà gáy! Nhà cư dân không cần cửa đóng then cài, lác đác mấy ông cảnh sát không đeo súng. Nhưng toàn vùng Micronesia lại là vùng đại chiến lược của Hoa Kỳ ở Á Đông – TBD. HNV tôi rất khâm phục ai đó, cố vấn cho TT D. Trump cử ngay một ông Seal đang là dân biểu nhiệm kỳ thứ 2, từ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ. Ông Seal Biệt đội 6 này sẽ ổn định Alaska, sẽ nắm lại trong tay Micronesa và US East Samoa, chặn TC không thể tiếp tục bành trướng dưới danh nghĩa hợp tác, đầu tư, phát triển, thuê đất đai, bán hàng hóa cho dân bản xứ “mua một cho 2, 3” …

BẤT NGỜ VÀ BẤT NGỜ

Thời vận động tranh cử, tỷ phú D. Trump nói với các ký giả: Không ai tiên đoán nổi những gì tôi sẽ làm đâu (unpredictable). Có trời đoán: Trump không lừa ai mà tập đoàn Tập Cận Bình bị lừa to, bẽ mặt trong khi long trọng, “cực kỳ” long trọng đón tiếp lái buôn quốc tế H. Kissinger, họ Tập tưởng rằng, tỷ phú Trump, tân TT Mỹ phải gửi sứ giả qua “báo cáo” với họ Tập về bang giao Trung – Mỹ! Ai ngờ, họ Kít chỉ là đại diện ông chủ lớn (big boss) của đế quốc Trump trên nước Tàu! Trump đốt cháy cựu ứng cử viên CH Donnelly thành một đống tro tàn sặc mùi hôi khi ông tha thiết mời ông Donnelly đến lầu 5 Trump Tower chơi, tay bắt mặt mừng, dùng cơm chiều với nhau, Trump ăn thịt bò, Donnelly ăn thịt ếch. Thật là điềm gỡ từ tiên liệu. Cóc hay ếch bỏ vào đĩa cũng thế thôi, ông Trump yêu cầu ông Donnelly chính thức lên tiếng xin lỗi ông do Donnelly đã chửi Trump có thể rất tàn tệ, bất nhẫn. Donnelly lắc đầu. Giấc mộng làm ngoại trưởng cho ông Trump tan ra mây khói, để lại tiếng xấu muôn đời! Chửi người ta tồi tệ đến thế mà còn nham nhở cười vác mặt đến diện kiến và thần phục, trong khi tân tổng thống đã có sẵn ứng viên, trên “cơ” và giá trị hơn Donnelly cả trăm lần!



Không ai ngờ chủ tịch TGĐ đại công ty Exxon Mobil sẽ là Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ. Và có lẽ không ai ngờ, 2 nhân vật lừng danh ở Mỹ và quốc tế, bà cựu Ngoại trưởng Condi Rice (da đen, hiện là giáo sư ĐH Stanford, Dòng Tên, Bắc Cali) và Trùm CIA Robert Gate, Cộng Hòa, gần 40 năm trong nghề trung ương tình báo, GĐ CIA thời TT Obama và Bộ trưởng quốc phòng của TT Obama, giới thiệu CT-TGĐ Rex Tillerson đã quá đủ! Cơ hội vàng ngọc cho TT Trump! Exxon Mobil là một “đại đế quốc” toàn cầu, với 50 chi nhánh trên thế giới.

Mặc cho Bắc Kinh la lối phản đối, Exxon Mobil vẫn tìm kiếm cho VN mỏ dầu và khí đốt ở vùng biển Côn Sơn và vịnh Thái Lan, thập niên 2010, Exxon Mobil đã rất thành công đào được các giếng mỏ hơi đốt lớn nhất, tốt nhất ngoài khơi Rạch Giá, Cà Mau, Côn Sơn, nhưng rồi lắp đi “tình hình chính trị chưa cho phép”. Bây giờ, Exxon Mobil sẽ mở các giếng dầu khí lớn nhất ĐNA thuộc chủ quyền VN! Xin chờ!

CHÍNH PHỦ TỶ PHÚ
Chính phủ D. Trump giàu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ xưa nay. Bốn Bộ trưởng có tài sản 11 tỷ đô la hay là 11,000 triệu! Thêm ông Bộ trưởng Lục quân, tài sản cả trăm triệu, có nhiệm vụ tăng quân số Lục quân lên 45,000 quân bộ chiến. Bản thân ông cũng xuất hiện từ trường Võ bị West Point.

TT D. Trump bổ nhiệm tác giả Death by China, báo chí Bắc Kinh nhất là tờ báo Đảng The Global Times la ó, chửi rủa ầm ỉ! Bản thân tác giả Death by China đã là một nhà kinh tế lên án nặng nề nền thương mại môi trường ô nhiễm, đập thủy điện Tàu Đỏ tàn bạo, gian trá như thế nào. Xin lập lại, Á Đông – TBD là “quê hương thứ hai” của những “mad dogs” TQLC Mỹ từ cuối thế kỷ 19 đến nay. Tháng này, Ngũ giác đài trả lại Okinawa 400 mẫu doanh trại. TQLC Mỹ vẫn tiếp tục cắm chiếc cờ tổng hành dinh Bắc Á tại Okinawa!

HÀ NHÂN VĂN

Thư Phản Đối Về Việc Ca Sĩ Mai Khôi Từ Chối Hát Dưới Lá Cờ Quốc Gia và Không Có Nghi Lễ Chào Cờ Khai Mạc

Monday, January 16th, 2017

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA LIÊN BANG HOA KỲ

​​THƯ PHẢN ĐỐI

Thu phan doi Mai Khoi (PDF)

VỀ VIỆC CÔ MAI KHÔI TỪ CHỐI HÁT DƯỚI LÁ CỜ QUỐC GIA, VÀ KHÔNG CÓ NGHI LỄ CHẢO QUỐC KỲ TRONG BUỔI TỔ CHỨC NHẠC THÍNH PHÒNG TẠI HOA THỊNH ĐỐN VỪA QUA 

Kính thưa toàn thể đồng bào,

Vào ngày 8 tháng 1, năm 2017 vừa qua, một sự kiện đã xảy ra tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn Hoa Kỳ làm nhiều người Việt tị nạn cộng sản khắp nơi tức giận và lên tiếng phản đối do việc cô Mai Khôi từ Việt Nam qua đã từ chối không chịu hát dưới lá cờ Quốc Gia và cờ Hoa Kỳ. Ngoài ra cũng không có nghi lễ chào cờ như thường lệ trong một buổi trình diễn thính phòng nơi công cộng, cuối cùng hai lá cờ đã phải để ở sau lưng, người tham dự vẫn ngồi nghe mà không có phản ứng nào.

Sự kiện nêu trên không thể chấp nhận được vì nhiều lý do:

1-    Lá cờ Quốc Gia và cờ Hoa Kỳ là tượng trưng cho những gì linh thiêng nhất của mỗi quốc gia (Hồn  Thiêng Sông Núi, Anh Linh Tử Sĩ…), phải được để nơi trang nghiêm, không thể bất kính như vậy.

2-    Cờ Quốc Gia là biểu tượng cho chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam yêu chuộng tự do không cộng sản, nếu không chấp nhận thì chấp nhận lá cờ nào?

3-    Đây là một buổi trình diễn có tính chính trị trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Theo tinh thần “nhập gia tùy tục”, bất cứ ai đến với cộng đồng Người Việt Quốc Gia đều phải tuân giữ những nghi lễ tối thiểu là chào cờ vàng 3 sọc đỏ (còn được gọi là cờ Quốc Gia), và cờ quốc gia nơi cư ngụ, và phút mặc niệm.

4-    Ban tổ chức và người tham dự nếu còn tự nhận là người Quốc Gia chống cộng sản, tại sao không phản ứng cấp thời bằng cách yêu cầu phải có nghi lễ chào quốc kỳ, nếu không, cần phải tẩy chay hoặc phản đối bỏ ra về.

5-    Lý do cô Mai Khôi đưa ra sợ rằng khi trở về Việt Nam sẽ bị làm khó dễ là không thuyết phục vì cô đã dễ dàng ra khỏi Việt Nam để trình diễn nhạc chống chế độ (nếu cho là như vậy), phải chăng đã có sự đồng ý của CSVN, mọi người có quyền đặt vấn đề đối với cô.

6-    Nếu cho rằng mọi người đều có quyền tự do chọn lá cờ mình ưa thích, người Việt tị nạn đã phải liều chết ra đi vì không muốn sống dưới chế độ cộng sản độc tài, vô nhân, họ có quyền tẩy chay và phản đối bất cứ ai tỏ ra bất kính đối với biểu tượng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ hoặc đi ngược với ý nguyện của họ.

Vì thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ trân trọng tuyên bố:

–       Hoàn toàn phản đối những việc đã xảy ra tại buổi trình diễn ngày 8-1-2017 nói trên và trong bất cứ các buổi tổ chức tương tự nào khác nếu có.

–       Yêu cầu tất cả những ai có trách nhiệm tổ chức phải lên tiếng xin lỗi đồng bào tị nạn cộng sản khắp nơi,

–       Đề nghị các cộng đồng người Việt tị nạn hãy phản đối dưới nhiều hình thức nếu xảy ra những sự việc tương tự tại địa phương mình.

Đây cũng là bài học để cộng đồng Người Việt Quốc Gia đề cao cảnh giác, không thể vô tâm vô cảm trước những sự việc tương tự có thể làm mất chính nghĩa đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ của chúng ta.

Trân trọng,

Ngày 14 tháng 1, năm 2017.

BS Võ Đình Hữu                 BS Đỗ Văn Hội                     Ông Lưu Văn Tươi

CT HĐĐB                              CT HĐCH                              CT HĐGS

(Đã ký)                                   (Đã ký)                                   (Đã ký)

TT đắc cử Donald Trump nói chuyện điện thoại với Thủ tướng (CS) Việt Nam

Thursday, December 15th, 2016

Reuters

By Phạm Mỹ | HÀ NỘI

Trong một cuộc điện đàm, Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump nói với Thủ tướng (CS) Việt Nam, ông muốn tăng cường hơn nữa mối quan hệ nhanh chóng giữa hai nước. Tin từ nhà cầm quyền của quốc gia Đông Nam Á cho biết hôm thứ Năm như vậy.

Việt Nam đã có sự tiến bộ trong quan hệ với Hoa Kỳ với một cấp độ mới dưới chính quyền Obama vì phải đối mặt với thách thức của cộng sản Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở tuyến đường hàng hải bận rộn của Biển Đông.

Trong cuộc điện đàm hôm thứ Tư, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng Ông Trump đã thắng cử và nhấn mạnh tầm quan trọng việc duy trì tình hữu nghị và hợp tác.

Trang web tin tức của Việt Nam cho biết “Tổng thống mới đắc cử Trump đã đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam, cũng như những phát triển tích cực trong quan hệ song phương,”.

“Ông cũng khẳng định mong muốn của ông về sự hợp tác với Việt Nam để thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước.”

Ông Trump đã có những cuộc điện đàm với một số nhà lãnh đạo của các quốc gia liên hệ trong các tranh chấp hàng hải với Trung Quốc, trong đó có Nhật Bản, Philippines và Đài Loan.

Chính sách thương mại của ông Trump đi ngược lại lợi ích của Việt Nam do sự phản đối hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP là một trở ngại lớn cho xuất khẩu của các nước Đông Nam Á đến Hoa Kỳ.

Ông Trump và Ông Phúc thảo luận phương cách thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư, nguồn tin cho biết thêm.

Trong một tuyên bố, nhóm chuyển giao của Ông Trump xác định cuộc điện đàm này, nói rằng hai ông đã “thảo luận các lợi ích được chia sẻ và đồng ý làm việc với nhau để tiếp tục củng cố mối quan hệ giữa hai quốc gia”.

Chỉ vài ngày sau chiến thắng của ông Trump, ông Phúc đã nói với Quốc hội tạm hoãn sự phê chuẩn của TPP vì thay đổi chính trị ở Hoa Kỳ, nhưng Việt Nam vẫn muốn có quan hệ tốt với Washington.

Trong một diễn tiến khác, một tàu khu trục Mỹ Mustin với hỏa tiễn, đã đến thăm cảng quốc tế Cam Ranh hôm thứ năm nhân thời điểm bảo trì kỹ thuật thường xuyên, tòa đại sứ Hoa Kỳ cho biết.

Chuyến thăm của tàu là “một ví dụ của chiều sâu quan hệ đối tác toàn diện của chúng tôi và tầm quan trọng của việc tăng cường quan hệ dân sự và quân sự của chúng tôi”, Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius nói.

Việt Nam đã ủng hộ Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện an ninh ở châu Á. Washington đã hoàn toàn dỡ bỏ lệnh cấm vũ khí sát thương đối với Việt Nam trong tháng Năm, cho phép liên hệ quốc phòng gần gũi hơn và một số cuộc tập trận quân sự chung.

(Tưởng trình của Phạm Mỹ tại Hà Nội; bổ sung của Steve Holland ở WASHINGTON; chỉnh sửa bởi Clarence Fernandez)

http://www.reuters.com/article/us-usa-trump-vietnam-idUSKBN1440CC

Tường tình Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31 tại New York (lần thứ 17 với phái đoàn Việt Nam)

Thursday, July 7th, 2016

Năm nay ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31 năm 2016 đã được tổ chức vào 11 giờ sáng thứ bảy 18  tháng 6, năm 2016 trên đại lộ 6th Avenue (Avenue Of Americas). Chủ đề cho Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế năm nay được chọn là “Nữ Anh Thư Triệu Thị Trinh”..

Mời xem tiếp…

Phái Đoàn Người Việt Gặp Gỡ Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc tại New York

Thursday, July 7th, 2016

Tin New York – Nhân dịp tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 31, vào lúc 11 giờ sáng Ngày thứ sáu 17 tháng 6 năm 2016, một phái đoàn người Việt Hải ngoại đã họp với văn phòng Cao Uỷ Nhân Quyền LHQ tại New York. Phái đoàn đã tiếp xúc với bà Nicole Bijerler, phụ tá đặc biệt Tổng Thư Ký LHQ (Assistant General Secretary  for Human Rights) về vấn đề Nhân Quyền.

Mời xem tiếp…

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM THÔNG BÁO KHẨN Số 2 (6-2016)

Tuesday, June 21st, 2016

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM

THÔNG BÁO KHẨN

Số 2 (6-2016)

V/v: Chùa Liên Trì sắp bị cưỡng chế giải tỏa vào ngày 23/6/2016.

 

Theo một nguồn tin đáng tin cậy được Hoà Thượng Thích Không Tánh xác nhận, Uỷ Ban Nhân Dân quận 2, Phường An Khánh Sài gòn đã họp nhiều lần và ra quyết định sẽ tiến hành cưỡng chế giải toả, xóa bỏ chùa Liên Trì tọa lạc tại 153 Lương Đình Của, Phường An Khánh, Quận 2, Sài gòn vào ngày 23/6/2016.

 

Hiện nay, sức khỏe của Hòa Thượng Thích Không Tánh không được tốt. Các tăng ni chỉ biết cầu nguyện trước hành động phá chùa cướp đất này của bạo quyền Cộng sản.

 

Việc giải tỏa Chùa Liên Trì của nhà cầm quyền đã có dự tính từ lâu nhằm triệt hạ những cơ sở tôn giáo độc lập không chịu nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Tuy nhiên, do áp lực của công luận của quốc tế, họ đã tạm thời chưa thực hiện chờ cơ hội thuận tiện.

 

Nay Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam xin trân trọng thông báo khẩn đến Quý Chức Sắc tôn giáo khắp nơi, quý vị thành viên Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, quý tổ chức dân sự, cộng đồng và đồng bào trong và ngoài nước biết trong tinh thần hiệp thông, đoàn kết bảo vệ tự do tôn giáo, bảo vệ nhân quyền có mặt trước chùa Liên Trì trong ngày 22 và 23-6-2016 để phản đối, ngăn chặn việc phá chùa cướp đất nói trên.

 

Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam trân trọng kêu gọi:

 

– Đồng bào trong và ngoài nước đồng loạt lên tiếng tạo dư luận để ngăn chận hành động đàn áp tôn giáo, triệt hạ cơ sở tôn giáo độc lập của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

– Các cơ quan quốc tế nhân quyền, các chính phủ tự do dân chủ trên thế giới khẩn thiết lên tiếng và hành động nhằm ngăn chận việc giải tỏa một cơ sở tôn giáo độc lập cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hiện nay.

Nguyện Cầu Hồn Thiêng sông núi phù trợ cho chúng ta.

 

Việt Nam ngày 21 tháng 6, 2016

 

TM Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam

Đồng Chủ Tịch:

 

–       Hòa Thượng Thích Không Tánh

–       Linh Mục Phan Văn Lợi

–       Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa

–       Chánh Trị Sự Hứa Phi

–       Đạo Huynh Lê Văn Sóc

 

Tổng Thư Ký: Lê Quang Hiển

Đính kèm: danh sách các chức sắc trong Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam đồng ký tên.

 

          Cao Đài:

– Chánh trị sự Hứa Phi (điện thoại: 0163.3273.240)

– Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (điện thoại: 0988.971.117)

– Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (điện thoại: 0988.477.719)

          Công Giáo:

– Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi (điện thoại: 0984.236.371)

– Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại (điện thoại: 0935.569.205)

– Linh mục An-tôn Lê Ngọc Thanh (điện thoại: 0993.598.820)

– Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc (điện thoại: 0122.596.9335)

– Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình (điện thoại: 01692498463)

          Phật Giáo:

– Hòa thượng Thích Không Tánh (điện thoại: 0165.6789.881)

– Thượng tọa Thích Viên Hỷ (điện thoại: 0937.777.312)

– Thượng tọa Thích Đồng Minh (điện thoại: 0933.738.591)

          Phật Giáo Hoà Hảo:

– Ông Nguyễn Văn Điền (điện thoại: 0122.870.7160)

– Ông Lê Quang Hiển (điện thoại: 0167.292.1234)

– Ông Lê Văn Sóc (điện thoại: 096.4199.039)

– Ông Phan Tấn Hòa (điện thoại: 0162.6301.082)

– Ông Tống Văn Chính (điện thoại: 0163.574.5430)

– Ông Bùi Văn Luốc (điện thoại: 0169.612.9094)

– Ông Hà Văn Duy Hồ (điện thoại 012.33.77.29.29).

 Ông Trần Văn Quang (điện thoại 0169.303.22.77)

          Tin Lành:

– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (điện thoại: 0121.9460.045)

– Mục sư Đinh Uỷ (điện thoại: 0163.5847.464)

– Mục sư Đinh Thanh Trường (điện thoại: 0120.2352.348)

– Mục sư Nguyễn Trung Tôn (điện thoại: 0162.838.7716)

– Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (điện thoại: 0906.342.908)

– Mục sư Lê Quang Du (điện thoại: 0121.2002.001)

​Xin bấm nghe video HT Thích Không Tánh lên tiếng.

https://youtu.be/uXkxKjD3ths

Việt Nam tiếp tục đàn áp biểu tình vụ cá chết (VOA 6/6/2016)

Monday, June 6th, 2016
Cuộc tuần hành ở Hà Nội ngày 5/6/2016 chỉ diễn ra một thời gian ngắn đã bị giải tán.

Cuộc tuần hành ở Hà Nội ngày 5/6/2016 chỉ diễn ra một thời gian ngắn đã bị giải tán.

Hàng chục người bị bắt giữ tại Hà Nội và Sài Gòn hôm qua (5/6) khi tham gia các cuộc tuần hành ôn hòa kêu gọi minh bạch hóa nguyên nhân khiến cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung từ đầu tháng tư tới nay.

Những người biểu tình dùng các trang mạng truyền thông xã hội để thống kê và truyền tin về các vụ bắt giữ tại hai thành phố lớn.

Các video được loan tải nhanh rộng trên Facebook chiếu cảnh công an Hà Nội dùng võ lực áp giải nhiều người tham gia biểu tình lên hai chiếc xe buýt chở về đồn trong khi một số người khác bị bắt tại Sài Gòn thậm chí trước khi họ tham gia tuần hành.

Tin cho hay tại Hà Nội có khoảng 30 người bị câu lưu sau khi cuộc tuần hành vừa khởi sự được chừng 15 phút thì bị lực lượng công quyền trấn dẹp.

Cái sợ lớn nhất của chế độ này đó là mọi người nhận thức và mọi người không sợ nữa. Chính vị vậy, đây là cơ hội khá tốt giúp những người lâu nay thờ ơ với cuộc sống cảm thấy đã đến lúc chính họ cũng phải nói, biến nỗi lo thường trực này thành việc mà tất cả cùng có thể lên tiếng.

Hình ảnh chia sẻ trên các trang mạng xã hội cho thấy đoàn người biểu tình ở Hà Nội xếp hàng dài tuần hành trong im lặng, tay cầm những biểu ngữ yêu cầu nhà nước trả lời nguyên nhân gây thảm họa môi sinh chưa từng có trước nay, kêu gọi bảo vệ môi trường, và phản đối công ty thép Formosa của Đài Loan ở Hà Tĩnh, nghi can chính trong đại án cá chết.

Internet đặc biệt là các trang mạng xã hội như Facebook, nơi người dân phát tán thông tin về các cuộc tuần hành cũng bị cản trở truy cập từ một ngày trước.

Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế lên án việc Việt Nam đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa đòi hỏi quyền lợi chính đáng và quyền được sống trong môi trường minh bạch-trong lành chứng tỏ một chính quyền cực kỳ vô trách nhiệm.

Phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á trong Human Rights Watch, ông Phil Robertson, nói với VOA Việt ngữ:

“Nhà nước Việt Nam đàn áp biểu tình, từ chối trả lời những câu hỏi rất chính đáng của người dân về thảm trạng đang diễn ra cho thấy một thái độ hết sức vô trách nhiệm, chứng tỏ nhà chức trách dùng quyền hành của mình để buộc mọi người câm lặng thay vì phải trả lời dân như bất kỳ một chính phủ nào khác thường làm. Thay vì điều tra và công bố nguyên nhân cho dân rõ, nhà cầm quyền Việt Nam lại đàn áp những người thực thi quyền tụ tập ôn hòa căn bản của công dân để yêu cầu trách nhiệm từ nhà chức trách. Người dân mất kế sinh nhai, những người bị ảnh hưởng cuộc sống vì thảm họa môi trường này họ phải được giải đáp thỏa đáng.”

Human Rights Watch mô tả hành động của chính phủ Việt Nam là ‘kinh khủng’ và kêu gọi để cho người dân được bày tỏ quan điểm, chấm dứt chiến dịch vi phạm nhân quyền qua việc sách nhiễu, đe dọa, giam giữ người biểu tình.

Nhà nước Việt Nam đàn áp biểu tình, từ chối trả lời những câu hỏi rất chính đáng của người dân về thảm trạng đang diễn ra cho thấy một thái độ hết sức vô trách nhiệm, chứng tỏ nhà chức trách dùng quyền hành của mình để buộc mọi người câm lặng thay vì phải trả lời dân như bất kỳ một chính phủ nào khác thường làm.

Các cuộc tuần hành, tọa kháng vì cá chết trên cả nước trong thời gian qua liên tục bị trấn dẹp bằng võ lực, nhiều nhà hoạt động bị quản thúc tại gia vì lý do giữ gìn trật tự xã hội với lực lượng an ninh được ghi nhận đông gấp nhiều lần người tuần hành.

Nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một người tham gia các cuộc biểu tình tại Nha Trang, cho rằng hành động trấn áp biểu tình xuất phát từ một mối lo sợ sâu xa từ nhà chức trách:

“Cái sợ lớn nhất của chế độ này đó là mọi người nhận thức và mọi người không sợ nữa. Chính vị vậy, đây là cơ hội khá tốt giúp những người lâu nay thờ ơ với cuộc sống cảm thấy đã đến lúc chính họ cũng phải nói, biến nỗi lo thường trực này thành việc mà tất cả cùng có thể lên tiếng.”

Dù giới hữu trách thành công trong việc quét nhanh, dẹp gọn các cuộc xuống đường tại nhiều miền đất nước, nhưng đó chỉ là thành quả trước mắt, khó lòng tránh được hậu quả lâu dài, theo nhận định của một người tham gia các cuộc tuần hành vừa qua tại Hà Nội. Anh Trần Quang Nam nói:

“Họ đạt được nhiệm vụ đấy nhưng lòng dân sẽ không yên. Trong lòng tất cả mọi người đều không hài lòng. Việc đấy càng kéo dài thì sức chịu đựng của người dân càng dồn nén lại. Rồi mọi người càng ngày càng hiểu ra bản chất của chính quyền hiện nay, đến một lúc nào đó người dân sẽ phản ứng dữ dội hơn.”

Việt Nam tiếp tục đàn áp biểu tình vụ cá chết

Sau gần 2 tháng trì hoãn đưa ra lời giải đáp, nhà chức trách Việt Nam hồi tuần trước công bố đã xác định được nguyên nhân gây cá chết hàng loạt từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, đến Thừa Thiên Huế, nhưng nói rằng còn phải chờ phản biện khoa học mới có thể thông báo ra công luận nguồn gốc sự việc là gì.

Các cuộc tuần hành vì vấn đề môi sinh được công luận trong và ngoài nước quan tâm không được phản ánh trên truyền thông chính thống, dù báo chí nhà nước thoạt đầu tập trung vào nghi phạm Formosa.

http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-tiep-tuc-dan-ap-bieu-tinh-vu-ca-chet/3363590.html

Tuyên bố chung: giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

Tuesday, May 24th, 2016

Nhận lời mời của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Đại Quang, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam để chào mừng sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và thúc đẩy tầm nhìn chung của họ cho tương lai. Nhân dịp chuyến thăm vào ngày 23 tháng năm năm 2016 trong cuộc họp giữa hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Việt Nam đã thông qua bản Tuyên bố chung này.

Hai bên hài lòng ghi nhận sự tăng trưởng nhanh chóng, có thực chất, và toàn diện của quan hệ Mỹ-Việt Nam trong năm qua, được mang đến bởi các đối tác toàn diện Mỹ-Việt Nam năm 2013 và Tuyên bố chung Tầm nhìn công bố trong chuyến thăm lịch sử tới Mỹ của Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2015.

Các lợi ích chung của Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp tục mở rộng thông qua tăng cường trao đổi các phái đoàn ở các cấp và duy trì cơ chế đối thoại; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ vào quan hệ thương mại và tăng cường đầu tư; tăng cường hợp tác trong giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, an ninh, quốc phòng, quan hệ giữa người với người, nhân quyền, nhân đạo, và các vấn đề di sản chiến tranh. Quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam ngày càng gia tăng đã góp phần tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và tôn trọng luật pháp quốc tế trong khu vực, xây dựng một khu vực dựa trên luật pháp. Cùng nhau, chúng ta đang giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, y tế toàn cầu, không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, gìn giữ hòa bình, và buôn bán động vật hoang dã.

Hướng tới mục tiêu đó, hai nước đã tái khẳng định nghĩa vụ của mình để tuân thủ các điều lệ của Liên Hợp Quốc, cam kết tôn trọng luật pháp quốc tế, hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của họ. Hoa Kỳ và Việt Nam cũng cam kết tăng cường và phát triển cộng đồng ASEAN, hợp tác với cộng đồng quốc tế để đối phó với những thách thức toàn cầu. Cả hai bên cam kết sẽ làm việc với nhau nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện trong các lĩnh vực sau:

Tăng cường Quan hệ chính trị và ngoại giao

Hai bên cam kết tiếp tục trao đổi phái đoàn các cấp, đặc biệt là ở cấp cao, tăng cường đối thoại giữa các cơ quan của Chính phủ hai nước. Hai bên có ý định mở rộng đối thoại cấp cao thường niên giữa hai Bộ Ngoại giao để thảo luận biện pháp tăng cường quan hệ đối tác toàn diện và thảo luận các vấn đề khác mà hai bên cùng quan tâm. Hai bên đồng ý rằng việc tăng cường tin cậy lẫn nhau đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho tình thân hữu bền vững, lành mạnh và lâu dài và hợp tác.

Thúc đẩy Quan hệ kinh tế

Hai quốc gia tập trung thúc đẩy hợp tác kinh tế, bao gồm thương mại, đầu tư, khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, và sự thay đổi khí hậu. Hai bên khẳng định rằng quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là lĩnh vực kinh tế và chiến lược quan trọng, sẽ thúc đẩy thương mại và đầu tư với nhau, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện, tạo công ăn việc làm. Hai bên khẳng định cam kết của mình để sớm phê chuẩn và thực hiện đầy đủ các thỏa thuận tiêu chuẩn cao cấp này, bao gồm các cam kết về đầu tư, tạo thuận lợi cho kinh doanh và phát triển, sở hữu trí tuệ, dệt may, dịch vụ, lao động và môi trường. Mỹ cam kết hỗ trợ Việt Nam thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực mạnh mẽ để thực hiện và đáp ứng các tiêu chuẩn cao của TPP có hiệu quả. Hai bên cũng khẳng định lại cam kết của họ để đảm bảo rằng tăng trưởng kinh tế toàn diện và tạo cơ hội cho tất cả, được đẩy mạnh bằng cách thúc đẩy sự đổi mới, doanh nghiệp và phát triển kinh tế bền vững. Hai bên nhấn mạnh rằng hợp tác phát triển tiếp tục là một động lực trong mối quan hệ song phương. Cả hai nước cam kết thúc đẩy thương mại song phương và đầu tư, sẽ tiếp tục làm việc theo hướng truy cập các mặt hàng công nghiệp, nông nghiệp, và thuỷ sản. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết sẽ tham khảo ý kiến ​​thông qua nhóm hành động song phương tăng cường một cách hợp tác và toàn diện về mong muốn của Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường. Cả hai nước đều hoan nghênh việc ký kết các hợp đồng thương mại lớn nhân dịp chuyến thăm viếng, như công ty VietJet mua 100 máy bay Boeing và động cơ Pratt & Whitney, cũng như một biên bản ghi nhớ về năng lượng gió giữa GE và chính phủ Việt Nam.

Tăng cường hợp tác giữa người và người.

Hai bên khẳng định ủng hộ việc tăng cường quan hệ giữa người với người để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, hợp tác và hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Hoa Kỳ hoan nghênh chính phủ Việt Nam chấp nhận cơ quan Peace Corps đến dạy tiếng Anh ở Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam hoan nghênh việc thành lập Trường Đại học Fulbright Việt Nam, đó sẽ là đại học Việt Nam có đẳng cấp thế giới. Cả hai bên hoan nghênh các thỏa thuận song phương cấp thị thực nhập cảnh một năm và nhiều lần cho du khách kinh doanh và du lịch ngắn hạn của hai nước. Cả hai bên đánh giá cao và ghi nhận sự thành công của cộng đồng người Mỹ gốc Việt và những đóng góp của họ vào việc thúc đẩy quan hệ song phương.

Tăng cường an ninh và Hợp tác Quốc phòng

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết của họ để tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước như đã nêu trong Bản ghi nhớ về Thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương năm 2011 và Tuyên bố Tầm nhìn chung Mỹ-Việt Nam về quan hệ quốc phòng ký kết năm 2015, ưu tiên hợp tác nhân đạo , di sản chiến tranh, an ninh hàng hải, gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Cả hai bên khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh, chống tội phạm xuyên quốc gia, và an ninh mạng. Việt Nam hoan nghênh quyết định của chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Việt Nam hoan nghênh Hoa Kỳ hỗ trợ an ninh hàng hải – kể cả thông qua Sáng kiến ​​An ninh Hàng hải (MSI), các chương trình giảm mối đe dọa, hợp tác và tài trợ quân sự nước ngoài – và mong muốn hợp tác với Hoa Kỳ để tăng cường khả năng hàng hải của Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký một thư ghi nhớ về ý định thành lập một nhóm hành động hợp tác nhân đạo và sáng kiến lưu trữ y tế (CHAMSI), sẽ thúc đẩy hợp tác về hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Mỹ tái khẳng định ủng hộ vai trò gìn giữ hòa bình của Việt Nam lần đầu tiên bằng cách hỗ trợ Việt Nam trong lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc vào năm 2017.

Cả hai nước đều bày tỏ sự hài lòng về nỗ lực chung của họ để thúc đẩy giải quyết các vấn đề di sản nhân đạo và chiến tranh. Đặc biệt, Hoa Kỳ đánh giá cao sự hợp tác tích cực của Việt Nam hỗ trợ sứ mệnh nhân đạo bằng cách cung cấp đầy đủ tin tức có thể về các quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh. Cả hai bên cam kết tiếp tục hợp tác loại bỏ các phế liệu chất nổ. Việt Nam hoan nghênh sự hợp tác dẫn đến kết thúc thành công giai đoạn đầu tiên việc xử lý chất dioxin tại sân bay quốc tế Đà Nẵng, với giai đoạn cuối cùng đã được tiến hành. Hoa Kỳ cam kết hợp tác với Việt Nam để thực hiện đóng góp đáng kể làm sạch ô nhiễm dioxin ở căn cứ không quân Biên Hòa.

Cổ vũ nhân quyền và cải cách pháp luật

Cả hai nước cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người phù hợp với hiến pháp riêng của họ và với cam kết quốc tế tương ứng. Hai nước hoan nghênh những kết quả của cuộc đối thoại tích cực, thẳng thắn và xây dựng về quyền con người, đặc biệt là vòng thứ 20 của Đối thoại Nhân quyền giữa Hoa Kỳ-Việt Nam vào tháng Tư năm 2016, để thu hẹp sự khác biệt và tiếp tục xây dựng lòng tin. Hoa Kỳ hoan nghênh những nỗ lực liên tục của Việt Nam trong việc cải thiện hệ thống pháp luật và thực hiện các cải cách pháp luật nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người theo Hiến pháp năm 2013. Việt Nam đã thông báo với Mỹ về kế hoạch điều chỉnh, sửa đổi, và dự thảo luật mới, trong đó có Luật về Tôn giáo và Tín ngưỡng, Luật về Lập Hội, Luật sửa đổi bổ sung trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi bổ sung hồ sơ pháp lý, Luật Ban hành Quyết định hành chính. Cả hai bên đều công nhận những đóng góp mà các tổ chức xã hội và tôn giáo tiếp tục thực hiện trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, và các dịch vụ xã hội ở cả hai nước. Cả hai bên khuyến khích hợp tác hơn nữa để đảm bảo rằng tất cả mọi người – không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, và khuynh hướng tình dục, và bao gồm cả người khuyết tật – được hưởng đầy đủ các quyền con người của họ. Hoa Kỳ và Việt Nam đã đón nhận một thư thỏa thuận về thực thi pháp luật và hỗ trợ tư pháp.

Tuyên bố về thách thức khu vực và toàn cầu

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết chia sẻ của họ để giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và hàng hải, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình ngoại giao và pháp lý, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS). Cả hai nước nhấn mạnh cam kết của các bên tranh chấp để tránh những hành động làm trầm trọng  thêm hoặc mở rộng tranh chấp, và xác nhận tầm quan trọng của việc thực hiện nghiêm chỉnh “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên” (DOC),  hành động để đẩy nhanh sự đàm phán với những kết quả thực tế để sớm kết thúc Quy tắc ứng xử (COC). Về vấn đề này, cả hai nước bày tỏ quan ngại nghiêm trọng về diễn biến gần đây ở Biển Đông đã gây ra những căng thẳng, lòng tin bị xói mòn và đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định. Cả hai nước đều công nhận sự cấp thiết của việc ủng hộ tự do hàng hải và hàng không và thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông, kêu gọi cam kết phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong việc giải quyết các tranh chấp, tái khẳng định sự chia sẻ Tuyên bố Sunnylands, và cam kết hợp tác chặt chẽ với các đối tác khác của ASEAN trong việc thực hiện Tuyên bố đó.

Mỹ tái khẳng định cam kết của mình để chủ động phối hợp và hỗ trợ Việt Nam trong việc tổ chức thành công APEC 2017.

Hoa Kỳ và Việt Nam tái khẳng định cam kết giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và thực hiện Hiệp định (khí hậu) Paris. Họ mong muốn giai đoạn đầu của Hiệp định được thực hiện, và cả hai đều cam kết sẽ chính thức gia nhập Hiệp định vào năm 2016. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết thực hiện một số hành động thiết thực để thúc đẩy làm dịu và thích ứng về khí hậu, cũng như tăng cường tính minh bạch và xây dựng khả năng trong quan hệ đối tác khí hậu giữa Mỹ-Việt Nam, bao gồm cả ở đồng bằng sông Cửu Long. Công việc sắp tới sẽ xây dựng trên các kết quả của sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong việc thực hiện chương trình Sáng kiến ​​Hạ lưu sông Mekong. Hoa Kỳ cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam ứng phó với nạn hạn hán tồi tệ nhất vừa qua trong hơn 90 năm và xâm nhập nước mặn, và trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong lưu vực sông Mekong. Là một đối tác phát triển của Ủy hội sông Mekong (MRC), Hoa Kỳ bày tỏ cam kết của mình để hỗ trợ hợp tác giữa các thành viên MRC và giữa các thành viên Ủy hội và các cơ chế khác trong khu vực trong việc sử dụng, quản lý và phát triển nguồn nước xuyên biên giới một cách hiệu quả và bền vững.

Hai nước đã bày tỏ sự ủng hộ cho một sự hợp tác hạt nhân dân sự mở rộng như tìm cách giảm thiểu phế thải từ ngành năng lượng toàn cầu, việc ký kết Thỏa thuận hành chính theo Hiệp định Mỹ-Việt về hợp tác trong hòa bình việc Sử dụng năng lượng hạt nhân (Hiệp ước “123”), và các tiêu chuẩn cao nhất về an toàn, an ninh và không phổ biến hạt nhân. Cả hai nước hoan nghênh kết quả thành công của năm 2016 Hội nghị thượng đỉnh an ninh hạt nhân và cam kết sẽ tiếp tục làm việc với nhau để tăng cường cấu trúc an ninh hạt nhân toàn cầu. Hai bên có ý định thành lập Uỷ ban hỗn hợp Hoa Kỳ-Việt Nam về hợp tác hạt nhân dân sự để tạo điều kiện cho việc thực hiện các Hiệp định 123.

Hai nước cam kết sẽ duy trì sự thành công trong hợp tác và lãnh đạo dưới Chương trình nghị sự An ninh y tế toàn cầu (GHSA), đặc biệt đối với sự hợp tác của các trung tâm hoạt động khẩn cấp và phát hiện ổ dịch và phản ứng ở người và động vật với, cũng như thực hiện một lộ trình quốc gia để đạt được từng mục tiêu GHSA. Mỹ cam kết hỗ trợ nâng cao năng lực của Việt Nam trong y học ven biển. Hoa Kỳ và Việt Nam cam kết sẽ làm việc cùng nhau trong khu vực và trên toàn cầu để ngăn chặn, phát hiện và ứng phó với các mối đe dọa đại dịch, cả hai nước khẳng định sẽ thực hiện sự đánh giá chung về những nỗ lực trong năm 2016.

Cả hai quốc gia cũng khẳng định lại cam kết cùng hành động chống buôn bán động vật hoang dã và bảo vệ đa dạng sinh học dưới sự hợp tác mới của Hoa Kỳ và Việt Nam để phòng chống buôn bán động vật hoang dã.

Làm sâu đậm thêm quan hệ đối tác dài hạn

Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện giữa Hoa Kỳ-Việt Nam, làm cho nó sâu đậm hơn, thực chất hơn, và hiệu quả hơn để phục vụ tốt hơn cho lợi ích của nhân dân hai nước vì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới.

BT lược dịch

Nguồn:

https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2016/05/23/joint-statement-between-united-states-america-and-socialist-republic

Tuyên bố của các tổ chức xã hội dân sự độc lập về thảm họa quốc gia

Friday, May 6th, 2016

TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỘC LẬP

VỀ THẢM HỌA QUỐC GIA TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG

29-04-2016

          A- Xét rằng:                 

          1- Bắt đầu từ ngày 6-4-2016, trên địa bàn các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế và một phần Quảng Nam đã xảy ra hiện tượng nhiều loài cá sống ở tầng đáy và vùng duyên hải (có cả cá voi) chết hàng loạt trôi vào bờ. Cá, ngao nuôi trong đầm gần biển và lồng bè trên biển cũng đồng số phận, gây ô nhiễm môi trường chưa từng thấy và hết sức nghiêm trọng. Song song đó, một thợ lặn thi công xây dựng đê chắn sóng ở cảng Sơn Dương (Hà Tĩnh) đã qua đời hôm 24-04. Ngày 26-04, 5 thợ lặn khác tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã phải vào bệnh viện sau khi lặn từ khu vực biển Vũng Áng lên. Ít nhất đã có hơn 20 trường hợp cấp cứu ở huyện Phúc Trạch (Quảng Bình) vì ăn các loại hải sản nghi nhiễm độc. Cũng khoảng 200 thực khách dự tiệc khai trương một nhà hàng tại huyện Quảng Trạch bị trúng độc sau khi thưởng thức các món cá biển.

          Từ cả tháng nay, hàng vạn ngư dân phải đưa thuyền lên bờ phơi nắng và nhịn đói, đời sống họ hoàn toàn bị đảo lộn; các đầm và bè cá bị mất hàng chục tỷ đồng. Trong khi chưa có thống kê chính thức về tổng mức thiệt hại, ước tính sơ khởi của Hà Tĩnh cho biết đã có 37 ngàn cá giống, 90 vạn tôm giống, 20 vạn ngao giống bị nhiễm độc mà chết, trị giá khoảng 4,7 tỷ đồng.

          Công luận cho rằng nguyên ủy của tất cả vụ việc chính là nhà máy gang thép Hưng Nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) do Đài Loan và Trung Quốc đầu tư dưới danh nghĩa tập đoàn Formosa. Nơi đây, hôm 04-04, một ngư dân đã phát hiện một đường ống xả thải khổng lồ chôn ngầm dưới biển đang phun rất mạnh một thứ nước màu vàng đục, có mùi hôi thối, ngửi vào thấy ngạt thở. Tập đoàn Formosa sau đó đã thừa nhận rằng hàng ngày họ xả 12.000m3 nước thải ra biển và gần đây, để cọ rửa hệ thống dẫn nước này, họ đã sử dụng 300 tấn hoá chất mà theo một số chuyên gia là có nhiều loại cực độc (Tuổi Trẻ 24-04-2016).

          2- Đang khi ấy thì nhà cầm quyền Cộng sản lại phản ứng hết sức khó hiểu. Nhiều quan chức trung ương lẫn địa phương hoặc đã đưa ra những cảnh báo muộn màng (ngày 20-04, thứ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường mới yêu cầu các địa phương có cá chết phải tuyên truyền rộng rãi để người dân không sử dụng chúng làm thực phẩm hay thức ăn gia súc); hoặc những trấn an giả dối (ngày 23-04, thứ trưởng Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn bảo rằng cá bị nhiễm độc đều đã chết và đã được chôn nên bây giờ bắt được cá sống thì có thể ăn, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cho biết nhiều loại thủy sản vẫn sinh trưởng bình thường trong các lồng bè ở Vũng Áng và người dân có thể yên tâm tắm ở vùng biển này); hoặc những tuyên bố mâu thuẫn (Thứ trưởng Bộ TN-MT khẳng định đường ống xả thải ra biển của Formosa đã được cấp phép, đang khi  Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường của bộ cho hay nhà máy này chưa được phép xả thải. Thanh Niên 23-4-2016).

          Dù thảm họa xảy ra từ hôm 06-04, nhưng đến ngày 26-04, đoàn công tác của Bộ Công thương mới đến kiểm tra công ty Hưng Nghiệp sau khi đã báo cho họ trước 4 ngày (RFA 23-04-2016). Còn Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn thì cho biết khu công nghiệp Vũng Áng có yếu tố nước ngoài nên đoàn công tác không vào kiểm tra được !?! Riêng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì ngày 22-04 mới đến Vũng Áng nhưng chỉ để đôn đốc dự án xây cảng Sơn Dương và còn khen Hà Tĩnh đi đúng hướng, chứ tuyệt không có một lời nào về tình trạng cá biển chết thảm chất đầy bờ bãi và tiếng kêu của dân chúng đang cất lên ngút trời. Còn tân chính phủ thì trong cuộc thị sát ở tỉnh Hà Tĩnh hôm 24-04, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng mới cam kết sẽ ‘xử lý nghiêm’ thủ phạm, và hôm sau, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mới chỉ thị các địa phương phải hỗ trợ ngư dân bị thiệt hại và nhanh chóng đưa ra kết luận để có biện pháp thích đáng. Tối 27-04, Bộ TN-MT đã tổ chức 1 cuộc gặp gỡ báo chí trong 10’ để chỉ đọc một thông cáo chính thức cho hay rằng vụ cá chết ở các tỉnh miền Trung chưa có bằng chứng liên can đến Formosa!

          3- Nhưng chính Formosa hiện bị xem là nghi can số một. Tập đoàn này, cuối năm 2012, đã được nhà cầm quyền giao cho 2000 ha đất tại Vũng Áng để xây nhà máy gang thép Hưng Nghiệp và 1,200 ha mặt nước để làm cảng Sơn Dương. Dự án đã khiến cho 3,000 gia đình bị thu hồi đất, giải tỏa nhà, ảnh hưởng đến cuộc sống của khoảng 20,000 người. Chưa hết, Formosa còn được dành nhiều ưu đãi: thuê đất 70 năm nhưng từ năm thứ 16 mới phải trả (80 đồng/m2); miễn nộp thuế thu nhập trong 4 năm và 9 năm sau đó giảm một nửa, được đem cả hàng chục ngàn nhân công từ Trung Quốc sang làm việc, được hoạt động như một đặc khu mà các cơ quan chức năng của Việt Nam không dễ vào để kiểm tra an toàn môi trường cũng như mọi hoạt động của nó. Đang khi đó, Vũng Áng cũng là một yếu huyệt về an ninh quốc phòng!

          Thế nhưng tập đoàn Formosa từng có những thành tích bất hảo. Năm 1998 họ đã đưa khoảng 5000 tấn chất thải độc hại kể cả thủy ngân vào thị trấn Sihanoukville – Campuchia, gây nên cuộc khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng ảnh hưởng đến hơn 1000 cư dân bản địa. Hồi tháng 09-2009, chính quyền Hoa Kỳ tại hai bang Texas và Louisiana đã buộc Formosa Plastics chi hơn 10 triệu đôla để xử lý vi phạm thải chất độc ra không khí và nguồn nước tại hai nhà máy của họ. Nên cũng trong năm này, tập đoàn bị trao giải “Hành tinh đen” do Ethecon, một cơ quan bảo vệ sinh thái ở Đức dành cho những cá nhân/tổ chức đã có những hành động phá hủy môi trường.

           Chính vì não trạng đó mà hôm 25-4, khi bị chất vấn vì sao từ khi nhà máy hoạt động, vùng nước quanh đường ống xả thải ngầm ra biển chẳng còn tôm cá hay sinh vật, ông Chu Xuân Phàm – giám đốc đối ngoại của Formosa – đã có những phát biểu đầy thách thức ngang nhiên và thừa nhận trắng trợn: Muốn bắt cá bắt tôm hay muốn xây dựng một ngành thép hiện đại, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được. Hồi xưa, khi giải phóng mặt bằng đã tính phương án hỗ trợ ngư dân chuyển sang nghề khác, sao cứ phải đánh bắt cá quanh vùng biển này?”.

          B- Từ những vụ việc trên, các tổ chức xã hội dân sự độc lập nhận định:

          1- Đây là một khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng, vì nó ảnh hưởng hết sức tai hại đến hiện tại cuộc sống của người dân và tương lai phát triển của đất nước:

          Việc ô nhiễm nước biển (mà rồi đây sẽ lan tới vịnh Hạ Long và mũi Cà Mau do dòng hải lưu chảy hai chiều theo mùa) đã và sẽ hủy diệt mọi sinh vật trong lòng Đông hải chưa biết đến bao lâu mới phục hồi, nó cũng giết chết ngành chăn nuôi hải sản của cư dân ven biển. Đang khi đó thì việc đánh bắt xa bờ từ lâu đã trở thành bất khả do sự hoành hành của Trung Quốc. Điều ấy khiến Việt Nam mất đi nguồn thực phẩm đã nuôi sống dân tộc từ hàng ngàn năm qua, và cũng mất luôn nguồn thủy sản xuất khẩu!

          Việc ô nhiễm nước biển cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất muối và nước mắm lẫn chất lượng của hai sản phẩm này, hai thứ gia vị quan trọng mà 90 triệu đồng bào phải sử dụng thường nhật. Điều này tạo nên một hiểm họa lớn lao cho sức khỏe của giống nòi dân Việt. Việc ô nhiễm nước biển ngoài ra còn phương hại đến ngành du lịch, vì dọc bờ biển miền Trung có rất nhiều khu nghỉ dưỡng. Và rồi đây, có người dân nào còn dám đi tắm biển?

          2- Đây là một thảm họa quốc gia lớn lao, vì từ nay buộc phải lên bờ sinh sống một giới đông đảo mà nhà cầm quyền từng gọi là cột mốc di động của chủ quyền quốc gia trên biển. Đông hải sẽ dễ dàng trở thành nơi Trung Quốc mặc sức tung hoành để cuối cùng chiếm trọn như mưu đồ từ lâu của họ. Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia ven biển với một kẻ thù trong biển và một kẻ thù ngoài biển.

          3- Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bảo bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo.

          4- Đây là một cơ hội để tái khẳng định: Mọi người sinh ra đều có quyền được sống trong một môi trường sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái. Quyền đó là một phần không thể thiếu trong tổng thể quyền con người, bao gồm quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được cung cấp thực phẩm, quyền có nước sạch và quyền được bảo đảm an toàn vệ sinh. Không có môi trường lành mạnh, con người không thể sinh tồn để thực hiện các quyền tự do và khát vọng của mình.

          Ngoài ra, môi trường là điều kiện tiên quyết để thụ hưởng quyền con người. Trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ nhân quyền, nhà nước phải bảo đảm mức độ an toàn cần thiết về môi trường để người dân sinh sống. Đây là bổn phận không thể tránh né của nhà cầm quyền. Thứ đến, trong các quyền con người, quyền được tiếp cận thông tin, quyền tham gia vào tiến trình ra quyết định và quyền tìm kiếm công lý khi xảy ra sự tàn phá môi trường là những quyền cơ bản để người dân xây dựng môi trường lành mạnh cho cuộc sống của mình. Đây là quyền bất khả xâm phạm của công dân.

          C- Do đó, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tuyên bố như sau:

  1. Tập đoàn Formosa phải chấm dứt ngay lập tức các hành động gây nên sự tàn phá môi trường; phải thực hiện mọi biện pháp tái lập môi sinh trong sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái cho con người lẫn các loài sinh vật tại các vùng biển bị tác hại; phải bồi thường mọi thiệt hại về môi trường cũng như sinh mạng và đời sống vật chất của người dân tại các vùng biển bị tác hại.
  2. Nhà cầm quyền cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ, cứng rắn, không vì lợi ích nhóm mà nhu nhơ với Formosa, không để Formosa thi hành việc xả thải gây ô nhiễm từ từ thay vì gây độc cấp tính như vừa qua, bởi lẽ hậu quả của biện pháp đối phó này sẽ là cá, người và biển chết chầm chậm; phải sẵn sàng xoá bỏ dự án Formosa, nếu những nguy hiểm tiềm tàng mà dự án gây ra không thể triệt tiêu được; kỷ luật các quan chức trung ương và địa phương vô trách nhiệm và có thể có tham nhũng, tiêu cực trong việc chấp thuận dự án Formosa và trong việc xử lý vụ đầu độc biển. Trước mắt, nhà cầm quyền phải ban bố tình trạng khẩn cấp về môi trường, nhanh chóng xác định nguyên nhân và thủ phạm gây ra hiểm họa, khởi tố hình sự vụ án đặc biệt nghiêm trọng này, công bố chính xác thiệt hại do vụ ô nhiễm gây ra, mời các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm trong việc điều tra ô nhiễm môi trường để có những đánh giá độc lập.
  3. Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, các tổ chức xã hội và chính trị độc lập, các cộng đồng tôn giáo, các nhà báo tự do, xin hãy tham gia bày tỏ thái độ bất khoan nhượng đối với những hành động gây tác hại môi trường sống lúc này cũng như trong tương lai (kể cả dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, dự án nhà máy điện nguyên tử và dự án các đập thủy điện…). Xin hãy tham gia cách ôn hòa nhưng quyết liệt vào mọi hình thức: viết bài, lên tiếng, hội luận, chụp hình với khẩu hiệu, nhất là biểu tình vào ngày 01-05 tới.

          Dân Việt chúng ta quyết không chọn con đường tăng trưởng kinh tế với cái giá hi sinh môi trường đất nước, quyền lợi dân nghèo, chủ quyền quốc gia. Dân Việt chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cầm quyền ngu dốt, tham lam, bán rẻ dân tộc vì tham vọng cá nhân, lợi lộc và phe đảng. Dân Việt chúng ta quyết không chịu chết thảm như những con cá nhiễm độc ở biển Đông lúc này!

          Việt Nam, ngày 29 tháng 4 năm 2016.

          Các tổ chức xã hội dân sự độc lập đồng ký tên

01- Bach Dang Giang Foundation. Đại diện: Ths Phạm Bá Hải.

02- Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: Giáo sư Phạm Xuân Yêm.

03- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Ts Nguyễn Quang A

04- Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ. Đại diện: Ms Nguyễn Hoàng Hoa

05- Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần tuý. Đại diện: Ông Lê Quang Hiển

06- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Ms Nguyễn Trung Tôn

07- Hội bảo vệ Quyền tự do Tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân

08- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng

09- Hội Cựu tù nhân Lương tâm. Đại diện: Bs Nguyễn Đan Quế, Lm Phan Văn Lợi.

10- Hội Dân oan đòi quyền sống. Đại diện: Bà Hồ Thị Bích Khương.

11- Hội Giáo chức Việt Nam. Đại diện: Nhà giáo Vũ Mạnh Hùng

12- Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam. Đại diện: Ts Phạm Chí Dũng

13- Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Đại Diện:  Bà Huỳnh Thị Xuân Mai

14- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Ks Đỗ Nam Hải. Nv Nguyễn Xuân Nghĩa.

15- Mạng lưới Blogger Việt Nam. Đại diện: Cô Phạm Thanh Nghiên.

16- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Lm Nguyễn Hữu Giải.

17- Nhóm Người Bảo vệ Nhân quyền. Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ

18- Phong trào Liên đới dân oan Việt Nam. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh

19- Tăng đoàn Giáo hội PGVNTN. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh.

20- Tổ chức Bảo vệ Tôn giáo và Sắc tộc. Đại diện: Ông Huỳnh Trọng Hiếu

          Cá nhân ký tên:

01- Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội.

02- Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, Đà Lạt.

03- Nhà báo tự do Nguyễn Minh Cần, Nga.

04- Nhà báo Kha Lương Ngãi, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn.

05- Nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu.

Tuyên Cáo của CĐNVQG/LBHK về thảm họa môi trường

Friday, May 6th, 2016

TUYÊN CÁO

VỀ THẢM HỌA MÔI TRƯỜNG, THẢM HỌA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM 

Trong những ngày gần đây đã xảy ra một đại hoạ chưa từng thấy trong lịch sử đất nước Việt Nam:

  • Từ đầu tháng 4/2016, nhiều tấn tôm cá đủ loại đã hàng loạt chết dọc theo bờ biển các tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, đến Quảng Nam. Hiện tượng này đang lan dần xuống phía Nam. Nhiều người đã trúng độc, và có người đã tử vong, do tiếp xúc với môi trường ô nhiễm. Hằng chục ngàn ngư dân thất nghiệp và đang chạm trán với nạn đói. Nhiều dấu hiệu cho thấy nguyên nhân là do hóa chất thải ra từ nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, Vũng Áng (Hà Tĩnh) của công ty Formosa Đài Loan với vốn đầu tư của Tàu Cộng. Hậu quả sẽ rất nghiêm trọng cho nền kinh tế, du lịch và an ninh của đất nước, nhất là cho sức khoẻ của dân tộc Việt Nam trong hiện tại và lâu dài trong tương lai .
  • Nhà cầm quyền CSVN đã phản ứng hết sức chậm chạp, lúng túng, không đưa ra được một giải pháp nào, bộc lộ hẳn tinh thần vô trách nhiệm, bao che tham nhũng, tùng phục ngoại bang, không màng đến quyền lợi của người dân. Thảm họa này chỉ là mặt nổi của nhiều thảm họa tiềm ẩn khác đến từ các dự án nhượng đất, nhượng biển, nhượng rừng, ban đặc quyền đặc lợi cho các công ty ngoại quốc thiếu trách nhiệm, đặc biệt là từ Tàu Cộng với phương châm nô lệ và bán nước “16 chữ vàng và 4 tốt”.
  • Đồng bào trong nước đã cấp tốc phản ứng bày tỏ sự quan tâm và bất mãn cùng độ trước đại hoạ ô nhiễm, nhưng đã bị nhà cầm quyền CSVN ngăn cấm, bắt bớ, đánh đập dã man.

Thảm họa ô nhiễm tại Vũng Áng và những tai hoạ ô nhiễm khác sẽ xảy ra trong tương lai rất gần đều là hậu quả tất yếu của chế độ CSVN độc tài, toàn trị và tham nhũng. Người dân không được quyền lên tiếng, quyền quản lý đất nước, quyền thay đổi chính thể bằng lá phiếu bầu cử tự do.

Trước những sự kiện này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ long trọng tuyên cáo:

  • Đòi nhà cầm quyền đảng CSVN phải (1) tức khắc chấm dứt hoạt động của nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, tại Vũng Áng, của tập đoàn Formosa, và (2) chấm dứt hoạt động của tất cả các cơ sở khác trên toàn quốc gây ô nhiễm trầm trọng cho môi sinh tác hại đến sức khoẻ và an ninh của dân tộc trong hiện tại và tương lai.
  • Đòi nhà cầm quyền phải (1) nhanh chóng làm sạch môi trường để trả lại sinh kế cho ngư dân, và (2) bắt buộc tập đoàn Formosa bồi thường mọi thiệt hại cho các nạn nhân hành nghề cá.
  • Triệt để ủng hộ đồng bào trong nước đang đồng loạt đứng lên đòi quyền hưởng môi trường trong lành, an cư lạc nghiệp, và quyền giải quyết tận gốc rễ chế độ hiện nay để có cuộc sống tự do và dân chủ.
  • Kêu gọi tất cả cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, đảng phái, và đồng bào mọi giới tại hải ngoại phản ứng nhanh chóng và thích đáng để cùng nhau liên kết tạo sức mạnh yểm trợ đồng bào trong nước sớm đạt được các mục tiêu nói trên.
  • Thỉnh cầu Cơ Quan Liên Hiệp Quốc, các quốc gia dân chủ trên thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, khẩn cấp can thiệp để bảo vệ sức khỏe của dân và phục hồi quyền làm người cho dân tộc Việt Nam.

Ngày 5 tháng 5 năm 2016

                        BS Võ Đình Hữu                   BS Đỗ Văn Hội          Ô. Lưu Văn Tươi

                        Chủ Tịch HĐĐB                    Chủ Tịch HĐCH        Chủ Tịch HĐGS 

Và các Cộng Đồng Thành Viên

Công Bố Thành Lập Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam

Saturday, April 23rd, 2016

BẢN CÔNG BỐ THÀNH LẬP

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

*** 

NHẬN ĐỊNH RẰNG:

  1.  Sau khi vi phạm Hiệp định Paris để xâm chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn thể dân tộc Việt với một chế độ độc tài toàn trị bạo ngược, tước bỏ mọi quyền tự do căn bản của người dân được long trọng quy định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10-12-1948.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tự cho mình là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước, biến hành pháp, lập pháp, tư pháp, quân đội, công an, báo chí thành công cụ tuyên truyền, khủng bố trấn áp thô bạo những ai tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nhân quyền và dân quyền và cho sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Hậu quả là Việt Nam chẳng có uy tín trên chính trường quốc tế và bị quốc tế thường xuyên lên án về thành tích vi phạm nhân quyền.
  1.   Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương kinh tế quốc doanh là chủ đạo, các công ty nhà nước là ưu tiên, mọi tài nguyên đất đai là sở hữu của nhà nước. Nền kinh tế ngày càng lụn bại, tài chánh ngày càng kiệt quệ, nợ công ngày càng dâng cao, cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Hàng triệu công nhân bị bóc lột sức lao động, hàng chục triệu nông dân bị cướp ruộng cướp đất, hàng triệu thị dân bị cướp nhà cướp cửa. Thực lực kinh tế quốc gia và điều kiện sinh sống của công dân đứng hàng gần chót thế giới.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương khống chế tinh thần của toàn thể xã hội, độc quyền thông tin, độc quyền giáo dục, khuynh loát mọi hình thức văn hóa và các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt trong lĩnh vực tâm linh, đảng cộng sản Việt Nam đã và đang tiêu diệt các tôn giáo chân truyền, thành lập các tổ chức tôn giáo quốc doanh nhằm phục vụ chế độ vô thần, đi ngược với truyền thống của dân tộc. Các tôn giáo không đóng được vai trò lương tâm và giáo dục cho xã hội. Vì thế, dối trá tràn lan, bạo lực tung hoành, văn hóa nghệ thuật và khoa học kỹ thuật chẳng có mấy thành tựu, thế hệ trẻ lớn lên trở thành công dân mất tự do và vô trách nhiệm, không có trí tuệ và đạo đức.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng Sản Việt Namtự cho là người chủ tuyệt đối của đất nước, các cán bộ đảng viên biến mình thành những lãnh chúa ra sức bạo hành và tham nhũng. Lực lượng công an là công cụ bạo lực của đảng, ức hiếp và cướp bóc nhân dân, giết người vô tội, xã hội tràn đầy trộm cướp và lừa gạt, môi trường tràn đầy ô nhiễm và độc hại, nhân dân sống lo âu sợ hãi khắp nơi.
  1. Nhà Cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngày càng lệ thuộc Trung Cộng về ý thức hệ và chính trị, về kinh tế và tài chánh, về thương mại và kỹ thuật, khiến Trung Cộng chiếm nhiều phần lãnh thổ và lãnh hải, nhiều tài nguyên trên đất và trên biển, nhiều dự án kinh tế và thương mại. Ngoài ra, nhà cầm quyền liên tục đàn áp những công dân biểu tình chống quân xâm lược, bênh vực sự vẹn toàn lãnh thổ, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ chốngTàu và những công dân cảnh báo tai họa từ kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, nguy cơ mất nước quả thật gần kề.

Trước hiện tình bi thảm và nguy ngập đó của đất nước với bao thảm trạng và tệ nạn ấy của quốc gia, để thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn dân trong và ngoài nước, trong phiên họp ngày 28-1-2016 giữa nhiều lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, nhiều đại diện các tổ chức trong và ngoài nước, Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam được thành lập để đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của lịch sử: “Tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền –  chống đế quốc mới Trung Cộng xâm lược để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. 

NAY, HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

long trọng công bố trước quốc dân và công luận quốc tế:

  1. Hội đồng Liên kết Quốc nội và Hải ngoại Việt Nam là một tập hợp của đồng bào trong nước và cộng đồng Người Việt ngoài nước nhằm mục đích:
  • Tranh đấu khôi phục Nhân quyền và Dân quyền tại Việt Nam, thực thi đúng lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và hai Công ước Liên Hiệp Quốc về các quyền Chính trị, Dân sự, Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966.
  • Bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc và sự trường tồn của Dân tộc.
  1. Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại quyết tâm thực hiện các mục tiêu:
  • Góp phần tích cực, tạo sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong công cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho đồng bào và vẹn toàn lãnh thổ của đất nước.
  • Tạo được niềm tin cho các Hội Đoàn, Đoàn Thể, các tổ chức Xã Hội Dân Sự, các phong trào Dân Oan, Công Nhân và Tín Đồ trong nước, khiến họ sẽ tranh đấu tích cực hơn nhờ được Hội đồng Liên kết nói riêng và đồng bào hải ngoại nói chung quan tâm và hỗ trợ.
  • Đáp ứng nguyện vọng của toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước, đang mong muốn một phong trào vì dân chủ và nhân quyền dâng cao và thành tựu tương tự như Liên minh vì Dân chủ của Miến Điện đã thành công gần đây.
  • Vận động Liên Hiệp quốc, chính phủ các nước tự do và các tổ chức nhân quyền quốc tế yểm trợ, làm áp lực chặn đứng những hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền, can thiệp kịp thời cho bất cứ người dân Việt Nam nào bị sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ, giam cầm, xử án bất công.

Kính thưa toàn thể Đồng bào, 

Hơn bốn mươi năm qua, Cộng sản Việt Nam đã rước voi “Mác Lê” giầy mả Tổ, cõng rắn độc “Trung Cộng” cắn gà nhà Dân Tộc, khiến đất nước  trải qua một thời kỳ bi thảm ô nhục nhất trong lịch sử.

Toàn dân Việt Nam phải sống dưới ách thống trị bạo tàn của chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân, phản dân tộc, thế sự đảo điên, xã hội bần cùng, lòng người ly tán, nhân tâm uất hận. Đã thế, tập đoàn cầm quyền lại cam tâm khuyển mã ươn hèn tủi nhục, cúi đầu thần phục, xin làm chư hầu cho phương Bắc, đem lại “Đại Họa” cho Dân Tộc.

Tiền nhân đã viết lên những trang sử oanh liệt hào hùng bằng xương máu của biết bao thế hệ Việt Nam yêu nước. Một Lý Thường Kiệt đã đánh tan tành quân Tống năm 1075, Lê Đại Hành Phá Tống Bình Chiêm, Vua tôi nhà Trần 3 lần chiến thắng đạo quân Mông Nguyên hung hãn nhất trong lịch sử, Quang Trung Đại Đế đã “Đánh cho được để đen răng, Đánh cho được để dài tóc, Đánh cho xe giặc tan tành, Đánh cho quân thù tơi tả… Đánh cho Sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ…”. Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo: “Chỉ Nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền Văn hiến ngàn năm… Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng hào kiệt đời nào cũng có..”. Tập đoàn cầm quyền Cộng sản hèn với giặc ác với dân nhưng toàn dân Việt khí thế hào hùng bất khuất sẽ đứng lên đáp lời sông núi diệt kẻ nội thù, chống quân xâm lược.

Trước tình trạng Tổ Quốc Lâm Nguy Sơn Hà Nguy Biến, toàn thể nhân dân Việt nam trong và ngoài nước, không phân biệt nam nữ, sắc tộc, tôn giáo, địa phương, đảng phái, chính kiến, đoàn kết một lòng, quyết tâm thể hiện lòng yêu nước bảo vệ giang sơn gấm vóc.

Thanh niên sinh viên, Đồng bào dân Oan, Công nhân bị bóc lột đồng loạt đứng lên tranh đấu để giành lại tự do, đòi quyền sống, quyền làm chủ đất nước.

Kính Thưa toàn thể đồng bào,

Là con dân đất Việt lẽ nào chúng ta cam chịu cúi đầu khuất phục chấp nhận thân phận nô lệ, sống kiếp ngựa trâu, để tập đoàn Việt gian phản quốc ngang nhiên dâng hiến đất đai của Tổ Quốc, Dân Tộc bị tiêu diệt, Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới, thế hệ hôm nay sẽ đắc tội với Tổ Tông, với con cháu muôn đời sau.

– Không còn khốn khó thương đau nào hơn thống khổ hôm nay khi 90 triệu đồng bào sống trong ngục tù Cộng Sản!

– Không còn nhục nhã hờn căm nào bằng ô nhục căm hờn hôm nay khi giặc Tàu – Cộng ngang nhiên chiếm đoạt đất đai, biển đảo của chúng ta!

– Toàn dân hãy đứng lên giành quyền làm chủ của nhân dân, để chuyển đổi lịch sử, đón mừng mùa xuân dân tộc trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Toàn dân Việt phải tự quyết định số phận của chính mình và vận mệnh của đất nước chúng ta.

Đại Nghĩa Tất Thắng Hung Tàn

Chí Nhân Phải thay Cường Bạo

Nguyện cầu Hồn Thiêng Sông Núi

Phù trì Dân Tộc Việt Nam

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt.

Việt Nam Ngày 16-4-2016 

Nhằm ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương 10-3 Âm Lịch

Đồng Chủ Tịch:

– HT Thích Không Tánh, Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– LM Phan Văn Lợi, Đồng ChủTịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– CTS Hứa Phi (Cao Đài Chơn Truyền), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– Nhân sĩ Lê Văn Sóc (PGHHTT), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN).

– MS Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành) Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.

– BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch HĐĐB Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– BS Đỗ văn Hội, Chủ Tịch HĐCH Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Lưu văn Tươi, Chủ Tịch HĐGS Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

– Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh, Chủ Tịch UB Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, Cố Vấn CĐNVQGLB

Hoa Kỳ.

– Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh, CT Phong Trào Diên Hồng Thời Đại.

– Phó TS Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây

Ninh Hải Ngoại.

– Nhân sĩ Cao Xuân Khải, PCT Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Tôn Giáo Việt Nam.

– Nhân sĩ Trần văn Đông, TTK Liên Hội Người Việt Canada.

– Nhân sĩ Trần Văn Bính, Hội Người Việt Tự Do Vancouver Canada, Ban Yểm trợ Truyền

Thông Khối 8406.

– BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, CT Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức.

***

Liên lạc:

Email: LienlacQnHn@gmail.com

Website: www.LienketQnHn.org

Thông Báo về “Vietnam War Summit”

Thursday, April 21st, 2016

THÔNG BÁO

Về “Vietnam War Summit”

(Hội Thảo Thượng Đỉnh Chiến Tranh Việt Nam)

tại Thư Viện LBJ, Austin, Texas

Kính thưa:

  • Quý vị Lãnh Đạo các Tôn Giáo, Cộng Đồng, Đoàn Thể,
  • Quý Thân Hào Nhân Sĩ, Truyền Thông Báo Chí và
  • Toàn thể Đồng bào tại Hoa Kỳ, hải ngoại.

Ngày 5 tháng 4, 2016, Thư Viện Lyndon Baines Johnson (LBJ) ở Austin, Texas thông cáo sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam được mệnh danh “Vietnam War Summit” (tạm dịch “hội thảo thượng đỉnh chiến tranh Việt Nam”) từ 26 đến 28 tháng 4, 2016, được Đại Học University of Texas bảo trợ nhằm đưa ra một “cái nhìn thật sự và rõ ràng về chiến tranh Việt Nam”.

Trong buổi hội thảo còn có sự hiện diện của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry với tư cách diễn giả chính. Ông sẽ trình bày sự quan hệ giữa chính phủ Hoa Kỳ và CS Việt Nam, về sự thay đổi kinh tế và xã hội của Việt Nam so với thời kỳ Ông phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ. Buổi hội thảo được tổ chức nhân dịp ngày 30-4 sắp tới và 1 tháng trước khi TT Obama đến thăm Việt Nam.

Ngoài ra, còn có các diễn giả khác như TS Henry Kissinger, cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ thời TT Nixon; Ô. Phạm Quang Vinh, đương kim đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ và Ô. Ken Burns, một nhà làm phim sẽ thực hiện bộ phim tài liệu gồm 10 phần về cuộc chiến tại Việt Nam.

Theo Ông giám đốc thư viện Mark K. Updegrove, mục đích buổi hội thảo nhằm vinh danh các nam nữ chiến binh Hoa Kỳ đã chiến đấu anh dũng tại Việt Nam đồng thời nghiên cứu sự phức tạp của cuộc chiến, để “soi ánh sáng vào cuộc chiến tranh Việt Nam, bài học và di sản của nó” (“Our goal is to shed definitive light on the Vietnam War, its lessons and legacy.”)

Đặc biệt trong danh sách những nhân vật tham dự, còn có một số cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, một số nhân vật  phản chiến nổi tiếng như Tom Hayden (chồng cũ của Jane Fonda cũng là một người phản chiến), ông Peter Arnett, một ký giả phản chiến.

Điều đáng ngạc nhiên là một cuộc hội thảo quan trọng về cuộc chiến tại Việt Nam lại không có một người Việt nào được mời tham dự để góp tiếng nói về vận mệnh của đất nước mình, ngoại trừ Dân Biểu Texas Hubert Vo, một người Việt Nam còn trẻ không trực tiếp tham gia cuộc chiến, như thế, đây có thể là một môi trường thông tin một chiều, thiếu trung thực, để các thành phần phản chiến và thân cộng có cơ hội tuyên truyền cho đảng CSVN hiện nay.

Để đáp ứng sự kiện này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ đề nghị:

1-       Người Việt tỵ nạn chúng ta cần có tiếng nói trong dịp này dưới nhiều hình thức, nêu rõ lập trường, lý do và những nguyên nhân đưa đến cuộc chiến tại Việt Nam. Ai đã gây ra cuộc chiến kéo dài 30 năm (1945-1975), làm thiệt mạng gần 4 triệu người dân Việt Nam, để cuối cùng một chế độ cộng sản vô thần tàn bạo ngự trị đất nước Việt Nam trên 40 năm qua.

2-       Chúng ta không chống cuộc hội thảo nhằm tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam, mà chỉ chống luận điệu một chiều, xuyên tạc của các tên phản chiến, thân cộng và những kẻ bán đứng miền Nam Việt Nam, và đại sứ CSVN tại Hoa kỳ đại diện cho một chính quyền không do dân bầu, hiện đang tiếp tục đàn áp và khống chế dân tộc Việt Nam bằng một chế độ độc tài toàn trị, đưa đất nước đến bờ vực thẳm.

3-       Chúng ta sẽ phải lên tiếng trước công luận đòi hỏi nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam, đòi thả tất cả các tù nhân chính trị hiện đang bị cộng sản giam cầm.

Để đạt muc tiêu này, chúng tôi đề nghị:

1-    Cùng ký vào bản lên tiếng của cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ và trên thế giới dưới hình thức tuyên cáo đăng  trên website, phổ biến trên báo chí và gửi cho ban tổ chức và Ngoại Trưởng John Kerry.

2-    Tổ chức và tham gia biểu tình trước thư viện LBJ trong những ngày có hội thảo.

– Đề nghị cộng đồng tại Austin đứng ra tổ chức và làm phối trí viên.

– Các cộng đồng Việt Nam tại Texas, các tiểu bang lân cận cùng hợp tác và tham dự.

– Đồng bào Việt Nam khắp nơi hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất.

Cộng Đồng Người Viêt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác cùng tất cả cộng đồng, đoàn thể, tổ chức, nhân sĩ và đồng bào tại Hoa Kỳ và hải ngoại nhằm phản bác bất cứ sự kiện phản chiến và thân cộng nào.

Trân trọng.

Hoa Kỳ ngày 15 tháng 4 năm 2016

BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu, 714-928-3038

BS Đỗ Văn Hội, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành , 407-234-3596

Ông Lưu Văn Tươi, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát, 407-491-9299

Xin bấm vào đường dẫn đến bản Tuyên Bố về vấn đề này và ký tên.

Tuyên bố về “họp thượng đỉnh chiến tranh VN”

 

Đính kèm chi tiết về cuộc hội thảo.

http://www.vietnamwarsummit.org

http://www.lbjlibrary.org/events/the-vietnam-war-summit

Ký Tên: Bản Tuyên Bố về”Gặp Mặt Thượng Đỉnh Chiến tranh Việt Nam”

DÂN TỘC VN SẼ CAM LÒNG SỐNG TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT như dân Tây Tạng như thế nầy sao???

Thursday, March 10th, 2016

NẾU CHÚNG TA IM LẶNG ĐỂ BỌN LÊ CHIÊU THỐNG VÀ TRẦN ÍCH TẮC Ở “LĂNG BA ĐÌNH” TIẾP TỤC LÀM TAY SAI CHO TÀU CỘNG THÌ ĐÂY LÀ SỐ PHẬN CỦA CHÚNG TA VÀ CON CHÁU CHÚNG TA..
.
 
MUỐN CHỐNG GIẶC NGOÀI PHẢI DIỆT THÙ TRONG LÀ TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC CS Ở BẮC BỘ PHỦ…
 
 
 
Bọn Chệt Cọng dùng quân dội đàn áp nhân dân Tây Tạng
 


On Wednesday, March 9, 2016 5:35 PM, ‘Mike Duong’ via 1 DĐKT <usaelection@googlegroups.com> wrote:



Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Thursday, February 18th, 2016

Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ, đó là lời khẳng định

Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại… đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
*
Theo dòng thời gian Sau những tháng năm suy nghĩ, tôi cũng như rất nhiều người đã nghiệm ra rằng: Tình hình Việt Nam sẽ thay đổi, sự thay đổi vô cùng to tát, mát lòng dân, thuận ý Trời đó là sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam. Suy nghĩ này không đơn thuần chỉ là niềm hy vọng thông thường, lại càng không phải là những điều tiên đoán của một kẻ mù sò voi hay của một chiêm tinh gia mà là của một người được tạo hóa ban cho thứ cảm nhận cao cho những gì sắp xảy ra chung quanh cuộc sống. Với tâm nguyện luôn ước mong cho một Quê Hương sớm thoát khỏi ách tròng cộng sản đầy mụ mị trong nghèo đói, với một tâm hồn luôn đau đáu cho một đất nước đã chìm ngập trong mịt mù không tương lai đến các thế hệ kế tiếp của dân tộc thì sự trăn trở luôn thôi thúc bản thân suy nghĩ về vận mạng của đất nước cùng con đường giải cứu đồng bào ruột thịt sớm thoát khỏi ách nạn cộng sản này.
Ngoài nguyên lý bất di bất dịch là trên hành tinh này vạn vật sẽ thay đổi không ngừng. Sự hiện hữu, biến dạng và hủy diệt, đó là nguyên tắc sinh thải. Con người cũng vậy, có sinh phải có tử, triều đại, thể chế cũng không ngoại lệ, có hợp có tan, có trụ có biến.
Người cộng sản với não trạng vô cùng chủ quan và cường điệu cho rằng “CHXHCNVN muôn năm” hoặc “Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… là sai hẳn về phương diện khoa học lẫn các triết dẫn của tôn giáo. Khi những nguyên tắc rường cột cơ bản đã sai ắt mọi ngọn ngành chi nhánh theo đó sẽ sai theo một cách lô-gic. Ví như quỹ đạo bay của phi thuyền bị tính trật thì con tàu sẽ không đến điểm định, một chủ nghĩa sai lầm sẽ đưa xã hội xa mục đích là lẽ đương nhiên mà theo Duy Vật biện chứng thì những chuỗi kết quả sai lệch trong xã hội ấy không thuộc sự “can thiệp” của bất cứ đấng nhiệm mầu nào, hay còn gọi là đấng Tạo hóa mà chỉ đơn thuần theo tính toán của con người dựa trên các cơ sở khoa học.
Hãy đơn cử vài thí dụ để chứng minh cho sự sai lệch đã nêu ra, hỏi có ai ngờ được rằng cái nôi, đồng thời cũng được xem là cái thành trì vững chắc của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Bang Xô Viết sụp đổ khi trước đó nó đã phát triển rất nhanh, rất vững mạnh khiến 5 nước ở Đông Âu phải hướng theo. Cho đến khi khối cộng sản Đông Âu được mở đầu bởi Ba Lan vào năm 1989 và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Romania sau đó.
Sau khi các nước này lần lượt tan rã thì người ta mới dám nảy lên mầm suy nghĩ là rồi Liên Xô cũng sẽ sụp theo. Và cuối cùng đúng như người ta du đoán, cái nôi của chủ nghĩa, thành trì của chủ nghĩa đã sụp đổ vào cuối năm 1991 kèm theo một chuỗi các nước dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khối Liên Xô: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraina và Uzbekistan. Cộng sản đã bị bỏ rơi tại Albania và Nam Tư từ năm 1990 đến 1992, chia thành năm nước kế tục: Slovenia, Croatia, Cộng hòa Macedonia, Bosnia và Herzegovina, và Cộng hòa Liên bang Nam Tư (gồm Serbia, Montenegro và Kosovo). Tác động này cũng được cảm thấy ở hàng chục quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Chế độ Cộng sản đã bị bỏ rơi ở các nước như Campuchia, Ethiopia, Mông Cổ và Nam Yemen. Sự sụp đổ của các nước cộng sản đã dẫn đến tuyên bố kết thúc của Chiến tranh Lạnh. (1)
Ý nghĩa của những sự sụp đổ này nó lớn lao và quan trọng đến độ nhiều nhà nhận định thời cuộc của thế giới đã có cùng một nhận định: “Nhân loại đã đánh dấu sự kiện quan trọng nhất của Thế kỷ 20 là sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản ở đầu thế kỷ và sự chết của nó ở cuối thế kỷ”.
Giờ đây, thế giới chính thức còn lại vỏ vẹn 5 nước: Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn (Triều Tiên) và Lào và Cu Ba, trong đó 2 nước Lào và Cu Ba đang chuyển hướng dần theo khuynh hướng Dân Chủ. Riêng Việt Nam, nếu căn cứ trên thực tế xã hội thì không hẳn còn là một quốc gia theo cộng sản nguyên thủy vì trong kinh tế XHCN không hề có “Kinh tế thị trường”. Nghĩa là Kinh tế tập trung (quốc doanh) thì không có Kinh tế tư nhân. Hai thứ kinh tế này về mặt nguyên tắc thì kinh tế tư bản là đối nghịch toàn bộ với Kinh tế tập trung là Kinh tế CNXH. Các người chịu trách nhiệm về kinh tế nhà nước đã vì sự thua lỗ, mất mát của nền kinh tế này mà nhập nhằng đánh lận triết thuyết căn bản một cách khập khiểng và hy vọng rằng họ sẽ thành công, sẽ qua mắt được các con mắt của các chuyên gia kinh tế có tầm phân tích quán triệt. Người cộng sản đã cố tình lấp liếm một cách gượng ép:“Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” mà chúng ta thường nghe, thường thấy cũng như thường đặt dấu hỏi.
Tuy nhiên, cho dẫu họ có cố gắng bao biện như thế nào thì nhà nước vẫn cố giữ và có chế độ đặc biệt ưu đãi cho các thành phần kinh tế quốc doanh mà cơ bản của nó đã được cung cấp lượng vốn cực kỳ lớn nếu so với các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân. Các thành phần kinh tế quốc doanh này phải lệ thuộc sự chỉ đạo của đảng và do cán bộ của guồng máy quản lý, trong khi ai cũng biết là đảng CSVN đã quá tùy thuộc vào những lãnh đạo đảng bị giới hạn về kiến thức và trình độ kinh tế nên thực tế đã gây ra quá nhiều lỗi lầm trầm trọng bởi sự thiếu kém kiến thức ấy. Bên cạnh sự ưu đãi và từ sự thông đồng cùng nhau chia lợi cho nên nền kinh tế tập trung này luôn bị thua lỗ, thất thoát và lãng phí ghê gớm, đưa đến nợ âm lớn và dần dà sẽ được hợp thức hóa sự mất mát cực kỳ to lớn đó. Ai sẽ chịu trách nhiệm trong những nợ âm cùng những chuỗi mất mát to lớn này?. Khỏi phải cần câu trả lời thì ai cũng biết là người dân qua các khâu nộp thuế.
Ngoài khối dân chúng quốc nội làm việc, kinh doanh, mua sắm, tiêu dùng hàng hóa…phải đóng thuế, nguồn thu này còn có được từ bán rẻ tài nguyên quốc gia và từ những người Việt đi làm công hoặc định cư ở nước ngoài (còn gọi là Việt kiều) gởi về cho chế độ mỗi năm trung bình 10 đến 16 tỉ USD (10.000.000.000 – 16.000.000.000 USD). (2) Xin thưa rằng với số ngoại tệ cho không, không hoàn vốn, không lãi suất, nó tương đương xấp xỉ 1/10 tổng sản lượng quốc gia (GNP), tức tổng sản lượng thu nhập của VN. Số tiền này có thể gần đủ để chi trả cho toàn bộ cán bộ, đảng viên của đảng phái chính trị và guồng máy cầm quyền như Quân đội, Côn an, công nhân viên, quan chức nhà nước hàng năm.
Không có nguồn thu nhập ngoại tệ cực kỳ quan trọng trên thì chế độ hiện hành sẽ không thể đứng vững, nếu không muốn nói là sẽ khánh tận (bankrupcy) hoặc sẽ sụp đổ. Người Việt ở nước ngoài chỉ cần không cung cấp số ngoại tệ 10 đến 16 tỉ USD như nói trong 3 năm thì chế độ sẽ gặp phải khốn đốn, đưa đến nguy cơ bất ổn về mặt chi trả và sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn chính quyền cũng như xã hội. Nguồn huyết mạch trên, nó chiếm vị thế vô cùng quan trọng trong dòng lưu xã hội. Người Việt ở nước ngoài không gởi lượng kiều hối ấy thì chế độ sẽ chết, gia đình sẽ vô cùng khó khăn…Đây là một nan đề mà mãi cho đến hôm nay chúng ta vẫn chưa có bài toán giải quyết như thế nào cho ổn thỏa!. Tuy nhiên, đó không phải là con đường bế tắc cho người Việt ở hải ngoại. Những nhà đấu tranh, những nhân sĩ vận động cho chính trị, chính sách có thể tăng cường phương pháp làm việc của mình bằng cách vận động và lên tiếng cho chính quyền sở tại, nơi quốc gia mình đang cư ngụ để có yêu cầu (hay yêu sách) ĐỀ NGHỊ QUỐC GIA SỞ TẠI GIỚI HẠN hoặc CẤM CHUYỂN GỞI NGOẠI TỆ ĐẾN VN, hay KIỂM SOÁT THẬT GẮT GAO VIỆC GỞI NGOẠI TỆ ra những nước “đặc biệt cần quan tâm” như tham nhũng, độc tài và khủng bố.. Cộng đồng người Việt nên ủng hộ việc làm này của các nhà đấu tranh như các Luật sư, Nghị sĩ, Dân biểu, Nghị viên, Thị trưởng Thành phố v.v…
Những nhà đấu tranh nên thu thập và cung cấp nhiều hơn nữa về những vụ việc như: Tham nhũng, hố sâu cách biệt trong cuộc sống giữa sự giàu có của các quan chức nắm quyền do với dân nghèo khốn khó, những hình ảnh đàn áp, đánh đập, giết hại…đưa lên hệ thống thông tin công chúng để những người nắm chính quyền của các nước sở tại hiểu được, thấy được bằng những hình ảnh cụ thể hơn và từ đó có những suy nghĩ cũng như những tầm nhìn chính xác hơn mà mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ thông tin góp phần sức của mình một cách thiết thực.
Trở lại vấn đề sụp đổ của cộng sản, kẻo không chữ nghĩa, lý luận kinh tế và con số sẽ làm quí vị nhức đầu đi mất. Với nhận thức của người Việt hôm nay, nói chung sự hiểu biết về cộng sản là khá phổ quát. Tuy nhiên, thông tin vẫn còn rất giới hạn cho số dân châm lấm tay bùn, thấp cổ bé họng hoặc cư trú vùng sâu vùng xa. Cho nên người Việt ở quốc nội nên thông truyền cho nhau rộng khắp hơn, cụ thể hơn về đảng CSVN cùng những tiêu cực mà đảng đã làm, cũng như đánh động sự lo sợ về hiểm họa nô lệ Tàu cộng, về việc mất nước. Được như vậy thì vấn đề nội công, ngoại kích mới được kết hợp một cách nhuần nhuyễn.
Với con số hơn 4 triệu rưỡi người Việt ở khắp các quốc gia trên thế giới cùng tài năng về tinh thần lẫn của cải của họ sẽ là những LỰC đáng kể. Ngày nào số lượng người đông đảo này còn thì đảng CSVN vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và bất lợi. Ngày nào đảng cộng sản và guồng máy còn đàn áp với dân chúng trong nước thì đảng cũng sẽ còn gặp phải nhiều phản ứng quyết liệt của người Việt ở nước ngoài.
Dòng thời gian 40 năm, thiết nghĩ đã quá đủ cho một thể chế mụ mị và hung bạo đã tàn phá con người và đất nước một cách khủng khiếp. Để tránh được những tai họa hủy diệt đó cũng như nhằm tránh được hiểm họa nô lệ Tàu cộng, giờ đây người Việt yêu Quê Hương, yêu Tổ Quốc nên thức tỉnh ngay nếu chúng ta không góp phần trách nhiệm của mình cho sự thay đổi của đất nước là chúng ta mang trọng tội với tiền nhân đã dày công dựng nước và giữ nước, với lớp con cháu của các thế hệ nối tiếp. Chúng ta phải thể hiện thái độ dứt khoát không thể để đảng CSVN muốn làm gì thì làm.
Sự chuyển mình của thế giới qua nhận thức Tàu cộng cùng sự nguy hiểm của nó về nhân phẩm nhân sinh, chất độc hại tung ra thế giới, mổ cướp nội tạng dã man, ngang ngược lấn chiếm biển đảo không thuộc chủ quyền của họ, đe dọa an ninh của các quốc gia lân bang. Trật tự cho một Thế giới mới sẽ dấy nên trào lưu BÀI TÀU CỘNG – BOYCOTT CHINA nhằm bảo tồn hành tinh này, đó là quan điểm và hành động của nhân loại văn minh.
Cộng sản Việt Nam rồi cũng sẽ chẳng khá gì hơn khi đảng đã hiện nguyên hình lòi mặt chuột đục phá đất nước chứ chẳng giúp được gì nhiều cho tiến trình phát triển quốc gia mà thế giới đã chửi xéo “Việt Nam là một quốc gia không muốn phát triển!”. Giờ đây, đảng bị xem là kẻ thù của cả dân tộc quốc nội lẫn hải ngoại. Không bạn bè, không đồng minh, không thân hữu ngoài đàn anh Trung cộng nhưng oái ăm thay, người đồng chí duy nhất cũng luôn rình mò, mưu mẹo, toan tính trở mặt và luôn chực hờ cướp giựt và thôn tính.
Cộng sản VN cô đơn và thất thế hơn bao giờ hết, số phận của nó cũng chẳng may mắn gì hơn thằng đàn anh, thằng ông nội Tàu cộng đang bị bao vây, tứ bề thọ địch. Chủ không vững thì tôi tớ cũng lung lay. Người Việt hãy giữ vững chính nghĩa, giữ vững niềm tin xây dựng lại đất nước trong một ngày không xa.

Trung Quốc bị cô lập vì tham vọng bành trướng ở Biển Đông

Tuesday, February 16th, 2016

TRUNG QUỐC BỊ CÔ LẬP TRONG VÙNG

Lược dịch bài viết của ông Heydarian trên tờ Al Jazeera, cũng là tác giả cuốn sách Trận tuyến mới của châu Á: Mỹ, TQ và cuộc đấu giành phía tây Thái Bình Dương. TL

*****************************************

Bề ngoài, Trung Quốc giống như một cường quốc tại Á Châu. TQ tự nhận là nền kinh tế lớn nhất châu Á, che mờ Nhật Bản và đang nhắm trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong tương lai gần.

TQ đã là quyền lực thương mại lớn nhất thế giới, qua mặt cả Mỹ hồi năm 2013. Và trong một thời gian ngắn, TQ nổi lên là một nhà đầu tư hàng đầu ở toàn thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng,

Không như Nhật, TQ là một thế lực không bị hiến pháp hạn chế sự phát triển khả năng quân sự. Giàu tiền và tham vọng, TQ nhanh chóng đuổi kịp các thế lực quân sự hàng đầu, nay có một tàu sân bay, hai chiến đấu cơ thế hệ 5 cùng khả năng chống tiếp cận và chống xâm nhập (A2/AD).

Vì thế, không ngạc nhiên khi các chuyên gia hải quân nhận định TQ gần như là đối thủ quân sự trực tiếp của Mỹ ở Đông Á.

Nhưng không ai không có ấn tượng rằng Trung Quốc ngày càng bị cô lập về ngoại giao  vì hành xử hung hăng trên biển Đông.

Mỹ và các đồng minh đang tự tin thúc đẩy một sự đoàn kết khu vực lớn lao, để bảo đảm tư do hàng hải và an ninh hàng hải ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Đó là không kể đến những rắc rối kinh tế gần đây của TQ, gồm thị trường chứng khoán đổ vỡ, xuất khẩu hàng hóa bị suy giảm.

TQ là mối đe dọa quyền tự do hàng hải trên Biển Đông

Vị thế TQ bị suy yếu là  rõ ràng ở hai hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) kết thúc trong tuần qua ở Philippines và Malaysia.

Đối mặt với những chỉ trích về cách hành xử hung hăng trên biển Đông, TQ tuyệt vọng tìm cách chống lại bất kỳ cuộc đàm phán đa phương nào về tranh chấp biển Đông.

Vì sợ Philippines – chủ nhà APEC 2015 và là nước phản đối quyết liệt tuyên bố chủ quyền ngang ngược của TQ – sử dụng sự kiện này để đối đầu ngoại giao với Bắc Kinh, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình đã từ chối xác nhận sự tham gia của ông cho đến phút chót, và ra điều kiện là Philippines phải đồng ý gạt sang một bên chuyện tranh chấp biển Đông trong thời gian diễn ra hội nghị thượng đỉnh APEC.

Trước khi ông Tập đến Manila, TQ cử Ngoại trưởng Vương Nghị đến cảnh báo Philippines chớ quấy rầy lãnh đạo của họ. Trên thực tế, Bắc Kinh tìm cách tác động vào lịch làm việc của hội nghị này, để hình ảnh ông Tập không bị bóng tối che phủ.

Trên hết, chuyến thăm của ông Tập sẽ là chuyến thăm đầu tiên của ông đến quốc gia Đông Nam Á này, có khả năng mở đường phục hồi quan hệ cấp cao giữa hai nước vốn bị đóng băng lâu nay.

Là lãnh đạo nền kinh tế lớn thứ nhì châu Á, sự hiện diện của ông Tập được là cần thiết cho sự thành công của hội nghị thượng đỉnh APEC.

Dù TQ tìm cách ngăn chặn bất kỳ sự bàn luận về tranh chấp biển Đông trong Tuyên bố chung APEC, Philippines vẫn đưa vấn đề này ra tại các cuộc nói chuyện bên lề hội nghị.

Ngay sau khi hạ cánh ở Manila, Tổng thống Mỹ Barack Obama có chuyến thăm biểu tượng tới chiến hạm BRP Gregorio del Pilar của hải quân Philippines. Ông nhắc lại lời hứa Mỹ quyết tâm bảo vệ đồng minh, hứa tặng 2 tàu chiến và tăng hỗ trợ an ninh hàng hải cho nước này.

Cả Mỹ và Philippines đều nhấn mạnh tự do hàng hải là trọng tâm của an ninh khu vực. Đối với Mỹ và đồng minh, các hành động hung hăng và việc tăng hiện diện quân sự khắp biển Đông của TQ là mối đe dọa đối với quyền tự do hàng hải tại một trong những tuyến lưu thông quan trọng nhất của thế giới.

Cả châu Á cùng quay ra đối phó TQ 

Việt Nam cũng ký một thỏa thuận đối tác chiến lược với Philippines, để tăng cường sự hợp tác ngoại giao, pháp lý và hàng hải giữa hai nước nhằm đối phó TQ.

Thỏa thuận mới này đồng nghĩa phát tín hiệu đến Bắc Kinh, rằng đối thủ của họ ở biển Đông đang đoàn kết chống lại mối đe dọa từ TQ.

Philippines cũng ký một thỏa thuận quân sự với Nhật, một thế lực khác cũng bị phiền nhiễu vì hành động hung hăng của TQ trên biển Hoa Đông. Theo thỏa thuận mới nhất này, Philippines sẽ nhận được sự hỗ trợ quân sự lớn, cùng những cuộc tập trận hải quân chung thường xuyên với Nhật.

Các thế lực khác trong khu vực như Úc, Hàn Quốc, thậm chí cả Nga cũng đề nghị những hỗ trợ quân sự lớn cho Philippines.

Đầu tháng 11, TQ sốt ruột muốn phá một cuộc thảo luận cấp cao giữa các bộ trưởng quốc phòng trong khu vực: hội nghị bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng, bằng cách từ chối ký vào một tuyên bố chung có đề cập vấn đề tranh chấp biển Đông.

Nhưng xui cho TQ, hội nghị thượng đỉnh ASEAN đã chứng kiến các ngoại trưởng ASEAN thúc đẩy một Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên biển Đông (COC), nhằm kiềm chế TQ hung hăng đòi chủ quyền vùng biển này.

Không còn nghi ngờ gì nữa, TQ sẽ tiếp tục duy trì yêu sách đòi chủ quyền các vùng biển lân cận. Nhưng cũng rõ ràng là Bắc Kinh không còn được nhiều nước láng giềng xem là một thế lực trỗi dậy hòa bình, hoàn toàn vô hại.

Các nước láng giềng của TQ ngày càng ngả về phía Mỹ, xem Mỹ là người bảo đảm an toàn khu vực tại châu Á.

Richard Javad Heydarian

Richard Javad Heydarian là chuyên viên về địa chính trị và kinh tế tại Á Châu

Bài này đăng trên tờ AL Jazeera ngày 23/11/2015.

Nguồn:

http://www.aljazeera.com/indepth/opinion/2015/11/china-regional-isolation-151122134410410.html

Kiến Nghị của Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại VN gửi các nguyên thủ quốc gia tham dự thượng đỉnh Mỹ – Đông Nam Á

Thursday, February 11th, 2016

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT

QUỐC NỘI VÀ HẢI NGOẠI VIỆT NAM

KIẾN NGHỊ KÍNH GỬI CÁC VỊ NGUYÊN THỦ

THAM DỰ HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH HOA KỲ-ASEAN TẠI CALIFORNIA

Kính thưa quý vị Nguyên Thủ Quốc Gia tham dự Hội Nghi,

Theo thông cáo của tòa Bạch Ốc Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN tại Sunnylands, Rancho Mirage, California trong hai ngày 15-16 tháng 2, 2016 nhằm mục đích tăng cường sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và 10 nước Đông Nam Á trong mục tiêu tái cân bằng lực lượng tại vùng Á Châu Thái Bình Dương, đặc biệt trong các lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế mà Hoa Kỳ đã có nhiều nỗ lực trong gần 40 năm qua.

Ngày 10-2-2016, tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch đã liệt kê một số quốc gia vẫn tiếp tục đàn áp người dân trong đó có Việt Nam và khuyến cáo Tổng Thống  Obama nên đặt chủ đề nhân quyền là trọng tâm của Hội Nghị.

Nhân dịp này, chúng tôi, đại diện Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại Việt Nam  xin kiến nghị đến tất cả quý vị những vấn đề liên quan đến tình hình chính trị tại Việt Nam và sự bất an tại Biển Đông.

          Kính thưa quý vị,

1- Vể chính trị, hiện nay, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn áp dụng chế độ độc tài, toàn trị, tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân, đàn áp, giam giữ tùy tiện và xét xử bất công các nhà hoạt động vì dân chủ, nhân quyền và công lý, vì phản đối đường lưỡi bò 9 điểm vô lý trên Biển Đông. Các cơ quan quốc tế nhân quyền đã tường trình đầy đủ những vi phạm này của chính quyền cộng sản Việt Nam.

2- Về kinh tế, Hoa Kỳ đang thành hình Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), tạo cơ hội cho các nước tham gia phát triển, mang phúc lợi cho người dân. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn tiếp tục chính sách được gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, với mục đích nắm giữ đặc quyền đặc lợi, làm giàu cho đảng cầm quyền, do đó tạo bất công xã hội, khiến đa số người dân vẫn sống trong cảnh nghèo khổ. Ngoài ra nhà cầm quyền Hà Nội còn ngăn cản các công nhân thành lập công đoàn độc lập,

3- Vể an ninh khu vực, nhà cầm quyền Trung Quốc đã ngang nhiên tuyên bố chủ quyền 90% tại Biển Đông, đã và đang xâm chiếm bằng võ lực biển đảo của Việt Nam và các nước Đông Nam Á, xây cất các đảo nhân tạo bất chấp luật pháp quốc tế, tăng cường quân sự, thường xuyên đe dọa nền an ninh của các nước Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương, trong đó có Hoa Kỳ.

Ngoài ra, nhà cầm quyền Bắc Kinh còn dùng thủ đoạn nhằm lũng đoạn nền kinh tế và chính trị của các quốc gia Đông Nam Á, tạo sự bất ổn thường xuyên trong vùng.

          Bởi thế, chúng tôi đại diện Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại của Việt Nam trân trọng kiến nghị cùng quý vị:

1- Áp lực buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải chấp nhận các quyền tự do căn bản của người dân, trong đó có quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, để cho hơn 90 triệu người dân được sống xứng nhân phẩm thay vì chỉ củng cố quyền lực và quyền lợi cho đảng cộng sản; phải thả ngay lập tức và vô điều kiện các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị và những người hiện bị quản chế một cách bất công; phải trả lại tất cả tài sản đã chiếm đoạt của các tôn giáo cũng như của người dân.

2- Liên minh chặt chẽ để bảo vệ chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á, ngăn chặn sự bành trướng trái phép của bất cứ quốc gia nào tại Biển Đông và Biển Đông Á; mọi tranh chấp phải được giải quyết trong hòa bình và luật pháp quốc tế.

3- Cần áp dụng triệt để các điều kiện về quyền con người và quyền công nhân trong Hiệp Định Xuyên Thái Bình Dương, có kèm theo biện pháp chế tài, để mọi người dân được hưởng những phúc lợi do Hiệp Định mang lại.

Cuối cùng, chúng tôi kính chúc quý vị nguyên thủ quốc gia một Năm Mới Bính Thân 2016 an khang, thịnh vượng và may mắn. Chúc Hội Nghị thành công.

Làm tại Hoa Kỳ ngày 10 tháng 2, năm 2016

  1. Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại Việt Nam 

Đại Diện: 

Hòa Thượng Thích Không Tánh, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, Phó Viện Trưởng Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Linh Mục Phan Văn Lợi, đồng Chủ Tịch Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, thành viên Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Chánh Trị Sự Hứa Phi, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, Ban Đại Diện Khối Nhơn Sanh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh (Chơn Truyền).

Ông Lê Văn Sóc, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, đại diện Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy

Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa, đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn, đại diện Hội Thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam.

Ô. Cao Minh Tâm, Hội Nhà Báo Độc Lập, thành viên Saigon báo.

BS Đỗ Văn Hội, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Ô. Lưu Văn Tươi, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Ô. Nguyễn Văn Tánh, Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế

Ông Phạm Trần Anh, Hội Diên Hồng Thời Đại

Phó Trị Sự Trần Viết Hùng, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại

Ông Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ Tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Liên Bang Đức.

 

_________________________________________________________________

 

Địa chỉ liên lạc:

PO Box 262066, Tampa, FL 33685.

Tel: 407-927-0014. Email: Lienlacqnhn@gmail.com

Tuyên Cáo Về Tình Hình Việt Nam 2016

Wednesday, January 20th, 2016

TUYÊN CÁO

VỀ TÌNH HÌNH VIỆT NAM NĂM 2016 (Có bổ túc chữ ký)

(Muốn ký vào Tuyên Cáo, xin vào ô bên phải ====>)

Bổ túc chữ ký sẽ được công bố vào ngày 1/1/2017

_____________________

         Xét rằng:

1-     Đảng cộng sản đã hiện diện trên đất nước Việt Nam hơn 70 năm qua, gây ra nhiều đau thương tang tóc cho Dân tộc Việt Nam. Các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản trước đây đều lần lượt từ bỏ chế độ bất nhân và sai lầm này để chuyển đổi sang chế độ dân chủ tự do, chỉ còn lại một số nhỏ trong đó có Việt Nam.

2- Sau 40 năm kể từ ngày 30-4-1975, đất nước vẫn còn nằm dưới gọng kềm cai trị độc tài, độc đảng. Đảng cộng sản Việt Nam liên tục tước bỏ mọi quyền căn bản của con người, đàn áp những nhà đấu tranh vì tự do dân chủ, tự do tôn giáo và toàn vẹn lãnh thổ. Đảng cộng sản Việt Nam đã làm cho văn hóa suy đồi, kinh tế lụn bại, xã hội đầy dẫy tệ đoan, tài sản của nhân dân bị cường quyền vơ vét.

3-   Đại hội đảng thứ XII năm 2016 cho thấy không có dấu hiệu cải tổ về chính trị cũng như kinh tế, càng tỏ rõ sự lệ thuộc vào Trung cộng, nguy cơ mất nước không thể tránh khỏi. Đại hội đảng cộng sản chỉ là cơ hội để tập đoàn lãnh đạo tranh giành quyền lực, chia chác quyền lợi, hoàn toàn không vì lợi ích của nhân dân và đất nước Việt Nam.

4-   Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn tách rời quần chúng, xem đất nước là của riêng, nhân dân chỉ là nô lệ cho tập đoàn cai trị. Một số đảng viên có đầu óc cải cách muốn thay đổi đều bị trù dập hoặc loại trừ.

          Bởi các lẽ ấy, chúng tôi gồm đại diện một số cộng đồng, đoàn thể, tôn giáo trong và ngoài nước  ký tên dưới đây khẩn thiết tuyên cáo:

1-  Đòi hỏi đảng cộng sản Việt Nam phải tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân, đặc biệt là các quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội; phải trả tự do ngay lập tức tất cả tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị và tôn giáo.

2-   Đòi hỏi đảng cộng sản Việt Nam phải trả lại quyền cai trị đất nước cho toàn dân bằng một cuộc bầu cử thật sự dân chủ và công bằng được quốc tế giám sát, bầu ra một quốc hội của dân, do dân và vì dân như các nước tự do trên thế giới, đặc biệt tại Đài Loan, Miến Điện và Venezuela trong những ngày gần đây.

3-   Kêu gọi các đảng viên, cán bộ cộng sản hãy thức tỉnh vì vận mệnh của đất nước, hãy đứng về phía nhân dân, phục vụ quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc.

4-  Kêu gọi Đồng bào trong và ngoài nước liên kết chặt chẽ tạo thành sức mạnh  tổng hợp nhằm tranh đấu cho một chế độ dân chủ tự do, phồn vinh an lạc, bảo vệ được sự vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc.

5-  Thỉnh cầu công luận quốc tế và chính phủ các nước tự do dân chủ trên thế giới hỗ trợ cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

          Kính thưa toàn thể Đồng bào,

          Đã đến lúc toàn dân cần phải đồng tâm hiệp lực, liên kết trong ngoài, từ Tín đồ đến Chức sắc, từ các Tổ chức dân sự đến các Đảng phái chính trị, từ giới thường dân đến giới trí thức, từ các Đoàn thể đến các Cộng đồng, Đồng Bào chúng ta không còn sự chọn lựa nào khác mà phải đứng lên giải nguy cho Quốc gia Dân tộc.

          Ý Dân là Ý Trời ! Bất cứ chính quyền nào, thế lực nào đi ngược lòng dân, phản lại ý Trời chắc chắn phải bị diệt vong.  

Công bố ngày 21 tháng 1 năm 2016,

                        Đồng ký tên sau đây:

 

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM (QUỐC NỘI)

  • LM Giuse Đinh Hữu Thoại, đồng Chủ Tịch
  • Hòa Thượng Thích Không Tánh, đồng Chủ Tịch
  • Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa, đồng Chủ Tịch
  • Chánh Trị Sự Hứa Phi (Cao Đài), đồng Chủ Tịch
  • Chánh Trị Sự Nguyễn Bạch Phụng, Thành Viên
  • Chánh Trị Sự Nguyễn Kim Lân, thành Viên
  • Ông Lê Văn Sóc, Hòa Hảo, đồng Chủ Tịch.
  • LM Phêrô Phan Văn Lợi, thành viên
  • LM Nguyễn Công Bình, thành viên
  • MS Nguyễn Mạnh Hùng, thành viên

KHỐI 8406

  • LM Phê rô Phan Văn Lợi, đồng Đại Diện.
  • Ông Nguyễn Chính Kết, Đại Diện Hải Ngoại.

HỘI CỰU TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM (QUỐC NỘI)

  • BS Nguyễn Đan Quế, Chủ Tịch
  • LM Phêrô Phan Văn Lợi, đồng Chủ Tịch
  • Ông Phạm Bá Hải, Điều Phối Viên

TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển

LIÊN HIỆP HỘI THÁNH EM CAO ĐÀI HẢI NGOẠI: Phó Trị Sự Trần Viết Hùng, Tổng Thư Ký – Ông Sinh Cẩm Minh, Trưởng Ban Ngoại Vụ – Ông Phạm Văn Đức, Trưởng Ban Nội Vụ

– Cựu Chánh Trị Sự Bùi Văn Y, Trưởng Ban Giám Sát

TẬP HỢP VÌ NỀN DÂN CHỦ VIỆT NAM: Bs Nguyễn Quốc Quân

PHONG TRÀO GIÁO DÂN VIỆT NAM HẢI NGOẠI: Ông Phạm Hồng Lam, Điều Hợp Viên Ban Thường Vụ.

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA LIÊN BANG HOA KỲ : BS Võ Đình Hữu, CT HĐĐB – BS Đỗ Văn Hội, CT HĐCH – Ông Lưu Văn Tươi, CT HĐGS – Ông Nguyễn Văn Tánh, Cố Vấn – Ông Trần Văn Giỏi, Chủ Tịch CĐNVQG Connecticutt – LS Nguyễn Thanh Phong, PCT Nội Vụ HĐCH – Trung Tá Trần Quốc Anh, PCT Ngoại Vụ HĐCH – Ông Trần Công Thức, TTK HĐCH

TỔNG HỘI CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HẢI NGOẠI: Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch – Ông Nguyễn Trung Châu, Cựu Chủ Tịch, Cố Vấn

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC: BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ Tịch

LIÊN HỘI NGƯỜI VIỆT CANADA: Ông Trần Văn Đông, TTK

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO LIÊN BANG ÚC CHÂU: Luật sư Võ Trí Dũng, Chủ Tịch

ỦY BAN NHÂN QUYỀN HELSINSKI: Luật Sư Tạ Quang Trung, Cố Vấn – Ông Trần Tử Thanh, Cựu Tù Nhân Vì Lương Tâm (do Ân Xá Quốc Tế và Human Rights Watch phong tặng)

HỘI ÁI HỮU CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM: Ông Cao Xuân Khải, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ

CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM DC, MARYLAND VÀ VIRGINIA: Ông Đoàn Hữu Định, Chủ tịch

HỘI DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI: Ông Phạm Trần Anh

HỘI ĐÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM: Ông Rong Nay, Phó Chủ Tịch

HỘI BẢO VỆ DI SẢN VIỆT NAM CỘNG HÒA ̣(Canada):Ông Ngô Anh Võ, Chủ Tịch

LM Đinh Xuân Long (Giáo Phận Charlotte, NC)

MS Ngô Đắc Lũy (Hội Thánh Tin Lành Mennonite)

Nguyễn Thu Trâm: Nhà báo độc lập, Trưởng Phân Bộ Báo Chí Hội AHCTNCTTGVN

Ông Huỳnh Hiệp (Hòa Hảo)

Truyền Hình Việt Nam Hải Ngoại OVM 4TV: Ông Nguyễn Đình Toàn, Giám Đốc

Ông Lý Hiền Tài: Cựu Dân Biểu VNCH, Chủ Tịch LMDCVN thuần túy.

Ông Cao Xuân Thức: Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh  Nam California và Đồng Hương Hướng Phương.

BS Bùi Quang Dũng, PCT Hội Đồng Đại Biểu CĐ LBHK

Đốc Sự Trần Xuân Thời, Cố Vấn: CĐ LBHK

Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Cố Vấn, CĐ LBHK

KS Đỗ Như Điện, Cố Vấn HĐCH CĐ LBHK, Cựu Chủ Tịch Hiệp Hội Người Việt San Diego

CĐVN Arkansas, AR: Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh,

CĐVN Arizona, AZ; Chủ tịch: DS. Đặng Thế Khương

CĐVN Southern California, CA; Chủ tịch: KS Trương Ngải Vinh

CĐNVQG Nam Cali; Chủ Tịch: NV Bùi Phát

CĐNVQG Charlotte, N. Carolina: Chủ Tịch Cô Nguyễn Thu Hương

CĐNVQG Greenville, S. Carolina, CT Ô. Võ Phương.

CĐNVQG Columbia, SC: CT Ông Nghiệp Nguyễn

CĐNVQG Raleigh, NC: CT Ông Huyền Nguyễn

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm  

CĐNVQG Sacramento, CA, Chủ tịch: Ô. Đỗ Thiện Thịnh

CĐNVQG Stockton, CA, Chủ Tịch: Ô. Nguyễn Hữu Hiến

CĐNVQG Colorado, CO, Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Trọng Cường

CĐNVQG Connecticut, Chủ Tịch: Ô. Trần Văn Giỏi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu: Ô. Lê Thanh Liêm

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch: Ông Phạm Quốc Hưng

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch HĐĐD: Ô. Châu Ngọc An

CĐVN Tampa Bay, FL; Chủ tịch: Ô. Trần Công Thức

CĐVN Jacksonville, FL; Chủ tịch: Ô. Eric  Nguyễn

CĐVN South Florida, FL; Chủ tịch: KTS Nguyễn Đức Huy

CĐVN Pensacola, FL; Chủ tịch: Ô. Bùi Lý

CĐVN Georgia, GA, Chủ Tịch: Ông Young Huynh,

CĐNVQG Ilinois, IL, CT Ô. Lưu Toàn Trung

CĐNVQG Massachusetts, MA; Chủ tịch: Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn

CĐNVQG St Louis, MO; Chủ tịch: Ô. Cường Nguyễn

CĐNVQG South New Jersey, NJ; Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm

CNVN New Jersey, NJ: Chủ Tịch: Bà Lê Ánh Nguyệt

CĐNVQG New Hampshire, NH; Chủ Tịch: Ô. Lê Hà Dũng

CĐNVQG New Mexico, NM: Ô. Lương Thông,

CĐNVQG Minnesota, MN; Chủ tịch: Ô. 

CĐNVQG Louisiana, LA; Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh

CĐNVQG New York, NY; Chủ tịch: LS Nguyễn Thanh Phong

CĐNVQG Oklahoma City, OK; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh

CĐNVQG Allentown, PA; Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo

CĐNVQG Philadelphia, PA; Chủ tịch: ô. Vũ Trực

CĐNVQG Pennsylvania, PA; Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm

CĐNVQG Pittsburgh, PA; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Hoa

CĐNVQG Lancaster, PA; Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan

CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA ; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh

CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải

CĐNVQG  TP Lebanon, PA; Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Hải

CĐNVQG TP York, PA ; Chủ tịch: Ô. Vũ Ngọc Hải 

CĐNVQG TP Easton/Bethlehem, PA.  Chủ Tịch: Ô. Đỗ Đức Chiến,

CDNVQG Nashville và Middle Tennessee, TN; Chủ Tich: Ô. Bùi Văn Kiệt

CĐNVTD West Tennessee; Chủ Tịch: Ông Đặng Q. Dũng

CĐNVQG Houston, TX; Chủ tịch: TT Trần Quốc Anh

CĐNVQG Dallas, TX; Chủ tịch: LS. Phạm Quang Hậu

CĐNVQG Utah: Ông Nguyễn Văn Thành, chủ tịch

GHI CHÚ:

Danh sách này được hoàn tất kể từ ngày 18-1-2016 đến 22 giờ ngày 20-1-2016.

BỔ TÚC KÝ TUYÊN CÁO (1) ngày 26-1-2016

(Chúng tôi vẫn nhận ký tên vào tuyên cáo, xin bấm vào: KÝ TUYÊN CÀO)

Ô. Phạm Hữu Sơn, Chủ Tịch CĐNVQG Bắc Cali

TS Nguyễn Quang A, đại diện Diễn Đàn Dân Sự Việt Nam

MS Nguyễn Công Bình, Việt Nam

Phật Giáo: Thượng Toạ Thích Viên Hỷ, Thành Viên Hội Đồng Liên Tôn VN .

Phật Giáo Hoà Hảo Thuần Túy: Cụ Nguyễn Văn Điền – Hội Trưởng Trung Ương GHPGHHTT

  • Ông Lê Quang Hiền (chánh thư ký TU.Phat Giao Hoa Hao Thuan Tuy ) cung deu la Thanh Vien Hoi Dong Lien Ton VN

Phật Giáo: HT. Thich Không Tánh : Phó Viện Trưởng kiêm Tổng Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội Tăng Đòan GHPGVNTN.

– Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm thi Anh Em bau toi la Chủ Tịch Ban Cố Vấn

Mục Sư Lê Quang Du (Vi Anh Le) Việt Nam

Bà Bạch-Y :  Hội Dân Oan    Lâm-Đồng

Trương-Kim :  thành-viên Hội-Tù Nhân Lương-Tâm  Việt-Nam.

Khối 8406 Quốc Nội

Phong Trào Cách Mạng Hoa Sen, Chủ tịch: Nguyễn Bá Đăng (Hà Nội, Việt Nam)

Người Hà Nội (VDP, Hà Nội Việt Nam)

Ô. Vương Kỳ Sơn, Nhà Biên Khảo: 1-Giám đốc Đài – Báo – TV Việt Nam Tự Do New Orleans. 2. Chủ Tịch Ủy Ban Yểm Trợ Khối 8406 New Orleans. 3. Đại Diện: Việt Nam Linh Thiêng – Quỹ Việt Linh Corporation..

Ô. Minh Đức, Diễn Đàn Người Dân Việt Nam

Ô. Lê Thành Lập

Ô. Hoàng Hùng, seattle wa

Ô. Đông H. Nguyễn,

Ô. Võ Hiền

Ô. Trần Quán Niệm, NJ Hoa Kỳ

Ô. Nguyên Vũ

Ô. Nguyễn Trí Dương, y/c giải tán đảng CSVN

Ô. Huỳnh Thúc Khải, (Chủ bút blog Lời Hằng Sống.)

Ô. Thomas Lương, Hoa Kỳ

Ô. Long Phạm,

Ô. Nhật Nguyễn, Hoa Kỳ

Ô. Hùng Nguyễn, Cali, Hoa Kỳ

Ô. Hoàng Độ, Florida, Hoa Kỳ

Bà Thu Nguyễn, Florida Hoa Kỳ

Ô. Lập Phan

 

GHI CHÚ: Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận ký tên vào bản tuyên cáo, email: lienlacqnhn@gmail.com)

 

Ủy Ban Liên Lạc Quốc Nội và Hải Ngoại

PO Box 262066, Tampa, Florida 33658

Điện thoại: 407-927-0014. Email: lienlacqnhn@gmail.com

KHỐI 8406 HOA KỲ: Ông Vũ Hoàng Hải

KHỐI 8406 HOA CANADA:Ông Trần Ngọc Bính

 

  • Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam : Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh.
  • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.
  • Phong Trào Phụ Nữ Hành Động Cứu Nước: Bà Trần Thị Hồng Khương.
  • Linh Mục Nguyễn Văn Lý: Cố Vấn Hội Đồng Kiên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.
  • HT Thích Minh Tuyên: Cố Vấn Hội Đồng Kiên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.
  • TT Thích Thiện Minh: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Cố Vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.
  • Linh Mục Nguyên Thanh, Cố Vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.
  • Diên Hồng Thời Đại Việt Nam: Ô Phan Kỳ Nhơn.
  • Liên Minh Dân Chủ Tự Do Cho Việt Nam: Ô Huỳnh Hưng Quốc.
  • Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo Và Nhân Quyền Việt Nam: HT Thích Nguyên Trí.
  • Mặt Trận Toàn Dân Dựng Cờ Dân Chủ: Ô Cao Xuân Khải.
  • Hội Đồng Liên Kết Tranh Đấu Dân Chủ và Nhân quyền Cho Việt Nam: Ô Lạc Việt.
  • Phong Trào Liên Đới Dân Oan: Trần Ngọc Anh.
  • Hội Dân Oan Đòi Quyền Sống: Hồ Thị Bích Khương.
  • Liên Minh Dân Chủ: Ô Nguyễn Hữu Ninh.
  • Văn Đàn Thời Đại: Nhà Thơ Cao Nguyên.
  • Câu Lạc Bộ Thi Văn Hải Ngoại: Nhà Thơ Vũ Lang.
  • Hội Thanh Niên Dân Chủ: Ô Trần Long.

Cong Dong NVQG Tacoma/ Pierce County.

Chu tich

Bs Nguyen Xuan Dung

Hoi Cao Nien Tacoma va Vung phu can

Hoi Truong

Tran Minh

 

 

 

 

 

TUYÊN CÁO Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67

Monday, December 14th, 2015

TUYÊN CÁO

Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67

(10-12-1948 / 10-12-2015) 

NHẬN ĐỊNH 

  • Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã du nhập và duy trì chủ nghĩa Cộng Sản bất nhân tại đất nước Việt Nam. Kể từ năm 1954 ở miền Bắc và từ tháng 4, 1975 tại toàn cõi Việt Nam, đảng CSVN áp đặt một chế độ độc tài, toàn trị, khống chế hoàn toàn xã hội Việt Nam; xóa bỏ các quyền tự do căn bản của con người; áp dụng một chế độ bất công, xử dụng các điều khoản của bộ luật Hình Sự nhằm áp chế người dân, nhất là những nhà tranh đấu vì dân chủ, tự do, công lý và vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam;
  • Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam có nhiệm vụ tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khi gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977; đã cam kết thực hiện 14 điểm cải thiện nhân quyền khi ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016. Nhưng cho đến nay, CSVN đã không thực hiện những gì đã hứa hẹn và cam kết, tiếp tục vi phạm nhân quyền trầm trọng, xem thường dư luận quốc tế, bất chấp ước vọng dân chủ tự do của nhân dân Việt Nam.

VÌ CÁC LÝ DO ĐÓ, Chúng tôi, đại diện các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại long trọng tuyên bố:

  • Cực lực lên án và tố cáo nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam về sự ngoan cố và những vi phạm quyền làm người của nhân dân Việt Nam;
  • Đòi hỏi đảng CSVN:
    1. Tuân thủ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các quyền dân sự khác; tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam;
    2. Thiết lập một hệ thống tư pháp độc lập, xét xử công bằng; Hủy bỏ các điều khoản bất công của Bộ Luật Hình Sự; thực thi những điều cam kết khi gia nhập Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.
    3. Trả tự do tức khắc và vô điều điện tất cả tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm và những công dân hiện đang bị sách nhiễu, tù đày, quản chế tại gia dưới mọi hình thức.
    4. Trao trả quyền cai trị cho nhân dân Việt Nam.
  • Kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước hãy đoàn kết đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam;
  • Yêu cầu Liên Hiệp Quốc giám sát và điều tra tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam; thỉnh cầu các quốc gia dân chủ trên thế giới hỗ trợ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cho một chế độ tự do, dân chủ, và pháp trị.

Làm tại New York, ngày 10 tháng 12, 2015

  • BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội, Ông Lưu Văn Tươi: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ
  • Ông Nguyễn Văn Tánh: Trưởng Ban Điều Hợp.
  • Ông Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký Liên Hội Người Việt Canada.
  • Ông Trần Viết Hùng: Tổng Thư Ký Liên Hiệp Hội Thánh Em Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại và các thành viên từ Canada
  • Ông Huỳnh Hiệp: Phật Giáo Hòa Hảo, tử Virginia, Hoa Kỳ
  • MS Ngô Đắc Lũy: Hội Thánh Tin Lành Mennonite, đại diện Hội Đồng Liên Tôn Quốc Nội.
  • Mr Joe L Ramos USP4GG Coordinator For New York
  • Mr Bert Aguilera President CEO Filaid Foundation INE
  • Tập Hợp Chiến Sĩ VNCH tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá GS Nguyễn Xuân Vinh.
  • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí.
  • Ô. Nguyễn Trung Châu, cựu Chủ Tịch Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Hải Ngoại
  • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng.
  • Tập Hợp vì Dân Chủ Việt Nam: BS Nguyễn Quốc Quân.
  • Các Cộng Đồng Việt Nam tại Úc Châu, Âu Châu, Canada, Hoa Kỳ
  • Đài SBTN.
  • Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại
  • Ông Đoàn Hữu Định Chủ Tịch Cộng Đồng DC&MD &VA.
  • DS Nguyễn Đức Nhiệm Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia TB/PA .
  • Trung Tá Trần Quốc Anh Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston .
  • Ông Nguyễn Thanh Bình Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia MA
  • Cô Huỳnh Duyên Trinh, TTK/HDQT/ CDVN/MASS và Chủ tịch CDVN thành Phố Worcester.
  • Ông Trần Văn Giỏi Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Connecticut
  • Bà Lê Ánh Nguyệt Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Tự Do, New Jersey.
  • Ông Vũ Trực Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG thành phố Philadelphia
  • Ông Trần Quán Niệm Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG Nam NJ
  • Ông Nguyễn Đình Toàn, GĐ đài OPM4TV
  • BS Bùi Quang Dũng, PCT Hội Đồng Đại Biểu
  • Đốc Sự Trần Xuân Thời, Cố Vấn
  • Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Cố Vấn
  • Ô. Phạm Thế Vinh, Chủ Tịch CĐVN Arkansas, AR
  • Đặng Thế Khương, Chủ Tịch CĐVN Arizona, AZ
  • Ô. Phạm Hữu Sơn, Chủ Tịch CĐNVQG Bắc California, CA
  • KS Trương Ngải Vinh, Chủ tịch CĐVN Southern California, CA
  • Cô Nguyễn Thu Hương, Chủ Tịch CĐNVQG Charlotte, N. Carolina
  • Ô. Võ Phương, Chủ Tịch CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  
  • Ô. Nghiệp Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG Columbia, SC: CT
  • Ô. Huyền Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG Raleigh, NC: CT
  • Ô. Phạm Thanh Liêm, Chủ Tịch Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA 
  • Ô. Đỗ Thiện Thịnh, Chủ Tịch CĐNVQG Sacramento, CA,
  • Ô. Nguyễn Hữu Hiến, Chủ Tịch CĐNVQG Stockton, CA, 
  • Ô. Nguyễn Trọng Cường, Chủ Tịch CĐNVQG Colorado, CO,  
  • Ô. Lê Thanh Liêm, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu CĐVN Florida, FL
  • Ông Phạm Quốc Hưng, Chủ Tịch CĐVN Central Florida, FL
  • Ô. Châu Ngọc An, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện CĐVN Central Florida, FL
  • Ô. Trần Công Thức, Chủ Tịch CĐVN Tampa Bay, FL \
  • Ô. Eric  Nguyễn, Chủ Tịch CĐVN Jacksonville, FL
  • KTS Nguyễn Đức Huy, Chủ Tịch CĐVN South Florida, FL
  • Ô. Bùi Lý, Chủ Tịch CĐVN Pensacola, FL
  • Bà Đặng T. K. Hạnh, Chủ Tịch CĐVN Georgia, GA
  • Ô. Lưu Toàn Trung, Chủ Tịch CĐNVQG Ilinois, IL,
  • Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn, Chủ Tịch CĐNVQG Massachusetts, MA
  • Ô. Cường Nguyễn, Chủ Tịch CĐNVQG St Louis, MO
  • Ô. Lê Hà Dũng, Chủ TịchCĐNVQG New Hampshire, NH
  • Ô. Lương Thông, Chủ Tịch CĐNVQG New Mexico, NM
  • KS Lê Hồng Thanh, Chủ Tịch CĐNVQG Louisiana, LA
  • LS Nguyễn Thanh Phong, Chủ Tịch CĐNVQG New York, NY
  • Ô. Nguyễn Khắc Vinh, Chủ Tịch CĐNVQG Oklahoma City, OK
  • Ô. Ngô Thế Bảo, Chủ Tịch CĐNVQG Allentown, PA
  • Ô. Nguyễn Hoa Chủ Tịch CĐNVQG Pittsburgh, PA
  • Ô. Võ Văn Loan, Chủ Tịch CĐNVQG Lancaster, PA
  • Ô. Nguyễn Văn Thanh, Chủ Tịch CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA
  • CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải
  • Ô. Nguyễn Hải, Chủ Tịch CĐNVQG  TP Lebanon, PA
  • Ô. Vũ Ngọc Hải , Chủ Tịch CĐNVQGTP York, PA
  • Ô. Đỗ Đức Chiến, , Chủ Tịch CĐNVQG TPEaston/Bethlehem, PA
  • Ô. Bùi Văn Kiệt, Chủ Tịch CDNVQG Nashville và MiddleTennessee, TN
  • Ông Đặng Q. Dũng, Chủ Tịch CĐNVTD West Tennessee
  • Phạm Quang Hậu, Chủ Tịch CĐNVQG Dallas, TX

Đính kèm:

Tài liệu vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam 

REFERRENCES:

1. Amnesty International Report 2014/15 | Amnesty International
2. World Report 2015: Vietnam | Human Rights Watch
  1. Special Report: Public Insecurity Deaths in Custody and Police Brutality in Vietnam
4. Vietnam 2014 human rights report – US Department of State
  1. Reports of human rights in Vietnam by Vietnam Human Rights Network

 

“Nhóm Lợi Ích” Đang Tàn Phá Việt Nam (Đại Dương)

Wednesday, December 2nd, 2015

Đại-Dương

Gần 30 năm thực thi chính sách “Đổi Mới”, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang nằm trong số 20 quốc gia có khả năng vỡ nợ lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản công khai tiến hành kế hoạch kỹ-nghệ-hoá quốc gia từ năm 2001 đến 2020 mà bây giờ (năm 2015) thừa nhận không thể đạt tới mục tiêu.

Dĩ nhiên, đất nước lụn bại do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng, giới chuyên gia quốc tế và trong nước đã dí tay vào trán các “nhóm lợi ích” như thủ phạm chính.

Thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” được giới lãnh đạo chóp bu của Việt Nam đề cập từ sau Đại hội XI (năm 2011), nhưng, chỉ nói đến hiện tượng xảy ra trong xã hội mà chưa xác định đích danh của từng “nhóm lợi ích”.

Giới phân tích quốc nội xem xét qua lăng kính triết học, chính trị, kinh tế, xã hội các thủ đoạn thu lợi bất chính của “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích”: (1) Lợi dụng và lạm dụng quyền lực kinh tế, chính trị; (2) Lợi dụng yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản hồi tháng 1-2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm” cũng như Phòng, chống tham nhũng.

Vì không dám chỉ mặt, đặt tên nên đã thất bại trong Hội nghị Trung ương 6 hồi tháng 10-2012 khi tất cả Uỷ viên Trung ương không đồng ý thi hành kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và 1 đồng chí trong Bộ Chính trị như yêu cầu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ai cũng biết đồng chí đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà khi tiếp xúc với cử tri sau Hội nghị, Chủ tịch Trương Tấn Sang chỉ dám gọi “đồng chí X”.

Cuộc chiến chống “lợi ích nhóm” vô vàn khó khăn, không hữu hiệu vì chiến tuyến không rõ rệt nên dẫn tới tình trạng “ta chống ta”.

Bộ Chính trị không dám công khai danh tính nên các “nhóm lợi ích” tiếp tục lộng hành làm cho Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng Việt Nam 31/100 điểm không thay đổi trong giai đoạn 2012-2014.

Việt Nam và cộng đồng quốc tế đều biết rõ khu vực kinh tế nhà nước là gánh nặng quá sức của quốc gia, ổ tham nhũng, lắm đại án, làm ăn thua lỗ. Nhưng, Bộ Chính trị vẫn quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”.

Dù đang ở trong tình trạng bội chi ngân sách, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn bơm 8 tỉ USD cho đầu tư và chắc chắn phần lớn được rót vào các doanh nghiệp Nhà nước.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Quản lý Kinh tế Trung ương chỉ trích Chính phủ “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc như 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới”.

Như thế, các “nhóm lợi ích” đã có ảnh hưởng từ thượng tầng lãnh đạo bất chấp tới quyền lợi tối cao của dân tộc.

Dưới bàn tay thao túng của các “nhóm lợi ích” làm cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái.

Tăng trưởng GDP 8.5% của năm 2007 giảm xuống 5.9% vào năm 2011 và 5.4% của 2013.

Tỷ lệ nợ công trong GDP của Việt Nam tăng với tốc độ khá nhanh, từ mức 52% của năm 2010 lên 60% năm 2014 so với trần 65% do Quốc hội đề ra.

Nhưng, một số chuyên gia quốc tế ước tính nợ công của Việt Nam đã lớn hơn GDP.

Các “nhóm lợi ích” bất chấp nguy cơ vỡ nợ nên vẫn phát hành khối lượng lớn trái phiếu vào giai đoạn 2013-2014 đã khiến nợ công tăng nhanh chóng.

Áp lực trả lãi vay của Chính phủ sẽ gia tăng mạnh kể từ năm 2018, tăng 17% so với năm trước, và tiếp tục lên 20% và 23% vào 2 năm sau.

Nợ của Chính phủ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, vay ODA chiếm 80% bằng 49% GDP, và 20% còn lại do bảo lãnh cho ngân hàng và địa phương, chiếm 11% GDP.

Tất cả các khoản vay trực tiếp, vay ưu đãi (ODA=Viện trợ Phát triển Chính thức), trái phiếu chứng khoán đều tăng lãi suất hơn gấp đôi kể từ năm 2017 trong khi dư nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ ở mức 191 tỉ USD vào năm 2020, gấp đôi năm 2015.

GDP danh nghĩa (nominal) của Việt Nam ước tính chỉ có 204 tỉ USD vào năm 2015 đang đối diện với nguy cơ phá sản rất lớn.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ tụt hậu nên đã phát động chiến dịch chống-tham-nhũng từ năm 1998. Nhưng, tới nay tham nhũng vẫn sống mạnh, sống hùng, lan tràn khắp mọi khía cạnh đời sống.

Tất cả những phát biểu đao to búa lớn, các cuộc hội thảo rầm rộ, nhiều bài tham luận tràng giang đại hải chỉ mang lại vài kết quả rất khiêm nhường trong chiến dịch chống-tham-nhũng.

Thất bại được báo trước này do những “đỉnh cao trí tuệ loài người” quen thói dối người, dối mình, chỉ nói nửa sự thật.

Hùng hổ buộc tội “nhóm lợi ích”, nhưng, chưa chỉ ra được ai và ở đâu để trừng trị.

Hà Phong trên Hà Nội mới Online ngày 31-03-2012 phê bình bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện; (2) Tính minh xác, tính minh định, phạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật.

Thực sự, Bộ máy Nhà nước gồm đảng, chính phủ, đoàn thể vô cùng đồ sộ và phình to vô tội vạ không những ăn hết tiền thuế do dân đóng mà còn giành giật phần lớn thành quả phát triển của toàn dân.

Không ai có quyền và khả năng áp lực để đảng Cộng sản Việt Nam phải tinh giản Bộ máy Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, kể cả các chính phủ ngoại quốc và định chế quốc tế.

Đúng ra, các chính phủ và định chế bên ngoài Việt Nam không có trách nhiệm hốt rác vì đó thuộc về nghĩa vụ của mỗi công dân trên quê hương hình cong như chữ S.

Đảng Cộng sản từ khi thành lập cho tới lúc lên cầm quyền vẫn không thay đổi bản chất độc tài, đảng trị, hành động bất minh nên tất cả vị trí lãnh đạo từ trung ương tới địa phương đều lọt vào tay đảng viên.

Như thế, đảng Cộng sản vốn là một “nhóm siêu lợi ích” sản sinh nuôi dưỡng và bảo kê, bảo vệ cho các “nhóm lợi ích” lớn, nhỏ tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chống các “nhóm lợi ích” sẽ không có hiệu quả nếu đảng Cộng sản còn cầm quyền.

Đại-Dương

Tăng Đoàn GHPGVNTN báo động giặc đã vào nhà, vận mệnh Tổ quốc lâm nguy

Wednesday, November 11th, 2015

HT. Thích Viên Định (hàng đứng, thứ 4 từ phải sang)
 
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
Chùa Giác Hoa, 15/7 Nơ Trang Long,
Phường 7, Q. Bình Thạnh,
TP Sài Gòn
Phật lịch 2559
Số: 08/HĐĐH/TB/VT
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
BÁO ĐỘNG
GIẶC ĐÃ VÀO NHÀ, VẬN MỆNH TỔ QUỐC LÂM NGUY
Kính thưa Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,
Toàn dân đều biết Trung cộng đã xâm chiếm 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam, việc bắn giết, giam giữ, đánh phá ghe thuyền, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam vẫn đang tiếp tục xảy ra trên vùng biển thuộc hải phận Việt Nam.
Thế nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã không có một hành động nào để bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự tôn nghiêm quốc thể bằng những công cụ ngoại giao, pháp lý hay quân sự như Philippines đã làm để đòi lại biển đảo cho tổ quốc Việt Nam.
Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối qua loa lấy lệ, và trong nhiều trường hợp còn đưa ra lời đề nghị 2 bên “cùng duy trì nguyên trạng.”, ”cùng hợp tác khai thác…”, có nghĩa là họ coi việc mất chủ quyền quốc gia là “chuyện đã rồi”.
Về mặt ngoại giao, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không có thái độ cương quyết trong các cuộc gặp thượng đỉnh để phản đối mà còn rước giặc vào nhà, đón chào trọng vọng, cờ xí rợp trời. Người dân biểu tình lên tiếng, bày tỏ thái độ tẩy chay kẻ xâm lăng lại bị Nhà cầm quyền cho Công an đàn áp, bắt giam, đánh đập đến đổ máu.
Về quốc phòng, không tạo được một thế liên minh hữu hiệu để cùng các nước có chung lợi ích trên biển Đông đối phó với tham vọng bành trướng của Bắc Kinh, và hiện tại đất nước chúng ta vẫn đơn độc trước kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần.
Về nội bộ, không tạo được sự đoàn kết toàn dân như ông cha ta đã làm trong lịch sử mà Hội nghị Diên Hồng là một điển hình để sẵn sàng đương đầu chống quân xâm lược. Trái lại, Nhà cầm quyền ra sức đàn áp những người yêu nước, làm phân hóa, chia rẽ lòng người, triệt tiêu nội lực quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho quân xâm lược.
Trong thời gian ông Tập Cận Bình, Chủ Tịch nước kiêm Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung quốc đến Việt Nam, các chùa Liên Trì, chùa Giác Hoa và tư gia các nhà tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam bị công an canh gác ngày đêm chặt chẽ.
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không lượng định được dã tâm thật sự trong chuyến công du Việt Nam của ông Tập Cận Bình là để xoa dịu dư luận thế giới, biến hành động xây dựng những căn cứ quân sự bất hợp pháp trên vùng biển đảo Việt Nam thành chuyện “bình thường”.
Phía Trung quốc còn dùng chuyến đi này để ru ngủ, phân hóa nội bộ Cộng sản Việt Nam và dư luận trong nước làm cho nhân dân Việt Nam mất cảnh giác.
Trước và sau khi đến Việt Nam, ông Tập Cận Bình vẫn vô lý khi tuyên bố với thế giới rằng Hoàng sa và Trường sa là lãnh thổ của Trung quốc từ thời xa xưa.
Không thể thương lượng “hòa bình, ổn định” với kẻ ngang ngược, bất chấp công lý, xem thường dư luận, ỷ mạnh, dùng vũ lực đốt nhà, giết người, cướp bóc tài sản, xâm chiếm biển đảo tổ quốc ta được !
Việc trải thảm đỏ đón tiếp lãnh đạo Trung quốc trong tình hình hiện nay của nhà cầm quyền Hà nội là một sai lầm nghiêm trọng vì sẽ đánh mất sự thông hiểu và ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhất là với hai đối tác lớn là Hoa Kỳ và Nhật Bản, càng làm cho đất nước bị cô lập thêm.
Đất nước và Dân tộc chúng ta phải trả giá đắt cho những sai lầm này của đảng Cộng sản Việt Nam.
Tổ quốc thật sự đã lâm nguy!
Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 08 tháng 11 năm 2015.
Thay mặt Hội Đồng Điều Hành
Tăng Đoàn GHPGVNTN
Viện Trưởng
(ấn ký)
Tỳ kheo Thích Viên Định

Tuyên Cáo Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam – Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Monday, November 2nd, 2015

Tuyên Cáo

Phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam,

Lên án đảng Cộng Sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân

Theo tin tức quốc tế, chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình sẽ đến Việt Nam ngày 5 và 6 tháng 11 năm 2015 và sẽ đọc diễn văn trước quốc hội CSVN trong bối cảnh:

  • Trung Cộng vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền ngụy tạo trên Biển Đông và xây dựng các đảo nhân tạo trên các bãi đá ngầm chiếm đoạt của Việt Nam ở Quần Đảo Trường Sa. Để thách thức chủ quyền bất hợp pháp này, Hoa Kỳ đã đưa chiến hạm Lassen tuần tra trong vùng 12 hải lý chung quanh các đảo nói trên, được sự hỗ trợ của các nước đồng minh trong đó có Liên Hiệp Âu Châu.
  • Các quốc gia vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương cùng Hoa kỳ lập liên minh chống sự bành trướng của Bắc Kinh;
  • Tòa án Liên Hiệp Quốc ở La Hayes tuyên bố có thẩm quyền xét xử đơn kiện của Phi Luật Tân về những đòi hỏi chủ quyền bất hợp pháp của Trung Cộng tại Biển Đông;
  • Sắp sửa có họp thượng đỉnh G-20 tại Thổ Nhĩ Kỳ và APEC tại Philippines;
  • Trung Cộng đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chia rẽ nội bô, trong lúc họ vẫn đàn áp những người tranh đấu cho tự do và nhân quyền; gia tăng áp bức các dân tộc Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông…
  • CSVN chuẩn bị tổ chức Đại Hội đàng lần thứ 12 trong tình trạng nội bộ tranh chấp gay go, nhưng chính sách đàn áp nhân quyền, cấm cản người dân Việt Nam bày tỏ lòng yêu nước trước sự lâm nguy của Đất Nước vẫn tiếp tục mạnh bạo.
  • Nhiều chỉ dấu cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đã lệ thuộc quá nhiều vào Trung Cộng qua mưu toan đưa đất nước vào ách thống trị của Bắc Kinh.

Xét rằng:

  • Trung Cộng là kẻ thù số một của nhân dân Việt Nam. Trung Cộng đã chiếm đất đai, biển đảo của Việt nam, dùng võ lực chiếm Hoàng Sa Trường Sa, khống chế Việt Nam bằng mọi hình thức về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường…
  • Trung Cộng chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng, tự tuyên bố chủ quyền hơn 80% vùng Biển Đông; gây hấn tại biển Hoa Đông; xây các đảo nhân tạo trong vùng tranh chấp ở Quần Đảo Trường Sa bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Chính phủ Hoa Kỳ vừa có hành động thích ứng rất đáng ca ngợi khi đưa chiến hạm vào vùng biển xung quanh các đảo nhân tạo do Trung Cộng chiếm giữ ở Trường Sa, cương quyết thực hiện quyền tự do lưu thông hàng hải trên vùng biển quốc tế.
  • Các cuộc tiếp đón trọng thể của lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đối với Tập Cận Bình sẽ mang ý nghĩa chấp nhận sự thống trị của Trung Cộng đối với VN và hợp thức hóa những lời tuyên bố xấc xược của Trung Cộng và đặc biệt là của Tập Cẩn Bình vể chủ quyền trên Biển Đông,

Vì thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ phối hợp cùng các Cộng Đồng trên thế giới, long trọng tuyên cáo:

  • Cực lực phản đối sự có mặt của Tập Cận Bình tại Việt Nam nhằm khống chế đất nước và dân tộc Việt Nam;
  • Lên án đảng CSVN tiếp tay dâng đất dâng biển cho Trung Cộng;
  • Nhiệt liệt ủng hộ những cuộc đối kháng, biểu tình chống Tập Cận Bình, chống Trung Cộng bất cứ hình thức nào tại quốc nội do dân chúng và những người yêu nước khởi xướng.
  • Kêu gọi đồng bào quốc nội hãy mạnh dạn đứng lên phản đối sự hiện diện của Tập Cận Bình; Kêu gọi đồng bào hải ngoại tổ chức, hoặc tham gia những cuộc biểu tình phản đối Tàu Cộng và Việt Cộng; tích cực tẩy chay hàng hóa Trung Cộng;
  • Kêu gọi các quốc gia tự do trên thế giới hãy có thái độ mạnh mẽ chống lại sự bành trướng của nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Kinh và hỗ trợ nhân dân Việt Nam đấu tranh giành Độc Lập Tự Do Dân Chủ cho Quê Hương Việt Nam.

 

Hoa Kỳ ngày 2 tháng 11 năm 2015

BS Võ Đình Hữu                                BS Đỗ Văn Hội                            Ô. Lưu Văn Tươi

CT Hội Đổng Đại Biểu                       CT Hội Đồng Chấp Hành             CT Hội Đồng Giám Sát

 

Hội Đồng Cố Vấn: Bs Trương Ngọc Tích – Đốc Sự Trần Xuân Thời – ĐT Nguyễn Xuân Sơn

Ô. Nguyễn Văn Tánh – GS Phạm Văn Thanh – KS Lê Hồng Thanh

Cố Vấn Hội Đồng Chấp Hành: Ông Nguyễn Trung Châu, Ô. Nguyễn Khắc Vinh, KS Đỗ Như Điện, Ô. Bùi Quang Lâm

Các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia:

CĐVN Arkansas, AR: Chủ Tịch: Ô. Phạm Thế Vinh,

CĐVN Arizona, AZ; Chủ tịch: Ô. Đặng Thế Khương

CĐNVQG Bắc California: Ô. Phạm Hữu Sơn

CĐVN Southern California, CA; Chủ tịch: KS Trương Ngải Vinh

CĐNVQG Nam Cali; Chủ Tịch: NV Bùi Phát

 

Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, Chủ Tịch: Ô. Phạm Thanh Liêm  

CĐNVQG Sacramento, CA, Chủ tịch: Ô. Đỗ Thiện Thịnh

CĐNVQG Stockton, CA, Chủ Tịch: Ô. Nguyễn Hữu Hiến

CĐNVQG Charlotte, N. Carolina: Chủ Tịch Cô Nguyễn Thu Hương

CĐNVQG Greenville, S. Carolina,  CT Ô. Võ Phương.

CĐNVQG Columbia, SC: CT Ông. Nghiệp Nguyễn

CĐNVQG Raleigh, NC: CT Ông Huyền Nguyễn

CĐNVQG Colorado, CO, Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Trọng Cường

CĐNVQG Connecticut, Chủ Tịch: Ô. Trần Văn Giỏi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch: Ô. Lưu Văn Tươi

CĐVN Florida, FL: Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu: Ô. Lê Thanh Liêm

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch: Ông Phạm Quốc Hưng

CĐVN Central Florida, FL: Chủ tịch HĐĐD: Ô. Châu Ngọc An

CĐVN Tampa Bay, FL; Chủ tịch: Ô. Trần Công Thức

CĐVN Jacksonville, FL; Chủ tịch: Ô. Eric  Nguyễn

CĐVN South Florida, FL; Chủ tịch: KTS Nguyễn Đức Huy

CĐVN Pensacola, FL; Chủ tịch: Ô. Bùi Lý

CĐVN Georgia, GA, Chủ Tịch: Bà Đặng T. K. Hạnh

CĐNVQG Ilinois, IL, CT Ô. Lưu Toàn Trung

CĐNVQG Massachusetts, MA; Chủ tịch: Ô. Thân Vĩnh Bảo Toàn

CĐNVQG St Louis, MO; Chủ tịch: Ô. Cường Nguyễn

CĐNVQG South New Jersey, NJ; Chủ tịch: Ô. Trần Quán Niệm

CĐNVQG New Hampshire, NH; Chủ Tịch: Ô. Lê Hà Dũng

CĐNVQG New Mexico, NM: Ô. Lương Thông,

CDVN New Jersey, NJ: Chủ Tịch: Bà Lê Ánh Nguyệt

CĐNVQG Minnesota, MN; Chủ tịch: Ô. Lê Đình Thăng

CĐNVQG Louisiana, LA; Chủ tịch: KS Lê Hồng Thanh

CĐNVQG New York, NY; Chủ tịch: LS Nguyễn Thanh Phong

CĐNVQG Oklahoma City, OK; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Khắc Vinh

CĐNVQG Allentown, PA; Chủ tịch: Ô. Ngô Thế Bảo

CĐNVQG Philadelphia, PA; Chủ tịch: ô. Vũ Trực

CĐNVQG Pennsylvania, PA; Chủ tịch: DS Nguyễn Đức Nhiệm

CĐNVQG Pittsburgh, PA; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Hoa

CĐNVQG Lancaster, PA; Chủ tịch: Ô. Võ Văn Loan

CĐNVQG ĐB Pennsylvania, PA ; Chủ tịch: Ô. Nguyễn Văn Thanh

CĐNVQG TP Reading, PA; Chủ Tịch:  Ô. Vũ thanh Hải

CĐNVQG  TP Lebanon, PA; Chủ tịch:  Ô. Nguyễn Hải

CĐNVQG TP York, PA ; Chủ tịch: Ô. Vũ Ngọc Hải 

CĐNVQG TP Easton/Bethlehem, PA.  Chủ Tịch: Ô. Đỗ Đức Chiến,

CDNVQG Nashville và Middle Tennessee, TN; Chủ Tich: Ô. Bùi Văn Kiệt

CĐNVTD West Tennessee; Chủ Tịch: Ông Đặng Q. Dũng

CĐNVQG Houston, TX; Chủ tịch: TT Trần Quốc Anh

CĐNVQG Dallas, TX; Chủ tịch: LS. Phạm Quang Hậu

CĐNVQG Utah, UT; Chủ Tịch: Ông Nguyễn Văn Thành

Danh sách các tổ chức và Cộng Đồng ủng hộ tuyên cáo sẽ được phổ biến sau.

Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, CT Đại Tá Nguyễn Văn Quí

Liên Hội Người Việt Canada, TTK: Ô. Trần văn Đông

CĐVN DC/Maryland/Virginia, CT Ông Đoàn Hữu Định, Đồng CT: Ô. Thomas Phạm.

CĐNVQG Lausane, Thụy Sĩ – CT Ô. Trần Xuân Sơn

CĐNVQG Tacoma và Pierce County, Wa, CT: BS Nguyễn Xuân Dũng

Hội Cao Niên Tacoma và Vùng Phụ Cận: Pht Ông Trần Minh

Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Vùng Hoa Thịnh Đốn, CT: Dr. Tạ Cự Hải

Thẳng Tiến Việt Nam: Đại diện: Nguyễn Sơn Hà, Thái Thanh Thuy

CĐ Người Mỹ Gốc Việt Sacramento, CA

Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn CS tại Đức Quốc, CT: BS Hoàng thị Mỹ Lâm.

 

(xin liên lạc với chúng tôi để bổ túc danh sách)

Nhà báo Bùi Tín đã giác ngộ và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN

Thursday, October 29th, 2015

Nhà báo Bùi Tín và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN mà ông là cựu đại tá bộ độ “Cụ hồ”(Thay một lời trăng trối gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)

Tác giả: Bùi Tín

Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là “sao mà ngu lâu thế!”, nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.

Năm nay tôi tự làm “cuộc kỷ niệm” độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người – gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

Giác ngộ là hai chữ tôi nghe rất nhiều lần khi được tuyên truyền về Đảng CS, về chủ nghĩa CS. Các vị đàn anh giải thích con người tốt phải là con người giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là nhận ra lý tưởng cho cuộc đời minh. Tuổi trẻ cần có lý tưởng, hiểu rõ con đường cần chọn, hiểu rõ tổ chức cần tham gia, không bỏ phí cuộc đời minh. Đó là con đường Cộng Sản, dẫn đến độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân, họ rao giảng triền miên như thế, chúng tôi cũng cả tin là thế thật.

Theo học các chương trinh và lớp học cho đảng viên mới, cho cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp của đảng, bao giờ giảng viên cũng nhắc đến hai chữ giác ngộ. Học, học nữa, học mãi để nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ của mỗi người. Đảng viên phải có trình độ giác ngộ cao hơn quần chúng ngoài đảng. Đảng viên mới luôn được học kỹ tấm gương của anh thanh niên Lý Tự Trọng, với nét nổi bật nhất là giác ngộ CS từ tuổi thiếu niên, rồi biết bao tấm gương của những chiến sỹ CS ưu tú, bất khuất trong các nhà tù thực dân ở Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum…giác ngộ cách mang cao, nhà tù, máy chém không nao núng, biến nhà tù thành trường học nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bất khuất, kiên cường.

Trong các bản khai lý lịch cá nhân, mỗi đảng viên thường kể lại bản thân mình được giác ngộ ra sao, được ai giác ngộ, giác ngộ đến mức nào, và luôn kết luận với lời hứa không ngừng học tập, tu luyện, tự phê bình và phê bình để không ngừng nâng cao trinh độ giác ngộ của bản thân.

Tôi kể ra như thế để thấy hai chữ giác ngộ có tác dụng sâu sắc ra sao đối với mỗi đảng viên CS. Hai mươi nhăm năm nay, tôi hồi tưởng lại quãng đời 44 năm là đảng viên CS, theo dõi chặt chẽ thời cuộc hằng ngày trong nước và thế giới, tôi không khỏi cảm thấy chua chát và cay đắng về hai chữ giác ngộ.

Giác ngộ hình như là một chữ Đảng CS mượn của Đạo Phật. “Giác” là nhận thấy, cảm nhận, thấy rõ, “ngộ” là tỉnh ra, nhận ra lẽ phải, chân lý để làm theo.

Sau khi là con người tự do, là nhà báo tự do, kết thân với nhiều nhà báo tự do của thế giới, các nhà báo tự do Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Ba Lan, Tiệp…, tôi tìm đọc các kho tư liệu lưu trữ quý ở Paris, Moscow, London, Washington… rồi suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, của riêng mình, không sùng bái bất cứ một người hay một học thuyết nào. Từ đó tôi giác ngộ không biết bao nhiêu điều mới mẻ, và lần này tôi thật sự có cảm giác sâu sắc về hạnh phúc tinh thần tiếp cận được ngày càng nhiều sự thật, lẽ phải, chân lý. Tôi đã tự giác ngộ mình.

Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác.

Như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản kiểu mác-xít đều là những học thuyết chủ quan, lầm lẫn, hoàn toàn nguy hại trong thực tế, cổ xuý đấu tranh giai cấp cực đoan và bạo lực, đi đến chiến tranh, khủng bố, đổ máu, hận thù. Giữa thủ đô Washington, tôi cùng anh Cù Huy Hà Vũ đã viếng Tượng đài Kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, trong đó có hàng triệu nạn nhân đồng bào Việt ta. Tượng đài nhắn nhủ toàn nhân loại hay cảnh giác với chủ nghĩa CS, tai họa của toàn thế giới.

Tháng 5/2015, Tổng thống Ukraine, một nước cộng sản cũ, đã ký Luật cấm tuyên truyền về chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như trong thời kỳ trong Liên bang Xô Viết từ 1917 đến 1991, coi đó là thời kỳ bi thảm, sai lầm và Tội Ác. Các tượng đài, di tích thời kỳ ấy đều bị phá bỏ. Các sự kiện ấy giúp tôi khẳng định việc thoát đảng CS của tôi là chuẩn xác và giúp tôi thấy Dự thảo văn kiện sẽ đưa ra Đại hội XII sắp đến là lạc hậu, lẩm cẩm và cực kỳ nguy hại cho đất nước, cho nhân dân, cho chính Đảng CS ra sao.

Tôi không thể hiểu vì sao, sau khi Giáo sư Trần Phương, từng là Phó Thủ tướng, là uỷ viên Trung ương Đảng, đã chứng minh rành mạch rằng chủ nghĩa Mác, Lênin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS đều là ảo tưởng sai lầm, nguy hại, hay vì sao sau khi đương kim Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã công khai cho rằng: “Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tim cho mất công! “, vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ khẳng định trong văn kiện Đại hội XII rằng “kiên định chủ nghĩa Mác, Lênin, kiên định chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa CS là lập trường không thể thay đổi “, một thái độ ngoan cố, cổ hủ, tối tăm, buộc toàn đảng phải đi theo sự lẩm cẩm dai đẳng nguy hại của minh.

Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật.
Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của minh. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

Mới đây, có 2 sự kiện minh họa rõ thêm bản chất con người thật HCM. Nhà báo Trần Đĩnh từng gần gũi ông Hồ kể lại ông từng cho rằng không thể giết bà Năm – Cát Hanh Long để mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất, bà lại là ân nhân của đảng CS, – ông còn văn hoa nói: “Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa”. Vậy mà theo Trần Đĩnh, chính ông Hồ đã viết bản Cáo trạng kết án Bà Năm: “Địa chủ ác ghê”, ký tên CB (của Bác- Bác Hồ) trên báo Nhân Dân của Đảng. Cũng theo Trần Đĩnh, ông Hồ đã cải trang, mang kính râm đích thân đến dự cuộc xử bắn bà Năm.

Vậy ông Hồ là con người thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, lá mặt lá trái, tử tế hay không tử tế? đạo đức hay vô đạo đức?

Nhà triết học uyên bác bậc nhất nước ta Trần Đức Thảo trước khi từ giã cõi trần đã kể trong cuốn Những lời trăng trối (do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ghi âm) rằng ông đã gặp ông Hồ, quan sát, nghiên cứu sâu về tư tưởng, hành vi, đạo đức của ông Hồ, và đi đến kết luận vững chắc rằng ông Hồ là “con Người muôn mặt, lắm mưu mô, nhiều tham vọng quyền lực, nhiều điều bí hiểm, lắm tên nhiều họ, ẩn hiện khôn lường, lắm vợ, nhiều con, rất phức tạp”, là một “Tào Tháo của muôn đời”.

Ông Trần Đức Thảo cho rằng đảng CS kêu gọi cả nước học tập đạo đức HCM, vậy là muốn biến cả nước thành Tào Tháo hết cả ư!
Thế thật thì nguy cho dân tộc ta quá ! Ý kiến của nhà triết học này thật thỏa đáng.

Tôi có nhiều lý do để quí trọng ông Hồ. Tôi từng gặp ông khá nhiều lần, khi là phóng viên thời sự quốc tế, vào Dinh Chủ tịch dự chiêu đãi ông Lưu Thiếu Kỳ, ông Alexei Kosigyn hay các nhà báo Pháp, Nga, Trung Quốc. Năm 1957 khi ông vào Vinh thăm bộ đội Quân khu IV tôi được giao chuẩn bị bài nói chuyện của ông trước cán bộ quân khu, khen ngợi thành tích giúp dân gặt lúa, chống bão, lụt và diễn tập ở giới tuyến, ông liếc qua bản viết, khen đãi bôi: “Chú văn hay chữ tốt nhỉ!” rồi đút vào túi. Hơn nữa, cha tôi có quan hệ mật thiết với ông Hồ. Ông từng ngỏ lời mời cha tôi ra tham chính từ những ngày đầu Cách mang tháng Tám. Cha tôi lưỡng lự, do quan niệm Nho giáo “Trung thần không theo hai Vua”, nhưng ông Hồ vẫn cử ông Bộ trưởng Tư pháp Vũ Trọng Khánh, rồi ông Vũ Đình Huỳnh mang thư riêng đến. Chính ông Hồ đề cử cha tôi thay Cụ Nguyễn Văn Tố làm nhiệm vụ Chủ tịch Quốc hội sau khi Cụ Tố bị lính Pháp bắn chết. Nhưng tôi không thể vì những chuyện riêng tư ấy mà làm sai lạc sự đánh giá công bằng, khách quan, chuẩn xác của chính mình.

Không một học thuyết nào, không một cá nhân lãnh tụ nào có thể được đặt trên dân tộc và nhân dân. Do yêu nước thật lòng, thương đồng bào Việt mình thật lòng nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận dứt khoát, sòng phẳng rằng ông HCM là một nhân vật tiêu cực trong lịch sử VN. Ông có phần trách nhiệm lớn làm cho đất nước lâm vào chiến tranh, do ông chọn con đường CS của Đệ Tam Quốc tế nên mới bị thế giới Dân chủ sớm đặt VN ta trong Chiến lược Be bờ ngăn chặn CNCS (Containment of Communism Strategy). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông dựng lên thật ra không phải là chế độ dân chủ, mà còn là chế độ độc đoán toàn trị do đảng CS độc quyền cai trị, đến nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, tự do ứng cử và bầu cử, tự do xuất nhập cảnh, tự do tôn giáo, không thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh, đảng CS nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn thêm quyền thứ tư là ngôn quyền.

Các tổ chức xã hội dân sự tự phát đang lớn mạnh cùng các nhà dân chủ từ lão thành đến trẻ tuổi đang cùng các cựu đảng viên CS đã thoát đảng tự đặt cho mình nghĩa vụ trước Dân tộc và Lịch Sử chung sức mở ra Kỷ Nguyên Dân chủ và Tự Do cho nước Việt Nam ta.

Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các đảng viên CS nhân các cuộc họp Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ, đảng bộ cơ sở đến Đại Hội toàn quốc hãy thắp sáng lên ngọn đèn Giác ngộ mới mẻ, manh dạn xoá bỏ những điều giác ngộ cũ kỹ, lạc hậu, giáo điều, lẩm cẩm, mê muội rất có hại, như kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mác-xít, sùng bái nhân vật HCM, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng lạc lõng, tệ hại.

Đó chính là sự giác ngộ cần thiết cấp bách hiện nay. Trong các cuộc họp bàn, góp ý vào các văn kiện dự thảo, chớ bị lừa dối khi nghe lãnh đạo tuyên truyền rằng các văn kiện đã tiếp thu hàng triệu ý kiến xây dựng, đã được nhất trí cao, không cần bổ sung, sửa chữa gì nhiêu, “do kẻ xấu và bọn phản động xúi giục”. Cần nhận rõ nội dung các văn kiện mới là điều kiện sinh tử của đảng, quan trọng hơn vấn đề nhân sự nhiều, vì vận mệnh đất nước, quyền lợi của toàn dân phụ thuộc vào học thuyết chính trị, vào đường lối đối nội, đối ngoại, vào các quốc sách chính trị, kinh tế tài chính, đối ngoại, xã hội và văn hoá đạo đức. Kiên quyết từ bỏ, gột rửa những điều giác ngộ cũ, nhận rõ đó chỉ là những học thuyết sai lầm tệ hại trong thực tế cuộc sống, những tà thuyết đã bị thế giới nhận diện, lên án, loại bỏ, ta không có một lý do nào để gắn bó, quyến luyến, tiếc thương.

Xin các bạn chớ sợ mình đơn độc, thiểu số trong các cuộc họp. Chân lý ban đầu bao giờ cũng là thế. Các bạn chính là những hạt kim cương trong khối quặng đen. Hãy dũng cảm thắp lên ngọn đèn giác ngộ mới, tiên tiến. Các bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc sâu lắng khi dần dần chính kiến của bạn được lan tỏa trở thành chân lý, sự giác ngộ của số đông.

Buổi tâm sự về hai chữ giác ngộ xin tạm ngừng ở đây, mong có ích trong khêu gợi những ý kiến mới mẻ trong tư duy của các bạn về hiện tình đất nước, về con đường cần chọn cho dân tộc, cho Quê hương, để đất nước phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mỗi công dân, mỗi gia đình chung hưởng.

Bùi Tín, VOAs Blog

Tái bút: Xin đề nghị các mạng blog tự do, lề trái, và bạn đọc có điều kiện nhân bản bài viết này và gửi cho các đảng viên CS quen biết, nhân Đại hội Đảng các cấp thảo luận các văn kiện dự thảo cho Đại Hội Đảng Toàn quốc lần thứ XII đầu năm 2016. Xin đa tạ. B.T

Biểu tình chống chủ tịch Tàu Cộng Tập Cẩm Bình

Sunday, September 27th, 2015

Protest against Xi Jinping. Please have strong actions on Chinese aggression

Tuesday, September 22nd, 2015

Protest against Xi Jinping.
Please have strong actions on Chinese aggression.
Please sign now! Thank you! ===========================> (sign in this box)

VIETNAMESE COMMUNITY OVERSEAS
PO Box 5055 Springfield, VA 22150
____________________________________________________________________

DECLARATION
ON THE CHINESE PRESIDENT XI JINPING’S VISIT TO THE UNITED STATES

Chinese President Xi Jinping will visit to the US from September 22nd to 28th, 2015 and will be hosted by President Obama on September 25th, 2015.

According to the White House Press release, this visit “reciprocates President Obama’s State Visit to China in November 2014. President Xi’s visit will present an opportunity to expand U.S.-China cooperation on a range of global, regional, and bilateral issues of mutual interest, while also enabling President Obama and President Xi to address areas of disagreement constructively. The President and Mrs. Obama will host President Xi and Madame Peng Liyuan at an official State Dinner on the evening of September 25.”

Whereas, The Chinese Administration had implemented erroneous activities as listed below:

1. Serious violation of the Human Rights against the people of China, especially to Falun Gong group, and deprivation of all basic rights from the people;

2. Suppression of Tibetan, the Uighurs at Xinjiang, and the Inner Mongolian etc…

3. Endless expansion with negative effects to the neighbor countries including Vietnam;

4. Self-declaration of sovereignty of 80% of East Seas (South China Sea); illegal invasion of the East Sea islands and waters; construction of artificial islands and three airports regardless international law and condemnation; causing environmental disasters and instability for the Southeast Asia and Asia-Pacific regions;

5. Cyber-attack and stealing business and personal confidential data that causes serious damage to the U.S economy and poses major threat to the U.S. homeland security.

6. Land encroachment of Vietnam with the support of The Vietnamese Communist Party that caused adverse effect in many areas such as land, economy, social, culture, etc…, and threatened the existence of Vietnam as an independent country.

7. The Obama Administration has enforced a weak policy against the aforementioned illegal expansion and China’s threat to the fundamental rights and national security of America and foreign countries.

Therefore, the Vietnamese community overseas solemnly declared:

(1) We, vehemently denounce and condemn to the world the Chinese serious human rights violations and illegal expansion;

(2) We, supplicate President Obama and all democratic countries to take strong actions to protect the freedom, democracy, fundamental rights for Chinese people and safety for the U.S and the other countries.

Washington DC, September 22nd , 2015

Representatives of Communities, Organizations:

  • Vietnamese American Community VAC) of Washington, D.C., Maryland & Virginia: Mr. Dinh Huu Doan, President.
  • Federation of Vietnamese American Communities of the USA, Vo Dinh Huu, MD – Hoi Van Do, MD- Prof. Thanh Van Pham – Tich Ngoc Truong, MD – Mr. Thoi Xuan Tran – Mr. Son Xuan Nguyen – Mr. Tanh Van Nguyen.
  • Former Vietnamese Political Prisoners Association: Fmr Qui Van Tran, President.
  • Vietnam Human Rights Network: Dr. Nguyễn Bá Tùng, President.
  • Movement for Vietnamese Laity in Diaspora: Mr. Pham Hong Lam, Coordinator.
  • Bao Tran, President, the People Force’s To Save Vietnam, Torrance, California, USA
  • Vietnamese Canadian Federation – Dong Van Tran, Secretary General
  • Liem Thanh Nguyen, Cao Đài Tây Ninh Church.
  • Hung Tran, Representative of The Cao Dai High Church Brother Overseas, Canada
  • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, Arkansas.
  • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ,
  • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA,
  • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA
  • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA,
  • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA
  • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California
  • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA
  • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA
  • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CA
  • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC
  • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC
  • Gioi Van Tran, President, VAC of  Connecticut, CT,
  • – Mr. Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL
  • Lien Thanh Le: President, BOD, VAC Florida.
  • – Mr. Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL,
  • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC  Central Florida, FL,
  • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL,
  • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL,
  • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL,
  • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
  • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA
  • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL
  • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA,
  • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA
  • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of  Massachusetts, MA,
  • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN,
  • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO,
  • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM,
  • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH,
  • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ,
  • Paula Hícks-Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ
  • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY,
  • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK,
  • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA
  • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA,
  • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA,
  • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA,
  • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA,
  • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA,
  • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA,
  • – Mr. Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA
  • – Mr. Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg ,PA
  • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA
  • Do duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem
  • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina
  • – Mr. Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
  • – Mr. Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN,??
  • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN
  • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX
  • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX
  • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT
  • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
  • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey
  • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association
  • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community VAC) of Washington, D.C., Maryland & Virginia
  • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany
  • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, ca, United States
  • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia
  • Lam Bui, Phoenix, Arizona, United States
  • Bill Duong, Sterling, Virginia, United States

…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………..

Tuyên Cáo chống Tập Cẩm Bình Đến Hoa Kỳ

Tuesday, September 22nd, 2015

Xin ký tên vào ô bên tay phải ——->

*

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA TẠI HẢI NGOẠI

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

______________________________________________________

TUYÊN CÁO

NHÂN DỊP TẬP CẨM BÌNH VIẾNG THĂM HOA KỲ

Chủ tịch Trung Cộng Tập Cẩm Bình sẽ viếng thăm Hoa Kỳ từ ngày 22 đến 28 tháng 9 năm 2015 và sẽ được Tổng Thống Obama tiếp đón vào ngày 25/9/2015.

Theo thông cáo báo chí từ tòa Bạch Ốc: “cuộc viếng thăm này là đáp lại việc Tổng Thống Obama đến thăm Trung Cộng tháng 11 năm 2014.  Cuộc thăm viếng của Tập Cẩm Bình sẽ tạo cơ hội mở rộng sự hợp tác Mỹ – Trung trên cấp độ toàn cầu, cấp vùng và những vấn đề lợi ích hỗ tương, đồng thời hai vị sẽ nêu lên những bất đồng một cách xây dựng.  Tổng Thống và bà Obama sẽ khoản đãi Tập Cập Bình và phu nhân vào tối 25 tháng 9.”

Xét rằng: Nhà cầm quyền TC đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng như sau:

  • Vi phạm nhân quyền trầm trọng đối với dân tộc Trung Hoa, nhất là giáo phái Pháp Luân Công; tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân;
  • Đàn áp các dân tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Nội Mông…
  • Chủ trương bành trướng lãnh thổ đến các nước láng giềng trong đó có Việt Nam;
  • Tự tuyên bố chủ quyền 80% vùng Biển Đông; xâm lăng bất hợp pháp các đảo và hải phận Biển Đông; xây các đảo nhân tạo và 3 đường bay bất chấp luật pháp và sự lên án của quốc tế; gây ra thảm họa môi trường và nguy cơ bất ổn cho vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương;
  • Tấn công và ăn cắp các dữ kiện bí mật thương mại và cá nhân của Hoa Kỳ gây ra tổn thất nghiêm trọng về kinh tế và nền an ninh của Hoa Kỳ;
  • Lấn chiếm đất đai của Việt Nam với sự tiếp tay của đảng Cộng Sản Việt Nam; gây tác hại trên nhiều lãnh vực như kinh tế, môi trường, xã hội, văn hóa… đe dọa sự tồn vong của Việt Nam.
  • Chính phủ của Tổng Thống Obama đã áp dụng một chính sách không đủ mạnh trước nguy cơ bành trướng và mối đe dọa của Trung Cộng đối với quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và các nước khác.

Vì thế, người Việt Nam trên toàn thế giới long trọng:

Tuyên Cáo

  • Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận quốc tế những vi phạm nhân quyền và mưu đồ bành trướng của Trung Cộng;
  • Thỉnh cầu Tổng Thống Obama và các quốc gia tự do cần có thái độ cương quyết để bảo vệ nền dân chủ cho Trung Hoa; quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ và toàn thế giới.

Hoa Kỳ ngày 25 thán 9, 2015

Đại Diện các Cộng Đồng, Đoàn Thể, Tổ Chức:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

 

VIETNAMESE COMMUNITY OVERSEAS

PO Box 5055 Springfield, VA 22150

____________________________________________________________________

 

DECLARATION

ON THE CHINESE PRESIDENT XI JINPING’S VISIT TO THE UNITED STATES

Chinese President Xi Jinping will visit to the US from September 22nd to 28th, 2015 and will be hosted by President Obama on September 25th, 2015.

According to the White House Press release, this visit “reciprocates President Obama’s State Visit to China in November 2014. President Xi’s visit will present an opportunity to expand U.S.-China cooperation on a range of global, regional, and bilateral issues of mutual interest, while also enabling President Obama and President Xi to address areas of disagreement constructively. The President and Mrs. Obama will host President Xi and Madame Peng Liyuan at an official State Dinner on the evening of September 25.”

Whereas, The Chinese Administration had implemented erroneous activities as listed below:

  1. Serious violation of the Human Rights against the people of China, especially to Falun Gong group, and deprivation of all basic rights from the people;
  2. Suppression of Tibetan, the Uighurs at Xinjiang, and he Inner Mongolian etc..
  3. Endless expansion with negative effects to the neighbor countries including Vietnam;
  1. Self-declaration of sovereignty of 80% of East Seas (South China Sea); illegal invasion of the East Sea islands and waters; construction of artificial islands and three airports regardless international law and condemnation; causing environmental disasters and instability for the Southeast Asia and Asia-Pacific regions;
  1. Cyber-attack and stealing business and personal confidential data that causes serious damage to the U.S economy and poses major threat to the U.S. homeland security.
  2. Land encroachment of Vietnam with the support of The Vietnamese Communist Party that caused adverse effect in many areas such as land, economy, social, culture, etc…, and threatened the existence of Vietnam as an independent country.
  3. The Obama Administration has enforced a weak policy against the aforementioned illegal expansion and China’s threat to the fundamental rights and national security of America and foreign countries.

Therefore, the Vietnamese community overseas solemnly declared:

  • We, vehemently denounce and condemn to the world the Chinese  serious human rights violations and illegal expansion;
  • We, supplicate President Obama and all democratic countries to take strong actions to protect the freedom, democracy, fundamental rights for Chinese people and safety for the U.S and the other countries.

 

Washington DC, September 22nd , 2015

Representatives of Communities, Organizations:

    • Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, D.C., Maryland & Virginia: Ô. Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch.
    • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ: BS Võ Đình Hữu – BS Đỗ Văn Hội – GS Phạm Văn Thanh – BS Trương Ngọc Tích – Ông Trần Xuân Thời – Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn – Ô. Nguyễn Văn Tánh.
    • Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu: LS Võ Trí Dũng, Chủ Tịch
    • Cộng Đồng Việt Nam tại Liege, Bỉ: Ông Lê Hữu Đào, Chủ Tich.
    • Liên Hội Người Việt Canasa: Ô. Trần Văn Đông, Tổng Thư Ký.
    • Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam: Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chủ Tịch.
    • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS. Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Điều Hợp.
    • Việt Nam Quốc Dân Đảng: Ô. Lê Thành Nhân – Ô. Trần Tử Thanh – Ô. Nguyễn Hồng Dũng.
    • Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại: Ô. Phạm Hồng Lam, Điêu Hợp Viên.
    • KS Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch, Lực Lượng Cứu Nguy Tổ Quốc.
    • Hiến Tài Nguyễn Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
    • Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Canada.
    • Vinh The Pham, President, VAC of Fort Smith, AR.
    • Khuong The Dang, President, VAC of Arizona, AZ.
    • Ngai Vinh, President, VAC South California, CA.
    • Councilman Phat Bui, President, VAC Southern California, CA.
    • Dr Huu Dinh Vo, MD, President, VAC of Pomona, CA.
    • Liem Thanh Pham, President, VAC of San Diego, CA.
    • Minh Thanh Truong, President, VAC of Northern California.
    • Thinh Thien Do, President, VAC of Sacramento, CA.
    • Hien Huu Nguyen, President, VAC of Stockton, CA.
    • Cuong Trong Nguyen, President, VAC of Colorado, CO.
    • Thu Huong Nguyen, President, VAC of Charlotte, NC.
    • Phuong Vo, President, VAC of Greensville, SC.
    • Gioi Van Tran, President, VAC of Connecticut, CT.
    • Tuoi Van Luu, President, VAC of Florida, FL.
    • Lien Thanh Le, President, BOD, VAC Florida.
    • Dung Quang Bui, Fmr Pres. VAC Central Florida, FL.
    • Hung Quoc Pham, Pres. the VAC Central Florida, FL.
    • An Ngoc Chau, Pres. Of BOD, VAC Central Florida, FL.
    • Thuc Cong Tran, President, VAC of Tampa Bay, FL.
    • Eric Tien Nguyen, President, VAC of Jacksonville, FL.
    • Huy Duc Nguyen, President, VAC of South Florida, FL.
    • Ly Bui, President, VAC of Pensacola, FL.
    • Hanh K Dang, President, VAC of Georgia, GA.
    • Trung Toan Luu, President, VAC Illinois, IL.
    • Thanh Hong Le, President, VAC of Louisiana, LA.
    • Bao Toan V. Than , President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Binh Thanh Nguyen, Fmr President, VAC of Massachusetts, MA.
    • Thang Dinh Le, President, VAC of Minnesota, MN.
    • Cuong Nguyen, President, VAC of St Louis, MO.
    • Thong Luong, President, VAC of New Mexico, NM.
    • Khai Xuan Cao, President, VAC of New Hampshire, NH.
    • Niem Quan Tran, President, VAC of South New Jersey, NJ.
    • Paula Hícks – Lê Ánh-Nguyệt, President, VACA of New Jersey, NJ.
    • Phong Thanh Nguyen, Esq, President, VAC of New York City, NY.
    • Vinh Khac Nguyen, President, VAC of Oklahoma City, OK.
    • Nghi Van Nguyen, President of BOD, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Bao The Ngo, President, VAC of Allentown, PA.
    • Truc Vu, President, VAC of Philadelphia, PA.
    • Nhiem Duc Nguyen, President, VAC of Pennsylvania, PA.
    • Mai Dinh Nguyen, President, VAC of Pittsburgh, PA.
    • Loan Van Vo, President, VAC of Lancaster, PA.
    • Thanh Van Nguyen, President, VAC of Northeast Pennsylvania, PA.
    • Nguyen Hai, President, VAC of Lebanon ,PA.
    • Nguyen Hoa , President, VAC of Pittsburg, PA.
    • Vu ngoc Hai, President, VAC of York, PA.
    • Do Duc Chien, President, VAC of Easton/Bethlehem, PA.
    • Phuong Vo, President, VAC of South Carolina.
    • Kiet Van Bui, President, VAC of Nashville, TN.
    • Minh Cam Sinh, President, VAC of Middle Tennessee, TN.
    • Dung Q. Dang, President, VAC of West Tennessee, TN.
    • Quoc Anh Tran, President, VAC of Houston and Vicinity, TX.
    • Hau Pham, President, VAC of Dallas, TX.
    • Thanh V. Nguyen, President, VAC of Utah, UT.
    • Nghiep Nguyen, President, VAC Of Greater Columbia, SC.
    • Huyen Nguyen, President Vietnamese American Association of Raleigh, NC.
    • Quan Q. Nguyen, MD, Representative, Rallying For Democracy.
    • Hung Chi Dang, Blogger, Toronto, Canada.
    • Thuoc Tuong Nguyen, President, Former Vietnamese Political Prisoners of New Jersey.
    • Trúc Lâm Trần Nhân Việt Quốc, Vietnamese History Association.
    • Anh Hong Do, Fmr President, Vietnamese American Community of Washington, D.C., Maryland & Virginia
    • Nhan Truong, Yellow Flag Movement, Germany.
    • Dzung Nguyen, Radio Pho Dem, San Jose, CA, United States.
    • Huong Nam, Liverpool, NSW, Australia.
    • Lam Bui, Phoenix, AZ, USA.
    • Bill Duong, Sterling, VA, USA.
    • Duc Le Hong, duc@lehong.de, Munich, Bayern, Germany.
    • Genie Giao Nguyen, President, Voice of Vietnamese Americans
    • Phuoc Nguyen, nvnhu50@hotmail.com, Orlando, FL, USA.
    • Nhung Luong, nvluong5@gmail.com, Flushing, NY, USA.
    • Sanh Van Le, Houston, TX.
    • Son Doxuan, California.
    • Phu Nguyen, nguyenphusf@gmail.com, San francisco, CA, USA.
    • TRUNG LUU, congdongnguoivietil@gmail.com, chicago, IL, USA.
    • Cynthia Truong, cynthia.truong@vietv.com, Huntingdon Valley, PA, USA.
    • NHA VIET NAM Vietnamese Cultural Center, nhavietnam@tampabay.rr.com, TAMPA, FL, USA.
    • Nga Le, ngathile@gmail.com, TAMPA, FL, USA.
    • Chris Nguyen, Chrisquinguyen@icloud.com, Castro Valley, CA, USA.
    • NHUT TRAN, mrnhut@sbcglobal.net, 4335 Howard St, Oakland, CA 9460, USA.
    • Kieugiang Do Kieugiangdo@gmail.com, Gurnne, IL, USA.
    • HUNG NGUYEN, hungthe42@att.net, Escondido, CA, USA.
    • Que Huong Nguyen, hoasen99@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Cam Doan, doancam@hotmail.com, Pinole, CA USA.
    • Pham Van Tu, tuvanpham@web.de, Bremen, Germany, Deutschland.
    • Việt Nhân Nguyễn, vietnhan71@gmail.com, San Jose, CA, USA.
    • Binh Nguyen, gmvanbinh@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Alexander Nguyen, alexnguyen@gmail.com, Houston, TX, USA.
    • Giong Nguyen, thuynam2013@gmail.com, Adelaide, South Australia, Australia

    100-Mr. Nho Truong, Toronto, Ontario, Canada.

    101-Mr. Paul Dang, Toronto, Ontario, Canada

    102-Hoa Tran,  Yukon, Oklahoma, United States

    103-Nguyen Dinh-Phuc, Hamburg, Hamburg, Germany

    104-Thanh Khanh VU – MBE, Hackney, London UK.

    105-Mục Sư Ngô Đắc Lũy, Boston, Massachusetts, USA.

    106-Quoi Nguyen, Jacksonville, Florida, USA.

    107- Tri dang, Toronto, ont, Canada.

    108- D.Q. Nguyen, Oklahoma city, OK, USA

    ……………………………………………………………….

    ……………………………………………………………….

Trách nhiệm của người cầm bút – Nguyễn Vũ Bình

Thursday, September 17th, 2015

Thu, 09/17/2015 – 10:39 — nguyenvubinh

     Trong bất cứ xã hội nào, người cầm bút luôn là những người được tôn trọng. Với đặc trưng nghề nghiệp, phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, để người dân tham khảo từ đó đưa ra các quyết định phù hợp cho bản thân và gia đình. Ở các xã hội dân chủ, với các định chế tự do ngôn luận và tự do báo chí, việc phản ánh trung thực hiện thực khách quan, sự thật là công việc thường ngày của những người cầm bút. Có thể có lúc này lúc khác, họ phải đối mặt với hiểm nguy, phải cân nhắc sự lợi hại trong việc đưa tin trung thực, hoặc có những quyết định dũng cảm để nói ra sự thật. Tuy nhiên, đó chỉ là những trường hợp cá biệt mà thôi.

Ngược lại, đối với các xã hội độc tài, nhất là độc tài toàn trị cộng sản, những người cầm bút không có may mắn như vậy. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, dưới tác động của những thay đổi lớn từ khi hội nhập nền kinh tế, dưới sức ép của quốc tế, với sự đấu tranh kiên trì của những người  bất đồng chính kiến và quan trọng nhất với sức lan tỏa của hệ thống Internet toàn cầu, của các mạng xã hội, đặc biệt là mạng xã hội Face books, nhà cầm quyền Việt Nam đã phải từng bước thỏa hiệp và nhường lại một phần không gian cho truyền thông phi chính thống. Chúng ta nhận thấy, các báo, tạp chí thậm chí các kênh thông tin bằng âm thanh, hình ảnh của người dân, của phong trào dân chủ đã xuất hiện và đi vào hoạt động (chủ yếu trên Internet) khá đều đặn, ổn định. Không những vậy, với mạng xã hội face books, mỗi người dân lại trở thành những người thông tin, thậm chí viết bài chủ động với các thể loại vô cùng phong phú, đa dạng. Có thể nói, tự do ngôn luận ở Việt Nam đã có bước thay đổi về chất, mặc dù chưa được hoàn toàn chuyển hóa thành tự do báo chí. Chính vì vậy, vấn đề trách nhiệm của người cầm bút cần được đặt ra. Tất nhiên, chúng ta đều hiểu, những người cầm bút chỉ là hình ảnh tượng trưng, bao gồm những người viết bài và những người đưa thông tin bằng âm thanh, hình ảnh, vv…

Có thể nói, trách nhiệm lớn nhất, quan trọng nhất của người cầm bút là phản ánh sự thật, nói lên sự thật hay còn gọi là phản ánh trung thực hiện thực khách quan. Đây là tiêu chí số một, không cần bàn cãi đối với bất cư người cầm bút có lương tri nào. Tuy nhiên, ở các xã hội cộng sản nói chung, và cộng sản Việt Nam nói riêng, ngoài những vấn đề về sinh hoạt, việc hiểu được sự thật không phải là một việc dễ dàng. Bởi vì, tất cả sự thật đã bị bưng bít, bị bóp méo phục vụ cho việc tuyên truyền. Không những thế, mọi hoạt động của con người, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều nằm trong sự kiểm soát và nhào nặn của hệ thống tuyên truyền kéo dài gần một thế kỷ. Chính vì vậy, để giải thích được  sự vận hành của sự thật, ăn khớp với các diễn biến đang diễn ra là một việc cực kỳ khó khăn. Có thể có những ví dụ sinh động, năm 1997, ở tỉnh Thái Bình, có trên 95% đảng bộ (xã) đạt danh hiệu đảng bộ trong sạch vững mạnh. Nhưng cũng năm đó, trên 70% số xã của tỉnh Thái Bình đã tham gia khiếu kiện tập thể về sự tham nhũng của các quan chức, đảng viên các địa phương. Sự kiện này đã gây chấn động cả nước về quy mô và tính chất phản kháng của người dân đối với nhà cầm quyền địa phương trên khắp địa bàn tỉnh Thái Bình. Một ví dụ khác, mới chỉ cách đây hơn một năm, chúng ta còn hân hoan với các con số về tăng trưởng, về số tiền và dự án đầu tư vào Việt Nam, vv… nhưng đùng một cái, các thông tin được tiết lộ, số nợ công của chính phủ và doanh nghiệp nhà nước đã gấp rưỡi, gấp đôi GDP và hoàn toàn không có khả năng thanh toán. Còn một ví dụ giản dị hơn mà người dân rất hay được chứng kiến. Đó là vấn đề tăng giá xăng dầu, chỉ mới tối hoặc ngày hôm trước, có quan chức lên ti vi khẳng định giá xăng dầu sẽ không tăng, thì ngày hôm sau, giá đã tăng ngất ngưởng.

Tóm lại, người cầm bút muốn phản ánh được sự thật thì cần phải có những hiểu biết, những kiến thức và bản lĩnh để tìm ra, phát hiện sự thật bị vùi lấp, bóp méo để đưa đến cho người dân, bạn đọc. Người dân cần những sự thật như thế, để hiểu được tại sao số phận họ và con em họ lại nghiệt ngã, bế tắc và tăm tối như vậy.

Một trách nhiệm quan trọng không kém của người cầm bút là đứng về phía nhân dân, bảo vệ sự thật. Chúng ta đều biết, đối với xã hội độc tài toàn trị cộng sản, nói lên sự thật, phơi bày sự thật là đối kháng lại với nhà cầm quyền hiện nay. Đồng thời, nói lên sự thật cũng đồng nghĩa với việc đứng về phía người dân, những người bị áp bức. Nhưng bất kỳ ai cũng sẽ gặp phải sự xuyên tạc, chụp mũ và đàn áp của nhà cầm quyền khi nói lên sự thật. Vì vậy, cần phải bảo vệ sự thật mà bản thân họ đã phản ánh, và đó là quá trình gian khổ, không hề dễ dàng. Nhận thức được điều này, mới giúp người cầm bút đi tới cùng đến với sự thật, đến với nhân dân.

Gần đây, có một nhà báo của tờ Thanh Niên điện tử đã bị mất chức do việc viết bài trào phúng trên trang face books cá nhân của mình. Đây là việc xử lý hoàn toàn cảm tính, không theo các quy định pháp luật vì việc chia sẻ trên mạng xã hội face book là việc cá nhân, không liên quan tới đơn vị công tác, tới công việc. Vậy nhưng, trên 700 tờ báo chính thống, và hàng chục vạn nhà báo có thẻ ở Việt nam đã không dám đứng lên bênh vực đồng nghiệp. Điều lạ là những nhà báo nhân dân, phi chính thống và cộng đồng mạng lại vạch ra những sai trái trong việc xử lý nhà báo này. Việc bảo vệ nhà báo này, chính là bảo vệ sự thật, đứng về phía người bị áp bức phi lý, đó cũng là trách nhiệm của người cấm bút.

Trong bối cảnh người dân ít nhiều được cất lên tiếng nói như hiện nay, sự hiểu biết, bản lĩnh và nhất là lập trường dứt khoát đứng về phía người dân sẽ giúp cho người cầm bút tạo lập được vị thế và uy tín trong lòng độc giả. Những người có trách nhiệm với ngòi bút của mình, cũng chính là có trách nhiệm với lương tâm, nhân cách của họ và họ xứng đáng được tôn vinh trong giai đoạn bùng nổ truyền thông phi chính thống hiện nay./.

Hà Nội, ngày 16/9/2015

N.V.B

Một chút lịch sử gửi tuổi trẻ Việt Nam: Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ – Tự Do Rồi

Tuesday, September 15th, 2015

Phạm Cao Dương – Nhân dịp đầu năm Ất Mùi – 2015, một chút lịch sử gửi tuổi trẻ Việt Nam: Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ – Tự Do Rồi

Thứ Năm, ngày 22 tháng 1 năm 2015

Hoàng Ðế Bảo Ðại
Do sự phức tạp của thời thế và sự nóng nảy muốn giành độc lập nhất thời của chính người Việt, lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đã không những không biến chuyển như mọi người  mong muốn mà còn đầy rẫy những ngộ nhận, từ đó oan khuất cần phải được giải toả và làm sáng tỏ. Đây là một việc làm vô cùng khó khăn mà một cá nhân khó có thể làm nổi. Tuy nhiên, tuy gọi là khó nhưng những người quan tâm và hiểu biết ít nhiều vẫn phải làm để sau này sẽ có người tiếp tục và điều chỉnh. Vì là một khoa học, sử học luôn luôn tiến bộ. Những gì gọi là đúng ngày hôm nay có thể sẽ cần phải được ít ra là điều chỉnh và bổ khuyết ngày mai, không có gì gọi là chân lý vĩnh cửu trong môn học này. Người học sử không thể chủ quan nhất định điều mình nói, viết ra hay được học mãi mãi là đúng, là chân lý bất di bất dịch.


 
Trong bài này cũng như một số bài trước, người viết xin gửi tới các bạn đọc, đặc biệt là các nhà tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ, một vài nhận định về những gì Hoàng Đế Bảo Đại và vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập là nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim cùng với các bộ trưởng của ông, đã làm,  trong một thời gian ngắn ngủi hơn ba tháng của năm 1945, từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 6 tháng 8 năm 1945, để xây dựng một chính thể dân chủ lâu dài cho đất nước và ban hành các quyền tự do cho người dân từ cách nay ngót 70 năm bằng những đạo luật không phải là không  tiến bộ. Đây là một việc làm mà 70 năm sau với ít nhất ba thế hệ đã qua đi một cách uổng phí, với hàng triệu sinh mạng đã bị hi sinh cùng với máu và nước mắt của người dân lành vô tội, người ta vẫn chưa muốn làm hay chưa làm được.
 
Bốn bước tiến đã được Vua Bảo Đại thực hiện trong thời gian này gồm có:
Thứ nhất:  Ban hành dụ “Dân vi Quý”
Thứ hai:  Đích thân tham khảo ý kiến của các quan lại, các thân hào, nhân sĩ có uy tín để thành lập một chính phủ mới
Thứ ba:  Thành lập các hội đồng chuyên môn để mọi người có thể tham gia việc soạn thảo hiến pháp và các sinh hoạt quan trọng của quốc gia
Thứ tư:  Ban hành các đạo dụ liên quan đến các quyền tự do cơ bản của người dân
 
Sau đây là những chi tiết liên hệ tới bốn bước tiến kể trên:
 
Khẩu hiệu “Dân Vi Quý” của Hoàng Đế Bảo Đại
 
Đây là khẩu hiệu của vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn mà ai đã từng học sử Việt Nam đều biết và cũng là bước tiến đầu tiên của vị hoàng đế này trên đường thực hiện chế độ dân chủ của ông.  Khẩu hiệu này được trích dẫn từ sách Mạnh Tử, một trongTứ Thư của các Nhà Nho ta thời xưa[1], nguyên văn là “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là “Dân là quý, sau đó là xã tắc, vua là nhẹ”, được nhà vua chính thức đưa ra trong Dụ Số 1, mở đầu cho một giai đoạn mới trong triều đại của ông.  Dụ này được ban hành ngày 17 tháng 3 dương lịch năm 1945, nguyên văn như sau:
 
Dương Lịch ngày 17 tháng 3 năm 1945
 
Nước Nhật muốn hoàn toàn thực hiện chương trình sây nền thịnh vượng chung ở Đại-Đông-Á đã giải phóng cho nước Nam ta, và Trẫm tuyên bố Việt Nam độc lập rồi.
Nay Trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ lấy quyền lợi cho Tổ-quốc và giáng dụ rằng
1)      Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “DÂN VI QUÍ’
2)      Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.
3)      Trẫm sẽ tái định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân.
 
           Nhận định về đạo dụ này, Nguyễn Tường Phượng trong bài “Một Đạo Dụ, Một Chế Độ” đăng trên Tri Tân Tạp Chí số ra ngày 20 tháng 4 năm 1945, trên trang đầu, đã viết như sau:
 
           “Ba điều ban bố trên đáng ghi vào lịch sử xứ này, thật là trên thuận lòng giời, dưới đẹp lòng dân, quốc dân rất trông mong ở sự thi hành triệt để khác nào như đói mong ăn và khát mong uống vậy.
           “Nếu một khi nhà nước dùng được người tài, đức vẹn hai ra gánh vác, đảm đương những trọng trách, lại thêm vào đấy cái chính sách thân dân, thể tất đến dân nguyện thời nền tảng quốc gia xứ này có thể phục hưng.
           “Được như vậy, đạo dụ ngày 17 tháng ba đáng ghi vào trang đầu lịch sử của nước Việt-Nam độc lập.”
 
           Còn Luật Sư Bùi Tường Chiểu, trong bài “Đạo Dụ Số 1 Của Đức Bảo Đại Hoàng Đế” đăng trên Thanh Nghị, số 107, “Số Đặc-San Chính Trị”, ra ngày 5 tháng Năm 1945, cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của đạo dụ này. Ngay những dòng mở đầu ông viết:
 
           “Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này.”

rồi nhấn mạnh hơn đến ba chữ Dân Vi Quý, ông phân tích:
           “Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là đức Bảo-Đại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành.  Như thế là trong nền chính trị đức Bảo-Đại Hoàng-Đế đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới.”

           Cuối cùng đi xa hơn nữa, vị luật gia này còn nói tới hiến pháp. Ông viết:
           “Xong chúng ta có thể căn cứ vào điều thứ 3 của bản Dụ mà nói rằng đức Bảo-Đại sẽ tuyên bố các cơ quan chính trị mới mà trong câu cơ quan ấy sẽ có một cơ quan có quyền lập pháp. Muốn tổ chức một cách phân minh các cơ quan hành chính, lập pháp và tư pháp, tất nhiên phải có một đạo hiến-luật để ấn định rõ ràng những quyền hành của các cơ quan chính trị.”

           Đúng như vậy, Hoàng Đế Bảo Đại sau đó đã từng bước tiến hành những biện pháp mang tính cách dân chủ để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều. Sau đây là những nét chính của những nỗ lực này.

Đặt nền tảng cho việc xây dựng chế độ mới và sửa soạn cho những công trình tái dựng đất nước lâu dài (sửa lại chính thể và toàn bộ guồng máy chính quyền)
 
Đây là bước tiến thứ hai trong tiến trình xây dựng chế độ dân chủ bằng cách tạo dịp cho người dân mà đại diện là các nhân sĩ, trí thức và chuyên viên các ngành được tham gia việc nước, đồng thời thực hiện khẩu hiệu Dân Vi Quý của Hoàng Đế Bảo Đại.  Bước đầu tiên là việc Vua Bảo Đại tham khảo ý kiến các quan lại, trí thức nhằm thành lập chính phủ đầu tiên cho nước Việt Nam độc lập thay thế cho Nội Các Phạm Quỳnh đã từ chức.  Với bước tiến thứ hai, vào khoảng từ trung tuần tháng sáu đến thượng tuần tháng bảy, vừa nhằm chiêu dụ nhân tài, vừa nhằm tạo cơ hội cho người dân được góp phần vào việc đặt nền tảng và thiết lập các cơ chế căn bản cho mọi phạm vi sinh hoạt lâu dài của đất nước, bốn hội đồng đã được thành lập qua ba đạo dụ và một đạo sắc. Bốn hội đồng này gồm có:
 
Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp, do Phan Anh làm Thuyết Trình Viên gồm có các ông Phan Anh, Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hoè, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Huy Lai, Đặng Thái Mai, Vương Quang Nhường, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Văn Sâm, Nhượng Tống, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Thinh và Nguyễn Trác (Dụ số 60 ngày 7 tháng 7 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 7 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính, do Vũ Văn Hiền làm Thuyết Trình Viên, gồm có các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Ân, Trần Văn Chương, Phạm Khắc Hoè, Lê Quang Hộ, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoát, Trần Văn Lý, Trần Đình Nam, Nguyễn Khắc Niêm, Đặng Như Nhơn, Dương Tấn Tài, Nguyễn Hữu Tảo, Trịnh Đình Thảo và Phan Kế Toại (Dụ số 70 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 9 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Cải Cách Giáo dục, do Hoàng Xuân Hãn làm Thuyết Trình Viên, gồm có Bà Hoàng Thị Nga, các ông Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Kha Vạng Cân, Nguyên Văn Chi, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Thành Giung, Ngụy Như Kontum, Bùi Kỷ, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Quang Oánh, Ưng Quả, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Đạo Thúy và Nguyễn Xiển (Dụ số 71 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 10 tháng 7 năm 1945).
 
Hội Đồng Thanh Niên. Hội Đồng này gồm có
Chủ Tịch: Hoàng Đạo Thúy
Phó Chủ Tịch: Trần Duy Hưng, Bắc Chi Bộ
Phó Chủ Tịch: Tạ Quang Bửu, Nam Chi Bộ
Cố Vấn Bắc Chi Bộ:  Bà Nguyễn Thị Thục Viên, các ông Nguyễn Xiển, Phạm Thành Vinh, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Xuân Phương, Trần Văn Quý, Phan Huy Quát, Ngụy Như Kon-tum, Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tường Bách.
Cố Vấn Nam Chi Bộ: Bà Nguyễn Đình Chi, các ông Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thủ, Tôn Quang  Phiệt, Kha Vạng Cân, Nguyễn Tư Vinh, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Kinh Chi và Thái Can (Sắc số 65 ngày 15 tháng 6 năm 1945)[2]
 
Khi đọc danh sách các hội viên được đề nghị tham gia các hội đồng kể trên để trình lên Hoàng Đế Bảo Đại phê duyệt, Phạm Khắc Hoè tỏ ý thắc mắc là có tên những người ông “chưa từng thấy bao giờ” nên đã hỏi Trần Trọng Kim và được Trần Trọng Kim cho biết là các danh sách này “đã được toàn thể Nội các và nhất là các ông bộ trưởng thuyết trình viên đồng ý cả rồi, tuy chưa hỏi được ý kiến của tất cả những người hữu quan, song chắc họ vui lòng nhận cả, vì lúc này ai mà chẳng sẵn sàng ra thờ vua giúp nước” và nói thêm “Vậy ông chịu khó xin Hoàng Đế phê chuẩn đi cho kịp thời, đừng nên hỏi đi hỏi lại nữa.”  Kết quả, theo lời Phạm Khắc Hoè, là“chỉ mấy phút sau, bốn dự thảo của nội các trở thành ba đạo dụ và một đạo sắc chính thức.”[3]  Những lời đối thoại này cho ta thấy tính cách hữu hiệu và làm việc chạy theo thời gian của Trần Trọng Kim và nội các của ông dù đó mới chỉ là ban hành được những đạo dụ hay đạo sắc để làm nền tảng pháp lý cho những bước kế tiếp trong tương lai.  Nó cũng nói lên tính cách hữu hiệu của chế độ quân chủ chuyên chế và sự tin tưởng của Hoàng Đế Bảo Đại vào vị thủ tướng và nội các đương thời, vì bình thường những quyết định liên hệ đến thể chế và những cơ chế tương lai trong một quốc gia  dân chủ bình thường không thể nào có thể thực hiện được trong vòng trên dưới hai tháng tính từ ngày Nội Các Trần Trọng Kim họp phiên họp đầu tiên, ngày 8 tháng 5, đến ngày 10 tháng 7,  ngày đạo dụ cuối cùng trong bốn đạo sắc dụ này được đệ trình, rồi được vị nguyên thủ quốc gia phê chuẩn trong có“mấy phút sau”.  Một thời gian kỷ lục.  Cũng nên để ý là các vị bộ trưởng được Trần Trọng Kim nói đến ở đây là Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Hiền và Bộ trưởng Giáo Dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn.   Cả ba, ngoài bằng cấp chuyên môn, đều là những chuyên viên hàng đầu của Việt Nam thời đó.   Họ là những người từ lâu đã tìm hiểu, nghiên cứu và viết những những bài tham khảo bàn về những lãnh vực riêng của mình và là những cây bút nòng cốt của tờ Thanh Nghị, một thứ “think tank” của chính phủ đương thời.   Đây cũng là dịp để họ thi thố tài năng và thực thi hoài bão mà từ lâu họ đã từng thai nghén.  Cũng nên nhớ là thành ngữ  “thờ vua giúp nước” cho đến thời điểm này vẫn chưa trở thành lạc hậu. Thế nhưng họ vẫn bị Phạm Khắc Hoè cản trở và mỉa mai. (Chú thích)
 
“Tuần lễ của các Tự Do”
 
Đây là sự ban hành một số những đạo dụ ấn định những nguyên tắc liên hệ đến các quyền tự do căn bản của người dân.  Ba đạo dụ sau đây đã được báo Thanh Nghị số 117, ra ngày 21 tháng Bảy năm 1945[4] ghi nhận theo thứ tự thời gian gồm có:
1.     Dụ số 73, ngày 26 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 5 tháng 7 dương lịch năm 1945 về tự do lập nghiệp đoàn.
2.     Dụ số 78, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do lập hội.
3.     Dụ số 79, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do hội họp.
 
Cả ba đạo dụ này đã được ban hành trong một thời gian ngắn là thượng tuần tháng bảy năm 1945 và Thanh Nghị đã gọi tuần  lễ này là “Tuần của các Tự Do.”
Về chi tiết, báo Thanh Nghị tóm tắt như sau:
 
Tự do lập hội: Từ nay phàm người công dân Việt Nam ai nấy đều có quyền lập những hội có mục đích chính trị, văn hóa, tôn giáo hay xã hội, ngoài những hội có mục đích kiếm lợi.   Chỉ cần mục đích của hội không trái với pháp luật, luân lý hoặc là có hại đến nền duy nhất và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.  Nhưng cần phải báo trước với nhà chức trách ít nhất là 30 ngày trước khi hoạt động
 
Muốn phân biệt các hội do đạo Dụ số 78 với các hội có mục đích kiếm lợi phải xét xem các hội viên có chia lãi cho nhau hay không?   Nếu chia lãi thì tất phải theo những luật lệ hiện hành về các hội buôn.
 
Nhiều người hội họp với nhau nhiều lần cũng lại không họp thành một hội vì không có điều lệ để hội viên theo.   Cho nên trong tờ khai phải đính theo cả bản điều lệ của hội mình định sáng lập.
 
Hội có thể tự giải tán (theo điều lệ hay theo ý muốn toàn thể hội viên) hay bị toà án giải tán, nếu mục đích trái với pháp luật, luân lý, hại tới quốc gia, nếu không khai báo cho đúng thể lệ (chưa kể những sự trừng phạt về tội hình những người có trách nhiệm).  Tài sản của hội khi đó sẽ phân phát theo điều lệ của hội, theo quyết định của đại hội đồng của hội hay theo lệnh của toà.
 
Có hai thứ hội: hội thường và hội được Hội Đồng Nội Các công nhận là một hội có ích lợi chung.   Hội thường có quyền tố tụng, thu nhập tiền đóng góp của hội viên, có quyền mua, quyền sở hữu và quản lý nhà hội quán, quản trị những bất động sản mà bộ Nội Vụ và Tài Chính cho phép mua.  Còn hội được chính quyền công nhận là có ích lợi chung thì ngoài những quyền này còn có quyền được nhận những tặng dữ.
 
Tự do hội họp: Người dân được quyền tự do hội họp nhưng Dụ số 72 phân biệt hai thứ hội họp là hội họp trong tư gia có tính cách gia đình hay lễ nghi và các hội họp ở những nơi công cộng.
 
Đối với các hội họp trong gia đình hay lễ nghi hay những hội họp của các hội tư nhóm họp trong tư gia với số người tham dự không quá 30 người, người triệu tập không cần phải khai báo. Các cuộc hội họp khác cũng được tự do nhưng phải khai báo với nhà chức trách.  Tất cả các cuộc hội họp ở các nơi công cộng như họp ở ngoài đượng phố, trong các công viên hay các thị xã đều phải xin phép trước. Giờ họp không được quá 12 giờ đêm trừ khi có phép riêng. Ngoài ra một nhân viên hành chánh hay tư pháp cũng có quyền tới dự.
 
Tự do lập nghiệp đoàn: Việc lập nghiệp đoàn cũng được coi như quyền tự do của người dân với những quy luật được ấn định trong Dụ số 73, theo đó, để tránh không cho những hội kiếm lợi giả danh làm nghiệp đoàn với mục tiêu trốn thuế, các nghiệp đoàn bị cấm không được chia lời cho các đoàn viên và khi giải tán thì của cải không được đem chia cho các đoàn viên.  Đồng thời để bảo vệ những người trong nghề, dụ này cấm không cho nghiệp đoàn cưỡng ép những người này  phải gia nhập hay bắt đoàn viên phải ở lại trong nghiệp đoàn vĩnh viễn nhưng ngược lại cho phép nghiệp đoàn được từ chối không nhận một người làm đoàn viên theo điều lệ của mình.  Mặt khác, nghiệp đoàn có tư cách pháp nhân trong việc bảo vệ các quyền lợi của mình, có quyền sở hữu các động sản hay bất động sản nếu xin phép, có quyền liên kết với nhau để thành lập các liên đoàn và về phía chính quyền, chính quyền có quyền cử nguời kiểm soát việc quản lý tài chánh của nghiệp đoàn hay liên đoàn.  Cuối cùng vì nghiệp đoàn là một tổ chức có thể dùng để tranh đấu nên người sáng lập bắt buộc phải có quốc tịch Việt Nam và phải ở trong nghề ít nhất một năm.
 
Vì ba đạo luật kể trên đã được ban hành trong thượng tuần tháng 7 năm 1945 nên tác giả của bài báo gợi ý gọi tuần lễ này là “Tuần Lễ Của Các Tự Do”.  Mặt khác nếu người ta theo dõi những cuộc hội họp của người dân ở cả hai miền Trung và Bắc đã diễn ra liên tiếp từ ngày 10 tháng 3, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, đặc biệt là ở Huế và Hà Nội với hàng vạn người tham dự một cách tự do, thoải mái, thì sự ban hành các đạo dụ này “đã làm hợp pháp một tình trạng riêng của các tỉnh ở Bắc Bộ Việt Nam vì từ  sau ngày 9 tháng 3 các hội, các đoàn mọc lên như nấm, các cuộc hội họp công khai tự do vô cùng”.[5]
 
Kết Luận
 
Tất cả các công trình lớn lao kể trên đã được Hoàng Đế Bảo Đại, Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn và trong một thời gian kỷ lục chưa tới ba tháng ngắn ngủi kể từ ngày 8 tháng 5 khi chính phủ này được trình diện đến ngày 6 tháng 8 năm 1945 khi chính phủ này từ chức và được Hoàng Đế Bảo Đại cho phép, ngắn hơn nữa nếu tính đến ngày 9 tháng 7, ngày các Dụ số 78 về Tự Do Lập Hội và số 79 về Tự Do Hội Họp được nhà vua chấp nhận. Đây là một phần của một cuộc cải cách rộng lớn hơn bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt đương thời, gọi theo Sử Gia Na Uy Stein Tonnesson là “từ trên xuống”, còn gọi theo Vũ Ngự Chiêu thì đó là một cuộc cách mạng cũng từ trên xuống: “cách mạng từ trên xuống”. Cả hai sử gia này đều có lý vì tính cách nhanh chóng ít ai có thể ngờ của nó. Câu hỏi được đặt ra ở đây là làm sao nó có thể xảy ra được trong một chế độ quân chủ chuyên chế đã từng tồn tại cả ngàn năm như vậy? Có ba sự kiện người ta có thể nghĩ tới để trả lời câu hỏi này. Đó là ý muốn của người cầm đầu hay đúng hơn vị nguyên thủ quốc gia, ước vọng và khả năng của những người lãnh nhiệm vụ thực hiện cuộc cải cách theo ý muốn của vị nguyên thủ quốc gia ấy và cuối cùng là sự đón nhận của dư luận đương thời. Cả ba sự kiện này Đế QuốcViệt Nam ở thời điểm đương thời đều có đủ. Từ Vua Bảo Đại đến Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng đều là những người được huấn luyện đầy đủ, có kiến thức và nhất là có thực tâm, tha thiết với nền độc lập và sự tiến bộ của nước nhà.  Điều đáng tiếc là biến cố 19 tháng 8 đã xảy ra, Việt Minh cướp chính quyền và tất cả đều đã bị dẹp bỏ, điển hình là ngày 22 tháng 9 năm 1945, 20 ngày sau khi tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ các nghiệp đoàn trong toàn cõi Việt Nam[6] và Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên Giáp ký NghịĐịnh ngày 14 tháng 9 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức trong khi cùng ngày lại ký một nghị định khác “cấp năng lực pháp luật”[7] cho hội “Văn Hoá Cứu Quốc Việt Nam” (Việt Minh)[8].  Cuối cùng thì sau 70 năm, cho đến tận ngày hôm nay khi bài này được viết, bất chấp mọi sự hy sinh, gian khổ, máu và nước mắt của hàng triệu đồng bào,Tự Do và Dân Chủ, Công Bằng và Bác Ái vẫn nguyên vẹn chỉ là niềm mơ ước hầu như còn lâu mới đạt được của người dân Việt.

Phạm Cao Dương
Viết để tưởng niệm các học giả Trần Trọng Kim,
Hoàng Xuân Hãn, những người đã góp phần xây
dựng nền giáo dục mới cho nước Việt Nam độc lập
và một thế hệ trí thức mới đã đứng ra làm việc nước
 




[1]Đoàn Trung Còn, dịch giả, Tứ Thư, Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Quyển Bảy, “Chương Sau: Tận Tâm”Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 2000, tr. 263.-  Nguyễn Đức Lân (dịch và chú giải),  Tứ
Thư Tập Chú, “Mạnh Tử, ChươngXIV, Tân Tâm, Chương Cú Hạ”. Hà nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 1999, tr. 1346.-  Nguyễn Hiến Lê, Mạnh Tử. Saigon: Cảo Thơm, 1975; Nhà Xuất Bản Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, Los Alamitos, CA, tr. 58. – Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng Trọn Bộ. Houston: Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm, tr. 463.-Bàn về khẩu hiệu này, Phạm Khắc Hoè, Ngự Tiền Tổng  Lý Văn Phòng của Vua Bảo Đại và là người thân Việt Minh nằm trong Đại Nội bên cạnh nhà vua cho là do một người nào đó “mớm” cho nhà vua chứ Bảo Đại không thể có ý tưởng đó được.   Nhận xét này nhiều phần không đúng nếu ta để ý tới căn bản giáo dục mà Bảo Đại nhận được xuyên qua Phụ Đạo Lê Nhữ Lâm từ hồi ông mới 6 tuổi rồi sau đó theo ông sang Pháp trong suốt thời gian ông ở Pháp để dạy ông về đạo làm vua theo truyền thống Việt Nam trong đó có Khổng Giáo, tiếp theo là những gì ông làm trong thời kỳ cải cách trước đó và những gì ông viết trong hồi ký sau này của ông.   Xem thêm Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1987, tr. 22-23.
[2]Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đình Huế…, dẫn trên, tr. 41-43.
[3]  – như trên -, tr. 41.
[4]Trong mục “Đời Sống Đông Dương qua bài báo nhan đề“Mấy Đạo Dụ về Tự Do”, tr. 23-25.
[5]- như trên-, tr. 25
[6]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, số  2, 6 Tháng Mười 1945, “Mục Lục Công Báo ngày 6 tháng 10 năm 1945”
[7]Tư cách pháp nhân
[8]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, dẫn trên.

 

Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại

Sunday, August 23rd, 2015

ỦY BAN VẬN ĐỘNG

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Email: lienketHN@gmail.com

________________________________________

 THÔNG BÁO 

Về Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại 

Kính gửi:

–          Quý vị Lãnh Đạo Tinh Thần các Tôn Giáo;

–          Quý vị Lãnh Đạo các Cộng Đồng, Tổ Chức Quân, Dân, Cán, Chính VNCH, các Tổ Chức Đảng Phái Chính Trị, Tổ chức dân sự Văn Hóa, Chính Trị, Truyền Thông, Nghề Nghiệp, Thương Mại, Tôn Giáo, Thanh Niên, Ái Hữu;

–          Quý vị Đồng Hương tại Hải Ngoại;

–          Và quý Đồng Bảo tại Quốc Nội (để kính thông báo)

Thưa quý vị,

Năm 2015 đánh dấu 40 năm Cộng Sản miền Bắc chiếm trọn miền Nam Việt Nam, áp đặt một chế độ độc tài toàn trị lên hai miền Nam Bắc. Cho đến ngày hôm nay, hơn 90 triệu đồng bào trong nước vẫn phải sống dưới ách kìm kẹp của đảng Cộng Sản trong khi thế giới đã thay đổi sâu rộng: Làn gió dân chủ lan tràn khắp toàn cầu; chủ nghĩa Cộng Sản đã cáo chung; các chế độ Cộng Sản tan rã khắp nơi chỉ còn tồn tại trong bất ổn định ở bốn Quốc gia trong đó có Việt Nam (Trung Cộng, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam).

Tại Quốc Nội, cuộc đấu tranh của đồng bào đòi tự do dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ ngày càng dâng cao bất chấp thường xuyên bị đàn áp, bắt bớ, giam cầm.

Họa xâm lăng Việt Nam từ phương Bắc đã thành hiện thực, nguy cơ mất nước đã đến gần.

Tại Hải Ngoại, trong 40 năm qua Người Việt tỵ nạn đã có nhiều nỗ lực kết hợp nhưng chưa thành công vì hoàn cảnh chưa thích hợp.  Ai cũng biết Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại cần có tiếng nói chung trước Quốc tế và cần có một tập thể vững mạnh để hỗ trợ hiệu quả cho cuộc đấu tranh của đồng bào quốc nội.

Vì thế nhu cầu kết hợp là cần thiết và cấp bách.

Chúng tôi gồm đại diện các Cộng Đồng, Tổ Chức, Đoàn Thể, Hội Đoàn, Nhân Sĩ trên thế giới đã gặp gỡ, trao đổi, nghiên cứu và vận động suốt một năm qua để tiến đến việc tổ chức một Hội Nghị Liên Kết nhằm thực hiện các mục tiêu nói trên.

MỤC ĐÍCH HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Mục đích của Hội Nghị nhằm kết hợp các Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại thành một cơ cấu Đại diện chính danh cho tiếng nói chung của người Việt tại hải ngoại nhắm hai mục tiêu: Đối phó với tình hình đất nước và; Thực hiện các công tác của người Việt ở nước ngoài.

Thành phần tham dự Hội Nghị bao gồm: các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, Canada, Á Châu v.v… đã được bầu ra hợp pháp và hoạt động bất vụ lợi; các Tổ chức và Đảng phái đấu tranh có lập trường Quốc gia rõ rệt; các Tổ chức cựu Quân nhân, Cảnh sát; các tổ chức dân sự như Tôn giáo, Văn hóa, Truyền thông, Nghề nghiệp, Thanh niên, Ái hữu v.v…

NGUYÊN TẮC LIÊN KẾT:

Để công tác liên kết thành công, chúng tôi xin đề ra những nguyên tắc căn bản như sau:

1-      Cộng Đồng địa phương là đơn vị căn bản trong Hội Nghị, tương tự như các quốc gia hội viên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Ban Đại Diện Cộng Đồng các Châu lục có thể đại diện cho Cộng Đồng địa phương (có giấy ủy quyền) nếu Địa phương không về dự được. Các tổ chức Tôn Giáo, Chính trị và Xã hội có thể cử đại diện tham dự.

2-      Có lập trường Quốc Gia không chấp nhận Chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản bất cứ dưới hình thức nào. Minh bạch không hòa hợp và hòa giải với Cộng Sản.

3-      Kết hợp trong tinh thần “vì quyền lợi tối thượng của Đất Nước, của Cộng Đồng, không vì quyền lợi cá nhân, tổ chức, đảng phái, tôn giáo hay giai tầng xã hội…”

4-      Mọi cá nhân tham dự trong các cơ cấu được thành lập phải phục vụ cho quyền lợi chung không vì quyền lợi riêng của Tổ chức mình đại diện.

5-      Gạt bỏ những tỵ hiềm cá nhân, tổ chức và đảng phái. Hợp tác chân thành, trong tinh thần tương thân tương ái, trao đổi hòa nhã, tôn trọng nguyên tắc dân chủ.

6-      Ứng dụng phương thức khoa học, thường xuyên liên lạc bằng những phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại viễn liên (teleconference calls), skype, paltalk, Webcam…

7-      Trong thời gian lâm thời 1 năm, Ủy Ban Liên Lạc Phối Hợp được Hội Nghị thành lập có nhiệm vụ thực hiện các công tác của Cộng Đồng hải ngoại. Ủy ban này có trách nhiệm tổ chức Đại Hội Liên Kết lần thứ II rộng lớn hơn sau 1 năm để thành lập Cơ cấu Đại diện duy nhất và thống nhất toàn cầu.

8-      Mọi điều đi ngược lại với những nguyên tắc này đều không được cứu xét.

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỀM TỔ CHỨC HỘI NGHỊ LIÊN KẾT:

Hội Nghị được tổ chức trong 2 ngày:

11 và 12 tháng 10, 2015 (Chủ Nhật và Thứ Hai)

Tại Khách Sạn Courtyard Marriott – Dunn Loring Fairfax

2722 Gallows Rd, Vienna, VA 22180-7133 (703) 573-9555 

Lý do tổ chức tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ vì nơi đây được công nhận là Trung tâm quyền lực ảnh hưởng của Thế giới. Giá cả khách sạn, sinh hoạt phải chăng, lưu thông dễ dàng.

CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT HỘI NGHỊ:

* Chủ Nhật 11 tháng 10, 2015:

Sáng: 10:00 am – 12:00 pm. Lễ Khai mac

Chiều: Hội thảo các nguyên tắc, văn bản của Hội Nghị

Tối: Cơm thân mật hội ngộ.

* Thứ Hai 12 tháng 10, 2015:

Sáng: tiếp tục Hội Nghị, thành lập Ủy Ban Phối Hợp

Trưa: bế mạc

Cơm trưa – giới thiệu Ủy Ban Phối Hợp và các công tác trong tương lai.

Thư mời và chi tiết tham dự Hội Nghị sẽ được phổ biến và gửi đến quý vị sau.

Rất mong được toàn thể quý vị hưởng hứng, tham dự, góp ý kiến và hỗ trợ cho Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại được thành công.

Trân trọng,

Hoa Kỳ ngày 22 tháng 8, năm 2015

Thay mặt Ban Vận Động

BS Đỗ Văn Hội,                 Ô. Đoàn Hữu Định.         Ô. Nguyễn Văn Tánh

Chủ Tịch HĐCH                     Chủ Tịch                                 Cựu Chủ Tịch CĐNVQG HKỳ

CĐNVQG/ Liên Bang HKỳ   CĐVN DC. MD. VA.            Trưởng Ban Điều Hợp

Liên lạc:

LienketHN@gmail.com

BS Đỗ Văn Hội:         407-234-3596hoivando@gmail.com

Ô. Đoàn Hữu Định:    703-475-6186CongdongthudoHTD@gmail.com

Ô. Nguyễn Văn Tánh:       347-481-8283Tanhnguyen1947@yahoo.com

Mọi yểm trợ xin đề:

CDVN DC. MD, VA

Memo: Hội Nghị Liên Kết

Và gửi về:

PO Box 5055, Springfield, VA 22150

Declaration On the subject of removing neck strap and not allowing to display the yellow flag with three red stripes

Wednesday, August 12th, 2015

Declaration

On the subject of removing neck strap with yellow flag symbol and not allowing to display the yellow flag with three red stripes when Ambassador Ted Osius meeting with the Vietnamese American Communities.

During the meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese-American Communities in the Southern and Northern California last mid-July, a couple incidents have occurred that made the Vietnamese-Americans and other Vietnamese communities around the world quite discontented with.

Summary of incidents:

  1. In these meetings, the US Ambassador to Vietnam Ted Osius asked not to display the yellow flag with three red stripes in the hall because of “diplomatic reason” and his ambassadorial position. However he always wore on the pin showing 20th anniversary of diplomatic relations between (Communist) Vietnam – US containing Vietnam Communist flag, the flag that the Vietnamese refugees abroad does not recognize and that belongs to the Communist Party and does not represent the country and the people of Vietnam. The current communist authorities in Vietnam were not elected freely by the people. Also, they seriously violated human rights and other rights of their people.

2- In particular at the meeting in San Jose, besides not allowing display of yellow flag with three red stripes, the organizers also requested Miss Do Minh Ngoc to remove her neck strap made of yellow flag with three red stripes and the US flag.

  1. The organizers did not notify in advance that there will be no yellow flag with three red stripes allowed so that the people can decide whether to attend the meeting or not. The Vietnamese community was caught by surprise of such rule, and because of courtesy for the Ambassador, the meeting goers had reluctantly agreed to stay.

Whereas:

1. The town hall meetings of Ambassador Ted Osius with the Vietnamese Americans, presenting and acquiring opinions from the Vietnamese Americans are useful dialogue and appreciated by our community. However, unfortunately above mentioned incidents had offended the Vietnamese Community.

  1. Wearing a symbolic neck strap is the freedom of expression under the US Constitution and the International Covenant on Political Freedom and Civil Rights of the United Nations. Removing that symbol is an act of violations of human and civil rights and freedom of expression.
  2. The yellow flag with three red stripes symbolizes the “Heritage and Freedom” of the Vietnamese Americans that had been officially recognized by many cities, counties and states in America. Denying this symbol means going against the aspiration of the Vietnamese Community in the United States in particular, and against others in the world in general.
  3. Wearing a pin with the Communist flag when meeting with the Vietnamese people who once fled the Communists is an indelicate act; it could be seen as provocative to them.
  1. If because of diplomatic reasons and the duty that Ambassador must act like that, why his predecessors did not question about the yellow flag with three red stripes when meeting the Vietnamese American Community?
  2. The above incidents really offended the Vietnamese Community in the United States and throughout the world.

Therefore, the Federation of Vietnamese American Communities of the USA:

  1. Oppose the above incidents; withstand the US government if it does not allow its diplomatic officials to be photographed with Vietnamese Community with its traditional yellow flag with three red stripes.
  2. Request the authorities to investigate, publish and have appropriate discipline toward those who have instructed to remove the neck strap of Miss Do Minh Ngoc; and also to offer her a public apology.
  3. Recommend all the Vietnamese Communities should have necessary political attitudes toward any government or individual that:
  4. Advocate and assist the Communist regime and ignore the interest of over 90 million people in Vietnam that need freedom and democracy;
  5. Offend the symbol, the yellow flag with three red stripes, of the Vietnamese refugees abroad.

Executed in the United States on August 11, 2015

Huu Dinh Vo, M.D.: Chairman, Board of Representatives   Huu Dinh Vo
Hoi Van Do, M.D.: Chairman of the Executives                   Hoi Van Do
Thanh Van Pham, M.A: Chairman of Board of Supervisors Thanh Van Pham

Contact:

Dr. Hoi Van Do

Tel. 407-234-3596

Email: Hoivando@gmail.com

Tài liệu Trung Cộng về ý đồ chiếm quần đảo Trường Sa tại Biển Đông  

Tuesday, July 28th, 2015

 

QUẦN ĐẢO NAM SA*

*Gs Vũ Cao Đàm dịch (*theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo *“Trung quốc Binh khí Đại toàn”)*

DHVH13_Xe Hoa_BanDo

(Hình minh họa – Diễn hành Văn Hóa Quốc Tế chủ đề Hoàng Sa Trường Sa của VN)

*Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.*

* Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :*

*1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những  đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm,  khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.*

*2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.*

*3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.*

*4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.*

*5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.*

*6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.*

*7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.*

* 8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.*

*9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.*

 *10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công. Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.*

*Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng.

Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.*

*Trên lĩnh vực quân sự**, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải.*

* Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết.*

* Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng.*

*Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc.*

*Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.*

*Trên lĩnh vực chính trị**, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta.*

*Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh.*

* Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của
nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.*

*Trên lĩnh vực ngoại giao**, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. *

* Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.*

* Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”.*

 *Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm*

* “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipines, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc.*

* Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó. Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt.*

* Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối.*

* Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu tiên thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.*
Gs. Vũ Cao Đàm dịch
Nguồn: VQC

 

Lý Do Tẩy Chay Hàng Hóa Trung Cộng

Tuesday, July 28th, 2015

 

  • Hàng TC chứa nhiều chất độc hại, gây ung thư và các bệnh nguy hiểm khác. TC thường làm hàng nhái, hàng giả, hàng lậu, thiếu tính an toàn và lâu bền.
  • TC phá hoại các nền kinh tế thế giới nhất là những nước láng giềng như Việt Nam bằng hàng rẻ do sự bóc lột sức lao động của người dân TH. Hàng năm TC tống xuất hàng hóa dư thừa, cặn bã, hàng hết hạn hoặc hư hại gây tổn hại sức khỏe và phá hoại nền kinh tế của VN cũng như các nước khác.
  • Tiêu thụ hàng TC là giúp kinh tế TC phát triển, tức giúp TC gia tăng sự bành trướng và làm nguy hại nền kinh tế của Việt Nam và các nước khác.
  • TC là nước có khuynh hướng bành trướng lãnh thổ, lãnh hải, thôn tính các nước khác, hiếp đáp các nước nhỏ tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. TC tạo sự bất ổn cho vùng Đông Nam Á, vùng Á Châu Thái Bình Dương và toàn Thế Giới theo kế hoạch tầm ăn dâu và dùng tiền để mua chuộc.
  • TC bất chấp luật pháp quốc tế xâm chiếm Biển Đông, tuyên bố 90% Biển Đông thuộc chủ quyền của mình với đường lưỡi bò vô lý và bất hợp pháp, xây cất các đảo nhân tạo, gây hư hại môi trường sinh thái, gây hư hại các thuyền bè của ngư dân, biến Biển Đông thành ao nhà, dùng BĐ làm bàn đạp lấn chiếm và ngăn cản các hoạt động tại Biển Đông. TC sẽ thiết lập những vùng nhận dạng phòng không ADZ để  khống chế BĐ và toàn vùng.
  • Trung Hoa là kẻ thù truyển kiếp của dân tộc Việt Nam, từng xâm chiếm và đô hộ Việt Nam hàng ngàn năm, nay lại muốn chiếm nước ta dưới nhiều hình thức xuyên qua đảng CSVN.
  • TC là một nước độc tài toàn trị, bóp chẹt quyền tự do căn bản của người dân, chà đạp nhân quyền, tóm thu quyền lực và tài sản quốc gia vào tay đảng CSTC.
  • TC kiềm tỏa Việt Nam qua đảng CSVN qua hình thức chủ nghĩa độc tài toàn trị. TC lợi dụng đàn em là CSVN nhằm thôn tính dần dần và biến Việt Nam thành chư hầu hay một tỉnh.

HÃY TẨY CHAY VĂN HÓA TÀU CỘNG

Lý do:

  • Văn hóa Tàu gây trì trệ cho sự phát triển, tạo tính nhu nhược của người dân, người dân khiếp sợ trước cường quyền.
  • Tàu Cộng hiện là một nước Cộng Sản, văn hóa nhiễm đặc tính mác xít, độc tôn, độc tài, tàn ác, gian dối. TC một phần dựa vào Tây Phương nên phát triển kinh tế, nhưng nền kinh tế vẫn không có tính bền vững, không thông thoáng, vẩn còn bị nhà nước chỉ đạo và không phục vụ người dân.
  • TC vẫn bóp chẹt tự do, dân chủ, tóm thu quyền lực vào tay đảng CSTC.
  • Qua chủ nghĩa CS, TC kiềm tỏa Việt Nam nhờ vào sự tiếp tay của đảng CSVN. TC là mối nguy hại lớn cho Việt Nam và cho toàn thể nhân loại.

Đôi Chân Bằng Đất Sét (của Trung Cộng)

Monday, July 27th, 2015

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

Hí họaTập Cận Bình đả hổ Chu Vĩnh Khang, cựu bộ trưởng bộ công an Trung cộng.
Bài đọc suy gẫm: Nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có “Đôi chân bằng đất sét”, câu nói nổi tiếng của cựu Thủ tướng Chu Dung Cơ, thời Giang Trạch Dân nắm quyền bên tàu.  Blog Mười Sáu thân mời quý độc giả theo dõi bài viết về Tập Cận Bình và chính sách cải cách của ông ta liệu có thành công qua nhận xét của tác gỉa Chu Chi Nam và Vũ văn Lâm.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Bạc Hy Lai (trái), cựu Bí thư thành ủy Trùng Khánh, Từ Tài Hậu (giữa, chết), Phó chủ tịch quân ủy trung ương, và (phải) Chu Vĩnh Khang trước vành móng ngựa với mái tóc bạc trắng.
 
Tập cận Bình và chương trình cải cách.
Tập cận Bình sinh năm 1953, tại Bắc kinh, nhưng quê quán thực của ông ở Thiểm tây, cha là Tập trọng Huấn (1913 – 2002), là một Phó Thủ tướng trước đây. Tập cận Bình là người ít nói, ít phát biểu, có nhiều người còn cho ông là người không có lập trường rõ rệt. Ông từng làm Bí thư thành phố  Thượng Hải, được Giang Trạch Dân chọn lựa và hậu thuẫn để trở thành người kế thừa của Hồ Cẩm Đào với ý định trong tương lai, khi họ Đào không còn quyền, ông lên ngôi, thì họ Giang dễ khống chế ông.
Tập cận Bình từng bước trở thành Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau đó lần lượt vào năm 2010 ông được bầu vào chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, n ăm 2012 tr ở th ành Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực của đảng cộng sàn Tàu.
Có lẽ tất cả những kế hoạch, dự đoán của họ Giang từ ngày họ Tập lên ngôi đều trở nên mây khói ?
Chương trình cải cách của Tập cận Bình.
Tháng 8/2013, họ Tập ra Văn kiện được mang tên là « Văn kiện số 9 «, trong đó có 7 cái « Không «, bắt buộc đảng viên, công chức từ dưới lên trên phải tuân theo. Đó là: Không được tự do phát biểu ý kiến riêng ngoài ý kiến chính thức của đảng, không chấp nhận ảnh hưởng từ nước ngoài, không chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, tính phê bình, và không chấp nhận tư tưởng độc lập.
Thêm vào đó, để ngăn cản sự trốn chạy ra nước ngoài của cán bộ, họ Tập thâu hồi tất cả những hộ chiếu của họ, thành lập ủy ban gồm 3 người, kiểm soát lẫn nhau, nếu có 1 trong 3 người xuất ngoại «  Không chính đáng «, thì 2 người còn lại phải vạ lây. Họ Tập mệnh danh chương trình cải cách này là một chương trình « Trẻ trung hóa vĩ đại «, dựa trên giấc mơ của Trung quốc, niềm tự hào của dân tộc, dựa trên chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cũng từ đó, họ Tập đã tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, từ Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy hội, Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, Chủ tịch Ủy ban thanh lọc Nhà nước v.v…
Họ Tập đã thanh trừng từ trên xuống dưới, bắt đầu phong trào « Giết hổ và đập ruồi « , loại khỏi Đảng, khỏi Nhà nước 182,000 công chức từ thấp đến cao, bắt đầu bằng vụ đưa ra tòa Bạc hy Lai, rồi khai trừ Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội ra khỏi đảng vào ngày 30/06/2014. Ngày 29/7/2014, Đảng cộng sản Trung quốc tuyên bố điều tra Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba, trong đảng.
Đó là sơ qua một vài vụ thanh trừng to lớn.
Hình ảnh những người tự thiêu phản đối chính sách đàn áp, Hán hóa người dân Tây Tạng của chính quyền Bắc Kinh gây chấn động thế giới
Ngoài ra họ Tập còn đàn áp dã man dân Duy ngô nhĩ, dân phần lớn theo đạo Hồi ở vùng tây bắc, trấn áp Tây Tạng, gửi thông điệp cứng rắn đối với Đài loan, dẹp tất cả những hy vọng của dân Hồng kông mong muốn có một cuộc bầu cử tự do trong tương lai, theo kiểu dân cử, dân bầu, chứ không phải là một cuộc bầu cử « Đảng cử, dân bầu «,được áp đặt từ Bắc kinh.
Nhưng thật ra bản chất của cuộc cải cách này là một cuộc cải cách giật lùi hay đúng hơn chỉ là một cuộc tranh quyền, thâu tóm quyền hành vào tay một người, trái lại nguyên tắc lãnh đạo tập thể, để lại từ hồi Đặng tiểu Bình, và tương đối được tuân thủ  và  áp dụng bởi Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào.
Độc tài từ cổ chí kim trên thế giới là một chế độ cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, nhất là với 2 chế độ độc tài phát xít và cộng sản. Cái loa có nghĩa là khai thác tối đa nghệ thuật tuyên truyền. Kiểu nói như Goebel, Bộ trường Tuyên truyền của Hitler: « Một sự việc dù không phải là sự thật, nhưng chúng ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, sau đó không nghi nữa và cuối cùng cho đó là sự thật. » Bưng bít thông tin, chỉ cho dân nghe những thông tin, dù không phải sự thật, nhưng có lợi cho chế độ.
Với Hitler thì khơi dậy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bài trừ Do thái, đưa ra lý thuyết không có một tý gì là khoa học, theo đó « Chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết nhất, tài giỏi nhất. Đó là chủng tộc của dân Đức, xứng đáng để thống trị thế giới «. Cộng sản thì khơi dậy những bản năng xấu xa, ghen tỵ của con người, qua lý thuyết bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ tất cả những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp được truyền thừa hàng ngàn năm lịch sử nơi con người. Thêm vào đó cả 2 chế độ phát xít và cộng sản đều vẽ ra một thiên đàng, một bên là thế giới thiên đàng của giòng giống Aryen, dân tộc Đức. Bên kia là thiên đàng cộng sản.
Cai trị dân với cái còng và cái súng là khủng bố, bỏ tù những thành phần không cùng chính kiến, đường lối với họ, và nếu sự chống đối trở nên có ảnh hưởng mạnh mẽ thì sẽ bị vu khống, thủ tiêu và hãm hại.
Ngày nay, ở một vài nước cộng sản còn lại, vì kinh nghiệm cộng sản đã thất bại ê chề sau hơn 70 năm áp dụng, thì họ trở về chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kiểu phát xít.
Từ đó chúng ta xét bản chất thực của chương trình cải cách Tập cận Bình: Đó là chương trình cải cách giật lùi, trở về thời quân chủ phong kiến, quyền hành tập trung vào tay một người, ngày xưa là ông vua, ngày nay là Tổng bí thư. Hiện nay họ Tập nắm hết trong tay mọi quyền hành.
Vì vậy bản chất thật cuộc cải cách của họ Tập chỉ là một cuộc tranh quyền mà ngày hôm nay người ta thấy rõ là giữa Giang trạch Dân, cựu Tổng bí Thư, được phe nhóm tài phiệt Thượng hải và Hồng kông ủng hộ và phe nhóm Tập cận Bình, được mang nhãn hiệu là chống tham nhũng, trẻ trung hóa và trong sạch hóa chế độ, thực hiện giấc mơ Trung quốc.
Người Tàu có câu châm ngôn « Giết gà để dọa khỉ «, thực chất là họ Tập giết cả gà lẫn khỉ, khi chúng không theo mình, và dung túng cả gà lẫn khỉ, khi chúng theo mình. Hỏi rằng ở nước Tàu hiện nay, trong những người đảng viên, từ cấp dưới lên đến ngay Tập cận Bình, có ai là không tham nhũng. Cũng như họ Tập ra lệnh thâu hồi tất cả những người có hộ chiếu ra nước ngoài, lập ra tổ 3 người trong cơ quan đảng và nhà nước để kiểm sóat lẫn nhau về việc xuất ngọat. Trong khi đó thì chính con gái họ Tập hiện nay đang học ở Hoa kỳ, tại trường đại học Harvard. Việc thanh trừng 182 000 nhân viên đảng và nhà nước đi đến chỗ ai cũng sợ, có những cơ quan nhà nước, người cầm đầu bị thanh trừng, người dưới không dám lên kế vị, vì ai cũng tham nhũng, sợ bị chỉa mũi dùi vào mình.
Họ Tập không những trở về thời quân chủ phong kiến, mà còn trở về thời kỳ xấu xa nhất của chế độ cộng sản Tàu, thời kỳ « Cách mạng Hồng vệ binh «, khơi dậy lòng hận thù của của những giai tầng xã hội, đề cao tinh thần dân tộc cực đoan. Tập cận Bình hiện nay là hình ảnh những tên bạo chúa tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại, như vua Kiệt, Tần thủy Hoàng, Mao trạch Đông của Tàu, như Néron, Staline của thế giới, cho rằng: « Kẻ nào không theo Ta, thì có nghĩa là chống Ta «, « Ta chính là Nhà nước và Pháp luật « .
Ngày xưa vua cho rằng mình thay trời để trị dân, ngày hôm nay họ Tập cho rằng mình có một sứ mạng cao cả, dẫn dắt dân tộc Tàu thực hiện ước mơ của mình, trẻ trung hóa chế độ, mang lại hạnh phúc cho mọi người dân và sự kính nể đối với những nước trên thế giới.
Vẽ ra những ước mơ, cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, đây không phải là riêng của Tập cận Bình, mà là của tất cả giới lãnh đạo cộng sản. Ngày hôm nay Tập cận Bình đang trở về phương pháp này với dân Tàu. Vì vậy thực chất đây là một cuộc cải cách giật lùi.
Chương trình cải cách cuả Tập cận Bình sẽ thành công ?
Một câu hỏi đến với chúng ta là liệu chính sách cải cách của Tập cận Bình sẽ thành công hay không ?
Có nhiều người cho rằng sẽ thành công, viện những lý do: Với sức mạnh kinh tế hiện nay, theo như bản thống kê mới nhất của Quĩ Tiền tệ thế giới, tổng sản lượng kinh tế tính theo khả năng mua sắm, thì Trung cộng hiện nay là 17 632 tỷ $, đã qua mặt Hoa kỳ là 17 416 tỷ, cũng như Ấn độ, với tổng sản lượng là 7 277 tỷ, đã qua mặt Nhật, với 4,788 tỷ. ( Theo Bản Tường trình của FMI – tháng 10/2014). Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ là sản lượng tính theo đầu người hàng năm của Hoa Kỳ và của Nhật là gấp 4 hay 5 lần của Trung cộng. Ngoài ra hiện nay Trung cộng có một dự trữ gần 4,000 tỷ $, hiện là nước có nền thương mại lớn nhất thế giới, hàng hóa Trung cộng có mặt trên khắp 5 châu.
Đây là một điều hay, nhưng cũng có mặt trái của nó, đó là đừng nghĩ với kinh tế, tiền bạc là có thể giải quyết được tất, nhiều khi mang hại vào thân, ngay ở cả mức độ quốc gia, vì mức độ giầu nghèo quá chênh lệch ở Trung cộng, thêm vào đó giới giầu có, quyền lực thì càng ngày càng muốn giầu có thêm, nhiều quyền lực thêm, trước sự đau khổ của dân.
Chúng ta có thể giản tiện hóa vấn đề, ví một quốc gia như một gia đình. Một gia đình giầu có, có nhiều con cái với nhiều thân thuộc, bộ hạ, vấn đề chia gia tài giữa các con, sau khi người cha chết, có thể đưa đến việc các con cấu xé lẫn nhau. Trung cộng hiện nay đang bị “ nạn “ tương tự qua việc chuyển quyền hành. Những đại gia, vừa giầu có, vừa có quyền, đang tìm cách tiêu diệt lẫn nhau như việc Giang trạch Dân, Chu vĩnh Khang, Từ tài Hậu, Bạc hy Lai v.v… tìm cách đảo chính Tập cận Bình, cũng như sau đó tìm cách ám sát nhiều lần, nhưng không thành, theo như nhiều nguồn tin đáng tin cậy.
Điều này chứng tỏ tình hình Trung cộng không ổn như người ta tưởng.
Thêm vào đó, họ Tập lại thâu tóm quyền hành một cách rất mau lẹ. Vừa mới lên ngôi, họ Tập đã gặp Obama vào năm 2013, chính một nhân viên của Phủ Tổng thống Hoa kỳ đã tuyên bố: “ Chúng tôi rất ngạc nhiên là ông Tập cận Bình đã thâu tóm quyền hành mau lẹ như vậy “.
Chương trình cải cách của họ Tập chỉ là một chương trình bế quan tỏa cảng vào cuối thời nhà Minh, nhà Thanh, vì vậy nó sẽ không thành công, mà còn có thể đi đến chỗ làm sụp đổ chế độ cộng sản ?
Có người lại cho rằng sức mạnh của Trung cộng hiện nay chỉ là cái vỏ, chỉ là “ Một con hổ giấy “, nhãn hiệu mà Mao dùng để chỉ Hoa kỳ trước đây. Thật vậy, không nói đâu xa, ngay chính Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng của Trung cộng cũng nói: “ Trung cộng chỉ là anh khổng lồ chân bằng đất sét.”
Lý do đầu tiên và quan trọng trong sự thất bại của Tập cận Bình là ông đã đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại.
Thật vậy, nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: văn minh trẩy hái, văn minh du mục, văn minh định cư nông nghiệp, và văn minh thương mại, rồi tới văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay.
Mỗi một thời văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã. Với hai 2 nền văn minh đầu, đó là chế độ gia tộc và bộ lạc. Với văn minh định cư nông nghiệp, đó là chế độ quân chủ phong kiến; và ngày hôm nay là mô hình tổ chức dân chủ tự do và kinh tế thị trường.
Có người bảo rằng họ Tập muốn trở về thời kỳ cộng sản của Mao. Nhưng chúng ta biết, mô hình tổ chức nhân xã của cộng sản chỉ là mặt trái của mô hình quân chủ phong kiến, cũng là một chế độ cá nhân, độc đảng, độc tài, nó đã dùng khoa học, kỹ thuật và thông tin tuyên truyền để củng cố chế độ.
Lý do thứ nhì của sự thất bại, đó là như Khổng Tử đã nói:
“Để cai trị dân tốt thì phải dựa trên công lý và lòng thành tâm.”
Đằng này họ Tập không dựa trên công lý để chống tham nhũng, nhưng chỉ nhằm vào người nào tham nhũng không theo ông, còn những người theo ông thì dung túng. Họ Tập thâu hồi tất cả những chiếu kháng, hạn chế tối đa sự xuất ngoại, nhưng chính gia đình ông xuất ngoại, con gái ông đang học ở Hoa kỳ.
Lý do thứ ba của sự thất bại đó là ông đã phá hủy tất cả những luật bất thành văn, được để lại bởi Đặng tiểu Bình, nhằm thực hiện những cuộc trao quyền một cách êm thắm, tránh đổ máu. Những luật bất thành văn này đã được thực hiện bởi 2 người trước ông là Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào. Ngày 29/7/2014, họ Tập ra thông cáo điều tra Chu vĩnh Khang, quản thúc ông tại gia, tịch thu tài sản của những người họ hàng thân thích với ông này, lên tới 300 người, với tài sản là 14,5 tỷ $.
Ngày xưa thì có việc chu di tam tộc, quả là ác ôn và đổ máu. Nhưng ngày hôm nay, dù không đổ máu, nhưng tịch thu hết gia sản, rồi hôm nay bị thẩm vấn, ngày mai bị tra hỏi bởi công an, mặc dầu sống nhưng nhiều khi khổ hơn là chết. Chính vì vậy mà có người cho rằng lịch sử Tàu là một chuỗi dài tranh quyền, cướp nước và trả thù.
Những gia đình, gia tộc bị họ Tập thanh trừng, bằng bất cứ giá nào cũng tìm cách trả thù. Phim ảnh không nói lên tất cả, nhưng cũng nói lên một phần nào lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Phim chưởng Tàu là một chuỗi dài những cuộc trả thù thiên thu bất tận.
Chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng
Trở về với ý kiến cho rằng chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng trước đậy.
Thật vậy, nước Tàu có một nền văn minh lớn và rất sớm, nhưng sau đó nước Tàu bị tụt hậu, vì rất nhiều nguyên do, nhưng trong đó có một nguyên do chính, đó là chính sách bế quan tỏa cảng vào cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh và chính sách mở cửa nhập cảng vội vã tư tưởng Marx Lénine của đảng cộng sản, cặn bã của văn hóa, văn minh tây phương mà những nước này đã chối bỏ.
Nước Tàu là một nước lớn, dân tộc Tàu có một nền văn minh rất sớm:
Năm 105, đời nhà  Hán ( 206 trước Tây Lịch – 219 sau Tây Lịch), nước Tàu đã phát minh ra giấy.  Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy ( 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu. Mãi sau này Johannes Gutenberg (1400 – 1468), người Đức dựa vào những phát minh trên đã phát minh ra máy in và có thể nói đây là một trong những nguyên do chính giúp Âu châu phát triển, vì nhờ máy in mà sự hiểu biết, trí thức được lan rộng, lúc đầu là ở trong nhà thờ, in kinh thánh, sau đó được quảng bá ra ngoài.
Năm 1000, đời Bắc Tống (916 – 1125), phát minh ra địa bàn và thuốc súng. ( Theo « La Formidable Histoire de l’Economie mondiale de l’Egypte antique à la Chine de 2014 – báo Capital – hors série – Juin – Juillet 2014 « )
Tuy nhiên văn minh Tàu bị khựng lại vì rất nhiều nguyên do, mà trong đó là chế độ quân chủ, kéo dài quá lâu, từ chế độ quân chủ phong kiến tản quyền sang chế độ quân chủ tập quyền, từ thời nhà Chu ( 1134 – 770 trước Tây Lịch ) cho tới ngày hôm nay với chế độ cộng sản ( 1949 – ?), chỉ là mặt trái của chế độ này. Người ta nói Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình và ngay Tập cận Bình là những ông hoàng đế đỏ, cũng không sai.
« Cải cách giật lùi, đi ngược lại đà tiến bộ của con người, của nhân loại « của Tập cận Bình có thể thành công ngắn hạn, nhờ kích thích tinh thần quốc gia cực đoan, tôn quân, bản tính gió chiều nào theo chiều ấy của người Tàu, như trường hợp điển hình, ông Chu Bân, con của Chu vĩnh Khang, đã đứng về phía họ Tập, tố cáo bố mình. Tuy nhiên nếu thành công cũng chỉ là ngắn hạn; nhưng dài hạn, thật dài, thì có hại cho Tàu, gương cuối đời của 2 triều đại nhà Minh và nhà Thanh còn ngay trước mắt.
Hoàng cung Tử Cấm Thành do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt xây lên. Dưới: Súng thần công (nòng 21-25 cm) và đạn đá thời Hồ Quý Ly được tìm thấy ở vùng Thanh Hóa, Việt Nam.
 
 
Thực ra nói đến chính sách bế quan tỏa cảng của Tàu thì đã có từ lâu, có thể từ thời lập quốc, qua quan niệm nước Tàu là trung tâm của vũ trụ ( Trung hoa), Hán là dân tộc văn minh nhất, còn những dân tộc chung quanh chỉ là man di, mọi rợ. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài này, chúng tôi không thể đi xa, đi sâu, chỉ xin nói sơ về sự thất bại của chính sách bế quan tỏa cảng cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh :
Nhà Minh ( 1368 – 1643), do Chu nguyên Chương lập ra, sau khi đánh đuổi nhà Nguyên ( 1278 – 1368), một chế độ của người Mông cổ mà sử còn gọi là chế độ Nguyên Mông, chế độ ngoại tộc, không phải là Hán tộc. Chính vì vậy mà Chu nguyên Chương và tất cả vua quan sau này của nhà Minh có một chính sách bế quan tỏa cảng, bài ngoại rất cao, rất tàn ác với những dân tộc không phải là Hán. Đây là kinh nghiệm máu xương của dân tộc Việt nam trong vòng 20 năm bị lệ thuộc nhà Minh từ năm 1407 tới 1427. Quân đội của Trương Phụ nhà Minh không những tàn ác với dân Việt, mà còn tìm cách tiêu hủy tất cả những gì có tính chất đặc th ù dân tộc Việt, qua việc đốt sách vở, bắt tất cả những người có đầu óc mang về Tàu. Việc 2 người Việt nam, ông Nguyễn An, một trong những kiến trúc sư chính, xây lên Tử cấm Thành ( thành Bắc Kinh), một người khác, ông Hồ nguyên Trừng, con của Hồ quí Ly, bị bắt qua Tàu, làm đến chức Bộ Công, xây dựng quân cụ thời vua Minh Anh Tông, đã làm ra súng đại bác ( thần công), cũng là từ đó. Theo sử sách thì « Quân Minh khi làm lễ tế súng, đều phải tế Trừng ».
Có người nói thời Minh không có chuyện bế quan tỏa cảng, dẫn sự việc Trịnh Hòa, một hoạn quan thời Minh với lệnh của triều đình, đóng 62 chiếc thuyền, chiều dài cả 100m, chiều ngang 40m, chở 37000 hải quân, đem nhiều vàng, đồ gốm, lụa, đi từ cửa biển Lưu gia cảng, tây bắc Thượng Hải, vào năm 1405, qua Phúc kiến, có thể nói là một cuộc hành trình vòng quanh thế giới vào lúc bấy giờ, vì đã qua cả chục nước, có nhiệm vụ quảng bá sức mạnh của nhà Minh và đồng thời buôn bán, trao đổi hàng hóa. Đấy là bề ngoài của sự việc, bên trong có người cho là Trịnh Hòa còn có nhiệm vụ tìm vua Huệ đế, mà vua Minh Thành Tổ nghi là đã trốn ra nước ngoài, ở những nước chung quanh hoặc các đảo ngoài biển.
Sự  việc là vua Minh thái Tổ, Chu nguyên Chương, lập người con trưởng tên là Tiêu làm thái tử, không dè Tiêu chết sớm, vua bèn lập con của Tiêu, tên là Kiến Văn, lên làm thế tôn. Khi Chu nguyên Chương chết, Kế văn lên làm vua, tức Huệ đế, được 4 năm. Không dè người chú, lúc đó đang trấn thủ ở đất Yên xưa kia, mang quân về đảo chánh, thành công, lên ngôi vua tức Minh thành Tổ. Minh thành Tổ nghi Huệ đế trốn ra nước ngoài nên làm ra đoàn tầu Trịnh Hòa, để đi kiếm. Điều này nói lên sự tranh quyền, giữ quyền ở Tàu rất là khủng khiếp, cũng chẳng khác nào như thời Tập cận Bình hiện nay. Vì nhiều lý do, trong đó có lý do là sau khi Minh thành Tổ chết, việc tìm kiếm Huệ đế không được đặt ra, nên ngân sách cho đoàn tàu Trịnh Hòa dần dần bị cắt giảm.
Ngày hôm nay, giới lãnh đạo cộng sản Tàu, nhắc nhiều đến Trịnh Hòa và đoàn tàu, nhất là trong khuôn khổ tranh chấp biển Đông, muốn nói lên sức mạnh hải quân của Tàu từ xưa, nhưng họ cố ý hay vô tình quên đi sự tranh quyền nội bộ nằm ngay sau lưng.
Triều đại nhà Minh chỉ thịnh lúc ban đầu, nhưng sau đó đi vào suy thoái ( 1436 – 1623), rồi bước sang chỗ diệt vong ( 1623 – 1660).
Đại tài tử Hồng Kông Lưu Đức Hòa thủ vai Khang Hy trong bộ phim Lộc Đỉnh Ký của nhà văn Kim Dung. (Phải) Vua Khang Hy đang uy hiếp Vi Tiểu Bảo do Lương Triều Vỹ đóng.
Trong thời gian suy thoái và diệt vong này, nhà Minh đã chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng cao độ: Hạm đội của Trịnh hòa không còn nữa, đó là về mặt biển, về mặt đất liền thì tăng cường tu bổ Vạn lý trường thành. Bên ngoài thì bế quan tỏa cảng, bên trong thì bài xích những chủng tộc khác qua văn hóa, giáo dục, bắt đầu bằng chủng tộc Mông, triều đại đã cai trị nước Tàu trước đó. Sau này từ  thời Mao thì kỳ thị, coi thường dân tộc Mãn, dân tộc đã đánh bại chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Minh, hay nói đúng hơn là đánh bại nhà Minh, cai trị xứ Tàu sau đó, cũng như tất cả các dân tộc khác như Hồi, Mông, Tạng.
Dân tộc Mãn Thanh là một dân tộc sống ở phía đông bắc nước Tàu.
Hai người được coi là sáng lập nền tảng cho nhà Thanh chính là Nỗ nhĩ cáp Xích, Hoàng thái Cực.
Nỗ nhĩ cáp xích (1559 – 2626), ông sinh ra trong một gia đình quí tộc Mãn châu ở vùng đông bắc nước Tàu. Theo chính sách phên dậu của nhà Minh dùng những bộ tộc làm hàng rào, phên chắn cho triều đình trung ương, gia đình ông được nhà Minh phong cho chức Đô đốc vùng Kiến châu, cha truyền con nối. Ông là người dũng cảm, được viên Tổng trấn vùng đông bắc, nhà Minh, tuyển ông vào đội cận vệ. Từ đó, nhờ can đảm, nhờ những liên hệ gia đình trước đó, cùng những liên hệ mới, ông đã qui tụ những chân tay bộ hạ của bộ tộc mình trước kia, nay bị những bộ tộc khác tiêu diệt, rồi thống nhất 8 bộ lạc Mãn, để lên làm khả hãn, như Thành cát tư Hãn của bộ tộc Mông cổ trước đó. Ông đã lập ra thể chế « Bát Kỳ «, tiêu biểu bằng 8 lá cờ, từ màu vàng, sang màu trắng, màu lam, mà người ta có thể hiểu là 8 bộ tộc, 8 vùng chiến thuật, từ Hoàng kỳ, Bạch Kỳ, Lam Kỳ v.v…Tám Kỳ này lấy những quyết định quan trọng theo cách bỏ phiếu đa số, nhất là việc kế vị ngôi vua.
Nỗ nhĩ cáp xích lên ngôi Hoàng đế năm 1616, dần dần trở  lên lớn mạnh, thống lãnh cả một vùng đông bắc, có lúc lên đến cả sáu bảy vạn quân. Năm 1619, vua Minh sai Binh bộ thị lang Dương Cảo, lãnh 16 vạn quân, thẳng tiến phía đông bắc nhằm tiêu diệt ông, gồm 4 cánh quân : tây lộ, bắc lộ, đông lộ và nam lộ. Bình tĩnh nhận định tình hình, phân tích sự việc, phân tích từng cánh quân của địch, ông đã cho quân Bát kỳ, chỉ có 6 vạn, nhanh chóng chiếm bờ sông Tát nhĩ Hử, chờ cánh quân chủ lực Tây lộ của quân Minh tới. Quả như điều ông tiên đoán, trong trận này ông đã phá tan quân chủ lực của nhà Minh. Những cánh quân tiếp đến, ông tiêu diệt từng cánh một.
Ông chết vào năm 1626, nhưng người ta có thể nói là ông đã gây dựng tất cả những nền móng, để nhà Thanh đánh vào trung nguyên, lập nên nghiệp lớn cho con cháu ông sau này.
Người kế thừa ông là Hoàng thái Cực (1592 – 1643), người con thứ 8 của ông. Ông kế thừa sự nghiệp và chí lớn của cha, chủ trương học hỏi tinh thần dũng mãnh, chiến lược hành quân thần tốc của người Mông cổ, sự uyên bác của người Tàu, nên các vị vua kế nghiệp ông về sau rất thông hiểu văn hóa Trung hoa. Ông cũng nhất quyết đánh xuống trung nguyên, kết thúc chế độ nhà Minh.
Một sự kiện lịch sử nhỏ chứng tỏ sự thất bại của chính sách xây Vạn lý trường thành, bế quan tỏa cảng của triều Minh : Ngày 27/10/1629, Hoàng thái Cực xuất binh, vòng qua thành tuyến Liêu đông, đốt phá Vạn lý trường thành, ở phía tây bắc, vòng đến Hà bắc, tiến vào đốt phá thành Bắc kinh.
Nước Tàu ngày hôm nay, Tập cận Bình có xây bao nhiêu bức tường lửa ( Fire wall) đi chăng nữa, cũng không thể nào cấm được những nguồn thông tin trung thực, những luồng tư tưởng Tự Do, Nhân Bản từ bên ngoài. Sẽ có ngày không xa người dân Tàu sẽ  nổi dậy giành lại quyền sống, lật đổ  chế  độ  cộng sản, như ngày xưa người Mãn đã phá Vạn lý trường thành và lật đổ nhà Minh.
Khang Hy là ông vua thứ nhì đời nhà Thanh, sau khi nhà Thanh chiếm được toàn cõi nước Tàu, được coi là một trong 10 vị Đại Hoàng đế của Tàu. Ông không những tỏ ra thao lược về chính trị và quân sự, mà ông còn giỏi cả về văn hóa, nghệ thuật. Chỉ cần người ta nói đến Tự điển Khang Hy, được làm ra thời ông, bằng Hán văn, gồm 47 035 chữ, hay người ta nói đến đồ gốm Khang hy, vừa đẹp về sắc gốm, vừa đẹp về hình tượng vẽ ở trên, cũng đủ chứng minh ông là một vị hoàng đế lớn.
Tuy nhiên cũng như nhà Minh, chỉ có ba bốn vị vua đầu thì khá, nhưng sau đó thì đi vào thoái trào.
Người ta có thể nói giống như nhà Minh, nhà Thanh đi từ chỗ suy thế (1795 – 1850), rồi tới thế diệt vong ( 1850 – 1911).
Thời nhà Minh, khi quân Minh bị Lê Lợi đánh đuổi về Tàu năm 1427, thì liền sau đó là tới thời suy thoái, bắt đầu vào năm 1436.
Với nhà Thanh, sau khi quân nhà Thanh bị Nguyễn Huệ đánh bại ở Việt Nam, năm 1789, thì nhà Thanh cũng bước vào thời kỳ suy thoái.
Thời kỳ suy thoái của nhà Thanh có thể nói là bắt đầu vào cuối đời vua Càn Long, cầm quyền 60 năm từ năm 1735 đến 1795.
Càn long vào cuối đời, có thể vì một phần già yếu, không lo triều chính như lúc còn trẻ, thêm vào đó, lại tiêu xài hoang phí, qua những cuộc du ngoạn phương nam, rất tốn kém. Bên cạnh là Tể tướng Hòa Thân, một con người tham nhũng khét tiếng; có người nói, tài sản của họ Hòa hơn cả ngân khố quốc gia.
Điều này làm chúng ta liên tưởng đến chế độ cộng sản hiện nay của Tập cận Bình: tham nhũng từ trên xuống dưới, không chỉ thủ tướng mà cả cựu và đương kim tổng bí thư, xuống đến tận hang cùng ngõ hẻm, đến một anh cán bộ đảng tầm thường cấp xã. Vào thời Càn Long, còn có những ông quan liêm khiết, chính trực, vì còn trọng Nho giáo, Khổng giáo, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu.
Ngày hôm nay tại Tàu, sau khi chạy theo lý thuyết Mác – Lê, theo duy vật chủ nghĩa, vứt bỏ mọi giá trị tốt đẹp cổ truyền, lại thực hiện lời dạy của Đặng tiểu Bình: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết. Chỉ cần là mèo biết bắt chuột. », từ dân cho chí quan, chạy theo vật chất, không còn chút liêm sỉ, làm giàu, bằng bất cứ thủ đoạn, phương tiện gì, ngay cả giết người, lừa đảo, dối trá.
Thời kỳ diệt vong của chế độ nhà Thanh bắt đầu từ 1850, khi ông vua Hàm Phong, chồng bà Từ Hy, lên ngôi năm 1850 cho tới cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.
Nguyên sự kiện ông vua này chán nản trước tình hình, vận nước, bị liệt cường xâu xé, như chúng ta lấy sự kiện Hồng kông đang nổi tiếng qua những cuộc biểu tinh của sinh viên học sinh hiện này. Vùng đất này bị nhượng cho nước Anh trước đó 8 năm, 1842, rồi tới chiến tranh Nha Phiến, Liệt cường xâu xé. Ông đã cùng một thái giám, ban đêm thường lẻn ra khỏi thành, chơi bời nơi tửu điếm, lầu xanh đến nỗi bị mắc bệnh giang mai, rồi chết sớm.
Con của ông với bà Từ Hy, lên ngôi tức vua Đồng Trị, do 2 người Thái hậu nhiếp chính, Đông cung tức bà Từ An, Tây cung tức bà Từ Hy. Sau đó Từ Hy tìm cách vu khống Từ An, loại bà này, nắm toàn quyền nhiếp chính. Từ đây, nước Tàu đời nhà Thanh quả đi vào thời kỳ diệt vong : không những ngoại loạn, mà còn nội ưu. Sau vua Đồng Trị là vua Quang Tự, người cháu, con người em gái của bà, nhưng bà Từ Hy vẫn toàn quyền nhiếp chính. Ông vua này đã chống đối bà, chủ trương cải cách mạnh cùng với một số trí thức cải cách lúc bấy giờ, như Khang hữu Vi, Lương khải Siêu, cùng một người thầy của vua Quang Tự, ông Đồng Hòa, quyết định biến pháp, năm 1898 : ban hành hiến pháp và nhiều luật lệ mới, để canh tân nước Tàu theo gương nước Nhật và nước Nga. Tuy nhiên cuộc biến pháp này chỉ kéo dài 100 ngày rồi bà Từ Hy trở lại dẹp tan, mặc dầu vậy vua Quang tự vẫn ngồi vì cho tới khi chết năm 1908, rồi bà chết theo. Vua Phổ Nghi lên, ba năm sau, thì có cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chấm dứt triều đại nhà Thành.
Cuối đời nhà Thanh, với bà Từ Hy và phe Triều đình bảo thủ, cũng cố dựng lên những bức tường để ngăn chặn tư tưởng tự do từ bên ngoài, nhưng phòng tuyến đã bị chọc thủng qua nhân vật vua Quang Tự, ngay trong triều, để đi đến chỗ xụp đổ.
Chúng ta thấy 2 chính sách bế quan tỏa cảng của 2 triều đại cuối, nhà Minh, nhà Thanh đều thất bại, hoặc vì nội loạn ngoại ưu, hay ngoại loạn nội ưu.
Thời suy thoái và thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản Tàu
Trở về với nước Tàu hiện nay có người hỏi đâu là thời suy thoái và đâu là thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản ?
Đây là câu hỏi khó trả lời vì chế độ cộng sản chưa chấm dứt. Tuy nhiên một cách ước đoán, chúng ta có thể nói:
 Biểu tình Thiên An Môn 1989 có lúc lên tới cả triệu người theo Wikipia. (Dưới) Sinh viên thực hiện biểu tượng cho Tự Do – Dân Chủ ngay tại quảng trường.
 
 
Hình ảnh lịch sử nổi bật, quan trọng của thế kỷ 20:  Cảnh 1 sinh viên đứng cản trước xe tăng đang tiến vào Thiên An Môn yêu cầu đoàn xe quay trở lại,  không đàn áp nhân dân với phong trào hợp lý yêu cầu cải cách, dân chủ cho đất nước.  Link: Người biểu tình vô danhWikipidea.
 
Thời kỳ suy thoái của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 1989 tới 2014, với sự đàn áp dân, sinh viên và học sinh bằng xe tăng và súng. Chắc chắn có nhiều người khó chấp nhận  với nhận định này vì nhìn vào bề ngoài và thực tế thì nền kinh tế Tàu trong giai đoạn này đã tăng trưởng một cách dài hạn và vượt bực, đã đưa tổng sản lượng quốc gia của nước Tầu lên hàng nhất nhì thế giới. Nhưng theo như câu nói của Chu Dung Cơ, cựu thủ tướng dưới thời Giang Trạch Dân, thì nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có đôi chân bằng đất sét. Sau biến cố Thiên an môn, những thành tựu ban đầu do chính sách tương đối cởi mở về tư tưởng và chính trị dưới thời Hồ diệu Bang và Triệu tử Dương, nhằm đưa nước Tàu trên con đường phát triển ổn định và quân bình đã bị hủy bỏ và hoàn toàn đi ngược lại. Vì vậy, mặc dù nước Tàu đạt được một số thành quả ngoạn mục về kinh tế qua chính sách « Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa «, nói nôm na dễ hiểu là chính sách kinh tế tư bản rừng rú kiểu mèo trắng mèo đen của Đặng tiểu Bình, kiếm tiền, làm giầu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn và hậu quả. Đằng sau những cao ốc chọc trời, xa lộ thêng thang, xe lửa cao tốc là những bất công chồng chất trong một xã hội bất ổn, vô đạo đức, vô nhân tâm, người người giết nhau như bầy thú chỉ vì chút ít tiền hay tranh giành địa vị. Ngoài ra những vấn nạn: mâu thuẫn chủng tộc, Tạng, Hồi, Mông, Mãn, Hán, ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, thực phẩm độc hại đang giết hại lần mòn hàng tỷ dân Tàu. Đúng như lời ông François Mittérand, Tổng thống Pháp lúc bấy giờ, đã bình luận về vụ đàn áp Thiên an môn 1989:« Một chính quyền dùng súng bắn vào dân, học sinh, sinh viên là một chính quyền dùng súng bắn vào tương lai của mình. » Ngọn lửa Thiên an Môn vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân, trong tâm khảm của hàng triệu thanh thiếu niên, trong lòng của nhửng người mẹ, người cha, chỉ chờ một biến cố nhỏ là có thể bùng cháy kết thúc một chế độ gian xảo, cực ác trong lịch sử nhân loại.
Thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 2014, khi xẩy ra vụ Bạc Hy Lai, bị bắt và bị đưa ra tòa, bề ngoài là vì tham nhũng, nhưng theo tin tức đáng tin cậy, thì là âm mưu đảo chính Tập cận Bình, rồi liền sau đó có những vụ ám sát nhưng không thành, khiến cho Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội, cùng một số tướng lãnh bị khai trừ khỏi Đảng. Rồi Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba trong Đảng, bị tuyên bố điều tra.
Nhưng thời kỳ diệt vong này kéo dài bao lâu, người ta chưa thể biết.
Cần lưu ý một điều là chế độ cộng sản, khác với 2 chế độ vừa kể, không chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng lúc ban đầu từ năm 1949, khi họ cướp được chính quyền, mà phải nói là từ ngày thành lập năm 1921, đảng cộng sản Tàu đã chủ trương mở cửa, đón nhận những tư tưởng nước ngoài. Nhưng có một điều không may mắn, đáng buồn cho dân tộc và nước Tàu, đó là giới lãnh đạo này chưa đủ trình độ trí thức để biết rõ đâu là cái hay cái đở của văn hóa, văn minh đông phương, đâu là cái hay cái dở của văn hóa, văn minh tây phương, vội vứt bỏ toàn bộ văn hóa đông phương, kiểu như Mao trạch Đông tuyên bố: «  Khổng tử là con chó giữ nhà cho bọn phong kiến «, vội nhập cảng lý thuyết Marx, Lenin, cặn bã của văn hóa tây phương.
Giới sĩ phu, trí thức cộng sản Tàu và Việt Nam nên suy ngẫm điều này! (1)
Trở về chính sách cải cách của Tập cận Bình, được che dấu dưới những mỹ từ, nào là chống tham nhũng, lấy lại niềm tin của dân, thực hiện giấc mơ Trung quốc; nhưng bản chất thực là sự đấm đá nội bộ, tranh quyền, trở về chính sách bế quan tỏa cảng, kiểm soát những nhà đối lập mạnh mẽ hơn, cấm dân phát biểu tự do, kiểm sóat dân truy cập Internet v.v…, đây cũng là bắt đầu thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản, như một số người đưa ra giả thuyết này.
Người dân Hồng Kông thắp nến tưởng niệm Thiên An Môn làm Bắc Kinh nhức nhối, khó chịu.
Nhưng đâu là chỉ dấu của sự diệt vong ?
Chỉ dấu đầu là sự thanh trừng nội bộ một sống một còn, khi Tập cận Bình tuyên bố: « Tôi không màng đến sự sống chết, tôi không lưu tâm đến việc tiếng tăm của tôi còn hay mất, tôi quyết tâm chống tham nhũng. »
Chỉ dấu thứ nhì là sự nổi dậy của dân Hồng kông. Tất nhiên Hồng Kông không đòi độc lập, nhưng sớm muộn, dân Hồng Kông sẽ đòi tự do, dân chủ, dân cử và dân bầu, chứ không phải là đảng cử dân bầu. Một khi ước vọng này được thực hiện, thì nó sẽ là một vết dầu loang, loang ra những vùng lân cận, như Tây Tạng, Tân cương, Quảng Đông, Quảng tây và tới ngay cả Bắc Kinh.
Đến lúc đó, chế độ cộng sản còn đứng vững không ? Đảng cộng sản Tàu còn tồn tại không ?
Câu trả lời là chế độ cộng sản rất khó tồn tại và đứng vững. Nhưng đó cũng chỉ là dự đoán tương lai. Chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi.
Paris ngày 14/11/2 014
 Chu chi Nam và Vũ văn Lâm
(1)  Xin xem thêm những bài về Tàu và Tập cận Bình, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Vấn đề ngày càng sáng tỏ về vấn đề chủ quyền tại Biển Đông

Friday, July 24th, 2015

02.07.2011
Lữ Giang

Các tài liệu được công bố từ trong nước, hoặc bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Anh, trong thời gian gần đây cho thấy trong một năm trở lại đây, các chuyên gia ở Việt Nam đã càng ngày càng nhận ra được những điểm then chốt trong vấn đề Biển Đông, bỏ cách nhìn và phương thức phản chứng cũ, đi theo cách nhìn mới và phương thức phản chứng mới phù hợp với luật pháp và tập tục quốc tế hơn để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, trong khi đó các nhà tranh đấu ở trong nước và đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại vì không bắt kịp thời thế, vẫn có cách nhìn cũ và đi theo con đường cũ.
Cuộc hội thảo được tổ chức tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington trong hai ngày ngày 20 và 21.6.2011 đã đưa ra ánh sáng thực chất của cuộc tranh chấp về Biển Đông hiện nay và cho Trung Quốc cũng như thế giới thấy giải pháp phải đi tới. Đây là một vấn đề rất phức tạp, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng trình bày đơn giản để độc giả có thể nắm bắt được.

LỊCH SỬ KHÔNG LIÊN QUAN GÌ CẢ!

Trước tiên, Trung Quốc đã dùng “lịch sử” để chứng minh các hòn đảo nằm trên Biển Đông là của Trung Quốc, sau đó họ lại dùng “lịch sử” để chứng minh cả Biển Đông nằm trong vùng “đường lưỡi bò” là đất nước của họ.

Phủ Lục Tạp Biên của Lê Quí Đôn năm 1776 cho biết Chúa Nguyễn đã cho lập đội Hoàng Sa đi kiểm hải vật trên quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Chí của Việt Nam ấn hành năm 1908 cho biết vua Gia Long (1802 – 1819) đã thiết lập đội Hoàng Sa để kiểm soát và triển khai quần đảo này. Nhưng trong bài thuyết trình vào sáng 20.6.2011, giáo sư Tô Hảo (Su Hao), Phó giám đốc trung tâm nghiên cứu quốc tế thuộc trường Đại Học Ngoại Giao Trung Quốc, lại nói rằng Trung Quốc đã có chủ quyền về lịch sử không chối cãi đối với Biển Đông từ 2000 năm về trước. Từ đời nhà Tống cách đây vài trăm năm, Trung Quốc đã có một cơ quan phụ trách hành chính về khu vực này và đã có đội tàu đi tuần trên biển.

Những cuộc tranh cãi căn cứ vào “lịch sử” theo kiểu này đã kéo dàihơn nữa thế kỷ và có thể còn kéo dài vô tận, nhưng sau khi giáo sư Tô Hảo thuyết trình xong, ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN đã lên tiếng như sau:

“Tôi không cho rằng Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền”.

Giáo sư Peter Dutton thuộc Đại học Hải quân Hoa Kỳ cũng có quan điểm tương tự:

“Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan gì cả, mà phải tuân theo UNCLOS.”

Giáo sư Dutton đã nhấn mạnh rằng việc dùng lịch sử để giải thích chủ quyền làm xói mòn các quy tắc của UNCLOS.

Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia nói rằng việc học giả Trung Quốc sử dụng “di sản lịch sử” để giải thích về tuyên bố chủ quyền một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lý theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này.

Những lời tuyên bố này không phải chỉ nói lên những sai lầm của Trung Quốc mà của cả Việt Nam trong nỗ lực dùng tài liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền trên Biển Đông: “Ai chiếm trước, người đó có chủ quyền”!

Hiện nay. Trung Quốc đang theo đuổi chủ thuyết “vùng biển lịch sử” để xác định vùng nằm trong khu vực “đường lưởi bò” là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Chủ thuyết này đang bị phản ứng mạnh mẽ, Trung Quốc tạm thời quay trở lại chủ trương Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc theo lịch sử.

VẤN ĐỀ THỤ ĐẮC CÁC HOANG ĐẢO

Vấn đề thụ đắc chủ quyền đối với các hoang đảo trên biển là vấn đề thuộc quốc tế công pháp và khá phức tạp.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 15, phong trào đi tìm thuộc địa của các quốc gia Tây phương bùng nổ mạnh, khởi đầu là Bồ Đào Nha, rồiđến Tây Ban Nha, Anh, Pháp, v.v. Đến năm 1922, thuộc địa Anh chiếm 1/4 tổng số diện tích toàn cầu với khoảng 1/8 dân số thế giới. Pháp là nước đứng thứ hai. Dĩ nhiên, trong cuộc chính phục thế giới này, vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường xẩy ra, trong đó có vấn đề tranh chấp các hoang đảo, thường được gọi là các đảo vô chủ (ownerless islands).

Để giải quyết tranh chấp về các hoang đảo trên biển, các nguyên tắc về chấp hữu đât vô chủ (possession of ownerless vacant land) ở trong dân luật của các quốc gia theo hệ thống Roman Law đã được đem áp dụng. Các nguyên tắc này được tìm thấy dễ dàng trong các bộ dân luật Pháp và dân luật VNCH trước đây.

Nói một cách tổng quát, học lý, tục lệ và án lệ quốc tế chỉ công nhận quyền sở hữu của một quốc gia về một đảo vô chủ trên biển khi sự chấp hữu (possession) hội đủ những điều điều kiện sau đây:

(1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch (publique, non équivoque).

(2) Sự chấp hữu phải hoà bình (paisible), tức không có sự đối kháng của người khác.

(3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn (continue et non interrompue).

(4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ (à titre de propriétaire). Nếu chỉ chấp hữu để làm một đài quan sát hay một nơi tạm trú, chứ không muốn làm chủ thì không được chấp nhận.

Như chúng ta đã biết, các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là đảo đá (rocky islands) hay đảo đá ngầm (reefs), không thể có sự sống bình thường, nên cả Trung Hoa lẫn Việt Nam khó đáp ứng điều kiện thứ ba là đã chấp hữu một cách liên tục và không gián đoạn. Vì thế, khi Giáo sư Tô Hảo cho rằng Trung Quốc đã chấp hữu hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa cách đây 2000 năm, bà Bà Caitlyn L. Antrim, Phó Đại Diện Hoa Kỳ trong Hội Đồng LHQ về Luật Biển đã nói:

“Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái gì trong đường lưỡi bò đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, thì câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu.”

Nói cách khác bà Antrim muốn lưu ý Trung Quốc rằng dù Trung Quốc có chấp hữu các đảo trong đường lưỡi bò 500 trước, nhưng sự chấp hữu đó không liên tục, bị gián đoạn, thì không thể được coi như đã thụ đắc chủ quyền trên các đảo đó.

Điều kiện thứ hai là phải sự chấp hữu hoà bình, không có ai phản kháng. Nếu theo điều kiện này thì cả Trung Quốc lẫn Việt Nam khó hội đủ vì khi bên này chấp hữu, bên kia đã phản kháng ngay.

Năm 1887, khi thảo luận về hiệp ước vịnh Bắc Bộ, Trung Quốc yêu cầu thảo luận luôn về Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng Pháp gạt đi, nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Vì có sự phản kháng của Trung Quốc, sự chấp hữu của Pháp và Việt Nam không thể được coi là hoà bình.

Trong thực tế, sự chấp hữu có khi còn tiến hành bằng bạo lực, như trường hợp Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974 và 6 đảo ở Trường Sa năm 1988 (sát hại 74 người).

CHỦ THUYẾT “VÙNG BIỂN LỊCH SỬ”

“Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đưa ra hiện nay lúc đầu là do chủ trương của chính phủ Tưởng Giới Thạch. Tháng 1 năm 1948, Bộ Nội Vụ nước Cộng Hòa Trung Hoa chính thức công bố một bản đồ có tên “Nanhai zhudao weizhi tu” (Bản đồ các đảo trên Nam Hải), trên bản đồ này có xuất hiện một đường hình chữ “U”. Đó là một đường đứt khúc gồm 11 đoạn, bao gồm cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa).

Tuy nhiên, theo bản đồ do chính phủ CHNDTQ của Mao Trạch Đông công bố năm 1953, đường này chỉ còn lại 9 đoạn. Hai đoạn đứt khúc đã bị hủy bỏ, một đoạn nằm giữa đảo Hải Nam và bờ biển VN trong vịnh Bắc Bộ, và một đoạn nằm giữa Đài Loan và các đảo Lưu Cầu (Ryukyu) của Nhật Bản. Đường này được vẽ sát vào bờ của các quốc gia ở quanh Biển Đông như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines, bao gồm 80% Biển Đông và thường được gọi là “đường chữ U” (U shaped line), “đường đứt đoạn” (dotted line) hay “đường lưỡi bò”.

Ngày 7.5.2009 Trung Quốc đã gởi cho Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc một công hàm phản đối việc Việt Nam nộp Báo cáo về Ranh giới thềm lục địa nới rộng của Việt Nam. Kèm theo công hàm này là một sơ đồ trên đó thể hiện đường yêu sách 9 đoạn trên Biển Đông như đã nói trên. Công hàm nói rõ:

“Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển nam Trung Hoa (tức biển Đông – TN) và các vùng nước kế cận, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất đáy biển ở đó (xem sơ đồ kèm theo)”.

Dựa vào đâu Trung Quốc đã coi 80% Biển Đông là của Trung Quốc?

Trung Quốc quan niệm rằng vùng nước được con đường chữ U bao bọc được coi là “vùng nước lịch sử” theo chế độ nội thủy của Trung Quốc, theo đó tất cả các đảo, đá, bãi ngầm, vùng nước nằm trong con đường đó đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nói cách khác, Trung Quốc coi Biển Đông chỉ là vùng ao hồ của Trung Quốc.

Quan niệm “vùng nước lịch sử” (historic water) này lấy ở đâu ra? Trong luật quốc tế về biển năm 1958 cũng như năm 1982 không hề nói đến “vùng nước lịch sử”. Người ta chỉ tìm thấy nó trong phán quyết ngày 18.12.1951 của Toà Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) xét xử vụ tranh chấp giữa Anh và Na Uy về vùng đánh cá. Trong phán quyết này tòa đã nói đến “quyền sử hữu lịch sử” (historic title).

Hội Nghị LHQ về Luật Biển ngày 27.4.1958 đã ra nghị quyết yêu cầu Đại Hội Đồng LHQ cho nghiên cứu về “chế độ pháp lý của vùng nước lịch sử” (the juridical regime of historic waters), kể cả các “vịnh lịch sử” (historic bays).

Theo Niên giám của Uỷ Ban Luật Quốc Tế năm 1962, Vol. 11, khái niệm “vùng nước lịch sử” “có gốc trong thực tế lịch sử mà các quốc gia thông qua các thế hệ khẳng định và duy trì chủ quyền trên vùng biển mà họ coi là quan trọng đối với họ, không chú ý nhiều đến ý kiến khác nhau và thay đổi về những gì mà luật pháp quốc tế nói chung có thể quy định liên quan đến việc phân định lãnh hải”.

Nói một cách vắn tắt, “vùng nước lịch sử” là vùng biển mà một quốc gia đã chấp hữu qua nhiều thế hệ và trở thành vùng sống còn của quốc gia đó.

Trong các cuộc họp về dự thảo Công Ước LHQ về Luật Biển từ năm 1973 đến năm 1982, Colombia đã yêu cầu đưa “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào dự thảo công ước, nhưng LHQ không xét. Cuối cùng, Ủy Ban Luật Quốc Tế của LHQ đã quyết định không đưa chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào Công Ước LHQ về Luật Biển năm 1982, có lẽ vì các lý do sau đây: Chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” rất mơ hồ và có thể đưa tới những tranh chấp chính trị. Luật Biển mới đã ấn định lãnh hãi rộng đến 12 hải lý (thay vì 3 hải lý như cũ) và vùng khai thác kinh tế đến 200 hải lý, nên chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” không cần thiết nữa.

Nay Trung Quốc đi lượm lại một chế độ pháp lý về luật biển đã bị Công Ước LHQ về Luật Biển 1982 loại bỏ để xác định chủ quyền của họ trên Biển Đông. Nhưng Trung Quốc cũng không xác định được sự chấp hữu liên tục, không gián đoạn và yên ổn của Trung Quốc trên Biển Đông trong lịch sử, không xác định được ngay cả tọa độ chính xác từng đoạn của “đường lưỡi bò”.

Vã lại, ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước CHNDTQ đã đưa ra bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc là 12 hải lý, bao gồm cả đất liền và các đảo ngoài khơi. Khi tuyên bố như vậy Trung Quốc đã thừa nhận Biển Đông thuộc về nhiều quốc gia và là biển quốc tế. Nay Trung Quốc lại đưa ra “đường lưỡi bò”, coi Biển Đông như ao hồ của mình, tức là tự mâu thuẫn.

Dĩ nhiên, Đài Loan ủng hộ tuyên bố về “đường lưỡi bò” do Trung Quốc đưa ra vì chủ trương đó do chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa ra từ năm 1948, và khác với một số người Việt chống cộng ở hải ngoại, Đài Loan vẫn coi Trung Quốc là tổ quốc của mình, mặc dầu đang do Cộng Sản cai trị.

GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ

Nhiều người đã đặt câu hỏi tại sao không đưa vấn đề Biển Đông ra trước LHQ hay Tòa Án Quốc Tế? Câu trả lời là rất khó thực hiện được. Tại Hội Đồng Bảo An LHQ, Trung Quốc có quyền phủ quyết nên khó có thể thông qua nghị quyết nào trái với ý của họ.

Pháp Viện Quốc Tế (International Court of Justice) có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế, nhưng muốn đưa ra trước pháp viện này, hai bên phải cam kết thi hành phán quyết của toà. Nếu Trung Quốc không chịu cam kết, toà không xử được. Toà Án Quốc Tế về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea) cũng qui định rằng các bên tranh chấp phải đồng ý đưa nội vụ ra toà, tòa mới xử được.

Vã lại, dù có tranh tụng, Việt Nam chưa chắc đã thắng, vì cả Việt Nam lẫn Trung Quốc rất khó chứng minh được quyền sở hữu chấp hữu (possessory title) về một số đảo đá trên Biển Đông theo đúng các tiêu chuẩn luật định. Trong cuộc hội thảo về Biển Đông tại Washington vừa qua, phóng viên Việt Hà của đài RFA đã hỏi Đại diện Việt Nam là luật sư Nguyễn Duy Chiến, cộng tác viên của Học viện quốc tế, về vấn đề này, ông đã trả lời:

“Đấy là cái đánh giá của mình, mình có nhiều chứng cứ như vậy, nhưng còn cái ra tòa án thế nào thì còn tùy thuộc vào các thẩm phán họ quyết định”.

Để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, hôm 4.11.2001, các quốc gia thuộc khối ASEAN đã ký một bản Tuyên Bố về Ứng Xử của Các Bên ở Biển Đông (Declaration o­n the Conduct of Parties in the South China Sea – gọi tắt là DOC) cam kết tôn trọng luật pháp quốc tế và các hiệp ước đã ký kết, giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và quyền hạn bằng các phương tiện hòa bình. Trung Quốc đã ký kết nhưng sau đó lại không tuân theo.

Tiếp pheo, các nước ASEAN đã soạn thảo xong Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông (Code of Conduct in the South China Sea – gọi tắt là COC), nhưng Trung Quốc không chịu thông qua.

Ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN cho biết những nỗ lực mà ASEAN đã làm nhằm đưa ra tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông thành một bản quy tắc có tính ràng buộc nhưng cả 20 lần đề nghị đều bị Trung Quốc từ chối. Hiện ASEAN đang đưa ra đề nghị thứ 21 liên quan đến vấn đề này.

Năm 2011, Trung Quốc đã tiến lên hàng thứ hai sau Mỹ về phát triển kinh tế, về chi phí quốc phòng, về tiêu thụ dầu lửa, v.v., nên Trung Quốc cũng muốn bắt chước Mỹ, “biểu dương khí thế” của Trung Quốc. Mỹ và NATO đã tấn công Iraq và Libya để giành quyền khai thác dầu lửa, cạnh tranh với Trung Quốc, tại sao Trung Quốc không dùng sức mạnh của mình để giàng quyền khai thác dầu lửa ở Biển Đông? Nhưng Trung Quốc đã đi quá sớm, vì sức mạnh hải quân Trung Quốc còn thua Mỹ đến 20 năm.

MÓN NỢ CỦA VIỆT NAM

Trong cuộc hội thảo tại Washington, ông Tô Hảo, học giả của Trung Quốc, đã nói rằng “trong hệ thống luật quốc tế có một nguyên tắc là nếu một nước đã có tuyên bố về chủ quyền và một số nước đã chấp nhận tuyên bố này. Tuy nhiên rất tiếc là hiện có một số nước đã thay đổi quan điểm của mình”.

Lời tuyên bố này đặc biệt ám chỉ Việt Nam.

Năm 1958, một bản hoà tấu đã được thực hiện: Ngày 4.9.1958, Bắc Kinh chính thức tuyên bố hải phận của họ bao gồm 12 hải lý từ bất kỳ mốc lãnh thổ nào của Trung Quốc, trong đó tính gồm cả các đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa và các đảo khác thuộc về Trung Quốc. Hà Nội hợp tấu ngay: Ngày 14.9.1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gởi công hàm công nhận tuyên bố nói trên của Bắc Kinh.

Về pháp lý, chúng ta có thể coi lời tuyên bố của Thủ Tướng Đồng là không có giá trị vì lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về VNCH. Hơn nữa, theo hiến pháp 1956, mọi quyết định liên quan đến lãnh thổ đều phải có sự phê chuẩn của quốc hội, công hàm của Thủ Tướng Đồng không hội đủ điều kiện đó.

Nhưng về phương diện khác, có thể coi công hàm của Thủ Tướng Đồng như một lời hứa bán. Lúc đó, nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” được áp dụng, tức hứa bán có giá trị như bán, khi hai điều kiện sau đây hội đủ: (1) Vật hứa bán đã được xác định, đó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (2) Giá bán cũng đã được thỏa thuận, đó là Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội đủ phương tiện để đánh chiếm miền Nam. Do đó, Trung Quốc có thể bắt Hà Nội phải giao nạp Hoàng Sa và Trường Sa sau khi chiếm miền Nam.

Hoa Kỳ và các cường quốc Tây phương chỉ can thiệp khi nào Trung Quốc nhất quyết dùng chế độ “quyền sở hữu lịch sử” (historic title) để chiếm Biển Đông, phương hại đến hải lộ quốc tế. Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào sự tranh chấp về “quyền sở hữu chấp hữu” (possessory title) các đảo trên Biển Đông. Vậy Hà Nội chỉ còn có thể trông chờ vào “Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông” mà ASEAN chờ thông qua. Biểu tình, tuyên ngôn, tuyên cáo, kháng thư, hịch tướng sĩ… chẳng có ảnh hưởng gì.

Ngày 28.6.2011

Lữ Giang

Bắc Kinh vẫn đòi chủ quyền các đảo ở biển Ðông

Bám chặt lấy chứng cứ là bức thư của Phạm Văn Ðồng. BẮC KINH (TH) -Tuy đã đồng ý với Hà Nội là “tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước” viên chức cầm quyền Bắc Kinh vẫn đưa ra những lời tuyên bố ngang ngược.

Theo Tân Hoa Xã hôm Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011, Dương Nghị, phát ngôn viên của Ðài Loan Vụ thuộc Quốc Vụ Viện (chính phủ) Trung Quốc tuyên bố rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo và các vùng nước chung quanh trên biển Nam Hải mà Việt Nam gọi là biển Ðông.

Dương Nghị nói như vậy khi bình luận sau lời phát biểu của lãnh tụ Ðài Loan Mã Anh Cửu kêu gọi một giải pháp hòa bình cho sự tranh chấp giữa Hoa Lục và Ðài Loan.

Bản tin Tân Hoa Xã nói trên kế tiếp theo bản tin cũng của Tân Hoa Xã ngày hôm qua không những cùng một luận điệu đó mà còn lôi ra bức thư của Thủ Tướng CSVN Phạm Văn Ðồng gửi Tổng Lý (thủ tướng) Trung Quốc Chu Ân Lai công nhận lập trường của Hà Nội tôn trọng hải phận 12 hải lý mà Bắc Kinh tuyên bố.

Bức thư thời đó của ông Phạm Văn Ðồng đã được Bắc Kinh bám chặt lấy, lập đi lập lại công khai suốt nhiều năm qua để cột Hà Nội vào trong các cuộc thương thuyết cũng như tranh luận hay tranh chấp. Bức thư nguyên văn như sau:

“Thưa đồng chí Tổng Lý,

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.

“Chúng tôi xin kính gởi đồng chí Tổng Lý lời chào rất trân trọng.

“Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958”

(Ký tên Phạm Văn Ðồng, chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – đóng dấu)

Bức thư này không nói gì đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng Bắc Kinh lại coi như hàm ngụ công nhận chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để đòi hỏi tôn trọng chủ quyền của họ.

Bản tin Tân Hoa Xã coi bức thư của ông Phạm Văn Ðồng là “văn kiện lịch sử” (historical record) làm căn bản cho họ đối phó với Việt Nam trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Ðông, tức coi như sự “đồng thuận” (consensus) của các lãnh tụ cấp cao giữa hai nước.

Cái chữ “đồng thuận” được diễn giải mỗi bên một khác. Phía Hà Nội không hề thấy nhắc đến bức thư trong tất cả các bản tin, bài viết trên hệ thống báo chí chính thống những năm gần đây.

Ngược thời gian, ngày 7 tháng 8 năm 1979, tức hơn nửa năm sau khi bị Trung Quốc mang đại quân sang đánh suốt 6 tỉnh biên giới, Bộ Ngoại Giao CSVN ra bản tuyên bố “Sự diễn giải của Trung Quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung Quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc.”

Bản tin Tân Hoa Xã ngày 28 tháng 6, 2011 nói: “Không có sự phản đối nào của bất cứ nước nào đối với chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực này cho đến thập niên 1970 khi các nước gồm cả Việt Nam và Phi Luật Tân tuyên bố chủ quyền một phần ở đây.” Bản tin này để lộ sự lươn lẹo cố ý của nhà cầm quyền Bắc Kinh để kêu gọi “sự đồng thuận” của Việt Nam. Chính phủ VNCH ở miền Nam thời đó và nhà cầm quyền CSVN say này luôn luôn tuyên bố chủ quyền hoàn toàn đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ không hề nhìn nhận chủ quyền một phần.

Bản tin TTXVN tường thuật chuyến đi của Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn ở Bắc Kinh ngày 25 tháng 6, 2011 không nêu ra nhưng bản tin của Tân Hoa Xã nói cả hai nước “chống lại sự can thiệp từ những thế lực bên ngoài đối với sự tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.”

Bắc Kinh muốn Hà Nội cấm dân Việt biểu tình, cấm viết bài đả kích chính sách bá quyền của Hoa Lục nhưng viên chức cầm quyền và báo chí chính thức của họ vẫn tiếp tục áp lực với Việt Nam

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958) Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc.

Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ.

Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.

(Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện)
Chú thích: Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands
Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands
Bộ Ngoại giao Trung Quốc diễn giải về Công Hàm Bán Nước
International Recognition Of China’s Sovereignty over the Nansha Islands

5. Viet Nam

a) Vice Foreign Minister Dong Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d’affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that “according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory.” Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that “judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty.”

b) Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail o­n September 6, 1958 the Chinese Government’s Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People’s Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People’s Republic of China, including all islands o­n the South China Sea. o­n September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam “recognizes and supports the Declaration of the Government of the People’s Republic of China o­n China’s territorial sea.”

c) It is stated in the lesson The People’s Republic of China of a standard Vietnamese school textbook o­n geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China


Công nhận của thế giới về chủ quyền của Trung Quốc trên
Quần đảo Trường Sa

  1. Việt Nama) Thứ trưởng ngoại giao Ðồng văn Khiêm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại Sứ Trung quốc tại Việt Nam đã nói rằng “theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”. Ông Le Doc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt nam, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng “xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống”

    b) Báo Nhân Dân của Việt Nam đã tường thuật rất chi tiết trong số xuất bản ngày 6/9/1958 về Bản Tuyên Bố ngày 4/9/1958 của Nhà nước Trung quốc, rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung quốc, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa. Ngày 14/9 cùng năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía nhà nước Việt Nam, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam “nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải”

    c) Bài học về nước CHND Trung Hoa trong giáo trình cơ bản của môn địa lý của Việt Nam xuất bản năm 1974, đã ghi nhận rằng các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Ðài Loan hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa .

    (Trích và lược dịch từ trang nhà của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc)

 

NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC BẤT AN VỀ NHỮNG THỎA THUẬN GIỮA ÐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ TRUNG CỘNG VỀ BIỂN ÐÔNG

Tin tổng hợp – Trên các trang mạng, sự thấp thỏm về chủ quyền biển đảo từ giới trí thức, sinh viên, blogger phản kháng có thể nhìn thấy rất rõ. Những ngày cuối cùng của tháng 6 bước qua đầu tháng 7, là những giây phút mà rất nhiều người nín thở chờ đợi kết quả của các vụ thương thuyết về chủ quyền Biển Ðông giữa Ðảng Cộng sản Việt Nam và Ðảng Cộng sản Trung Cộng. Ở mạng xã hội Facebook, người ta cũng nhìn thấy nhiều tuyên ngôn nêu rõ ý nghĩa này, xuất phát từ các nhóm blogger ẩn danh yêu nước như Nhật Ký Yêu Nước, Talamot, Truyền thông Liên mạng vân vân. Chẳng hạn như nhóm Talamot, ghi rõ trong hiển văn ngắn của họ là sự kiện lãnh đạo Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam thỏa thuận riêng biệt với nhau về vấn đề Biển Ðông cho người Việt cảm giác bất an, cần phải đòi hỏi sự việc này được đem ra ánh sáng dư luận.

Rõ ràng cuộc thương thuyết giữa Trung Cộng và Việt Nam là một cái nồi đang đậy nắp kín, mà chỉ có số phận một dân tộc sẽ chịu thiệt thòi là Việt Nam. Ai quan tâm đến tương lai của đất nước, đều cảm thấy phập phồng âu lo. Báo chí trong nước được lệnh hạ giọng chỉ trích Trung Cộng và và ém nhẹm những kết quả thương thuyết quan trọng. Người Việt chỉ biết đến hiện tình đất nước của mình sau khi đọc được bản tin của Tân Hoa Xã, với nội dung hết sức bí hiểm là Trung Cộng đã kêu gọi Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Ðông, vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước.

VIỆT NAM CHUẨN BỊ THÔNG QUA LUẬT BIỂN, PHÁT GIÁC VỈA DẦU MỚI VỚI LƯU LƯỢNG LỚN

Tin Hà Nội – Trong khi đó tại Việt Nam, báo chí trong nước loan tin Quốc Hội khóa 13 của Cộng sản Việt Nam đã xem xét về luật Biển và sẽ thông qua vào kỳ họp thứ 2 vào tháng 10 sắp tới. Luật này trước đó nhà nước Cộng sản Việt Nam đã lùi thời hạn trình duyệt và nêu lý do là còn một số vấn đề chưa thống nhất. Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cũng được đưa vào chương trình chuẩn bị của năm 2012.

Hôm nay cũng có tin từ Liên doanh Vietsopetro, vào ngày hôm qua khi thử khoan ở giếng khoan thăm dò số 50 ở khối sụt phía tây bắc mỏ Bạch Hổ, đã cho giòng dầu tự phun mạnh với lưu lượng 4560 thùng một ngày. Ðây là một vỉa dầu mới độc lập với các phát giác dầu khí trước đây tại vòm nâng của mỏ Bạch Hổ. Vỉa dầu sẽ góp phần gia tăng trữ lượng cũng như hoàn thành sản lượng khai thác của Vietsopetro vào năm 2011. Ðiều này lại chứng minh thêm một lần nữa là khu vực biển Ðông là nơi có một trữ lượng dầu khí rất lớn, nên đang là miếng mồi ngon cho Trung cộng để chiếm đoạt trong tham vọng bá quyền của quốc gia Cộng sản này.

Việt Nam tuyên bố trong nửa đầu năm nay, đã phải nhập cảng xăng dầu trị giá 5.5 tỉ mỹ kim, tăng gần 70% so với cùng kỳ năm ngoái với tổng cộng hơn 6 triệu tấn. Về xuất cảng, Việt Nam xuất ra gần 4 triệu tấn dầu thô, thu về 3.38 tỷ đô-la.(SBTN)
Hiện đã xuất hiện những lời kêu gọi tuổi trẻ tiếp tục xuống đường biểu tình vào chủ nhật tuần này, nhưng qua những tin tức hôm nay cho thấy Trung cộng đã ra lệnh cho đàn em Cộng sản Việt Nam phải làm mọi cách để bịt kín những dư luận phản đối, và ngăn cản những cuộc biểu tình của người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại trong những ngày tới.(SBTN)

Philippin tỏ ra thân thiện nhưng kiên quyết trong vụ giằng co với TQ về tranh chấp lãnh thổ

Các giới chức Philippin cho biết họ dự trù mở các cuộc đàm phán cấp cao với Trung Quốc trong những tháng sắp tới để duy trì quan hệ tốt đẹp, bất kể cuộc tranh luận sôi nổi trong mấy tuần qua về lãnh hải có tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Quốc.

Simone Orendain | Manila

< script language=javascript1.2>var trkcid=124852164;var partnerID=593047; var _hb=1;< /script> < script language=javascript1.2 src=”http://www.voanews.com/g/g/button/button_1.js”>< /script> < script language=JavaScript> window.onerror=function(){clickURL=document.location.href;return true;} if(!self.clickURL) clickURL=parent.location.href; < /script>

  • < script type=text/javascript>                         var addthis_config = {                               “data_track_clickback”:true,                                                             “services_exclude”: ‘print,email’,                               “ui_language”: “vi”                               };                     < /script> < script type=text/javascript src=”http://s7.addthis.com/js/250/addthis_widget.js#pubid=ra-4da5bd0c2d67348a&ui_language=vi”>< /script>
  • < script type=text/javascript src=”http://platform.twitter.com/widgets.js”>< /script>< iframe style=”WIDTH: 55px; HEIGHT: 20px” class=”twitter-share-button twitter-count-none” title=”Twitter For Websites: Tweet Button” src=”http://platform0.twitter.com/widgets/tweet_button.html?_=1309581980453&count=none&counturl=http%3A%2F%2Fwww.voanews.com%2Fvietnamese%2Fnews%2Fphilippines-south-china-sea-7-1-11-124852164.html&id=twitter_tweet_button_0&lang=en&original_referer=http%3A%2F%2Fwww.voanews.com%2Fvietnamese%2Fnews%2Fphilippines-south-china-sea-7-1-11-124852164.html&related=VOAVietnamese&text=Philippin%20t%E1%BB%8F%20ra%20th%C3%A2n%20thi%E1%BB%87n%20nh%C6%B0ng%20ki%C3%AAn%20quy%E1%BA%BFt%20trong%20v%E1%BB%A5%20gi%E1%BA%B1ng%20co%20v%E1%BB%9Bi%20TQ%20v%E1%BB%81%20tranh%20ch%E1%BA%A5p%20l%C3%A3nh%20th%E1%BB%95&url=http%3A%2F%2Fwww.voanews.com%2Fvietnamese%2Fnews%2Fphilippines-south-china-sea-7-1-11-124852164.html&via=VOAVietnamese” frameBorder=0 allowTransparency scrolling=no>< /iframe>
  • < iframe style=”BORDER-BOTTOM: medium none; BORDER-LEFT: medium none; WIDTH: 88px; HEIGHT: 21px; OVERFLOW: hidden; BORDER-TOP: medium none; BORDER-RIGHT: medium none” src=”http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http://www.voanews.com/vietnamese/news/philippines-south-china-sea-7-1-11-124852164.html&layout=button_count&locale=vi_VN&show_faces=false&action=like&colorscheme=light&height=21&width=88px” frameBorder=0 allowTransparency scrolling=no>< /iframe>

Hình: VOA – S. Orendain

Tại một cuộc họp báo với giới truyền thông nước ngoài ở Manila, Ngoại trưởng Philippin nhắc lại lập trường của Philippin ‘những gì của chúng ta là của chúng ta’

Ngoại trưởng Philippin Albert del Rosario cho biết văn phòng của ông dự định nhận lời mời đi thăm Bắc Kinh vào những tháng sắp tới như một cơ hội để tái khẳng định quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc. Ông nói cho đến nay nước ông đã ký 100 hiệp định với Trung Quốc có liên quan đến thương mại và đầu tư, quốc phòng, an ninh và giáo dục.

Ông nói: “Tôi tin rằng mối bang giao là lành mạnh và nếu có những khó khăn ở Trường Sa hay vùng biển Nam Trung Quốc hoặc Biển Tây Philippin, thì chúng ta phải loại trừ thách thức đó vào lúc này và giải quyết một cách riêng rẽ đừng để tác động có hại đến bang giao của chúng ta.”

Nhưng tại một cuộc họp báo với giới truyền thông nước ngoài ở Manila hôm nay, Ngoại trưởng Philippin nhắc lại lập trường của Philippin “những gì của chúng ta là của chúng ta”, và nói rằng công cuộc hợp tác và thăm dò chung phải thắng thế trong những khu vực có tranh chấp ở Biển Nam Trung Quốc.

Ông nói rằng kể từ hồi tháng 2, Trung Quốc đã tiến hành hơn 7 vụ xâm nhập và khu vực mà các giới chức ở Manila nay gọi là Biển Tây Philippin.

Vùng biển này chứa nhóm đảo Trường Sa được cho là có trữ lượng lớn về dầu khí. Khu vực này cũng là nơi tập tung những tuyến hàng hải quốc tế quan trọng.

Trung Quốc, Philippin, Việt  Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan đều đòi chủ quyến một phần hoặc toàn bộ Trường Sa và phần lớn những vụ xung đột đều có liên quan đến vùng đảo này.

Bắc Kinh nhấn mạnh rằng gần như toàn bộ khu vực Biển Nam Trung Hoa đều thuộc chủ quyền Trung Quốc từ nhiều thế kỷ.

Tuần trước, ông Del Rosario đã gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, người đã tái khẳng định sự cam kết của Hoa Kỳ đối với việc tôn trọng một hiệp ước quốc phòng chung đã có từ nhiều thập niên với Philippin.

Các giới chức Hoa Kỳ cho hay họ có lợi ích trong việc giữ cho các tuyến đường biển này được tự do.

Bà Clinton nói Washington vẫn trung lập trong những vụ tranh cãi về lãnh hải trong vùng Biển Nam Trung Hoa nhưng bà cũng nói Hoa Kỳ sẽ giúp Philippin có được thiết bị quân sự “với giá hợp lý.”

Chiến hạm lớn nhất của Philippin là một khu trục hạm của Hoa Kỳ đã sử dụng trong Thế chiến thứ hai. Ông del Rosario nói tân trang các thiết bị cũ rất tốn kém và phải mất nhiều thời giờ để hoàn tất. Vì thế, ông nói bộ Quốc phòng Philippin đang tính chuyện thuê các thiết bị quân sự của Hoa Kỳ.

Ngoại trưởng Philippin nói: “Mà theo tôi có thể có lợi về mặt có khả năng thủ đắc thiết bị mới hơn được giao hàng sớm hơn và dĩ nhiên với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, có được loại thiết bị ít tốn kém hơn.”

Tuy nhiên, ông del Rosario nói ông không tin rằng căng thẳng trong vùng Biển Nam Trung Hoa sẽ đi đến bất kỳ giai đoạn chiến tranh nào cần sử dụng đến vũ khí.

Hoa Kỳ lâu nay vẫn tán thành các cuộc đàm phán đa phương có liên quan đến Biển Nam Trung Hoa. Nhưng Trung Quốc nhiều lần nói với Washington nên đứng ngoài vụ tranh chấp này.

Trung Quốc tung ra ‘cuộc chiến trên bộ’ chống VN: tung tiền mua hết nông sản

 

Friday, 01 July 2011 00:40
Cali Today News – Dường như TQ nhất quyết không để cho VN được yên thân. Sau nhiều tuần quậy tưng bùng trên Biển Đông, giờ đây, TQ cho người sang VN quậy tan nát trên bộ bằng một chiến thuật khác.Thứ năm 30/6 nhiều tờ báo ở VN có nói về hiện tượng từng đoàn doanh nhân TQ sang VN vơ vét mua hàng nông sản. Hiện tượng này đã có vài năm nay, nhưng thời gian gần đây, số lượng bị “vét” lên quá cao.Chẳng những cao mà còn đều đặn và hiện nay không có dấu hiệu nào cho thấy “cơn dịch vét hàng VN” sắp chấm dứt. Hiện tượng này khiến vật giá leo thang ngay tại VN vì thiếu hàng để bán và người dân trong nước lãnh đủ.

Bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó Chủ tịch hiệp hội Hàng Xuất Cảng Thủy Hải Sản VN (VASEP), nói rằng những năm trước doanh nhân Tàu sang thu mua tôm trực tiếp từ các trại nuôi tôm của VN.

Giờ đây các “chú Ba” này ra tận “đầu hẽm”, đón các con tàu đánh cá VN từ ngoài khơi vào, tung tiền mua sạch luôn các hải sản khác. Các công ty VN thiếu hàng xuất cảng, đẩy giá mua lên cạnh tranh mà vẫn thua các “chú Ba”

Miền Trung VN bị dịch thu mua từ ‘các xì thẩu’ nặng nhất. Hậu quả là giá tôm trắng vọt lên 90,000 đông/kí lô, trong lúc năm ngoái giá mua chỉ là 57,000 đồng/kí.

Bà Sắc báo động tình trạng này sẽ ‘giết’ các công ty xuất cảng thủy hải sản của VN. Từ đầu năm 2011 đến nay đã có 147 công ty loại này ở VN đã đóng cửa vì không mua được hàng.

Bà Sắc cho là đã đến lúc chính phủ VN nên bắt chước Indonesia vì quốc gia này đã cấm xuất cảng nguyên liệu thủy hải sản kiểu đó. Bà Sắc nói ‘VN cần phải bảo vệ thị trường nội địa’.

Các “chú Ba” còn nhắm vào hồ tiêu, theo lời ông Đỗ Hà Nam, Chủ Tịch Hiệp Hội Tiêu VN (VPN) cho hay. Đã có tới 20% toàn bộ sản lượng tiêu VN bị thương lái TQ thu vét. Cao su cũng thế, có đến 70% số cao su làm ra ở VN trực chỉ thị trường TQ.

Ngoài ra còn đường cát, heo, vịt, trứng gà cũng bị vơ vét từng đống lớn. Đặc biệt vịt là sản phẩm bị chiếu cố thật mặn mà, khiến giá mỗi con tăng từ 60,000 đồng lên 120,000 đồng, tức tăng gấp đôi. Ngay cả vịt đang đẻ sai trứng cũng bị lôi đầu ra bán cho các chàng luôn miệng nói ‘hảo, hảo lớ!’

Sau “Biển Đông dậy sóng” giờ đây đến “đất bằng dậy sóng”, các ‘anh em đồng chí ta’ định chơi trò bóp bao tử dân VN, sau khi định giật đảo ngoài khơi không xong?

Trường Giang

 

Cam Ranh-Yes or No (hay là chiến tranh Trung-Mỹ)

Thursday, July 23rd, 2015
Tác Giả: Nguyễn Đình Phùng
Hoaky- taucong
Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa có thể đã và đang xảy ra, nhanh chóng hơn tất cả những tiên đoán từ trước đến nay!

Những diễn tiến dồn dập xảy đến trong khoảng thời gian gần đây cho thấy Hoa Kỳ đã sửa soạn cho một bối cảnh xung đột với Trung Hoa và có thể đã cho bắt đầu một chiến dịch để triệt hạ quốc gia đối thủ là Trung Hoa, càng ngày càng ra mặt để khiêu khích Hoa Kỳ, bất chấp hậu quả!

Cuộc chiến tranh này không bắt đầu bằng những đụng độ quân sự qui ước như những chiến tranh trước đây trong lịch sử, nhưng khởi sự bằng kinh tế và đặc biệt bằng cyberwarfare, chiến tranh vi tính!

Và những biến chuyển của tuần lễ vừa qua, đặc biệt là sự sụp đổ thị trường chứng khoán của Trung Hoa, đã đưa đến nghi vấn có phải Hoa Kỳ đã bắt đầu chiến lược triệt hạ Trung Hoa về mặt kinh tế bằng cách nhúng tay vào việc sụp đổ thị trường chứng khoán này của Trung Hoa?

Ngày thứ sáu 3 tháng 7 vừa qua, chỉ số về stock của Trung Hoa là Shangai Composite Index mất đi 5.8% đứng ở mức 3687.
So với ngày 12 tháng 6, chỉ số này đứng ở mức 5166, có nghĩa chỉ trong vòng 3 tuần lễ, stock của Trung Hoa đã mất đi 29% giá trị.

Sự sụp đổ nhanh chóng này đã làm mất đi 2.7 trillion tức 2700 tỷ Mỹ Kim giá trị của chứng khoán Trung Hoa.

Và sự mất mát này đã đổ trên đầu của hàng trăm triệu gia đình dân Tàu, mấy năm nay đã đổ xô như điên cuồng vào việc chơi stock để làm giàu nhanh chóng, nay mất hết cơ nghiệp và tài sản vì sự sụp đổ này!

Thị trường chứng khoán Shangai có 112 triệu trương mục, thị trường chứng khoán tại Shenzhen có 142 triệu trương mục. Chỉ trong mùa xuân năm 2015 mỗi thị trường đã có thêm 20 triệu accounts do dân Tàu nhảy vào chơi stock!

Khác với Hoa Kỳ, hiện nay cá nhân ít chơi stock, tại Trung Hoa 4/5 các trương mục trên thị trường chứng khoán hai nơi là của tư nhân, do dân Tàu giới trung lưu có ít tiền vốn để dành nhảy vào chơi stock kiểu đánh bạc, ăn thua đủ!

Nay với stock sụp, cả trăm triệu người mất tiền hay sạt nghiệp. Trường hợp này còn lớn lao hơn thời sụp đổ của Wall Street thập niên 30’s dẫn dắt đến tai họa Great Depression cho Hoa Kỳ và toàn cầu.

Lý do thiệt hại nặng là dân Tàu chơi stock kiểu margin rất nhiều, có nghĩa đi vay để chơi stock, chỉ cần bỏ ra 10 – 20% vốn, phần còn lại đi vay của ngân hàng hay công ty đầu tư. Khi stock lên, chơi kiểu margin này lời lớn.

Nhưng khi stock xuống, sẽ bị trường hợp gọi là margin call, khi giá trị stock xuống nhiều và nhanh, công ty đầu tư sẽ bắt châm thêm tiền vào, nếu không có, sẽ đương nhiên bị bán số stock đang có và tiền vốn bỏ ra lúc đầu sẽ mất sạch!

Như thế, chơi stock kiểu đi vay margin rất nguy hiểm và như tuần lễ vừa qua tại Thượng Hải, khi stock đã mất đi gần 1/3 giá trị, hàng trăm triệu dân Tàu chơi stock kiểu margin này mất hết, tán gia bại sản!

Trong ba tuần lễ qua, Ngân Hàng Trung Ương tại Bắc Kinh đã tìm cách cứu thị trường chứng khoán Tàu bằng cách hạ lãi xuất, giảm bớt luật lệ hạn chế.v.v., nhưng không đi đến đâu.

Các công ty lớn của Trung Hoa cũng tung tiền vào để mua stock nhằm giữ giá trị và Hiệp Hội Chứng Khoán của Trung Hoa, do chính quyền kiểm soát, cũng dự định sẽ tung tiền vào đến mức 120 tỷ nhân dân tệ hay renminbi, tương đương với 19.4 tỷ Mỹ Kim.

Nhưng con số này được coi là quá ít ỏi, khó lòng làm thị trường chứng khoán tại Thượng Hải và tại Shenzhen đứng vững được. Có thể sẽ lên được vài ngày nhưng nhiều phần sẽ tiếp tục đi xuống.

Một trong những lý do stock của Tàu xuống nhiều và nhanh như vậy vì các công ty đầu tư đổ xô vào để bán short – selling, tức vay tiền để bán stock đi. Khi giá xuống nhiều sẽ mua lại để trả cho chủ nhân và kiếm lời bằng tiền sai biệt. Với kiểu bán stock short này, các công đầu tư kiếm lợi nhiều và làm giá xuống còn nhanh hơn!

Chính quyền Tàu hiện đang la hoảng vì short selling này của các công ty đầu tư ngoại quốc, đặc biệt là của Hoa Kỳ. Công ty đầu tư của Wall Street bị vạch mặt chỉ tên là Morgan Stanley, đã dùng phương cách short selling để kiếm lời tối đa.

Nhưng câu hỏi sau hậu trường là các công ty đầu tư của Hoa Kỳ đã có sự khuyến khích hay giúp đỡ nào không của chính quyền Obama để lũng đoạn thị trường chứng khoán Trung Hoa, cũng như làm tình trạng trở nên tồi tệ hơn, gây ra sụp đổ toàn diện cho stock market của Trung Hoa?

Dĩ nhiên tình trạng thị trường chứng khoán của Trung Hoa sụp đổ là chuyện không sớm thì muộn cũng xảy ra.

Lý do là kinh tế Trung Hoa đã chậm đi nhiều, mức tăng trưởng trước kia từ 15 – 20%, nay chỉ còn 7% và năm nay 2015 sẽ còn xuống nhiều hơn. Với quả bóng địa ốc vỡ tan, khi các thành phố xây cất thành thành phố ma, các mall vĩ đại không một bóng người, các building xây cất bỏ không vì không có ai thuê, kinh tế Trung Hoa đang sụp đổ.

Nhưng chỉ vì chính quyền cộng sản tìm đủ cách để ếm nhẹm và bịp bợm các nhà đầu tư ngoại quốc, hậu quả của quả bóng địa ốc vỡ nổ chưa lan rộng lắm. Nhưng kế tiếp cho sự tan vỡ kinh tế của Trung Hoa chính là thị trường chứng khoán như việc sụp đổ trong ba tuần lễ vừa qua, chính quyền Trung Hoa không che dấu nổi!

Có thể nói thời điểm cho thị trường chứng khoán của Trung Hoa tan vỡ đã chín mùi, bắt buộc phải xảy ra kế tiếp cho quả bóng địa ốc vỡ tan.
Và các công ty đầu tư Wall Street đã đánh hơi và tính toán đúng để nhảy vào lũng đoạn và giúp cho thị trường chứng khoán Tàu sụp nhanh hơn bằng kiểu short selling!

Nhưng bàn tay của chính quyền Hoa Kỳ có thể đứng đằng sau giật dây là chuyện nhiều phần đã xảy ra!  Lý do là gần đây chính quyền Obama đã hứa hẹn là sẽ trả đũa Trung Hoa về tội dùng hacking để lấy tài liệu cá nhân của hơn 4 triệu nhân viên làm việc trong chính quyền.

Và tuy không nói ra, chính quyền Obama có thể đã dùng việc hacking vào chính các cơ sở của Trung Hoa và tại thị trường chứng khoán Thượng Hải để giúp cho thị trường stock này của Tàu sụp nhanh hơn?!!

Một khi quả bóng địa ốc vỡ tan và thị trường chứng khoán bị sụp, kinh tế sẽ đi vào suy thoái nặng nề. Trường hợp Nhật Bản thập niên 80’s đã có kinh nghiệm này và mất đến hơn 20 năm vẫn chưa ra khỏi được suy thoái.  Dĩ nhiên các chiến lược gia của Hoa Kỳ cũng hy vọng lịch sử sẽ tái diễn với Trung Hoa đi vào suy thoái nặng và mất đi tiềm năng kinh tế với việc sụp đổ vừa qua.

Trong chiến lược kinh tế tầm xa hơn, chính quyền Obama đã thành công khi cả 2 viện tại Quốc Hội đã thông qua luật để Obama thương thảo nhanh chóng cho thỏa ước mậu dịch Thái Bình Dương TPP, Trans Pacific Partnership.

Đây là đòn để triệt hạ kinh tế Trung Hoa về lâu về dài, với Hoa Kỳ và các nước Thái Bình Dương khác, trong đó có Việt Nam, trao đổi mua bán với nhau và gạt hẳn Trung Hoa ra ngoài!

Điểm quan trọng của thỏa ước mậu dịch TPP này là Hoa Kỳ đã nhắm vào Việt Nam. Lý do là trong 12 quốc gia hợp thành tổ chức mậu dịch này, quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất về mậu dịch và đầu tư là Việt Nam.

Và Hoa Kỳ đã dùng việc thông qua thoả ước mậu dịch TPP, hy vọng sẽ hoàn tất vào năm đến để tách rời Việt Nam ra khỏi quĩ đạo của Trung Hoa và thành đồng minh của Hoa Kỳ. Lý do để Hoa Kỳ mong muốn và tìm đủ cách để kéo Việt Nam từ bỏ chuyện đi hàng đôi và trở thành đồng minh với Hoa Kỳ nằm trong hai chữ: Cam Ranh!

Trong chiến lược kiềm tỏa Trung Hoa về mặt quân sự, vị thế đặc biệt của Cam Ranh nắm giữ tầm quan trọng bậc nhất với Ngũ Giác Đài. Phi Luật Tân đã mong muốn Hoa Kỳ trở lại Subic Bay tái lập căn cứ quân sự tại đây, nhưng Subic Bay không thể sánh với Cam Ranh về vị thế chiến lược hàng đầu được.

Một căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Cam Ranh sẽ trấn áp được hạm đội tiềm thủy đĩnh nguyên tử của Trung Hoa hiện đang đặt tại đảo Hải Nam. Hải quân Hoa Kỳ ở Cam Ranh sẽ giữ cho biển Đông Hải tự do giao thông, không e dè gì về việc Trung Hoa đang cho xây cất các hòn đảo nhân tạo làm phi đạo và thiết lập các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, kiểm soát toàn thể vùng biển Đông.

Hơn nữa căn cứ Cam Ranh sẽ giúp cho Hoa Kỳ tạo thành vòng đai nguyên tử bao vây Trung Hoa với các phi đạn gắn đầu đạn nguyên tử tầm gần loại Pershing như đã đặt tại Âu Châu thời chiến tranh lạnh, không cần đến hoả tiễn liên lục địa bắn đến Trung Hoa lâu hơn!

Tập Cận Bình đã đi sai một nước cờ khi cho kéo giàn khoan vào hải phận của Việt Nam và tạo nên làn sóng chống Tàu năm ngoái.

Việc Hoa Kỳ cho chiếu các video với đài CNN thu hình chuyện Trung Hoa cho lập đảo nhân tạo và xây phi đạo cho phản lực cơ quân sự gần Hoàng Sa là sự cố ý của chính quyền Obama, trước hết để đánh thức dư luận dân chúng Hoa Kỳ về hiểm họa Trung Hoa, nhưng cũng là để lôi kéo Việt Nam ra khỏi quĩ đạo Tàu và đi hẳn với Hoa Kỳ.

Những diễn biến gần đây tại Việt Nam cho thấy chiến lược này của Hoa Kỳ đang thành hình.

Trước hết một loạt các yếu nhân của Hoa Kỳ đã sang Việt Nam trong vài tháng nay như bộ trưởng quốc phòng Aston Carter, chủ tịch ủy ban quân lực tại Thượng Viện John McCain và gần đây nhất vào lễ quốc khánh Hoa Kỳ 4 tháng 7 là cựu tổng thống Bill Clinton. Clinton có thể là người đại diện cho Obama để thương thảo và đi đến thỏa thuận sau cùng về việc Việt Nam thành đồng minh của Hoa Kỳ và cho thiết lập căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Cam Ranh.

Đồng thời trong tuần này, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam là Nguyễn Phú Trọng sẽ đi với phái đoàn chính phủ hàng 150 người sang Hoa Kỳ và sẽ gặp Obama. Nguyễn Phú Trọng không phải là chủ tịch nước nhưng được tòa Bạch Cung phá lệ để tiếp đón như thủ lĩnh quốc gia.  Điều này cho thấy tay này đã đi theo phe thân Hoa Kỳ và gạt bỏ được Chủ tịch Trương Tấn Sang được coi như phe thân Tàu.

Một nhân vật theo phe thân Tàu là đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng không có tên trong phái đoàn sang Hoa Kỳ vào giờ chót. Tin chính thức của chính phủ cộng sản là Phùng Quang Thanh chữa bệnh tại Pháp, tuy có tin đồn không kiểm chứng được là tay này bị ám sát khi sang đến Pháp?

Tất cả những diễn biến này cho thấy Hoa Kỳ đã thành công trong việc lôi kéo Việt Nam ra khỏi quĩ đạo của Trung Hoa và nhiều phần sẽ được thoả thuận để lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh, có thể sau chuyến Obama sang thăm Việt Nam vào tháng 11 năm nay.

Tuy nhiên điều quan trọng đối với Việt Nam là việc phải thương thảo để Hoa Kỳ ký kết một hiệp ước hỗ tương phòng thủ như Hoa Kỳ đã ký kết các hiệp ước này với Nhật Bản và Phi Luật Tân trước đây.

Thực sự gọi là hỗ tương phòng thủ, nhưng điều đó có nghĩa Hoa Kỳ sẽ nhẩy vào bảo vệ Việt Nam một khi bị Trung Hoa tấn công. Vì phản ứng của Trung Hoa trước thế kiềm tỏa và chiến lược triệt hạ Trung Hoa của Hoa Kỳ sẽ làm cho Việt Nam ở vào thế nguy hiểm dễ dàng bị Trung Hoa tấn công và xâm lăng.

Chỉ một khi có được hiệp ước hỗ tương phòng thủ với Hoa Kỳ và căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Cam Ranh thiết lập xong xuôi, lúc đó Việt Nam mới ở vào thế an toàn trước đe dọa của Trung Hoa được.

Tóm lại, chiến lược triệt hạ Trung Hoa của Hoa Kỳ đã thành hình và đã bắt đầu được thi hành, về phương diện kinh tế cũng như quân sự. Điều tốt nhất cho toàn cầu vẫn là Trung Hoa suy yếu và tan rã một khi dân chúng Tàu bị khó khăn kinh tế và thất nghiệp nổi loạn và thay đổi được chính quyền cộng sản Trung Hoa hiện tại.

Cũng như Việt Nam một khi đi với Hoa Kỳ, sẽ phải chịu điều kiện để đi đến dân chủ hóa, nếu muốn hưởng lợi do thỏa ước mậu dịch TPP và được chiếc dù quân sự của Hoa Kỳ bảo vệ với căn cứ Hoa Kỳ tại Cam Ranh. Các chuyện này tuy còn xa vời nhưng điều gì cũng có thể xảy ra được. Và thời gian sẽ cho chúng ta câu trả lời rõ ràng nhất!

World Bank: Việt Nam nợ công 110 tỷ USD

Tuesday, July 21st, 2015

Nguồn: VNExpress

Số liệu này cao hơn mọi công bố từ trước tới nay của các cơ quan Việt Nam, và như vậy mỗi người dân đang gánh trên 1.200 USD nợ công, tương đương hơn nửa năm thu nhập.
no-cong-JPG-1893-1437464150.jpg

Theo số liệu của WB, mỗi người dân Việt Nam gánh hơn 1.200 USD nợ công. Ảnh:Reuters

Ngân hàng Thế giới (WB) – nhà tài trợ đa phương lớn nhất hôm qua công bố về nợ công Việt Nam với số liệu bất ngờ. Tính đến cuối năm 2014, tổng nợ công của Việt Nam, bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương ước tính là 2,35 triệu tỷ đồng (khoảng 110 tỷ USD).  Nếu xét về tỷ lệ tương đối so với GDP (186,2 tỷ USD), thì nợ công theo tính toán của WB tương đương 59% – xấp xỉ số liệu được Bộ Tài chính đưa ra. Nhưng nếu xét riêng số tuyệt đối, nợ công theo tính toán của WB cao hơn bất kỳ số liệu nào được nêu ra trước đó.

Bản tin nợ công tháng 11/2014 của Bộ Tài chính cho biết cuối năm 2013, nợ công của Việt Nam gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ nước ngoài của doanh nghiệp tự vay tự trả không tính nợ chính quyền địa phương đạt hơn 1,5 triệu tỷ đồng, tăng so với mức gần 890.000 tỷ đồng cuối năm 2010.

Theo WB, toàn bộ dữ liệu về nợ công Việt Nam được thu thập từ các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ. Nếu dựa trên con số này và mức dân số cuối năm 2014 là 90,7 triệu người, bình quân mỗi người dân Việt Nam “gánh” gần 1.212,8 USD nợ công.

Đồng hồ nợ công của Economist ghi nhận vào cuối năm ngoái, mỗi người Việt Nam gánh 914,1 USD nợ và hiện tại là 997,9 USD.

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tính tới cuối năm ngoái là hơn 2.000 USD một năm.

no-cong-JPG-5172-1437464150.jpg

Nguồn: MOF/VinaCapital

Trong một báo cáo mới công bố, Công ty Quản lý quỹ VinaCapital – đơn vị đang đầu tư hơn một tỷ USD tại Việt Nam đánh giá bức tranh tài khóa trong nước đang gặp nhiều vấn đề, đặc biệt là nợ công. “Tình hình nợ công ngày càng tệ trong những năm gần đây”, công ty này cho biết.

Tỷ lệ nợ công trên GDP đã giảm về 50,8% vào năm 2012, nhưng dự báo tăng lên 60,3% năm 2015 và có thể tiến tới 64,9% trong năm tới – tiệm cận với ngưỡng an toàn 65% GDP.  Chính phủ phát đi thông tin sẽ giảm chỉ tiêu này về 60,2% vào năm 2020, nhưng VinaCapital vẫn đặt câu hỏi làm thế nào để nợ công leo lên gần mốc 65% GDP trong năm tới và sau đó có thể giảm về 60,2%.

Các chuyên gia nước ngoài nhận định Việt Nam vay nợ cao chủ yếu do nhu cầu tài trợ ngân sách lớn. Bội chi đã tăng từ mức 4,9% GDP năm 2008 lên 5,3% GDP năm 2014. Nửa đầu năm 2015, ngân sách tiếp tục thâm hụt khoảng 99.000 tỷ đồng (4,5 tỷ USD).

Tình trạng này diễn ra khi chi tiêu của Chính phủ ngày càng tăng trong lúc nguồn thu không ổn định do Việt Nam đang trong lộ trình giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp và giá dầu sụt giảm. Ngoài ra, WB cho rằng chính sách nới lỏng tài khóa để ngăn ngừa suy thoái kinh tế mạnh hơn đã dẫn tới nới rộng đáng kể thâm hụt tài khóa.

So sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN đang cạnh tranh về thu hút đầu tư, VinaCapital đánh giá Việt Nam kiểm soát tài khóa kém nhất so với các “ông hàng xóm”. Điều này thể hiện qua mức thâm hụt cao nhất so với Thái Lan, Indonesia, Philippines, trong đó thu ngân sách của Việt Nam trên GDP giảm từ mức 26,3% năm 2009 về 20,1% năm 2014, còn các quốc gia khác lại tăng.

tham-hut-ngan-sach-JPG-6625-1437464151.j

Tỷ lệ bội chi ngân sách của Việt Nam so với các nước trong khu vực. Nguồn: VinaCapital

Chuyên gia kinh tế Sebastian Eckardt của WB nhận xét nợ công có xu hướng tăng sẽ gây áp lực lên nguồn trả nợ. Nghĩa vụ thanh toán nợ công (tổng thanh toán nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã tăng từ 22% năm 2010 lên gần 26% tổng thu ngân sách năm 2014. Chi trả lãi vay hiện chiếm gần 7,2% chi ngân sách, lấn át các khoản chi tiêu khác.

Ngoài ra, nghĩa vụ nợ tiềm tàng từ doanh nghiệp Nhà nước và khu vực ngân hàng cũng trở thành mối nguy cơ rủi ro tới tính bền vững của nợ công. Ngoài các khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh đã được tính toán, WB cho rằng vẫn còn nhiều khoản nợ tiềm ẩn chưa được thống kê một cách đầy đủ. “Các khoản nợ này ước tính có quy mô khá lớn, tính rủi ro cao và có thể đe dọa tới ổn định tài khóa”, WB cảnh báo.

Để kiềm chế áp lực nợ công, bà Victoria Kwakwa – Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam khuyến nghị Chính phủ cần củng cố tài khóa phù hợp với tăng trưởng để giảm bớt nhu cầu bù đắp thâm hụt ngân sách, đồng thời phải hợp lý hóa nguồn chi và cải thiện hiệu quả đầu tư công.

Lấy ví dụ về Hy Lạp, bà Kwakwa cho hay Việt Nam sẽ không rơi vào tình trạng tệ như vậy, nhưng cũng cần có những giải pháp ngay từ lúc này, trong đó chú trọng tới công tác thu thập thông tin và cập nhật nợ của khu vực doanh nghiệp Nhà nước để có đánh giá rủi ro kịp thời.

“Câu chuyện xảy ra tại Hy Lạp không phải chỉ sau một đêm mà đã diễn ra trong thời gian dài. Do đó, Việt Nam cần thu thập thông tin tốt, số liệu tin cậy sẽ là nền tảng quan trọng cho việc hoạch định chính sách, ra quyết định chính sách”, bà nhấn mạnh.

Phương Linh

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

Saturday, July 18th, 2015

From: VietVungVinh
To: Viet VungVinh
Sent: Thu, Jul 16, 2015 11:29 pm
Subject: Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểu tình của CĐNV

 
Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lực biểutình của CĐNV

Một số người căn cứ vào bài báo của Việt cộng đã nhanh nhẩu cho rằng đoàn biểu tình và TNS Janet Nguyễn bị lừa. Nhưng trái lại chính họ mới là người bị Việt Cộng lừa. Cái đau nữa là cũng chính họ lại dẫn lời của TT Thiệu để răn bảo: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Sacramento City Hall: Hủy bỏ đón tiếp CSVN vì áp lựcbiểu tình của CĐNV

Đông đảo người người Mỹ gốc Việt từ Bắc Cali, Nam Cali và tại địa phương Sacramento đã tập trung biểu tình trước City Hall Sacramento lúc 12 giờ trưa thứ Ba ngày 14 tháng 7 năm 2015, để phản đối việc chính quyền thành phố trong ngày này sẽ có 2 cuộc gặp gỡ và tiếp đón phái đoàn CSVN do Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải dẫn đầu.

Cách đó, 4 ngày tức hôm thứ Sáu ngày 10 tháng 7 năm 2015 tại Văn phòng Cảnh Sát Quận Hạt Sacramento, một số đại diện Hội Đoàn tạiSacramento và đồng hương tham dự cuộc họp do ông Phó Thị Trưởng Allen Warren mở ra. Ông Allen Warren kể về chuyến viếng thăm VN của ông mới đây vào tháng 2 và nghe ông Warren trình bày về dự kiến kết nghĩa chị em giữa Sacramento với thành phố Hồ Chí Minh. Tại buổi bàn thảo này, ông Đỗ Thiện Thịnh Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Người Mỹ Gốc Việt Sacramento) và ông Tido Thạc Hoàng (Chủ tịch Điều Hành Người Mỹ Gốc Việt Sacramento) cùng một số đồng hương lên tiếng phản đối rằng chúng tôi không thể chấp nhận việc kết nghĩa vì CSVN đã vi phạm nhân quyền, không tự do báo chí, đàn áp tôn giáo v.v…

Trở lại cuộc biểu tình, đứng trước đoàn biểu tình tại khuôn viên tòa thị chính Sacramento, TNS Janet Nguyễn phát biểu qua loa cầm tay rằng chúng ta cần có thái độ phản đối mạnh mẽ để tránh sự việc này xảy ra trong tương lai.

Mặc dù là ngày thường, nhưng vẫn có rất đông đồng hương các nơi tề tựu tại đây, không những thế, thông tin cho chúng tôi biết các phái đoàn từ Bắc Cali đang chuẩn bị khởi hành để tiếp ứng cho cuộc biểu tình kéo dài cho đến 7 giờ tối.

Khoảng gần 1 gìờ trưa, TNS Janet Nguyễn đọc Email gởi ra từ một nhân viên của Phó Thị Trưởng Allen Warren thông báo hủy bỏ cả hai buổi họp với phái đoàn CSVN. Cuộc họp thứ nhất bị hủy theo dự trù là lúc 3 giờ 30 phút chiều Ðại diện của Hội Ðồng Kết Nghĩa Quốc Tế Sacramento, và một đại diện của phái đoàn CSVN. Sau đó là phần phát biểu của Phó Thị Trưởng Allen Warren và một phó chủ tịch của Sài Gòn. Cuộc họp thứ hai bị hủy theo dự trù lúc 6g chiều cùng ngày là phần nói về các cơ hội hợp tác giữa hai quốc gia.

Sau khi cuộc biểu tình nói trên diễn ra 24 tiếng, tại Việt Nam các báo đưa tin Giám đốc Sở Ngoại vụ và Giám đốc Văn phòng phụ trách Quan hệ Kết nghĩa Sacramento đã ký bản ghi nhớ nội dung nguyên văn nhưsau: “Bản Ghi nhớ để hai bên cùng tiếp tục bàn thảo phương thức, xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác đầy đủ giữa hai TP trong thời gian tới.” .

Một số người căn cứ vào bài báo VC đã nhanh nhẩu cho rằng đoàn biểutình và TNS Janet Nguyễn bị lừa. Nhưng trái lại chính họ mới là người bị Việt Cộng lừa. Cái đau là cũng chính họ lại dẫn lời của TT Thiệu để răn bảo: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Tin mới nhất 16/7/2015 : Trả lời phóng viên nhật báo Người Việt, ông Shoun Thao, cho biết: “Bản hứa hẹn mà bà Hurley ký không chắc chắn một việc gì cả. Bà Hurley ký với tư cách đại diện tổ chức Sister Cities International tại thành  phố Sacramento, một tổ chức vô vụ lợi do cựu Tổng Thống Dwight D. Eisenhower thành lập từ năm 1956 và chuyên kêu gọi các thành phố kết nghĩa. Ông Warren có mặt vì được mời. Ông Warren và thành phố Sacramento đã không ký bất kỳ thỏa thuận gì với phái đoàn Sài Gòn.”

 

 

Trang Biểu Tình chống Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ

Saturday, July 11th, 2015

Thông Cáo Kết quả cuộc biểu tình Chống Nguyễn Phú Trọng

Tuyên Cáo về việc Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ

Vỉdeo cuộc biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng (1) (SBTN Hoa Thịnh Đốn)

Video cuộc biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng (2) (SBTN Hoa Thịnh Đốn)

http://youtu.be/8wC_j5LW9lE (Á Châu tự Do)

Biểu tình chống Nguyễn Phú Trọng 7-7-2015 by bebeliem

http://www.youtube.com/watch?v=2Oy3k5DHAtE  (Vũ Nhân, STBN)

https://www.youtube.com/watch?v=Q9Z-sYyBBsw&feature=youtu.be (Nữ Ký Giả Tuyết Mai)

https://youtu.be/5G9AJMq0eHI (Viet TV DC: THVN-HTD:)

https://www.youtube.com/watch?v=y-n3ljVJ8og (Đài Bọt  Biển)

Trang hình ảnh Nhất Hùng:

Cộng Đồng VN Biểu Tình Chống Nguyển Phú Trọng Tại Hoa Thịnh Đốn 7/7/ 2015

Press Release: Demonstration to protest Against Vietnamese Communist Party Chief to Visit White House on July 7, 2015. 

Thông Cáo về Cuộc Biểu Tình Chống Nguyễn Phú Trọng và Phái Đoàn đến Hoa Kỳ 

Nguyễn Phú Trọng đi thăm Hoa Kỳ nói lên điều gì?

Nguyễn Phú Trọng đi thăm Hoa Kỳ nói lên điều gì?

Thursday, June 25th, 2015

Lê Dủ Chân (Danlambao)  Theo tin của BBC thì Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm Hoa Kỳ từ ngày 7 đến ngày 9 tháng Bảy năm 2015. Trong chuyến đi này ông Trọng sẽ hội đàm với Tổng Thống Barack Obama tại Nhà Trắng. Hai bên dự kiến sẽ có tuyên bố chung về tầm nhìn của quan hệ đối tác toàn diện và sâu rộng giữa hai nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và tầm nhìn chung Việt-Mỹ về quan hệ quốc phòng, định hướng hợp tác quốc phòng thời gian tới.
Tại Washington DC, ông Trọng dự kiến cũng sẽ dự chiêu đãi do Ngoại Trưởng John Kerry chủ trì, gặp Đại diện Thương mại Michael Froman hoặc Bộ trưởng Thương mại Penny Pritzker, Bộ trưởng Nông nghiệp Tom Vilsack cũng như các cựu chiến binh, chức sắc tôn giáo và nhân sỹ, trí thức Mỹ. Tiếp xúc với các nghị sĩ đảng Dân Chủ và Cộng Hòa tại Thượng Viện và Hạ Viện Mỹ, gặp thượng nghị sĩ John McCain, gặp gỡ đại diện doanh nghiệp Mỹ.
Tại New York, ông Trọng sẽ gặp lãnh đạo đảng cộng sản và bạn bè cánh tả Mỹ, vợ chồng cựu Tổng Thống Bill Clinton, gặp đại diện Việt kiều và đại diện du học sinh Việt Nam. Ngoài ra ông Trọng sẽ gặp Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và tiếp xúc với nhóm trí thức quan tâm tới Việt Nam của trường đại học Harvard.
Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam tới Hoa Kỳ, chắc hẳn các đảng viên đảng cộng sản Việt Nam chưa bao giờ nghĩ đến có một ngày Tổng Bí Thư của mình đi thăm nước Mỹ. Qua chuyến đi này của ông Nguyễn Phú Trọng nhân dân Việt Nam trong đó có mấy triệu đảng viên đảng cộng sản thấy được gì?
1- Chủ nghĩa cộng sản đã phá sản trong tư tưởng của ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam ngày nay.
Thật vậy, nếu như đảng cộng sản Việt Nam còn kiên trì tư tưởng Mác Lê thì nước Mỹ, hang ổ của tên đế quốc tư bản sừng sỏ nhất thế giới, là nơi để ông Nguyễn Phú Trọng, đảng trưởng đảng cọng sản Việt Nam, đem bom đạn, lưỡi lê giáo mác và tư tưởng đấu tranh giai cấp đến để giải phóng chứ dứt khoát không phải là nơi để ông ta đến để cầu xin hợp tác và học hỏi như những gì đã diễn ra hôm nay.
2- Ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam hôm nay dù không nói ra nhưng đã mặc nhiên công nhận đường lối, chính sánh chống Mỹ cứu nước của đảng trong quá khứ là sai lầm.
Đảng cộng sản Việt Nam phải trả lời sao đây với nhân dân miền Nam Việt Nam trước tháng 4/1975 và nhân dân trên cả nước sau tháng 4/1975 với chủ trương“đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào, đánh đến người việt cuối cùng cũng đánh” của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản trong 70 năm qua, trước sự kiện ông Nguyễn Phú Trọng tổng bí thư của đảng ta qua thăm nước Mỹ với mục đích hoàn toàn không khác gì các vị lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm trong quá khứ.
3- Ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam hôm nay nhận ra được rằng con đường bán nước cho Tàu không cứu vãn được chế độ, ngược lại nó sẽ làm cho chế độ sụp đổ nhanh hơn. 
Nhân dân Việt Nam chắc chắn sẽ vùng lên lật đổ chế độ Việt gian để bảo vệ tổ quốc của mình trước nguy cơ mất nước, mất chủ quyền về tay Tàu cộng. Muốn cứu chế độ, con đường duy nhất đảng cộng sản phải đi là hợp tác với Mỹ để một mặt ngăn chặn lòng tham vô đáy của Trung cộng và mặt khác xoa dịu sự phẫn nộ càng ngày càng cao trong quần chúng nhân dân.
4- Sự tranh chấp quyền lực giữa hai phe ngả về Mỹ hoặc đi theo Tàu trong nội bộ đảng đã nhất thời ngã ngũ và mẫu số chung của hai phe là kéo dài quyền lãnh đạo của đảng bất kể dưới chế độ nào.
Đảng cộng sản Việt Nam giờ đây đang như một người đánh mất nhân thân của mình. Lý tưởng cộng sản cũng như quốc gia, dân tộc họ không còn tâm trí để lo đến nữa, mọi nỗ lực của họ hôm nay là bằng mọi giá phải duy trì cho được quyền lực mà họ đã giành được trong 70 năm nay dù phải hy sinh quốc gia, dân tộc hay lý tưởng của mình.
Hiện nay có ba thế lực có ảnh hưởng quyết định trên sự tồn tại của đảng cộng sản Việt Nam, đó là nhân dân Việt Nam, Tàu và Mỹ. Đối với Tàu và Mỹ dù ngả về bên nào thì đảng cộng sản cũng có nguy cơ bị thế lực còn lại là nhân dân lật đổ. Theo Tàu bị lật đổ vì tội bán nước, ngả Mỹ thì bị lật đổ vì tự do, dân chủ và nhân quyền, chỉ khác nhau ở chổ nhanh hay chậm, hòa bình hay bạo động, an toàn hay không an toàn.
Chuyến đi thăm Mỹ lần này của Nguyễn Phú Trọng cho thấy lãnh đạo cấp cao của đảng cộng sản Việt Nam đã thấy được vấn đề này và mục đích của nó là tạo sự quân bình giữa ba thế lực nêu trên để kéo dài tuổi thọ của đảng thêm được ngày nào hay ngày ấy.
 
5- Lời nói của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” hôm nay đã được chứng minh một cách rỏ ràng và cụ thể qua chuyến thăm nước Mỹ lần này của Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Tháng Tư chửi Mỹ hà rầm
Tháng Bảy đi Mỹ nâng tầm bang giao
Bắt thang lên hỏi trời cao
Tin người cộng sản được bao nhiêu phần?
Phú Trọng đi Mỹ vì dân?
Thưa không! Vì đảng, vì thân, vì Tàu.
 
23/06/2015

Về Trung Quốc Sử & Hoàng Sa Trường Sa—Ls. Nguyễn Hữu Thống

Thursday, June 25th, 2015

Ls. Nguyễn Hữu Thống

BÌNH GIẢI VỚI TẬP CẬN BÌNH VỀ TRUNG QUỐC SỬ LIÊN QUAN ĐẾN HOÀNG SA TRƯỜNG SA

Theo cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, trong bài “Nghiên Cứu về Lịch Sử và Địa Lý” học giả Hsieh Chiao-Min nhận định về cuộc Thám Hiểm của Trung Hoa tại Đại Dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Thản hoặc nhà cầm quyền Trung Quốc cũng gửi những đoàn thám hiểm đại dương đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ 3 và thứ 2 Trước Công Nguyên, cũng như tại Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu trong thế kỷ 15. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Quốc” suốt chiều dài lịch sử (từ nhà Tần thế kỷ thứ 3 Trước C. N. đến nhà Thanh từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20). Chiao-Min Hsieh. Chinese History Middle Ages: China Academy, Taipei, 1978, p. 287).

Dưới đời nhà Tần, cuốn Tần Chí tường thuật rằng năm 211 Trước C.N. Tần Thủy Hoàng sai một phái bộ gồm hàng ngàn đồng nam đồng nữ (trai gái tân) đi kiếm những dược phẩm có tác dụng đem lại trường sinh bất tử cho nhà vua tại đảo Đại Châu Bất Tử trong Đông Trung Quốc Hải. Mặc dầu vậy, Tần Thủy Hoàng không bất tử mà đã chết một năm sau đó. Và chế độ quân phiệt nhà Tần đã cáo chung sau 15 năm thống trị (221-206 Trước C.N).

Trong thời Đế Quốc Thứ Nhất đời Tần Hán (First Empire), những cuộc thám hiểm đại dương tại Đông Trung Quốc Hải và Biển Nhật Bản không phải để chinh phục vùng Biển Nam Hoa nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đặc biệt trong thế kỷ 15, từ đời Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc), Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa đã 7 lần thám hiểm Tây Dương (Ấn Độ Dương). Và trong 28 năm, từ 1405 đến 1433, đã viếng thăm 37 quốc gia duyên hải đến Ba Tư, Biển Hồng Hải phía tây bắc, Đông Phi Châu phía cực tây và Đài Loan phía cực đông. Những cuộc thám hiểm này chỉ đi ngang qua Biển Nam Hoa nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Lịch sử Trung Quốc cũng phê phán những cuộc thám hiểm đại dương đời nhà Minh vì đã làm kiệt quệ kinh tế đất nước. (The large exploring expeditions that were to cross the South China Sea and explore the Indian Ocean were criticized by the court as poor to (an impoverishment of) the country. Chiao-Min Hsieh, Ibid, p. 290-291).

Những tài liệu lịch sử nêu trên đã được phổ biến tại Đại Hội Quốc Tế về Sử Địa Trung Quốc Kỳ I tại Đài Bắc năm 1968 và đã được đăng trong cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ năm 1978.

Như vậy theo chính sử Trung Quốc suốt từ thế kỷ thứ 3 Trước C.N. đến thế kỷ 15, dưới 3 triều đại Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ không có tài liệu nào cho biết có các lực lượng hải quân Trung Quốc đi tuần thám để hành sử và công bố chủ quyền tại Biển Đông Hải, Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á.

Đối chiếu lịch sử Việt Nam và Trung Quốc, sử sách ghi chép rằng năm 214 Trước C.N., sau khi thống nhất Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem quân thôn tính các nước Bách Việt để chia thành 3 quận: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bắc và Trung Việt). (Nước Việt ta thời đó có nhiều voi: Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi khởi nghĩa đánh nhà Hán, nhà Ngô; Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên, Quang Trung đuổi quân Thanh cũng ngồi trên mình voi đánh giặc).

Tuy nhiên các dân tộc Bách Việt không chịu ách đô hộ tàn bạo của nhà Tần. Họ trốn vào rừng chiến đấu và giết được Đồ Thư.

Năm 207 Trước C. N. Triệu Đà đánh thắng An Dương Vương, rồi sát nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải để thành lập một quốc gia độc lập đóng đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu) lấy quốc hiệu là Nam Việt (207-111 Trước C.N.). Qua năm sau Lưu Bang cũng đánh thắng Hạng Võ và thành lập nhà Hán.

Chữ “hải” trong quận Nam Hải không có nghĩa là biển mà là vùng đất xa xôi (hải biểu là vùng đất cực xa). Và quận Nam Hải là vùng đất phía cực Nam Trung Quốc (far-south). Từ nguyên thủy, Biển Nam Hải có tên là Trướng Hải là vùng biển của tỉnh Quảng Đông, cách huyện Hải Phong 50 dậm ta (lý) về phía nam (khoảng 25km).

Theo Tân Từ Điển Thực Dụng Hán Anh xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 “Biển Nam Hải là vùng biển ven bờ chạy từ Eo Biển Đài Loan tới Quảng Đông” (The Southern Sea stretches from the Taiwan Strait to Kwantung. A New Practical Chinese-English Dictionary, Hongkong 1971, p. 121)

Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948 thì “Biển Nam Hoa thuộc chủ quyền chung của 5 quốc gia là Trung Hoa, Pháp (Việt Nam), Anh (Mã Lai), Mỹ (Phi Luật Tân) và Nhật ( Đài Loan). Do đó Biển Nam Hải (Southern Sea) không phải là Biển Nam Hoa (South China Sea).

Sau này Trung Quốc lợi dụng danh xưng để mạo nhận rằng Biển Nam Hải của tỉnh Quảng Đông chính là Biển Nam Hoa của Trung Quốc.

Từ thế kỷ 15, các nhà thám hiểm đại dương và các nhà doanh thương Âu, Á như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp, Ả Rập khi vượt Đại Tây Dương đến vùng biển tiếp giáp Ấn Độ, muốn cho tiện họ gọi vùng biển này là Ấn Độ Dương. Và khi qua Eo Biển Mã Lai đến vùng biển tiếp giáp Trung Hoa họ cũng tiện thể gọi vùng biển này là Biển Nam Hoa (ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).

Sự trùng điệp danh xưng này của các nhà địa lý Tây Phương chỉ là sự ghi nhận một tập quán về ngôn ngữ hàng hải. Như vậy tên Biển Nam Hoa cũng như Ấn Độ Dương không có tác dụng công nhận chủ quyền của Trung Hoa và Ấn Độ tại các vùng biển này. Nó chỉ ghi nhận vị trí của Ấn Độ Dương là vùng tiếp giáp Ấn Độ, cũng như Biển Nam Hoa là vùng tiếp giáp miền Nam Trung Hoa. Vả lại, về diện tích, Biển Nam Hải (hay Biển Nam) chỉ rộng chừng 25km, trong khi Biển Nam Hoa chạy từ bờ biển Quảng Đông tới bờ biển Nam Dương và rộng tới 2000 km.

Trong những chuyến hải hành Trịnh Hòa chỉ dừng chân tại hải cảng Chaban (Trà Bàn hay Đồ Bàn) thủ phủ Chiêm Thành. Theo Giáo Sư John King Fairbank tại Đại Học Harvard, mục đích những chuyến công du này không phải để cướp bóc hay thôn tính lãnh thổ mà chỉ nhằm thiết lập bang giao với hàng chục quốc gia duyên hải tại Ấn Độ Dương. (The Chinese expeditions were diplomatic not commercial, much less piratical or colonizing ventures. John King Fairbank, China, a New History, Harvard University Press 1992, p. 138).

Như vậy, theo chính sử Trung Quốc, từ các đời Tần Hán,Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy Đường, Ngũ Đại, Tống Nguyên, Minh Thanh, sử sách không ghi chép việc hải quân Trung Quốc đi tuần thám Biển Đông Hải để chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đồng thời công bố và hành sử chủ quyền tại các quần đảo này.

Suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc trong hơn 20 thế kỷ về đời các Đế Quốc Tần Hán, Tùy Đường, Tống Nguyên, Minh Thanh cũng như trong các thời Đại Phân Hóa như đời Lưỡng Tấn, trở ngại chính yếu cho việc ổn định chính trị và phát triển kinh tế là hiểm họa Hung Nô.

Danh xưng Hung Nô tự nó đã hàm chứa ý nghĩa nhục mạ và phỉ báng, man di mọi rợ, dã man hung dữ chỉ đáng làm nô lệ cho Hán tộc.

Không phải bao giờ Hán binh cũng thắng thế. Vì các kỵ binh Hung Nô là những thiện xạ có tài bắn cun từ trên lưng ngựa huyết hãn mã (mồ hôi đỏ như máu).

Đời nhà Hán hiểm họa Hung Nô là mối lo gan ruột của Hán Vũ Đế 5 lần mang quân đi chinh chiến tại các mặt trận tây bắc. Các phong hỏa đài dọc theo Vạn Lý Trường Thành là những trại tiếp liên báo động tại quan ải:

Gió lửa động sa mạc
Chiếu rực mây Cam Tuyền
Vua Hán chống kiếm dậy
Lại vời Lý Tướng Quân.
(Lý Bạch, Tái Hạ Khúc)

Lý Tướng Quân ở đây là Lý Quảng, vị tướng lãnh nổi tiếng nhất trong Chiến Tranh Hung Hán. Nhưng không phải bao giờ ông cũng đem lại chiến thắng cho Hán Vũ Đế (140-87 Trước C.N.). Năm 119 Trước C. N. Lý Quảng ở tuổi lục tuần, vì trái quân lệnh đã thất trận và phải tự sát để khỏi bị xử trảm với nhục hình. Như vậy tướng quân họ Lý không đem lại vinh quang cho nhà Hán.

Năm 100 Trước C. N. Hán Vũ Đế sai sứ giả Tô Vũ qua Hung Nô để can thiệp vào chính sự một nước lân bang phía bắc. Cơ mưu bại lộ, Tô Vũ bị bắt giam và quản thúc trong 19 năm, phải chịu nhục đi chăn dê tại vùng sa mạc nóng cháy và miền núi tuyết giá băng.

Và năm 33 Trước C. N., Hán Nguyên Đế phải đem Chiêu Quân cống Hồ, dầu rằng Vương Tường là một trong bốn đại mỹ nhân Trung Quốc, cùng với Tây Thi, Hằng Nga và Dương Quý Phi. Trong năm này Hán Nguyên Đế đã từ trần vài tháng sau khi Chiêu Quân xuất giá.

Đến đời Nhà Tấn (265-420) có loạn Nhung Địch từ phía tây bắc lũ lượt nổi lên chiếm giữ cả vùng Bắc Trường Giang để xưng vương, xưng đế tại 16 nước gọi là loạn Ngũ Hồ. Sau 50 năm trị vì tại miền tây bắc, nhà Tấn phải lui về phía đông nam để dựng nghiệp Đông Tấn tại Nam Kinh.

Kế tiếp là đời Đế Quốc Tùy Đường. Đây là thời thịnh trị cả về kinh doanh thương mại lẫn văn học nghệ thuật. Tuy nhiên trong giai đoạn thoái trào vào thế kỷ thứ 8 có loạn An Lộc Sơn với các binh sĩ Ngũ Hồ từ miền bắc xâm chiếm thủ đô Tràng An. Trên đường rút quân về Tây Thục, dưới áp lực của các tướng sĩ, Đường Minh Hoàng phải bức tử Dương Quý Phi tại Mã Ngôi.

Sau đời Đế Quốc Tùy Đường là Đế Quốc Lưỡng Tống kéo dài hơn 300 năm từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 13 (960-1280). Qua thế kỷ 12 nhà Tống bị bao vây bởi Bắc Liêu (Mông Cổ) về phía bắc và Tây Hạ (Mãn Châu) về phía tây. Từ đầu thế kỷ 11 vua nhà Tống phải hàng năm triều cống Bắc Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa. Tới đầu thế kỷ 12 (năm 1127) nước Kim (Mãn Châu) lấn chiếm toàn cõi Bắc Trung Hoa khiến Vua Tống phải bỏ miền Bắc dời đô về Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Đây là một thời đại suy vi với sự phân hóa lãnh thổ, suy thoái kinh tế và thất bại quân sự (Nhà Tống bị Việt Nam đánh bại 3 lần trong những năm 981, 1075 và 1076).

Cũng vì vậy trong hai thế kỷ 13 và 14, Trung Quốc bị Hung Nô Mông Cổ thôn tính trong gần 90 năm (1280-1368). Đó là kỷ nguyên của Đế Quốc Đại Nguyên hay Đế Quốc Nguyên Mông.

Và để kết thúc giai đoạn lịch sử Trung Quốc thời Trung Cổ, trong ba thế kỷ từ 17 đến 20 (1644-1911) đời Đế Quốc Đại Thanh, Hung Nô Mãn Châu làm chủ Trung Quốc.

Để có cái nhìn khách quan trung thực, chúng ta hãy kiểm điểm khái quát những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị của các triều đại Trung Hoa từ đời nhà Tần đến đời nhà Thanh. Từ đó chúng ta có thể nhận định rằng Trung Quốc không có điều kiện khách quan và chủ quan để thôn tính Biển Đông Hải và giành giật chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ Đế Quốc Tần Hán đến Đế Quốc Đại Thanh

Năm 221 Trước C.N., Nhà Tần thống nhất đất nước, tập trung quyền lực trong chế độ độc tài quân phiệt, bãi bỏ chính sách phân chia ruộng đất (tỉnh điền) và chế độ tư tưởng phóng khoáng thời Bách Gia Chư Tử. Mặt khác huy động toàn dân vào việc xây đắp trường thành chống Hung Nô và xây dựng cung điện nguy nga như Cung A Phòng với những hy sinh khủng khiếp: 1 triệu viên đá xây thành là 1 triệu người dân hy sinh thân sống. Lịch sử Trung Hoa kết án Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa đã từ bỏ quan niệm hòa bình nhân ái của Khổng Mạnh lấy dân làm trọng, và coi nhẹ chính quyền (dân vi quý, quân vi khinh). Vì quá lao tâm lao lực, Tần Thủy Hoàng chỉ trị vì được 11 năm. Từ đó với những âm mưu tranh giành quyền lực, cà thái tử lẫn tể tướng đã phải hoặc tự sát, hoặc bị giết. Vua Tần Nhị Thế cũng bị một viên quan hoạn giết sau 4 năm trị vì. Dân 6 nước bị nhà Tần sát hại thời Chiến Quốc cùng những dân công khổ sai đã vùng đứng lên tiêu diệt chế độ nhà Tần năm 206 Trước C.N.

Lúc này tại miền Hoa Nam, hải quân Trung Quốc không lai vãng đến vùng Biển Đông Hải.

Kế nghiệp Nhà Tần là Nhà Hán kéo dài hơn 4 thế kỷ (từ 206 trước C. N. đến 220 Tây Lịch) trong đó có 14 năm Vương Mãng tiếm vị.

Trong cuộc Hán Sở tranh hùng, Hán Vương Lưu Bang thắng Sở Vương Hạng Võ. Họ Lưu khởi nghiệp từ miền Hán Giang (một chi nhánh của Dương Tử Giang) đã trừ được nhà Tần, diệt được nhà Sở và thống nhất Trung Hoa lên ngôi lấy hiệu là Hán Cao Tổ (206-195 trước C. N).

Trước đó một năm, năm 207 Trước C. N., Triệu Đà cũng đã lên ngôi hiệu là Triệu Vũ Vương sau khi đánh thắng An Dương Vương và sát nhập Âu Lạc với quận Nam Hải để thành lập nước Nam Việt độc lập, đặt thủ đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu).

Trong khi tại miền Bắc Hán Cao Tổ chỉ trị vì được 11 năm, thì tại miền Nam Triệu Vũ Vương đã chấn chỉnh và mở rộng bờ cõi trong suốt 70 năm (207-137 Trước C. N.). Năm 196 Trước C. N. Hán Cao Tổ sai Lục Giả sang phong tước cho Triệu Vũ Vương.

Sau khi Hán Cao Tổ mất bà Lữ Hậu lâm triều lộng hành không cho người Việt mua các đồ sắt, điền khí và trâu bò nái. Triệu Vũ Vương xưng là Nam Việt Hoàng Đế (Triệu Vũ Đế) rồi cử binh đánh bại quân nhà Hán tại Trường Sa (Hồ Nam). Sau khi Lữ Hậu mất Hán Văn Đế lại sai Lục Giả sang thương thuyết, yêu cầu Triệu Vũ Đế bỏ đế hiệu. Hán Văn Đế cam kết rằng: “Tại miền Hồ Quảng, từ phía nam Ngũ Lĩnh và Động Đình Hồ, Triệu Vũ Vương được toàn quyền cai trị”.

Đến năm 111 Trước C. N., khai thác mâu thuẫn giữa ba nước Mân Việt, Đông Việt và Nam Việt, Hán Vũ Đế đã thôn tính Nam Việt trái với lời cam kết của các tổ phụ và tiên vương Hán Cao Tổ và Hán Văn Đế.

Tuy nhiên, sau cái chết của Hán Vũ Đế (năm 87 Trước C.N.), Nhà Hán bắt đầu suy thoái. Trong đời Hán Nguyên Đế (48-33 Trước C.N.), quân Nhà Hán đã phải rút khỏi Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam) cho đến cuối thế kỷ thứ 6 đời Lương, Tùy mới đặt lại nền cai trị. Nếu nhà Hán đã bỏ đảo Hải Nam thì cũng không lý vấn đến các đảo Hoàng Sa Trường Sa tại Đông Hải. (Hải Nam cách Hoàng Sa 150 hải lý hay 275 km)

Tiếp theo thời Đế Quốc Tần Hán là Thời Đại Phân Hóa Thứ Nhất (First Partition) với các đời Tam Quốc, Lưỡng Tấn và Nam Bắc Triều.

Thời Đại Phân Hóa Thứ Nhất

Trong đời Tam Quốc (220-265), với thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô, không nước nào dám mạo hiểm và có thực lực đi thôn tính biển Đông Hải. Thời Hán mạt Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đem 10 vạn quân (phóng đại là 80 vạn) đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong trận Xích Bích năm 207.

Đến đời Nhà Tấn (265-420) có loạn Nhung Địch từ phía tây bắc lũ lượt nổi lên chiếm giữ cả vùng Bắc Trường Giang để xưng vương, xưng đế tại cả thảy 16 nước gọi là loạn Ngũ Hồ. Sau 50 năm trị vì tại miền tây bắc, nhà Tấn đã phải lui về phía đông nam để dựng nghiệp Đông Tấn tại Nam Kinh.

Sau khi nhà Tấn mất ngôi có nạn phân hóa Nam Bắc Triều với 7 nước là Ngụy, Tề, Chu phía bắc và Tống, Tề, Lương, Trần phía nam.

Do sự phân hóa này Trung Quốc không còn sinh khí. Đến đời nhà Lương, tại Giao Châu, Lý Bôn phất cờ khởi nghĩa xưng là Lý Nam Đế lấy quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau đó Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử kế nghiệp Nhà Tiền Lý trong gần 60 năm (từ năm 544 đến 602).

Thời Đế Quốc Tùy Đường

Kế tiếp đời Nam Bắc Triều, Nhà Tùy trị vì được 30 năm, và cùng với Nhà Đường khởi sự Thời Đế Quốc Thứ II (Second Empire). Đây là thời thịnh trị cả về kinh doanh thương mại lẫn văn học nghệ thuật. Đường Minh Hoàng làm thơ ca tụng Khổng Tử. Các đại sư Huyền Trang và Nghĩa Tĩnh sang Ấn Độ thỉnh kinh Phật. Các thi sĩ nổi tiếng đời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của các tư tưởng Lão Trang, Khổng Mạnh và Phật Giáo.

Tuy nhiên trong giai đoạn thoái trào vào thế kỷ thứ 8 có loạn An Lộc Sơn với các binh sĩ Ngũ Hồ từ miền bắc xâm chiếm thủ đô Tràng An.

Sự suy đồi của Nhà Đường dẫn tới đời Ngũ Đại kéo dài hơn 50 năm với 5 triều đại đã có từ trước như các nhà Hậu Đường, Hậu Lương, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Vận dụng cơ hội lịch sử này Ngô Quyền kết tập binh mã phá tan quân Nam Hán năm 938 trong trận hải chiến Bạch Đằng Giang. Do đó, từ năm 939, Việt Nam được giải phóng khỏi nạn Bắc Thuộc một ngàn năm, mở đường cho kỷ nguyên độc lập với các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê và Nguyễn, từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 19.

Thời Đế Quốc Lưỡng Tống

Trong thế kỷ thứ 10 quân Nhà Tống kéo sang xâm chiếm nước Nam. Để chống ngoại xâm các tướng sĩ tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên làm vua. Và năm 981 Lê Đại Hành đánh thắng lục quân nhà Tống với Hầu Nhân Bảo và thủy quân với Lưu Trừng tại Bạch Đằng Giang.

Năm 1075, dưới đời vua Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân vượt biên vây đánh Châu Khâm, Châu Liêm tại Quảng Đông và Châu Ung tại Quảng Tây. Qua năm sau nhà Tống đem quân sang báo thù. Nhưng một lần nữa lại bị Lý Thường Kiệt đánh bại trên sông Như Nguyệt hay Sông Cầu (Bắc Ninh).

Sau 3 lần dụng võ thất bại, do trình tấu của Hoàng Thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông phải theo chính sách “Trọng Võ Ái Nhân” (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng), và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

Nhà Tống kéo dài từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 13 (960-1280). Qua thế kỷ 12 nhà Tống bị bao vây bởi Bắc Liêu và Tây Hạ. Ngay từ đầu thế kỷ 11 vua nhà Tống đã phải hàng năm triều cống Bắc Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa. Tới đầu thế kỷ 12 (năm 1127) nước Kim lấn chiếm toàn cõi phía bắc Trung Hoa khiến Vua Tống phải bỏ miền bắc thiên đô về Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Đây là một thời đại suy vi kéo dài 150 năm. Với sự phân hóa lãnh thổ, suy thoái kinh tế, và nhất là sau 3 lần thất trận tại Việt Nam, Nhà Tống không còn dòm ngó đến Biển Đông Hải với Hoàng Sa và Trường Sa.

Thời Đế Quốc Nguyên Mông

Qua thế kỷ 13 Trung Quốc bị Mông Cổ thôn tính trong gần 90 năm (1280-1368). Trước đó trong chiến dịch Tây Tiến, Thành Cát Tư Hãn đã chiếm giữ vùng Trung Á 6 ngàn dặm đến Hung Gia Lợi và nước Nga tại Bắc Âu và Ba Tư tại Nam Á. Rồi quay về chiếm nước Tây Hạ, nước Kim và Triều Tiên. Trước đó, năm 1257 quân Mông Cổ đánh Vân Nam và tràn sang Việt Nam. Tuy nhiên, với quân dân một lòng, nhà Trần đã đánh tan quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu. Đây là chiến thắng đầu tiên của Việt Nam đối với nhà Nguyên.

27 năm sau, năm 1284, con Nguyên Chủ Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan kéo 50 vạn quân sang báo thù.

Trong Hội Nghị Diên Hồng các bô lão đồng thanh xin đánh. Dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12-1284 đến tháng 6-1285, quân Đại Việt đã đánh đuổi quân Nguyên ra ngoài bờ cõi. Toa Đô bị bắn chết, Ô Mã Nhi bị đuổi quá gấp phải một mình lẻn xuống thuyền con chạy trốn, và Thoát Hoan phải chui ống đồng lên xe chạy thoát về Tầu.

Thời gian này Hốt Tất Liệt đã có kế hoạch thôn tính Quần Đảo Phù Tang. Nay quân Thoát Hoan đại bại kéo về, Nguyên Chủ phải đình chỉ kế hoạch Đông Tiến. Và hai năm sau, đầu năm 1287, Thoát Hoan lại tập trung lực lượng kéo 30 vạn quân sang Đại Việt để báo thù lần thứ hai.

Tuy nhiên, cũng như lần trước, chỉ trong vòng một năm quân Mông Cổ đã mua lấy thất bại. Ô Mã Nhi lần này bị bắt sống tại Bạch Đằng Giang. Sau đó quân Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên khiến Thoát Hoan phải thu tàn binh tháo chạy về Yên Kinh. Và tại Thăng Long, vua Trần Nhân Tông đem các tướng nhà Nguyên bị bắt như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm lễ hiến phù tại Chiêu Lăng. Đây là một vinh dự cho Đại Việt đã 3 lần đơn độc phá vỡ kế hoạch Nam Tiến (tại Việt Nam), đồng thời ngăn cản cuộc Đông Tiến (tại Nhật Bản) của đoàn quân mệnh danh là “bách chiến bách thắng” từ đời Thành Cát Tư Hãn.

Và sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó đến Việt Nam cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận. Trong cuốn “Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa” Marwyn S. Samuels cũng xác nhận rằng: “Trong suốt thế kỷ 14, các đội hải thuyền hùng mạnh của Nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và

cũng không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (Marwyn S. Samuels: Contest for the South China Sea, Methuen, London, 1982).

Như đã trình bày, trong bài “Thám Hiểm Đại Dương”, học giả Hsieh Chiao-Min nhận định rằng: “Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương”. Thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần, Vạn Lý Trường Thành không chỉ là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ, đảo Hải Nam là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ. Trong giả thuyết “Cổ Tẩu sát nhân” của Mạnh Tử (thế kỷ thứ IV Trước C.N.), vua Thuấn vào ngục thất cứu cha là Cổ Tẩu (phạm tội cố sát) rồi cõng cha chạy trốn về vùng bờ biển để mai danh ẩn tích đến trọn đời. Sau khi chôn sống 460 nho sĩ tại Hàm Dương, Tần Thủy Hoàng lưu đầy tất cả các nho sĩ đối kháng tại miền bờ biển. Trung Hoa là một đại lục bao la, cả miền Tây và miền Bắc đất rộng mênh mông còn chưa khai phá. Vậy mà từ đời nhà Tần, Trung Hoa đã tự cô lập từ trong đất liền đến ngoài đại dương. Cho đến đời nhà Thanh vào thế kỷ 19, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.

Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân nhà Hán đi khai phá các tiểu đảo san hô tại Đông Hải. Rất có thể, như đã trình bầy, đó là 10 vạn thủy quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong trận Xích Bích.

“Trung Hoa không bao giờ là một cường quốc đại dương. Dân tộc Trung Hoa trong 4 ngàn năm chỉ sống về ruộng đất với những tập tục và quan niệm sống của nhà nông” (James Fairgrieve, Geography and World Power, London, 1921).

“Với các đặc tính của một dân tộc lục địa, Trung Hoa không phải là một cường quốc đại dương. Chú tâm của họ hướng về đất liền tại miền Trung Á hơn là ra hải ngoại. Do đó các kiến thức của họ về biển cả và duyên hải thật quá thô sơ”. (E. B. Elridge, The Background of Eastern Sea Power, Melbourne, 1948).

Đời Nhà Minh

Trong cuốn “Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ” ghi trên, học giả Hsieh Chiao-Min ghi nhận rằng, theo chính sử, từ các thế kỷ thứ 3 và thứ 2 Trước C. N., người Trung Hoa chỉ đi tới Biển Nhật Bản và Đông Trung Quốc Hải. Họ không nghĩ có đất liền bên kia Thái Bình Dương. Do đó mọi cuộc thám hiểm đều hướng về Tây Dương.

Mãi đến thế kỷ 15 dưới đời Minh Thành Tổ (1403-1424) mới có những vụ thám hiểm đại dương từ Đông Nam Á đến Ấn Độ và Đông Phi .

Đồng thời với 5 cuộc Bắc Chinh chống Hung Nô, Minh Thành Tổ cử Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những cuộc hành trình tại Ấn Độ Dương mệnh danh là “Thất Hạ Tây Dương” (Tây hay Tây Trúc chỉ Ấn Độ và Tây Dương là Ấn Độ Dương).

Điều đáng lưu ý là về 7 chuyến công du tại trên 30 quốc gia trong 28 năm (từ 1405 đến 1433), chính sử Trung Hoa cũng ghi rõ phái bộ Trịnh Hòa chỉ đi qua Biển Nam Hoa nhằm thám hiểm Ấn Độ Dương. Như vậy không có chuyện phái bộ Trịnh Hòa đến các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chiếm hữu và hành sử chủ quyền.

Theo chính sử do các sử gia Trung Quốc trên thế giới hội nghị tại Đài Bắc năm 1968 và biên soạn năm 1978 thì trong các đời Tần Hán, Tùy Đường, Tống Nguyên và Minh Thanh, không thấy một dòng chữ nào đề cập việc Trung Quốc đem quân chiếm cứ các hải đảo tại Biển Đông Hải. Các chuyến hải hành chỉ vụ vào việc bành trướng thế lực ngoại giao và phát triển giao thương giữa Trung Hoa với các quốc gia Á Phi tại Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập.

Tuy nhiên những chuyến hải hành chỉ nhằm phô trương thanh thế cho Minh Thành Tổ chứ không thực sự đem lại kết quả cụ thể nào về mặt ngoại giao. Do đó dư luận trong nước đã phê phán những chuyến đi phô trương nặng phần trình diễn làm hao mòn công quỹ khiến kinh tế quốc gia bị suy thoái.

Riêng tại Đại Việt, Giáo Sư J.K. Fairbank cũng nói về cuộc xâm lăng khởi sự năm 1407 và kết thúc năm 1427. Kết cuộc, với những tổn thất đáng kể, nhà Minh phải trả chủ quyền độc lập cho Việt Nam năm 1428.

Hoàng Sa Trường Sa theo Trung Quốc Sử

Trong Trung Quốc sử có rất nhiều tài liệu lịch sử do nhà cầm quyền phổ biến và nhiều tác phẩm của các học giả Trung Hoa thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa.

Dưới đời Nhà Thanh, trong ba thế kỷ từ 17 đến 20:

a) Theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ năm 1894 đời vua Quang Tự thì đến cuối thế kỷ 19 “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết” (Hải Nam cách Hoàng Sa 150 hải lý (275 km) về phía đông nam).

b) Qua thế kỷ 20 sự kiện này được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 (cũng đời vua Quang Tự) với đoạn như sau: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″.

c) Trong bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do Chính Phủ ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, và không thấy ghi các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa.

d) Trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là giải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy có sự nhìn nhận rằng quần đảo này là biên thùy hải phận của Việt Nam.

e) Theo học giả Marwyn S. Samuels trong cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa nói ở trên”không có bằng chứng nào cho thấy nhà Thanh đã chiếm hữu và sát nhập Hoàng Sa Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc”.

f) Trong tập Địa Dư Chí Tỉnh Quảng Đông được vua Ung Chính duyệt phê năm 1731, không thấy ghi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc.

g) Trong bộ “Đại Thanh Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán Trung Hoa biên soạn năm 1842 với lời tựa của vua Đạo Quang không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa) thuộc hải phận tỉnh Quảng Đông.

h) Đặc biệt là trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (năm 1744), vùng hải phận của Việt Nam tại Biển Đông Hải được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương.

i) Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự của Hòa Thượng Thích Đại Sán xuất bản năm 1695 đời Khang Hi cũng ghi nhận Đại Việt đã chiếm hữu, và khai thác Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa.

Đời nhà Minh

a) Bản Đồ Mao Khôn trong cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi vùng biển Việt Nam là Giao Chỉ Dương.

b) Trên các bản đồ Trịnh Hòa Hạ Tây Dương và Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ không thấy ghi các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa với các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc trong các lộ trình của Trịnh Hòa 7 lần đi ngang qua Biển Nam Hoa để khai phá Ấn Độ Dương.

c) Trong hai thế kỷ 14 và 15 có sự giao chiến trường kỳ 100 năm

giữa Việt Nam và Chiêm Thành: Với Chế Bồng Nga đời vua Trần Nghệ Tông (năm 1370), và với hai anh em Trà Toàn, Trà Toại đời vua Lê Thánh Tông (năm 1470). Nếu quả thật nhà Minh đã chiếm đất Chiêm Thành trong chuyến đi thứ tư của Trịnh Hòa năm 1413, thì lẽ tất nhiên sử sách của Trung Hoa, Chiêm Thành và Việt Nam đã phải ghi chép việc đó.

Mà nếu Trịnh Hòa đã chiếm Chiêm Thành năm 1413 thì lẽ tất nhiên Nhà Minh đã phải đem quân chống lại vua Lê Thánh Tông là người đã phát động Chiến Dịch Nam Tiến năm 1470 để mở rộng lãnh thổ đến Bình Định Phú Yên.

d) Theo sách Dư Địa Chí đời Hồng Đức lưu trữ tại Đông Dương Văn Khố Tokyo, tới hậu bán thế kỷ 15 dưới triều vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức nguyên niên (1470), Chiêm Thành đã là lãnh thổ của Đại Việt gồm có lục địa, hải phận và các hải đảo.

e) Về việc này cuốn Minh Sử ghi chép như sau: “Sứ thần Chiêm Thành nói: Cổ lai đất nước Chiêm có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nay vua An Nam lấy đi chỉ còn 5 xứ, từ Bang Đô Lang đến Chân Lạp”. Lúc này vua Nhà Minh yêu cầu vua Lê Thánh Tông trả đất cho Chiêm Thành nhưng Ngài không chịu. Lý do là vì Minh Chủ không chịu trả đất Nam Việt thời Triệu Vũ Đế cho Đại Việt. Tài liệu lịch sử này cho biết từ thế kỷ 15, vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ Đại Việt.

Đời nhà Nguyên

a) Trong thế kỷ 13 Mông Cổ bị Đại Việt 3 lần đánh bại trong 3 thập niên,vào những năm 1257, 1285 và 1287. Sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó Việt Nam từ trên lục địa đến ngoài hải phận. Và trong các thế kỷ 13 và 14, theo chính sử, quân Mông Cổ không xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

b) Theo cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa của Marwyn Samuels “trong thế kỷ 14 các đội hải thuyền hùng mạnh của nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (sách đã dẫn, trang 20).

c) Cũng như các sách sử địa đời Nhà Thanh, cuốn Nguyên Sử Địa Lý Chí đã viết như sau: “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.

Đời Nhà Tống

a) Như trong thế kỷ 13 đời Nhà Nguyên, trong hai thế kỷ thứ 10 và 11 Việt Nam cũng đã 3 lần đánh thắng Nhà Tống trong những năm 981, 1075 và 1076.

b) Sau 3 phen thất trận, theo trình tấu của Hoàng Thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông đã phải theo chính sách Trọng Võ Ái Nhân (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng). Và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

c) Sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát nhìn nhận rằng quần đảo Hoàng Sa mà tác giả gọi là Thiên Lý Trường Sa (Bãi Cát Dài Ngàn Dặm) là đất của nước phiên thuộc An Nam,

d) Trong đời Nam Tống cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”.

Đời Nhà Đường

a) Sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập đến cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu trong đó tác giả tường thuật những việc kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Như tại Thất Châu Dương (Nhóm An Vĩnh, Hoàng Sa) là nơi có nhiêu từ thạch hay đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt không đi qua được. Đây có sự thừa nhận các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam.

b) Ngoài ra sách Tứ Di Lộ Trình của Giã Đàm đời Đường có vẽ hải đạo Hồng Kông-Tân Gia Ba nhưng không ghi các hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay các danh xưng Tây Sa, Nam Sa.

Đời Nhà Hán

a) Trong cuốn Chư Phiên Chí, sử gia Triệu Nhữ Quát đời Nhà Tống đã xác nhận sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ như sau: Năm 111 Trước C. N., sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ nhất Trước C.N. Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam, mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy vào cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7 mới đặt lại quyền cai trị”.

b) Như đã trình bày, đến cuối đời Nhà Thanh vào đầu thế kỷ 20, biên cương của Trung Quốc về phía Nam chỉ chạy tới đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18.

Tổng kết lại, về mặt chính sử, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Hán thế kỷ thứ 3 Trước C.N. đến thế kỷ 20 đời Nhà Thanh, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu nào ghi rằng Biển Đông Hải với Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

Mãi tới năm 1951 nhân kỳ Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951, lần đầu tiên Chính Phủ Bắc Kinh mới đưa ra Công Bố ngày 1-9-1951 đòi chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa theo đó “đảo Nam Uy cùng toàn thể các quần đảo Nam Sa và Tây Sa đều là lãnh thổ của Trung Quốc, các tài liệu lịch sử liên quan đến các quần đảo này có từ đời nhà Tống”.

Tuy nhiên lịch sử Trung Quốc đã không xác nhận như vậy. Cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi đời Nhà Tống gọi vùng biển Hoàng Sa Trường Sa là Giao Chỉ Dương

Qua năm 1956 khi Phi Luật Tân đòi chủ quyền các hải đảo Thái Bình (Itu Aba) và Trường Sa (Spratly), ngày 29-5-1956 Chính Phủ Đài Bắc cũnglên tiếng phản kháng, chủ trương rằng các hải đảo này đã thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc từ đời nhà Minh.

Dầu sao, cũng như Bản Công Bố Chủ Quyền của Bắc Kinh năm 1951, Bản Phản Kháng Phi Luật Tân của Đài Bắc năm 1956 không viện dẫn được bằng chứng cụ thể nào về pháp lý, địa lý hay lịch sử để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hai Chính Phủ Quốc Cộng Trung Hoa chỉ quả quyết suông rằng Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ các đời Tống Thần Tông hay Minh Thành Tổ. Đây chỉ là sách lược của Bắc Kinh nhằm phục hồi Đế Quốc Đại Hán do Mao Trạch Đông phát động từ thập niên 1950. Để thi đua tranh thủ nhân tâm, Đài Loan cũng đã phải phụ họa.

Ngày nay, với “tứ hiện đại hóa”, Trung Quốc đã biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng cả về kinh tế lẫn chủ quyền lãnh thổ. Quân đội Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh để hy vọng có ngày đủ phương tiện nhằm lọai trừ hay phòng ngừa sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Á Châu Thái Bình Dương. Sau đó, theo truyền thống và tự hào lịch sử, họ sẽ bước vào giai đoạn đối đầu với phe Dân Chủ Tây Phương. Họ kỳ vọng rằng với quyết tâm và phát triển kinh tế, hệ thống Trung Quốc sẽ nổi bật trên thế giới khiến các quốc gia khác phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lãnh thổ và hải đảo tại Á Châu Thái Bình Dương.

Những nhận định của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Hoa Kỳ cũng là nhận định của Tiến Sĩ Lỗ Chi-Kin từ Hồng Kông trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986. Theo Mao Trạch Đông “những lãnh thổ phụ dung trước kia đã được Trung Quốc chinh phục và khai hóa, nay phải trả lại (Trung Quốc) văn minh chứ không thể thuộc về phe (Đế Quốc) dã man”. (Chi-Kin Lo, Doctor of Laws Thesis London 1986)

Từ sau Chiến Tranh Biên Giới Hoa-Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lược Sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao Trạch Đông: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.

Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế Quốc Ngai Rồng phát hiện từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thánh Tông, Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955.

Nếu quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị xâm chiếm do chiến tranh võ trang, thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 Trước C. N. (gồm vùng trung nguyên Trung Quốc với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Bắc Việt Nam). Tuy nhiên năm 111 Trước C. N. Hán Vũ Đế đã đem quân thôn tính Nam Việt nhằm Hán hóa vùng lãnh thổ này, mặc dầu Nam Việt có nền văn hóa đặc thù khác với các dân tộc du mục Miền Bắc. Đó cũng là nhận định của Giáo Sư C. P. Fitzgerald tại Đại Học Oxford: “Trong trường hợp nước Nam Việt giữ vững chủ quyền độc lập với nền văn hóa đặc thù của Miền Nam, thì dầu nhà Hán có chiếm được miền Quảng Châu và Vân Nam, họ cũng sẽ không thành công trong việc thiết lập ảnh hưởng tại vùng châu thổ Sông Tây Giang phía đông nam Trung Quốc”. (C. P. Fitzgerald, China, A Short Cultural History, p 184).

Theo quan niệm truyền thống của Đạo Nho văn hóa nông nghiệp Phương Nam tôn trọng hòa bình, bao dung và nhân ái, trong khi các sắc dân du mục Phương Bắc đặt nặng vấn đề đấu tranh sống chết, một mất một còn. Diễn giải quan niệm về Sức Mạnh trong bài “Tử Lộ Vấn Cường” (Trung Dung), Khổng Tử đối chiếu tác phong hiếu chiến tại Phương Bắc với quan niệm hiếu hòa tại Phương Nam:

“Lấy khoan nhân nhu hòa mà giáo hóa, không chủ trương báo thù kẻ vô đạo, đó là Sức Mạnh của Phương Nam, và cũng là nơi người quân tử cư ngụ”. (Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, Nam Phương chi Cường, quân tử khả cư).

“Ngồi trên lưng ngựa, mặc áo giáp, đeo gươm giáo, xông pha nơi chiến địa, trước cái chết không sờn lòng, đó là Sức Mạnh của Phương Bắc và cũng là nơi người hiếu chiến cư ngụ”.

Trở lại chính sách bá quyền, Trung Quốc vẫn giữ thái độ tiền hậu bất nhất trong những vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại Biển Nam Hoa. Vì một mặt Bắc Kinh vẫn mạnh miệng quả quyết nắm chắc phần thắng trong tay, nhưng mặt khác, họ vẫn không dám đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo và hải phận tại Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế.

Ngày nay, cùng với người Việt trong và ngoài nước, chúng ta thách thức Bắc Kinh công khai đưa vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải, Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan tài phán, trọng tài hay tham vấn theo thủ tục quốc tế. (Judicial litigation, arbitration or consultation)

Tại vùng Biển Đông Nam Á, rập theo tham vọng của Đế Quốc La Mã hồi thế kỷ thứ nhất coi Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử La Mã, Bắc Kinh cũng đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà dân gian gọi là Lưỡi Bò). Họ coi đó là mục tiêu chiến lược từ sau 1951. Nhất là từ 1982 khi Trung Quốc ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Tuy nhiên thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã lỗi thời. Nó đi trái Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đi trái Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague.

Trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ đến giữa thế kỷ 20 (năm 1951), Trung Quốc không bao giờ lên tiếng yêu sách đòi chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa). Họ khẳng định đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Để tránh né mọi cuộc tranh luận công khai trước các cơ quan tham vấn, trọng tài hay tố tụng. Lý do là vì họ không đưa ra được quan điểm pháp lý hay một bằng chứng lịch sử khả tín nào cho thấy họ có chủ quyền tại các quần đảo này.

Năm 1982, sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay”. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để xác định chủ trương này.

Tuy nhiên về mặt Công Pháp Quốc Tế, chiếu án lệ của Tòa Án Quốc Tế The Hague, muốn có Biển Lịch Sử phải hội đủ 3 điều kiện:

1. Phải có sự hành sử chủ quyền;

2. Một cách liên tục và trường kỳ; và

3. Được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải, đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện.

Dầu sao Tòa Án Quốc Tế đã định nghĩa “biển lịch sử là nội hải”.

Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định trong Điều 8 như sau:

“Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo [như Phi Luật Tân hay Nhật Bản] Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền, về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ. The International Court of Justice has defined historic waters as “internal waters”; “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State” (Art. 8 UNCLOS 1982).

Thủ Đắc do Chiếm Cứ

Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:

a) Chiếm cứ hòa bình.

Không có sự chối cãi rằng trong năm 1956 hải quân Trung Quốc đã chiếm cứ võ trang 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh phía đông bắc.

Năm 1974 Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm phía tây nam.

Năm 1988, lần đầu tiên hải quân Trung Quốc tấn công võ trang các đảo Trường Sa, và đã chiếm Đá Chữ Thập và Đá Gaven cùng một số đá chìm và bãi ngầm.

Năm 1992, Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm Bãi Vạn An trên Thềm Lục Địa Việt Nam phía đông nam các bãi dầu khí Thanh Long và Tứ Chính.

Những vụ chiếm cứ này không có tính hòa bình mà do xâm lăng võ trang nên không được luật pháp và tòa án bảo vệ. Vì nó đi trái Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Cũng như thời Thế Chiến II, Nhật Bản đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.

2) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ

Cho đến ngày 1-9-1951 Trung Quốc mới lên tiếng đòi “chủ quyền lịch sử ” tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, theo cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 đời vua Quang Tự Nhà Thanh “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″.

Theo Minh Sử, đời vua Lê Thánh Tông từ thế kỷ 15 (năm 1470), các đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt.

Theo Nguyên Sử “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.

Lịch sử Trung Quốc không mang lại bằng chứng khách quan vô tư nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ, công bố và hành sự chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa từ các đời Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ hay Quang Tự. Nếu chỉ có một số ngư dân lẻ tẻ từ đảo Hải Nam đến đánh cá theo mùa thì cũng không có sự công bố và hành sử chủ quyền của Quốc Gia.

3) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được sự thừa nhận của các quốc gia liên hệ.

Đầu tháng 9, 1951, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị Hòa Bình Cựu Kim Sơn để ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản, trong đó Nhật Bản từ bỏ quyền đòi Hoàng Sa Trường Sa nhưng không nói để trả cho nước nào. Ngoại Trưởng Liên Sô Gromyko nạp tu chính án yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trao Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Sau đó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hửu lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa và không gặp sự phản kháng nào.

4) Sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có ý nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải đối diện và tiếp cận. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay trong tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

5) Điều đáng lưu ý là, cho đến những năm 1956, 1974, 1988 và 1992 các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã do Việt Nam chiếm cứ công khai, hòa bình, trường kỳ và liên tục nên không thể coi đó là đất vô chủ. (terra nullius)

Do đó, về công pháp quốc tế, thuyết Biển Lịch Sử không còn là một vấn đề tranh nghị tại các Tòa Án Trọng Tài hay các Tòa Án Luật Biển. Vì thuyết này đi trái với Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague, và đã bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8.

Vì biết rõ điều đó nên Trung Quốc không dám đưa vụ tranh chấp hải phận và các hải đảo tại Biển Đông Nam Á ra trước Tòa Án Quốc Tế, Tòa Án Luật Biển hay Tòa Án Trọng Tài Liên Hiệp Quốc.

BÀI ĐỌC THÊM

HAI CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG CỦA BẮC KINH:
TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421
VÀ CHIẾM CỨ HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413

Khám phá Mỹ Châu là nói cho vui; thôn tính Biển Đông là mục tiêu chiến lược.

Mới đây Trung Quốc phát động hai chiến dịch phô trương, tuyên truyền rằng:

1. Năm 1421, trong Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422) của Chiến Dịch Thất Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu, trước Christopher Columbus 71 năm (năm 1492). So với Vasco Da Gama là người đã khám phá Mũi Hảo Vọng và đi xuyên 3 đại dương, từ Đại Tây Dương qua Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương (năm 1498), Trịnh Hòa đã thực hiện cuộc hành trình xuyên dương 77 năm về trước.

2. Và trong Chuyền Đi Thứ Tư (1413-1415) Trịnh Hòa đã chiếm cứ Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đây là hai chiến dịch truyền thông, mạo nhận thành tích để phô trương thanh thế và bóp méo sự thật.

Dầu sao sự mạo nhận này đã bị lịch sử phủ nhận.

TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421?

Trước hết, theo chính sử Trung Quốc, suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Thản hoặc, trong các thế kỷ thứ ba và thứ hai Trước Công Nguyên (thời Đế Quốc Tần Hán), Trung Hoa đã gửi những đoàn thám hiểm đến Biển Nhật Bản. Và trong thế kỷ 15, Minh Thành Tổ đã cử những phái đoàn thám hiểm Tây Dương đến Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu và đã viếng thăm 37 quốc gia duyên hải tại Ấn Độ Dương. Đó là những chuyến đi về ngoại giao và thương mại (tribute and trade). Những sự kiện này đã được ghi chép trong 3 loại tài liệu lịch sử:

a. Cuốn Minh Sử là chính sử.

b. Các bia kỷ niệm và các đồ bản tuyên dương thành thích được tồn trữ tại Phúc Kiến là địa điểm xuất phát Chiến Dịch.

c. Các sách sử địa trước tác bởi các thành viên tham gia Chiến Dịch như Doanh Nhai Thắng Lãm của Mã Hoan và Tinh Tra Thắng Lãm của Phi Tín. Trong Chuyến Đi Thứ Tư (1413-1415) Trịnh Hòa đi quá Ấn Độ, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải đến đông Phi Châu phía cực tây Ấn Độ Dương.

Về Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422) Bắc Kinh đại ngôn rằng Trịnh Hòa đã đi xuyên qua Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương để khám phá Mỹ Châu năm 1421.

Tuy nhiên, theo chính sử, Chuyến Đi Thứ Sáu của Trịnh Hòa là chuyến đi ngắn nhất chỉ kéo dài 7 tháng, từ tháng 2-1421 đến tháng 9-1421. Trong chuyền đi này Trịnh Hòa chỉ đi từ Phúc Kiến đến Sumatra (Nam Dương). Kế tiếp, hai sĩ quan tùy viên Yang Ching và Hung Pao đã điều khiển cuộc hải trình. (Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ (1978), trang 290-292).

Trong 7 chuyến công du, Trịnh Hòa không đến Đại Tây Dương, mà chỉ đi qua Biển Nam Hoa đến Ấn Độ Dương. Và như vậy không có việc, trong thế kỷ 15, Trịnh Hòa đã đi xuyên qua 3 đại dương là Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, và qua 3 châu Á, Phi và Âu để khám phá Mỹ Châu năm 1421.

Trong cuốn Trung Hoa Thao Túng Đại Dương học giả Louise Levathes, bỉnh bút tờ Nữu Ước Thời Báo và là giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Nam Kinh, cũng xác nhận điều đó: “Trong thời gian từ 1405-1433 các đoàn bảo thuyền (treasure ships) do Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy đã thực hiện 7 cuộc hành trình vượt qua Biển Nam Hoa đến Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư và bờ biển Đông Phi [chứ không sang Đại Tây Dương]. Trong những cuộc tiếp xúc với các thương gia Ả Rập người Trung Hoa cũng nghe nói về Âu Châu. Tuy nhiên họ đã không đến miền “cực tây” đó, vì Âu Châu chỉ sản xuất len dạ và rượu vang là những sản phẩm không được thị trường Trung Quốc ưa chuộng”. (Louise Levathes: When China Ruled the Seas, Simon & Schuster, New York, 1994, p. 20).

Mục đích những chuyến công du là thiết lập quan hệ ngoại giao và giao lưu thương mại. Nếu quả thật hồi đó Trịnh Hòa đến Đại Tây Dương thì lẽ tất nhiên đã phải ghé đến các cường quốc Âu Châu hồi thế kỷ 15 như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hòa Lan trước khi đi xuống Mỹ Châu là vùng đất hoang vu với các sắc dân da đỏ bán khai không thành quốc gia mà cũng không có những tài nguyên hay thổ sản để giao lưu thương mại với Trung Quốc.

Và chiến dịch truyền thông của Đế Quốc Đại Hán chỉ là chuyện bịa đặt vụng về, bất khả tín.

Như vậy, theo các sử liệu của Trung Quốc và trên thế giới, Trịnh Hòa không lai vãng đến Đại Tây Dương và cũng không khám phá Mỹ Châu. Đây chỉ là một chiến dịch tuyên truyền, bịa đặt thành tích để phô trương thanh thế. Tuyên truyền dối trá là võ khí chiến lược số 1 của Cộng Sản.

Trung thành với sách lược này, Bắc Kinh còn dựng đứng câu chuyện, từ thế kỷ 15 Trịnh Hòa đã chiếm cứ Chiêm Thành với Hoàng Sa Trường Sa.

TRỊNH HÒA CHIẾM HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413?

Sau vụ đảo chánh cướp ngôi của cháu ruột Minh Huệ Đế năm 1402, để làm lạc hướng dư luận, về mặt quốc tế, năm 1405 Minh Thành Tổ phát động chiến dịch Thất Hạ Tây Dương. Về mặt quốc nội, huy động hàng trăm học giả Trung Quốc soạn thảo cuốn Vĩnh Lạc Đại Toàn để đề cao cá nhân Minh Thành Tổ. Điều mỉa mai là, viện cớ khôi phục nhà Trần, Minh Thành Tổ, kẻ soán đoạt ngôi vua Nhà Minh, đã đem quân trừng phạt Hồ Quí Ly là kẻ soán đoạt ngôi vua Nhà Trần. Trương Phụ, Mộc Thạnh truyền hịch loan báo quân Tầu chỉ sang Việt Nam để tái lập ngôi vua nhà Trần, một triều đại vinh quang được toàn dân quý mến sau 3 trận đại thắng quân Mông Cổ. Với chiêu bài “cứu dân phạt tội” nhằm thu phục nhân tâm, quân nhà Minh đánh đâu được đó, quân nhà Hồ phần giã ngũ, phần qui hàng. Chủ yếu Minh Thành Tổ đã lợi dụng thời cơ để đem quân thôn tính Đại Việt trong suốt 20 năm (1407-1427).

Về Chiến Dịch Thất Hạ Tây Dương, trong Chuyến Đi Thứ Nhất (1405-1407), với một hạm đội hùng mạnh trên 27 ngàn sĩ tốt và hơn 300 hải thuyền, trong đó có 62 bảo thuyền lớn (large treasure ships), Trịnh Hòa đã không đổ bộ Việt Nam, chỉ ghé bến Đồ Bàn hay Trà Bàn (Chaban). Lúc này, nếu quả thật có kế hoạch thôn tính Chiêm Thành, Minh Thành Tổ chỉ cần điều động đội thủy binh hùng mạnh của Trịnh Hòa trong Chuyến Đi Thứ Nhất, chứ không cần phải đợi đến Chuyến Đi Thứ Tư (năm 1413) mới dùng thủ đoạn đồng minh giả hiệu để xâm chiếm Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận.

Vả lại, theo chính sử, về Chuyến Đi Thứ Tư (1413- 1415), Minh Sử chỉ ghi Trịnh Hòa có đến Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải và Đông Phi Châu, chứ không ghi việc Trịnh Hòa đã chiếm Chiêm Thành với Hoàng Sa Trường Sa. Đặc biệt Trịnh Hòa đã ra huấn thị cho các đội hải thuyền: “phải tránh xa các vùng đá ngầm và các đảo nguy hiểm tại Biển Nam Hoa” [Thất Châu Dương phía tây bắc Hoàng Sa]. Trong những chuyến đi sau này, nhiều bảo thuyền đã bị mất tích vì bão tố.(Louise Levathes: When China Ruled the Seas, p. 93).

Điều đáng lưu ý là, lập luận của Chính Phủ Bắc Kinh cho rằng Trịnh Hòa đã chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Minh (thế kỷ 15) hoàn toàn mâu thuẫn với lập trường của chính họ trong Bản Chú Giải về các Đảo Nam Uy (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) ngày 1-9-1951, theo đó Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Tống (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 13). (Notes on the Nanwei and Sisha Islands of 9-1-1951: People’s China Foreign Language Press) (1*).

Đây chỉ là những quyết đoán hồ đồ và những khẩu thuyết vô bằng.

Vì nếu Bắc Kinh dám tuyên bố Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu năm 1421, thì họ cũng không ngần ngại bịa đặt rằng Trịnh Hòa đã thôn tính Hoàng Sa Trường Sa năm 1413.

Nói tóm lại, về hai chiến dịch truyền thông cho rằng Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu năm 1421, và đã chiếm cứ Hoàng Sa Trường Sa năm 1413, chúng ta chỉ có thể kết luận: Phải là người Đại Hán đảm lược (to gan lớn mật) mới dám lấy những chuyện hoang đường võng tưởng làm sự thật lịch sử.

Trên đây là những sự thật lịch sử do các học giả Trung Quốc biên soạn. Đó cũng là những lời bình giải mà ngýời viết chuyển ðến ông Tập Cận Bình nhân chuyến công du mới đây của ông tại Hoa Kỳ.

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Chủ Tịch Ủy Ban Luật Gia
Bảo Vệ Dân Quyền

(1*) Đọc lại lịch sử Chiêm Thành chúng ta không thấy điều khoản nào ghi rằng trong thế kỷ 15 đời Minh Thành Tổ, Trung Quốc đã chiếm cứ nước Chiêm gồm cả lục địa và hải phận trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo cuốn Bách Khoa Toàn Thư Anh Quốc (Encyclopedia Britannica 1973, Champa trang 723), Chiêm Thành là một quốc gia phân hóa thành bốn tiểu bang hay “phủ” là: Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình Định), Kauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Bình Thuận hay Phan Rang). Tới thế kỷ thứ 6 Chiêm Thành thoát khỏi sự thống trị của Trung Quốc để trở thành một nước độc lập đặt thủ đô tại Amaravati (Quảng Nam). Trong thế kỷ thứ 9 quân Chiêm tấn công tại mấy tỉnh Giao Châu về phía bắc đồng thời đẩy lui Chân Lạp về phía tây.

Đến thế kỷ thứ 10 Việt Nam giành được độc lập. Và trong thế kỷ 11 khi vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt (năm 1054) phát động cuộc Nam Chinh trừng phạt Chiêm Thành, Chế Củ đã dâng ba châu thuộc địa phận Quảng Bình Quảng Trị để chuộc tội (năm 1069).

Qua thế kỷ 14, sau khi 3 lần đại thắng quân Mông Cổ, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông trong cuộc thắng cảnh Chiêm Thành hứa sẽ gả Công Chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Với vinh dự được làm rể Đại Việt, Chế Mân dâng hai châu thuộc địa phận Thuận Hóa để làm lễ cưới (năm 1306). Cuộc hôn nhân chưa được một năm thì Chế Mân chết, và theo tục lệ Chiêm Thành, Hoàng Hâu Huyền Trân phải hỏa thiêu để chết theo. Mặc dầu vậy vua Nhà Trần đã tìm cách giải thoát cho Công Chúa. Cũng vì mâu thuẫn này mà các vua Chiêm Thành từ Chế Chỉ và Chế Bồng Nga đã lấy cớ đem quân tàn phá Đại Việt trong 30 năm. Và sau này cuộc chiến tranh kéo dài trong suốt một thế kỷ từ đời vua Trần Nghệ Tông (1370) đến vua Lê Thánh Tông (1470). Kết cuộc năm 1471 dưới triều Hồng Đức Nguyên Niên, trong Chiến Dịch Bình Định, Đại Việt đã thôn tính lãnh thổ Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận trong đó tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuốn “Early Civilizations of Southeast Asia” của Sử Gia Dougald JW O’Reilly (Altamira Press U.S.A., 2007, trang 139) cũng xác nhận điều đó: “The Cham polity finally collapsed in 1471 with the capture of the capital Vijaya by the Viet”.

THÔNG CÁO BÁO CHÍ Về kết quả cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc tại New York ngày 20/6/2015 

Tuesday, June 23rd, 2015

BTC 15_Logo

New York, 20/6/2015 – Vào ngày thứ Bảy 20/6/2015, cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 30 do Cơ Quan Quốc Tế Di Dân tổ chức đã diễn ra rất tốt đẹp tại thành phố New York, Hoa Kỳ dưới bầu trời trong sáng đầy nắng ấm, mặc dù buổi sáng sớm có mưa lâm râm. Đây là lần thứ 16 Cộng Đồng người Việt tỵ nạn tham dự.

Banner va comm small

Đoàn diễn hành trải dài trên đại  lộ số 6 (6th Ave) – một đại lộ nổi tiếng của thành phố New York với nhiều cao ốc, còn được gọi là Đại Lộ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (Avenue of America) – từ đường 44 đến đường 56, tức 12 bloc đường phố. Từ 9 giờ sáng, các đội hình của đoàn Việt Nam đã bắt đầu tập họp trên đường 43, giữa đại lộ 5 và 6. Đúng 12 giờ trưa, các đội hình bắt đầu di chuyển.

Có nhiều quốc gia tham dự cuộc diễn hành quốc tế hàng năm này, năm nay có Tibet, Abania và Việt Nam. Nhưng có lẽ đoàn Việt Nam được xem là đông nhất, nhiều màu sắc nhất, nhiều ý nghĩa và có nhiều giải thưởng nhất trong những năm có chấm điểm.

Cac chu tich cd

Mặc dù gặp khó khăn về nơi tạm trú do khách sạn của nhà Mạnh Thường Quân quá cố Trần Đình Trường nay đã thuộc chủ nhân mới, số đồng hương Việt Nam tham dự năm nay khá đông (khoảng 600). Nhiều phái đoàn đến từ nơi xa xôi như Cộng Đồng  Houston (Texas) với tân Chủ Tịch Trần Quốc Anh lái xe hơn 30 giờ; phái đoàn tử Georgia đi 20 tiếng bẳng xe bus với trên 120 thành viên; Cộng Đồng DC, Maryland và Virginia với hơn 50 thành viên dong ruổi 6 giờ suốt đêm trên xe bus; Boston, Mass 50 thành viên cùng võ đường Tây Sơn với 7 giờ lái xe. Phái đoàn từ Louisiana, Kansas, phái đoàn từ Weschester, NY với võ đường Ocean Dragon Martial Art. Phái đoàn Florida gồm Ông chủ tịch Lưu Văn Tươi và phu nhân; Bà Đồng Thanh cựu chủ tịch đã trên 80 tuổi vẫn hiện diện cùng Hoa Hậu Phu Nhân 2015 Xuân Trà. Từ thành phố Pomona, Cali, BS Võ Đình Hữu, chủ tịch Hội Đồng Đại Biểu, CĐNVQGLBHK đáp máy bay suốt đêm về cho kịp giờ khai mạc. Tại địa phương New York, ngoài các vị trong Ban Tổ Chức (LS Nguyển Thanh Phong, Ông Nguyễn Văn Tánh, Cô Tara Thu, Ông Nguyễn Sơn Hà, Ông Lê Thanh Diệu…), còn có nhiều đồng hương tham dự trong đoàn diễn hành hoặc với tư cách khán giả hai bên đại lộ. Ngoài ra còn có phái đoàn tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo v.v.., phái đoàn Nhà Bảo Tồn Văn Hóa từ Canada.

xe hoa 2

Cộng Đồng Việt Nam năm nay tham dự với xe hoa chủ đề “Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh” trang trí lộng lẫy nhằm nói lên tinh thần bất khuất, từng đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ gìn bờ cõi, và đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn đất nước hiện đang lâm nguy trước họa xâm lược của Tàu Cộng từ phương Bắc. Phái đoàn diễn hành Việt Nam rất dài gồm đủ mọi thành phần tuổi tác, trẻ già, nam phụ lão ấu, nhất là giới trẻ, màu sắc rực sỡ, có cả các cụ già 80-90, có cụ dùng lăn hoặc walker để đi diễn hành. Cờ Quốc Gia màu vàng ba sọc đỏ tung bay trong gió, gương mặt mọi người rạng rỡ.

Đặc biệt phái đoàn từ Nam California với các văn nghệ sĩ như  MC Nam Lộc, Diễm Liên, Thế Sơn. Bắc Cali có Bà Chung Ngọc Nhi hướng dẫn với MC Thái Hà, Hoa Hậu Asian American Jenny Chung. Hoa Hậu từ Georgia, Hoa Hậu Phu Nhân 2015 từ Florida v.v.di dau

cam co lon med

dienhanh

Hầu hết các vị Chủ Tịch cộng đồng Đông Bắc Hoa Kỳ đều có mặt cùng các thành viên: CĐ New Hampshire (Ông Cao Xuân Khải và phái đoàn); CĐ Mass (Ô. Nguyễn Thanh Bình và phái đoàn), Cộng Đồng Connecticut với Ông Trần Văn Giỏi, Cộng Đồng New Yersey (với Chủ tịch Lê Ánh Nguyệt), Nam New Jersey (Ông bà Trần Quán Niệm và Hội Phụ Nữ), Cộng Đồng Philadelphia (Ông Vũ Trực), CĐ Pennsylvania (DS Nguyễn Đức Nhiệm), CĐ Hoa Thịnh Đốn (Ông Thomas Phạm, Ông Nguyễn Văn Đặng và các thành viên), Cộng Đồng Georgia (Ô Trần Mãn), Đoàn Phụ Nữ Cờ Vàng với áo dài màu cờ đến tử nhiều nơi như DC, New Jersey, Massachusetts v.v.. Trước giờ diễn hành, các vị chủ tịch CĐ, đoàn thể, tôn giáo cũng như các anh chị em Văn Nghệ Sĩ đã phát biểu cảm tưởng trước các cơ quan truyền thông như SBTN, VNA-TV 57.3 (Ông Du Miên và chuyên viên), OVM4TV (với Ông Nguyễn Đình Toàn), SBTN Boston với Ô. giám đốc Hà Văn Tải, đài Việt Nam Hải Ngoại New Jersey (với ông Nguyễn Tường Thược), báo Người Đẹp (Ô. Lưu Nguyễn), báo Việt Mỹ, TV Atlanta và nhiều nơi khác.

Vào tối thứ Bảy, một tiệc kỷ niệm 30 năm Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế và 40 năm viễn xứ, được tổ chức có văn nghệ giúp vui với ca sĩ Diễm Liên, Thế Sơn, MC Thái Hà và Nam Lộc, các ca sĩ địa phương tại hội trường nhà thờ Most Precious Blood Church rất hào hứng, quy tụ trên 200 thực khách.

Tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế năm nay Cộng Đồng người Việt tỵ nạn chứng tỏ sự kiên trì quyết tâm giữ gìn văn hóa ở hải ngoại và ngọn cờ chính nghĩa Tự Do vẫn tung bay trên nền trời thành phố New York. Ban Tổ Chức đã tốn nhiều công sức tạo nên kết quả hôm nay với sự tham dự đông đảo và sự nhiệt tình ủng hộ của các đồng hương, cộng đồng và mạnh thường quân khắp nơi về tinh thần lẫn vật chất. Người Việt tỵ nạn hải ngoại nhất quyết giữ vững truyền thống ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm không để cho CSVN có cơ hội chen vào.

Ban tổ chức Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế chân thành tri ơn tất cả các cộng đồng, các tổ chức đoàn thể, các mạnh thường quân, các văn nghệ sĩ và đồng thương đã hỗ trợ tài chánh, yểm trợ tinh thần và tham dự ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế 2015 năm nay. (BTC tổng hợp từ TQN) 

BAN TỔ CHỨC

Cố Vấn và Bảo Trợ: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.

Trưởng Ban Tổ Chức: LS Nguyễn Thanh Phong Chủ Tịch CĐNVQY/NY.

Điều Hợp Tổng Quát: Ô. Nguyễn Văn Tánh Cựu Chủ Tịch CĐNVQG/HK.

Đồng Trưởng Ban Tổ Chức:

– Ô. Đoàn Hữu Định:  Chủ Tịch Cộng Đồng MD & VA và DC

– Ô. Cao Xuân Khải: Chủ Tịch Cộng Đồng New Hampshire

– Ô. Nguyễn Thanh Bình: Chủ Tịch Cộng Đồng Massachusetts

– Ông Trần Văn Giỏi: Chủ Tịch Cộng Đồng Connecticut

– DS Nguyễn Đức Nhiệm: Chủ Tịch Cộng Đồng Pennsylvania

– Ông Lưu Văn Tươi: Chủ Tịch Cộng Đồng TB/Florida

– Ô. Trần Quán Niệm: Chủ Tịch Cộng Đồng Nam New Jersey

– Ô. Vũ Trực: Chủ Tịch Cộng Đồng Philadelphia, PA

– Cô Lê Ánh Nguyệt: Chủ Tịch CĐ Việt Nam Tự Do New Jersey

 

Thành Viên Ban Điều Hợp:

Đặc Trách Truyền Thông:   Ô. Nguyễn Đình Toàn – Phó Ban Điều Hành: Cô Tara Thu &

Ô. Lê Thanh Diệu – Thủ Qũy:  Ô. Nguyễn Sơn Hà.

Những điều cần biết về cuộc xung đột Biển Đông

Tuesday, June 9th, 2015

By William Johnson 09 tháng 6 năm 2015

(Theo Reuters)

An aerial photo taken though a glass window of a Philippine military plane shows the alleged on-going land reclamation by China on mischief reef in the Spratly Islands

Không ảnh chụp từ cửa sổ một máy bay quân sự Philippines cho thấy sự bồi đất của Trung Quốc trên các bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa Biển Đông, phía tây Palawan, Philippines, ngày 11 tháng 5, năm 2015. REUTERS / Ritchie B. Tongo / Pool

  1. Biển Đông (biển Nam Hải) là của ai?

Yêu sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là dựa vào lịch sử, dựa ;vào những ghi nhận từ các triều đại Xia và Han. Trung Quốc mô tả những yêu sách của mình trên Biển Đông qua đường chín đoạn (được gọi là đường lưỡi bò), mà Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai Shek)đã vẽ ra vào năm 1947. Trong thời kỳ của nước cộng hòa Trung Quốc (Trung Hoa Quốc Gia), Trung Quốc đã khảo sát, lập bản đồ và đặt tên cho 291 hòn đảo và rạng san hô trong khu vực.

Hoa Kỳ thì cho rằng Biển Đông là vùng biển quốc tế, và chủ quyền trong khu vực cần được xác định bởi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS). Theo UNCLOS, một nước không thể tuyên bố chủ quyền đối với bất kỳ khối lượng đất bị ngập nước khi thủy triều lên, hoặc bị ngập nước trước đây nhưng được nâng cao trên mức thủy triều bằng cách xây đắp nhân tạo.

In pictures: Disputes in the South China Sea

Members of Bayan Muna (Country First) Party List group display placards during a picket rally over territorial dispute with China in South China Sea, outside the Chinese Consulate in Makati

Các thành viên của Philippine Bayan Muna (Country First) Đảng Danh sách hiển thị nhóm băng-rôn trong một cuộc biểu tình đình công trên tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông, bên ngoài Lãnh sự quán Trung Quốc ở Makati, Manila ngày 17 tháng 4, 2015. REUTERS / Erik De Castro

  1. Tại sao Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông?

Nếu kiểm soát được Biển Đông Trung Quốc sẽ thống trị tuyến đường thương mại chính mà hầu hết lượng dầu nhập khẩu của TC sẽ đi ngang qua. Nó cũng sẽ cho phép Trung Quốc ngăn cản hoặc  hoặc đe dọa làm gián đoạn sự vận chuyển hàng hóa thương mại cho các nước Đông Á và Đông Nam Á – cũng như ngăn cấm các lực lượng quân sự nước ngoài, đặc biệt là của Hoa Kỳ xâm nhập vào vùng này.

Đáy của Biển Đông có thể chứa trữ lượng lớn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. Giữ chủ quyền trên Biển Đông có thể cung cấp cho Trung Quốc mức độ an toàn và độc lập về năng lượng vượt xa những gì mà họ đang sở hữu.

Taiwan Coast Guard patrol ships and helicopters from National Airborne Service Corps are seen during a drill held about 4 nautical miles out of the port of Kaohsiung, southern Taiwan

Tàu tuần tra Cảnh sát biển Đài Loan và máy bay trực thăng từ National Airborne Corps Dịch vụ của nó được nhìn thấy trong một cuộc diễn tập được tổ chức khoảng 4 hải lý ra khỏi cảng Cao Hùng, miền nam Đài Loan, tháng 6, năm 2015. REUTERS / Pichi Chuang

  1. Ai đã xây cất và xây những gì?

Việc xây dựng đảo ở biển Nam Trung Hoa, và xây cất trên các hòn đảo hiện có, đã diễn ra trong nhiều thập kỷ qua chủ yếu là từ Việt Nam (với 21 đảo) và Philippines với tám hòn đảo. Việt Nam, Đài Loan và Philippines đã có lực lượng quân sự trên một số hòn đảo của họ, nhưng Việt Nam vì tôn trọng quy định của UNCLOS, đã không đưa quân đội vào những nơi mà họ coi là “đảo nổi” (bao gồm các bãi cát ngập nước, rạng san hô và các khối đất khác).

Trung Quốc đã đến sau và chơi trò “xây cất đảo”, nhưng với một quy mô rộng lớn chưa từng thấy trong khu vực. Trong 18 tháng qua, Trung Quốc được cho là đã xây đắp nhiều đảo mới với diện tích lớn gấp bội so với bề mặt các đảo của tất cả các quốc gia khác đã xây trong suốt lịch sử. Không giống như các nước khác, Trung Quốc trong một thời gian ngắn đã thiết lập trang thiết bị quân sự trên một trong những hòn đảo nhân tạo của họ, các viên chức của họ còn nói rằng chính phủ của họ có kế hoạch làm thêm các công việc xây dựng đó. Quan trọng hơn cả, chỉ có Trung Quốc mới có đủ tàu bè quân sự hiện đại để bảo vệ những yêu sách của mình.

In pictures: Construction in the South China Sea

Still image from a United States Navy video purportedly shows Chinese dredging vessels in the waters around Fiery Cross Reef in the disputed Spratly Islands

the United States Navy, May 21, 2015. REUTERS/U.S. Navy/Handout via Reuters

Xây dựng ở Biển Đông: Tàu nạo vét Trung Quốc được thấy trong các vùng nước xung quanh Fiery Cross Reef trong quần đảo Trường Sa đang tranh chấp trên Biển Đông từ video được thực hiện bởi một máy bay do thám P-8A Poseidon và cung cấp bởi Hải quân Hoa Kỳ, ngày 21 tháng năm năm 2015 . REUTERS / US Hải quân / Handout qua Reuters

  1. Phản ứng của Hoa Kỳ trong vụ tranh chấp như thế nào?

Hoa Kỳ hầu như không có phản ứng nào về những xây cất trước đó của các nước Đông Nam Á ở Biển Đông, nhưng họ đã quyết liệt phản đối những nỗ lực của Trung Quốc. Hải quân Mỹ đã thường xuyên di chuyển trong khu vực này kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai và theo Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter thì Hoa Kỳ có ý định vẫn tiếp tục làm như vậy.

 

Hoa Kỳ sẽ xử dụng máy bay và tàu hải quân để bảo đảm sự tự do hàng hải trong khu vực, được chứng minh bằng sự hiện diện gần đây của chiến hạm USS Fort Worth và các chuyến bay trinh sát  Hải quân Mỹ P-8 Poseidon qua vùng Trung Quốc đang xây cất Fiery Reef.

Ngoài sự di chuyển tự do, Hoa Kỳ còn tập trung củng cố các đồng minh trong khu vực bằng cách sẽ giúp tăng cường khả năng thu thập thông tin tình báo và giám sát của các quốc gia đồng minh và cung cấp cho họ các thiết bị quân sự cập nhật để chống lại lợi thế kỹ thuật của Trung Quốc cả về số lượng và chất lượng. (Nước Philippines, quốc gia nhận viện trợ quân sự và huấn luyện của Mỹ kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, đang còn thiếu các thiết bị quân sự, họ chỉ có hai tàu Duyên Hải rất cũ kỹ của Hoa Kỳ để đối phó với sự xâm lấn của Trung Quốc.)

Nhật Bản đã phối hợp chặt chẽ với Hoa Kỳ cung cấp các thiết bị quân sự cho Philippines và Việt Nam.

Members of Philippine marines are transported on rubber boat from patrol ship after conducting mission on disputed Second Thomas Shoal as they make way to naval forces camp in Palawan

Các thành viên của thủy quân lục chiến Philippines được vận chuyển trên một chiếc thuyền cao su từ một tàu tuần tra sau khi tiến hành một nhiệm vụ trên các tranh chấp Second Thomas Shoal, một phần của quần đảo Trường Sa ở Biển Đông, trên đường đi đến một trại ở tỉnh Palawan, phía tây nam Philippines, 31 tháng 3, năm 2014. REUTERS / Erik De Castro

  1. Thế giới mong đợi gì kế tiếp?

Cuộc tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể leo thang tới mức độ nào. Viên chỉ huy Hạm Đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đang chuẩn bị lập kế hoạch di chuyển tàu và bay trong vòng 12 hải lý khu vực mà Trung Quốc tuyên bố là có chủ quyền lãnh thổ. Tàu USS Fort Worth và một máy bay do thám P-8 đã hoạt động gần đó, và Trung Quốc đã phản đối nhưng nó đã không có hành động thù địch.

Tuy nhiên, Trung Quốc tuyên bố rằng họ sẽ bảo vệ những gì mà họ cho là thuộc biên giới lãnh thổ của họ. Nếu Trung Quốc nhắm mắt (làm ngơ), Đảng Cộng sản TQ có thể bị mất mặt và tạo vấn đề ở trong nước. Nếu Hoa Kỳ nhượng bộ, Hoa Kỳ có nguy cơ tạo ấn tượng xấu đối với các đối tác của mình và  đồng minh, rằng Hoa Kỳ đã thiếu sự giải quyết chính sách như ở Trung Đông, Iraq và Ukraine.

Nguy cơ rất cao cho cả hai bên nếu có sự rùi ro tính toán sai lầm. Hoa Kỳ giữ một vai trò (bảo vệ) đối với các đồng minh lớn trong khu vực, với hy vọng rằng sức mạnh hỗn hợp của Mỹ, Nhật Bản và của Úc sẽ khiến Trung Quốc phải dừng bước.

Theo: Reuters

http://blogs.reuters.com/great-debate/2015/06/09/everything-you-need-to-know-about-the-south-china-sea-conflict-in-under-five-minutes/

U.S. Secretary of State Kerry speaks with Chinese Premier Li at the Zhongnanhai Leadership Compound in Beijing

Ngoại trưởng John Kerry nói chuyện với Thủ Tướng Li Keqiang tại sảnh đường Zhongnahai ở Bắc Kinh, ngày May 16, 2015. Reuters

Tin Tức ngày 24/5/2015

Sunday, May 24th, 2015

Mỹ cân nhắc tiến vào vùng 12 hải lý quanh các đảo tranh chấp ở Biển Đông

 Ảnh chiến trường đưa người Mỹ trở lại Chiến tranh VN

Trung Quốc: Mỹ có thể gây tai nạn ở biển Đông

Mỹ cáo buộc giáo sư vật lý đưa công nghệ nhạy cảm cho Trung Quốc

Chỉ huy hàng đầu của phiến quân Ukraine thân Nga thiệt mạng

‘Tổng thư ký LHQ phải thúc đẩy nhân quyền Việt Nam’

Mỹ: Muốn vào TPP, Việt Nam phải cải thiện nhân quyền trước

Báo Việt Nam rút bài từ bỏ hội nhà văn?

Việt Nam học hỏi kinh nghiệm đổ bộ từ Mỹ

Thượng đỉnh Riga : Châu Âu và 6 nước Liên Xô cũ tránh căng thẳng với Nga

Thái Lan : Luật về tội khi quân trờ thành vũ khí đàn áp

Mỹ-Nga hạ nhiệt xung khắc vì tình hình thế giới nóng bỏng

Đối đầu Mỹ – Trung trên không phận Biển Đông

Công nghiệp buôn người tại Đông Nam Á

Tập trận Nga-Trung ở Địa Trung Hải thể hiện tham vọng trên biển của Bắc Kinh

Washington không để Bắc Kinh thao túng tại Biển Đông

Một bài văn hay 30-4 của nữ sinh lớp 12

Thursday, May 14th, 2015
Sent: Thursday, May 14, 2015 8:57 AM
Lê Trần Thu Nguyệt – Lớp 12/A4 – Trường THCS III – Quận… TP/HCM
Môn Văn Học – Đề bài: “Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới của xã hội đất nước, có thứ nào đôi khi có thể sẽ tốt hơn, nếu: (theo suy nghĩ của bạn)…?” 
Bài Làm 
Sáng ngày 30 tháng 4 – Trôi theo dòng người tấp nập Tôi ngược lên cầu Thị Nghè rẽ trái đường Nguyễn Bỉnh Khiêm định vào đại lộ Lê Duẩn xem lễ duyệt binh chào mừng “Đại Thắng”, nhưng đến trước thảo cầm viên là cảnh sát công an ách lại kiểm ra, chỉ có giấy mời mới vào được khu vực trung tâm hành lễ.
Lỡ đi rồi biết làm sao, đứng bên lề đường trưa nắng như thiêu đốt, một chiếc xe bus quân đội đời mới dừng lại mở cửa hơi lạnh từ trong xe hắt ra mát rượi nhiều người đứng tuổi trên xe bước xuống, quân phục “Giải Phóng Quân” mới tinh một màu xanh lá với huân, huy chương lủng lẳng đầy ngực xếp hàng đủng đỉnh oai vệ đi sau người cầm cờ hướng vào khán đài.
Khát nước, bước qua bên kia đường mua ly nước mía, mắt tôi chợt dừng lại dưới đất cách vài bước chân ngồi bên cột đèn đường hứng cái nắng chói chang gay gắt là một bóng người lớn tuổi đen đúa cụt cả đôi chân cái nón vải sùm sụp trên đầu và chiếc áo rằn ri lá cây rừng bạc màu nắng gió trước mặt là cái lon sắt cũ kỹ đựng tiền lẽ.
Cầm ly nước mía tự nhiên đôi chân tôi bước lại, ngồi xuống 2 tay bê ly nước tôi ngỏ lời: Thưa, cho cháu mời bác ly nước và cũng không quên bỏ vào cái lon sắt tờ bạc mười ngàn đồng, ngạc nhiên bên trong cái lon sắt nằm chèo queo là cái huy chương bằng kim loại cũ mèm, tôi cầm lên ngắm nghía hỏi khẽ: bác là thương binh? Bác ấy cười móm mém: Thưa cô, tôi là phế binh chế độ cũ QL/VNCH, cái huy chương đó là “Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu” kỷ niệm trận ĐăkTô, Tân Cảnh.
Đứng ở đây xa quá không xem được gì nhiều. Tôi mua vé vào Thảo Cầm Viên kề bên, ngồi trên thảm cỏ xanh dưới bóng cây trốn cái nắng mang theo trong lòng một thứ gì đó nằng nặng, không dưng tự nhiên bỗng thấy vương vấn một thoáng ngậm ngùi…
Rồi tự hỏi: Sao cũng là người Việt Nam cũng chiến binh như nhau nhưng ngày “đại thắng” thống nhất non sông, dân tộc chứng kiến 2 số phận “Vinh Nhục” đôi đường tương phản đến não lòng như vậy?.
Rồi như tự trả lời cho chính mình: Nếu ngày xưa sau khi bị chia đôi 2 miền đất nước vào năm 1954 sao Miền Bắc, Bác Hồ không làm như miền Nam là “tuyên chiến” nhưng tuyên chiến với đói nghèo lạc hậu với nhược tiểu của một quốc gia vừa thoát tròng 100 năm nô lệ, 2 miền Bắc Nam cùng thi đua nhau, Sài Gòn ông Ngô Đình Diệm thì dựa vào viện trợ của Mỹ và các nước tư bản để phát triển cùng nhịp điệu với các quốc gia Đông Nam Á. Hà Nội thì ông Hồ Chí Minh dựa vào Liên Xô, Trung Quốc và khối Đông Âu viện trợ xây dựng lại miền Bắc sau cơn đói tang thương Ất Dậu, chưa cần thiết phải tuyên chiến đánh nhau và với vị trí đắc địa nhìn ra Biển Đông trên “đại lộ” hàng hải quốc tế thì sau hơn 60 năm (kể từ 1954) nếu sáng suốt và khôn khéo thì hôm nay chí ít 2 miền Bắc Nam đã như là Hàn Quốc – Đài Loan hay Singapore, kinh tế phát triển bao nhiêu thì xã hội kiến thức văn minh con người cũng cao theo chừng ấy và lúc này sau bao nhiêu năm, là lúc người dân 2 miền sẽ biết phải làm như thế nào để tương thích với tầm cao trí tuệ, để nhân danh nhân quyền nhất trí bằng một cuộc biểu quyết thống nhất trong êm đềm văn minh như Đông và Tây Đức trước kia và sẽ bầu tổng thống và Quốc Hội mà nhân sự là tổng hợp nhân tài trộn lẫn của cả 3 miền Trung Nam Bắc trong công bằng quang minh chính trực.
Và như vậy là hoàn toàn không có mấy triệu người, một thế hệ thanh niên rường cột quốc gia nằm xuống, không có biết bao cảnh tang thương đoạn trường do khói lửa chiến tranh bom đạn từ nước ngoài mang vào gây ra và quan trọng là đôi khi qua cuộc bầu cử thống nhất bởi trí tuệ văn minh nhân quyền đích thực của toàn dân phát triển qua 60 năm không bị chiên tranh hôm nay có thể Việt Nam không phải là một nước CS/XHCN mà được toàn dân chọn lựa là một quốc gia đa nguyên tự do dân chủ như đa phần các quốc gia trong LHQ hiện nay và vì vậy chắc chắn không có hình ảnh ngày lễ “Thống Nhất” duyệt binh mà có Bác thương binh QL/VNCH miền Nam ngồi bên vệ đường nắng bụi cùng cái huy “Anh Dũng Bội Tinh” và nhất là sẽ có gần trăm triệu người cùng chung vui chứ chẳng có triêu người nào buồn…
Tóm lại có rất nhiều thứ, nhưng một thứ lớn nhất “có thể sẽ làm cho xã hội tốt hơn rất nhiều so với ngày nay, nếu không có cuộc chiến tranh phát xuất từ miền Bắc vào miền Nam” gây ra.
Con gái tôi dưới nhà đi lên hỏi: Ba thấy bài viết con ra sao mà Thầy con nói “rất muốn cho em điểm 9 bài văn này, nhưng không thể”? mà con thì không thể nào hiểu nổi?
Tôi im lặng chỉ cười buồn nhìn con mình cắp cặp lên lầu chuẩn bị làm lại bài mới dù muốn nói với con: Hơn ba triệu đảng viên CSVN trong đó hàng chục ngàn Thạc Sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư mà họ còn không muốn hiểu thì một học sinh 17 tuổi như con thì làm sao hiểu được… Một mai không còn chủ nghĩa CS trên đất nước mình ắt con sẽ hiểu mà không cần đến ai để giải thích.
14/05/2015

 

Hoàn Cảnh Lịch Sử Dẫn Đến Tranh Chấp Chủ Quyền Của Việt Nam Tại Quần Đảo HOÀNG SA & TRƯỜNG SA – Nguyễn Nhã

Friday, March 27th, 2015

BÀI THAM LUẬN CỦA TIẾN SĨ NGUYỄN NHÃ

Bài đăng ngày 02/02/2009 Cập nhật lần cuối ngày  03/02/2009 08:46 TU

 Hăn Nguyên Nguyễn Nhă

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC CHÍNH QUYỀN TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG HOA) KHẢO SÁT TRÁI PHÉP QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀO NĂM 1909 VÀ TIẾP TỤC LÚN SÂU VÀO VIỆC XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở HOÀNG SA CHO ĐẾN NĂM 1930 KHI CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP THAY ĐỔI QUAN ĐIỂM

Việt Nam bị Pháp xâm lược năm 1858, mất hết chủ quyền tự chủ ngoại giao theo Hiệp ước cuối cùng ký với Pháp năm 1884, không bảo vệ được chủ quyền của mình tại Hoàng Sa khi bị các nước khác xâm phạm .

Chính trong thời Pháp thuộc đă xảy ra sự kiện chính quyền Quảng Đông (Trung Hoa) do Tổng Đốc Trương Nhân Tuấn đứng đầu vào tháng 6 năm 1909 như báo chí Quảng Châu hồi bấy giờ đưa tin, lần đầu tiên đă cử một hạm đội nhỏ của Nhà Thanh đă đi khảo sát trái phép quần đảo Paracels, vốn của Việt Nam từ lâu, tên chữ là Hoàng Sa hay tên nôm gọi là Cát Vàng hay Cồn Vàng.

Tên Tây Sa mà chính quyền Quảng Đông mới đặt ra sau sự kiện tháng 10 năm 1907, chính quyền Nhà Thanh đuổi được nhóm thương gia người Nhật Nishizawa Yoshiksugu chiếm giữ đảo Pratas trong 3 tháng (từ 2 tháng 7 năm 1907). Cũng bắt đầu từ khi này, chính quyền Quảng Đông đă đặt tên Pratas là Đông Sa vốn là tên một đảo ở ngoài khơi tỉnh Quảng Đông, đă được ghi rất rõ trên bản đồ “Duyên Hải Toàn Đồ” trong sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1730).

Không phải chính quyền thực dân Pháp không biết sự kiện khảo sát trái phép này. Chính bức thư của lãnh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu gửi Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp ngày 4 tháng 5 -1909 đã nêu ý đồ của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam khi viết: “Như tôi đã trình bày với ông khi kết thúc bản báo cáo gần đây của tôi (số 86 ngày 1 tháng 5 năm 1909) về vấn đề các đảo Đông Sa (Pratas), vấn đề này khiến chính phủ Trung Hoa chú ý đến các nhóm đảo khác nằm dọc bờ biển của Thiên Triều và tới một mức độ nhất định có thể được coi như một bộ phận của Thiên triều, trong đó có quần đảo Paracels”.[Monique,Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys, Paris, L’Harmattan,1996,p.206]. Cũng cần lưu ý bức thư trên đă viết khi chính quyền Quảng Châu c̣òn đang chuẩn bị thực hiện chuyến khảo sát . Cuộc khảo sát diễn ra sau đó, có mặt cả người Đức, đă rời Hồng Kông vào ngày 21-5-1909 và về Quảng Châu vào ngày 9-6-1909.

Cũng trong thư trên đề ngày 4 tháng 5 năm 1909, lãnh sự Pháp ở Quảng Châu gửi cho Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp có một số nội dung đáng lưu ý sau đây:

Do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm luôn quần đảo Paracels gần Hải Nam.

Cuộc khảo sát trái phép đầu tiên là của Ngô Kính Vinh đã cho thấy ở mỗi đảo Hoàng Sa đều có một ngôi miếu nhỏ xây kiểu nhà đá (tất cả tường mái là đá san hô và vỏ sò). [Monique,Chemillier-Gendreau, sđd, Paris, L’Harmattan,1996,p.207]

Các ngư dân Việt Nam mang cả vợ con đến sống ở Hoàng Sa, bị đối xử tàn tệ, vợ con bị bắt đến Hải Nam.[Monique,Chemillier-Gendreau, sđd, Paris, L’Harmattan, 1996,p. 210]

Như thế chính phủ Pháp ngay tại chính quốc đă rõ ý đồ của chính quyền Trung Hoa dù chỉ là chính quyền địa phương xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại Paracels hay Hoàng Sa của Việt Nam. Sở dĩ Chính quyền Pháp không ngăn chặn hành động khảo sát trên vì nhiều lý do:

Một là khi ấy, Pháp chưa quan tâm đến vấn đề bảo vệ sở hữu quần đảo của nước “An Nam” mà Pháp bảo hộ theo Hiệp ước Patenôtre 1884. Vấn đề ngăn chặn ý đồ của Trung Hoa ngay từ năm 1909 mà Lănh sự Pháp ở Quảng Châu là Beauvais đă báo cáo, bị chính quyền Pháp ở mẫu quốc bỏ qua.

Điều này cũng dễ hiểu, nếu như các đảo ấy vốn thuộc sở hữu của nước Pháp hoặc thuộc đất Nam Kỳ , nhượng địa hay thuộc địa chứ không phải đất bảo hộ, thì chắc chắn chính phủ Pháp sẽ có hành động ngăn chặn ngay và sẽ không thể xảy ra tranh chấp lâu dài về sau. Nếu không chính phủ Pháp sẽ bị kết tội hay sẽ bị lên án do chính người Pháp hoặc giới chính trị hoặc những công dân yêu nước của Pháp.

Hai là chính quyền thực dân Pháp ngại sự ngăn chặn có thể làm phát sinh trong ḷòng dân chúng Trung Hoa một phong trào “sô vanh’ có hại cho quyền lợi Pháp ở Trung Quốc.

Điều này cũng đă được Ông Beauvais nêu ra trong chính văn thư báo cáo ngày 4-5-1909 gửi Ông Bộ trưởng Ngoại Giao Pháp và đă được chính phủ Pháp cân nhắc làm theo: “ Như vậy , thưa Ông Bộ Trưởng, nếu ta còn lợi ích trong việc ngăn không cho Chính phủ Trung Hoa nắm lấy nhóm các đá ngầm này, có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng nghiên cứu, tìm ra các lập luận chứng minh rõ ràng quyền của chúng ta và những bằng chứng không thể bác bỏ về quyền đó. Nhưng nếu việc đó không đáng làm, sau khi đă suy nghĩ chín chắn, có lẽ nên nhắm mắt làm ngơ. Một cuộc can thiệp của chúng ta sẽ có khả năng làm xuất hiện một phong trào sô vanh mới làm cho chúng ta bị thiệt hại nhiều hơn lợi ích mà việc sở hữu được thừa nhận đối với quần đảo Hoàng Sa đem lại( Cf. Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, L’Harmattan, 1996, p.211-212).

Trong văn thư đề ngày 14 Janvier 1921 của Ông Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn của Bộ Ngoại giao Pháp (Le Président du Conseil , Ministre des Affaires Etrangères) gửi Bộ Trưởng Bộ Hải Quân Pháp cũng đă khẳng định Bộ ngoại Giao Pháp đă nghe theo ý kiến của Beauvais (Cf. Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 205).

Ba là các quan chức thực dân Pháp từ Phủ Toàn quyền đến Bộ Thuộc Địa hay Bộ Ngoại giao Pháp không biết rõ hoặc rất mơ hồ về sở hữu từ lâu thuộc về Việt Nam.

Có rất nhiều bằng chứng như chính Ông Beauvais trong bản báo cáo trên cũng không chắc chắn mà chỉ nói: “có lẽ sẽ dễ dàng nghiên cứu…”. …

Cho đến ngày 6 tháng 5 năm 1921, có nghĩa sau hơn 1 tháng ngày 30-3-1921, lệnh mang số 831 của Ban Đốc Chính chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa sau phiên họp ngày 11-3-1921 đă quyết định sáp nhập về mặt hành chính các đảo Hoàng Sa vào huyện Yai Hien (Châu Nhai, đảo Hải Nam),Vụ Các Vấn đề chính trị và Bản Xứ thuộc Phủ Toàn Quyền Đông Dương đă có văn bản ghi chú( Note) ghi rất nhiều điều liên quan đến quần đảo Hoàng Sa lấy từ Hồ sơ hiện có ở Phủ Toàn Quyền Đông Dương, cho biết đã tìm trong kho tư liệu của hải quân Sàig̣òn, lưu trữ của Thống đốc Nam kỳ , của Phủ Toàn quyền không thấy có tư liệu nào có tính chất làm rõ quốc tịch của các đảo Hoàng Sa. Chính lúc Toàn Quyền Đông Dương ra chỉ thị điều tra về vấn đề quốc tịch của Hoàng Sa cũng là lúc nhận được bức thư của Tổng lănh sự Beauvais ở Quảng Châu báo tin có sự kiện chính quyền quân sự Nam Trung Hoa quyết định sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Đông.

Rõ ràng sự kiện Chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa ra tuyên bố sáp nhập Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam vào huyện Châu Nhai, đảo Hải Nam thuộc tỉnh Quảng Đông ngày 30 tháng 1 năm 1921 cũng đă xảy ra vào thời Pháp thuộc, khi Việt Nam đă hoàn toàn mất chủ quyền.

Khi c̣òn mơ hồ về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Ḥoàng Sa, trong khi ấy thực chất quyền lực nhà nước là do chính quyền thực dân Pháp nắm, nên chính quyền thực dân Pháp không tích cực ngăn chặn sự vi phạm chủ quyền của chính quyền Qủang Đông tại quần đảo Hoàng Sa là chuyện đương nhiên. Chắc chắn khi Việt Nam có c̣òn chủ quyền, được độc lập tự chủ hay Hoàng Sa vốn thuộc chủ quyền của Pháp thì chính quyền nào cũng phải lấy nhiệm vụ tối thượng là bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ của nước mình. Vì thế chung qui không có sự ngăn chặn kịp thời sự xâm phạm chủ quyền của chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa vào năm 1921 cũng như của chính quyền Quảng Đông năm 1909 chính là do Việt Nam bị Pháp đô hộ, không c̣òn chủ quyền để bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ của mình.

Vậy về phía Việt Nam nguyên nhân sâu xa hay khách quan dẫn đến sự tranh chấp không đáng có chính là Việt Nam bị Pháp đô hộ , mất hết chủ quyền để có thể bảo vệ lănh thổ của mình khi bị xâm phạm.

Về phía Trung Hoa , nguyên nhân khách quan là do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm luôn quần đảo Paracels gần Hải Nam để tránh xảy ra sự kiện bất cứ nước nào nhất là các cường quốc hồi bấy giờ phỗng tay trên, chiếm cứ những đảo ở Nam Hải mà Trung Hoa coi là vô chủ.

Về phía chính quyền thực dân Pháp, nguyên nhân chủ quan chính là do quyền lợi riêng của Chính quyền thực dân Pháp đă khiến Pháp không phản ứng kịp thời để Trung Hoa cho là đất vô chủ và đi sấu vào hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở Ḥoàng Sa và sự thiếu hiểu biết do hạn chế của người đi đô hộ, không hiểu quan điểm của Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Song sau đó chính quyền thực dân Pháp lại bắt đầu quan tâm đến hành động trái phép của chính quyền Quảng Đông với quấn đảo Hoàng Sa. Vậy thì nguyên nhân nào khiến chính quyền thực dân Pháp bắt đầu quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa trong thời gian từ năm 1921 đến 1930, Pháp bắt đầu thay đổi quan điểm. Đó chính là tầm quan trọng của vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa đối với an toàn quyền lực của Chính quyền thực dân Pháp về sự hiểu biết lập trường của Việt Nam (Theo Thượng thư Bộ binh Thân Trọng Huề giải thích).

Trước hết chính vì vị trí chiến lược quan trọng của quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa cũng như Biển Đông đối với lănh thổ Pháp đang cai trị, nên thực dân Pháp ở Đông Dương phải cân nhắc lợi hại, đă quyết định đối mặt với những ý đồ tranh chấp chủ quyền của các nước khác trong đó có Trung Quốc.

Lúc ban đầu, trong bản báo cáo ngày 04 tháng 5 năm 1909, của Tổng lănh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu đă đề cập tới tầm quan trọng vị trí của quần đảo Hoàng Sa, song lại chưa sát sườn với lợi ích của chính quyền thực dân, dù có hệ trong đến hàng hải hay sự đe dọa đối với ngư dân Việt nam như sau:

“Về vấn đề này, nhân viên của chúng tôi nhận xét rằng các đảo Hoàng Sa đối với chúng ta có một tầm quan trọng nhất định: vì nằm giữa tuyến đường đi từ Sàig̣òn đến Hồng Kông, các đảo đó là một mối nguy hiểm lớn đối với hàng hải và việc chiếu sáng ở đó có thể là cần thiết. Ngoài ra, các đảo đó thường có ngư dân An Nam và Trung Quốc qua lại: họ đến đó trong quá trình đánh cá để sơ chế sản phẩm. Đă xảy ra những cuộc đổ máu giữa ngư dân hai nước trong dịp đó (Cf. Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, L’Harmattan, 1996, p.197).

Trong văn thư của Khâm Sứ Trung Kỳ Le Fol gửi Toàn Quyền Đông Dương vào ngày 22 tháng 1 năm 1929 đă nhấn mạnh về vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa:

“Trong tình hình hiện nay, không ai có quyền phủ nhận tầm quan trọng chiến lược rất lớn của các đảo Hoàng Sa. Trong trường hợp có xung đột, việc nước ngoài chiếm đóng chúng sẽ là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất có thể có đối với việc phòng thủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang [Đông Dương]. “Thực vậy, các đảo nói trên là sự kéo dài tự nhiên của Hải Nam. Một đối phương có thể thấy ở đó một căn cứ hải quân hùng mạnh nhờ những vụng và nhiều nơi tầu đậu tuyệt vời, và do tính chất của chúng thực tế là không thể đánh bật. Một đội tầu ngầm dựa vào căn cứ đó sẽ có thể, không những phong tỏa cảng Đà Nẵng là cảng quan trọng nhất của Trung Kỳ, mà còn cô lập Bắc Kỳ bằng cách ngăn cản việc đi đến Bắc Kỳ bằng đường biển. Lúc đó để liên lạc giữa giữa Nam Kỳ với Bắc Kỳ ta phải dùng đường sắt hiện có, một con đường rất dễ bị đánh v́ chạy dọc theo bờ biển, pháo hải quân đặt trên các chiến hạm có thể mặc sức phá hủy.” “Đồng thời, mọi con đường thông thương giữa Đông Dương- Viễn Đông- Thái Bình Dương sẽ bị cắt đứt: hải lộ Sàig̣òn-Hồng Kông đi gần quần đảo Paracels , do đó nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của căn cứu trên các đảo”.(Cf. Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, L’Harmattan, 1996, p.174).

Mặc dù có những báo cáo rất rõ về tầm quan trọng của Hoàng Sa đối với việc bảo vệ lănh thổ thuộc địa Đông Dương của Pháp, song phải có sức ép của dư luận báo của người Pháp ở Đông Dương mới làm cho chính quyền thực dân Pháp có những hành động cụ thể để bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa của nước được Pháp bảo hộ.

Đầu tiên với loạt bài trong các số 606, 622, 623, 627 (tháng 1, 5, 6 năm 1929), nhà báo Henri Cucherousset đă lược qua về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa với những dẫn chứng hết sức cụ thể như: 1/Jean Baptiste Chaigneau viết năm 1820 dưới nhan đề : Notice sur la Cochinchine cho biết Năm 1816 vua Gia Long thực sự chiếm đảo Hoàng Sa.2/ Giám mục Jean Louis Taberd viết trong Journal of the Asiatic Society of Bengal, tậpVI, măm 1837, tr.737 và những trang kế tiếp, tập VII, năm 1838, tr.317 và những trang kế tiếp đề cập đến quần đảo Hoàng Sa trong mục Géographie de la Cochinchine. 3/ Dubois de Jaucigny viết trong L’Univers – Histoire et Description de tous les peuples de leurs religions. Moeurs, coutumes;Japon, Indochine,Ceylan xuất bản năm 1850 tại Paris, F. Didot xuất bản, có đoạn viết: “ …từ 34 năm về trước quần đảo Hoàng Sa( mà người Annam gọi là Cát Vàng đă được chiếm cứ bởi các người xứ Nam Kỳ”. Cucherousset còn viết những chi tiết về quần đảo Hoàng Sa trong Nam Việt Địa Dư [ Hoàng Việt Địa Dư?] , Minh Mạng năm thứ 14; Đại Nam Nhất Thống Chí, in thời Duy Tân, tập 6, tờ 18b, 19a cùng việc tàu De Lanessan thám sát Hoàng Sa năm 1925.” Theo tác giả, quần đảo Hoàng Sa quan trọng do 5 đặc tính sau đây:1/ Trạm cho thủy phi cơ Sàig̣òn – Hồng Kông; Tourane- Philippines. 2/ Điểm tựa chiến lược cho tầu ngầm khi có chiến trảnh.3/ Trạm thông báo khí tượng. 4/ Nơi tranh gió băo cho tàu đánh cá. 5/ Giàu phốt phát. Lý do tác giả viết loạt bài vì nhân một đại úy người Anh muốn nhân danh Anh Hoàng đặt chủ quyền Anh lên đảo Sein đồng thời tác giả cực lực phản đối việc hải quân trung tá Rémy ở Sàig̣òn trả lời cho 1 công ty hàng hải Nhật rằng không biết quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của ai và việc ông Monguillot đă viết cho ông Gravereaud nói rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa.

Theo tác giả, chánh quyền bảo hộ Pháp phải chấp hữu chủ quyền trên quần đảo Ḥoàng Sa bằng các hành động:1/Vẽ bản đồ tổng quát Hoàng Sa tỉ lệ 1/200.000, vẽ bản đồ chi tiết 1/25.000, vẽ bản đố hải quân và bản đồ địa chất.2/ Đặt đài hải đăng.3/ Đạt trạm quan sát và thông báo khí tưỡng.4/ Lập đội trú phòng trú đóng tại Hoàng Sa.

Tác giả còn luôn luôn trách cứ chánh quyền Pháp đă quá lơ là trong việc xác nhận và bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa. Sau đó chính bức thư của Toàn quyền Pasquier gửi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa ngày 18-10-1930 đă chấm dứt thái độ do dự của chính quyền Pháp đối với hành động xâm phạm trái phép của chính quyền Trung Hoa đối với chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa. Trong bức thư trên, Toàn quyền Pasquier đă gửi tập tư liệu về quần đảo Hoàng Sa bao gồm :

  1. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Đại Nam Nhất Thống Chí , quyển 6 hay biên niên sử của chính phủ An Nam.
  2. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Nam Việt Địa Dư, tập 2 hay Địa dư thời Minh Mạng [ Chú thêm của tác giả : tức Hoàng Việt Địa Dư Chí ].
  3. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Đại Nam Nhất Thống Chí hay địa dư thời Duy Tân.

Cùng kèm theo bốn thư phụ lục và bốn bản đồ, Toàn Quyền Pasquier viết: “ Chắc hẳn Ngài cũng đánh giá như tôi rằng chúng ta đă đủ để xác định không thể tranh căi rằng An Nam đă thực sự nắm sở hữu quần đảo và làm như vậy trước năm 1909 nhiều.” (Cf. Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, L’Harmattan, 1996, p.233).

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA VÀ PHÁP TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA HOÀNG SA & TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945 , THỜI GIAN PHÁP CÒN ĐÔ HỘ VIỆT NAM

Từ 1931 đến 1933, Cucherousset lại tiếp tục viết 7 bài viết cũng trên báo L’Éveil Économique de L’Indochine trong các số 685 ( 10-5-1931), 688 (31-5-1931), 743(26-6-1932), 744( 03-7-1932), 746( 17-7-1932), 777( 26-02-1933) 790(28-5-1933). Trong loạt bài báo kể trên, không thấy nhắc đến lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam nữa mà chỉ tập trung vào thái độ của Toàn quyền Pasquier về việc xử lý việc bảo vệ chủ quyền ấy.Tác gia chỉ trích một lá thư của Toàn quyền Pasquier khi Ông này viết: “Chủ quyền của xứ Annam trên quần đảo Hoàng Sa là điều không thể chối căi được nhưng lúc này chưa phải cơ hội để xác nhận chủ quyền ấy .”Tác giả gay gắt chất vấn Ông Toàn Quyền: “Tại sao nay không phải là cơ hội?Trở lực nào đă ngăn cản xứ “Annam” nhìn nhận chủ quyền trên đảo Hoàng Sa mà họ đă chấp hữu từ trăm năm trước? Có phải chăng đợi đến lúc người Nhật khai thác đến tấn phốt phát cuối cùng?Có phải người Nhật đă trả thù lao một phần cho ai chăng?

Vì những bài báo lập luận vững chắc và chỉ trích nặng lời toàn quyền Pasquier, Ṭòa Soạn báo E.E.I bị ông Dự thẩm Bartet ra lệnh khám xét ban đêm buộc nhà báo phải nộp hồ sơ liên quan đến vụ Hoàng Sa. Trong số báo 743, Cucherousset cực lực phản đối và nhất quyết không giao nộp, nếu muốn nghiên cứu thì chỉ cho đọc tại chỗ.Trong số báo 746, Cucherousset viết nếu không có loạt bài của E.E.I thì có lẽ chính quyền Pháp làm ngơ vụ Trung Hoa chiếm hữu Hoàng Sa.

Trong số báo 777, Cucherousset đă trình bày tại sao ông phản đối Toàn quyền Pasquier nhún nhường trước hành động của Tổng Đốc Quảng Đông: 1/Chính quyền tỉnh Quảng Đông không hề bao giờ được nước Pháp thừa nhận là một chính quyền tự trị. 2/Chính phủ Trung Hoa ở Bắc Kinh lúc trước , ở Nam Kinh bây giờ, không hề bao giờ lên tiếng tranh giành quần đảo này và không thừa nhận chủ quyền Quảng Đông. 3/ Ngược lại từ hơn 100 năm nay rồi, nước Nam đă chấp hữu chủ quyền trên Hoàng Sa và sự việc này có ghi rõ trong văn khố của triều đình Huế. Hơn nữa chính quyền Quảng Châu không thể dựa vào lý do ngư phủ Trung Hoa thường xuyên ghé đảo để bắt rùa , phơi lưới để bảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa bởi ngư phủ Pháp cũng thường làm như vậy tại bờ biển Terre Neuve nhưng Terre Neuve vẫn thuộc nước Anh. Trong khi ấy trong 1 phiên họp của Hội Đồng Tư Vấn Đông Dương, để trả lời vị đại diện của xứ Annnam là ông Piguax, Toàn Quyền Pasquier cho biết vụ Hoàng Sa đă có tiếng vang tại Pháp và vị Tổng trưởng Bộ Thuộc Địa đă quyết định đưa nội vụ ra Ṭòa án quốc tế La Haye.

Ngoài tờ báo Eveil Economique, c̣òn nhiều báo của người Pháp ở Đông Dương và cả ở Pháp cũng đăng những bài về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa như Revue Indochinoise Illustrée, số 38, 1929 ( Sàig̣òn), tr.605-616 , P.A. La Picque đă dẫn nhiều tài liệu về chủ quyền của Viêt Nam; việc chính quyền Quảng Đông trả lời không chịu trách nhiệm về việc dân Hải Nam cướp trên các tầu bị đắm Le Bellona năm 1895 và Imezi Maru 1896 vì Hoàng Sa không thuộc chủ quyền Trung Quốc; dịch lại bài báo đăng trên Quảng Châu Báo ngày 10-7-1909 kể chuyện chuyến đi khảo sát Hoàng Sa của hải quân tỉnh Quảng Đông. Mémoire No 3 du Service Océanographique de L’Indochine( Saigon), 1930, 24 tr. do J. de Lacour & Jabouillé kể chuyến đi khảo sát Hoàng Sa 21-7-1926 theo lời mời của M.A.Krempf . Avenir du Tonkin, số 10495( 17-04-1931),tr2 khẳng định năm 1816, vua Gia Long long trọng cho dựng cờ trên đảo vì thế cho nên dù năm 1909, Trung Hoa có muốn dành chủ quyền, chánh phủ Pháp phải lên tiếng xác nhận quyền bảo vệ các đảo ấy. Trong hoàn cảnh hiện nay, không ai có thể phủ nhận sự quan trọng có tính cách chiến lược của Hoàng Sa.

Nature ( Paris), số 2916,01-11-1933, tr.385-387 do Sauvaire-Jourdan viết trên tờ Công báo ngày 19-7-1933 đăng một thông tư về việc hải quân Pháp chiếm cứ một vài đảo ở Phía nam Biển Đông, điểm qua lịch sử chiếm hữu, vua Gia Long cho hải đội đổ bộ và dựng cờ trên đảo năm 1816 rồi đến sự kiện năm 1909 được bài báo ở Quảng Châu ngày 20-6-1909 mà tác giả cho là khôi hài cùng những đề nghị không nên bỏ rơi quyền sở hữu các đảo ấy. La Géographie, bộ LX ( tháng 11-12-1933), tr.232-243, A. Olivier Saix đưa ra những luận cứ theo đó chánh quyền bảo hộ của Pháp tại Việt Nam phải bảo vệ và duy tŕ chủ quyền cho Việt Nam vì: 1/ Hoàng Sa có vị trí rát cần thiết lập hải đăng.2/ Là vị trí thiết lập đài quan sát khí tượng và trạm vô tuyến kịp thời bào thời tiết băo cho tàu bè.3/ Hoàng Sa nhiều nguồn lợi kinh tế:phốt phát, cá , rùa..4/ lợi ích quân sự từ Hoàng Sa phong tỏa Vịnh Bắc Việt , cảng Đà Nẵng, hải lộ quốc tế 5/ Lịch sử xác lập chủ quyền: Vua Gia Long đă cho hải đội Hoàng Sa đổ bộ lên đảo dựng cờ, lập cứ điểm, Thượng thư Bộ binh Thân Trọng Huề ngày 3-3-1925 nói rằng : “Các đảo đó bao giờ cũng là sở hữu của nước Annam, không có gì tranh căi trong vấn đề này”.

Rõ ràng với sức ép dư luận trên, chính quyền thực dân Pháp đă phải hành động, trước hết khoảng 1930 đến 1933, Pháp đă thiết lập chủ quyền tượng trưng tại Trường Sa cũng như Hoàng Sa.. Với Hoàng Sa thuộc về Trung Kỳ , đất bảo hộ của Pháp, nên không cần phải hành động xác lập chủ quyền mà chỉ cần những hành động thực thi chủ quyền, tiếp theo những hành động khảo sát Hoảng Sa đầu tiên năm 1925 của Viện Hải Dương Học Nha Trang là những hoạt động thể theo đề nghị của dư luận báo chí thời ấy . Ngày 1 5 – 6 – 1932 , chính quyền Pháp ra nghị định số 156- SC ấn định việc thiết lập một đơn vị hành chánh gọi là quận Hoàng Sa tại quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1937, kỹ sư trưởng công chánh Gauthier nghiên cứu khả năng xây dựng một hải đăng trên đảo Pattle ( Hoàng Sa); năm 1938 Pháp bắt đầu phái các đơn vị bảo an tới các đảo và xây dựng môt hải đăng, môt trạm khí tượng (OMM đăng kư số 48860) đặt ở đảo Pattle ( Hoàng Sa) và số 48859 ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée), một trạm vô tuyến TSF trên đảo Pattle. Tháng 3-1938, Hoàng đế Bảo Đại ký Dụ số 10 sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên thay vì Nam Ngăi như các triều trước. Tháng 6 năm 1938, một đơn vị bảo an lính Việt Nam tới trấn đóng Hoàng Sa. Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Pattle với dòng chữ: “République Francaise- Royaume d’Annam- Archipels des Paracels 1816-Ile de Pattle 1938”.

Còn với quần đảo Trường Sa phía Nam thuộc địa giới Nam Kỳ lại là đất thuộc địa của Pháp, nên Pháp có hành động xác lập chủ quyền cho nước Pháp. Song để ngăn chặn nước thứ ba cũng như đối phó với pháp lý quốc tế, Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại Giao Pháp đă viết trong Bản Ghi Chú cho Vụ Châu Á Đại dương ngạy-5-1950 rằng”Việc chiếm hữu quần đảo Spratleys do Pháp tiến hành năm 1931-1932 là nhân danh Hoàng Đế “ Annam”.”Ngày 13 tháng 4 năm 1933 ,một hạm đội nhỏ do trung tá hải quân De Lattre chỉ huy từ Sàigòn đến đảo Trường Sa ( Spratley) gồm thông báo hạm La Malicieuse, pháo thuyền Alerte, các tàu thủy văn Astrobale và De Lanessan. Sư chiếm hữu tiến hành theo nghi thức cổ truyền của Phương Tây. Một văn bản được thảo ra và các thuyền trưởng ký thành 11 bản. Mỗi đảo nhận 1 bản, được đóng kín trong 1 chai rồi được gắn trong 1 trụ xi măng xây trên mỗi đảo tại một địa điểm ấn định và cố định trên mặt đất. Người ta kéo cờ Tam tài và thổi kèn trên từng ḥòn đảo…

Ngày 26 tháng 7 năm 1933, Bộ Ngoại Giao Pháp đă có một thông tin đăng trên Công báo Pháp, ghi rõ 6 nhóm hải đảo và tiểu đảo từ nay đă thuộc chủ quyền Pháp quốc, trong đó gồm nhóm Spratley ( 8o39’ B-111 o 55Đ) và các tiểu đảo nhỏ xung quanh được chiếm hữu sớm nhất từ ngày 13-4-1930 và đảo Thị Tứ được chiếm cuối cùng vào ngày 12-4-1933.. Ngày 21 -12-1933, thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký nghị định số 4762 sát nhập các nhóm hải đảo thuộc quần đảo Pratleys ( Trường Sa ) vào tỉnh Bà Rịa. Năm 1938 Pháp cũng thiết lập một bia chủ quyền, một hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm vô tuyến tại đảo Itu – Aba ( Ba Bình)..

Tất cả những hành động thực thi chủ quyền của Pháp nhân danh “Annam” trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa diễn ra một cách suông sẻ, dù muộn màn, không gặp bất cứ ngăn cản nào, bởi chỉ duy có chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông có ý đồ, có dự án khai thác Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, và muốn chiếm hữu Hoàng Sa khi cho là đất vô chủ, song các dự án của chính quyền địa phương mới chỉ trên giấy tờ, chính quyền trung ương Trung Quốc chưa mặn mà. Tuy vậy Nhật Bản lại dấu mặt về ý đồ chiếm giữ Hoàng Sa và Trường Sa, đă lên tiếng phản đối sự chiếm giữ của Pháp trong thông báo cho chính phủ Pháp vào ngày 24 -7-1933 . Ngày 31 tháng 3 năm 1939, Bô Ngoại giao Nhật Bản ra tuyên bố gửi tới Đại sứ Pháp ở Nhật Bản khẳng định Nhật Bản là người đầu khám phá Trường Sa vào năm 1917 và tuyên bố Nhật kiểm soát Trường Sa. Nhật đă nhanh chóng chiếm đảo Phú Lâm ( Ile Boisée ) của Hoàng Sa và đảo Itu-Aba ( Ba Bình ) của Trường Sa vào năm 1938 , song măi đến ngày 9-3-1945 , Nhật mới bắt làm tù binh những lính Pháp đóng ở các đảo Hoàng Sa cũng như đất liền của Việt Nam.

Luật pháp quốc tế thời đó sau Định ước Berlin năm 1885 được hiểu là:

– Việc thụ đắc lãnh thổ là hành động của quốc gia, chính quyền địa phương (tỉnh Quảng Đông) không đủ danh nghĩa đại diện cho quốc gia.

– Cũng theo Định ước này, hành động của phía Trung Quốc (năm 1909) không đủ mang lại danh nghĩa chủ quyền cho Trung Quốc vì chưa thỏa mãn các tiêu chí về thụ đắc lãnh thổ thời đó. Do vậy, sự im lặng của chính quyền Pháp ở Đông Dương không có nghĩa là sự thừa nhận chủ quyền của phía Trung Quốc và không tạo ra estopel. Nhật bản đă bại trận và đă đàu hàng vô điều kiện Đồng Minh 16 tháng 8 năm 1945 và đă rút khỏi Hoàng Sa &Trường Sa .

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA, PHÁP TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA & TRƯỜNG SA TỪ THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN THÁNG 4 NĂM 1956, KHI PHÁP XÂM CHIẾM TRỞ LẠI

Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Cách Mạng Tháng Tám thành công, ngày 2 thang 9 năm 1945 Nước Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥoà ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ở Quảng Trường Ba Đình, chấm dứt chế độ đô hộ của Pháp.

Sau khi Nhật bại trận, Pháp trở lại đô hộ Việt Nam, Quân Tưởng Giới Thạch tiếp quản nơi quân đội Nhật chiếm đóng từ phía Bắc vĩ tuyến 16, cả hai nước Pháp và Trung Hoa đều tiếp tục tranh chấp Hoàng Sa & Trường Sa của Viêt Nam., vẫn tiếp tục coi trọng vị trí chiến lược Hoàng Sa & Trường Sa. Việt Nam bận lo kháng chiến chống Pháp trong khi quân Pháp làm chủ Biển Đông.

Quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa vào năm 1946, Pháp trở lại Việt Nam làm chủ Biển Đông, lập tức cử một phân đội bộ binh Pháp đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza đến thay thế quân đội Nhật từ tháng 5 năm 1946, nhưng đơn vị này chỉ ở đó trong vài tháng. Trong thời gian từ 20 đến 27 tháng 5 năm 1946, đô đốc D’Argenlieu, cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm L’Escarmouche ra nắm tình hình đảo Hoàng Sa (Pattle ) thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì ngày 26 tháng 10 năm 1946, lợi dụng thời cơ, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội độc lập về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của quân thủy đánh bộ) xuất phát từ cảng Ngô Tùng ngày 9 tháng 10. Ngày 29 tháng 11 năm 1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc còn gọi là Đoàn Sa chưa phải mang tên Nam Sa (tác giả nhấn mạnh)

Trong phiên họp ngày 11 tháng 10 năm 1946, Uy Ban Liên Bộ về Đông Dương thuộc Chính phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định quyền của Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa và thể hiện việc tái chiếm bằng việc xây dựng một đài khí tượng. Theo ý kiến của đại tướng Juin cho rằng “lợi ích cao nhất” của nước Pháp là phòng ngừa mọi ý đồ của một cường quốc nào muốn chiếm lại các đảo đó là những đảo kiểm soát việc ra vào căn cứ tương lai Cam Ranh, con đường hàng hải Cam Ranh – Quảng Châu – Thượng Hải (Thư số 199/DN/S. col ngày 7 tháng 10 năm 1946 của Đại tướng Juin, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Pháp tại Paris). Mãi đến năm 1935, Trung Quốc mới chú ý đến Trường Sa, gọi là Đoàn Sa sau thời điểm năm 1933.

Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp trên của Trung Hoa Dân Quớc và ngày 17 tháng 10 năm 1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Phú Lâm nhưng họ không rút. Pháp gửi một phân đội lính trong đó có cả quân lính “Quốc gia Việt Nam” đến đóng một đồn ở đảo Pattle ( Hoàng Sa ). Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1947 tại Paris. Tại đây, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối không chấp nhận việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề xuất. Ngày 1 tháng 12 năm 1947, Bộ Nội Vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch công bố tên Trung Hoa cho hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Hoa.

Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào hiệp định Patenôtre (1884) với Pháp song Pháp vẫn cho rằng theo hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà còn nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính quyền Pháp bổ sung quân sự bằng cách đóng quân và thực hiện quản lý trên hai quần đảo. Điều này chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đã được củng cố vững chắc từ thời Pháp thuộc.

Do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà kháng chiến chống Pháp và hải quân Pháp làm chủ Biển Đông , nên với hiệp định ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp gây dựng được chính quyền thân Pháp còn gọi là quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, đối đầu với Chính quyền Cách Mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên thực tế, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đang làm chủ Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thay mặt nhà nước Việt Nam.

Tháng 4 năm 1949, Đổng lý văn phòng của quốc trưởng Bảo Đại là hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sàigòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã từ lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa.

Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa được thành lập ở lục địa Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã rút lui ra Đài Loan. Tháng 4 năm 1950, đồn lính Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) thuộc quần đảo Hoàng Sa đã rút lui. Còn đồn lính của Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn còn duy trì. Đến năm 1954, Pháp đã chính thức trao lại quyền quản lý cho Chính phủ Việt Nam.

Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.

Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 8 tháng 9 năm 1951, ký kết hoà ước với Nhật. Ngày 5 tháng 9 năm 1951, họp khoáng đại, ngoại trưởng Gromyko đề nghị 13 khoản tu chính. Khoản tu chính liên quan đến việc Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam. Khoản tu chính này đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Như vậy, cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc té bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ một Hội nghị quốc tế.

Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam : “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam » Không một đại biểu nào trong hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.

Kết thúc hội nghị là ký kết hoà ước với Nhật ngày 8 tháng 9 năm 1951. Trong hoà ước này có điều 2, đoạn 7 ghi rõ:

Nguyên văn là “Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracels và Spratly”. Song đến đây, tình hình chính trị thế giới đă bắt đầu biến chuyển, chiến tranh lạnh giữa hai khối Tư bản chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu và khối Xă hội Chủ nghĩa do Liên Sô đứng đầu đă bắt đầu tác động đến Việt Nam trong đó có chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa lại tăng lên sự tranh chấp, càng ngày càng phức tạp khiến sự bảo vệ chủ quyền trở nên hết sức khó khăn với nhiều danh nghĩa khác nhau với nhiều thế lực quốc tế can thiệp.

Ngày 24 tháng 8 năm 1951, lần đầu tiên Tân Hoa Xã lên tiếng tranh cãi về quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines , thân Mỹ và kiên quyết khẳng định quyền của Trung Quốc.

Khi ra thông báo về bản dự thảo Hiệp Ước với Nhật ở San Francisco, ngày 15 tháng 8 năm 1951, Bộ Trưởng Ngoại Giao nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Chu An Lai ra bản tuyên bố công khai khẳng định cái gọi là « tính lâu đời » của các quyền của Trung Quốc đối với quần đảo, trong khi Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc không tham dự hội nghị này.

Cũng lợi dụng cục diện chiến tranh lạnh đang xảy ra, sự giành giật thế lực ở một nơi trong đó có Biển Đông, phái đoàn Liên Sô đề xuất giao cho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã không được Hội Nghị chuẩn nhận, song cũng là cái cớ để Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa lên tiếng. Dù sao, sau năm 1950, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không còn quân nước ngoài chiếm đóng ngoài lực lượng trú phòng Việt Nam của Chính quyền Bảo Đại.

Hiệp định Genève ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam. Điều 1 qui định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Đường ranh tạm thời này cũng được kéo dài ra trong hai phần bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi theo điều 4 của Hiệp định. Cũng theo điều 14 của bản Hiệp định, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại sự thống nhất cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thoả hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành chánh trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chánh của phía chính quyền quản lý miền Nam vĩ tuyến 17.

Như thế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới sự quản lý hành chánh của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, lúc ấy hai quần đảo này chưa có sự chiếm đóng của bất cứ quân đội nước nào ngoài quân đội Pháp. Chính quyền ở Phía Nam vĩ tuyến 17 phải chịu trách nhiệm quản lý hai quần đảo trên ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam dưới vĩ tuyến 17. Tháng 4 năm 1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Miền Nam Việt Nam, Philippines nêu vấn đề chủ quyền.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC , PHÁP, VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA & TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1956 ĐẾN 1975.

Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, khiến tháng 4- 1956 quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông khiến các nước trong khu vực trong đó có Cộng Ḥòa Nhân Dân Trung Hoa , Trung Hoa Dân Quốc ( Đài Loan ) và Philippines cho là cơ hội tốt chiếm đóng trái phép Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam.

Khi ấy, quân đội Quốc Gia Việt Nam sau gọi là Việt Nam Cộng Hoà đã chiếm đóng các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle). Ngày 1 tháng 6 năm 1956, Ngoại Trưởng Chính Quyền Việt Nam Cộng Hoà Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài ngày hôm sau, Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết những quyền hạn mà Pháp đã có đối với hai quần đảo trên từ năm 1933.

Ngày 22 tháng 8 năm 1956, lục hải quân Việt Nam Cộng Hoà đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, ngày 22 tháng 8 năm 1956, lực lượng hải quân của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ.

Tháng 10 năm 1956, hải quân Đài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba). Ngày 22 tháng 10 năm 1956, sắc lệnh số 143 – NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại « Nam Việt » (Nam Bộ). Trong danh sách các đơn vị hành chánh « Nam Việt » (Nam Bộ) đính kèm theo sắc lệnh có những thay đổi tên mới, trong đó có tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nay được gọi là tỉnh Phước Tuy và đảo Spratly thuộc tỉnh Phước Tuy được gọi là Hoàng Sa cùng tên với quần đảo phía Bắc là Paracels.

Trong khi ấy, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng đă nhanh chóng chiếm giữ đảo Phú Lâm( Ile Boisée) , đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa , song hành với việc Đài Loan chiếm giữ đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Một tình hình hết sức phức tạp, đen tối cho chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa & Trường Sa. Song từ sau Hiệp định Genève mà Trung Quốc đă ký, chính quyền phía Nam mới có trách nhiệm quản lý chủ quyền Ḥoàng Sa & Trường Sa vì hai quần đảo này nằm phía dưới vĩ tuyến 17. Vụ việc công hàm của Thủ tướng Phạm văn Đồng năm 1958 chỉ ủng hộ Tuyên bố 12 hải lý về lănh hải của Trung Quốc cũng như những biểu hiện khác thuộc chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà vào thời gian này cũng không có giá trị pháp lý quốc tế về sự từ bỏ chủ quyền mà Chính quyền Trung Quốc tố cáo là lật lọc là không đúng sự thực và thực chất về chủ quyền ở Hoàng Sa. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, đối đầu của hai khối chính trị mà Cộng Ḥoà Nhân Dân Trun g Hoa đang là đồng minh chí cốt của Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà và cùng thù địch với Mỹ lại là đồng minh của Đài Loan và Việt Nam Cộng Hòa, nên tất cả những hành động đối đầu cũng chỉ là đối sách chính trị thù địch nhất thời.

Ngày 13 tháng 7 năm 1961, sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.

Trong sắc lệnh trên, ghi rằng: “Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam (điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang. Xã Định Hải dưới quyền một phái viên hành chính ( điều 2). Tháng 2 năm 1959, nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng trên phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa , nhưng không thành công, bị hải quân Việt Nam Cộng Hoà bắt và hoàn trả lại Trung Quốc.

Ngày 13 tháng 7 năm 1971, Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà, ông Trần Văn Lắm có mặt ở Manila đã lên tiếng nhắc lời yêu sách của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ sở cho những yêu sách đó trên quần đảo Trường Sa.

Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đã sửa đổi việc quản lý hành chính của Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy mà trước đây vào năm 1956 , thời chính quyền Ngô Đình Diệm đã có sắc lệnh gọi quần đảo Spratly là quần đảo Hoàng Sa

Trong bối cảnh sau Thông Cáo Chung Thượng Hải năm 1972 giữa Mỹ và Trung Quốc, tạo sự nứt rạn không thể hàn gắn giữa Liên Sô và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, trong khi Chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn gần kết thúc, cuộc diện chính trị thế giới biến đổi đă ảnh hưởng đến Việt Nam kể cả về sự bảo vệ chú quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa & Trường Sa. Ngày 11 tháng 1 năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tuyên bố việc sáp nhập các đảo của quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy của Việt Nam Cộng Hoà là sự lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 12 tháng 1 năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà tuyên bố bác bỏ yêu sách của Trung Quốc. Ngày 15 tháng 1 năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa bắt đầu triển khai một lực lượng hải quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh cá và có phi cơ yểm trợ. Mặt khác, Bộ Tư Lệnh hải quân Việt Nam Cộng Hoà đã điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đến Hoàng Sa để tuần phòng và canh chừng.

Sau khi phát hiện sự có mặt của quân đội Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tại vùng Hoàng Sa với cờ dựng trên các đảo Quang Anh (Money), Hữu Nhật (Robert), lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tăng cường với khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần dương hạm Trần Bình Trọng, hộ tống hạm Nhật Tảo. Lực lượng tăng cường của Việt Nam Cộng Hoà có các toán biệt hải được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ của quân đội Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Vài vụ xô xát đã xảy ra, súng đã nổ trên đảo Quang Hoà (Duncan) và một đảo khác.

Tiếp ngày 16 tháng 1 năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã ra tuyên cáo bác bỏ luận cứ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và đưa ra những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà trên hai quần đảo này. Hai bên bắt đầu phối trí toàn bộ lực lượng, các chiến hạm hai bên cách nhau chừng 200m. Sau đó hai bên bỗng tách rời nhau để chuẩn bị, cuộc hải chiến bắt đầu diễn ra vào lúc 10 giờ 25 phút ngày 19 tháng 1 năm 1974. Một chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa bị bốc cháy.. Các chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mang số 281, 182 dồn sức đánh trả khiến chiến hạm Nhật Tảo bị trúng đạn trên đài chỉ huy và hầm máy chính, hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh . Sau hơn 1 giờ giao tranh, 2 chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa chìm, 2 chiếc khác bị bắn cháy. Bên lực lượng Việt Nam Cộng Hoà ngoài hộ tống hạm Nhật Tảo bị chìm, còn có một số chiến hạm bị thương tổn, trong đó có một số binh sĩ bị bắt và mất tích. Một người Mỹ tên Gerald Kosh, một nhân viên dân sự thuộc văn phòng tùy viên quốc phòng toà đại sứ Mỹ ở Sàigòn, được biệt phái làm liên lạc viên cạnh bộ chỉ huy hải quân Quân Khu I Việt Nam Cộng Hoà cũng bị bắt (theo Nhật báo Chính Luận, số 2982, ngày 31 tháng 1 năm 1974). Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày 31 tháng 1 năm 1974. Ngày 17 tháng 2 năm 1974, chính quyền Bắc Kinh trả tự do cho 43 quân nhân và nhân viên của Việt Nam Cộng Hoà tại Tân Giới ( Hồng Kông).

Lầu Năm Góc được chính quyền Sài Gòn yêu cầu can thiệp, quyết định đứng ngoài cuộc xung đột. Trợ lý Bộ Trưởng Ngoại giao Mỹ, Arthur Hummel cho chính quyền Sài Gòn biết Mỹ không quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.

Qua thông điệp ngoại giao được gởi đến tất cả các nước ký Hiệp Định Paris (1973), chính quyền Việt Nam Cộng Hoà nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, yêu cầu Hội Đồng Bảo An họp một phiên họp đặc biệt.

Ngày 1 tháng 2 năm 1974, chính quyền Sàigòn quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở quần đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua đại sứ ở Manila, chính quyền Sàigòn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Ngày 1 tháng 2 năm 1974, đoàn đại biểu của Việt Nam Cộng Hoà ra tuyên bố tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về luật Biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo, tố cáo Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa . Ngày 30 tháng 3 năm1974, đại biểu chính quyền VNCH khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội Đồng Kinh Tài Viễn Đông họp tại Colombia. Ngày 14 tháng 2 năm 1975, Bộ Ngoại giao chính quyền VNCH công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.

Tóm lại, Pháp xâm chiếm trở lại Việt Nam, dẫn đến cuộc kháng chiến chống Pháp ( 1945-1954), Pháp vẫn làm chủ Biển Đông và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Hiệp định Genève năm 1954 qui định từ vĩ tuyến 17 trở xuống thuộc chính quyền phía Nam quản lý. Khi Pháp rút quân tháng 4/1956, xảy ra chiến tranh lạnh giữa Liên Xô đứng đấu phe Xă Hội Chủ Nghĩa và Mỹ đứng đầu phe Tư bản Chủ Nghĩa, Việt Nam bị chia cắt khiến hai chính quyền bị cuốn hút vào sự đối đầu, không có điều kiện bảo vệ toàn vẹn được chủ quyền để cho Trung Quốc chiếm từng phần rồi toàn thể Hoàng Sa và Việt Nam Cộng Ḥoà chỉ trấn giữ quần đảo Trường Sa song lại để cho Đài Loan chiêm đảo Ba Bình, lớn nhất của quần đảo Trường Sa cùng Philippines chiếm một số đảo, đá trong đó có Song Tử Đông ở Trường Sa.

Chính vì vậy, chúng ta có thể nói rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các nước trong khu vực tranh chấp chủ quyền của Việt Nam cũng như Trung Quốc chiếm giữ trái phép hoàn toàn Hoàng Sa và Trường Sa trong thời kỳ này chính là những biến động chính trị ở Việt Nam cũng như trên thế giới, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam , không còn bảo vệ đồng minh Việt Nam Cộng Ḥoà, để cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC, VIỆT NAM THỐNG NHẤT CÙNG CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY

– Từ 1975 đến 1990, Việt Nam hợp tác toàn diện với Liên Xô, Trung Quốc đã ký với Mỹ Thông cáo chung ở Thượng Hải năm 1972, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô không giảm; Việt Nam và Trung Quốc xảy ra chiến tranh năm 1979 khiến tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trở nên gay gắt.

Chính Quyền Việt Nam thống nhất tiếp tục khẳng định chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vẫn chịu những dư âm tác động đối đầu của các thế lực quốc tế trước đây chưa chấm dứt được sự tranh chấp chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa .

Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, thời cơ chiến lược giải phóng Miền Nam đã đến. Bộ chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong mùa khô 1975 bao gồm các đảo và các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc…

Ngày 5 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Hải Quân chủ trương chuẩn bị chiến đấu giải phóng quần đảo Trường Sa. Lực lượng tham gia giải phóng gồm có các tàu của đoàn vận tải quân sự 125, đoàn 126 đặc công, tiểu đoàn 471, đặc công quân khu 5 và tiểu đoàn 407 cùng lực lượng đặc công tỉnh Khánh Hoà. Bộ Tư Lệnh Hải Quân chủ trương nhanh chóng đánh đảo Song Tử Tây trước để làm bàn đạp và rút kinh nghiệm đánh tiếp các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, An Bang, Trường Sa và các đảo còn lại của quần đảo.

Ngày 9 tháng 9 năm 1975, đại biểu chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam tại hội nghị khí tượng thế giới tiếp tục đăng ký đài khí tượng Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 10 tháng 9 năm 1975, Bắc Kinh gửi công hàm cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa).

Ngày 24 tháng 9 năm 1975, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Đảng và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Tổng Bí Thư Lê Duẩn dẫn đầu, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố sau này hai bên sẽ bàn bạc về vấn đề Tây Sa và Nam Sa.

Ngày 12 tháng 5 năm 1977, chính phủ Việt Nam tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.

Tháng 9 năm 1977, khi thăm Philippines và tháng 10 năm 1977 khi đi thăm Malaysia, thủ tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với tổng thống Ferdinand Marcos và thủ tướng Hussein On rằng hai bên sẽ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng thương lượng hoà bình.

Tháng 3 năm1978, Hội nghị hành chính thế giới về thông tin vô tuyến điện thông qua một nghị quyết cho phép Trung Quốc sử dụng một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa.

Ngày 30 tháng 12 năm 1978, người phát ngôn Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong tuyên bố ngày 29 tháng 2 năm 1978 của người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất bình bằng thương lượng hoà bình.

Ngày 30 tháng 7 năm 1979, Trung Quốc đã công bố tại Bắc Kinh tài liệu để chứng minh rằng Việt Nam đã “thừa nhận” chủ quyền Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 7 tháng 8 năm 1979, Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc trong việc công bố một số tài liệu củaViệt Nam liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này, nhắc lại lập trường của Việt Nam về việc giải quyết sự tranh chấp về 2 quần đảo giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.

Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ ngoại giao Việt Nam công bố một số tài liệu về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ ngoại giao Việt Nam bác bỏ việc Philippines tuyên bố sát nhập hầu hết lãnh thổ Trường Sa vào lãnh thổ Philippines.

Ngày 30 tháng 1 năm 1980, Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện về Tây Sa và Nam Sa. Ngày 5 tháng 2 năm 1980, Bộ ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30 tháng 1 năm 1980.

Ngày 29 tháng 4 năm 1980, Bộ ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Malaysia phản đối việc Malaysia công bố bản đồ Malaysia lấn vào vùng biển và thềm lục địa Việt Nam tại vùng Trường Sa.

Ngày 8 tháng 5 năm 1980, nhân chuyến viếng thăm và hội đàm với Malaysia, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã khẳng định đảo An Bang là của Việt Nam.

Tháng 6 năm 1980, tại Hội nghị Khí Tượng Khu Vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm như cũ.

Ngày 13 tháng 6 năm 1980, Việt Nam yêu cầu OMM đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng lưới OMM.

Tháng 12 năm 1981, Tổng cục Bưu Điện Việt Nam điện cho Chủ Tịch Ủy Ban đăng ký tần số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Tháng 12 năm 1981, Bộ Ngoại Giao Việt Nam công bố sách trắng: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa , lãnh thổ Việt Nam”.

Tháng 6 năm 1982, Tân Hoa Xã loan tin là một hải cảng lớn được xây dựng tại Hoàng Sa.

Tháng 10, tại Hội Nghị Toàn Quyền của UIT, đại biểu Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève.

Ngày 12 tháng 11 năm 1982, chính phủ Việt Nam công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải .

Ngày 4 tháng 2 năm 1982, chính phủ Việt Nam thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

Ngày 9 tháng 12 năm 1982, chính phủ Việt Nam lập huyện Trường Sa. Đến ngày 28 tháng 12 năm 1982, chính phủ Việt Nam quyết định huyện Trường Sa được nhập vào tỉnh Phú Khánh.

Tháng 1 năm 1983, Hội Nghị Hành Chính Thế Giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị sắp tới.

Cũng tháng 01 năm 1983, Hội Nghị Hàng Không Khu Vực Châu Á Thái Bình Dương họp ở Singapore. Trung Quốc muốn mở rộng FIR Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nộivà FIR TP Hồ Chí Minh, nhưng Hội Nghị quyết định duy trì nguyên trạng.

Từ ngày 4 đến 16 tháng 4 năm 1984, đoàn đại biểu Quốc Hội Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đoàn đại biểu tỉnh Phú Khánh thăm huyện Trường Sa. Thứ trưởng Bộ Thủy Sản Việt Nam Vũ Văn Trác đi khảo sát nghề cá tại huyện Trường Sa.

Ngày 25 tháng 4 năm 1984, Uy Ban Địa Danh Trung Quốc công bố tên mới cho các đảo, bãi, đá trong Biển Đông trong đó có đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Ngày 6 tháng 5 năm 1984, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối việc đặt tên của Trung Quốc.

Tại Hội Nghị Tổ Chức Thông Tin Vũ Trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc.

Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối Malaysia chiếm đóng đảo Hoa Lau trong quần đảo Trường Sa. Việt Nam phản đối việc ngày 1 tháng 6 năm 1984 Quốc hội Trung Quốc tuyên bố việc thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa, Nam Sa.

Vào đầu năm 1985, Đại Tướng Văn Tiến Dũng, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.

Sang năm 1986, ông Hồ Diệu Bang, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc cùng Lưu Hoa Thanh, Trương Trọng Tiến đi thị sát Hoàng Sa.

Tháng 5 năm 1987, đô đốc Giáp Văn Cường, Tư lệnh hải quân Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.

Từ 16 tháng 5 đến 6 tháng 6 năm 1987, hải quân Trung Quốc tập trận tại vùng biển Trường Sa.

Tháng 10 năm 1987, hải quân Trung Quốc diễn tập quân sự tại Tây Thái Bình Dương và Nam Biển Đông.

Ngày 10 tháng 11 năm 1987, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên đá Louisa (Nandong Jiao) (113 0 – 6 0 8).

Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến, có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa, đi từ đảo Hải Nam xuống phía Nam, trong đó có bốn chiếc được phái đến khu vực quần đảo Trường Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động của hai tàu vận tải Việt Nam trong khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên là hai bãi san hô còn đang lập lờ mặt nước. Quân lính Trung Quốc cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời cho tàu chiến thường xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải của Việt Nam đang tiến hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các đảo do quân đội Việt Nam bảo vệ. Trong đợt hoạt động trên, Trung Quốc đã thành lập một bộ tư lệnh đặc biệt, sử dụng lực lượng của hạm đội Nam Hải, được tăng cường một bộ phận của hạm đội Đông Hải và họ thường xuyên dùng trên 20 tàu các loại ở khu vực quần đảo Trường Sa.

Về sự kiện xảy ra ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc nói rằng: “Trung Quốc buộc phải phản kích để tự vệ”. Theo cách nói đó, có nghĩa là hải quân Việt Nam là kẻ tấn công (bằng hai tàu vận tải!), còn hải quân Trung Quốc là kẻ phòng thủ tự vệ. Trung Quốc sử dụng một biên đội tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang bị tên lửa và pháo cỡ 100mm, vô cớ tiến công bắn chìm ba tàu vận tải Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Lan Đao, Cô Lin, Gac Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Ngày 14 tháng 3 năm 1988, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nổ ra cuộc chiến đấu trên biển Nam Trung Quốc. Cuộc chiến đấu này mặc dù chỉ diễn ra trong thời gian 28 phút nhưng nó đã làm cả thế giới quan tâm theo dõi. Tàu vận tải số 64 của hải quân Việt Nam chở đầy binh lính bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ số 505 và một tàu vận tải khác số 605 bị bắn trọng thương, kéo theo đám cháy và cột khói đen ngòm. Tàu đổ bộ số 505 bị chìm trên đường về, còn tàu đổ bộ số 605 thì bị mắc cạn. Cuộc chiến đấu không cân sức trên giữa các tầu vận tải của Việt Nam vời các tầu chiến của Trung Quốc, vẻn vẹn chỉ diễn ra có 28 phút đã kết thúc với kết quả phía Việt Nam có một tàu bị chìm tại chỗ, hai tàu bị thương, chết và bị thương 20 người, mất tích 74 người. Còn phía Trung Quốc chỉ có một số nhân viên khảo sát và nhân viên khác trên đảo bị thương , ngoài ra không bị tổn thất gì, đây là một trận chiến đấu trên biển mà phía Trung Quốc cho là « đánh gọn và đẹp mắt» (sic!). Sau các va chạm trên, hải quân Trung Quốc tiếp tục ngăn cản các hoạt động tiếp tế do tàu Việt Nam thực hiện.

Tính đến ngày 6 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã chiếm đóng: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi.

Ngày 3 tháng 1 năm 1989, Trung Quốc đặt bia chủ quyền trên các bãi họ chiếm được trong năm 1988 : Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa,Đá Gạc Ma, Đá Subi.

Năm 1988, Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các công hàm ngày 16,17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ ngoại giao Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (nghị quyết ngày 13 tháng 4 năm 1988 thành lập tỉnh Hải Nam).

Tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố Sách Trắng “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế”.

Ngày 14 tháng 8 năm 1989, chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh Tế Khoa Học Dịch Vụ trên vùng bãi ngầm Tứ Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam có toạ độ 7 – 803B , 109 – 112 020 Đ .

Ngày 2 tháng 10 năm1989, người phát ngôn Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu trong bản tuyên bố của Trung Quốc ngày 28 tháng 4 năm 1989. Người phát ngôn bộ ngoại giao Trung Quốc đã lên án Việt Nam xâm phạm trái phép một số đảo và cù lao tại bãi Vạn An và Bãi Vạn Nhã thuộc “quần đảo Nam Sa” .

Ngày 9 tháng 3 năm 1990, Trung Quốc kết thúc đợt khảo sát khoa học ở quần đảo Trường Sa bắt đầu từ ba năm trước.

Ngày 18 tháng 3 năm 1990, nhiều tàu đánh cá từ Quảng Châu đến đánh cá ở Trường Sa. Ngày 16 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự , tàu khảo sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.

Ngày 28 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa.

– Từ năm 1990 đến nay, khối Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam đổi mới, làm bạn với tất cả các nước kể cả Trung Quốc và Mỹ, sự tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa giữa Trung Quốc và Việt Nam không còn gay gắt như trước, song số dự trữ dầu lửa lớn ở Biển Đông khiến Trung Quốc vẫn chưa chịu trả Hoàng Sa cho Việt Nam và các nước khu vực và Trung Quốc vẫn tiếp tục tranh chấp với Việt Nam ở Trường Sa.

Tháng 8 năm 1990, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đề nghị tiến hành khai thác chung khu vực quần đảo Trường Sa.

Ngày 1 tháng 12 năm 1990 trong cuộc đi thăm Philippines, Thủ tướng Lý Bằng nói : “Chúng ta có thể tìm ra một giải pháp thích hợp đối với vấn đề Trường Sa với các bên hữu quan vào lúc thích hợp, nếu không phải là vào lúc này, tôi nghĩ chúng ta có thể gác lại vấn đề này và không để nó gây trở ngại trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng hữu quan”.

Ngày 1 tháng 2 năm 1991, Trung Quốc xây dựng nhiều hải đăng trên các bãi đá ngầm mới chiếm được trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 25 tháng 5 năm 1991, Trung Quốc công bố kết quả 8 năm khảo sát khoa học ở Trường Sa kể từ năm 1984. Ngày 4 tháng 7 năm 1991 tại KuaLa Lumpur tổ chức một hội thảo không chính thức về giải quyết các tranh chấp trên vùng Biển Đông, Trung Quốc có cử đoàn cán bộ tham gia, người phát ngôn Bắc Kinh tuyên bố việc tham gia như thế không phải là Trung Quốc đã thay đổi lập trường và nói: “Trung Quốc chủ trương giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình, Trung Quốc sẵn sàng cùng các nước liên quan thảo luận con đường và phương pháp cùng khai thác” .

Từ ngày 15 đến 18 tháng 7 năm 1991, do sáng kiến của Indonésia, một hội nghị quốc tế đã được tổ chức giữa các quốc gia trong khu vực về vấn đề quần đảo Trường Sa. Bản thông cáo cuối cùng khuyến khích đối thoại và đàm phán.

Ngày 10 tháng 11 năm 1991, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký tại Bắc Kinh thông báo chung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.

Ngày 25 tháng 2 năm 1992, quốc hội Trung Quốc công bố luật lãnh hải và vùng tiếp giáp Trung Quốc, quy định lãnh hải rộng 12 hải lý và lãnh thổ Trung Quốc giữa bốn quần đảo Đông, Tây, Nam, Trung Sa và đảo Điếu Ngư. Việt Nam đã lên tiếng công khai phản đối sự kiện này. Năm 1994, Việt Nam phản đối Trung Quốc đã xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc ký với công ty Crestones ( Mỹ) cho phép thăm dò khai thác dầu mà Trung Quốc gọi là hợp đồng Vạn An Bắc 21. Ngày 18 tháng 4 năm 1994, ông R.C. Thompson, chủ tịch công ty Năng Lượng Crestones (Mỹ) ra thông báo với báo chí, nói rằng họ đang tiến hành khảo sát địa chấn và chuẩn bị thăm đảo để đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực, gọi là hợp đồng “Vạn An Bắc 21”. Thông báo nói rằng: “Việc nghiên cứu khoa học và kế hoạch khai thác thương mại trong tương lai là những bước phát triển mới nhất của lịch sử nghiên cứu khoa học và thăm dò ở Biển Nam Trung Hoa và Khu vực vạn An Bắc của Trung Quốc, bắt đầu từ những báo cáo năm 200 trươc Công Nguyên vào thời Hán Vũ Đế!

Trước năm 1957, đã có nhiều công ty nước ngoài khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò ở thềm lục địa Nam Việt Nam, trong đó có hai giếng đã phát hiện dầu thương mại. Vào cuối những năm 1970, có nhiều công ty như AGIP (Ý), DIMINEX (CHLB Đức), BOW VALLEY (Canada) đã thăm dò 5 lô dầu ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam. Sau đó đến 1979, các công ty trên chấm dứt hoạt động. Tháng 9/1975, Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí. Thềm lục địa Việt Nam rộng chừng 1,3 triệu km2, được chia thành 171 lô với diện tích trung bình mỗi lô khoảng 8000 km2. Trong đó có 31 lô có độ sâu mực nước biển dưới 50m, 35 lô từ 50 -100m, 10 lô từ 100 – 250m, 38 lô từ 200-2000m và 57 lô là có mực nước sâu trên 2000m.Trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam có nhiều bồn trầm tích đệ tam có triền vọng chứa dầu khí.Cho đến cuối những năm 80, trên toàn thềm lục địa Việt Nam, chủ yếu ở phía Nam, đã khảo sát trên 100.000 km tuyến địa vật lý, khoan hàng chục giếng tìm kiếm thăm dò và đã phát hiện được ba mỏ dầu khí (Bach Hổ, Rồng và Đại Hùng). Từ năm 1986, mỏ Bạch Hổ bắt đầu được khai thác. Sản lượng năm 1986: 0,04 triệu tấn, 1988: 0,68 triệu tấn, 1989: 1,5 triệu tấn, 1990: 2,7 triệu tấn, 1991: 3,96 triệu tấn… (PTS Nguyễn Hiệp, Phó Tổng Giám Đốc Công Ty Dầu Khí Việt Nam, ” Thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam”, Khoa học và Tổ Quốc, (số 93), 1992, tr5).

Việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam trên khiến người ta thấy tiềm năng vùng Biển Đông có nhiều triển vọng về dầu khí. Các tài liệu của Cộng Ḥoà Nhân Dân Trung Hoa cho con số trữ lượng từ 23 đến 30 tỷ tấn dầu tại vùng Nam Biển Đông.Chính số lượng dự trữ dầu lớn như vậy đã khiến cho sự tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa chưa dễ gì chấm dứt.

SỰ THỰC VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA , TRƯỜNG SA & GIẢI PHÁP BỀN VỮNG CHO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA & BIỂN ĐÔNG.

Như trên đã trình bày, Trung Hoa khi bắt đầu khảo sát Tây Sa vào năm 1909 cho rằng Tây Sa là vô chủ . Hồi năm 1898 , Chính quyền Quảng Châu, Trung Hoa đă trả lời các khiếu nại của công sứ Anh ở Bắc Kinh về công ty Bảo hiểm người Anh bảo hiểm các tàu Bellona của Đức ( bị đắm năm 1895) và tàu Humeji- Maru của Nhật (bị đắm năm 1896) đă bị những người Trung Hoa ở Hải Nam cướp phá rằng: “quần đảo Tây Sa là những ḥòn đảo bị bỏ rơi, chúng không phải sở hữu của cả Trung Hoa lẫn An Nam, cũng không sáp nhập về hành chánh vào bất kỳ quận nào của Hải Nam và không có nhà chức trách nào chịu trách nhiệm về cảnh sát của chúng”( Monique Chemillier- Gendreau, sđd,p.158).

Đến khi Pháp bắt đầu đưa ra những bằng chứng lịch sử sự chiếm hữu của Việt Nam, Trung Hoa hồi đó và Trung Quốc bây giờ lại luôn luôn nói rằng Tây Sa ( tức Hoàng Sa ) và Nam Sa ( tức Trường Sa) đã thuộc về Trung Quốc từ lâu, bất khả tranh nghị, khi thì nói từ đời Minh, khi thì nói từ đời Tống. Sự thực thế nào?

Sự thực là quần đảo Hoàng Sa không hề là vô chủ như luận điểm của chính quyền Trung Hoa hồi năm 1909: Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, không ít ỏi như thư của Toàn Quyền Pasquier gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa ngày 18-10-1930, mà đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.

Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ, trong Hồng Đức Bản Đồ năm 1686 và Phủ Biên Tạp Lục năm 1776 của Lê Quý Đôn.

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tư liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

– Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.

– Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. – Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

– Tài liệu rất quí gía, châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc… Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hõan kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.

– Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản…

Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hòang Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.

Đặc biệt nhất sự kiện năm 1836 Vua Minh Mạng sai suất đội thủy binh Phạm Hữu Nhật , người gốc đảo Lý Sơn chỉ huy thủy quân đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, sau đó thành lệ hàng năm. Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua hàng năm cử người ra Hòang Sa ngòai việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia. .Châu bản, Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi thuyền vãng thám Hòang Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc”. Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ :

“Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mỗt bài khắc những chữ: “ Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hòang Sa tương đồ chí thử hữu chí đẳngû tư, (tôø 25b)”.

( Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hòang Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).

Vì sự kiện trên đã thành lệ hàng năm, nên Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ( 1851), quyển 207 , tờ 25b-26a và quyển 221 đã chép lại việc dựng miếu, dựng bia đá , cắm cột mốc năm 1836 và lệ hàng năm phái biền binh thủy quân đi vãng thám, vẽ bản đồ…

Về những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy:

– Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.

– Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc.

Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc.

Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.

Về những tư liệu Phương Tây cũng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

+ Nhật Ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam. ü “Le Mémoire sur la Cochinchine” của Jean Baptiste Chaigneau (1769 – 1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.

+ “Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes” của giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816.

+ An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838, phụ bản của cuốn từ điển La tinh- Annam, ghi rõ « Paracels seu Cát Vàng » với tọa độ rõ ràng như hiện nay chứ không phải như Trung Quốc cho là ven bờ biển.( « Seu » tiếng la tinh có nghĩa « hay là », Cát Vàng :chữ nôm, Hoàng Sa : chữ Hán )..

+ The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels) .

+ “The Journal of the Geographycal Society of London” (năm 1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels… ….

Về sau Trung Hoa đưa ra những bằng chứng ngụy tạo nói ngược lại luận điệu ban đầu, từng cho là đất vô chủ hồi 1909, cho rằng Tây Sa đã thuộc Trung Quốc từ lâu. Ngay tên Tây Sa và Nam Sa cũng mới đặt từ sau năm 1907 và Nam Sa lại bất nhất khi chỉ Trung Sa , khi chỉ Nam Sa ở vị trí hiện nay ( Spratleys). Có chăng thời Minh hay thời Hán thì cả nước Nam đã bị Trung Hoa đô hộ, Thời Tống Đại Việt cũng bị xâm lược, song đã giành được độc lập rồi!

Sự thực chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa đă rõ ràng như trên. Khi bị Trung Hoa xâm phạm, vào thời điểm ban đầu, với tư cách là người đến xâm chiếm thuộc địa, người Pháp chưa hiểu hết lịch sử chủ quyền lãnh thổ Việt Nam nên có lúc đã không lên tiếng bảo vệ kịp thời. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Chính quyền thực dân Pháp đã có đủ thông tin và thay đổi quan điểm, bảo vệ chủ quyền cho Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Sự thực là bất cứ chính quyền nào kể cả chính quyền thuộc địa chịu trách nhiệm về quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Và nguyên nhân chủ yếu khiến cho Trung Quốc tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa chính là Việt Nam đă bị Pháp đô hộ và chịu ảnh hưởng những biến động chính trị quốc tế cũng như quốc nội, nhất là từ thời chiến tranh lạnh và sau này và tham vọng bành trướng mở rộng yêu sách lãnh thổ bằng vũ lực.

Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đã quá rõ ràng như thế thì khi Việt Nam không còn bị Pháp đô hộ và tình hình thế giới và Việt Nam đã biến chuyển, khác trước thì giải pháp phải là “cái gì của césar phải trả lại cho césar”.

Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào dù khác chính kiến đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch sử cho biết dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường , bất khuất, khi có thời cơ, sẽ đấu tranh thành công. Đối với các nước Asean trên cơ sở Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, sẽ tương nhượng trong tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong khối càng ngày càng chặt chẽ , đôi bên đều có lợi.

Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi , sông liền sông, đă có những bài học lịch sử quí giá. Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm luôn kiên quyết bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình, song luôn luôn tôn trọng nước đàn anh Trung Quốc, luôn theo truyền thống làm “phên dậu của Trung Quốc”, không bao giờ làm hại đến quyền lợi Trung Quốc.

Bất cứ giải pháp nào dựa vào sức mạnh như người Nhật đánh chiếm bằng vũ lực Hoàng Sa, Trường Sa năm 1938, 1939 cũng như Trung Quốc dùng võ lực năm 1974 chỉ mang tính nhất thời, không có giá trị pháp lý. Có đế quốc nào mạnh như đế quốc La Mă thời Cổ đại hay đế quốc Mông Cổ thời Trung đại hay đế quốc Anh, Pháp thời cận đại, rồi có ngày cũng suy yếu, phải bỏ những lănh thổ chiếm giữ bằng võ lực.

Bất cứ giải pháp nào muốn vững bền phải dựa trên sự thực lịch sử nhà nước Việt Nam đă chiếm hữu thật sự trước tiên tại Hòang Sa và Trường Sa, chưa có ai tranh chấp và phải dựa vào trật tự thế giới hiện hành khi có Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945 và những Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc sau đó và Công ước quốc tế về luật biển năm 1982.

Mọi người kể cả người Trung Quốc phải thấy rõ sự thật lịch sử trên!

Việt Nam phải luôn luôn nhắc đi nhắc lại cho cả thế giới được biết rằng vụ Trung Quốc dùng võ lực chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 là trái phép hoàn toàn, trái với Hiến Chương và các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc. Không thể để cho Trung Quốc coi vụ chiếm đóng Hoàng Sa như đã xong. Khi nội lực Việt Nam chưa đủ mạnh thì dứt khoát không ký kết bất cứ một hiệp định nào gây sự thiệt hại cho Việt Nam.

Việc cần làm ngay là làm rõ, quảng bá lịch sử nhà nước Việt Nam đă từ lâu chiếm hữu thật sự Hoàng Sa & Trường Sa và xây dựng nội lực Việt Nam vững mạnh, đoàn kết hùng cường.

Sự đấu tranh đòi lại Hoàng Sa cho Việt Nam cũng như sự bảo toàn quần đảo Trường Sa là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhứt định sẽ thành công cũng như Việt Nam đã từng bị Phong kiến Phương Bắc đô hộ hơn một ngàn năm, khi có thời cơ, sẽ giành được độc lập tự chủ./.

Translate »